Number. Nombre.
Giống hầu hết các dân tộc ở Đông phương, người Hê-bơ-rơ có lẽ dùng các chữ trong vần chữ cái để viết số. Họ làm như vậy khi từ Ba-by-lôn trở về, có chứng cớ chắc chắn trên các đồng tiền đúc vào đời họ Macchabées; và chắc đã có trong đời sớm hơn. Trong các bản thảo Cựu Ước bằng tiếng Hê-bơ-rơ hiện đang có, viết các số cả chữ, nhưng có sự khác nhau giữa mấy bản dịch, và từ nguyên bản Hê-bơ-rơ, cho thấy có sự thay đổi về số ngay trong một bản, dường như tỏ ra lối viết ngắn hơn lối người xưa vẫn ưa dùng, điều nầy khiến cho người sao lại và dịch giả có thể dễ hiểu lầm.
Có một ít số nói đến trong Kinh Thánh được coi là có giá trị tiêu biểu chứ không phải là nhứt định. Các số như 7, 10, 40, 100 được coi như có ý đầy trọn. Không kể thuyết lý của St. Augustin về cách dùng đó, ta thấy trong nhiều trường hợp, người phương Đông rất ưa dùng những số tiêu biểu, vì họ có một thành kiến chống với sự đếm đúng số tài sản mình; những số này cũng được thực hiện trong nhiều niên biểu, và cũng thấy trong các thuyết lý về triết học và siêu hình học, không những của Pythagore, mà các nhà triết học Hy-lạp và La-mã, các văn sĩ Do-thái, phái Trí Huệ, và các văn sĩ đạo Đấng Christ, như chính giáo phụ Augustin cũng có dùng những con số tiêu biểu.
Dưới đây xin nói mấy số dùng:
a) Loại số được dùng như tiêu biểu, vì có lẽ bởi sự chỉ định không rõ ràng.
b) Loại số được dùng như nhứt định, vì ý nghĩa sự việc có liên quan với con số đó (có khi ý nghĩa ta không thể hiểu hết).
(1) Số bảy, bày tỏ về số nhiều, hoặc về sự đầy trọn. Con số nầy rất thường dùng trong Kinh Thánh, xin đưa ra một số chỗ dùng: như gấp bảy (Sáng 4:24); bảy lần, tức cách trọn vẹn (Lê 26:24; Thi 12:6); số bảy (có nghĩa nhiều), là “bảy đường” trong Phục 28:25 v.v…
(2) Số mười là số ưa dùng đến, nhưng chỉ riêng trong Mười Điều răn và Luật phần mười.
(3) Số bảy mươi (7 x 10) thường dùng, ví dụ như gấp bảy mươi (Sáng 4:24; Mat 18:22). Cách dùng với ý nghĩa nhứt định được bày tỏ ra trong các của lễ, bảy mươi siếc-lơ (Dân 7:13, 19 và tiếp theo), bảy mươi trưởng lão (11:16), bảy mươi năm phu tù (Giê 25:11).
(4) Số năm được dùng trong bảng sự hình phạt, những điều luật pháp đòi (Xuất 22:1; Lê 5:16; 22:14; 27:15; Dân 5:7; 18:16), và trong năm đế quốc Đa-ni-ên (Đa 2:1-).
(5) Số bốn dùng chỉ về bốn hướng gió (Đa 7:2); và bốn góc trái đất (thường gọi vậy); bốn sanh vật, bốn cánh, bốn mặt trong Ê-xê-chi-ên (1:5 và tiếp theo); bốn con sông ở Địa đàng (Sáng 2:10); bốn con thú (Đa 7:1- và Khải 4:6), và bốn bề vuông bằng nhau của phòng Đền thờ (Êxê 40:47).
(6) Số ba được người Do-thái và các dân ngoại coi là một số đầy trọn đặc biệt và là số mầu nhiệm: như chép trong Ês 6:3 ba lần “Thánh thay, thánh thay, thánh thay” (so Giê 7:4; 22:29; Êxê 21:27; Dân 6:24-26). Tính cách ba mặt của nghi thức đọc khi làm lễ báp-têm, và lời chúc phước của Sứ đồ là do bởi lẽ đạo Ba Ngôi hiệp một (Mat 28:19; IICôr 13:14).
(7) Số mười hai (3 x 4) được tỏ ra trong mười hai chi phái, mười hai hòn đá gắn trên bảng đeo ngực thầy tế lễ, mười hai Sứ đồ, mười hai viên ngọc làm nền, và mười hai cửa (Khải 21:19-21).
(8) Cuối cùng số bí mật sáu trăm sáu mươi sáu (Khải 13:18) chỉ về một người, vì số sáu kém số đầy trọn là bảy, là “người tội ác” sẽ hiện ra (IITê 2:3), trong nguyên văn là theo chữ cái của tên Sê-sa Néron mà chép thay vào đó. Xem bài Néron.
Tiến sĩ Scofield chú thích về số Hê-bơ-rơ:
ICôr 10:8.– So Dân 25:9. Người ta nghĩ rằng có sự khác nhau ở đây. ICôr 10:8 chép số người chết trong một ngày; Dân 25:9, số tổng cộng người chết “về tai vạ nầy”. Tuy nhiên, chúng ta thấy có sự khác nhau về số trong các bản Cựu Ước tiếng Hê-bơ-rơ hiện có, đó là lẽ tự nhiên, vì người Hê-bơ-rơ dùng chữ thay cho số các chữ cái từ Koph đến Tau chỉ về số hàng trăm cho đến bốn trăm, có năm chữ cái Hê-bơ-rơ được viết theo cách khác nhau từ hàng trăm đến chín trăm; còn số hàng ngàn được tỏ ra bởi hai chấm trên chính mỗi chữ cái: ví dụ, Teth dùng một mình là số chín; thêm hai chấm ở trên là số chín ngàn. Vậy, khi sao lại các số Hê-bơ-rơ thì dễ sai lầm, khó giữ số cho đúng.