Hôn nhân

Marriage. Mariage.
I. Căn nguyên và lịch sử.–Đấng Tạo hóa đã thiết lập lễ hôn nhân từ thuở loài người mới được dựng nên. Ngài dựng nên người nam và người nữ rồi truyền lịnh rằng hôn nhân là điều kiện tối cần để “sanh sản thêm nhiều và làm cho đầy dẫy đất” (Sáng 1:26, 27). Lễ hôn nhân có ảnh hưởng rất lớn, nó giúp đỡ cho đời sống người nam và người nữ được mở mang trọn vẹn.
Phép hôn phối là một luật lệ chung cho hết thảy những người nào không kiềm chế mình được (ICôr 7:2, 5). Chỉ vì “tai vạ” hầu đến, nên Phao-lô mới khuyên người nào kiềm chế mình được nên ở độc thân (7:26). Chỉ từ khước hôn nhân khi được sự kêu gọi làm bổn phận Nước Trời (Mat 19:12); nhưng sự chiều theo dục vọng là dấu hiệu của sự chối bỏ đức tin (ITi 4:3). Đối với mọi cảnh ngộ, lời khuyên nầy là chân thành: “kẻ có vợ hãy nên như kẻ không có” (ICôr 7:29), ý nói không nên vì có gia đình mà xao lãng sự hầu việc Chúa.
Sáng 2:24 chép: “Bởi vậy cho nên người nam sẽ lìa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình, cả hai sẽ nên một thịt”, ta thấy câu này có những nguyên tắc sau:
1. Sự hiệp một của chồng và vợ là do người nam mà ra, như có chép “một thịt”;
2. Sợi dây hôn nhân không thể chia cắt được, chỉ trừ tội ngoại tình hay sự chết (Mat 5:32; 19:9; Rô 7:3);
3. Một vợ, một chồng là luật căn bản của lễ hôn phối;
4. Về mặt xã hội vợ chồng là bình đẳng. Chữ Ish (người nam) và Isha (người nữ) có sự liên lạc đối với nhau: “kẻ giúp đỡ giống như nó” có nghĩa là kẻ giúp việc mà vừa khi trông thấy, A-đam có thể nhận biết ngay là chính mình.
5. Vợ phải phục tùng chồng, vì người nữ đã sa ngã trước (ICôr 11:8, 9; ITi 2:13-15);
6. Bổn phận vợ chồng đối với nhau: Chồng phải yêu thương vợ, còn vợ phải giúp đỡ, vâng phục chồng, người vợ phải có “tâm thần dịu dàng, yên lặng” để cả hai người đều chung “hưởng phước sự sống” (IIPhi 3:1-7; ICôr 14:34, 35). Chính Chúa Jêsus cũng nhắc lại sự thiết lập lễ hôn nhân (Sáng 2:24) một cách rành mạch trong Mat 19:4, 5.
II. Sự thay đổi về chủ nghĩa đa thê.–Chủ nghĩa đa thê chỉ thịnh hành ở nơi nào số người nữ nhiều hơn người nam, tình trạng này có trong các chi phái thường xảy ra chiến tranh. Điều quan trọng là người chồng phải có đủ lễ cưới và của cải để cung cấp cho mỗi người vợ của mình hay không.
Trước đời nước lụt, A-đam, Ca-in, Nô-ê cùng ba con trai, mỗi người chỉ có một vợ. Nhưng trong Cựu Ước, cũng có nhiều bằng chứng về sự đa thê, bắt đầu là với Lê-méc (Sáng 4:19). Sự tinh sạch của phép hôn nhân bị giảm bớt bởi cớ các con trai loài người đã để cho những duyên sắc bề ngoài dẫn dụ, tự tiện chọn vợ cho mình (Sáng 6:2). Sự đa thê là trái với thánh ý của Đức Chúa Trời (Sáng 2:24). Áp-ra-ham cưới nhiều vợ là không khôn ngoan vì tưởng phải giúp đỡ Đức Chúa Trời làm trọn lời hứa của Ngài (Sáng 16:24). Gia-cốp cưới hai vợ luôn với các con đòi nữa, Y-sác và Giô-sép chỉ có một vợ. Trong IICác 4:1-; Thi 128:1-; Châm 31:1- có tả vẽ bức tranh hạnh phước của gia đình một vợ một chồng.
Sau đời Môi-se, chế độ đa thê còn tồn tại ít hay nhiều là phụ thuộc vào những người giàu có như Ghê-đê-ôn, Ên-ca-na, Sau-lơ, Đa-vít, Sa-lô-môn v.v., trong dòng dõi Y-sa-ca (ISử 7:4) giữa các phái trung lưu (ISa 1:1). Những sự bất tiện của chế độ đa thê có chép trong Kinh Thánh là sự ghen tương của các vợ Áp-ra-ham và Ên-ca-na (Sáng 16:6; ISa 1:6). Các vua cũng được cảnh cáo không nên kén nhiều phi tần (Phục 17:17; so Sáng 29:31; 30:1-).
Sau khi từ Ba-by-lôn trở về, phép hôn nhân một vợ, một chồng dường như được tuân thủ nghiêm túc hơn cả các đời trước: quả thật trải qua thời kỳ nầy không thấy nói đến sự đa thê trong Kinh Thánh, hết thảy các phép giao được phép chỉ là có một vợ (Mat 18:25; Lu 1:5; Công 5:1). Dầu vậy, chế độ đa thê vẫn còn. Như Hê-rốt có 9 vợ một lúc. Hoặc người ta lạm dụng sự ly dị để rồi cưới vợ khác. Justin Martyr quở trách những người Do-thái trong đời mình có “bốn hay năm” vợ, vì họ “muốn lấy bao nhiêu cũng được”. Cho đến chừng 1.000 S.C., thói tục mới thật hết và nghiêm cấm được giữa người Do-thái. Chỉ những người Do-thái trong các xứ Hồi giáo còn giữ hủ tục đó.
Sự khác nhau giữa vợ lẽ và vợ cả là do ở sự sanh đẻ của vợ cả, hơn nữa vợ cả có địa vị cao hơn, và được những người trong gia đình luôn binh vực. Một người tôi mọi không được làm vợ lẽ nếu vợ cả không cho phép (Sáng 16:2).
Kinh Thánh chỉ dạy nên lấy một vợ, một chồng (Thi 128:3; Châm 5:18; 18:22; 19:14; 31:10-29; Truyền 9:9). Những trưởng lão lấy nhiều vợ hoặc nữ chấp sự lấy nhiều chồng đều khiến mọi người bất bình. Vì vậy để tạo sự hòa thuận và ích lợi, Phao-lô khuyên người muốn được chức đó chỉ nên cưới một vợ, một chồng thôi (ITi 3:2; câu 9; Lu 2:36, 37; ICôr 7:40), và cho phép người vợ góa trẻ được cải giá (ITi 5:14). Chúa chúng ta cùng các Sứ đồ dùng những cách sau cho hôn nhân được công bằng và thánh sạch:
1. Chứng quyết sự thiết lập lễ hôn nhân xưa như là nền tảng mà mọi luật lệ phải lập trên đó (Mat 19:4, 5).
2. Sự ly dị chỉ thực hiện vì lý do ngoại tình mà thôi, và cấm cưới người nào đã li dị vợ hoặc chồng (Mat 5:32; 19:9; Rô 7:3; ICôr 7:10, 11).
3. Để giúp mọi người phải chung thủy và cho hôn nhân được thánh sạch (Hêb 13:4), và nhứt là lên án tội tà dâm mà trong Hội Thánh có một số dường như đã phạm mà tưởng là không hề gì (Công 15:20).
III. Lệ cấm về việc hôn nhân.–Theo luật pháp, hôn nhân có những điều kiện chỉ có thể quyết định qua luật lệ ngăn cấm của xứ đó. Trong dân Hê-bơ-rơ lệ cấm đó chia làm hai:
1. Lệ cấm giữa người Y-sơ-ra-ên và người ngoại bang.–Cấm lấy người ngoại bang là căn cứ trên một tình cảm độc quyền tự nhiên, vì đó là một sợi dây kết chặt mối liên lạc của một đoàn thể, từ đó mà xã hội mới có sức mạnh. Coi Sáng 24:1-; 28:1-; Dân 12:1; Quan 14:3 thì biết vì sao người Y-sơ-ra-ên không thích kết hôn với người ngoại bang (Coi thêm Sáng 26:34, 35; 27:46; Lê 24:10), dù đó là bất đắc dĩ như Giô-sép (Sáng 41:45), hoặc vì sự tình cờ như vua Đa-vít và vua Sa-lô-môn (IISa 3:3; ICác 3:1; 11:1). Riêng luật Môi-se cấm người Y-sơ-ra-ên lấy dân xứ Ca-na-an, vì sợ họ dẫn dân Chúa đến sự thờ hình tượng (Xuất 34:16; Phục 7:3, 4). Vậy nên E-xơ-ra và Nê-hê-mi rất không đẹp lòng về người Y-sơ-ra-ên kết hôn cùng người ngoại bang (Exơ 9:1-; 10:1-; Nê 10:30; 13:23).
Theo Phục 23:3, dân Am-môn và dân Mô-áp bị cấm hẳn không được vào hội của dân Chúa, nhờ vậy điều này như một bức tường ngăn cách không cho phép dân sự kết hôn với các dân đó. Người nữ Y-sơ-ra-ên không được lấy người nam dân Mô-áp; nhưng cho phép người nam Y-sơ-ra-ên cưới người nữ Mô-áp, như Mạc-lôn cưới Ru-tơ. Phép giao với người Ê-đôm và người Ai-cập thì giảm phần chặt chẽ, một người nam trong hai nước đó có quyền kết hôn khi được nhận làm công dân cho đến đời thứ III bởi theo giáo Giu-đa (Phục 23:7, 8). Như vậy, có ba hình thức ngăn cấm trong hôn nhân: a/ với người Ca-na-an thì cả nam lẫn nữ đều không nên phối hiệp. b/ cũng hoàn toàn cấm người nữ Y-sơ-ra-ên kết hôn với người nam dân Am-môn và Mô-áp. c/ tạm thời cấm người nam dân Ê-đôm và Ai-cập không được cưới người nữ Y-sơ-ra-ên. Phép giao với người nữ trong hai dân tộc Ê-đôm và Ai-cập kể là hợp pháp. Con cái do các phép giao bất chính giữa người Y-sơ-ra-ên và người ngoại bang bị gọi bằng tên riêng là Mamzêr (“con hoang” Phục 23:2).
Trong đời Tân Ước, Phao-lô khuyên tín đồ nên kết hôn với nhau (ICôr 7:39; ICôr 7:12; 9:5). Xét ra ý Phao-lô không hề cấm kết hôn với người ngoại bang nào đã tin đạo Tin lành.
2. Lệ cấm kết hôn giữa người Y-sơ-ra-ên với người nữ chung một hội dân.– Trong đời các tổ phụ, phong tục nơi quê hương của Áp-ra-ham không cấm người nam lấy em gái cùng cha khác mẹ (Sáng 20:12; 29:26. Coi thêm IISa 13:13; Êxê 22:11); hoặc lấy cháu gái làm vợ như Na-cô (Sáng 11:29), hoặc lấy cô làm vợ như Am-ram (Xuất 6:20); hoặc lấy em vợ làm vợ như Gia-cốp (Sáng 29:26). Môi-se biết rõ thói đó là không tốt và ông muốn cải cách cho tốt hơn, nhưng ngặt vì thói cũ đã ăn sâu trong tư tưởng người ta, nên không thể chốc lát bài trừ ngay được. Môi-se vâng mạng Chúa, đặt lệ ngăn cấm việc kết hôn với người “trong vòng bà con”, khúc sách quan trọng nhứt là Lê 18:6-18:1- trước hết cấm kết hôn với người ruột thịt của mình, hai là cấm phối hiệp cùng mẹ, người kế mẫu, chị em ruột hay chị em cùng cha khác mẹ, bất cứ sanh tại nhà hay nơi xa, cháu gái, hoặc nội hoặc ngoại, bác gái, dâu, chị dâu, cháu gái nội hoặc ngoại v.v..
Thầy tế lễ chỉ nên cưới người nữ đồng trinh (Lê 21:13, 14). Các con gái có quyền hưởng cơ nghiệp chỉ nên lấy con trai cùng chi phái hầu cho tài sản không thuộc về chi phái khác.
IV. Thể lệ đặc biệt về việc lập hậu tự.–Phục 25:5-9 chép về một trường hợp ngoại lệ, đó là luật pháp định rằng hễ ai chết không con, thì người em nên lấy vợ của anh để có “con đầu lòng sanh ra làm kẻ nối danh cho người anh chết, hầu cho danh người ấy chớ tuyệt khỏi Y-sơ-ra-ên”. Luật nầy gọi là “Lévirat”, lấy từ chữ La-tinh Levir có nghĩa là anh rể. Có một thí dụ về việc nầy là trong đời các tổ phụ, Ô-nan cưới vợ góa của Ê-rơ, anh mình (Sáng 38:8). Luật kết hôn nầy không riêng cho người Giu-đa, song trong nhiều nơi ở phương Đông nhứt là xứ A-rạp có áp dụng.
V. Chế độ hôn nhân và lễ cưới.–Trước hết, có lễ đính hôn nhưng không phải tự chàng rể đứng ra làm lễ, mà giao cho một người trong gia đình, hoặc một người bạn thân của chàng rể. Cũng có khi cha mẹ hỏi con gái của mình xem có ưng thuận không (Sáng 24:58), nhưng dường như cô gái đã bằng lòng theo ý định của cha hay các anh lớn rồi (Sáng 24:51; 34:11). Lễ đính ước nầy có thể giao trọn quyền cho người bạn của chú rễ. Khi cô dâu ưng thuận rồi, thì có lễ định thân cử hành theo luật, do một người bạn hoặc một người mà chàng rễ đã nhờ sẵn, có mặt cha mẹ cô dâu nữa; lễ đó chứng quyết bằng một lời nguyện ước, sau đó có lễ cưới cho cô dâu. Như người Si-chem bằng lòng nộp “lễ cưới lớn, và sính nghi cao” (Sáng 34:12). — lễ cưới là cho cô dâu, còn sính lễ là cho gia đình. Nếu sính lễ không xứng hiệp với địa vị cô dâu, thì một người nghèo không thể cưới một người vợ giàu (ISa 18:23). Công việc hứa gả cử hành bằng một bữa tiệc, trong đó người Giu-đa kim thời thường có lệ đeo nhẫn vào tay cô dâu. Có mấy người hết sức bảo vệ ý kiến mình, cho rằng nhẫn mà Xuất 35:22 và Ês 3:21 nói đến là những nhẫn cưới, nhưng không có bằng chứng hiển nhiên. Dầu vậy, người Hê-bơ-rơ cũng công nhận nhẫn là một dấu hiệu về sự trung tín (Sáng 41:42), và người đeo nhẫn được tiếp nhận vào trong gia đình (Lu 15:32). Giữa lễ hứa gả với phép giao có một khoảng thời gian là chừng mười bữa trong đời các tổ phụ (Sáng 24:55), nhưng trong đời sau thì khoảng thời gian đó là một năm đối với gái đồng trinh và một tháng đối với gái góa. Trọn thời kỳ chờ đợi nầy, nàng dâu chọn lựa sống giữa các bạn, và sự giao thiệp với chàng rể sắp cưới là do một người bạn chọn làm trung gian được gọi là “bạn chàng rể” (Giăng 3:29). Nàng thật được coi như là vợ của người chồng chưa cưới. Vậy, nếu có sự thất tiết thì nàng bị xử tử (Phục 22:23, 24), người chồng có quyền lìa bỏ nàng (Mat 1:19; Phục 24:1).
Bây giờ, chúng ta đi đến điều quan trọng nhất, đó là việc cử hành lễ cưới, không có lễ nghi nhứt định cho việc nầy. Có lẽ, thật có sự ưng thuận phép giao theo luật bởi một lời thề nguyện cặp theo (so Êxê 16:8; Mal 2:14), nhứt là trong danh từ “giao ước của Đức Chúa Trời” (Châm 2:17) chỉ về dây hôn phối, và có lời chúc phước nữa (Sáng 24:60; Ru 4:11, 12). Nhưng yếu tố của lễ hôn nhân là việc rước dâu từ nhà cha mẹ nàng đến nhà chàng rể hoặc nhà cha mẹ chồng. Chàng rể sửa soạn trong ngày đó, mặc áo lễ và nhứt là “diện mão hoa trên đầu mình” (Ês 61:10), cũng xức “các thứ hương của con buôn” (Nhã 3:6). Ngày trước hôm làm lễ cưới, cô dâu tắm rửa sạch sẽ. Kinh Thánh chép rất ít về điều này có lẽ vì nó không mấy quan trọng (Ru 3:3; Êxê 23:40; Êph 5:26, 27). Trong bộ y phục của nàng dâu, có cái lúp đáng để ý hơn cả. Ấy là một cái áo nhẹ rất rộng, không những che mặt thôi, song cũng che toàn thân nữa (Sáng 24:65; so 38:14, 15). Ấy là một hình bóng về sự phục tùng chồng (ICôr 11:10). Nàng cũng thắt một đai lưng gọi là Kishshurim mà không cô dâu nào quên được (Giê 2:32). Đầu nàng cũng trang sức bằng xâu chuỗi, ấy cũng là một sự đặc biệt nữa.
Nếu cô dâu là gái đồng trinh thì xỏa tóc, nàng mặc áo trắng (Khải 19:8), chiếc áo này được thêu dệt bằng chỉ kim tuyến (Thi 45:13, 14), và xức thuốc thơm (Thi 45:8). Nàng cũng đeo đồ nữ trang (Ês 49:18; 61:10; Khải 21:2). Khi đến giờ, thường thường rất muộn trong buổi tối, chàng rể ra khỏi nhà riêng, có các bạn phụ rể đi theo (Quan 14:11; Mat 9:15) có đoàn âm nhạc và kẻ ca hát dẫn đầu (Sáng 31:27; Giê 7:34; 16:9) và theo sau có người cầm đuốc (Mat 25:7; so Giê 25:10; Khải 18:23 “ánh sáng đèn”). Khi họ tới nhà gái, cô dâu cùng các người phụ dâu hồi hộp chờ đợi (Mat 25:6). Chàng rể dẫn cả hai họ về nhà riêng hoặc nhà cha mẹ chàng với hết tất cả sự vui mừng. Đang khi trở về, họ đi chung với đám người nữ, bạn nàng dâu, thì cả dân sự nơi chàng ở ùa ra xem đám cưới (Nhã 3:11).
Tới nhà, có một tiệc sửa soạn cho hết thảy bạn bè và người lân cận được mời đến (Sáng 29:22; Mat 22:1-10; Lu 14:8; Giăng 2:2). Có những bài ca tụng lễ hôn nhân hát lên, bởi đó có câu “các nữ đồng trinh không có ai hát nghinh thú” (Thi 78:63). Những ngày vui vẻ kéo dài chừng 7 ngày, tới 14 ngày cũng có (Quan 14:12). Các khách đều được chủ nhân đưa cho áo lễ (Mat 22:11), có những câu đố cho thêm vui (Quan 14:12), và nhiều trò chơi khác. Lúc nầy, chàng rể vào trực tiếp nói chuyện với cô dâu, và sự vui mừng của các bạn chàng được “trọn vẹn” khi nghe tiếng chàng (Giăng 3:29). Chàng coi vợ như một bằng chứng thỏa mãn của sự thành công trong công việc mình. Công việc sau cùng của lễ nầy là đưa cô dâu vào phòng huê chúc (Quan 15:1; Giôên 2:16), đây có ghế dài sắm sẵn (Thi 19:5; Giôên 2:16). Vì cô dâu hoàn toàn che lúp cho nên Gia-cốp mới lầm lẫn.
Một người mới cưới vợ được miễn đi lính, được miễn làm công việc chung để có thể không rời khỏi nhà trong thời hạn là một năm (Phục 24:5). Đặc ân nầy cũng ban cho người nào đã hứa gả.
VI. Địa vị vợ chồng trong gia đình và xã hội.–Trước hết chúng ta xem xét địa vị của người nữ. Trong Kinh Thánh có nhiều chỗ nói người nữ, hoặc có chồng hay chưa có, khi ra ngoài để mặt trần, không che lúp (Sáng 12:14; 24:16, 65; 29:11; ISa 1:13). Đàn bà thường không được phép dự vào việc quan hệ, song có vài nữ tiên tri được dự phần vào công việc có ích chung, như Mi-ri-am, Đê-bô-ra; Hun-đa. An-ne (Xuất 15:20; ISa 18:6, 7), cả A-bi-ga-in nữa (ISa 25:14-25). Nếu ấy là địa vị chung thì người đờn bà có ảnh hưởng rất lớn trong gia đình riêng của mình. Dường như chỉ coi sóc việc nội trợ, song người đờn bà cũng được hưởng một phần tự lập lớn (IICác 4:8; Quan 4:18; ISa 25:14, v.v.). Trong Tân Ước, có nhiều lời răn dạy về bổn phận vợ và chồng đối với nhau (Êph 5:22, 33; Cô 3:18, 19; Tít 2:4, 5; IIPhi 3:1-7). Bổn phận của người vợ trong gia đình rất nhiều và được ràng buộc bởi những công việc khác nhau: nấu nướng và thu xếp công việc trong nhà là công việc của mọi người đàn bà dù sang hay hèn (Sáng 18:6; ISa 13:8), người nữ còn phân phát vật thực trong bữa cơm (Châm 31:15), may quần áo và lo dệt những thứ vải (Châm 31:13, 21, 22), và muốn làm gương về sự hoạt động và khéo léo thì “chế áo lót và bán cùng giao đai lưng cho con buôn”, như vậy, nàng mang sự giàu có từ nơi xa về nhà chồng (Châm 31:14, 24). Quyền người vợ theo luật pháp chép trong Xuất 21:10, tức là được đầy đủ “đồ ăn, đồ mặc và tình nghĩa”. Trong Châm 19:13; 21:9, 19; 27:15; 31:10-31 chép người đờn bà tranh cạnh thật khác xa và trái ngược với người nữ tài đức, là người có một ân tứ của Đức Chúa Trời ban cho
VII. Lệ định về việc ly dị.–Xét sách Cựu Ước, việc hôn nhân cũng có thể ly dị được (Lê 21:7, 14; 22:13; Dân 30:9). Quyền ly dị đó do người làm chồng nắm giữ (Sáng 21:14). Nếu muốn ly dị thì người chồng phải viết một tờ giấy để vợ, trao vào tay nàng và cho ra khỏi nhà (Phục 24:1). Duy chỉ có lý do như Phục 22:1- 13-19 đã nói thì không được lìa bỏ nhau.
Vậy, có một vấn đề được đặt ra ở đây, ấy là trong bất cứ trường hợp nào, Chúa Jêsus có ưng thuận cho người đã ly dị được tái hôn trong khi vợ hay chồng còn sống không? Hay là vẫn có trường hợp Ngài cho phép ly dị? Muốn trả lời câu hỏi ấy, phải nhờ những tài liệu chép trong Tân Ước, là lời do các môn đồ Chúa Jêsus sống trong phần thứ nhì của thế kỷ I S.C., cũng có một câu hỏi là: những tác giả hiểu Chúa Jêsus dạy về vấn đề nầy thế nào? Nếu chúng ta dựa vào sách Mác, Lu-ca và các thơ tín của Phao-lô thì chỉ có một lời đáp: Đấng Christ không cho phép ly dị với bất cứ lý do gì (Mác 10:2; Lu 16:18; Ga 1:12; ICôr 7:10). Còn Cựu Ước cho phép ly dị chỉ là nhường bước như Chúa dạy, điều này đưa đến một nền phong tục thấp hèn và trái với nguyên ý Chúa về lễ hôn nhân.
Trong thời kỳ Cựu Ước, những người đàn bà ít ai bằng lòng với địa vị của mình. Họ bị để chỉ vì một lý do không đáng mà luật pháp lại không hề can thiệp. Hầu hết họ bị tước đoạt những quyền lợi của mình đối với người chồng. Điều Chúa Jêsus phán có liên quan đến sự ly dị, cốt để binh vực quyền lợi cho người đàn bà trong đời Ngài chứ không có ý chỉ đường để người phụ nữ được giải phóng như trong đời chúng ta. Chúa Jêsus không có ý bắt người đàn bà phải chịu một địa vị cực khổ và tôi mọi đâu. Cả đời Ngài chỉ là giải tỏ sự thấu hiểu người đàn bà và sự thương xót họ mà thôi (Patterson).
Trái với lời dạy của Ngài trong Mác và Lu-ca, có hai lời lời phán của Đấng Christ, bởi tác giả sách Tin lành thứ nhứt thuật lại (Mat 5:32; 19:9. Ở đây, dường như Ngài cho phép li dị vì cớ tà dâm (“vì cớ ngoại tình”), không có câu nào đi đôi với câu đó (so ICôr 7:15), cho phép phân rẽ với một người tín đồ Đấng Christ nếu bị người ngoại để bỏ. Chữ “tà dâm” (ngoại tình) ở đây có ý nghĩa rộng hơn (Ôs 2:5; Am 7:17; ICôr 5:1). Đối với người Giu-đa, ly dị kèm theo quyền tái hôn, và những chữ “làm cho vợ mình ra người tà dâm” (Mat 5:32) tỏ ra rằng đối với Chúa Jêsus người đờn bà đó đã như tái hôn. Vì vậy, theo phong tục Giu-đa xưa, có người tưởng nếu Ngài cho phép ly dị thì dường như cũng cho phép tái hôn nữa. Nếu hiểu như vậy, thì ở phương diện nầy, tà dâm dẫn đến sự chia rẽ và mở đường cho sự tái hôn, nhưng nó lại đóng chặt cánh cửa của sự hòa thuận, mà với tinh thần của tín đồ Đấng Christ thì bao giờ cũng mở rộng cửa cho sự ăn năn (so Ô-sê; Giê 3:1-). Nên nhớ rằng trừ hai câu trong sách Ma-thi-ơ ra, thì luật lệ nhứt định nầy rất khó thực hiện.
VIII. Ý nghĩa của lễ hôn nhân thuộc linh.–Sách Cựu Ước lấy việc nam nữ phối hiệp làm thí dụ về Chúa và người Y-sơ-ra-ên liên hiệp với nhau (Ês 54:5; 62:5; Giê 3:14; Ôs 2:7, 19, 20). Vậy nên, khi người Y-sơ-ra-ên bội nghịch cùng Chúa, thờ tà thần thì ví như người phạm tội tà dâm (Ês 50:1; 57:8; Giê 3:1-; 13:27; 31:32; Êxê 16:1-; 23:37; Ôs 4:12; 5:3). Song Chúa Giê-hô-va lại hội hiệp Y-sơ-ra-ên với Ngài như vợ ở dưới đất, còn Hội Thánh là vợ ở trên trời (Ês 54:5; 62:4, 5; Ôs 2:19; IICôr 11:2; Khải 19:7; 21:2, 9; 22:17). Sách Nhã-ca là một tác phẩm đầy hình bóng so sánh trực tiếp về hôn nhân trong bộ Cựu Ước.
Trong Tân Ước, hình ảnh của Tân lang từ Đức Giê-hô-va đặt trên Đấng Christ (Ma- thi-ơ 9:15; Giăng 3:29), còn vợ mới thì đặt trên Hội Thánh. Thật vậy, Đấng Christ đã lìa Chúa Cha vì yêu Hội Thánh và muốn cứu Hội Thánh khỏi thế gian hư mất, Ngài coi mẹ ở dưới đất không bằng vợ thuộc linh của Ngài (Lu 2:48, 49; 8:19-21; 11:27, 28). Ngài sẽ lìa nhà Cha để làm trọn sự sum hiệp (Mat 25:1-10). Chúa Cha cũng sửa soạn một tiệc cưới cho Con Ngài (Mat 22:1-14). Phao-lô lấy sự so sánh nầy mà vẽ một bứa tranh về địa vị và bổn phận vợ chồng đối với nhau (Êph 5:23-32). Hội Thánh bội đạo được tả vẽ trong Khải 17:1-5; như sự tà dâm của thành Ba-by-lôn bí mật. Khi Hội Thánh phạm tội với thế gian, thế gian là đồ dùng cho Hội Thánh phạm tội thì cũng sẽ là đồ dùng để hình phạt Hội Thánh (Êxê 23:1-; Khải 18:1-5, 16-18).

Lên đầu trang