Hội dân

Community. Congrégation.
Cựu Ước tiếng Hê-bơ-rơ dùng hai chữ kahal và edhah dịch ra tiếng quốc ngữ là hội dân hoặc hội chúng, chỉ về cả dân Y-sơ-ra-ên họp lại như một hội thánh khiết có sự ràng buộc của dây tôn giáo hơn là dây chính trị. Thỉnh thoảng, có người ngoại bang ở giữa dân sự đã chịu phép cắt bì cũng được nhập vào (Xuất 12:19). Song, đúng phép thì chỉ người Hê-bơ-rơ thật trong dân sự mới được họp lại (Dân 15:15), khi hội chúng nhóm lại dâng của lễ chuộc tội (xem Lê 4:13-21; Phục 23:1-8) thì trục xuất những con đẻ hoang, là người Am-môn, và Mô-áp cho đến đời thứ X, còn người Ê-đôm và Ai-cập thì đến đời thứ III. Người nào mắc bệnh thận cũng phải bị trục xuất (Phục 23:1). Mỗi người Y-sơ-ra-ên là một phần tử của gia đình; một họ hàng gồm có những gia đình; một chi phái gồm có những họ hàng; hội dân hay hội chúng gồm có những chi phái. Mỗi nhà, mỗi họ hàng, mỗi chi phái đều có một người đứng đầu cũng được gọi là “trưởng lão” hay “quan trưởng”.
Môi-se chọn 70 trưởng lão được Chúa chỉ ra để chia sẻ việc cai trị nặng nhọc với ông (Dân 11:16). Khi tiếng kèn được cất lên từ hai ống loa bạc, ấy là dấu hiệu cho toàn thể hội chúng nhóm lại tại nơi gọi là “cửa hội mạc”, là chỗ nhóm họp (Dân 10:2-4). Khi thổi một ống loa thì các quan trưởng phải nhóm lại. Dân sự bắt buộc phải theo sự lãnh đạo của các quan trưởng (Giô 9:18).
Về sau, Hội Công luận (gồm 70 trưởng lão được chọn theo ý của Môi-se) làm đại biểu cho cả dân sự. Nhà hội từ chỗ chỉ làm nơi nhóm họp, sau dùng làm nơi để thờ phượng.

Lên đầu trang