Giô-sa-phát

Jehoshaphat. Josaphat (Giê-hô-va đã đoán xét).
I. Cha của Giê-hu, vua Y-sơ-ra-ên (IICác 9:2, 14).
II. Thầy tế lễ giữ việc thổi kèn khi vua Đa-vít rước hòm giao ước (ISử 15:24).
III. Vua thứ tư của Giu-đa, con A-sa, khi 35 tuổi lên ngôi cai trị, 3 năm khi cha già đau chân, và trị vì 22 năm một mình. Lịch sử triều ông có chép trong (ICác 22:40-50 và IISử 17:1-21:1).
Khi trị vì, Giô-sa-phát đi theo “đường lối đầu tiên của Đa-vít… không tìm cầu thần Ba-anh, mà tìm cầu Chúa…” nên Chúa “khiến nước vững chắc… Người vững lòng theo các đường lối của Chúa… rắp lòng tìm cầu Chúa… phá đổ các nơi cao và các thần tượng A-sê-ra khỏi Giu-đa. Vì vậy, Chúa khiến nước vững chắc trong tay Giô-sa-phát” (IISử 17:3-6; 19:3). Song dầu muốn, Giô-sa-phát không bài trừ các nơi cao (của Chúa) ngoài bàn thờ tại Giê-ru-sa-lem, trái với ý Ngài (ICác 15:14; 22:43). Ấy vì dân sự chưa có trình độ thuộc linh cao như Giô-sa-phát, mà họ cần phải nhờ bàn thờ thấy được để thờ Chúa.
Giô-sa-phát trừ diệt các bợm vĩ gian, chinh phục dân Ê-dôm (ICác 22:41-48; IISử 20:31, 32). Ông đi tuần suốt nước và lập quan xét tại các thành bền vững. Giô-sa-phát bảo các quan xét đó nên lập tôn chỉ của các tòa án ở thế gian: “Hãy cẩn thận việc làm, chẳng phải vì loài người mà các ngươi xét đoán đâu, bèn là vì Chúa; Ngài sẽ ở cùng ngươi trong việc xét đoán. Phải kính sợ Chúa, vì Ngài chẳng trái phép công bình, chẳng thiên vị người, chẳng nhận của hối lộ”. A-ma-ria quản lý những việc về tôn giáo, Xê-ba-đia quản lý những việc thuộc về nhà nước, và những người Lê-vi làm quan cai (IISử 19:1-).
Giô-sa-phát cũng sai 5 trưởng tộc, 9 người Lê-vi và hai thầy tế lê đều đi dạy dỗ trong các thành xứ Giu-đa. Họ đem theo sách luật pháp của Chúa mà dạy dỗ dân sự. Ấy cũng là tôn chỉ cho các quan bộ học (IISử 17:7-9 so Phục 11:19-21).
Giô-sa-phát trước hết làm cho nước mình ra mạnh để nghịch cùng Y-sơ-ra-ên (IISử 17:2), xây vững các nơi phòng giữ, và chiêu mộ quân lính thật đông. Bởi vậy trong nước ngày càng mạnh mẽ, thạnh vượng. Các nước ở lân cận sợ hãi, biếu cho người những lễ vật và bạc cống thuế (IISử 17:10-19). Sau ông đổi chính sách mà đồng minh với nước Y-sơ-ra-ên để nghịch cùng các kẻ thù nghịch chung là dân Sy-ri, và các chi phái phương Đông là Am-môn, Mô-áp, v.v…. Tiếc thay, Giô-sa-phát cho con trai mình là Giô-ram cưới A-tha-li, con gái của A-háp và Giê-sa-bên, đến nỗi khiến dân Giu-đa phải chịu tai hại biết bao nhiêu (IISử 18:1; 21:6; 22:3, 10; so với ICôr 15:33)! Ông lại giúp A-háp đánh lấy Ra-mốt đến nỗi suýt bỏ mạng! Ông không biết rằng vua A-háp lập mưu để tự cứu, hầu cho Giô-sa-phát chết trận thay mình (IISử 18:28-34).
Sau người Mô-áp và người Am-môn liên hiệp với các dân khác kéo đến đánh ông. Nhưng nhờ Chúa cứu giúp, làm cho quân địch tự giết hại lẫn nhau; vì vâng lời tiên tri Gia-ha-xi-ên nên Giô-sa-phát đắc thắng như thế. Giô-sa-phát hát bài ca thắng trận khợi khen Chúa, trở về kinh đô (IISử 20:1-).
Kế đến ông lại kết giao ước với A-cha-xia, đóng tàu vượt biển nhưng bị Chúa phá hủy, ấy làm trọn lời tiên tri Ê-li-ê-xe (IISử 20:37). Khi A-cha-xia thử rủ Giô-sa-phát lần nữa, ông không chịu, vì Chúa sửa phạt một lần là đủ cho ông rồi (ICôr 11:30 so Ês 9:13; Giê 5:3). Ông làm vua 25 năm và thọ được 60 tuổi, khi ông qua đời chừng nhằm năm 550 T.C., an táng trong thành Đa-vít, con là Giô-ram lên kế vị (ICác 22:51).
Tánh hạnh Giô-sa-phát đứng vào bậc nhứt trong vòng các vua Giu-đa, nên đất nước đời Giô-sa-phát càng ngày càng phát triển dến tột đỉnh. Tuy nhiên, vì ông thiếu sự bền trí và bền lòng, bởi đã liên hiệp với dân Y-sơ-ra-ên, nên bị ba sự hình phạt:
1. Ở Ra-mốt-Ga-la-át;
2. Khi xông vào xứ Mô-áp (IICác 3:1-);
3. Sự đóng tàu đi Ô-phia chở vàng.
Ông thấy những hậu quả tai hại của sự liên kết đó, nên khi còn sống ông nhường ngôi cho Giô-ram, con đầu lòng, cũng ban quà lễ và mấy thành bền vững cho các con khác. Ai muốn được lòng loài người mà thiếu lòng trung tín đối với đạo Ngài (IICôr 6:17, 18), thì không tránh khỏi sự hình phạt của Chúa được.

Lên đầu trang