Springs of water, Well. Puits.
Hoặc gọi là cái hố. Ở Giu-đa mưa ít (Quan 1:15), nên người ta thường đào giếng để lấy nước uống. Song, nước giếng cũng thường khô cạn nên có khi xảy ra sự tranh nhau về quyền sở hữu. Vì vậy khi đào giếng tại Bê-e-Sê-ba, Áp-ra-ham rất cẩn thận làm lễ để chứng minh rằng mình đã đào giếng đó, và nó thuộc quyền sở hữu của mình (Sáng 21:30). Còn Y-sác tỏ ra sự nhường nhịn vì bỏ những giếng chính mình đã đào để tránh sự tranh giành (Sáng 26:18, 22).
Giô-sép bị quăng xuống giếng cạn (Sáng 37:24). Luật Môi-se là hễ đào hầm thì phải đậy nắp, kẻo có người hay súc vật sa xuống (Xuất 21:33; IISa 17:19). Được nhận giếng mà mình không đào khi vào xứ Ca-na-an là một ơn đã hứa trước bởi Chúa (Phục 6:11;). Có giếng thuộc về mình là một dấu chứng nhận mình tự lập (Châm 5:15), và không dùng nước giếng thuộc về người khác là một dấu hiệu không động đến của người khác (Dân 20:17-19; 21:22). Ngày nay giữa người A-rạp vẫn trọng quyền sở hữu các giếng mà tổ tông đã để lại. Qua đó ta có thể hiểu thêm vì sao tên giếng có quan hệ với sử ký và địa dư trong xứ Pha-lê-tin và bán đảo Arabie.
Các giếng ở xứ Pha-lê-tin hay đục trong đá vôi, và có khi có những bậc thang để đi xuống lấy nước (Sáng 24:16). Bờ giếng hay có tường thấp và tròn bao quanh, trên tường thấp đó hay có những vết cọ xát vì người ta thường dùng thùng để kéo nước lên. Chắc Chúa Jêsus ngồi trên một thành giếng như thế lúc nói chuyện với người đàn bà Sa-ma-ri (Giăng 4:6), và người đàn bà trong IISa 17:19 lấy cái mền trải trên miệng giếng.
Cách lấy nước ở xứ Pha-lê-tin hơi giống ở xứ ta như sau:
1. Dùng thùng và thừng, hoặc một bầu da (Sáng 24:14, 20; Giăng 4:11).
2. Dùng bánh xe quay như ở Ba-tư. Bánh xe đó có nhiều thùng hay bình bằng đất, khi bánh quay thả thừng xuống, thì bình và thùng trống không song khi kéo lên thì đầy nước.
3. Cách này khác với hai cách trước: có người ngồi đối diện bánh xe, lấy hai tay kéo và dùng chân đẩy để quay bánh xe cho thùng xuống múc nước lên.
4. Một phương pháp phổ biến ở xứ Ai-cập thời cổ mà hiện nay người ta đã sáng chế một trụ chốt do một cần gỗ đưa lên xuống được. Ở đầu cần gỗ nầy có một tảng đá hay một vật khác miễn là nặng, còn đầu kia có thùng hay là bầu để lấy nước. Do vậy, người kéo nước đứng trên bờ giếng cầm dây buộc thùng để kéo lên xuống cho nhẹ nhàng.
Bên cạnh giếng hay có bể đá hoặc gỗ, để đựng nước cho người và vật uống. Nếu không có ống hay đường dẫn nước, thì người ta hay gánh nước bằng thùng hay đội bình trên đầu.
Tiến sĩ Scofield chú thích về giếng trong Sáng 26:20 rằng:
Các tên giếng chép trong Sáng thế ký có ý nghĩa hay, và liên quan tới những biến động quan trọng như:
1. Bê-e-La-cha-roi, nghĩa là “giếng của Đấng Hằng sống đoái xem tôi” (Sáng 16:14; 24:62; 25:11).
2. Bê-e-sê-ba, nghĩa là giếng của lời thề hoặc giao ước (21:25-33; 22:19; 26:23-25; 46:1-5).
3. Ê-sết, nghĩa là tranh giành (26:20). Sít-na, nghĩa là giành nhau (26:21). Ê-sết và Sít-na là hai giếng mà chính Y-sác đào. Về sau, Y-sác ở gần các giếng cũ của cha mình. Rê-hô-bốt, nghĩa là được rộng rãi hơn (26:22). Si-ba, nghĩa là lời thề (26:23).