Jealous. Jalousie, Envie.
Nguyên văn bằng tiếng Hy-lạp và tiếng Hê-bơ-rơ của chữ ghen tương có nghĩa là “ấm” và “nóng”. Cả hai dùng đều có ý tốt hoặc xấu, để bày tỏ cảm tình xấu hay cảm tình tốt.
I. Khi nói Đức Chúa Trời là Đấng kỵ tà (Xuất 20:5), thì vẫn có ý tốt, ấy là nói theo cách của loài người, giống như quyền hạn của người chồng đối riêng với vợ mình, Đức Chúa Trời đã xem dân Y-sơ-ra-ên như là vợ riêng của Ngài nên đời dân đó chỉ nên vâng phục Ngài. Khi dân Y-sơ-ra-ên không vâng phục Chúa thì dân ấy đã phạm tội ngoại tình và trêu chọc Chúa phải ghen tương. (Phục 32:16-21; ICác 14:22; Thi 78:58; Êxê 8:3; 16:38, 42; 23:25; 36:5; 38:19). Ghen tương dùng cho ý tốt lẫn ý xấu. Có ý tốt khi nóng nảy lo về sự tôn trọng Chúa. Xem Dân 25:11 (So sánh ICác 19:10; IICác 10:1, 16) IICôr 11:2 (So sánh Rô 10:2. Về ý xấu tìm trong Công 7:9, Rô 13:13; ICôr 3:3; IICôr 12:20; Gia 3:14, 16).
II. Luật về sự ghen tương có chép trong Dân 5:11-31. Khi một người nghi vợ của mình phạm tội ngoại tình, thì đem một của lễ chay cho thầy tế lễ, vấn đề phạm tội hay vô tội sẽ được giải quyết bởi một cách thử có chép rõ ràng. Cách thử có ý cầu hỏi Đức Chúa Trời để Ngài quyết định có hay không có tội.