Faith. Foi.
Nếu tín ngưỡng và đức tin có sự khác nhau, thì tín ngưỡng chấp nhận lời chứng, còn đức tin chấp nhận lời chứng cùng với sự tin cậy. Đức tin là một nguyên lý hoạt động, là một việc của cả hiểu biết và ý muốn. Sự phân biệt giữa tín ngưỡng và đức tin được tỏ ra ở “hãy tin ta, ” và “tin đến ta” (Giăng 3:18; Rô 3:26; 9:33, v.v.). Xem bài chua của tiến sĩ Scofield, Hêb 11:39, ở dưới.
I. Đức tin của Cựu Ước.– Như “người công bình sống bởi đức tin mình” (Ha 2:4). Chữ “tin” hoặc có ý là nhờ cậy được, hoặc có ý là tin Đức Chúa Trời. Cựu Ước có nhiều chỗ luận về tin Đức Chúa Trời (Sáng 15:6; Xuất 14:31; Dân 14:11; Thi 78:22 v.v.). Một lời rất cần yếu ở Sáng 15:6 nói: “Áp-ra-ham tin Đức Giê-hô-va, thì Ngài kể sự đó là công bình cho người.” Tại sao nói là lời rất cần yếu? Vì Phao-lô căn cứ vào đó mà luận về sự xưng công bình bởi đức tin (Rô 4:9, 22; Ga 3:6 coi thêm Gia 2:23). Áp-ra-ham nổi tiếng là người tin kính trong thời Cựu Ước: tin Đức Chúa Trời sẽ làm trọn lời hứa (Sáng 12:2, 3). Đức tin của Áp-ra-ham cũng thuộc đức tin của Tân Ước, nên tín đồ Chúa Jêsus cũng được gọi là dòng dõi Áp-ra-ham (Ga 3:6, 7, 8). Thơ Hê-bơ-rơ chép rằng: “Đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đương trông mong, là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy. Ấy là nhờ đức tin mà các đấng thuở xưa đã được lời chứng tốt” (Hêb 11:1, 2). Điều đó cho thấy người ngày xưa tin chỉ có hy vọng, chớ chưa đạt đến được (Hêb 11:13). Điều giảng luận của Cựu Ước giống với Tân Ước là: đức tin không lìa khỏi sự yêu thương và hy vọng, dầu điều trọng hơn là tình yêu thương. Vậy, Phục truyền luật lệ ký chép rằng: ngươi phải hết lòng, hết ý, hết sức kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi” (Phục 6:5; Lê 19:18; ICôr 13:13).
II. Đức tin của Tân Ước, có thể chia làm bốn: (a) Tin Đức Chúa Trời. (b) Tin lời hứa của Đức Chúa Trời. (c) Tin Đấng Christ. (d) Tin lời nói của Đấng Christ.
Trong ba sách Tin lành đầu.– Có giảng nhiều về ý của việc: “tin vào lời nói của Đấng Christ”. Người nào có đức tin thì Đấng Christ liền tỏ phép lạ ở trong thân thể người ấy (Mác 5:34; 10:52; Mat 9:22, 29). Đức tin lớn thì năng lực cũng lớn, như nói: “Hỡi đờn bà kia, ngươi có đức tin lớn; việc phải xảy ra theo ý ngươi muốn!… Con gái người liền được lành” (Mat 15:28 xem Mat 8:10; Lu 7:9, 50; 17:5). Chúa Jêsus phán rằng: “Hãy có đức tin đến Đức Chúa Trời.” Lại phán: “Mọi điều các ngươi xin trong lúc cầu nguyện, hãy tin đã được, tất điều đó sẽ được ban cho các ngươi” (Mác 11:21-24) Ngài phán cùng Giai-ru rằng: “Đừng sợ, chỉ tin mà thôi” (Mác 5:36), và nói cho người bị quỉ ám: “Kẻ nào tin thì mọi việc đều được cả” (Mác 9:23). Khi gió bão nổi lên, Ngài phán cùng môn đồ rằng: “Sao các ngươi sợ? Chưa có đức tin sao? (Mác 4:40). Chúa Jêsus phán về đức tin biểu núi cất mình lên, và dời đi có lẽ ở trong hai cảnh ngộ (Mác 11:23; và Mat 17:20), chớ không phải ở một chỗ (Xem Lu 17:6).
Sách Tin lành Giăng phần nhiều giảng về đức tin được cứu (Giăng 3:15, 16, 18; 4:41, 42, 53; 5:44; 6:36, 47, 64; 9:38; 10:25, 26; 11:15; 12:39; 14:29; 16:31; 19:35; 20:31) nói về đức tin, tức tin Chúa Jêsus là Đấng Christ là Con Đức Chúa Trời, nó cùng nguồn gốc với đức tin trong sách khác ở Tân Ước: tin Chúa Jêsus như tin Đức Chúa Trời, đem mình về cùng Ngài, nhờ Ngài cứu rỗi (Giăng 14:1). Môn đồ tin Chúa Jêsus ra từ Đức Chúa Trời (Giăng 16:30). Có đức tin thì biết ngay rằng Chúa Jêsus và Đức Chúa Cha là một (Giăng 10:38; 14:10). Người nào tin thì được sự sống đời đời (Giăng 3:16; 6:47). Đức tin đến bởi sự cảm động của Đức Chúa Trời, nên có chép “Ví bằng Cha, là Đấng sai ta, không kéo đến, thì chẳng có ai được đến cùng ta” (Giăng 6:44).
Sách Sứ đồ và thơ tín của Phao-lô giảng luận chữ “tin” cũng đều chỉ về đức tin “được cứu bởi đức tin, ” nên môn đồ Đấng Christ được gọi là tín đồ. Bấy giờ, Phao-lô đang tranh luận với đạo Do-thái cũ, nên ông luận về chữ tin, phần nhiều là nhằm chỗ tư tưởng họ mà phát ra. Người Do-thái cho rằng bởi Luật pháp mà được xưng công bình, nhưng đối với Phao-lô, thì bất luận là người Do-thái hay dân ngoại, ai cũng có thể được cứu. Ngoài cách tin Chúa Jêsus mà được xưng công bình, thì không còn phương pháp nào khác (Ga 3:7-14). Vậy nên, dầu khéo giữ luật pháp cũng không thể được xưng công bình (Ga 2:16; 3:11; Rô 3:20, 28).
Lời Chúa Jêsus giảng dạy về đức tin.– Mục đích là Chúa muốn người ta tin rằng Ngài là đại biểu của Đức Chúa Trời sai xuống thế gian (Lu 8:12, 13; 22:32; Mat 18:6; Lu 7:50; xem Lu 24:25, 45). Trong sách Tin lành Giăng cũng có ý đó nữa, như phán cùng Na-tha-na-ên (Giăng 1:50), cùng Ni-cô-đem (Giăng 3:12) cùng người Do-thái (Giăng 5:24, 38; 6:25-40, 47; 7:38; 8:24; 10:25, 36; 12:44, 46). Tin Ngài như tin Đức Chúa Trời (Giăng 5:25-38; 6:40, 45; 8:47; 12:44), ấy là chìa khóa của sự sống đời đời. Chúa Jêsus phán rằng: “Các ngươi tin Đấng mà Đức Chúa Trời đã sai đến, ấy đó là công việc Ngài” (Giăng 6:29). Ai không tin Ngài thì sẽ hư mất (Giăng 3:18; 5:38; 6:64; 8:24). Chúa hằng gây nên đức tin của tín đồ, nên trước khi chịu nạn, Ngài cầu nguyện Đức Chúa Cha, tạ ơn Cha đã khiến cho môn đồ nhận biết và tin Ngài (Giăng 17:8). Sau khi sống lại, Ngài hiện đến cùng Thô-ma, giải tỏa mối nghi ngờ cho người (Giăng 20:29). Công việc của môn đồ là dẫn dắt người ta tin Đấng Christ (Giăng 17:20, 21). Tóm lại, một khi Chúa Jêsus đã đến, ý nghĩa chữ “tin” càng cao, càng sâu nhiệm hơn. Các tác giả sách Tân Ước đều cốt lấy thập tự giá là trung tâm điểm của đức tin.
Tiến sĩ Scofield chú thích về đức tin như sau nầy:
Mat 12:46.Chúa Jêsus, khi bị Y-sơ-ra-ên là “anh em bà con theo phần xác” (Giăng 1:11; so Rô 9:3), của Ngài chối bỏ, Chúa ta cho biết về sự lập một gia đình mới của đức tin, bởi thế, vượt qua những điều thuộc về nòi giống, tiếp nhận “kẻ nào” muốn làm môn đồ Ngài (Câu 49, 50, so Giăng 6:28, 29).
Rô 3:36.– “Sự công bình Ngài” ở đây là tính cách chắc chắn của Đức Chúa Trời đối với luật pháp và sự thánh khiết của chính Ngài, trong sự tự do xưng những tội nhân tin Đấng Christ là công bình; tức là những người nào mà Đấng Christ chịu mọi sự luật pháp đòi thế cho (Rô 10:4). Lu 7:44.– Xem Gia 2:14-26.– Khi Chúa Jêsus muốn xưng người đàn bà có tội là công bình ở trước mặt Si-môn, Ngài nói đến những công việc của bà đó, vì chỉ bởi công việc đó, Si-môn mới thấy chứng cớ của đức tin bà; nhưng khi Ngài truyền người đờn bà “đi cho bình an” thì nói đến đức tin, chớ không phải công việc của bà. Xem Tít 2:14; 3:4-8. Những công việc của tín đồ chẳng bao giờ có thể làm cớ cho người đó được an ổn chắc chắn, vì phải nhờ đến công việc Đấng Christ (so Mat 7:22, 23). Xem bài Bình an (Ês 32:17; Giu 1).
Lu 18:8.– Đây không chỉ về đức tin của cá nhân, song về tìn ngưỡng đến cả toàn thể lẽ thật đã được bày tỏ (so Rô 1:5; ICôr 16:13; IICôr 13:5; Cô 1:23; 2:7; Tít 1:13; Giu 3. Xem bài “Bội đạo, ” IITê 2:1-22; Lu 18:8; IITi 3:1, lời chua).
Hêb 11:39. Điểm quan trọng của đức tin là ở sự nhận lấy điều Đức Chúa Trời đã tỏ ra, và có thể định nghĩa là sự tin cậy nơi Đức Chúa Trời của Kinh Thánh và Chúa Jêsus Christ mà Ngài đã sai đến, nhận Ngài làm Đấng Cứu thế và Chúa, và thúc giục nên vâng phục, yêu thương và làm các việc lành (Giăng 1:12; Gia 2:14-26). Những công dụng đặc biệt của đức tin nêu lên định nghĩa thứ hai: (1) Để được cứu chuộc, đức tin là sự tin cậy của cá nhân trong Đức Chúa Jêsus Christ trừ ra những công đức riêng người đó, là Đấng “bị nộp vì tội lỗi chúng ta, và sống lại vì sự xưng công bình của chúng ta” (Rô 4:5; 23:25), (2) Dùng về sự cầu nguyện, đức tin là “điều chúng ta dạn dĩ ở trước mặt Chúa, nếu chúng ta theo ý muốn Ngài mà cầu xin việc gì, thì Ngài nghe chúng ta” (IGiăng 5:14, 15). (3) Dùng để chỉ về những điều không thấy được mà Kinh Thánh nói đến, đức tin “gắn cho những điều đó thể chất” hầu ta có thể làm theo sự tin quyết rằng thật có (Hêb 11:1-3). (4) Như một nguyên lý hành động trong đời sống, những công dụng của đức tin được mô tả trong Hêb 11:1-39.