Đức Thánh Linh

Holy Spirit. Saint Esprit.
I. Định nghĩa.– Danh hiệu “Linh, ” hoặc “Thánh Linh Đức Chúa Trời, ” hoặc “Đức Thánh Linh” tìm thấy trong phần lớn các sách Kinh Thánh. Nguyên văn Cựu Ước, chữ Hê-bơ-rơ dùng như nhau về Đức Thánh Linh như chỉ về “Thánh Linh” Đức Chúa Trời là r#ah, có nghĩa là “hơi thở, ” “gió, ” hoặc “gió hiu hiu, ” và chỉ dùng trong sách, động từ Hiphil nghĩa là “thở, ” “thổi, ” “có chỗ để thở” “rộng rãi” v.v.. Chữ Hy-lạp dùng trong Tân Ước về Thánh Linh là pneúma. Trong Tân Ước cũng chép “Thánh Linh của Đức Chúa Trời” “Thánh Linh của Chúa, ” “Thánh Linh của Cha” “Thánh Linh của Chúa Jêsus, ” “Thánh Linh của Đấng Christ.” Lời dùng về Thánh Linh bằng tiếng Hy-lạp là từ động từ pnéô, tức “thở” “thổi”. Tiếng la tinh tương tự là spiritus, tức “thần linh.”
II. Luận về Đức Thánh Linh đời Cựu Ước.– Đây là cách dùng chữ r#ah trong Cựu Ước, nguyên nghĩa là “gió, ” hoặc “thở”.
(1) Nguyên lý của chính sự sống; theo nghĩa đó chỉ về sinh hoạt lực, như: “Hơi thở tôi bay đi; các ngày tôi hầu hết” (Gióp 17:1; so Quan 15:19; ISa 30:12). (2) Chỉ về những tình cảm của con người như giận dữ (Quan 8:3; Châm 29:11), ước ao (Ês 26:9), can đảm (Giô 2:11), (3) Có tri thức, khôn ngoan (Xuất 28:3; Ês 29:24) (4) Tánh nết thường (Thi 34:18; 51:17; Châm 14:29; 16:18; 29:23).
Thánh Linh liên quan với Đức Chúa Trời.– Vì hơi thở người là phần vô hình của người và làm đại biểu cho sinh hoạt lực, sự sống và hoạt động của người, nên dễ đổi lấy ý về Đức Chúa Trời để thử bày tỏ việc hành động cương quyết Ngài đối với người và cõi thiên nhiên. Vậy, Thánh Linh của Đức Chúa Trời (nhờ nghĩa r#ah là hơi thở người, vốn chỉ về sự hoạt động và quyền năng của Đức Chúa Trời (Ês 31:3).
Nay xem xét đến Thánh Linh Đức Chúa Trời có liên quan với chính Đức Chúa Trời trong Cựu Ước. Các trước giả Kinh Thánh không triết học hóa bản tánh Đức Chúa Trời của Thánh Linh. Dầu vậy, họ giữ một sự phân biệt rõ ràng giữa thần linh và xác thịt, hoặc một hình thể vật chất nào khác. Lại nữa, thấy trong Cựu Ước, cả hai hiệp một là sự đồng nhứt của Đức Chúa Trời và Thánh Linh Đức Chúa Trời, và cũng có một sự phân biệt rõ ràng ở giữa. Sự đồng nhứt thấy ở trong Thi 139:7; tại đó xưng rõ sự vô sở bất tại của Thần Linh, và trong Ês 63:10; Giê 31:33; Êxê 36:27. Dầu vậy, trong một số lớn các khúc Kinh Thánh, Đức Chúa Trời và Thánh Linh của Đức Chúa Trời không thể suy tưởng là đồng nhứt được, như trong Sáng 1:2; 6:3; Nê 9:20; Thi 51:11; 104:29, v.v… Lẽ tự nhiên, điều nầy không có ý nói Đức Chúa Trời và Thánh Linh của Đức Chúa Trời là hai Đấng khác nhau trong tư tưởng các trước giả Cựu Ước, song chỉ là Thánh Linh có những việc thuộc chính Ngài khác với Đức Chúa Trời hoạt động, nhứt là khi công việc đặc biệt, với ý làm trọn mục đích đặc biệt và ý định của Đức Chúa Trời. Thánh Linh giáng trên mấy cá nhân để làm trọn những mục đích đặc biệt. Như vậy là Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự trong người và thế gian. Như thiên sứ của Đức Giê-hô-va, hoặc thiên sứ của Giao ước trong mấy chỗ kia chỉ về chính Đức Giê-hô-va là Đấng Ngài sai đến, cũng một lẽ ấy, Thánh Linh của Giê-hô-va là cả Giê-hô-va ngự trong và trên người, và cùng một lúc là Đấng Giê-hô-va sai đến cùng người (Xem tiếp trang 1856).
Thánh Linh đối với người.– Đức Chúa Trời dựng nên trời đất, có “Thần Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước” (Sáng 1:2). Hình ảnh mô tả Thánh Linh như một chim đang xòe cánh, ủ ấp (so Phục 32:11). Tại đây, từ chỗ vực thẳm buổi đầu tiên, Đức Thánh Linh đem lại trật tự và sự tốt đẹp cùng dẫn dắt những thế lực của thế gian hướng về đích của một vũ trụ có thứ tự. Lại nữa, trong Thi 104:28-30, Đức Chúa Trời đã sai Thánh Linh Ngài ra, và các vật hữu hình được có “Chúa sai Thần Chúa ra, chúng nó được dựng nên; Chúa làm cho mặt đất ra mới.” Trong Gióp 26:13, sự tốt đẹp của các từng trời cũng do bởi Thánh Linh: “Thần Chúa điểm trang các từng trời.” Trong Ês 32:15, sa mạc trở nên một cánh đồng màu mỡ, ấy là kết quả của sự Thánh Linh đổ ra.
Thánh Linh ban năng lực tự nhiên cho cả phần xác lẫn phần trí. Trong Sáng 2:7, Đức Chúa Trời là căn nguyên sự sống loài người về phần thể xác và tâm trí bằng cách “hà sanh khí vào lỗ mũi” người. Trong Dân 16:22, Đức Chúa Trời là “Chúa của Thần linh mọi xác thịt.” Trong Xuất 28:3; 31:3; 35:31 chép “sự khôn ngoan, sự thông sáng để làm mọi thứ nghề thợ” là ơn Đức Chúa Trời ban cho bởi Thần Ngài. Sự sống thân thể là nhờ sự hiện diện của Thần Đức Chúa Trời (Gióp 33:4); và Ê-li-hu xưng rằng: “Hơi thở của Đấng Toàn năng ban cho tôi sự sống” (Gióp 33:4). Cũng xem Êxê 37:14; 39:29. Vậy, theo Cựu Ước, về mọi phần của sinh mạng con người, thân thể, trí và thần linh, đều nhờ sự hoạt động trực tiếp của Thần Đức Chúa Trời. Trong Sáng 6:3 chép: “Thần Ngài sẽ chẳng hằng ở trong loài người luôn.” Những tài năng lớn của người đều nhờ Thánh Linh mà có, như Giô-sép có tài cai trị nước (Sáng 41:38), Giô-suê có tài chiến trận (Dân 27:18), bảy mươi trưởng lão cai trị (Dân 11:17). Bết-sa-lê-ên và Ô-hô-li-áp có tài chế tạo (Xuất 31:2-6). Còn việc cần yếu hơn nữa là Đức Thánh Linh giúp người làm điều lành (Nê 9:20; Thi 51:11; 143:10; Êxê 36:27), và chống cự kẻ bội nghịch (Sáng 6:3; Nê 9:30; Ês 63:10).
Đối với các quan xét và chiến sĩ.– Y-sơ-ra-ên kêu cầu Đức Giê-hô-va thì Ngài dấy lên một người giải cứu họ là Ốt-ni-ên: “Thần của Đức Giê-hô-va cảm động người, người đoán xét Y-sơ-ra-ên” (Quan 3:10). Ghê-đê-ôn cũng vậy (6:34); “Thần của Đức Giê-hô-va cảm hóa (nghĩa văn tự: mặc như áo) Ghê-đê-ôn.” Trong 11:29:1- “Thần của Đức Giê-hô-va cảm động Giép-thê, ” và 13:25; “Thần của Đức Giê-hô-va khởi cảm động Sam-sôn, ” sau trong 14:6: “Cảm động Sam-sôn rất mạnh.” Trong ISa 16:14, thấy: “Thần Đức Giê-hô-va lìa khỏi Sau-lơ.” Trong các trường hợp nầy thấy Thánh Linh ban cho những tài năng, không kể đến tánh nết đạo đức của người nhận. Mục đích là bày tỏ mối quan hệ của Ngài với nước thần quyền, không phải về cá nhân nào, mà tỏ ra giao ước giữa Chúa và Y-sơ-ra-ên. Trong mấy chỗ khác Đức Thánh Linh dùng sức lực trên thân thể một cách trực tiếp hơn (IICác 2:16; Êxê 2:1, 2; 3:12).
Đối với các tiên tri.– Người Do-thái cho chức tiên tri là công việc đặc biệt của Đức Thánh Linh, vì các tiên tri là người được Đức Thánh Linh khải thị để có thể nói được ý chỉ của Đức Chúa Trời, giống như đại biểu của Ngài (Phục 34:10; Am 3:7; Mi 3:8). Vậy, các tiên tri là người được cảm động bởi Đức Thánh Linh (Ôs 9:7), nên thường nói: “Đức Chúa Trời phán như vầy”. Vì sứ mạng mình là trực tiếp từ Thần Ngài (Êxê 2:2; 8:3; 11:1, 24; 13:3).
Đối với dân lựa chọn.– Đức Chúa Trời lựa người Y-sơ-ra-ên làm dân Ngài, ơn đặc biệt Ngài ban cho họ tức là Đức Thánh Linh hằng ở giữa họ vậy (Nê 9:20; Ês 63:11). Ngoài những người vẫn thường được xưng là tiên tri, cũng còn các lãnh tụ khác được xưng như vậy, tỉ dụ Áp-ra-ham (Sáng 20:7), Môi-se (Phục 18:15), Mi-ri-am (Xuất 15:20), Đê-bô-ra (Quan 4:4). Vua Đa-vít cũng có Thần Đức Chúa Trời ở cùng (IISa 23:2; ISa 16:13).
Đối với Đấng Mê-si.– Mê-si là Đấng được đầy dẫy Đức Thánh Linh cách đặc biệt và chịu Đức Giê-hô-va “xức dầu” và Đức Thánh Linh ngự trên Ngài (Ês 11:1-5; 61:1). Cho nên người Do-thái mong rằng khi nước Đấng Mê-si lập thành, sẽ có Đức Thánh Linh giáng lâm khắp cả. Bấy giờ, chẳng những tiên tri có Đức Thánh Linh mà đến cả những người Y-sơ-ra-ên cũng sẽ có nữa (Êxê 39:29; Giôên 2:28, 29; Xa 12:10). Về sau thấy Đấng Mê-si trở nên xác thịt, và bà Ma-ri chịu thai bởi Đức Thánh Linh mà sanh ra (Mat 1:18; Lu 1:35), và trước khi Chúa Jêsus thi hành chức vụ cách công khai, Đức Thánh Linh đã ngự xuống như chim bồ câu đậu trên Ngài (Mat 3:16; Mác 1:10). Đức Thánh Linh giúp Đấng Mê-si làm hoàn thành chức vụ Ngài trên đất (Mat 4:11; Lu 4:1, 14; 11:20; Hêb 9:14).
III. Luận về Đức Thánh Linh đời Tân Ước.– Chúa Jêsus ở thế gian thường bảo môn đồ chờ đợi Đức Thánh Linh mà Đức Chúa Trời hứa cho (Lu 24:49; Công 1:4, 5, 8). Ngài phán cùng môn đồ rằng: “Ta lại sẽ nài xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi một Đấng yên ủi khác, … tức là Đức Thánh Linh mà Cha sẽ nhơn danh ta sai xuống…” (Giăng 14:16, 26). Lại phán: “Khi nào Đấng Yên ủi sẽ đến, là Đấng bởi Cha sai xuống…” (Giăng 15:26; 16:7), “Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật” (Giăng 16:13). Vì là Thánh Linh của Chúa Cha (ICôr 2:10-12; IICôr 1:22; 5:5; Êph 4:30), từ Chúa Cha mà đến (Giăng 15:26). Chúa Cha dùng Đức Thánh Linh khiến Chúa Jêsus sống lại; Đức Thánh Linh cũng sẽ khiến cho môn đồ sống lại (Rô 8:11). Thánh Linh của Chúa Cha cũng giúp con người được tinh sạch, nên thánh, và được xưng công bình (ICôr 6:11). Bất cứ người nào được Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời dẫn dắt đều được phép gọi Đức Chúa Trời là Cha (Rô 8:14-16; Êph 2:18). Nhưng Thánh Linh cũng là Thánh Linh của Đấng Christ (Ga 4:6; IICôr 3:17; Công 16:7; Phil 1:19; Rô 8:9; IIPhi 1:11), sẽ vâng mạng Đấng Christ mà đến (Giăng 14:26), và làm chứng cho Đấng Christ (Giăng 15:26; 16:14). Cho nên Thánh Linh mới có thể đưa ơn cứu rỗi của Đấng Christ vào lòng người (Giăng 14:17, 18). Nếu ai hối cải mà chịu lễ báp-têm, cũng được ơn ban của Đức Thánh Linh (Công 2:38), và nhờ sự tái sanh bởi Đức Thánh Linh sẽ được vào nước Đức Chúa Trời (Giăng 3:5). Vả, Đức Thánh Linh chẳng những có quyền lực cảm động thôi, lại có thần cách nữa nên có thể dạy dỗ (Giăng 14:26), yên ủi (Công 9:31), ngăn cấm con người (Công 16:6, 7), để riêng và sai khiến người (Công 13:2), và sắp đặt mọi sự (Công 15:28). Nếu nói dối Đức Thánh Linh tức là nói dối Đức Chúa Trời (Công 5:3). Kẻ nào nói phạm đến Đức Thánh Linh thì tội chẳng được tha đâu (Mat 12:31; Hêb 6:4, 5, 6; 10:29). Thánh Linh đã đến thì sẽ khiến thế gian tự cáo về tội lỗi, về sự công bình và về sự phán xét (Giăng 16:8-11).
IV. Luận về Đức Thánh Linh đối với Hội Thánh.– Đạo Đấng Christ luận về Đức Thánh Linh chẳng những căn cứ ở Kinh Thánh thôi, mà lại từ nơi Hội Thánh hằng được kinh nghiệm và chịu cảm động mà ra nữa.
a) Đức Thánh Linh ở Cựu Ước (Thi 139:7) dầu có quan hệ đặc biệt với người Y-sơ-ra-ên, song ở trong Hội Thánh Đấng Christ, sự cảm động của Ngài thì khác hẳn ngày xưa. Đến nỗi Giăng nói rằng, trước ngày lễ Ngũ tuần Đức Thánh Linh còn chưa giáng lâm (Giăng 7:39). Vậy, nên người nào không ở trong Đấng Christ thì không biết Đức Thánh Linh. Ngày lễ Ngũ tuần, Đức Thánh Linh đầy dẫy khắp nhà môn đồ ngồi, các môn đồ đều khởi sự nói các thứ tiếng khác (Công 2:1-4). Có kẻ không được nhận Thánh Linh thì nhạo báng họ (2:13). Phao-lô nói: Hội Thánh cho sự nói tiên tri và giảng đạo là cần yếu hơn nói các thứ tiếng (ICôr 12:28-31; 14:1-5). Nhưng khi chịu lễ báp-têm, Đấng Christ cũng chịu Đức Thánh Linh ban ơn đầy dẫy (Mác 1:10). Đức Thánh Linh giáng lâm Hội Thánh, Hội Thánh liền từ trong sự dư dật của Chúa Jêsus nhận lãnh ơn lớn (Giăng 10:10; Êph 3:14-19; 4:13).
b) Đấng Christ giáng sanh, Hội Thánh đã biết Đức Thánh Linh ở trong Ngài, Đấng Christ chẳng những là người, mà cũng là Thần nữa (Rô 1:4; IICôr 8:9; Ga 4:4; Phil 2:5-11; Cô 2:9). Phe Do-thái của Hội Thánh chẳng tin lẽ đạo đó, nên lần lần lìa bỏ Hội Thánh, nhưng Phao-lô bền đổ nhờ cậy ơn cứu rỗi của Đấng Christ, nhờ Đức Thánh Linh mà được năng lực mới. Vì biết rằng ngoài sự tin cậy Đấng Christ ra, không có phương pháp gì khác có thể khiến người đời và Đức Chúa Trời hòa thuận lại được (Ga 4:5, 6; 6:15; IICôr 3:17, 18; 5:19).
c) Hiệp một với Đấng Christ.– Tiên tri đời xưa cho thấy người có lúc thì chịu Thánh Linh cảm động, lúc thì không chịu Ngài cảm động. Duy Hội Thánh vì chịu Đức Thánh Linh cảm động, nên có thể ở trong Chúa, được trọn lành và hiệp làm một (Giăng 17:23). Vậy, nên có thể nói rằng Hội Thánh có sự giao thông với Đức Thánh Linh (IICôr 13:13; Phil 2:1). Xét những điều bày tỏ trong sách Công vụ các sứ đồ đều nói đến công việc của Đức Thánh Linh, ngay trong các thơ tín cũng thường giảng giải về Đức Thánh Linh cảm động Hội Thánh thể nào.
d) Ơn ban thuộc linh.– Hội Thánh tức là thân thể của Chúa Jêsus (Êph 1:23; 2:16-20; 4:16; ICôr 12:12). Toàn thân thể đều uống chung một Thánh Linh (ICôr 12:13; Êph 2:18; 4:4). Người ta không có Đức Thánh Linh cảm động, thì tất không xưng được Chúa Jêsus làm chủ (ICôr 12:3). Trái quí hơn hết của Đức Thánh Linh tức là sự yêu thương (ICôr 12:31; 13:1-). Vậy, phải nên tìm sự yêu thương, và ước ao ơn ban thuộc linh (ICôr 14:1). Môn đồ được ơn không riêng một thứ, song tùy theo lượng ban cho của Đấng Christ (Êph 4:7, 11; Rô 12:6, 7, 8; ICôr 12:8-11, 28). Đức Thánh Linh tỏ rõ ở trên con người là cốt khiến cho ai nấy đều được ích lợi (ICôr 12:7, 14-20; Êph 4:16).
đ) Sự khải thị của Đức Thánh Linh.– Trong các ơn ban của Đức Thánh Linh, có một ơn là nói tiên tri (ICôr 12:10, 28; Công 11:27; 13:1; 21:10; ITi 1:18; 4:14). Tiên tri Cựu Ước xưa có thể tỏ rõ được ý chỉ của Đức Chúa Trời (Hêb 1:1). Tiên tri của Tân Ước cũng vậy, vì Kinh Thánh đều do Đức Chúa Trời khải thị, tức là do Thánh Linh soi dẫn (IITi 3:16; IIPhi 1:21). Sứ đồ đã được đầy dẫy Đức Thánh Linh, nên điều các sách Sứ đồ nói ra cũng đều do Đức Thánh Linh khải thị.
e) Khi nhận được Đức Thánh Linh thì có phép đặt tay (Hêb 6:2). Nguồn gốc phép nầy là từ Cựu Ước (Dân 8:10, 12; 27:18, 23; Sáng 48:14, 15). Đấng Christ chúc phước cho con trẻ cũng như vậy (Mác 10:16). Sứ đồ đặt tay trên ai là bày tỏ Đức Thánh Linh xức dầu phong người đó làm chức gì (ITi 4:14; 5:22; IITi 1:6; Công 6:6; 8:17; 19:6).
Thánh Linh liên quan với Đức Chúa Trời.–Dầu Cựu Ước không chép rõ Đức Thánh Linh là ngôi thứ ba như Tân Ước, nhưng có mở đường về ý đó, như tỏ ra trong Thi 139:7; Ês 63:10; 48:16; Aghê 2:5; Xa 4:6. Thánh Linh bị buồn rầu, mất lòng, v.v… và nhiều cách bày tỏ khác, thì tỏ ra là một Ngôi vị.
Trong Cựu Ước có hai chỗ chép đến hai chữ “Thánh Linh” (Thi 51:11), và “Thần thánh” (Ês 63:10), đều chỉ về Thần Linh Chúa, còn các chỗ khác phần nhiều nói là Thần hoặc Thần Linh.
Tiến sĩ Scofield chú thích về Đức Thánh Linh như sau nầy:
Thi 51:11.– Không có người nào thuộc thời đại của Đa-vít, biết lời hứa của Chúa Jêsus về việc ban Đức Thánh Linh ở với họ (Giăng 14:16), mà có thể cầu nguyện: “đừng cất khỏi tôi Thánh Linh Chúa” (so sánh Êph 4:30); cho nên qua câu Thi 51:11 nầy, dầu địa vị tín đồ chưa thấy ở đây, song sự từng trải của tín đồ thật có.
Giăng 14:16.– Tiếng Hy-lạp Parakletos, “Đấng được gọi đến bên cạnh giúp đỡ.” dịch là “Đấng cầu thay” (IGiăng 2:1). Đấng Christ là Paraclet của tín đồ đối với Chúa Cha khi họ phạm tội; Đức Thánh Linh là Paraclet ngự trong tín đồ để giúp đỡ khi họ thiếu khôn ngoan và yếu đuối, và Ngài cầu thay cho họ (Rô 8:26, 27). Xem bài “Đức Thánh Linh, ” lẽ đạo Tân Ước (Mat 1:18; Công 2:4).
Ga 5:22.– Tính cách của tín đồ Đấng Christ không phải chỉ là đạo đức hoặc theo đúng với luật pháp thôi đâu, nhưng phải thể hiện những bông trái của Đức Thánh Linh, qua những đức tánh ở trong là: yêu thương, vui mừng, bình an; –đức tánh tỏ ra đối với người: nhịn nhục, nhơn từ, hiền lành; –đức tánh tỏ ra đối với Đức Chúa Trời: trung tín, mềm mại, tiết độ. Xét chung những ơn đó bày tỏ một hình ảnh về đạo đức của Đấng Christ, và có thể coi như là lời giải nghĩa của Sứ đồ Phao-lô trong Ga 2:20 “Không phải tôi, nhưng là Đấng Christ ở trong tôi” và là một định nghĩa cho “trái” của Giăng 15:1-8. Những đức tánh nầy có được nhờ sự liên hiệp mật thiết của tín đồ với Đấng Christ (Giăng 15:5; ICôr 12:12, 13), và hoàn toàn là trái của Thánh Linh trong các tín đồ đã dâng mình cho Ngài (Ga 5:22, 23).
Công 2:4.– Đức Thánh Linh là một Ngôi vị Đức Chúa Trời. Xem ở dưới.
Công 19:2.– Không phải là “Từ khi anh em tin” song theo bản Anh sửa lại và lời chua: “Anh em đã nhận Đức Thánh Linh khi anh em tin chăng?” Phao-lô rõ ràng cảm biết rằng không có sự thuộc linh hoặc quyền phép trong những người xưng mình là tín đồ như vậy. Lời đáp của họ bày tỏ thực sự rằng họ là những người Do-thái nhập đạo, môn đồ của Giăng Báp Tít, trông đợi một Vua hầu đến, không phải là các tín đồ Đấng Christ đoái trông lại một sự cứu chuộc trọn vẹn, xem Rô 8:9; ICôr 6:19; Êph 1:13. Lời chua.
Công 10:44.– Câu 44 là một trong những điểm cốt lõi của Kinh Thánh. Từ trước đến nay, Tin lành giảng cho người Do-thái thôi, và Đức Thánh Linh ban cho các người Do-thái tin Chúa là bởi sự trung gian của Sứ đồ. Song nay đã đến thời đại của ân điển: Đức Thánh Linh được ban xuống không trì hoãn, không cần trung gian, hoặc điều kiện nào khác hơn là chỉ tin Chúa Jêsus Christ. So Công 2:4, lời chua ICôr 6:19.
Công 2:4.– Sự khải thị tuần tự về Đức Thánh Linh.
Lu 11:13.– Thật rõ ràng không một tín đồ nào, có lẽ trừ ra Ma-ri ở Bê-tha-ni đã xin Thánh Linh trong đức tin của lời hứa nầy. Ấy là một điều mới và ngạc nhiên cho người Do-thái, trước khi Giôên 2:28, 29 được ứng nghiệm, thì mọi người có thể nhận lãnh Đức Thánh Linh. Chỉ Ma-ri trong vòng các môn đồ hiểu được lời lặp đi lặp lại về sự chết và sự sống lại của chính Ngài (Giăng 12:3-7). Cũng như, ngoàIPhi-e-rơ, và chỉ mình người xưng trong sự xác tín lớn (Mat 16:17), tỏ ra một tia sáng của tri thức thuộc linh cho đến chừng sau sự sống lại của Đấng Christ và sự ban Đức Thánh Linh (Giăng 20:22; Công 2:1-4). Nếu chỉ chú trọng đến lời hứa trong Lu 11:13 là quên lễ Ngũ tuần, và không biết lẽ thật là nay mỗi tín đồ đều có Đức Thánh Linh ngự ở trong (Rô 8:9, 15; ICôr 6:19; Ga 4:6; IGiăng 2:20, 27). Xem Công 2:4, lời chua.
Giôên 2:28.– So Công 2:17 có một sự giải nghĩa đặc biệt về “Sau đó” (Hê-bơ-rơ: acherith tức “sau rốt, ” “cuối cùng.”) “Sau đó” trong Giôên 2:28 có nghĩa là “trong những ngày sau rốt” (Hy-lạp: eschatos) và có một sự ứng nghiệm từng phần và liên tiếp trong những “ngày sau rốt, ” và bắt đầu với sự giáng lâm thứ nhứt của Đấng Christ (Hêb 1:2), song sự ứng nghiệm lớn hơn phải chờ “những ngày sau rốt, ” ứng dụng cho Y-sơ-ra-ên. Xem Công 2:17, lời chua, cho câu “những ngày sau rốt.”
Xa 10:1.– So Ôs 6:3; Giôên 2:23-32; Xa 12:10. Đây có cả nghĩa về phần vật chất và phần thuộc linh. Mưa như hồi xưa sẽ được lập lại cho Pha-lê-tin, nhưng cũng có một sự đổ Đức Thánh Linh lớn lao trên cả Y-sơ-ra-ên được lập lại. Công 2:4.– Đức Thánh Linh liên quan với tín đồ. Xem ở dưới.
Công 2:4.– Đức Thánh Linh liên quan với Đấng Christ.
Công 2:4.– Đức Thánh Linh liên quan với Hội Thánh.
Rô 8:2.– Cho tới đây trong thư Rô-ma, Đức Thánh Linh chỉ được chép đến một lần (Rô 5:5); trong đoạn nầy nói đến Ngài 19 lần. Sự cứu chuộc bởi huyết và quyền phép (Xuất 14:30, lời chua). Rô 3:21-5:11 nói về giá cứu chuộc; Rô 8:1- về quyền phép cứu chuộc.
Công 2:4.– Tội chống với Thánh Linh.
Giu 23.– Đức Thánh Linh đắc thắng hơn xác thịt. xem bài Xác Thịt.
Sáng 24:66.– Ê-li-ê-se hình bóng về Đức Thánh Linh, xem bài Đầy Tớ.
Công 2:4.– Những hình bóng về Đức Thánh Linh.
Mal 2:15.– Tóm tắt lẽ đạo Cựu Ước về Đức Thánh Linh. (1) Ngôi vị và Thần tánh của Đức Thánh Linh tỏ ra từ các thuộc tánh chỉ về Ngài và từ công việc Ngài. (2) Đức Thánh Linh được tỏ ra có dự phần trong công việc sáng tạo và bởi đó vô sở bất năng (Sáng 1:2; Gióp 26:13; 33:4; Thi 104:30); và vô sở bất tại (Thi 139:7), như chiến đấu với người (Sáng 6:3), và soi sáng (Gióp 32:8); ban cho tài khéo chế tạo (Xuất 28:3; 31:3); ban cho sức mạnh thân thể (Quan 14:6, 19); tài khéo hành động và khôn ngoan (Quan 3:10; 6:34; 11:29; 13:25); khiến cho có thể nhận và nói ra những sự khải thị của Ngài (Dân 11:25; IISa 23:2); và xét chung, là ban quyền cho các tôi tớ Đức Chúa Trời (Thi 51:12; Giôên 2:28; Mi 3:8; Xa 4:6). (3) Ngài được xưng là thánh (Thi 51:11), tốt lành (Thi 143:10); “Thần công bình và thần thiêu đốt” (Ês 4:4), của Đức Giê-hô-va, của sự khôn ngoan, thông sáng, mưu toan, mạnh sức, hiểu biết và kính sợ Đức Giê-hô-va (Ês 11:2), của ân điển và sự nài xin (Xa 12:10). (4) Trong Cựu Ước, Thánh Linh hành động có quyền tự do, giáng trên người Ngài muốn. Không cần có điều kiện tỏ ra là người đó phải bằng lòng tin Chúa mới có thể nhận Thánh Linh (như trong Tân Ước). Sự Thánh Linh ngự trong mỗi tín đồ là một phước lành của Tân Ước, kết quả có được nhờ sự chết và sự sống lại của Đấng Christ (Giăng 7:39; 16:7; Công 2:33; Ga 4:1-6). Trong Cựu Ước, có những lời báo trước về tương lai sẽ có sự đổ Thánh Linh ra trên Y-sơ-ra-ên (Êxê 37:14; 39:29), và trên “mọi loài xác thịt” (Giôên 2:28, 29). Bởi đó, sự trông đợi của Y-sơ-ra-ên có hai mặt: về sự đến của Đấng Mê-si Em-ma-nu-ên, và về sự đổ Đức Thánh Linh, như các tiên tri mô tả.
Công 2:4.– Đức Thánh Linh. Tân Ước. Tóm tắt (xem Mal 2:15, lời chua).
1. Đức Thánh Linh được tỏ ra như một Ngôi vị Đức Chúa Trời. Ấy là được xưng ra rõ ràng (Xem Giăng 14:16, 17, 26; 15:26; 16:7-15; Mat 28:19), và mọi nơi tỏ ra.
2. Sự khải thị liên quan về Ngài: a) Trong Cựu Ước (Xem Mal 2:15, lời chua), Ngài giáng trên người nào Ngài muốn, dường như không có sự trưng dẫn đến các điều kiện trong họ. b) Trong hồi còn ở thế gian, Đấng Christ đã dạy các môn đồ (Lu 11:13) rằng họ có thể nhận lãnh Thánh Linh bởi sự cầu nguyện với Chúa Cha. c) Đến cuối thời gian chức vụ, Chúa Jêsus hứa chính Ngài sẽ cầu nguyện Chúa Cha, và đáp lại lời cầu xin đó thì Đấng yên ủi sẽ đến và ở với các môn đồ(Giăng 14:16, 17). d) Vào buổi chiều ngày Chúa sống lại, Ngài đã đến cùng các môn đồ tại nơi phòng cao, và hà hơi trên các môn đồ mà phán: “Hãy nhận lãnh Đức Thánh Linh” (Giăng 20:22), song Ngài dặn họ rằng phải chờ đợi cho đến chừng nào Thánh Linh sẽ đến trên họ trước khi họ bắt đầu thi hành chức vụ (Lu 24:49; Công 1:8). đ) Vào ngày lễ Ngũ tuần, Thánh Linh đến trên toàn thể các tín đồ (Công 2:1-4). e) Sau ngày Ngũ tuần, Tin lành còn chỉ giảng cho người Do-thái thôi, Thánh Linh được ban xuống cho những người đó bởi sự đặt tay của các Sứ đồ (Công 8:17; 9:17, v.v.) g) KhIPhi-e-rơ mở cửa của Nước Trời cho dân ngoại (Công 10:1-), Thánh Linh không trì hoãn, được ban cho mọi người, không bởi một điều kiện nào khác hơn là đức tin (Công 10:44; 11:15-18). Đó là một thực sự vĩnh viễn cho cả thời đại Hội Thánh. Mỗi tín đồ được sanh bởi Thánh Linh (Giăng 3:3, 6; IGiăng 5:1). Ngài ngự ở trong, và bởi sự hiện diện của Ngài khiến thân thể môn đồ trở nên một đền thờ (ICôr 3:16; Rô 8:9-15; ICôr 6:19; Ga 4:6), và tất cả đều chịu chung một lễ báp-têm bởi Thánh Linh (ICôr 12:12, 13; IGiăng 2:20, 27), như vậy, Đức Thánh Linh đóng ấn người thuộc Đức Chúa Trời (Êph 1:13; 4:30).
3. Tân Ước cho thấy có Đức Thánh Linh ở trong hết thảy tín đồ, và được đầy dẫy Đức Thánh Linh, là một đặc ân và bổn phận của tín đồ (so Công 2:4; với 4:29-31; Êph 1:13, 14 với 5:18). “Duy một lễ báp-têm, nhiều lần đầy dẫy.”
4. Đức Thánh Linh có liên quan với Đấng Christ: trong sự đầu thai (Mat 1:18-20; Lu 1:35), lễ báp-têm (Mat 3:16; Mác 1:10; Lu 3:22; Giăng 1:32, 33), bước đi và hầu việc (Lu 11:1, 14), sống lại (Rô 8:11), và như lời chứng của Đấng Christ suốt cả thời đại nầy (Giăng 15:26; 16:8-11, 13, 14).
5. Thánh Linh thành lập Hội Thánh (Mat 16:18; Hêb 12:23 lời chua), bởi làm phép báp-têm cho hết thảy tín đồ trong thân thể Đấng Christ (ICôr 12:12, 13), ban các ơn để hầu việc cho mọi chi thể của thân đó (ICôr 12:7-11, 27, 30), dẫn dắt các chi thể trong sự hầu việc (Lu 2:27; 4:1; Công 16:6, 7), và chính Ngài là quyền lực của sự hầu việc đó (Công 1:8; 2:4; ICôr 2:4).
6. Thánh Linh ngự ở trong hội các tín đồ họp thành một Hội Thánh địa phương, làm cho họ, theo đoàn thể đó trở nên một đền thờ (ICôr 3:16, 17).
7. Đấng Christ chỉ ra ba mặt của sự giao thông riêng của Thánh Linh đối với tín đồ: “ở với, ” “ở trong, ” “ở trên” (Giăng 14:17; Lu 24:49; Công 1:8). “Ở với” chỉ về sự Đức Chúa Trời đến gần với linh hồn, khiến biết về tội (Giăng 16:9), bày tỏ Đấng Christ như là mục đích của đức tin (Giăng 16:14), ban đức tin (Êph 2:8), làm cho được tái sanh (Giăng 3:3-16). “Ở trong” mô tả sự hiện diện ở với của Thánh Linh trong thân thể tín đồ (ICôr 6:19) để đắc thắng hơn xác thịt (Rô 8:2-4; Ga 5:16, 17), để tạo nên đức tánh của tín đồ (Ga 5:22, 23), để giúp đỡ sự yếu đuối (Rô 8:26), để soi dẫn sự cầu nguyện (Êph 6:18), để cho người ta cảm biết đến gần Đức Chúa Trời (Êph 2:18), để thực hiện sự làm con của tín đồ (Ga 4:6), để ứng dụng Kinh Thánh trong sự tinh sạch và nên thánh (Êph 5:26; IITê 2:13; IIPhi 1:2), để yên ủi và cầu thay (Công 9:31; Rô 8:26), và để bày tỏ Đấng Christ (Giăng 16:14).
8. Các tội nghịch cùng Thánh Linh mà các kẻ vô tín phạm là: Phạm thượng (Mat 12:31), chống trả (Công 7:51), làm nhục (Hêb 10:29 dịch là “khinh lờn.”) Các tội của tín đồ nghịch cùng Thánh Linh là: làm buồn cho Ngài, vì cho phép sự dữ ở trong lòng hoặc trong đời sống (Êph 4:30, 31), dập tắt Ngài bởi sự không vâng phục (ITê 5:19). Thái độ đúng mực của tín đồ đối với Đức Thánh Linh là nhường cho Ngài cai trị trong sự bước đi và hầu việc, và luôn luôn vui lòng để Ngài “bỏ” điều gì làm phiền Ngài hoặc ngăn trở quyền phép Ngài (Êph 4:31).
9. Các hình bóng của Đức Thánh Linh là:
(a) Dầu (Giăng 3:34; Hêb 1:9).
(b) Nước (Giăng 7:38, 39).
(c) Gió (Công 2:2; Giăng 3:8).
(d) Lửa (Công 2:3).
(đ) Bồ câu (Mat 3:16).
(e) An tín (Êph 1:13; 4:30).
(g) Của cầm hoặc lời hứa tự buộc mình (Êph 1:14).

Lên đầu trang