David. Davit. (được yêu thương).
Vua đời thứ hai nước Y-sơ-ra-ên, trị vì ở thành Giê-ru-sa-lem, cha là Y-sai. Có tám anh em. Đa-vít là em út. Ông là người chi phái Giu-đa. Đa-vít được chép kỹ ở ISa đoạn 16; ICác đoạn 2; ISử 11:29; và thấy tản mát trong Thi-thiên. Bộ cổ sử, cuốn thứ 7, của Josèphe cũng chép rất kỹ về việc đó. Những sách chép về vua Đa-vít đều khác nhau về mặt văn tự: có sách thì bằng tiếng Hê-bơ-rơ, sách khác thì bằng tiếng Hy-lạp của Alexandre Le Grand. Có thể chia cuộc đời vua Đa-vít làm ba thời kỳ:
– Thời kỳ thiếu niên (ISa 16:20);
– Thời kỳ trốn tránh (ISa 21:1 tới IISa 2:4);
– Thời kỳ làm vua (IISa 2:5 tới ICác 2:11; ISử 11-29).
Suốt đời, ông một lòng thành thật nhờ cậy Chúa và được Chúa đẹp lòng. Ông rất can đảm, oai phong lẫy lừng, lại còn đàn hay và làm thơ giỏi (IISa 1:17-27; 22:2-51; Thi 18; Am 6:5). Ông làm khuôn mẫu quí báu cho người đời sau về mặt âm nhạc và thi ca. Trong bốn mươi năm ông cai trị nước, chế độ và giáo hóa đều trổi hơn các vua Do-thái. Còn về tôn giáo, ông làm một việc để đời là lập cung điện ở thành Si-ôn. Ông thọ 71 tuổi.
Tiến sĩ Scofield chú thích về giao ước với Đa-vít ở IISa 7:8-17 rằng: Bởi giao ước Đức Chúa Trời lập với Đa-vít, nước vinh hiển của Đấng Christ, là Đấng “theo xác thịt thì bởi dòng dõi vua Đa-vít sanh ra” (Rô 1:3), sẽ được lập, và được bảo lãnh như sau nầy:
1. Một “nhà” Đa-vít; tức là dòng dõi họ hàng.
2. Một “ngôi”; tức là trị vì.
3. Một “nước”; tức là phạm vi cai trị.
4. Vẫn có; tức là “cho đến đời đời”.
5. Giao ước gồm cả bốn phần trên, chỉ có một điều kiện; sự không vâng phục trong họ hàng Đa-vít phải bị sửa phạt, song không hủy giao ước (IISa 7:15; Thi 89:20-37; Ês 24:5; 54:3).
Mà thật đã có sự sửa phạt đó: Lúc trước trong đời vua Rô-bô-am chia nước ra làm hai, và sau bị bắt làm phu tù (IICác 25:1-7). Từ khi ấy chỉ có một vua của họ hàng Đa-vít được tôn lên tại Giê-ru-sa-lem, và Vua ấy được đội mão triều gai. Nhưng giao ước với Đa-vít, là giao ước được vững lập bởi lời thiên sứ Gáp-ri-ên báo cho bà Ma-ri, là chắc chắn không hề thay đổi được (Thi 89:30-37). Một ngày kia, Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ cho Đấng đã đội mão triều gai ngồi trên “ngai vua Đa-vít, Cha Ngài” (Lu 1:31-33; Công 2:29-32; 15:14-17).
Tiến sĩ Scofield chú thích:
Như nhiều lần khác, trong ISử 17:7, Đa-vít làm hình bóng về Con theo xác thịt của Đức Chúa Trời (Mat 1:1; Rô 1:3), là Đấng Chăn Giữ, là Vua. Lần thứ nhứt giáng thế, Chúa là người chăn giữ:
– Thứ nhứt, trong sự chết (Giăng 10:11);
– Thứ hai, hiện nay, trong quyền của sự sống lại (Hêb 13:20);
– Thứ ba, khi tái lâm, Chúa sẽ “cai trị làm Vua” của dân Y-sơ-ra-ên (Ês 11:10-12; Giê 23:5-8; Lu 1:32-33; Công 15:14-17).
Ấy là thứ tự đúng của Thi 22; 23; 24. Trong Thi 22, nói kẻ chăn tốt lành vì chiên phó sự sống mình; trong Thi 23, nói kẻ đang chăn giữ bầy chiên; trong Thi 24, nói Chúa cai trị bằng sự vinh hiển. Tiến sĩ cũng chú thích rằng:
Thi 89:1- vừa làm vững vàng, vừa giải nghĩa giao ước với Đa-vít (IISa 7:9-14). Trong câu 27, bày tỏ chính giao ước đó hơn đời vua Đa-vít và vua Sa-lô-môn nhiều. “Vua cao hơn hết Các-vua trên đất” chỉ có thể chỉ về Em-ma-nu-ên (Ês 7:13-15; 9:6, 7; Mi 5:2). Thiên nầy chia làm bốn phần:
1. Giao ước nầy, dầu từ lòng nhơn từ của Đức Giê-hô-va mà ra nhưng vẫn nhờ lời thề của Ngài (câu 1-4).
2. Giê-hô-va vì dự phần về giao ước nầy, thì được vinh hiển bởi quyền phép và nhơn từ Ngài (câu 5-18).
3. Giê-hô-va trả lời (câu 19-37): có hai phần:
a. làm vững vàng giao ước (câu 19-29), song:
b. răn dạy rằng sự không vâng phục của dòng dõi vua Đa-vít sẽ bị sửa phạt (câu 30-32). Về phần lịch sử, sự sửa phạt đó bắt đầu khi chia nước vua Đa-vít ra làm hai (ICác 11:26-36; 12:16-20),
c. và cuối cùng dân Y-sơ-ra-ên bị bắt làm phu tù và cứ chịu sự cai trị của dân ngoại bang cho đến ngày nay. Coi thêm Lu 21:24; Khải 16:14.
4. Lời cầu xin của dân còn sót lại (Ês 1:9; Rô 11:5) vì bị sửa phạt nghiêm nhặt và lâu dài (câu 38-52).