Sparrow. Moineau.
Tiếng Hê-bơ-rơ là Sippor (bắt chước tiếng kêu) một chim nhỏ trong Thi 84:3; 102:7; và Châm 26:2. Tiếng đó thường dịch là chim, để chỉ loài chim trời (Thi 8:8, 148:10; Êxê 17:23). Co thể là thứ chim ăn mồi (Giê 12:9; Êxê 39:17), như con quạ và giống chim khác ăn thịt xác chết. Theo lễ nghi, chim sẻ có thể là loài chim sạch (Lê 14:4; Nê 5:18). Chim đó sống trên núi hoặc trong các thành (Thi 11:1; 84:3), và làm tổ trên cây hoặc trên đất xung quanh nhà người ta ở (Phục 22:6; Thi 84:3). Tên đó gồm cả loài chim bồ câu (Sáng 15:9, 10), và nghĩa gốc là chỉ về một lòai chim nhỏ hay hót và chim thuộc về tước loại (passerine).
Trong Tân Ước tiếng Hy-lạp là Strouthion, chỉ về một thứ chim nhỏ, nhứt là chim sẻ. Người ta bán nó hoặc ăn thịt nó (Mat 10:29; Lu 12:6, 7). Có thứ chim sẻ hay ở gần nhà, gọi là chim sẻ Anh, thường thấy ở ven bờ biển xứ Pha-lê-tin. Có hai thứ khác là chim sẻ Ý và chim ở đồng lầy, giống thứ hai thường ở trũng sông Giô-đanh và sanh sản trên các bụi gai. Thứ chim sẻ cây gần giống loại chim sẻ hay ở gần nhà. Các chim sẻ thường thấy ở trong các khu vực thánh của Đền thờ ở trên núi, và ở trên núi Ô-li-ve. Có một loại chim sẻ khác được tìm thấy ở miền lân cận Biển Chết, nhưng loại nầy rất hiếm. Có thứ chim sẻ đá thường ở các dãy núi ở khu vực trung tâm Pha-lê-tin. Thomson nói khi một chim sẻ mất bạn thường thấy đậu một mình trên mái nhà, than thở số phận (so Thi 102:7). Tristram cũng trưng dẫn một loài sẻ (Monticola cyanus) là thứ chim sẻ ưa hiu quạnh thường đậu trên mái nhà, tiếng kêu đơn điệu và buồn thảm.