Sự tổ chức chánh phủ Do-thái, không có nguyên tắc nhứt định và khác hẳn với cách tổ chức chánh trị ngày nay. Họ lập phép tắc, đặt chế độ là dựa theo luật pháp của Chúa và những lề thói và thói tục di truyền mà thôi. Cứ theo nghĩa trong kinh điển, thì ông vua không được cầm nắm riêng luật pháp. Chánh phủ có bốn việc trọng yếu: (1) Tư pháp; (2) Quân đội; (3) Tài chánh; (4) Hành chánh.
I. Thời đại tôn giáo du mục.– Đời du mục, người ta chỉ biết có một nhà, một họ thôi. Người gia trưởng làm chủ, kiêm cả chức quan xét. Quyền hành lớn nhất trong một nhà do người gia trưởng cầm nắm, kẻ khác không được can dự vào (Sáng đoạn 22-38; Phục 21:18-21; Quan 11:30-40). Nhà nào có sự tranh giành rối reng, thì nhà khác đứng lên dàn xếp giúp (Sáng 21:22-34; 31:45-54). Người gia trưởng làm việc gì nếu không hiệp lẽ thì chỉ có cách là kêu với Chúa (Sáng 31:49; 49:6). Gia trưởng liên hiệp lại với nhau, gọi là các trưởng lão (Xuất 3:16; 18:21; Dân 22:7). Khi chiến tranh nổ ra, các trưởng lão là trưởng từng chi phái một, chỉ có Môi-se là người đứng đầu dân chúng (Xuất 2:14; 4:1; Dân 16:1-). Quyền của Môi-se là do Chúa ban cho, người tin theo đã không lìa bỏ, nên Môi-se mới có thể tiến cử Giô-suê để kế chức mình.
II. Thời đại các quan xét.– Bấy giờ gọi là thời đại tiến bộ. Bộ lạc du mục lần lần không chú trọng riêng về một nhà nữa. Có chỗ đã liên hiệp các trại, các xóm, lập nên một thành hoặc một xứ (Dân 21:25, 32; Giô 17:11), có đặt trưởng lão và quan trưởng để cai trị (Quan 8:6, 14, 16). Khi có chiến tranh trưởng lão lựa lấy một người làm quan trưởng; sau khi hết chiến tranh, liền đặt làm Quan xét của dân chúng (Quan 11:5-11). Các quan xét chẳng những có trách nhiệm gìn giữ dân chúng, mà còn chú trọng đến việc tư pháp nữa. Quyền và chức quan xét ngang với vua, nhưng không được kế vị cha truyền con nối. Trường hợp Sa-mu-ên truyền chức cho con (ISa 8:1), chỉ là đặc biệt.
III. Thời đại quân chủ.– Người Do-thái vì hoạn nạn áp bức nên lập chế độ quân chủ. Ông vua khi chiến tranh thì làm nguyên soái; lúc yên ổn thì làm quan xét. Có thể tùy ý bổ dụng trăm quan, cầm nắm mọi việc, quyền lực ông vua thật vô hạn! Nhưng hồi đó không xảy ra cái tệ nghiêng về chuyên chế, vì ông vua là do dân cử lên (IISa 2:4; 5:3; ICác 12:1, 20). Vào giữa thời đại quân chủ, chế độ cha truyền con nối lại dấy lên, nhân dân Do-thái được quyền chọn vua cho mình (ICác 14:21; 21:24). Quyền hạn của chánh phủ là quyền hành chánh và tư pháp (IISa 15:2; IICác 8:5; 15:5). Về sau, quyền hành vua ngày càng bớt đi thì quyền trưởng lão ngày một nhẹ! Trong đời các quan xét, trưởng lão của các thành là người có quyền trong các địa phương; nhân dân có thể bày tỏ ý nguyện mình với họ (IISa 19:11; ICác 20:7). Lần lần họ mới làm theo ý chỉ của ông vua (I Các thực dám nói thẳng, dám can ngăn không thường thấy nữa (ISa 22:17; Giê 36:25). Sưu thuế không có mức nhứt định, không khỏi có sự đánh nặng, thu lạm; hoặc ép buộc dâng cống (ICác 4:7, 21, 23), hoặc khuấy nhiễu bắt làm xâu (ICác 5:13), hoặc xâm chiếm điền sản của nhân dân (ICác 21:16), hoặc lấy vàng bạc trong đền thờ mà nộp cho quân nghịch (IICác 18:15). Chương trình tư pháp đặt ra có chỗ giống, có chỗ khác với Phục 16:18; 17:8-13 đã chép: trên các tòa thẩm phán của các địa phương còn có pháp đình thượng cấp. Khi thực hành luật pháp, ai cũng nhận là làm theo mạng Chúa. Cũng có thầy tế lễ văn quan ở pháp đình tối thượng cấp cũng làm việc quan tư pháp (Xuất 18:15; 19:17; 21:6; 22:8).
IV. Thời đại quan xét sau khi từ Ba-bi-lôn trở về nước cũ.– Khi Ba-tư cai trị Do-thái, Do-thái thuộc dưới quyền quan tổng đốc “phía bên nầy sông” (Exơ 5:3), chứ chưa có gì gọi là độc lập. Cứ như Nê 11:24 nói quan đại thần giúp vua cai trị dân, thì bấy giờ trưởng lão mới hơi xuất đầu lộ diện (Êxê 8:1; 14:1; Exơ 5:9; 6:7; Nê 2:16). Về sau, quyền thầy tế lễ được tôn trọng, thì thầy tế lễ cả là chức vị rất cần thiết. Khi nước Hy-lạp cai trị, người Y-sơ-ra-ên có quyền tự chủ: các trưởng lão được dự vào nghị viện do thầy tế lễ và quan trấn thủ cai quản. Còn thầy tế lễ cả thì nghiễm nhiên như người đứng đầu trong một nước. Năm 142 T.C., có người tên là Si-môn kiêm giữ cả chức thầy tế lễ lẫn chức trấn thủ. Đến năm 105 có một vua lên trị vì đúc tên mình trên tiền bạc. Qua năm 63, cả nước Do-thái bị nước La-mã chiếm lãnh. La-mã lựa chọn người lên làm vua để cai trị Do-thái. Bây giờ quyền của thầy tế lễ cả và của quốc hội lần lần lại được khôi phục. Trừ án tử hình ra, hết thảy quyền tư pháp đều ở trong tay quốc hội. Nhà hội có quyền đoán xét. Người Do-thái kiều ngụ ở ngoài đều bị quốc hội cai quản.