Cạt-mên

Carmel. Carmel (Ruộng hoặc vườn hoặc trại nhiều hoa lợi).
I. Một thành trong miền núi xứ Do-thái, cách phía tây nam Hếp-rôn độ 12 cây số (Giô 15:55). Sau-lơ dựng cái bia tại đó để kỷ niệm chiến công mình đánh thắng người A-ma-léc (ISa 15:12; 25:2; 30:5). Thành nầy tức là chỗ ở của Na-banh, chồng A-bi-ga-in (ISử 3:1). Cũng là quê hương một người mạnh bạo của Đa-vít (IISa 23:35).
II. Tên một dãy núi dài độ 12 cây số, ở miền trung tâm xứ Ga-li-lê, và là giới hạn về phía nam của chi phái A-se. Chỗ cao nhứt của núi về phía đông nam, được độ 600 m, hiện nay gọi là Jebel Kurmul. Về phía đông bắc núi, có một phần là mõm đất nằm trên biển Địa-trung-hải, cao 200 thước, và có sông Ki-sôn chảy ra. Núi nầy đẹp đẽ, có nhiều ô-li-ve, tùng và dẻ bộp, v.v. (Ês 33:9; 35:2; Nhã 7:5; Giê 50:19; 46:18; Mi 7:14). Có suối trong vắt, tên gọi là Ê-li. Trong núi có nhiều hang, là chỗ ẩn cư của những kẻ tin kính các đạo trong các đời.
Trước kia, trên núi có bàn thờ của Chúa nhưng đã bị phá hủy; Ê-li dựng lại. Rồi Ê-li cùng với các tiên tri của Ba-anh đọ sức, phân biệt thật, giả; và cuối cùng ông giết họ chết hết (ICác 18:20-40). Tôi tớ của Ê-li, lần thứ bảy lên chót núi, “thấy ở biển lên một cụm mây nhỏ như lòng bàn tay”, chỉ về sắp có cơn mưa sau ba năm rưỡi không mưa (ICác 18:41-46). Tiên tri Ê-li-sê cũng thường đến núi nầy (IICác 2:24; 4:25).
Nhà sử học Tacite chép rằng hoàng đế Vespasien, nước La-mã (69-79 S.C.) có lên núi Cạt-mên để cầu vấn một vị thần không có hình không có đền, “chỉ có một bàn thờ đáng kính trọng làm nơi thánh khiết”. Hiện nay trên Cạt-mên có một nhà dòng thuộc về một trong bốn đại hành khất hội của đạo La-mã, gọi là Cạt-mên tu đạo hội (le Carmel) đã thành lập tại xứ Pha-lê-tin trong thế kỷ XII S.C. cho đàn ông, và thế kỷ XIV cho đàn bà (Carmélite). Có lời truyền khẩu nói rằng hội nầy nguyên của Ê-li sáng lập, nhưng không có bằng cớ gì chứng minh đựơc điều này. Coi thêm bài A-HÁP.

Lên đầu trang