Y-sơ-ra-ên

Israel. Israel (“người lính của Đức Chúa Trời” hay “vật lộn với Đức Chúa Trời”).
I. Ấy là tên thiên sứ đặt cho Gia-cốp khi người từ xứ Mê-sô-bô-ta-mi trở về nhằm lúc qua rạch Gia-bốc, và sau khi người đã vật lộn với thiên sứ Chúa và được phước (Sáng 32:26-28), “vì ngươi đã vật lộn cùng Đức Chúa Trời và người ta, ngươi đều được thắng” (so 12:4, 5). Sarah và Sur cũng có nghĩa là một quan trưởng. Bản Anh cũ gồm lại cả hai ý nghĩa “người có quyền như quan trưởng với Đức Chúa Trời và với người ta, ” v.v….
II. Y-sơ-ra-ên trở nên quốc hiệu chung cho cả mười hai chi phái. Sự dùng tên đó bắt đầu từ thuở sanh thời Gia-cốp (Sáng 34:7). Cũng gọi như vậy trong Xuất 3:16, và trọn lúc lưu lạc trong đồng vắng (Xuất 32:4; Phục 4:1; 27:9). Cho đến lúc Sau-lơ qua đời, Y-sơ-ra-ên và con cái Y-sơ-ra-ên, khi dùng chỉ về quốc dân thì gồm lại chung cả người Hê-bơ-rơ, không phân biệt chi phái nào cả.
III. Tên nầy cũng dùng một nghĩa hẹp hơn, chỉ về nước phía Bắc là nước Y-sơ-ra-ên, gồm phần lớn của cả dân tộc, tức là mười chi phái; hoặc nói cách khác là hết cả trừ Giu-đa, Bên-gia-min, Lê-vi, Đan và Si-mê-ôn (ISa 11:8; IISa 20:1; trong ICác 12:16). Trong ICác 11:13, 31, 32 Đức Chúa Trời chỉ định cho Giê-rô-bô-am có mười chi phái, khi tiên tri A-bi-gia cho Giê-rô-bô-am mười trong số mười hai mảnh áo của mình. Bởi đó, con số phải được hiểu bằng nghĩa hình bóng hơn là đúng nghĩa về số mục. Mười tỏ ra sự trọn vẹn và hoàn toàn trái với một “chỉ có chi phái Giu-đa” (12:10), song Bên-gia-min cũng được gồm lại nữa (câu 21; IISử 11:3, 23). Lê-vi không được kể vào số chi phái thuộc chính trị, phần nhiều hiệp với Giu-đa; Ép-ra-im và Ma-na-se được tính là hai. Giu-đa gồm lại cả Si-mê-ôn lan rộng đến phía Nam và bao phủ bởi phần đất Giu-đa (Giô 19:1-9), đến nỗi không thể là một phần nước phía Bắc được. Vả lại, mấy thành của Đan gồm lại trong “Giu-đa, ” tức Xiếc-lạc mà A-kích cho Đa-vít, Xô-rê-a và A-gia-lôn (IISử 11:10; 28:18). Những thành nầy bù lại với sự mất của Giu-đa ở phần đất phía Bắc Bên-gia-min, gồm lại Bê-tên, Ra-ma, và Giê-ri-cô, thuộc “Y-sơ-ra-ên” (ICác 12:29; 15:17, 21; 16:34). Như vậy, chỉ có chín chi phái và không phải hết cả, hoàn toàn còn lại là nước ở phía Bắc. Bờ biển ở trong tay của Y-sơ-ra-ên từ Accho đến Japho. Ở phía Nam thì Phi-li-tin giữ bờ biển. Dân cư Y-sơ-ra-ên, năm 957 T.C., là 3.500.000 (IISử 13:3).
Sự phân chia được chỉ định bởi Đức Chúa Trời như là một sự hình phạt nhà Đa-vít vì cớ những tội thờ hình tượng đem vào bởi các người vợ của Sa-lô-môn. Sự thờ hình tượng lan tràn và lây đến quần chúng đã bị ngăn giữ bởi sự thương xót của Ngài. Giê-rô-bô-am cứ tiếp nối ngồi trên ngôi là nhờ sự trung thành của người với Đức Chúa Trời. Còn Rô-bô-am thử diệt các chi phái loạn nghịch, song bị Đức Chúa Trời cấm. Giê-rô-bô-am công nhận sự phải vâng giữ luật pháp, song chính mình lại phạm đến tiểu tiết của luật đó. Sự cải cách của Giê-rô-bô-am là ở nơi thờ phượng (Bê-tên và Đan thế cho Giê-ru-sa-lem) và những người làm lễ (tức các thầy tế lễ lấy từ trong dân thay vì từ người Lê-vi) cũng ở thời gian làm lễ Lều tạm (tháng 8 thế cho tháng 11). Trong các hình bóng, các bò con, thì người theo kiểu mẫu của A-rôn tại núi Si-na-i mà chính người đã quen trong xứ Ai-cập, mà nói như A-rôn rằng: “Hỡi Y-sơ-ra-ên! đây là thần đã dẫn ngươi lên khỏi Ai-cập” (ICác 12:28; Xuất 32:4, 8). Sự hình phạt lạ lùng cho chính người (ICác 13:1-), sự chết của con người, và sự lật đổ ba dòng vua, Giê-rô-bô-am, Ba-ê-sa, và A-háp như các tiên tri đã dự ngôn (Ês 8:1-; 9:1-; 28:1-; Ô-sê, và A-mốt), sự người A-sy-ri dời Y-sơ-ra-ên đi mãi mãi, hết thảy đã làm chứng rằng Đức Chúa Trời gớm ghiếc sự thờ hình tượng. Ý định khôn ngoan của Đức Chúa Trời chỉ định phân rẽ Y-sơ-ra-ên với Giu-đa dường tỏ ra trong kết quả trên nước Giu-đa, theo lợi riêng về chính trị thì hiệp với luật Môi-se. Ấy là cớ cho vua A-bi-gia tin sẽ thắng Giê-rô-bô-am (IISử 13:9-11). Những người Lê-vi bị Giê-rô-bô-am đuổi không cho hành chức, thì bỏ chỗ mình đến nước Giu-đa. Tội của Rô-bô-am vua Giu-đa bị sửa phạt vì đã bỏ luật pháp Đức Chúa Trời, dân Giu-đa cũng phạm tội, làm những tượng thần đặt trên các gò nổng cao, và dưới những cây rậm (ICác 14:22, 23; IISử 12:1, v.v.) những sự sửa phạt này đều lần lượt có hiệu quả tốt lành trên các vua Giu-đa về sau là A-sa và Giô-sa-phát. Trừ thời kỳ bội đạo lần thứ nhứt là vì cớ Giô-sa-phát giao kết với A-háp, một phần lớn các vua Giu-đa vâng giữ luật pháp, so sánh vớICác Y-sơ-ra-ên thì không một vua nào trung tín với Đức Chúa Trời cả.
Si-chem, vốn là nơi hội họp của dân sự dưới thời Giô-suê (24:1) là kinh đô thứ nhứt (ICác 12:25); kế đến Tiệt-sa, danh tiếng về sự tốt đẹp (Nhã 6:4; ICác 14:17; 15:33; 16:8, 17, 23). Ôm-ri chọn Sa-ma-ri vì cớ phong cảnh đẹp đẽ, phì nhiêu, và ở trên đồi (câu 24), sau khi bị vây ba năm, thành này bị các vua A-sy-ri chiếm lấy. Gít-rê-ên là chỗ vài vua ở. Si-lô ở Ép-ra-im vốn là nơi làm nơi thánh (Quan 21:19; Giô 18:1) trước khi dời đến Giê-ru-sa-lem. Việc dời nơi thánh đi là một sự ghen tương cho Ép-ra-im, để tránh khỏi sự ghen tương đó thì A-sáp viết Maschill, tức thơ dạy dỗ (Thi 78:1-; xem câu 60, 67-69).
Sự ghen tương và kiêu ngạo đều là những khuyết điểm từ xưa của Ép-ra-im, chi phái cầm đầu phía Bắc (Quan 8:1; 12:1-), thật là nguyên nhân tạo nên sự loạn nghịch với Giu-đa, mặc dầu sự đánh thuế nặng dường như là cớ rõ ràng hơn. Giô-suê và Ca-lép là người đại diện cho Ép-ra-im và Giu-đa trong đồng vắng, và sau đó Giô-suê thuộc chi phái Ép-ra-im lại đứng đầu trong xứ Ca-na-an. Điều đó bây giờ lại là khó cho Ép-ra-im khi nay phải chịu suy phục Giu-đa. Từ đó, họ sẵn sàng nghe Áp-sa-lôm và ghen ghét Giu-đa khi Đa-vít được lập lại (IISa 19:41-43), và họ phản loạn, nghe theo tiếng gọi của Sê-ba (20:1). Sự thờ hình tượng của Sa-lô-môn làm mất lòng người tin kính; sự vĩ đại độc đoán của vua làm mất lòng ái mộ chung của dân (ICác 11:14-40). Lúc Đức Chúa Trời rút lại ảnh hưởng ngăn trở tinh thần chia rẽ, thì lập tức có sự tan rã. Giê-rô-bô-am lấy sự thờ bò vàng làm đường lối chính trị cho nước mình, song đã dẫn đến sự hư hại. Chúa lấy tội lỗi của Y-sơ-ra-ên mà hình phạt. Sự bại hoại về đạo đức tiếp theo sự bội đạo trong tôn giáo và sự suy đồi của chức tế lễ. Luật pháp của Đức Chúa Trời đã ban hành còn có quyền và tranh đua mãi mãi với sự thờ hình tượng đã lập. Cũng vì thế mà các nguồn sự sống của quốc gia Y-sơ-ra-ên bị đầu độc. Tám nhà giữ ngôi vua, mỗi nhà kế tiếp nhau nổi loạn cướp quyền. Theo Ussher, nước Y-sơ-ra-ên tồn tại được 254 năm (từ 975 đến 721 T.C.). Án phạt của Y-sơ-ra-ên cũng cảnh cáo Giu-đa trở nên khá hơn, đến nỗi Giu-đa còn sống sót thêm hơn một thế kỷ (tức 133 năm rưỡi) mới bị đi lưu đày. Chỉ có các tiên tri, dấy lên cách lạ lùng, làm muối trong Y-sơ-ra-ên để ngăn cấm sự bại hoại vô cùng vậy: A-hi-gia, Ê-li, Mi-chê, Ê-li-sê, và Giô-na, là các tiên tri sớm nhứt chép sách thánh. Trong thời tiên tri Giô-na, Đức Chúa Trời ban cho nước Y-sơ-ra-ên một thời thạnh vượng cuối cùng là đời trị vì lâu dài của Giê-rô-bô-am II; để nhờ sự tốt lành của Ngài sẽ dẫn dân tộc đến sự ăn năn. Vì ngày ân điển nầy bị bỏ qua nên chỉ còn lại sự phán xét. Những sự nổi loạn của Ê-đôm, Mô-áp, Am-môn, sự hãm đánh của Sy-ri dưới quyền của Bên-Ha-đát và Ha-xa-ên, và cuối cùng A-sy-ri, với Phun, Tiếc-la Phi-lê-se, Sanh-ma-na-se, Sa-gôn, và Ê-sạt-ha-đôn, đều là đồ dùng của Đức Chúa Trời để thi hành cơn thạnh nộ của Ngài chống với dân bội nghịch (IICác 15:1-; 16:1-; 17:1-; Exơ 4:2, 10; Ês 20:1). A-hi-gia nói trước cho Giê-rô-bô-am lúc ban đầu của nước Y-sơ-ra-ên, “Đức Giê-hô-va sẽ hành hại Y-sơ-ra-ên như một cây sậy bị nước đưa đi; và làm tan lạc họ phía bên sông cái” (ICác 14:15; Am 5:27). Nước Giu-đa nay cũng có khi gọi bằng tên Ép-ra-im bởi chi phái cầm đầu (Ês 17:3; Ôs 4:17) như là nước phía Nam “Giu-đa” được gọi như vậy vì là chi phái đứng đầu. Dưới thời Đấng Mê-si trị vì, trong những ngày sau rốt, Ép-ra-im sẽ hiệp với Giu-đa; “Bấy giờ sự ghen tương của Ép-ra-im sẽ mất, và Giu-đa không khuấy rối Ép-ra-im nữa” (Ês 11:13; Êxê 37:16-22).
IV. Sau sự trở về từ Ba-by-lôn, nước được gọi là “Y-sơ-ra-ên, ” dân sự là “người Do-thái, ” như trong sách E-xơ-ra; cũng là tên chính thức của mười hai chi phái được coi là một đoàn thể sau sự chia rẽ (ICác 18:30, 31). Y-sơ-ra-ên thuộc linh, là Hội Thánh của người được chuộc (Rô 9:6; Ga 6:16). Dân tan lạc ra sao thì khó mà biết. Nhiều người nhập vào nước Giu-đa, như An-ne về chi phái A-se chép trong Lu 2:36. Phần lớn bị “tản lạc xa” với những người Do-thái như Gia-cơ viết cho “mười hai chi phái.” Những người Giu-đa ở Bokhara nói với Josèphe Wolff: “Khi Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên thúc giục tâm thần của Phun vua A-sy-ri và Tiếc-la-Phi-lê-se thì họ đem đi… cả người Ru-bên, người Gát, nửa chi phái Ma-na-se, đến Cha-la (nay Balkh) và Ha-la (nay Bokhara), và đến sông Gô-xan (nay Ammos, Jehron, hoặc Oxus). Họ bị trục xuất khỏi Tahagatay, dân sự của Gengis-Khan, và họ ngụ tại Sabr-Awar và Nishapoor, (trừ vài người sang nước Tàu), tại Khorassa. Mấy thế kỷ sau phần nhiều trở lại Bokhara, Samarca, và Balkh, ở đó được nhiều ơn riêng bởi Timoor Koorekan. (Tamerlane) cho họ. Những người Do-thái ở Bokhara nói rằng nhiều người Nép-ta-li lưu lạc trên các núi Aral, và người Caucase là anh em của họ.”
Người A-phú-hãn (Afghanistan) cũng xưng mình là “con cái Y-sơ-ra-ên” bị đày đi và theo lời truyền khẩu, họ xưng mình là dòng dõi của Sau-lơ, hoặc Malik Twalut; bởi Afghana con của Giê-rê-mi, con thứ Sau-lơ. Khi Bakh-u-nasr (Nê-bu-cát-nết-sa) bắt Y-sơ-ra-ên làm phu tù, chi phái Afghana tùy theo tôn giáo Y-sơ-ra-ên, bị đuổi đến các núi quanh tỉnh Herât, tại đó họ tan lạc vào trũng Cabool dọc theo bờ bên hữu sông Indus đến bờ sông Sainde và Bélouchistan. Về sau họ sa vào tội thờ hình tượng, và tin theo đạo Ma-hô-mết. Song họ có lời truyền khẩu rằng các núi Kyber trước đã có người Do-thái ở. Cũng vậy người Santhals ở biên giới phía Tây miền hạ lưu xứ Bengale nói mình là người từ Hô-rít xưa bị người Ê-đôm đuổi đến núi Sê-i-rơ. Lời truyền khẩu họ chỉ đến Punjaub, xứ của năm con sông, như là quê hương của dòng giống họ. Họ nói tổ phụ họ thờ một mình Đức Chúa Trời trước khi vào Hi-mã-lạp-sơn; và trước sự nguy hiểm bị tuyệt diệt trên những chót núi cao nầy họ theo hướng mặt trời mọc mỗi ngày và được dẫn đi cách bình an; và họ cứ năm năm giữ lễ cho thần mặt trời, cũng thờ ma quỉ nữa. Vậy chỉ có họ trong các giống người Hindou có hình dáng của người da đen, và tính tình của họ vô tư và vô ý như dòng giống Cham.
V. Dầu vậy, Đức Chúa Trời sẽ lập lại Y-sơ-ra-ên; chỉ Ngài có thể phân biệt họ với dân ngoại. “Hỡi con cái Y-sơ-ra-ên, các ngươi đều sẽ bị lượm từng người một… Trong ngày đó, kèn lớn sẽ thổi lên, bấy giờ những kẻ bị thất lạc… và những kẻ bị đày… sẽ đến thờ lạy trước mặt Đức Giê-hô-va trên hòn núi thánh tại Giê-ru-sa-lem” (Ês 27:13). Giê 3:14-18:1- “Ta sẽ lựa mỗi thành một người, mỗi họ hai người; mà đem đến Si-ôn.” Các thầy Rabbins ra lệnh rằng khi người nào xây nhà mới thì nên để lại một phần nhà không làm trọn” để kỷ niệm sự hoang vu” và khi cưới gả thì chàng rể sẽ kết thúc nghi lễ bằng cách giày đạp ly mình vừa uống vỡ tan từng mảnh. Dầu vậy, họ hẳn còn trông đợi sự lập lại nước như Đức Chúa Trời đã hứa cho trong Phục 30:1-6; Ês 11:10-16. Thầy Rabbin David Levi lấy sách Ê-sai mà luận: (1) Sự báo thù của Đức Giê-hô-va sẽ giáng trên kẻ thù nghịch Y-sơ-ra-ên. (2) Sự báo thù trên Ê-đôm, tức La-mã. (3) Sự lập lại Y-sơ-ra-ên. (4) Lập lại mười chi phái. (5) Giống sự giải cứu từ Ai-cập (song hơn sự đó nhiều vì sự can thiệp lớn lao của Đức Chúa Trời, Giê 23:5-8). (6) Tội nhân Do-thái không thể ngăn trở vì sẽ bị diệt đi.
(7) Không còn bị tan lạc. (8) Vinh quang Chúa và thần trí tiên tri sẽ trở lại (Êxê 11:23; 43:2) (9) Người bội đạo từ dân sự sẽ được lập lại.
(10) Một vua thuộc dòng và tên Đa-vít sẽ trị vì (Êxê 34:23, 24). (11) Dân sự sẽ chẳng bao giờ phải làm phu tù nữa (xem phước đầy đủ và vĩnh viễn của sự lập lại, Ês 34:12; 54:7-11). (12) Các dân sẽ công nhận chung một Đức Chúa Trời và ưa thích luật pháp Ngài (Ês 2:3; 60:3; 66:23; Xa 8:21-23; 14:16-19) (13) Sự bình an sẽ thắng hơn (Ês 2:4; Xa 9:10). (14) Sự sống lại của người có lòng tin kính hoặc người gian ác (Đa 12:2). Xem Ês 11:1-; 60:8-10; 42:13-16; 61:1-8, tại đó “những sự hoang vu của nhiều đời” không thể chỉ là 70 năm làm phu tù. Sau khi sống nhiều ngày không có vua, thầy tế lễ, của lễ, bàn thờ, ê-phót, và thê-ra-phim, Y-sơ-ra-ên sẽ tìm kiếm Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của họ và Đa-vít, vua họ (Ôs 3:4, 5). Phước lành cho mọi dân tộc bởi Y-sơ-ra-ên sẽ làm ứng nghiệm lời hứa cho A-đam (Sáng 3:15), và Áp-ra-ham (22:18; Rô 11:25, 26, v.v.). Những sự sắm sẵn lo liệu của Chúa để lập lại Y-sơ-ra-ên đã tỏ ra rồi: xứ thánh một phần lớn mở ra tiếp họ trở về, bản tánh ưa thích mua bán của họ làm cho họ không đâm rễ trong một xứ nào khác, và mối quan hệ của họ với dân buôn bán như Anh, Mỹ, có thể giúp đỡ họ trong sự lập tổ quốc (Ês 60:9; 66:19, 20); họ tránh sự cưới gả với các tín đồ Đấng Christ. Những người Y-sơ-ra-ên khi đã trở lại sẽ là những người giảng tin lành tốt nhứt cho thế gian (Xa 8:13, 23; Mi 5:7), vì họ bị tan lạc khắp cả, quen tiếng nói và phong tục của các xứ và luôn luôn thư từ với nhau (so hình bóng Công 2:11) và trong thời kỳ tan lạc không thể trách họ được vì dầu họ ghen ghét Đấng Christ, song là những người chứng kiến về căn nguyên của lời tiên tri về Đấng Mê-si là Đức Chúa Trời mà đạo Đấng Christ kêu gọi; vậy khi được trở lại khỏi hành vi cừu địch thì họ là những người giảng dạy không thể chống với các lẽ thật mà họ đã bỏ (Rô 11:15). Thời đại chúng ta tức là thời gian 42 tháng trong lúc ngoài hành lang ngoài Đền thờ được ban cho dân ngoại, và họ giày đạp nơi thánh dưới chơn (Khải 11:2, 3), và Đức Chúa Trời rải rác quyền phép của dân thánh (Đa 12:7; Lu 21:24). Gần mãn thời đó là thời dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu. So 1260 năm, có trong một các thuyết tính từ 754 S.C. khi Pépin cho Giáo hoàng quyền thống trị tạm thời; thời gian ấy sẽ tính đến gần 2014. Song chỉ khi nào biến động đó xảy ra mọi sự mới được tỏ tường như đã dự ngôn (Đa 7:25; 8:14; 12:11, 12; Khải 12:6, 4; Lê 26:14, v.v.).
Tiến sĩ Scofield chú thích về Y-sơ-ra-ên như sau:
IICác 17:7.– So Phục 28:15-68. Từ kỳ phu tù nầy mười chi phái chẳng bao giờ được lập lại xứ Pha-lê-tin. Một phần sót lại của Giu-đa trở về dưới thời Xô-rô-ba-bên, E-xơ-ra và Nê-hê-mi, và các cá nhân từ mười chi phái (được gọi sau sự chia nước của Sa-lô-môn, là “Y-sơ-ra-ên” trong các sách lịch sử và tiên tri, cũng gọi là “Ép-ra-im” bởi các tiên tri trở về, song sự lập lại như một nước còn phải được ứng nghiệm. Xem bài giao ước với Pha-lê-tin, Phục 30:1-9; bài “Nước, ” IISa 7:8-17.
Sáng 11:10.– Sáng 11:1- và 12:1- đánh dấu một điểm trung tâm quan trọng trong sự loài người giao tiếp với Đức Chúa Trời. Cho đến thời điểm này, lịch sử của cả dòng giống A-đam chưa có người Do-thái hoặc Dân ngoại; hết thảy đều là một trong “người thứ nhứt là A-đam.” Từ đó, theo lời Kinh Thánh chép nhân loại được so sánh như một dòng sông rộng từ đó Đức Chúa Trời trong sự kêu gọi Áp-ra-ham và từ sự dựng nên dân tộc Y-sơ-ra-ên, chỉ rút ra một nhánh sông hẹp, bởi đó cuối cùng Ngài có thể làm cho chính cả dòng sông lớn được tinh sạch. Y-sơ-ra-ên được kêu gọi để làm chứng về sự hiện diện của một Đức Chúa Trời ở giữa sự thờ hình tượng phổ thông (Phục 6:4; Ês 43:10-12) để minh chứng phước lành của sự hầu việc Đức Chúa Trời chân thật (Phục 33:26-29); để nhận và gìn giữ những sự khải thị của Đức Chúa Trời (Rô 3:1, 2; Phục 4:5-8) và để sanh ra Đấng Mê-si (Sáng 3:15; 21:3; 28:10, 14; 49:10; IISa 7:16, 17; Ês 4:3, 4; Mat 1:1).
Người đọc Kinh Thánh trong trí phải nhớ vững vàng. (1) Từ Sáng 12:1- đến Mat 12:45, Kinh Thánh trước nhứt nói về Y-sơ-ra-ên, dòng nước nhỏ, không phải sông lớn là Dân ngoại; dầu dần dần ý định cuối cùng của Đức Chúa Trời cũng được tỏ ra (xem Sáng 12:3; Ês 2:2, 4; 5:26; 9:1, 2; 11:10-12; 42:1-6; 49:6, 12; 52:15; 54:3; 55:5; 60:3, 5, 11-16; 61:6, 9; 62:2; 66:12, 18, 19; Giê 16:19; Giôên 3:9, 10; Mal 1:11; Rô 9:1-; 10:1-; 11:1-; Ga 3:8-14); (2) Loài người bởi đó được gọi là Dân ngoại để phân biệt với Y-sơ-ra-ên là dân thuộc về Đức Chúa Trời, tiếp nối ở dưới giao ước với Nô-ê và Áp-ra-ham; và về nòi giống (ngoài Y-sơ-ra-ên) những thời đại của lương tâm và chính thể loài người cứ tiếp nối. Lịch sử đạo đức của thế giới Dân ngoại được chép trong Rô 1:21-32; và trách nhiệm về đạo đức trong Rô 2:1-16. Lương tâm chẳng bao giờ tha thứ hoặc “cáo giác” hoặc “bênh vực.” Nơi nào luật pháp được dân ngoại biết đến như dành cho họ, thì cũng như Y-sơ-ra-ên, là “chức vụ về sự Chết” là “sự rủa sả” (Rô 3:19, 20; 7:9, 10; IICôr 3:7; Ga 3:10). Một trách nhiệm hoàn toàn mới dấy lên khi người Do-thái hoặc Dân ngoại biết đến Tin lành (Giăng 3:18, 19, 36; 15:22-24; 16:9; IGiăng 5:9-12).
Ês 1:2.– Đoạn nầy, cho đến câu 23, nói về việc Đức Giê-hô-va nghịch cùng Giu-đa. Sự sửa phạt, tùy theo Phục 28:1-; 29:1-, đã được thăm viếng trên Y-sơ-ra-ên trong xứ (câu 5-8), và nay thời kỳ trục xuất ra khỏi xứ đã gần. Song đúng từ đây Giê-hô-va làm mới lại lời hứa giao ước Pha-lê-tin về sự vinh hiển ngày sau của Y-sơ-ra-ên (Ês 1:26, 27; 2:1-4).
Am 3:2.– Đáng chú trọng rằng lời biện luận của Đức Giê-hô-va với các Dân ngoại ghét Y-sơ-ra-ên vắn tắt là: “Ta sẽ sai lửa…” (Am 1:4; 7:10; 2:2, 5, v.v.). Song Y-sơ-ra-ên đã được dẫn vào nơi được hưởng đặc ân và bởi thế họ phải chịu trách nhiệm về việc làm của mình, và lời tố cáo của Chúa đối với họ là rõ ràng (So Mat 11:23; Lu 12:47, 48).
Ês 41:8.– Có ba đầy tớ của Đức Giê-hô-va nói đến trong sách Ê-sai: (1) Đa-vít (Ês 37:35).
(2) Dân tộc Y-sơ-ra-ên (Ês 41:8-16; 43:1-10; 44:1-8, 21). (3) Đấng Mê-si (42:1-12; 49:1-) hãy chú ý đặc biệt đoạn 49 câu 5-7, tại đó Đấng Christ lập lại dân tộc Y-sơ-ra-ên là tôi tớ của Đức Chúa Trời (50:4-6; 52:13-15; 53:1-12). Y-sơ-ra-ên là một dân tộc bất trung, song khi được lập lại sẽ “xé tan” các núi. Không có lời nào về tội bất trung hoặc khuyết điểm để cáo buộc Đầy tớ Christ (xem Ês 42:1, lời chua).
Êxê 34:28.– Cả khúc (câu 23-30) nói về sự lập lại còn ở tương lai, vì dân sót trở về sau 70 năm, và dòng dõi họ, vẫn cứ tiếp tục ở dưới ách dân ngoại, cho đến năm 70 S.C. họ cuối cùng bị đuổi ra khỏi xứ nên bị tan lạc cho đến nay vẫn còn.
Công 7:38.– Y-sơ-ra-ên trong xứ chẳng bao giờ được gọi là một Hội Thánh. Trong đồng vắng Y-sơ-ra-ên là một Hội Thánh thật (tiếng Hy-lạp ecclésia, tức được gọi riêng ra), song trái với ecclésia Tân Ước (Mat 16:18, lời chua).
Sáng 32:28.– Cả hai tên: Gia-cốp và Y-sơ-ra-ên đều ứng dụng cho dân tộc đến từ dòng dõi Gia-cốp. Khi dùng cách đặc biệt “Gia-cốp” là tên chỉ dòng dõi Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp theo xác thịt; còn khi dùng Y-sơ-ra-ên thì chỉ về phần thuộc linh của dân tộc, như xem Ês 9:8. “Ngôi Lời” được sai đến cho cả dân sự “Gia-cốp” song “chiếu sáng trên Y-sơ-ra-ên” tức được hiểu biết bởi phần thuộc linh của dân sự. Xem “Y-sơ-ra-ên” (Sáng 12:2, 3; Rô 11:26, tóm tắt).
Rô 9:6.– Sự phân biệt là giữa Y-sơ-ra-ên theo xác thịt, chỉ là dòng dõi xác thịt của Áp-ra-ham, và những người Y-sơ-ra-ên bởi đức tin, cũng là con cái thuộc linh của Áp-ra-ham. Dân ngoại tin Chúa cũng là dòng dõi thuộc linh của Áp-ra-ham; song ở đây Sứ đồ không chú trọng về họ, song chỉ về hai thứ người Y-sơ-ra-ên: người Y-sơ-ra-ên xác thịt và người Y-sơ-ra-ên thuộc linh (Rô 4:1-3; Ga 3:6, 7; so Giăng 8:37-39). (Xem Rô 11:1, lời chua).
Mat 16:18.– Tiếng Hy-lạp ecclésia (ek “ra ngoài, ” kaleo, “kêu gọi”) chỉ một hội gồm những người được gọi riêng ra. Chữ thì dùng cho bất cứ một hội nào; chính lời cũng không nói gì thêm, như xem sự hội họp của thành phố tại Ê-phê-sô (Công 19:39) và Y-sơ-ra-ên, được kêu gọi ra ngoài Ai-cập và nhóm họp nơi đồng vắng (Công 7:38). Y-sơ-ra-ên là “Hội Thánh” thật, song không có nghĩa nào là Hội Thánh Tân Ước. — chỉ có một điểm giống nhau là cả hai “được gọi riêng ra” và bởi cùng một Đức Chúa Trời. Mọi điều khác là trái hẳn nhau. Cũng xem 7:38, lời chua; Hêb 12:23, lời chua.
Êxê 37:1.– Sau khi đã báo (Êxê 36:24-38) về sự lập lại dân tộc Y-sơ-ra-ên, Đức Giê-hô-va bây giờ ban cho tiên tri Ê-xê-chi-ên trong sự hiện thấy và hình bóng về phương pháp của sự lập lại. Câu 11 là câu giải sự bí mật. Những “xương cốt” là toàn thể nhà Y-sơ-ra-ên bấy giờ đương sống. Các “mồ mả” là các dân tộc mà họ sống ở giữa. Trật tự của phương pháp là:
(1) Đem dân sự ra ngoài (câu 12). (2) Đem dân sự vào (câu 12). (3) Sự trở lại của Y-sơ-ra-ên (câu 13). (4) Sự đầy dẫy bằng Đức Thánh Linh (câu 14). Hình bóng tiếp theo: hai cây gậy là Giu-đa và mười chi phái hiệp một, họ là một dân tộc (câu 19-21). Kế đến câu 21-27 là lời tuyên bố chính thức, rõ ràng về mục đích của Đức Giê-hô-va, và câu 28 chỉ rằng kế đó dân ngoại sẽ biết Đức Giê-hô-va cách tỏ tường, ấy cũng là trật tự của Công 15:16-17, và hai khúc sách chỉ rõ ràng về thời kỳ dân ngoại trở lại đạo. Cũng xem Ês 11:10.
Êxê 36:1- Đầu đề.– Một trật tự tốt đẹp được phân biệt rõ trong những lời tiên tri nầy: (1) Sự lập lại xứ (36:1-15). (2) Sự lập lại dân sự (36:16–37:28).
(3) Sự phán xét trên kẻ thù của Y-sơ-ra-ên (38:1-39:24). Sau đó tiếp theo về sự thờ phượng Đức Giê-hô-va hầu cho Ngài có thể ở giữa dân sự.
Rô 11:1.– Y-sơ-ra-ên chẳng hề bị bỏ mãi mãi ấy là đại đề của đoạn nầy.
(1) Sự bày tỏ của Phao-lô ở đây chứng rằng còn có Dân sót (câu 1). (2) Lẽ đạo về sự cứu chuộc làm chứng điều đó (câu 2-6). (3) Sự vô tín hiện nay của cả dân tộc được biết trước (câu 7-10). (4) Sự vô tín của Y-sơ-ra-ên là dịp tiện cho dân ngoại (câu 11-25). (5) Y-sơ-ra-ên theo mặt tư pháp thì bị dứt khỏi cây ô-li-ve nhà, Đấng Christ (câu 17-22). (6) Họ sẽ được tháp lại lần nữa (câu 23, 24). (7) Đấng giải cứu đã hứa sẽ ra từ Si-ôn, và dân tộc sẽ được cứu (câu 25-29). Tín đồ Đấng Christ ngày nay hưởng lời hứa đặc biệt của người Do-thái. Tín đồ Đấng Christ là thuộc dòng dõi của Áp-ra-ham trên trời (Sáng 15:5, 6; Ga 3:29), và dự phần về các phước thuộc linh của giao ước Áp-ra-ham (Sáng 15:18, lời chua); song Y-sơ-ra-ên như một dân bao giờ cũng có chỗ riêng cho mình, và dầu vậy cũng vẫn có sự tôn cao hơn hết như một dân của Đức Chúa Trời trên đất. Xem bài “Y-sơ-ra-ên” (Sáng 12:2; Rô 11:26); bài “Nước” (Sáng 12:26-28; xem 12:8).
Ês 7:2.– Trong sách tiên tri, “Ép-ra-im” và “Y-sơ-ra-ên” là hai tên chung của mười chi phái họ, ở dưới thời Giê-rô-bô-am, lập nước phía Bắc, sau gọi là Sa-ma-ri (ICác 16:24), và (742 T.C.) họ bị đày đi, nay hẳn còn tiếp tục bị tan lạc (IICác 17:1-6). Họ được phân biệt như là những “kẻ bị bỏ của Y-sơ-ra-ên” khỏi những “người tan lạc của Do-thái” (Ês 11:12). “Giấu” trong thế gian (Mat 13:44), họ, cùng với Do-thái, còn cần phải lập lại cho xứ Pha-lê-tin và làm lại thành một dân (Giê 23:5-8; Ês 37:11-24).
Rô 11:26.– Tóm tắt. Y-sơ-ra-ên được gọi vậy là theo tên cháu của Áp-ra-ham, được chọn vào một chức vụ có bốn mặt:
(1) Làm chứng về sự hiện diện của Đức Chúa Trời, ở giữa sự thờ hình tượng phổ thông (Phục 6:4 với Ês 43:10, 12).
(2) Để minh chứng cho các dân tộc sự phước hạnh qua sự hầu việc Đức Chúa Trời chân thật (Phục 33:26-29; ISử 17:20, 21; Thi 144:15).
(3) Để nhận, gìn giữ, và truyền lại Kinh Thánh (Phục 4:5-8; Rô 3:1, 2).
(4) Để sanh Đấng Mê-si (Sáng 3:15; 12:3; 22:18; 28:10-14; 40:10; IISa 7:12-16; Ês 7:14; 9:6; Mat 1:1; Rô 1:3). Theo lời các Đấng tiên tri, Y-sơ-ra-ên thâu góp lại từ các dân, lập lại trong xứ riêng mình và trở lại, dầu vậy cũng sẽ có sự tôn vinh và sự vinh hiển lớn nhứt trên đất. Xem bài “Nước” (Cựu Ước) (Sáng 1:26; Xa 12:8; Tân Ước, Lu 1:31-33; ICôr 15:24); “Giao ước với Đa-vít” (IISa 7:8-17, lời chua).
Ha 1:5.– Y-sơ-ra-ên tan lạc. Xem bài Ha-ba-cúc.
Ês 10:12.– Y-sơ-ra-ên trung tâm của mưu định Đức Chúa Trời. Xem bài Ngày.
Sáng 15:18.– Y-sơ-ra-ên dưới sự che chở của Đức Chúa Trời. Xem bài Áp-ra-ham.
Lê 16:18.– Y-sơ-ra-ên, sự trở lại tương lai. Xem bài Lễ Chuộc Tội.
Ôs 1:10.– Y-sơ-ra-ên, sự dùng tên trong Ô-sê. Xem bài Ô-sê.
Êxê 20:37.– Y-sơ-ra-ên, sự phán xét tương lai. Xem bài Phán Xét, SỰ.
IISa 24:9.– Y-sơ-ra-ên, lực lượng binh bị. Xem bàISa-mu-ên.
Mi 5:1.– Y-sơ-ra-ên, sự hoài thai Đấng Mê-si. Xem bài Ngày Sau Rốt.
Ôs 2:2.– Y-sơ-ra-ên, vợ Đức Giê-hô-va. Xem bài Ô-sê.

Lên đầu trang