Kidron. Cédron.
Một khe về phía Tây bắc Giê-ru-sa-lem, gần chỗ vẫn gọi là mộ các quan xét, quay về phía Đông nam độ hai cây số rưỡi, rồi rẽ ngoặt về phía Nam, và cứ tiếp tục hướng đó qua thành và đến trũng Hi-nôm và Ên-Rô-ghên. Tại đó, khe lại vòng về hướng Đông nam và cứ chạy cho đến Biển Chết. Không có dòng nước nào chảy trong khe đó trừ những lúc mưa lớn trong mùa Đông, và không có chứng cớ rằng rạch của khe đó quanh năm có nước. Thật vậy, khe bằng tiếng Hê-bơ-rơ có nghĩa là một sông đào của dòng nước khô cạn mùa Hạ, hoặc chỉ về chính dòng nước lúc mùa Đông. Theo các văn sĩ dùng tiếng Hy-lạp, khe Xết-rôn chỉ về dòng nước mùa Đông (Giăng 18:1). Tên đó có thể sanh ra từ những giòng nước đục lúc mùa Đông, hoặc bởi sự mờ tối của trũng, nhứt là các miền thấp. Đối với người nói tiếng Hy-lạp, thì tên nầy gợi ý về cây hương bách, và dòng nước thường gọi là dòng cây hương bách (Giăng 18:1, lời chua bản Anh; IISa 15:23).
Khe Xết-rôn phân rẽ thành Giê-ru-sa-lem với núi Ô-li-ve, và ai đi từ thành đến Bê-tha-ni hoặc Giê-ri-cô, phải đi ngang qua đó (IISa 15:23). Khe nầy được coi là giới hạn phía Đông của thành (ICác 2:37; Giê 31:40). Phần trũng ở phía Nam thành ban đầu được dùng làm nơi mộ địa (IICác 23:6), và các vua tin kính, khi dẹp sạch hình tượng khỏi Đền thờ, thì làm cho Xết-rôn thành một nơi để ném các tro của những sự gớm ghiếc đó (ICác 15:13; IISử 29:16; 30:14; IICác 23:4). Người ta kể lại rằng A-tha-li bị điệu đến khe Xết-rôn mới hành hình hầu cho Đền thờ khỏi bị ô uế bởi huyết của nàng.