Tha tội

Tha tội Forgive. Pardonner.

Ngoài ba tiếng Hê-bơ-rơ (xem bài Scofield ở dưới), còn có bốn tiếng Hy-lạp cũng bày tỏ ý tha tội, như Apoluein (Lu 6:37), “tha thứ” dùng ở đây vì có sự tương tự giữa tội và nợ, và tỏ ra được thoát khỏi. Trong Rô 3:25, Phao-lô dùng Paresis dịch là “bỏ qua, ” tức “dẹp một bên, ” “không nhìn đến, ” thế chữ thường dùng là aphesis, tức “bỏ đi” cách hoàn toàn, và không giữ lại gì. Bỏ qua tội như thế thường dẫn người ta đến sự không nhận biết về sự công bình của Đức Chúa Trời, và để khỏi có sự đó, thì Đấng Christ được tỏ ra là tế lễ chuộc tội, cho nên sự Đức Chúa Trời bỏ qua tội lỗi (paresis) trở nên sự tha tội thật (aphesis); so Công 14:16; 17:30. Charizesthai chỉ dùng trong sách Lu-ca và thơ Phao-lô, có nghĩa “tha tội” (IICôr 2:7; 12:13; Êph 4:32; Cô 2:13; 3:13), và tỏ ra sự tin nhận của Phao-lô về ân điển tha tội của Đức Chúa Trời. “Xóa” cũng đồng ý với tha (trong Thi 51:1, 9; Ês 43:25; Giê 18:23; Công 3:19).

II. Ý người Do-thái xưa đối với sự tha thứ.– Nhờ Phục 23:6; so Êxê 9:10 chúng ta biết người Do-thái không coi sự tha thứ kẻ thù là một đức hạnh, và người nào xin tha thứ, ấy dường như xin điều mình không có quyền (Sáng 50:17; Xuất 10:17; ISa 15:25; 25:28). Các Thi-thiên có lời rủa sả, cũng làm chứng như thế, và chính Chúa Jêsus tóm tắt ý thông thường của người Do-thái khi phán: “Các ngươi có nghe lời phán rằng: …hãy ghét kẻ thù nghịch mình” (Mat 5:43), điều đó tỏ ra thái độ và cách hiểu biết của họ đối với sự dạy dỗ Cựu Ước là như vậy.

III. Sự dạy dỗ của Đấng Christ.– Đấng Christ dạy rằng sự tha thứ là một nghĩa vụ vô hạn (Lu 17:4). Ngài không nhận có tội nào lớn và phạm luôn đến nỗi không thể tha thứ được. Đối với Ngài, tinh thần không tha thứ là một trong các tội đáng gớm ghiếc nhứt, là một tội Đức Chúa Trời không tha (Mat 18:34, 35), đó chính là điểm quan trọng của tội không được tha (Mác 3:22-30). Ấy là một vết của người con cả làm hư một đời sống không chỗ trách (Lu 15:28-30). Chúa Jêsus tìm cách thay thế tinh thần không chịu tha thứ bởi tinh thần khoan dung và tha thứ. Vậy, Ngài phán cùng Phi-e-rơ chẳng những chỉ tha thứ bảy lần một ngày, song bảy mươi lần bảy (Mat 18:21, 22).

Chúa Jêsus nhận rằng có điều kiện phải làm trọn trước khi có thể tha thứ, ấy vì một phần ở sự giao thông với nhau; và một phần ở sự ăn năn của người mắc lỗi. Nếu không ăn năn, Đức Chúa Trời không tha, con người đối với nhau cũng vậy. Hiệu quả của sự tha thứ là lập lại sự giao thông trước đó đã bị tội làm đứt. Sự lập lại đó cần đến sự thỏa thuận của cả hai bên, tức phải có sự ban cho và nhận lãnh sự tha thứ. Thật lòng buồn bã sâu xa về tội, tạo ra sự ăn năn (IICôr 7:10), là điều kiện bảo đảm để nhận sự tha thứ. Bởi vậy, Chúa truyền phải tha thứ khi kẻ có tội quay lại và nói rằng “Tôi ăn năn” (Lu 17:3, 4). Ấy là tâm trạng dẫn người cha vui mừng hoan nghênh đứa con hoang đàng trở về, trước cả lúc đứa con đó nói ra ý định mới của mình (Lu 15:21).
Dầu vậy, không nên cho rằng vì người phạm tội không chịu ăn năn thì thoát sự bó buộc tha tội đâu, vì chúng ta phải sẵn lòng tha thứ luôn. Như Chúa phán: “Nếu mỗi người… không hết lòng tha lỗi cho anh em” (Mat 18:35), và “như chúng tôi cũng (nguyên văn, đã) tha kẻ phạm tội nghịch cùng chúng tôi” (Mat 6:12). Tinh thần tha thứ đó làm điều kiện để Đức Chúa Trời tha các tội phạm chúng ta (Mác 11:25; Mat 6:14, 15; 18:23-35).

Người bị xúc phạm cũng nên tìm cách đem người phạm tội đến sự ăn năn. Ấy là mục đích của lời Chúa phán trong Lu 17:3. Ngài dạy cách tỏ tường hơn: “Nếu anh em ngươi phạm tội cùng ngươi, thì hãy trách người khi chỉ có người với một mình ngươi” (Mat 18:15-17).Vậy, người đó phải hết lòng thu phục cách phải lẽ để người phạm lỗi ăn năn, và chỉ khi nào đã hết sức thu phục mà vô hiệu mới thôi. Mục đích là được lại anh em mình.

Quyền buộc và mở, nghĩa là cấm hoặc cho phép, được ban cho Phi-e-rơ (Mat 16:19), và cho Hội Thánh chung (18:18; Giăng 20:23). Ấy tỏ rõ có phép tuyên bố sự tha tội, như Phi-e-rơ thi hành khi dùng những chìa khóa của nước thiên đàng (Mat 16:19). Ấy là ở sự rao giảng Tin lành, và nhứt là các điều kiện người phải nhờ để được giao thông với Đức Chúa Trời (Công 2:38; 10:34 tt). Không phải chỉ hạn chế cho Phi-e-rơ thôi, song được chia cho các Sứ đồ khác (Mat 16:19; 18:18). Đấng Christ không để lại những điều lệ nhứt định, song những nguyên lý phải vâng theo để vào nước Đức Chúa Trời, nên phải nhờ sự quyết định, phân biệt rõ rệt của toàn thể tín đồ để ứng dụng các nguyên lý đó (IICôr 2:10). Ở đây, sự tha thứ không phải là phép giải tội từng cá nhân, nhưng là qui định những cử chỉ và cách thờ phượng được xứng hiệp (Westcott về Giăng 20:23).

Sự ăn năn là một phần cần thiết cho sự tha thứ được bày tỏ cách đầy đủ. Sự cất hết mọi tội lỗi, không còn dấu vết gì, là kết quả sự tha thứ của Đức Chúa Trời vẫn được tỏ trong Kinh Thánh (Ês 38:17; Mi 7:19; Giê 31:34; Ês 43:25; Thi 103:12). Về sự tha thứ của con người cũng nên như thế, song tiếc thay, con người bao nhiêu lần vẫn cứ ghi nhớ tội lỗi đã tha thứ rồi. Khi Đức Chúa Trời tha thứ thì Ngài lập lại người vào địa vị được ơn như trước. Sự nghi ngờ đổi thành sự tin cậy, và điều ấy sanh ra lòng bình an (Thi 32:5-7; Rô 5:1); cảm biết sự yêu thương và thương xót của Ngài (Thi 103:2), cất bỏ sự sợ hình phạt (IISa 12:13), và yêu mến Chúa.

IV. Quyền tha tội của Đấng Christ.– Ta không lấy làm lạ về Chúa Jêsus xưng mình có quyền tha tội. Điều đó gây nên cuộc biện luận cay đắng với người Do-thái, vì đối với họ, chỉ Đức Chúa Trời mới có quyền tha tội mà thôi (Mác 2:7; Lu 5:21; 7:49). Điều đó Chúa Jêsus không bàn cãi, nhưng cho họ biết Ngài có quyền tha tội, bởi cách bày tỏ ra Ngài có quyền phép của Đức Chúa Trời. Chúa xưng Ngài có quyền nầy trong hai chỗ thôi, dầu có người cho rằng theo Giăng 5:14; 8:11 tỏ ra Ngài dường như quen tuyên bố sự tha tội cho những người Ngài chữa lành. Một trong hai chỗ đó, Ngài không những chỉ xưng là có quyền tha tội, song cũng chứng thật rằng Ngài có quyền Đức Chúa Trời để chữa lành. Dân chúng công nhận lý lẽ đó và “ngợi khen Đức Chúa Trời đã cho người ta được phép tắc dường ấy” (Mat 9:2-9; so Mác 2:3-12; Lu 5:18-26). Chỗ khác, khi người ta bàn tán về Ngài có quyền tha tội (Lu 7:36-50), thì Ngài chỉ lấy sự biết ơn của người đàn bà đã được tha tội làm chứng cớ.

Tiến sĩ Scofield chú thích về sự tha tội:

Thi 103:12.– Có ba tiếng Hê-bơ-rơ dịch là tha thứ: –kaphar, đã được tha ; –nasa, che đậy, nâng lên; –Salach, đuổi đi (so Lê 16:21, 22). Ý nền tảng của Cựu Ước về sự tha tội không phải là tha án phạt, nhưng là phân rẽ tội nhân ra khỏi tội. Thi 103:12 bày tỏ điều đó.

Mat 6:12.– Đây là mặt luật pháp. So Êph 4:32, ấy là ân điển. Dưới luật pháp, sự tha thứ là nhờ một tinh thần như thế trong chúng ta làm điều kiện; dưới ân điển là được sự tha tội vì cớ Đấng Christ, và Chúa khuyên ta nên tha thứ vì đã được tha thứ. Xem Mat 18:32; 26:28, lời chua.
Mat 26:28.– Sự tha thứ. Lời Hy-lạp dịch là “tha tội” trong Mat 26:28; Công 10:43, cũng dịch là “tha thứ” trong Hêb 9:22. Lời đó có nghĩa gởi đi, đuổi đi. Và danh từ suốt cả Kinh Thánh là một ý nghĩa nền tảng của sự tha tội.– tức phân rẽ tội ra khỏi tội nhân. Phải có sự phân biệt giữa sự tha thứ của Đức Chúa Trời và của loài người: (1) Sự tha thứ của người có nghĩa là tha án phạt. Suốt cả Cựu Tân Ước, trong hình bóng và ứng nghiệm, sự tha thứ của Đức Chúa Trời theo sau sự thi hành án phạt. “Thầy tế lễ sẽ chuộc tội cho người đó, thì tội người sẽ được tha” (Lê 4:35). “Nầy là huyết ta; huyết của sự giao ước đã đổ ra cho nhiều người được tha (đuổi đi, tha thứ) tội” (Mat 26:28). “Không đổ huyết thì không có sự tha thứ” (Hêb 9:22). Xem bài Của lễ (Sáng 4:4; Hêb 10:18, lời chua). Tội của người tín đồ khi xưng ra thì được tha, nhưng bao giờ cũng phải nhờ vào của lễ chuộc tội của Đấng Christ (I Giăng 1:6-9; 2:2). (2) Sự tha thứ của con người căn cứ và kết quả từ sự tha thứ của Đức Chúa Trời. Trong nhiều khúc Kinh Thánh, điều đó được bày tỏ ngầm hơn là chép tỏ tường, song nguyên lý được phán trong Êph 4:32; Mat 18:32, 33.

Lên đầu trang