Sê-sa-rê

Sê-sa-rê Caesarea. Césarée (thuộc về Sê-sa).
Một thành ở trên bờ biển Pha-lê-tin, chừng 35 cây số ở phía Nam núi Cạt-mên. thành được xây cất bởi vua Hê-rốt Lớn, trên nơi có thành gọi là Tháp Strato. Phải mất mười hai năm mới xây xong, từ 25-13 T.C.. Cũng có xây một đập bằng đá dài 15m25, rộng 5m5, và sâu 2m70. Đập đó rộng chừng 60 thước, nước sâu 20 sải, và bao bọc một hải cảng rộng bằng A-thên. Lối vào hải cảng nhân tạo đó ở phía Bắc, tại đó có một cái tháp. Thành có một Đền thờ, một rạp hát, và một diễn đài có từng bậc, một hệ thống cầu cống hoàn toàn để rút nước ra. Hê-rốt đặt tên là thành Sê-sa-rê, theo tên chủ là Sê-sa-Au-gút-tơ. Cũng có khi gọi là Sê-sa-rê của Pha-lê-tin, hoặc Sê-sa-rê dựa mé biển để phân biệt thành nầy với Sê-sa-rê Phi-líp. Thành nầy trở nên kinh đô của người La-mã tại xứ Pha-lê-tin.
Tin lành được đem tới đây bởi Phi-líp, thầy truyền đạo, và là nơi ở của người (Công 8:40; 21:8). Chẳng bao lâu, sau khi Phao-lô tin Chúa, bị nguy hiểm đến tính mạng bởi người Do-thái tại Giê-ru-sa-lem, các đồng đạo đã đem Sứ đồ xuống thành Sê-sa-rê, từ đó người đi thuyền trở về quê hương là Tạt-sơ, trong Tiểu A-si (9:30). Tại thành Sê-sa-rê, có thầy đội La-mã là Cọt-nây ở, mà Phi-e-rơ đã giảng về Đấng Christ cho ông, và đó là tiếng kêu gọi người ngoại bang tin Chúa (10:1, 24; 11:11). Hê-rốt Ạc-ríp-ba chết ở tại Sê-sa-rê năm 44 S.C. (Công 12:19, 23). Phao-lô hai lần thăm viếng thành, có Hội Thánh được lập tại đây (Công 18:22; 21:8, 16). Sau Phao-lô bị cầm tù tại đó (23:23, 33), và tại đó Phao-lô bị đem ra xử trước Phê-tu và Ạc-ríp-ba (25:1-4, 6-13).
Dân trong thành nầy thì lẫn lộn, và dòng giống nầy ghét dòng giống kia đến nỗi trong đời Néron, người Sy-ri đã tàn sát hết thảy người Do-thái, bắt đầu cơn khủng bố cho đến điểm tuyệt đích là 70 S.C., khi thành Giê-ru-sa-lem bị hủy phá bởi hoàng tử Titus. Trong năm 195 S.C., có giáo hội nghị họp tại đó. Có một trường cho tín đồ Đấng Christ được lập ở trong thành, có Origène dạy dỗ, Eusèbe sau làm giám mục tại Sê-sa-rê đã theo học tại đây. Năm 548, người Do-thái và người Sa-ma-ri hiệp nhau để xông hãm tín đồ Đấng Christ. Năm 638, thành bị chiếm bởi người Hồi giáo. Năm 1102, thành bị chiếm bởi Thập tự quân, chỉ huy bởi Baldouin I. Saladin lấy lại năm 1189, rồi lại bị Thập tự quân chiếm lấy lần nữa năm 1191, song năm 1265 thì mất vào tay Sultan Bibars.
Những nơi đổ nát hiện nay chia làm hai thời kỳ. Trước nhứt có một thành của người La-mã có tường, rạp hát, trường đua, đập, đền thờ, cống dẫn nước, và kế đến thành thứ hai, có những di tích của thành Thập tự quân với tường, lâu đài đại giáo đường, nhà thờ nhỏ, hải cảng. Tường người La-mã xây dựng kéo dài từ Bắc chí Nam độ 1.550 thước, từ Đông sang Tây 820 thước. Hải cảng ngang độ 180 thước. Có một kè đá chạy ra biển, có lẽ là đập xưa. Nay hãy còn gọi là Kaisârieh.

Lên đầu trang