Phu tù

Phu tù Captivity. Captivité.

Là địa vị bị bó buộc con người phải tùng phục kẻ thù nghịch, nhứt là trong một xứ ngoại bang. Trong đời Cựu Ước, người A-sy-ri đã đề xướng ra thói tục nầy, và người Ba-by-lôn bắt chước theo. Thói tục bắt đi lưu đày toàn thể hay ít nhứt những người đứng đầu thuộc mỗi xứ họ chiếm lấy, và cho những người phu tù nầy ở trong các miền xa lạ, nơi mà họ không còn thấy quê hương thân thuộc, những hình ảnh gợi lòng ái quốc, họ bị ở dưới quyền của chính phủ trung ương. Sự đày đi làm phu tù là cách cuối cùng, bất đắc dĩ phải dùng đến khi không còn cách nào khác. Thông thường nước mạnh hơn hay đánh thuế nước yếu. Nếu nước yếu cầm lại không chịu nộp thuế thì bị coi là bội nghịch, và bị hình phạt bởi một cuộc xâm lấn và cướp bóc xứ. Những cách đối phó gay go đó nếu vô hiệu mới dùng đến sự đày đi.

Có hai sự bắt phu tù chính được chép trong Kinh Thánh:

I. Sự bắt mười chi phái Y-sơ-ra-ên làm phu tù.– Theo những điều ghi trên tháp đen (Black obelisque) đài kỷ niệm của A-sy-ri. Rất sớm vào năm 842 T.C., Giê-hu nộp thuế cho Sanh-ma-na-se, vua A-sy-ri. Chừng 803 T.C., Rammannirari thuật lại có nhận thuế của người Y-sơ-ra-ên nộp. Phun, vua A-sy-ri có nhận tiền của Mê-na-hem là vua của Y-sơ-ra-ên nộp, để nhờ vua nầy làm cho nước được vững vàng (IICác 15:1- 19, 20). Song chỉ đến đời Tiếc-la-Phi-lê-se 745-727 T.C., người A-sy-ri mới khởi sự bắt hết dân cư ở trong xứ của mười chi phái, tức nước Y-sơ-ra-ên đi làm phu tù. Trong đời Phê-ca, vua A-sy-ri nầy chiếm những thành ở Nép-ta-li, và đem dân cư sang A-sy-ri (IICác 15:29). Vua cũng trải qua khắp xứ bên Đông sông Giô-đanh và bắt các chi phái Ru-bên, Gát, nửa chi phái Ma-na-se sang làm phu tù tại Mê-sô-bô-ta-mi (ISử 5:26). Cũng bởi vua nầy hiệp ý nên Phê-ca cuối cùng bị giết và Ô-sê lên ngôi. Sanh-ma-na-se kế vị Tiếc-la-Phi-lê-se mà vây thành Sa-ma-ri; thành bị chiếm năm vua Sa-gôn lên ngôi; 722 T.C. và số đông dân Y-sơ-ra-ên bị đem sang xứ Mê-sô-bô-ta-mi, và Mê-đi (IICác 17:5, 6), còn dân sót lại phải nộp thuế. Dân Y-sơ-ra-ên sót lại nầy liên kết với Ha-mát và Đa-mách, thử gở mình thoát ách người A-sy-ri, song Sa-gôn vua A-sy-ri chà nát những kẻ bội nghịch, và bắt đầu đem những người ngoại bang vào xứ Sa-ma-ri, một phương pháp mà những vua kế tiếp cũng làm theo cho đến khi có một dân mới khác giống ngụ trong xứ trước của mười chi phái. Cuối cùng, có một số ít người Y-sơ-ra-ên trở về Giê-ru-sa-lem (Lu 2:36), song phần nhiều ở lại những xứ họ đã bị đem đến, vẫn còn giữ sự phân biệt của nòi giống, cứ giữ những lễ nghi tôn giáo, và thỉnh thoảng lên Giê-ru-sa-lem (Công 2:9; 26:7).

II. Sự bắt dân Do-thái làm phu tù.– San-chê-ríp vua A-sy-ri đã thuật lại rằng mình đem 200.000 phu tù dời khỏi xứ Giu-đa (so IICác 18:13), song bởi sự bắt người Giu-đa làm phu tù có ý là bị đày sang xứ Ba-by-lôn. Sự phu tù của Giu-đa đã có dự ngôn một thế kỷ rưỡi trước khi xảy ra (Ês 6:11, 12; 11:12), và Ba-by-lôn là nơi nói trước bởi Mi-chê (4:10), và Ê-sai (11:11; 39:6). Tiên tri Giê-rê-mi báo trước dân Giu-đa sẽ phục sự vua Ba-by-lôn trong 70 năm (Giê 25:1, 11, 12). Ấy là Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-bi-lôn làm ứng nghiệm lời đó. Năm 605 T.C., năm thứ III hay thứ IV đời Giê-hô-gia-kim, tùy theo lối tính, thì Nê-bu-cát-nết-sa đến thành Giê-ru-sa-lem, lấy các khí dụng ở Đền thờ sang Ba-by-lôn, và bắt một số người trong hoàng tộc làm phu tù (IISử 36:2-7; Đa 1:1-3). Bảy năm sau, Nê-bu-cát-nết-sa lại đem Giê-hô-gia-kim, mẹ và các vợ người, các quan tướng, 7.000 người mạnh dạn và 1.000 thợ (IICác 24:15, 16) đến Ba-by-lôn. Mười một năm sau, đạo binh người thiêu hủy Đền thờ, hủy phá Giê-ru-sa-lem, đem phần sót lại của dân sự đi, chỉ để lại những người nghèo nhứt trong xứ làm người trồng nho và cày cấy (IICác 25:2-21). Năm năm sau khi phá thành Giê-ru-sa-lem cũng đem một phần dân Do-thái nữa sang Ba-by-lôn (Giê 52:30).

Trong khi bị lưu đày, người Do-thái cũng được nhiều đặc ân. Người Do-thái được phép xây nhà mà ở, nuôi tôi tớ, và buôn bán (Giê 29:5-7; Exơ 2:65), và không có gì ngăn trở họ tới địa vị cao nhứt trong chính phủ của Ba-bi-lôn (Đa 2:48; Nê 1:11). Các thầy tế lễ và các giáo sư cũng ở với họ (Giê 29:1; Exơ 1:5), và họ được dạy dỗ và giục lòng bởi Ê-xê-chi-ên (1:1). Năm 539 T.C., Đa-ni-ên bởi các sách hiểu biết cuộc phu tù 70 năm, và kỳ gần mãn, bắt đầu cầu nguyện xin Đức Chúa Trời phục lại quyền Ngài cho dân sự (Đa 9:2). Năm 538 T.C., vua Si-ru ra chiếu chỉ cho phép người Do-thái trở về xứ của Tổ phụ họ và xây lại Đền thờ (Exơ 1:1-4). Chừng 43.000 người nhân dịp trở về (Exơ 2:64). Dầu vậy, có nhiều người bằng lòng ở lại xứ Ba-by-lôn và Đông phương cùng với người Y-sơ-ra-ên ở Mê-sô-bô-ta-mi và Mê-đi lập thành một dân mới gọi là Diaspora (dân Do-thái lưu lạc ngoài xứ Phê-lê-tin).

Lời chú thích của William Smith về mười chi phái Y-sơ-ra-ên:

Có nhiều người cho rằng mười chi phái Y-sơ-ra-ên sau thời kỳ phu tù chỉ còn như một đoàn thể riêng sống chung với nhau. Dầu lịch sử không làm chứng về họ như thế, song ta cũng có thể theo dấu chân của nòi giống nầy sau kỳ làm phu tù mà xét thấy: 1) Số ít trở về và ở lẫn lộn với người Do-thái (Lu 2:36; Phil 3:5. v.v.). 2) Ít người còn ở lại Sa-ma-ri, lẫn lộn với người Sa-ma-ri (Exơ 6:21; Giăng 4:12) và trở nên những kẻ thù cay đắng của người Do-thái. 3) Nhiều người ở lại A-sy-ri và được công nhận là một phần hoàn toàn của Dân Tản lạc (xem Công 2:9; 26:7). 4) Phần lớn còn lại ở A-sy-ri có lẽ đã bội đạo theo thói tục và sự thờ tượng của các dân nơi họ sống, và hoàn toàn bị các dân đó nuốt mất.

Lên đầu trang