Ống sáo Flutes. Pipe, Fl#te.
Tiếng Hê-bơ-rơ là châl#l, từ một căn nguyên có nghĩa là “đục thủng, làm một lỗ”; Kinh Thánh quốc văn dịch đúng là “sáo” (ICác 1:40). Ấy là một nhạc khí đơn sơ nhất, và bởi đó có lẽ cổ. Âm thanh phát ra từ trống cơm và sáo khiến người nghe cảm thấy vui vẻ, bình an. Ống sáo và trống cơm dùng trong bữa tiệc của người Hê-bơ-rơ (Ês 5:12), và hòa theo cuộc thờ phượng đơn sơ, khi các tiên tri trẻ, từ nơi cao xuống, nhơn sự hòa nhạc mà được soi dẫn (ISa 10:5). Những người từ xa đến thành Giê-ru-sa-lem giữ những lễ trọng, có thể quên những sự mệt mỏi đường trường, khi hát các Thi-thiên theo tiếng sáo (Ês 30:29). Tiếng sáo lên cao và buồn, nên hiệp với sự rầu buồn và tang chế (Mat 9:23), và trong bài ca thương của tiên tri Giê-rê-mi về sự hủy diệt Mô-áp (Giê 48:36). Sáo cũng dùng trong ban ca hát tại Đền thờ, như Thi 87:7 chép “những kẻ nhảy múa” thật đúng là “người thổi sáo”. Theo sách Mishna, một năm có 12 ngày thổi sáo trước bàn thờ. Sáo làm bằng sậy, không phải bằng đồng, để tiếng cao hơn. Sáo một ống thì cầm dọc, kề miệng vào một đầu mà thổi. Sáo hai ống thì thổi cả hai tay một lúc, và vừa bấm vừa thổi, mỗi ống sáo đếm được ba hay bốn lỗ. Vào đời Đấng Christ, trong đám tang hoặc bên giường người chết bao giờ cũng có các thầy phường nhạc thổi sáo (Mat 9:23). Hiện nay, tục lệ đó vẫn còn.