Nho Vineyard. Vigne.
Đời xưa, khắp xứ Pha-lê-tin đều có nho vì đất và khí hậu rất thích hợp cho sự trồng nho. Lần thứ nhứt Kinh Thánh chép đến cây nho là Sáng 9:20; song trong xứ Ca-na-an nho được trồng từ đời Mên-chi-xê-đéc (Sáng 14:18). Xứ Ai-cập cũng trồng nhiều như có vẽ trên các đài kỷ niệm, cả Kinh Thánh cũng nói đến (Sáng 40:9-11; Thi 78:47). Cây nho trong xứ Pha-lê-tin mọc lên rất đẹp lại có những chùm sai trái như ở Ếch-côn (Dân 13:23, 24; 32:9). Síp-ma, Hết-bôn, Ê-lê-a-lê, bên kia sông Giô-đanh, (Ês 16:8, 9, 10; Giê 48:32), Ên-ghê-đi trong trũng Biển Chết (Nhã 1:14), trên núi Li-ban (Ôs 14:7) đều nổi tiếng về sự trồng cây nho. Khi dân Y-sơ-ra-ên vào xứ Ca-na-an, trồng nhiều nho sai trái thì dân được no ấm, an ổn (Lê 26:5), nếu ít trái thì biết là Chúa giáng tai nạn và cơn thạnh nộ Ngài để hình phạt (Thi 78:47; Giê 8:13; Giôên 1:7), có thể coi là sự thử rèn đức tin trong Ngài (Ha 3:17-18). Vậy nên, Kinh Thánh dùng nho làm ví dụ về sự bình an và thạnh vượng của quốc dân (ICác 4:25; Mi 4:4; Xa 3:10).
Theo luật pháp Môi-se, hễ trồng nho nên coi trái đầu mùa là không sạch, không nên ăn, đến năm thứ năm mới ăn (Lê 19:23-25). Năm Sa-bát thì không tỉa sửa và hái nho, để dành cho người nghèo khó, khách lạ, kẻ côi cút và người góa bụa (Xuất 23:11; Lê 19:10; 25:4, 5, 11; Phục 24:21; Quan 8:2; Ês 17:6; 24:13; Giê 49:9; Mi 1:7). Vào vườn nho của người khác, có thể hái ăn tùy ý, song không được chứa vào giỏ mà đem đi (Phục 23:24). Người ta hưởng trái nho như sự ban cho rất quí của Đức Chúa Trời, song phàm kẻ hứa nguyện làm người Na-xi-rê thì “chớ ăn món chi của nho sanh sản hết” (Dân 6:4; Quan 13:14).
Mùa nho chín là vào khoảng tháng tám, tháng chín tây, người ta bỏ nhà rủ nhau ra vườn hái nho, ca hát vui vẻ; lúc đó họ ở lều và trại (Quan 9:27; Giê 25:30; Ês 16:10). Nho hoặc ăn tươi thì để vào giỏ, hoặc phơi khô làm bánh (ISa 25:18; IISa 6:19; 16:1; Ôs 3:1), hoặc ép nước chế rượu và làm đồ gia vị nữa (Phục 32:14; Ês 5:2; 16:10; 63:3; Giê 25:30).
Vườn nho thường ở trên núi (Ês 5:1; Giê 31:5, Am 9:13). Người Hê-bơ-rơ xưa để cây nho bò trên đất hoặc có đóng những cột chống đỡ (xem Êxê 19:11, 12). Xung quanh thường có tường hoặc hàng rào bao bọc để ngăn trở heo rừng (Thi 80:13), hoặc muông sói (Dân 22:24; Nhã 2:15; Nê 2:15; Nê 4:3; Êxê 13:4, 5; Mat 21:33) phá hại. Cũng có một tháp cao để người canh giữ vườn có thể nhìn thấy rất xa. Mỗi vườn nho xưa thường có bàn ép và thùng đựng nước nho sâu chừng 90 cm, được đào hoặc đẽo trong nơi đất đá (Mat 21:33).
Đức Chúa Trời dùng cây nho ví với dân Y-sơ-ra-ên (Ês 5:1-5) đem từ xứ Ai-cập về (Thi 80:8; Êxê 15:2, 6; 17:6; Giê 2:21; 12:10); còn dân sự loạn nghịch trong Y-sơ-ra-ên ví với “nho hoang”, hoặc cây nho đưng trái (Ês 5:2, 4; Ôs 10:1; Giê 2:21). Kinh Thánh cũng thường dùng cây nho trong nghĩa bóng: trồng nho và ăn trái chỉ về sự kiều ngụ lâu dài (IICác 19:29; Thi 107:37; Ês 37:30; 65:21; Giê 31:5; Êxê 28:26; Am 9:14), ngược lại không trồng nho tức là một dấu chỉ về ý tránh sự kiều ngụ lâu dài (Giê 35:7). Trồng nho mà không có trái ăn là một sự tai hại (Phục 20:6 so ICôr 9:7) và là một dấu tỏ Đức Chúa Trời không đẹp lòng (Phục 28:30; Sô 1:13; Am 5:11). Một người vợ đức hạnh ví với một cây nho (Thi 128:3). Giô-sép là “chồi cây xanh tươi… nhành nhánh phủ bao trên ngọn tường” (Sáng 49:22). Còn Phục 32:32 nói về trái nho độc và chùm nho đắng có thể mang một ý khác, vì chỗ đất đó không hề có trồng nho ấy. Kinh Thánh cũng nói về quyền phép của Đấng Mê-si, chỉ Ngài một mình đạp bàn ép rượu, trong vòng các dân chẳng từng có ai sánh với Ngài (Ês 63:1-3; Khải 19:15).
Chúa Jêsus cũng ví sánh cây nho với Ngài (Giăng 15:1-6), sánh vườn nho với Hội Thánh (Mat 20:1; 21:33). Ngài lấy những sự buồn rầu mà tỉa sửa để được sai trái hơn. Những nhánh nho đâm ra, đến khoảng tháng tư tây, mà không sanh trái thì bị tỉa cùng với những nhánh khô (Lê 25:3, 4; Ês 5:6). Chừng tháng năm tây, lại cắt những nhánh không sanh trái, và cuối cùng liệng vào lửa (Giăng 15:6). Khi đặt Tiệc Thánh, Chúa Jêsus phán cùng môn đồ rằng: “Từ rày về sau ta không uống trái nho nầy nữa” (Mat 26:29).