Nhảy múa Dance. Danse.
Nhảy múa là tỏ ý vui mừng. Kinh Thánh nhiều lần nói đến điều này (ISa 18:6; 21:11; 29:5; Thi 30:11; Truyền 3:4; Gióp 21:11; Mat 11:17; Lu 15:25). Người Y-sơ-ra-ên cho nhảy múa là nghi lễ thờ phượng Đức Chúa Trời (Xuất 15:20; 32:18, 19; Quan 21:21; Thi 149:3). Kẻ thờ lạy hình tượng cũng dùng sự nhảy múa (Xuất 32:19; ICác 18:26). Lễ cho Đức Giê-hô-va mà Môi-se muốn giữ khi tâu cùng Pha-ra-ôn chắc là sự nhảy múa. Giữa vòng người Hê-bơ-rơ, phụ nữ cho nhảy múa là cách đặc biệt để tỏ cảm giác vui mừng mà chúc tụng cho chồng hoặc bạn hữu khi thắng trận khải hoàn. Gặp cơ hội đó, phụ nữ nào là bà con gần nhứt của lực sĩ thì có phận sự phải dẫn đầu cuộc nhảy múa để hoan nghinh kẻ thắng trận (Xuất 15:20; Quan 11:34). Khi Đa-vít thỉnh hòm giao ước về Giê-ru-sa-lem, chính vua dẫn đầu cuộc nhảy múa (IISa 6:5-22); và tại đây, các phụ nữ tay cầm trống cơm (câu 5, 19, 20, 22), dự phần quan trọng. Thi 68:25; 149:3; 150:4 nói đến con gái trẻ đánh trống cơm mà nhảy múa, chắc Đa-vít đã tổ chức một ban như thế trong cuộc thờ phượng. Trước kia, vào đời Các quan xét, có cuộc nhảy múa của gái đồng trinh tại Si-lô (Quan 21:19-23), như là một phần trong cuộc thờ phượng. Ngoài ra, cũng còn có các cuộc nhảy múa chơi giải trí (Giê 31:4, 13; Ca 5:15; Mác 6:22). Nên chú ý: Trong Kinh Thánh dường như phụ nữ nhảy múa riêng với nhau, còn người nam cũng vậy. Song Kinh Thánh chẳng hề nói đến những lối khiêu vũ ngày nay. Dẫu Kinh Thánh không cấm nhảy múa, song dùng phải hợp lẽ. Nếu say rượu, đánh bạc mà còn nhảy múa thì càng dễ làm cho tánh nết hư hỏng (Mat 14:6; ISa 30:16).