Ngũ kinh Pentateuch. Pentateuque.
Tên Hy-lạp Pentateuchus đặt cho năm sách thường gọi là “Năm sách Môi-se”. Trong đời E-xơ-ra và Nê-hê-mi gọi là “luật pháp của Môi-se ” (Exơ 7:6); hoặc “Sách của luật pháp Môi-se” (Nê 8:1); hoặc “Sách của Môi-se” (Exơ 6:18; Nê 13:1; IISử 25:4; 35:12). Ấy là Ngũ kinh ta hiện có. Cuốn sách này được tìm ra trong đời vua Giô-si-a tại Đền thờ, gọi là “Sách luật pháp của Đức Giê-hô-va truyền lại bởi Môi-se” (IISử ký 34:14), chính là Ngũ kinh đó, dầu sau đó có lẽ E-xơ-ra có kiểm lại. Ngày nay, người Do-thái vẫn còn gọi toàn bộ bằng tên Torah tức “Luật pháp”, hay Torath Mosheh tức “Luật pháp của Môi-se”. Trong Lu 24:27, Chúa Jêsus “bắt đầu từ Môi-se”, tức chỉ về Ngũ kinh.
I. Cách chia làm năm sách.– Dường như các dịch giả bảng Septante là người chia toàn bộ làm năm quyển, những nhan đề của năm sách đó không phải từ tiếng Hê-bơ-rơ song từ tiếng Hy-lạp. Người Hê-bơ-rơ chỉ lấy chữ đứng đầu mỗi sách mà đặt làm nhan đề; nhưng lần đầu chỉ chia một vài phần của sách, chớ không phải chia cả sách làm năm phần ngay. Bản Ngũ kinh chép tay được viết thành một sách song cuốn tròn, và chia ra không phải thành sách song thành những đại đoạn lớn và nhỏ gọi là Parshiyoth và Sedarim. Người Hê-bơ-rơ chia những giới răn làm 248 điều nên làm, và 365 điều không nên, số 248 các thầy Rabbins dành cho các phần của thân thể, và 365 là số ngày trong một năm. Để dễ nhớ nhớ, họ mang theo một miếng vải vuông có tua (tzitzith) tức 600 bằng tiếng Hê-bơ-rơ bằng 8 sợi và 5 nút, cộng 613 tất cả.
Có người cho là các Thi-thiên được chia làm năm quyển cũng là lấy mẫu từ cách chia Luật pháp Môi-se. Bằng chứng là họ đã tìm thấy sự sắp đặt một thiên đứng đầu mỗi quyển có tài liệu trùng khớp với các sách trong Ngũ kinh. Ví dụ như Thi 1:1- ví người công bình như cây trồng gần dòng nước, ấy nhắc lại vườn Ê-đen trong sách thứ nhứt của Ngũ kinh; Thi 42:1- là tiếng kêu của người khốn khổ, sờn ngã v.v…, nhắc lại tiếng kêu của Y-sơ-ra-ên tại Ai-cập được Chúa nghe và giải cứu như chép trong Xuất Ê-díp-tô ký; Thi 73:1- tả sự nghi ngờ của người biến mất trước sự công bình của Đức Chúa Trời, phản chiếu lòng biết ơn người về Luật lệ lập trong sách Lê-vi ký; Thi 90:1- là bài cầu nguyện của Môi-se xin Chúa dạy “biết đếm ngày của chúng tôi”, hiệp với Dân số ký; Thi 107:1- chép về sự thiện của Chúa trong những ngày khổ nạn, bởi thế giống Phục truyền luật lệ ký ôn lại những sự nhơn từ của Đức Chúa Trời đối với Y-sơ-ra-ên. Dầu vậy, nếu thật chia các Thi-thiên làm năm quyển theo Ngũ kinh như thế, thì thật khó hiểu vì sao lại không chọn Thi 8:1- đứng đầu quyển nhứt; Thi 66:1- đứng đầu quyển nhì; và Thi 86:1- đứng đầu quyển ba.
Xem các bài Sáng thế ký, Xuất Ê-díp-tô ký, Lê-vi ký, Dân số ký, Phục truyền luật lệ ký.
II. Bằng cớ công nhận sách Ngũ kinh là do Môi se chép.– Sau trận đánh A-ma-léc, “Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy chép điều nầy trong sách làm kỷ niệm” (Xuất 17:14). Chứng tỏ trong quyển sách ấy có ghi lại mọi biến cố quan trọng, ngoài ra còn chép: “Môi-se chép mọi lời của Đức Giê-hô-va” (24:4; 34:27, v.v…). Trong Dân 33:2 thấy Môi-se vâng mạng Đức Giê-hô-va mà “chép cuộc hành trình của dân chúng, tùy theo các nơi đóng trại”. Phục 31:9-11 chép: “Môi-se chép luật nầy, giao cho những thầy tế lễ… cuối bảy năm… phải đọc luật nầy trước cả Y-sơ-ra-ên”. Còn câu 24 thì chép: “Môi-se chép những lời luật pháp nầy trong một cuốn sách xong rồi”, (tức cả Ngũ kinh và truyền người Lê-vi: “Hãy lấy cuốn sách luật pháp nầy để bên hòm giao ước của Đức Giê-hô-va… ở đó làm chứng nghịch cùng ngươi”, mà người ta đã thấy thực hiện trong đời Giô-si-a. Nên chú ý, trong hòm giao ước có hai bảng đá mười điều răn (ICác 8:9); song quyển sách luật pháp tức Ngũ kinh thì để trong nơi chí thánh gần hòm giao ước (IICác 22:8, 13, 19). Sách luật pháp Môi-se chép mà giao lại cho các thầy tế lễ, thì đến Phục 31:23 là hết; phần sách Phục truyền luật lệ ký còn lại, trừ bài ca và bài chúc phước của Môi-se chép (32:1–33:1-) chắc là phần người khác thêm vào.
Môi-se nói về “luật nầy” và “sách luật nầy” như là một sách riêng đã chép cho dân sự mình (Phục 28:61; 29:19, 20, 29). Có khi Môi-se cũng dùng ngôi thứ ba chỉ về mình, như Giăng trong Tân Ước. Có lẽ Môi-se đọc phần lớn cho Giô-suê hay một thầy khác biên chép, và rồi sau người đó thêm truyện về Môi-se qua đời với một vài câu giải nghĩa nữa. Có lẽ E-xơ-ra lúc soát lại cũng cho vào một vài giải nghĩa cho mấy điều dường như xảy ra sau khi Môi-se qua đời. Có lẽ Môi-se dùng những chứng cớ chép bởi các tổ phụ, tức là những gia phổ cho vào Sáng thế ký, được truyền lại bởi Sem và Áp-ra-ham cho Giô-sép và Y-sơ-ra-ên tại xứ Ai-cập.
III. Cựu Ước công nhận luật pháp của Môi-se.– Từ sách Giô-suê trở đi, các sách Cựu Ước chứa đầy lời trưng dẫn của Luật pháp và lịch sử chép trong Ngũ kinh của Môi-se, và ai nấy mặc nhiên công nhận như thế. Ví dụ như “Hãy cẩn thận làm theo hết thảy luật pháp mà Môi-se, tôi tớ ta, đã truyền cho”, phải “đọc hết”…, “như đã chép trong sách Luật pháp Môi-se” (Giô 1:7, 8; 8:31, 34; 23:6). Giô 1:3-8, 13-18 trưng dẫn Phục 11:24, 25; 31:6, 12 và 3:18-20; Dân 32:20, 28. Điều lệ dân Y-sơ-ra-ên về tôn giáo và quốc gia hiệp với luật Môi-se. Ngoài ra, tất cả những điều sau đều đúng với luật pháp Môi-se như: Chức tế lễ giữ trong chi họ A-rôn (Giô 14:1). Con A-rôn kế chức cha và với Giô-suê cùng chia xứ (21:1) như Dân 34:17 truyền; người Lê-vi hành chức giữa các chi phái và có 48 thành như Môi-se truyền (Dân 35:7). Đền tạm của Môi-se lập tại Si-lô (Giô 18:1). Các của lễ (8:31; 22:23, 27, 29) như Lê 1:1-, 2:1-, 3:1-; Bàn thờ được lập “như Môi-se … dặn biểu… trong sách luật pháp Môi-se” (Giô 8:30, 31; Xuất 20:25). Về hòm giao ước (Giô 3:3, 6, 8; 7:6); phép cắt bì (5:2); Lễ Vượt qua (5:10) cũng theo Ngũ kinh. Về sự nhóm hội chúng và các quan trưởng (9:18-21; 20:6, 9; 22:30; Xuất 16:22); trưởng lão Y-sơ-ra-ên (Giô 7:6; Phục 31:9); trưởng lão của thành (Giô 20:4, Phục 25:8); quan xét và quan cai (8:33; Phục 16:18); phải hạ thây xuống khỏi cây (Giô 8:29; 10:27; Phục 21:23); không được đồng minh với Ca-na-an (Giô 9:1-; Xuất 23:32); các thành ẩn náu (Giô 20:1-; Dân 35:11-15; Phục 4:41-43; 19:2-7); vì không có con trai, Xê-lô-phát chết thì các con gái hưởng gia tài (Giô 17:3; Dân 27:1-; 36:1-;), đều cũng theo luật Môi-se vậy.
Sách Các-quan-xét cũng chỉ về luật pháp Môi-se (2:1-3, 12, 20; 6:8-10; 20:2, 6, 13; Phục 13:6, 12-14; Phục 22:21). Luật thờ phượng và lễ nghi trong sách nầy vẫn theo Ngũ kinh. Cũng nói đến lịch sử trong Ngũ kinh (1:16, 20, 23; 2:1, 10; 6:13), và Các-quan-xét 11:15-27 tóm tắt cả Dân 20:1-; 21:1-; Phục 2:1-8, 26-34; và so lời chép 2:1-23 với Xuất 34:13; Lê 26:1-; Phục 7:2, 8; 12:3; 28:1-; lại so Các-quan-xét 5:4, 5 với Phục 33:2; 32:16, 17).
Ngũ kinh Môi-se là nền tảng của hai sách Sa-mu-ên; như Hê-li từ dòng A-rôn, làm thầy cả thượng phẩm tại Si-lô, đúng với Dân 25:10-13. Đèn của Đức Chúa Trời chép ở ISa 3:3 “chưa tắt” theo Xuất 27:20, 21; Lê 24:2, 3, và hòm giao ước còn ở trong Hội mạc chỉ bóng về sự hiện diện Ngài (ISa 4:3, 4; 5:3-7; 6:19) giữa các chê-ru-bin. Cũng nói đến bàn thờ, hương liệu, ê-phót, các của lễ, những tư cách các thầy tế lễ, chỉ người Lê-vi có quyền chuyển vận khí dụng thánh và hòm giao ước, v.v… như chép trong Dân số ký, Lê-vi ký, và Phục truyền luật lệ ký. Hai sách Sa-mu-ên cũng trưng dẫn nhiều truyện trong lịch sử Ngũ kinh. Sa-mu-ên cải chính làm cho mọi điều lệ trong tôn giáo và quốc gia cũng phải hiệp với Ngũ kinh. Ấy tỏ ra Sa-mu-ên biết và nhờ những điều lệ đã chép trước rồi.
Các Thi-thiên của Đa-vít nói về Ngũ kinh và trưng dẫn lời Ngũ kinh cũng nhiều. Lúc qua đời Đa-vít truyền lịnh cho Sa-lô-môn: “Hãy giữ điều… như đã chép trong luật pháp của Môi-se” (ICác 2:3). Qua đó, ta có thể biết Ngũ kinh chắc đã có trước khi lập ngôi nước.
Sa-lô-môn trong sách Châm Ngôn cũng nhờ Ngũ kinh nhiều, như 3:9, 18; Xuất 22:29; Sáng 2:9; Châm 10:18; Dân 13:32; 14:36; Châm 11:1; 20:10, 23; Lê 19:35, 36; Phục 25:13. Châm 11:13; Lê 19:16. Đền thờ Sa-lô-môn xây dựng, kích thước đo gấp hai Hội mạc (ICác 6:1). Chắc Môi-se chép Ngũ kinh trước khi nước của Sa-lô-môn chia làm hai, vì cả hai đều nói đến. Giô-sa-phát, vua Giu-đa, dùng “sách luật pháp… dạy dỗ dân sự” (IISử 17:9). Giô-ách cầm trong tay lúc lên ngôi (IICác 11:12). Vua Ô-xia vì xông hương trái với luật pháp bị phạt bịnh phung (IISử 26:16-21; Dân 16:1). Vua Ê-xê-chia giữ điều răn mà Ngài truyền Môi-se (IICác 18:4, 6), và phá con rắn bằng đồng từ đời Môi-se vì dân sự dùng cách sai lầm. Giê-rô-bô-am, vua Y-sơ-ra-ên dựng tượng bò con vàng và trưng dẫn Xuất 32:28 (ICác 12:28), và lập tại Bê-tên là nơi Chúa hiện đến cùng Gia-cốp. Ngày lễ tháng tám bắt chước ngày lễ Lều tạm trong tháng bảy (ICác 12:32, 33) để ngăn trở dân lên Giê-ru-sa-lem đặng làm lễ (câu 27); song người Lê-vi cứ trung tín, nên Giê-rô-bô-am lấy người hạ lưu làm thầy tế lễ. Trong I và IICác chỉ về Ngũ kinh nhiều. (ICác 21:3 so Lê 25:23; Dân 36:8; ICác 21:10 so Dân 35:30; 22:17; 27:17. IICác 3:20 so Xuất 29:38, v.v… IICác 4:1 so Lê 25:39. IICác 6:18 so Sáng 19:11. IICác 7:3 so Lê 13:46).
Trong Ês 5:24; 29:12; 30:9; Ôs 4:6; 2:15; 6:7; 12:3, 4; 11:1; 8:1, 12; Am 2:4, chỉ về luật pháp như là sách sử ký (Sáng 25:26; 28:11; 32:24; Am 2:10 so Sáng 15:16; Am 3:1, 14 so Xuất 27:2; 30:10; Lê 4:7; Am 2:11, 12 so Dân 6:1-21; Am 3:4, 5 so Dân 28:3, 4; Phục 14:28; Lê 2:11; 7:12, 13; 22:18-21; Phục 12:6). Chắc “luật pháp” trong A-mốt cũng như ngày nay gọi là Ngũ kinh. Mi 7:14 nói đến Sáng 3:14, và Mi 7:20 nói đến lời hứa cho Áp-ra-ham và Gia-cốp; 6:4, 5 nói đến Môi-se, A-rôn, Mi-ri-am, v.v…
Trong đời vua Giô-si-a, dân sự giữ ngày lễ Vượt qua “y như lời của Đức Giê-hô-va cậy Môi-se phán” (IISử 35:1, 6; IICác 23:1-). Các chức tế lễ và các của lễ, v.v… cũng thế. Dường như đã lâu không giữ lễ Vượt qua cách trọng thể như vậy. Xem bài Giô-si-a. Khi thầy tế lễ Hinh-kia tìm được cuốn sách luật pháp… truyền lại bởi Môi-se, Giô-si-a cảm động lắm, ấy vì trong đời Ma-na-se trị vì đã bỏ qua, dầu Môi-se vốn dạy phải để sách thánh bên cạnh hòm thánh (Phục 31:26). Dầu đã qua bảy thế kỷ từ khi Môi-se chép, nhưng vẫn có thể đọc được; ngày nay các nhà bảo tàng còn lưu những bản viết hơn ba mươi thế kỷ trước. Hinh-kia, thầy thông giáo, thầy tế lễ, người Lê-vi, các trưởng lão và nữ tiên tri Hun-đa đều công nhận (IICác 22:8-14; 23:1-4) thật là luật pháp của Môi-se.
Giê-rê-mi bắt đầu nói tiên tri trong năm XIII đời trị vì của Giô-si-a và trong sách mà ông chép trưng dẫn nhiều tiếng có trong sách Phục truyền luật lệ ký đến nỗi có vài người ngờ Giê-rê-mi chép sách đó! Giê 2:1-8:17 có chép trước Hinh-kia tìm luật pháp. Trong 2:8; 8:8, Giê-rê-mi nói đến luật pháp, song người ta không biết Ngài mà nhơn danh Ba-anh nói tiên tri. Nên so 2:6 với Phục 8:15; Dân 14:7, 8; 35:33, 34; Lê 18:25-28; và so Giê 4:4 “Hãy tự cắt bì mình cho Đức Giê-hô-va và cắt dương bì khỏi lòng ngươi” với Phục 32:37, 38; 4:4; 10:16; 30:6, và so Giê 5:15 với Phục 28:31, 49.
Êxê 22:7-12 trưng dẫn 29 lần từ tiếng, Hê-bơ-rơ trong Xuất Ê-díp-tô ký, Lê-vi ký, Phục truyền luật lệ ký. Trong 22:26 bốn lần; Lê 10:10; 22:2; 20:25; Xuất 31:13. Trong 16:1-, 18:1-; tả vẽ lòng yêu thương và nhịn nhục của Chúa đối với Y-sơ-ra-ên như chép trong Ngũ kinh.
Khi từ Ba-by-lôn về, E-xơ-ra đọc sách luật pháp của Môi-se trong ngày lễ Lều tạm như Phục 31:10-13 khuyên: “Trước mặt hội chúng, người nam và nữ, cùng những người có thông sáng nghe hiểu được” (Nê 8:3). Dân sự chịu nghe đến nỗi bằng lòng bỏ vợ ngoại (Exơ 10:1-), đây là chứng cớ rất rõ chứng tỏ dân sự đều công nhận thật là luật pháp Môi-se. E-xơ-ra cũng giải nghĩa rõ ràng từng điều luật cho các thanh niên không hiểu vì trong khi bị đày không quen dùng tiếng mình (Nê 8:8). E-xơ-ra cũng sắp đặt các sách cổ nhứt của Cựu Ước, và ông cùng với Ma-la-chi quyết định những sách đáng công nhận chọn vào Cựu Ước, lại đổi những chữ Hê-bơ-rơ và Sa-ma-ri ra lối viết tiếng Canh-đê vuông như hiện nay.
IV. Tân Ước công nhận luật pháp của Môi-se.– Chúa Jesus và các Sứ đồ Ngài trong Tân Ước trưng dẫn Ngũ kinh như là có quyền của Đức Chúa Trời và chép bởi Môi-se (Mat 19:4, 5, 7, 8; 4:4, 7, 10; 15:1-9; Mác 10:5, 8; 12:26; Lu 16:29, 31; 20:28, 37; 24:27, 44, 45; Giăng 1:17; 5:45, 46; 8:5; Công 3:22; 8:37; 26:22). Dầu hai điểm khởi đầu của thời đại luật pháp và thời đại ân điển cách nhau độ 1500 năm, nhưng mỗi thời đại có phép lạ với lời tiên tri riêng được ứng nghiệm bởi đó làm chứng cả hai là thật, nên chắc không thể coi là giả mạo. Vì người Do-thái nóng lòng đến cùng Chúa Jêsus, xin thấy một “phép lạ”, ấy tỏ ra họ biết rõ những phép lạ trước làm trong thời đại luật pháp là thật (Giăng 6:30).
Trong các thơ tín những Sứ đồ nói đến luật pháp Môi-se nhiều, như: Phao-lô trong Rô 10:5; IICôr 3:15; cũng xem Rô 1:12-15; ICôr 9:9; 14:21; Ca 3:11; Phil 3:5, v.v…; IIPhi 1:16 trưng dẫn Lê 11:44; 19:2; 20:7; IGiăng 3:4; Gia 2:8, 9, 10, 11; 4:11; Khải 15:3; cũng xem Hêb 9:19; 10:1, 28, 10, 30. Cũng có nhiều chỗ khác nói về luật pháp.
V. Chứng cớ ngoài công nhận luật pháp Môi-se– Sự xuất hiện Ngũ kinh riêng của người Sa-ma-ri là một chứng cớ chắc chắn chứng tỏ Ngũ kinh Môi-se có ngày nay chính là ngũ kinh mà dân Y-sơ-ra-ên xưa đã dùng; có lẽ dân Sa-ma-ri và dân Do-thái ngày xưa đối địch đến nỗi không thể nào hiệp với nhau được. Vì cấm lấy vợ ngoại và lập nơi thờ riêng, dân Sa-ma-ri chẳng hề chịu Ngũ kinh Môi-se để lập Ngũ kinh riêng mình miễn là không tin là thật và có phép Ngài. Vậy, từ đời E-xơ-ra trở đi, vẫn có lời chứng nầy. Xem bài Ngũ kinh, Sa-ma-ri. Theo sách I Macchabées 1:1- (Apocryphe), Antiochus Épiphanes hết sức phản đối luật pháp Môi-se.
Theo các nhà khảo cứu Kinh Thánh, trước giả Ngũ kinh phải là người như Môi-se, vì ông là người có học thức rộng, lại còn nắm rõ thói quen, phong tục và tôn giáo ở xứ Ai-cập. Mười tai vạ là những điều thường thấy trong Ai-cập nhưng bởi Chúa truyền cho Môi-se làm phép lạ thì những tai vạ ấy trở nên nặng nề gấp bội. Trên các đài kỷ niệm xưa của Ai-cập nhiều lần tả vẽ cảnh những phu tù đang làm gạch (Xuất 1:14; 5:7, 8, 18). Cái rương mây của Môi-se chỉ hợp với Ai-cập thôi (Xuất 2:3); vì theo Plutarque và Hérodote nữ thần Ésis được đem đi trên một thuyền bằng papyrus và cũng dùng nhựa chai nhiều. Sự phân biệt giữa ô uế và tinh sạch, chức tế lễ cha truyền con nối như A-rôn, sự cạo và tắm cả mình và mặc áo vải gai mịn, cũng giống các thầy tế lễ xứ Ai-cập (Dân 8:7; Xuất 40:12-15; 28:39-42). Sự xức dầu A-rôn và mặc áo tế lễ giống những tranh tả vẽ vua Ai-cập trên các đài kỷ niệm xưa. Con dê đực thả trong đồng vắng giống con hy sinh mà người Ai-cập rủa sả và bán cho người ngoại bang hoặc trôi sông. Giống với U-rim và Thu-mim trên bảng đeo ngực thầy cả thượng phẩm là hình bằng ngọc lam bửu của sự thật mà thầy cả Ai-cập thường mặc lúc xét đoán. Các đền và mộ Ai-cập xưa cũng có chữ Hiétoglyphes khắc trên cột cửa hiệp với Phục 11:20. Kể cả những tượng của Bénihassan tả người có tội đang nằm bị phạt (Phục 25:2) và bò không bị khớp miệng lúc đạp lúa (câu 4). Hay luật cấm dâng của lễ cho người chết (Phục 26:14) như người Ai-cập.
Có người nói trước giả Ngũ kinh nói đến xứ Ca-na-an và dường như biết nhiều về địa dư của xứ (Xuất 12:25-27; 13:1-5; 23:20-23; 34:11; Lê 14:34; 18:3, 24; 19:23; 20:22; 23:10; 25:2; Dân 15:2, 18; 34:2; 35:2-34; Phục 4:1; 6:10; 7:1; 9:1 v.v.), điều này giúp ta nhớ đến Môi-se chắc có biết về đường đi của Áp-ra-ham, Y-sác, v.v… trong xứ Ca-na-an. Vả lại, từ đời trị vì Thotmes I người Ai-cập cũng biết xứ Pha-lê-tin nữa. Có lẽ bốn mươi năm Môi-se ở trong đồng vắng Ma-đi-an và Si-na-i có nghe về xứ Pha-lê-tin, do đó ông cũng biết về dân sự, về các thần và địa dư của xứ nữa.
Tiếng Hê-bơ-rơ dùng trong Ngũ kinh đúng với tiếng dùng trong đời Môi-se (1571-1451 T.C.. theo Ussher); và đóng vai trò rất lớn trong sự phát triển tiếng đó, đến nỗi 1000 năm sau đến đời Ma-la-chi, người Hê-bơ-rơ vẫn hiểu và dùng, cũng như ở La Mecque dân sự còn nói tiếng của kinh Koran 1200 năm trước đây. Chiến sĩ Giô-suê và tiên trISa không đủ tài hoặc đủ sự hiểu biết về Ai-cập và Si-na-i để chép Ngũ kinh.
VI. Thuyết phản đối.– Năm 1753 S.C., Astruc, giáo sư trong trường y học tại Paris, và thầy thuốc của Louis XIV, đề xướng một thuyết nói rằng từ suốt Sáng thế ký đến Xuất 6 dường như xuất hiện hai bản chứng cớ của hai trước giả khác nhau, một bản dùng chữ Ê-lô-him để chỉ về Đức Chúa Trời, còn bản kia dùng chữ Giê-hô-va. Ngoài hai bản đó ra, ông cho rằng Môi-se cũng dùng 10 bản khác liên quan với các dân ngoại, và tại đó không thấy dùng danh Đức Chúa Trời. Sau có mấy nhà khảo cứu Kinh Thánh dựa vào thuyết lý Astruc đến nỗi tưởng rằng chủ bút hay soạn giả Ngũ kinh có dùng đến bốn bản nguyên, đó là:
1. Bản dùng chữ Ê-lô-him hơn một nửa, chép độ 520 T.C..
2. Bản dùng danh Giê-hô-va.
3. Một bản khác cũng dùng Ê-lô-him nữa, cả hai chép 1000-800 T.C..
4. Bản Phục truyền luật lệ ký, chép 621 T.C.. (IICác 22:8).
Thuyết nầy không công nhận sự thật về phần lịch sử Cựu Ước; cả về lẽ đạo trong Ngũ kinh về đời sống tương lai, hay sự Chúa báo ứng, sự thờ Đức Chúa Trời, thiên sứ và Đấng Mê-si là sơ lược, đều tỏ ra Ngũ kinh chép sớm hơn Gióp, Thi-thiên, Các sách tiên tri, v.v… và các sách đó chép về những luật lệ trong Ngũ kinh v.v… Có người cho rằng trong đời Môi-se chưa biết viết, bởi đó chắc không phải Môi-se chép Ngũ kinh. Nhưng ngày nay, các nhà khảo cổ đã tìm được nhiều chứng cớ tỏ rõ người ta đã biết viết mấy đời trước Môi-se. Trong mộ của Chnumhotep tại Benihassan thuộc dòng vua thứ XII xứ Ai-cập, có bức tranh vẽ một thầy đang đưa cho quan tổng đốc một tờ giấy bằng cây papyrus, trên viết chữ và có niên hiệu năm thứ VI trong đời Osirtasin II, là vua trị vì đã lâu trước người Hê-bơ-rơ xuất Ai-cập. Ngoài ra, cũng tìm được một bia đá đen tại Su-rơ, kinh đô nước Ba-tư xưa, gọi là Diotite, trên đó khắc bản luật của Hammurabi thuộc mấy thế kỷ trước Môi-se, nay để trong viện bảo tàng nước Anh.
Chắc Ngũ kinh xuất bản ngay sau khi những biến động chép tại đó xảy ra, và từ đời Giô-suê các nhà văn sĩ Do-thái vẫn nói đến. Chắc các gia phổ trong Ngũ kinh đã có trước sự chia đất Ca-na-an lần đầu. Không có dân nào phục luật năm hân hỉ vì họ không biết chắc là chính Chúa đã ban cho. Riêng dân Do-thái vẫn công nhận Ngũ kinh là Môi-se chép, và chỉ Ngũ kinh chứa tôn giáo, luật pháp và lịch sử mình. Giả sử có ai vì lợi riêng cũng không thể giả mạo đặt truyện như thế, vì trong ấy nói cụ thể từng chi tiết về thời gian, nơi chốn, nhân vật và cụ thể cả từng hoàn cảnh. Những điều ấy chứng tỏ rằng: người chép Ngũ kinh phải là người tận mắt chứng kiến mọi điều đã xảy ra. Và những chỗ tự nhiên trùng với nhau giữa bài giảng Môi-se trong Phục truyền luật lệ ký và những truyện chép trong bốn sách trước đều làm chứng thật Môi-se là tác giả. Những lời cuối cùng Dân 36:13 và Lê 27:34; 25:1 và 26:46 với lời cảnh cáo: “Chớ thêm chi và đừng bớt chi về điều Môi-se truyền cho” (Phục 4:2; 12:32) không thể gợi ý có mấy tác giả, trái lại tỏ ra chỉ mình Môi-se là tác giả của Ngũ kinh.
VII. Vài ý về sự dạy dỗ của Ngũ kinh.– Suốt cả Ngũ kinh, có ân điển của Đức Chúa Trời được bày tỏ, nó như một sợi chỉ vàng liên lạc và thắt chặt mọi phần lại với nhau. Những điều chép trong đó đều theo trật tự thời gian, ví dụ như khi chép lịch sử; vậy Sáng thế ký khởi đầu và Phục truyền luật lệ ký đóng lại hết cả. Ơn điển trải qua dòng dõi Sết đến Nô-ê; từ đó đến Áp-ra-ham mà gia đình đó nên kẻ kế tự lời hứa cho thế gian. Trong Xuất Ê-díp-tô ký chép Y-sơ-ra-ên sanh ra được giải cứu như là một dân tộc. Lê-vi ký tiếp theo như là luật lệ cho đời sống đạo đức và sự thờ phượng của dân lựa chọn. Dân số ký cứ nói tiếp lịch sử lần nữa, và tu bổ quyền lập pháp, và để lại dân Y-sơ-ra-ên đến trên bờ cõi đất hứa. Phục truyền luật lệ ký ôn lại và ứng dụng toàn bộ.
Dầu Ngũ kinh Môi-se không nói trực tiếp về đời sống tương lai, nhưng lịch sử chép trong đó tỏ ra có tin như thế. Trong Ngũ kinh có đủ ý để cho người cẩn thận suy xét. Các tác giả khác lấy phần thưởng hoặc sự hình phạt trong đời sống tương lai làm nền tảng của sự dạy dỗ của mình; nhưng Môi-se chỉ nhờ sự thưởng, sự phạt trong đời nay; ấy làm chứng thật chính Đức Chúa Trời lập và bởi luật pháp đó cai trị. Mục đích luật pháp là dạy người phải vâng phục Đức Giê-hô-va (Phục 28:58). Môi-se không bỏ qua trong luật pháp mình những sự hình phạt về phần thuộc linh, dầu trước nhứt nói về vật chất. Thơ Hêb 11:13-16 chép rõ các tổ phụ “đều chết trong đức tin, chưa nhận lãnh những điều hứa cho mình… nhưng ham mến một quê hương tốt hơn ở trên trời”. Người được dựng nên theo ảnh tượng Ngài, được Chúa trực tiếp thử thách (Sáng 1:26, 27; 2:7-17). Chúa ngăm đe người phải chết hai lần nếu ăn trái cấm, nếu ăn trái của cây sự sống được sống đời đời, sau người phạm tội Chúa hứa một Đấng giải cứu và dâng của lễ chỉ về Đấng sẽ chết để chuộc tội cho người, hết cả đều tỏ ra hy vọng về sự sống không hề chết trong đời tương lai. Về A-bên chết sớm vì là người tin kính thì đời sau phải được thưởng để hiệp với sự công bình Ngài (Hêb 11:4). Hê-nóc biến mất, Áp-ra-ham dâng Y-sác chỉ bóng về Đấng Christ cho tổ phụ “nghĩ rằng Đức Chúa Trời có quyền khiến kẻ chết sống lại (Hêb 11:19; Giăng 8:56; Sáng 22:1-). “Môi-se đành cùng dân Đức Chúa Trời chịu hà hiếp hơn là tạm hưởng sự vui sướng của tội lỗi ” (Hêb 11:24-27); lời Ngài xưng sau khi Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp qua đời: “Ta là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp”, (Xuất 3:6) tỏ ra phải có một phần thưởng tương lai đời đời về thân thể và linh hồn để hiệp với lời Chúa hứa cho trong lúc còn ở trong xác thịt (Mat 22:29) và hiệp với lời cầu nguyện của Ba-la-am (Dân 23:10).
Tiến sĩ Scofield chú thích về Ngũ kinh:
Năm sách của Môi-se có một địa vị đặc biệt trong sự sắp đặt Kinh Thánh, và một trật tự không thể chối được, là trật tự của sự từng trải dân Đức Chúa Trời trong mọi đời. Sáng thế ký là sách của nguồn gốc của sự khởi đầu sự sống, và của sự tàn nát bởi tội. Lời thứ nhứt trong Sáng thế ký: “Ban đầu Đức Chúa Trời”, trái hẳn với câu cuối: “một cái quan tài tại xứ Ai-cập”. Xuất Ê-díp-tô ký là sách của sự cứu chuộc, đây chính là điều cần thiết trước nhứt của một dòng giống đã phạm tội. Lê-vi là sách của sự thờ phượng, và sự thông công, công việc chính đáng của người được chuộc. Dân số ký nói những sự từng trải của một dân tộc lữ hành, những kẻ được chuộc để hưởng một cơ nghiệp đã hứa trong một hoàn cảnh mà họ không chấp nhận. Phục truyền luật lệ ký, coi về hồi trước và hồi tương lai, là một sách dạy dỗ kẻ cứu chuộc sắp vào hưởng cơ nghiệp đó.
Thật thế, những đài kỷ niệm xưa ở Ba-by-lôn và A-sy-ri có bài thuật giống cách kỳ khôi với sự tích chép về sự sáng tạo và cơn nước lụt, và cũng chép những điều xảy ra trước đời Môi-se nữa. Song điều đáng nói hơn cả là xóa bỏ sự Chúa soi dẫn Môi-se chép. Chắc tự nhiên có truyền khẩu về sự dựng nên và nước lụt từ khu vực cổ nhất của loài người truyền lại. Lời truyền khẩu như thế, theo lối mọi truyền khẩu, chắc được thêm nhiều chi tiết kỳ khôi và thần thoại, như có trong các sự tích xưa của Ba-by-lôn. Bởi vậy, điều quan trọng trước tiên để được Chuá soi dẫn là phải lấy sự khải thị truyện tích thật để thế cho lời truyền khẩu không rõ ràng và trẻ con. Một truyện như thế dù dùng lời hoa mỹ đến đâu cũng không sánh được, và theo lối sắp đặt, khi hiểu phải lẽ, là theo cách khoa học hoàn toàn.
Bởi đó, trong sách Ngũ kinh, ta có một tiểu dẫn thật là hiệp lý của cả Kinh Thánh; và theo hình bóng, là một quyển tóm tắt sự khải thị Đức Chúa Trời.
Xem Mat 8:4; 19:8; Mác 12:26; Lu 5:14; 16:29-31; Giăng 3:14; 5:45, 46; 7:19.