Nên thánh, Sự Sanctification. Sanctification.
Nguyên gốc “sự nên thánh” trong Cựu Ước là một động từ Hê-bơ-rơ, kadhash, trong Tân Ước là động từ hagiázô, nghĩa là biệt riêng ra. Nguyên văn Cựu Ước không chép danh từ “sự nên thánh”, và Tân Ước chỉ chép (hagiasmós) 10 lần. Từ chữ nguyên gốc mà xuất hiện những danh từ quan trọng, như: thánh, được thánh, sự thánh khiết, đem dâng cho, biệt riêng ra thánh, làm nên thánh, sự nên thánh. Ý nghĩa cũng được mở rộng, kể cả về lễ nghi bề ngoài trong Cựu Ước đến lối dùng về luân lý bề trong ở Tân Ước.
I. Lối dùng về nghi lễ bề ngoài.–
a) Theo Cựu Ước, người và vật nào biệt riêng cho Đức Chúa Trời đều là thánh (Xuất 13:2; so Dân 3:13; 8:17), như: những người Lê-vi (Dân 3:12), thầy tế lễ và Hội mạc (Xuất 29:43), bàn thờ và mọi vật dụng trong đó (Xuất 29:36), các của lễ (Xuất 29:27), ngày lễ: như Sa-bát (Nê 13:19-22), sự kiêng ăn (Giôên 1:14), v.v…, và chính dân Y-sơ-ra-ên, khi Đức Chúa Trời nhận là thuộc về Ngài, cũng là “một nước thầy tế lễ, cùng một dân tộc thánh” (Xuất 19:15, 16). Người Y-sơ-ra-ên có thể biệt nhà hoặc ruộng mình ra thánh cho Ngài, riêng con đầu lòng của súc vật mình thì không được vì đã thuộc về Ngài rồi (Lê 27:14-16, 26).
Nhưng cách dùng từ “thánh” ở những lễ nghi như vậy chưa nói lên được đời sống đạo đức bề trong. Vì hiểu sai, nên từ nguyên gốc kadhash đó người ta dịch ra chữ “kỵ nữ” (Sáng 38:21, so Phục 23:18; ICác 14:24; Ôs 4:14), tức chỉ một người nữ biệt riêng ra cho tà thần và đền chùa, cách trái đạo đức. Vì thói quen đó, dân Y-sơ-ra-ên bị Chúa quở trách (Phục 23:17). Vả lại, Giê-hu “ra lịnh rằng: Hãy biệt ra thánh một hội đồng trọng thể cho thần Ba-anh” (IICác 10:20; so Giôên 1:14). Vậy, theo Cựu Ước, có khi “biệt ra thánh” chỉ về lối dùng lễ nghi bề ngoài mà thôi.
Suốt cả Cựu Ước xưng Đức Chúa Trời là Đấng Chí Thánh Độc nhứt (Lê 10:3; Phục 32:51; Ês 6:3, 4; 10:20; Êxê 20:41; 28:22, v.v…). Vậy, Ngài lấy sự thánh khiết làm rất quí đến đỗi chép “Đức Chúa Trời Thánh, Đức Chúa Trời kỵ tà” (Giô 24:19; so Êxê 38:23), cách dùng song song như thế dường như có ý Ngài không thể chịu người nào biệt mình ra thánh song còn ô uế không sạch tội. Nên Ngài truyền: “Hãy nên thánh, vì ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời… Đấng làm nên thánh” (Lê 20:7, 8; 22:32). Người Y-sơ-ra-ên phải chịu phép cắt bì, trước hết đây là dấu hiệu biệt mình ra cho Ngài (Sáng 17:10), sau là chỉ ý bóng rằng Ngài đã “cất sự ô uế khỏi lòng” (Phục 30:6), và luật lệ được sạch chép trong Lê 17:1–26:1-, đều có ý đó.
Ngài “tự nên thánh” và “làm nên thánh” (Dân 20:13; Êxê 36:23) là khi sự cao cả, oai nghi và quyền năng Ngài được tỏ ra. Bởi đó Ngài phán: “Hãy tôn Đức Giê-hô-va vạn quân là thánh” (Ês 8:13), tức phải biệt mình ra thánh để tỏ rõ những thuộc tánh Ngài. Tại Mê-ri-ba, Môi-se không vâng lời Chúa mà đập hòn đá, nên bị phạt vì tội tự dấy mình lên thế cho Ngài, không “tôn Ngài nên thánh trước mặt dân sự” (Dân 20:11, 13; 27:14; Phục 32:51). Na-đáp và A-bi-hu bị lửa Chúa thiêu đốt cũng thế (Lê 10:1-3). Ngài là “Đấng nên thánh trong sự công bình, ” nên phải theo sự công bình mà đoán phạt điều chi trái với sự thánh khiết Ngài (Ês 5:16, 25; 9:12, 17, 21; 10:4). Khi sự thánh khiết Ngài được tỏ ra, con người nên sợ, kinh hãi, và phải vâng phục (Ês 8:13; 29:23).
b) Trong Tân Ước, Chúa Jêsus phán: “Đền thờ làm cho vàng nên thánh, ” và “bàn thờ làm cho của lễ nên thánh” (Mat 23:17-19, cũng xem Hêb 9:13; ITi 4:5), ấy chỉ về lễ nghi bề ngoài giống như Cựu Ước. “Làm nên thánh” (Giăng 17:19) chỉ về cả bề ngoài lẫn bề trong. “Thánh đồ” dùng 56 lần trong Tân Ước chắc không luôn luôn chỉ về một tín đồ hoàn toàn, song chỉ về người thuộc Đấng Christ; cũng như trong Cựu Ước, thầy tế lễ và của lễ là biệt riêng cho Ngài. Bởi đó, Phao-lô mới có thể chào các tín đồ như thánh đồ, dầu phải quở trách vì là “người theo xác thịt… con đỏ trong Đấng Christ (ICôr 1:2; 2:1-3, cũng xem Công 20:32; 26:18, so với ICôr 1:2; 6:11; Êph 1:18; Cô 1:12). Hê-bơ-rơ chép về người tin được nên thánh hoàn toàn bởi huyết Đấng Christ, cũng nói người bội đạo coi huyết đó như ô uế, lại khinh lờn Đức Thánh Linh ban ơn (10:29; so 13:12). Khi chép chồng không tin được nên thánh vì vợ tin, v.v… (ICôr 7:12-14), cũng có ý nghĩa bề ngoài. Trái lại khi chép: được “nên thánh bởi Đức Thánh Linh” (Rô 15:16; IIPhi 1:2) và “nên thánh trong Đức Chúa Jêsus Christ” (ICôr 1:2), dầu hơi giống với ICôr về bề ngoài nhưng chắc chỉ về tín đồ biệt mình nên thánh về phần đạo đức bề trong. Ấy tỏ ra lẽ đạo Phao-lô về Đức Thánh Linh là sự sống mới trong tín đồ. IIPhi 3:15 chép: “Hãy tôn Đấng Christ là Chúa, làm thánh trong lòng mình” cũng vậy.
II. Lối dùng về luân lý bề trong.– Đến đây ta thấy trong Cựu Ước, ý nghĩa lễ nghi bề ngoài được nói đến nhiều hơn về nghĩa luân lý bề trong của sự nên thánh, dầu suốt cả Kinh Thánh vẫn có hai ý nghĩa đó. Nhưng trái lại, ta thấy Tân Ước tỏ rõ hơn phần luân lý bề trong. Tín đồ Đấng Christ quan tâm rất nhiều về lối dùng sự nên thánh bề trong, vì bởi đó được biết phương pháp hành động để đời sống mình trở nên thánh khiết, thoát khỏi sự ràng buộc của tội lỗi, và hiệp với ý muốn của Đức Chúa Trời.
Vậy, tín đồ thường tự hỏi: “Dầu biệt mình riêng ra thuộc về Đức Chúa Trời, nhưng bổn tánh và đời sống đổi mới thể nào?” Nên nhớ rằng: Đức Chúa Trời là Đấng thế nào, thì người thuộc về Ngài cũng đổi mới thể ấy. Cũng như các người nữ thuộc nữ thần ở Đền thờ Aphrodite tại thành Cô-rinh-tô xưa là người xấu nết, vì họ có bản tánh giống với thần của họ. Bởi vậy, tín đồ nào chịu tìm tòi, mở mang thêm về luân lý, đạo đức, và sự thuộc linh của Ngài bao nhiêu, thì tín đồ đó mới tấn tới về sự nên thánh bấy nhiêu. Trong Cựu Ước có tiên tri thấy Đức Giê-hô-va không phải là Đấng chỉ lấy lẽ bề ngoài làm quan hệ, song vì lòng yêu thương và công bình nên Ngài lấy sự nên thánh hoàn toàn trong lòng người làm quan hệ hơn. Sứ mạng lớn của những tiên tri đó là: “Kìa, đây là Đức Giê-hô-va phán, hãy nghe!” Người biệt mình riêng ra thánh thuộc về Ngài có ý nghĩa gì? “Muôn vàn của lễ các ngươi nào có can hệ gì đến Ta?… Hãy rửa đi, hãy làm cho sạch!… Đừng làm dữ nữa!… Hãy học làm lành, tìm kiếm sự công bình…” (Ês 1:10-17). “Khi Y-sơ-ra-ên còn thơ ấu, Ta yêu dấu… Ta ưa sự nhơn từ mà không ưa của lễ, ưa sự nhìn biết Đức Chúa Trời hơn là của lễ thiêu” (Ôs 11:1; 6:6).
Bởi vậy, lễ nghi bề ngoài thể hiện đạo đức bề trong. Khi thuộc về Ngài, và làm con Ngài không phải chỉ về phần bề ngoài thôi đâu! Chúa Jêsus dạy như thế. Nguyên văn “sự nên thánh” không chép trong ba sách Tin lành đâu, song vẫn chép chữ “con, ” vì đối với người Do-thái, đây thực sự có ý “thuộc về”, vì nếu là con thì phải vâng lời và sẽ được ơn riêng. Chúa Jêsus xưng rằng người nào làm con của Đức Chúa Trời, có nghĩa là người đó giống Ngài vì cớ lòng yêu thương (Mat 5:43-48), và anh chị Ngài là kẻ “làm theo ý muốn Đức Chúa Trời” (Mác 3:35).
Vơí ý nghĩa đó, Phao-lô tìm ra mối liên hệ giữa danh từ “thánh đồ” và làm nên thánh, như khi chép “gởi cho… những người đã được nên thánh… được gọi làm thánh đồ” (ICôr 1:2; so Rô 1:1). Vậy, bởi đó Êph 4:1 chép: “Anh em phải ăn ở một cách xứng đáng với chức phận mà Chúa đã gọi anh em.” Cũng xem ITê 2:12; Phil 1:27. Mục đích của “kẻ được gọi theo ý muốn Ngài” là “Ngài đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài” (Rô 8:29). Phao-lô vẫn khuyên: vì thuộc về Đấng Christ, tín đồ phải “ở trong Ngài” và “phải sống cho Ngài” (Cô 3:1-4; ITê 5:10). Điều này có nghĩa không phải chỉ phần bề ngoài bày tỏ Chúa, song cũng chỉ phần bề trong nữa. Phải dâng thân thể, tài năng, tình cảm mình cho Ngài đổi mới và cai trị cả (Êph 4:13, 20, 23, 24, 32 và Rô 12:1), như thế được nên thánh hoàn toàn cả bề ngoài lẫn bề trong.
Nên chú ý ở đây là khi nói đến một đời sống thánh khiết tức là chỉ về người tín đồ vì yêu Chúa nên trong lòng luôn giao thông trực tiếp với Chúa để vâng lời và phục sự Ngài. Vì thế mà Phao lô viết cho tín đồ như sau: “Hãy sống cho Chúa” (Rô 14:8; 6:13; Ga 2:19), đến nỗi đời sống đầy dẫy sự hiện diện của Chúa, và phải làm chứng “không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi” (Ga 2:20). Đời sống thánh khiết, nhờ Đức Thánh Linh hành động trong mình, hằng ngày nhờ cậy và yêu mến Đấng làm “A-ba! Cha!” (Rô 8:15; Ga 4:6), giữ lòng nhơn từ, làm sự tốt lành (Mat 5:43-48), “tại đức tin hay làm ra những điều có giá trị… bởi sự yêu thương” (Ga 5:6), và thật là đời sống “có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có” (Phil 2:5). Nếu sự thánh khiết tỏ ra địa vị của tấm lòng và đời sống hiệp với ý muốn Ngài, thì sự nên thánh là công việc hoặc phương pháp để vào địa vị đó. Công việc đó là Đức Chúa Trời làm. Chúa Jêsus cầu rằng: “Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh” (Giăng 17:17); Phao-lô cầu cho tín đồ tại Tê-sa-lô-ni-ca như thế (ITê 5:23), và xưng là Đấng Christ làm cho Hội Thánh nên thánh (Rô 6:22; IITê 2:13; IITê 2:21; IIPhi 1:2). Cả Tân Ước dạy rằng các ơn trong đời sống thuộc linh của tín đồ là Chúa ban cho, và làm ra bởi Đức Thánh Linh. “Chính Đức Chúa Trời cảm động lòng anh em vừa muốn, vừa làm theo ý tốt Ngài” (Phil 2:13; so Rô 8:2-4, 9, 14, 16-26; Ga 5:22). Cũng so “người mới” (IICôr 5:17; Ga 6:15) với “việc Ngài làm ra” (Êph 2:10; 4:24). Vậy, một đời sống được nên thánh, ấy là công việc tạo ra thứ nhì của Ngài.
Kết luận.– Suốt cả Kinh Thánh, sự nên thánh cả bề ngoài lẫn bề trong là một lẽ đạo rất quan hệ. Chúa phán: “Hãy nên thánh, vì ta là thánh” (IIPhi 1:16). Sự nên thánh không phải là sự vô tội hoàn toàn vì cội rễ tội lỗi bổn tánh A-đam trong người lập tức bị cất đi; không phải là lễ báp-têm bằng Đức Thánh Linh; cũng không phải là sự cứu chuộc, dầu việc làm nên thánh bắt đầu lúc người tin Chúa được tái sanh bằng Đức Thánh Linh. Sự nên thánh thật là một việc của đời sống bề trong, khiến tín đồ phân rẽ khỏi tội mà hiệp với Đấng Chí Thánh cũng như xưa phép cắt bì làm dấu bề ngoài tỏ ra dân Do-thái biệt riêng thuộc về Ngài vậy. Đức Chúa Trời đã lập Chúa Jêsus Christ làm sự nên thánh của tín đồ (ICôr 1:30), nên phải nhờ sự hiện diện Ngài trong lòng, bởi Đức Thánh Linh hành động, để tỏ ra sự thánh khiết; nếu không thì tự mình không sống cách thánh khiết được (ICôr 12:13; Rô 8:9; so Am 5:21-25; Mi 6:6-8).
Đức Chúa Trời bảo tín đồ hãy nên thánh và chính Ngài cũng làm việc đó, sao không làm ngay một lúc cho trọn vẹn? Chắc Phao-lô có ý đó khi cầu thay: “Nguyền xin tâm thần, linh hồn và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được” (ITê 5:23 so 3:13). Câu trả lời là Ngài muốn chúng ta phân biệt tôn chỉ với sự từng trải. Giống như Giăng từng trải kinh nghiệm này khi ông từ bóng tối tìm ra chân lý (I Giăng 1:6; 3:9). Phao-lô khẳng định đời sống Đấng Christ và đời sống tội lỗi không thể đi chung với nhau, và Phao-lô không chịu chấp nhận sự vâng lời không trọn vẹn và những mẫu mực nửa vời. Bởi thế, Phao-lô phải dạy lẽ đạo cao thượng nhứt cho tín đồ dầu đó là người rất nghèo về phần thuộc linh. Đức Chúa Trời đối với chúng ta cũng vậy. Nên ghi nhớ luôn lời Phao-lô khuyên tín đồ phải lớn lên và tấn tới (ITê 3:12; 5:14). Bởi vậy, sự nên thánh không phải là tạm thời, nhưng là một công việc và ơn riêng cho cả đời sống của tín đồ được giữ vẹn cho đến “khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy. Ai có sự trông cậy đó trong lòng, thì tự mình làm nên thánh sạch, cũng như Ngài là thanh sạch” (I Giăng 3:2, 3).
Xem bài Đức Thánh Linh và sự thánh khiết.
D.I.J. chú thích:
Sự nên thánh.– Ấy khởi đầu từ sự xưng công bình của tín đồ, và gồm lại phương pháp mà Đức Chúa Trời dùng để khiến một người được công bình và cuối cùng là được thánh khiết. Song đây không phải nhờ công đức hoặc việc làm mà người được nên thánh. Chúa Jêsus Christ khiến tín đồ nên thánh bởi ơn điển Ngài, chỉ bởi đức tin chớ không phải bởi việc làm của tín đồ, nhưng việc làm lại là kết quả của ơn điển Đức Chúa Trời trong lòng tín đồ. Sự nên thánh tức là Thánh Linh của Đấng Christ ngự trong lòng tín đồ. Qua Thánh Linh đó, Ngài được vinh hiển trong tánh hạnh và cách cư xử của tín đồ. Điều kiện độc nhứt của sự nên thánh là phải ở trong Đấng Christ nghĩa là giao phó trọn lòng mình cho Ngài và hết lòng tin cậy Ngài, bởi đó Ngài có thể bày tỏ sự sống Ngài trong tín đồ. Động từ “ở trong Ngài” bao giờ cũng phải là thời hiện tại; song thời quá khứ không hề thay vào thời hiện tại được (Hêb 10:10; IIPhi 2:1; Công 26:18). Vậy, sau đây là những bước của sự nên thánh: a) Được kể là: Nền tảng vĩnh viễn hay căn nguyên của sự nên thánh:
Đức Chúa Trời xưng tín đồ là công bình, vì bởi đức tin tín đồ hiệp một và làm một với Chúa Jêsus Christ. Vậy, chính Chúa Jêsus Christ là nguồn gốc độc nhứt của sự nên thánh, cũng như Ngài vốn là “Cội rễ và Cuối cùng của đức tin chúng ta” (Hêb 12:2).
b) Được ban cho: Khởi đầu sự nên thánh:
Tín đồ được tái sanh bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời và bởi đó được để riêng cho Ngài. Ý nghĩa căn bản của danh từ “nên thánh” là “biệt riêng ra, ” tức là phân rẽ khỏi mọi điều dữ bởi kết hiệp với Đức Chúa Trời là Đấng mà tín đồ nhờ đức tin hiệp một trong Chúa Jêsus Christ (Lê 27:14; IISử 7:16; Công 26:18; ICôr 6:11).
c) Thời quyết định: Sự nên thánh hoàn toàn:
Tín đồ được dẫn dắt bởi Đức Thánh Linh và sự yêu thương của Đức Chúa Trời để hoàn toàn nhường chính mình cho Đấng Christ cai trị và ngự trong lòng mình. Như tội nhân nhận Đấng Christ làm Đấng Cứu chuộc, thánh đồ cũng vậy cần phải nhận Đấng Christ làm Đấng khiến nên thánh. Trong vòng dân Chúa, có nhiều người không nhận thấy sự từng trải của biến động nầy là quan hệ, nhiều người khác đòi hỏi quá lẽ và không nhận thấy phương pháp theo sau. Sự nhận lấy Đấng Christ và quyền phép Ngài ngự đầy dẫy trong mình sẽ xảy ra sớm trong sự từng trải của tín đồ nào được dẫn dắt bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời, cẩn thận kê cứu Kinh Thánh, và để Kinh Thánh tra xét lòng mình (Hêb 4:12; IICôr 6:17; Cô 1:21-23; IITê 2:13; Hêb 2:11).
d) Phương pháp: Phương pháp của sự nên thánh hoàn toàn:
Sự nên thánh cứ xảy ra liên tiếp như một phương pháp xuyên suốt đời sống người tín đồ. Khi quyết định dâng mình trọn vẹn còn phải có phương pháp của sự nên thánh hằng tiếp theo, đức tin lại dẫn đến đức tin, như Đức Thánh Linh bày tỏ sự sống Đấng Christ trong tánh hạnh và cách cư xử của tín đồ, và như tín đồ cứ ở trong Đấng Christ. “Tánh hạnh làm nên người; Đấng Christ tạo nên tánh hạnh”. Vậy, từ đầu đến cuối, chính Đấng Christ vừa là Sự nên thánh vừa là Đấng khiến nên thánh của ta (ICôr 1:30).
e) Được vinh hiển: Khi Đấng Christ tái lâm, thân thể tín đồ đã ngủ sẽ sống lại, cùng với tín đồ còn sống sẽ được cất lên tại nơi không trung mà gặp Chúa (ITê 4:16-17; IGiăng 3:2); sự vinh hiển và sự hoàn toàn của Đấng Christ sẽ được tỏ ra trong Ngài. Ấy là đỉnh điểm của sự cứu chuộc và sự nên thánh; song điểm tột bực đó chỉ là khởi đầu sự vinh hiển đời đời (IITê 1:10).
Tiến sĩ Scofield chú thích:
Mat 4:5.– Trong Tân Ước, chỉ từ một tiếng Hy-lạp là hagios mà viết mấy lối khác nhau, nhưng tất cả đều được dịch là thánh, như sự thánh khiết, biệt riêng ra thánh, được biệt ra thánh, sự nên thánh. Giống như tiếng Hê-bơ-rơ, qodesh, có nghĩa là “để riêng cho Chúa.”
Lê 21:8.– Ấy tỏ ra sự thánh khiết và sự nên thánh trong Cựu Ước — tức một người biệt riêng ra để hầu việc Đức Chúa Trời.
Sáng 2:3.– Trong Cựu Ước, một tiếng Hê-bơ-rơ, qodesh, dịch là biệt riêng ra, đem dâng cho, và thánh. Có nghĩa là để riêng hầu việc Đức Chúa Trời.
Xa 8:2.– Tóm tắt sự thánh khiết, sự nên thánh: Trong Cựu Ước, các danh từ đem dâng cho, làm lễ dâng, sự nên thánh, và sự thánh khiết là những chữ khác nhau được dịch ra từ một tiếng Hê-bơ-rơ, dùng chỉ về người và vật, và có một nghĩa giống nhau, tức là để riêng cho Đức Chúa Trời. Chỉ khi dùng về chính Đức Chúa Trời (như Lê 11:45), hoặc về các thiên sứ thánh (như Đa 4:13), cần phải chỉ về một đức tánh đạo đức bề trong. Một thầy tế lễ hoặc người khác được để riêng phục sự Đức Chúa Trời, nếu lòng muốn và ước ao như thế, chắc sẽ từng trải càng ngày hơn sự biệt mình khỏi sự dữ bề trong; song phương diện đó tỏ rõ trong Tân Ước, không phải Cựu Ước.
Khải 22:11.– Tóm tắt sự nên thánh và sự thánh khiết:
1. Trong cả Tân Ước, bắt nguồn từ một tiếng Hê-bơ-rơ và Hy-lạp được dịch là “biệt ra thánh” và “sự thánh khiết” bằng những lối viết khác nhau nhưng chỉ có một nghĩa chung là “để riêng cho Đức Chúa Trời.”
2. Trong cả Tân Cựu Ước, những danh từ đó đều chỉ về vật hay người.
3. Khi dùng về vật, không gồm ý đức tánh đạo đức; nhưng vật đó vì để riêng cho Chúa mới được biệt riêng ra thánh hoặc nên thánh.
4. Sự nên thánh dùng về người, ý nghĩa có ba mặt:
a) Về địa vị, những tín đồ bởi sự cứu chuộc được để riêng đời đời cho Đức Chúa Trời, ấy “nhờ sự dâng thân thể của Đức Chúa Jêsus Christ một lần đủ cả” (Hêb 10:10). Cho nên về địa vị, người tín đồ là “Thánh đồ” và “thánh” từ lúc tin (Phil 1:1; Hêb 3:1).
b) Về từng trải, tín đồ đang được nên thánh bởi công việc Đức Thánh Linh nhờ Kinh Thánh (Giăng 17:17; IICôr 3:18; Êph 5:25-26; ITê 5:23-24).
c) Về phần kết, tín đồ được nên thánh hoàn toàn là khi Chúa hiện ra (Êph 5:27; IGiăng 3:2).