Nê-hê-mi, Sách

Nê-hê-mi, Sách The Book of Nehemiah. Livre de Néhémie.

I. Tác giả.– Chẳng những câu đầu sách chép tác giả là Nê-hê-mi (1:1), nhưng suốt cả sách Nê-hê-mi dùng “tôi” mà nói, trừ:

1. Khi chép những yết thị hoặc trích lại một phần (10:1; 12:26).

2. Khi bất thường, giữa bài thuật lại công việc thuộc tôn giáo của E-xơ-ra trước mặt quan tổng trấn và mấy nhà cầm quyền khác, thì chép tên Nê-hê-mi (8:9); và

3. Khi đã nói đến đời Đa-vít, A-sáp và đời Xô-rô-ba-bên thì cũng tiếp đến đời Nê-hê-mi (12:47). Trong phần ba nầy tác giả dùng ngôi thứ ba thì phải lẽ hơn dùng ngôi thứ nhứt; vả lại, cả khúc nầy nói về những việc xảy ra trong 12 năm đầu mà Nê-hê-mi hành chức tại Giê-ru-sa-lem lần thứ nhứt, song chép sau khi Nê-hê-mi từ triều vua Ba-tư về.

Hết thảy đều công nhận Nê-hê-mi chép phần lớn sách. Bài cầu nguyện 9:4-38 trong bản Septante có “E-xơ-ra nói” đứng đầu, và trong bài cũng có chứng cớ là E-xơ-ra nói. Chức tổng trấn của Nê-hê-mi trong 8:9 và 10:1 chắc hiệp với chức tổng đốc trong Exơ 2:63 và trấn thủ trong Aghê 1:1. Nhưng vì dùng “chúng tôi” trong 10:30, 32, 34 gợi ý tác giả được mục kích các việc xảy ra. Nê 12:1-26 chép kỹ tên họ các thầy tế lễ và người Lê-vi cùng về với Xô-rô-ba-bên. Trong đó nói đến tên Gia-đua (Nê 12:22). Xét: Gia-đua làm thầy tế lễ nhằm lúc Alxandre de Grand đến thăm viếng thành Giê-ru-sa-lem chừng vào 332 T.C.. Bây giờ vào lúc vua Đa-ri-út thứ III đương trị vì vào khoảng 335-331 T.C.. Có lẽ đã có người xen tên này vào trong các sổ công, nhưng có thể quyết rằng cả sách là bởi Nê-hê-mi chép.

II. Tài liệu.– Phần lớn lịch sử chép trong sách vào khoảng độ 12 năm, tức từ năm thứ XX đến XXXII đời vua Ạt-ta-xét-xe Longimanus (445-433 T.C.). Cả sách phác họa tình cảnh của Giê-ru-sa-lem và của những kẻ bị phu tù trở về trong đời Nê-hê-mi, cũng nói về chánh phủ Ba-tư thế nào, và địa vị của xứ Giu-đa nữa. Ngoài ra, còn có những tài liệu bên ngoài để cho biết thêm về Xô-rô-ba-bên, và về sổ ghi các gia phổ và dòng dõi kế tiếp của các thầy tế lễ cho đến hết đế quốc Ba-tư. Trong sách tả vẽ hai phe bắt đầu dấy lên giữa người Do-thái:

1. Một phe thật sốt sắng về tôn giáo.

2. Một phe đồng hóa với người ngoại bang; và bày tỏ cái mầm càng ngày càng lớn lên trong lịch sử Do-thái các đời sau. Sách Nê-hê-mi như sách E-xơ-ra tả rõ sự ghen ghét cay đắng giữa người Do-thái và người Sa-ma-ri mỗi lúc một tăng thêm, cả về phần tôn giáo lẫn chánh trị. Sách nầy cũng tỏ ra những điều lập ra trong gia đình người Do-thái.

Sách nầy cho biết mấy điều quan trọng về lịch sử:

a) Truyện xây sửa và khánh thành vách tường (3:1-; 12:1-), cả về địa dư vàhình thể Giê-ru-sa-lem đều nói rõ hơn các chỗ khác trong Kinh Thánh.

b) Đoạn 7:66-67 chép số những kẻ phu tù về với những lãnh tụ từ đời Xô-rô-ba-bên đến Nê-hê-mi tổng cộng chỉ có 42.360 người nam trưởng thành và 7.337 tôi tớ, điều này chứng tỏ sự yếu hèn của dân tộc Giu-đa chẳng bằng với thời điểm cả nước Giu-đa có tới 470.000 người cầm gươm (ISử 21:5).

c) Số các kẻ lãnh tụ, thầy tế lễ, người Lê-vi và những người đóng ấn trong giao ước, cùng với những thói quen trong vòng những phu tù từ các đời trước truyền lại tỏ ra tinh thần ái quốc của họ. Vậy, trong Nê 7:7 chép tên 12 vị lãnh tụ khiến cho dân Y-sơ-ra-ên có cảm tưởng mình làm đại biểu cho 12 chi phái như có tỏ ra bởi danh từ “những người nam của dân Y-sơ-ra-ên.”

d) Những tin tức khác trong sách là về các công nghệ gia truyền của mấy họ thầy tế lễ, tức “thợ hòa hương”, “thợ vàng”; có lẽ là tổ những kẻ đổi bạc trong Đền thờ sau (Giăng 2:14-15), nơi có vườn vua mà Sê-đê-kia chạy trốn qua đó (3:15 so IICác 25:4), và những sổ ghi chép công điền.

III. Lối văn.– Về cách dùng từ và cách hành văn thì sách Nê-hê-mi giống hai sách Sử-ký và sách E-xơ-ra. Những tiếng như: metziltaim có nghĩa là “chập chỏa”, hay iggartha có nghĩa là “bức thơ”, chỉ chép trong ba sách trên và Ê-xơ-tê; còn birah chỉ cung điện và Đền thờ chỉ chép trong bốn sách trên và Đa-ni-ên, v.v…. Song nhìn chung lối văn Hê-bơ-rơ đại để giống như các sách khác chép đồng thời.

IV. Công nhận.– Sách Nê-hê-mi vẫn được dự phần trong Cựu Ước, không ai chối cãi được; nhưng người Hê-bơ-rơ gồm lại làm một với sách E-xơ-ra dưới đầu đề sách E-xơ-ra; và theo Jérôme, các tín đồ Hy-lạp và La-tinh xưa đặt tên là sách thứ hai của E-xơ-ra. Tân Ước không trích lời nào trong sách Nê-hê-mi. Nê-hê-mi và Ma-la-chi, dưới E-xơ-ra, là những người sắp đặt và làm xong sách Cựu Ước, đều chép thêm những lời Chúa soi dẫn mình như đóng ấn cho cả Cựu Ước được trọn vẹn.

A. Phái cho sách Nê-hê-mi là chép theo trong nhật ký của Nê-hê-mi đưa ra những bằng chứng sau:

1. Nê 1:1-7:5 trong sách thường thấy có chữ “tôi”. Ví bằng không phải chính Nê-hê-mi làm ra, thì sao lại xưng là “tôi”?

2. Nửa trên Nê 7:6-73 chép kỹ những người cùng về với Xô-rô-ba-bên, cũng tiếp nối với Nê 7:5 nói kiểm được phổ hệ, hơi giống với Exơ 2:1-.

3. Nê 11:1- nói kỹ người ấy là người đã bắt thăm và được ở tại Giê-ru-sa-lem. Chỗ nầy đối chiếu ứng với Nê 7:1-. Có người nói ISử 9:1- cũng là theo trong nhựt ký Nê-hê-mi mà chép ra.

4. Nê 12:27-43 chép kỹ lúc làm lễ khánh thành vách thành. Cũng như phần thứ nhứt, thường xưng là “tôi” (Nê 12:31, 38, 40).

5. Nê 13:4-31 kể sự tích trong 12 năm, cũng nói về việc đến thành Giê-ru-sa-lem lần thứ hai.

B. Phái cho rằng sách Nê-hê-mi không phải chép trong nhật ký của Nê-hê-mi đưa ra những bằng chứng sau:

1. Phân nửa Nê 7:73 đến việc ở Nê 10:39 biệt riêng hẳn với việc ở Nê 11:1-. Vậy biết không phải là chép theo nhựt ký Nê-hê-mi. Duy phần nầy kể rõ mọi việc bây giờ, có manh mối, không rối lẫn, tỏ ra tác giả sách nầy chắc được mục kích các việc xảy ra.

2. Nê 12:1-26 chép kỹ tên họ các thầy tế lễ và người Lê-vi cùng về với Xô-rô-ba-bên. Trong có nói đến tên Gia-đua (Nê 12:22). Xét: Gia-đua làm thầy tế lễ nhằm lúc A-léc-xan-đơ thứ I đến thành Giê-ru-sa-lem, chừng vào năm 332 T.C.. Bấy giờ vào lúc vua Đa-ri-út thứ III (Codomannus vua Ba-tư) đương trị vì, chừng vào khoảng năm 335-331 T.C..Tiến sĩ Scofield chú thích về sách Nê-hê-mi như sau:

Tiểu dẫn.– Sau 14 năm khi E-xơ-ra đã trở về Giê-ru-sa-lem, Nê-hê-mi cũng dẫn một đoàn về (444 T.C.) và tu bổ lại vách tường và củng cố chính quyền. Sách nầy chép những việc đó. Có thể chia làm 8 đoạn lớn:

I. Đi đường về Giê-ru-sa-lem, 1:1-2:20.

II. Xây cất vách tường, 3:1-6:19.

III. Tu bộ dân, 7:1-73.

IV. Cơn phục hưng, 8:1-11:36.

V. Tu bộ thầy tế lễ và người Lê-vi, 12:1-26.

VI. Khánh thành vách tường, 12:27-43.

VII. Lập lại sự thờ phượng trong Đền thờ, 12:44-47.

VIII. Lập lại trật tự luật pháp, 13:1-31. Tình hình đạo đức thời đó được chép rõ bởi tiên tri Ma-la-chi. Sách nầy có nhiều truyện về cuộc đời của những người bởi đức tin hành động theo lời Chúa đã chép (1:8-9; 13:1). Ấy là nguyên lý của IITi 2:1-.

Lên đầu trang