Na-xi-rê, Người Nazirite, Nazarite. Naziréen (Người biệt riêng).
Bất luận nam nữ, là người đã hứa nguyện cách đặc biệt đều phải biệt mình riêng để hầu việc Đức Chúa Trời. Sự bó buộc đó hoặc là trọn đời, hoặc một thời gian nhứt định. Trong Ngũ kinh không nói đến người Na-xi-rê trọn đời; song những luật lệ về lời hứa nguyện trong ít ngày đều chép trong Dân 6:1-21.
Người Na-xi-rê biệt mình ra khỏi người thường, dầu vẫn ăn ở giữa vòng họ, trọn lúc dâng mình, phải kiêng cữ bốn điều:
1. Phải kiêng cữ rượu nho, rượu mạnh, và mọi sản vật từ quả nho, như các thầy tế lễ (Lê 10:9).
2. Không được hớt tóc, vì tóc chỉ bóng về sức mạnh của thân thể, tỏ ra người đó đã dâng cả sức mình có để hầu việc Ngài.
3. Không được đụng đến xác chết dầu là bà con rất thân, như thầy tế lễ (Lê 21:11, 12).
4. Đừng ăn vật gì chẳng sạch (Quan 13:5-7). Vậy, những người Na-xi-rê không lập hội riêng với nhà dòng, v.v., song vâng theo những lệ luật chỉ bóng về sự kiềm chế ý riêng mình và những sự ham mê của xác thịt để biệt mình riêng cho Chúa. Rô 12:1, 2 cũng mang ý như vậy đối với người tín đồ Đấng Christ, vì khuyên “hãy dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời.”
Khi thời kỳ hứa nguyện đã mãn, người Na-xi-rê được đem ra cửa hội mạc, và phải dâng một chiên con giáp năm làm của lễ thiêu, một chiên cái làm của lễ chuộc tội, một chiên đực làm của lễ thù ân cùng với mọi thức dâng chung với của lễ thù ân (Lê 7:12, 13) và của lễ như khi lập thầy tế lễ (Xuất 29:2), một giỏ đựng bánh không men bằng bột lọc, bánh nhỏ tưới dầu và bánh tráng không men thoa dầu (Dân 6:15). Người đó cũng đem của lễ chay và lễ quán, dường như tự mình dâng lấy như một việc thờ phượng riêng (câu 17). Người đó phải cạo “đầu mình đã biệt riêng ra” (tức là tóc đã mọc trọn lúc dâng mình) tại cửa hội mạc và bỏ tóc đó dưới của lễ thù ân trên bàn thờ (câu 18). Thầy tế lễ đặt lên tay người, vai chín của chiên đực, một cái bánh không men, và một bánh tráng rồi lấy lại mà dâng đưa qua đưa lại trước mặt Ngài. Nếu người Na-xi-rê nào bất ngờ bị ô uế thì phải bắt đầu lại thời gian mình hứa nguyện mà không tính thời gian trước, cũng phải dâng của lễ thường để được tinh sạch và của lễ mắc lỗi hiệp với tội mình. Theo sử gia Josèphe, vì đối với người nghèo giá chuộc khỏi mắc lời hứa nguyện làm người Na-xi-rê đắt lắm nên có khi người giấu giúp đỡ, như Ạc-ríp-ba từ La-mã về có giúp đỡ nhiều người Na-xi-rê như thế, và một lần chính Phao-lô cũng giúp nữa (Công 21:23).
Trong Kinh Thánh chỉ chép tên ba người trọn đời làm người Na-xi-rê; đó là Sam-sôn (Quan 13:1- 4, 5), Sa-nu-ên (ISa 1:11, 28), và Giăng Báp-tít (Lu 1:15). Theo lời truyền khẩu của người Do-thái thì Áp-sa-lôm cũng được kể là người Na-xi-rê vì có tóc dài. Tuy vậy, Sam-sôn chẳng những không tuân thủ đúng hoàn toàn với luật lệ người Na-xi-rê, mà cả với các luật lệ và thói tục khác nữa. Trong đời A-mốt người ngoại cám dỗ người Na-xi-rê làm trái với lời hứa nguyện mà uống rượu (Am 2:11, 12). Sau khi người Do-thái từ phu tù về, số người Na-xi-rê khá đông. Có lẽ, nữ tiên tri An-ne cũng là người Na-xi-rê (Lu 2:36, 37). Không biết có trường hợp nào làm Na-xi-rê trọn đời mà bởi sự tình nguyện của cá nhân hay không, nhưng trong ba trường hợp kể trong Kinh Thánh đều là bởi cha mẹ hứa nguyện trước khi con sanh ra.
Sự lập người Na-xi-rê giống hệt như lập thầy tế lễ (Lê 21:10-12). Về một phần, bản Hê-bơ-rơ chép rõ hơn bản Septante, Vulgate, hay Việt ngữ. Chữ nêzer (Hê-bơ-rơ) cũng một căn nguyên với chữ Na-xi-rê, được dùng để chỉ tóc dài của người Na-xi-rê (Dân 6:19) như dùng để chỉ “cái mão dầu xức” trên đầu thầy tế lễ (Lê 21:12).
Về hai lời hứa nguyện của Phao-lô, mà một được chép trong Công 18:18 chắc không thể coi như là lời hứa nguyện thường của người Na-xi-rê; vì ông chỉ thực hiện điều này khi Phao-lô đi từ Cô-rinh-tô đến Giê-ru-sa-lem thì “chịu cạo đầu tại thành Sen-cơ-rê, vì người có lời thề nguyện.” Chắc ấy là một lời hứa nguyện không theo đúng phép như người Na-xi-rê, mà bấy giờ người Do-thái thường giữ mỗi khi bị bệnh tật hoặc tai nạn gì. Còn một câu chép trong Công 21:23-24 nói những tín đồ tại Giê-ru-sa-lem khuyên Phao-lô nên dự phần với “bốn người tín đồ đã mắc lời thề làm lễ tinh sạch” và chịu tiền họ phải trả để cạo đầu. Ấy chắc là theo lời hứa nguyện người Na-xi-rê.
Ý nghĩa lời hứa nguyện người Na-xi-rê có nhiều cách hiểu. Có thể coi là một sự từ bỏ mình, cốt để tỏ ra đã dâng thân thể mình cho Chúa theo luật pháp (Dân 6:2). Như người Na-xi-rê là một chứng cớ về sự nghiêm khắc của luật pháp, khắc hẳn với sự tự do của Tin lành; cũng vậy, người Na-xi-rê từ bỏ mình như thế là phục tùng luật pháp theo văn tự. Những hành vi bề ngoài đó thật là khắc khổ và khác thường. Ấy thật thuận hiệp với mục đích của sự khôn ngoan Chúa trong thời kỳ mạng lịnh về người Na-xi-rê được lập ra.
Tiến sĩ Scofield chú thích về người Na-xi-rê như sau:
Dân 6:2. — Người Na-xi-rê là người nam hay nữ hoàn toàn biệt riêng cho Chúa. Họ phải kiêng rượu, hình bóng về sự vui sướng của đời (Thi 104:15), bày tỏ một sự nhiệt thành tìm mọi sự vui mừng mình trong Chúa (Thi 87:7; 97:12; Ha 3:18; Phil 3:1, 3; 4:4, 10). Tóc dài thường là sự xấu hổ cho đàn ông (ICôr 10:14), tỏ ngay dấu hiệu biệt riêng của người Na-xi-rê và có ý bày tỏ người đó tình nguyện mang sự xấu hổ vì Chúa. Hình bóng nầy được ứng nghiệm trọn vẹn trong Chúa Jêsus là Đấng “thánh khiết, không tội, không ô uế, biệt khỏi kẻ có tội” (Hêb 7:26); là Đấng hoàn toàn biệt mình riêng cho Chúa Cha (Giăng 1:18; 6:38); là Đấng không chịu để những sự đòi hỏi của xác thịt hoặc ngăn trở khiến mình sai lạc (Mat 12:46-50).