Ma-na-se Manasseh. Manassé (Làm cho quên).
I. Con đầu lòng của Giô-sép bởi vợ là Ách-nát (Sáng 41:51). Giô-sép đặt tên như vậy vì nói: “Đức Chúa Trời đã làm cho ta quên điều cực nhọc và cả nhà cha ta”. Cả Ma-na-se và Ép-ra-im đều sanh trước cơn đói kém bắt đầu. Không rõ con trưởng kém đẹp đẽ hay vì không có lời hứa, hoặc vì một lý do bề ngoài nào để cho ông nội là Gia-cốp, yêu con thứ hơn con trưởng, Kinh Thánh không nói rõ. Dường như tỏ tiên tri rằng sau nầy khi hai con lớn lên làm tổ phụ hai chi phái thì Ép-ra-im trổi hơn Ma-na-se (Sáng 48:8-21).
II. Chi phái Ma-na-se.– Có 7 chi họ: một lập nên bởi con trai Ma-na-se là Ma-ki, còn sáu thì do cháu là Ga-la-át (Sáng 50:23; Dân 26:28-34; Giô 17:1-2). Địa vị của chi phái Ma-na-se trong đồng vắng khi đi đến xứ Ca-na-an là cùng với Ép-ra-im và Bên-gia-min ở phía Tây hội mạc. Quan trưởng của chi phái trong khi dựng sổ họ hàng tông tộc là Ga-ma-li-ên, con trai Phê-đát-su, số tổng kê lúc đó là 32.200 người (Dân 1:10, 35; 2:20-21; 7:54-59). Khi chia Xứ Thánh, một nửa chi phái Ma-na-se kiều ngụ ở phía Đông sông Giô-đanh, trong địa phận của các đồi Ga-la-át cùng với những núi cao chót vót và những khe không qua được (Giô 13:29-33). Ma-na-se thắng trận vinh hiển hơn đạo binh Si-sê-ra (Quan 5:14). Còn Ghê-đê-ôn, quan xét lớn nhứt và Giép-thê đều là các chiến sĩ đáng làm gương. Tại đây, họ được rất mạnh mẽ, tiến về phía Bắc qua những cánh đồng phì nhiêu Jaulân và Jedu#/i> cho đến chân núi Hẹt-môn (ISử 5:23). Song họ lần lần đồng hóa với các dân tộc cũ của xứ, bội đạo Đức Chúa Trời của tổ phụ, theo các thần mà Ngài đã hủy diệt trước mặt họ; nên khi Ha-xa-ên đến đánh Y-sơ-ra-ên ở phía Đông sông thì các người Ma-na-se bị chà nát một cách ghê gớm (IICác 11:33; Am 1:3). Về sau, họ lại bị vua Phun và Tiếc-lát Phin-nê-se bắt làm phu tù sang mé sông Gô-xan (ISử 5:26). Vua Ê-xê-chia phục hưng Lễ Vượt Qua cũng gọi người Ma-na-se đến Đền thờ giữ lễ (IISử 30:1-; 31:1-), Ês 9:20 có chép: “Ma-na-se nghịch cùng Ép-ra-im, Ép-ra-im nghịch cùng Ma-na-se, dầu vậy, cơn giận của Đức Giê-hô-va chẳng lánh khỏi, nhưng tay Ngài còn giơ ra”. Ê-xê-chi-ên, trong sự hiện thấy, thấy xứ Ca-na-an được phục hưng chỉ ở phía Tây sông Giô-đanh, nhưng người Ma-na-se ở phía Đông và ở phía Tây sông đều hiệp lại làm một (Êxê 48:4).
Còn nửa chi phái kia ở phía Tây sông Giô-đanh như Thi 60:7; 108:8 nói rõ.
III. Vua Ma-na-se.– Vua thứ XIII của Giu-đa; là con Ê-xê-chia, vua Giu-đa. Mẹ Ma-na-se tên là Hép-si-ba. Hồi 12 tuổi Ma-na-se lên kế vị 697 T.C.. Vua nầy lên cầm quyền chính là một dấu thay đổi hẳn chính thể cai trị theo tôn giáo. Trải qua 55 năm, vua cai trị lâu hơn các vua Giu-đa khác, làm mọi điều gian ác: thờ hình tượng, lập đồng bóng, giết tiên tri, hãm dân sa vào tội, chọc giận Đức Chúa Trời (IICác 21:1-18; IISử 33:4). Theo lời truyền khẩu của người Do-thái, Ma-na-se cưa xẻ Ê-sai làm hai vì dám phản đối điều ác mình (xem Hêb 11:37). Chúa sai đạo binh A-si-ri xông vào xứ chiếm lấy thành và bắt Ma-na-se sang Ba-by-lôn, năm thứ XXII đời vua. Ma-na-se biết ăn năn: oán trách mình, cầu nguyện Chúa, bèn lấy lại được ngôi vua và nước cũ (IISử 33:12, 13). Khi Ê-sạt-ha-đôn chết, hoặc vì sự thương xót của vua đó Ma-na-se được thả về. Từ đó, chỉ biết có Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, Ma-na-se hủy phá hình tượng, trừ bỏ sự thờ cúng nhảm. Đức tin người Y-sơ-ra-ên không còn bị thử thách nữa (IICác 21:1-18; IISử 33:15-16).
Khi nền quân chủ của nước A-si-ri sắp bị lật đổ, chắc vua Giu-đa tưởng mình có thể cai trị đứng đầu một cường quốc độc lập. Bởi vậy, vua xây vách ngoài thành Đa-vít rất cao, cùng đặt các quan tướng trong các thành bền vững xứ Giu-đa (IISử 33:14). Lúc đó Ai-cập dưới Psammitichus trở nên rất mạnh. Ma-na-se kết ước cùng Ai-cập. Dường như cũng vì thế nên Ma-na-se đặt tên con là A-môn, theo tên một vị thần mặt trời của Ai-cập tỏ ra sự vui mừng về sự kết ước đó. Có một kết quả theo sau là các đạo binh Giu-đa phải sang làm việc cho vua Ai-cập. Nếu sự đó xảy ra lúc Ma-na-se gần qua đời thì dễ hiểu tại sao xác Ma-na-se không được chôn như các vua khác trong mộ nhà Đa-vít, chỉ được chôn trong vườn của U-xa (IICác 21:26). Rất lâu về sau, mặc dầu Ma-na-se đã ăn năn song người Giu-đa vẫn còn ghê tởm tên vua đó. A-môn con vua, cai trị thế cho cha 642 T.C..
IV. Một người thuộc họ Pha-háp Mô-áp đã cưới vợ ngọai bang (Exơ 10:30).
V. Một người thuộc họ Ha-sum đã bỏ vợ ngoại bang theo lời E-xơ-ra khuyên (Exơ 10:33).