Bê-na-gia Benaiah. Bénaja (Giê-hô-va xây cất).
I. Là con trai Giê-hô-gia-đa, người giàu có tiếng ở Kabzeel, xứ Do-thái, là thị vệ trưởng vua Đa-vít, là một trong ba mươi người dũng sĩ (IISa 8:18; 20:23; 23:20-23; ISử 11:23; 27:5, 6). Về sau, Bê-na-gia giúp Bát-sê-ba mà lập Sa-lô-môn làm vua, vâng mạng giết Giô-áp rồi thay chức Giô-áp (ICác 1:8, 36; 2:29-35, 46).
II. Người Phi-ra-thôn, cũng là một trong ba mươi người dũng sĩ (IISa 23:30; ISử 11:31; 27:14). III. Một trưởng tộc người Si-mê-ôn đã đánh ngườidân A-ma-léc và đuổi họ khỏi đồng bằng ở Ghê-đô. (I Sử-ký 4:36-43).
IV. Người Lê-vi dùng ống quyển thổi theo điệu A-la-mốt khi hòm giao ước được Đa-vít rước về Giê-ru-sa-lem (I Sử-ký15:20).
V. Một thầy tế lễ thổi kèn đi trước hòm giao ước khi Đa-vít rước hòm về Giê-ru-sa-lem (I Sử-ký 15:24).
VI. Cháu của Gia-ha-xi-ên, Gia-ha-xi-ên là tiên tri trong đời vua Giu-đa là Giô-sa-phát đã phán về sự giải cứu của Đức Giê-hô-va khỏi dân Mô-áp và Am-môn (II Sử-ký 20:14).
VII. Một trong những người coi sóc đền Đức Chúa Trời trong đời vua Ê-xê-chia (II Sử-ký 31:13).
VIII. Cha của Phê-la-tia, Phê-la-tia là người bị chết vì sự xét đoán của Chúa vì ông đã không bước theo lề luật của Ngài (Êxê 11:1-13). IX. Ngoài ra còn 4 người lấy vợ ngoại ban trong thời E-xơ-ra (Exơ 10:25, 30, 35, 43).