Lẽ thật

Lẽ thật Truth. Vérité.

Không có một danh từ nào quen biết mà lại khó định nghĩa hơn danh từ này. Vì nó được ứng dụng trong mỗi phương diện của đời sống và trong mỗi tư tưởng, nên mang nhiều ý nghĩa khác nhau, có thể sắp đặt như sau:

1. Lẽ thật của sanh-lý học (ontologie), tức nghĩa đúng và đủ của sự sinh hoạt rất thiết thực. Theo nghĩa nầy, lẽ thật là một danh từ của siêu hình học, và nó được định nghĩa khác nhau theo mỗi lý thuyết của triết học nào đã công nhận nó. Kinh Thánh chẳng hề lấy ý nầy của lẽ thật làm nền tảng, trừ câu hỏi của Phi-lát (Giăng 18:38). Phi-lát hiểu sai nghĩa luân lý sâu nhiệm về lẽ thật Chúa vừa dùng, đến nỗi Chúa không đáp và Phi-lát dường không đợi lời đáp vì câu hỏi của người chỉ bởi thái độ khinh bỉ, nghi ngờ. Theo Châm 23:23 thì “chân lý” thuộc về những gì ý nghĩa nhất và đáng giá nhất trong đời sống.

2. Lẽ thật hợp lý.Lẽ thật này tỏ ra mối quan hệ giữa một người với những điều người ấy biết, và sự hiểu biết này được diễn đạt với một ý làm trung tâm hoặc có thể gồm tóm lại mọi ý. Lẽ thật theo ý nầy cần sự tương hiệp của những ý tưởng và những sự thật. Dầu trong Kinh Thánh có nghĩa nầy của lẽ thật song cũng không phải là quan trọng nhứt, trừ sự ứng dụng thực hành trong Êph 4:21; IGiăng 2:4, 21.

3. Lẽ thật đạo đức. Đây là sự hiệp nhất của sự tỏ ra bề ngoài với ý tưởng trong lòng. Ý nghĩa đầy đủ của lẽ thật này là sự hiệp nhau của ý tưởng với sự thật, của sự phát biểu với tư tưởng và mưu định, và của thật hữu với tôn chỉ: ấy là ý nghĩa đặc biệt của chữ lẽ thật trong Kinh Thánh. Ở đây đã xuất hiện điều quan trọng nhất, mục đích của tôn giáo là theo lẽ thật mà liên lạc người với Đức Chúa Trời. Trong sự hiểu biết, người phải biết Đức Chúa Trời và trật tự Ngài như thật có và tưởng có. Bởi công việc, trong sự từng trải mình, người phải tỏ ra ý nghĩa thật về Chúa mà Ngài đã ban cho. Lẽ thật một phần là nhận biết, một phần là tỏ ra bởi việc làm. Điều nổi bật của sự dạy dỗ Đạo Đấng Christ là ý muốn được bày tỏ lẽ thật cùng làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời, ấy là thái độ cần có để hiểu biết lẽ thật. Lời Chúa dạy trong Giăng 7:17 hiệp với hết cả sự dạy dỗ trong Kinh Thánh. Êph 1:18 gợi ý về thái độ đúng để học hiểu đó mới là điều quan trọng, còn 4:18 tỏ ra hậu quả của thái độ sai lầm vì dốt không biết lẽ thật cốt yếu.

4. Lẽ thật tôn giáo.– Đây là một danh từ dùng thông thường trong sách vở hiện thời, để diễn đạt lẽ thật của tôn giáo, người ta đã hiểu theo một lối cạn cợt, vì thế mà nó mang một ý biệt lập. Cũng vậy, không thể nói lẽ thật tôn giáo và lẽ thật khoa học phản đối nhau.

I. Cựu Ước luận về lẽ thật.

Theo nguyên văn Hê-bơ-rơ, lẽ thật vốn chỉ một chữ (eꭥth), ý là “bền vững” (Xuất 17:12), cũng được hiểu là “bền lòng”, “trung tín” v.v…. Về sau càng được hiểu rộng hơn, lẽ thật có ý chân thật không càn bậy (Phục 13:14; Châm 12:17). Phàm kẻ không thật và nói dối đều bị khép vào tội nặng (Ôs 4:1-2; Thi 59:12; Châm 12:22). Sự chơn thật tỏ điều công bằng, ngay thẳng của quan án (Xuất 18:21; Châm 20:28; Mal 2:6). Có khi bày tỏ đức tánh của Đấng Mê-si (Thi 45:4; Ês 42:3). Chơn thật chỉ về sự tin cậy người nầy với người kia, hoặc đức tin người đối với Chúa (IICác 20:3), hoặc chỉ về Đức Chúa Trời không thất tín với người (Sáng 32:10; Phục 32:4; Thi 31:5). Lẽ thật cũng là ý Chúa bày tỏ cho loài người (Đa-ni-ên 8:12; 9:13); cũng chỉ về sự khôn ngoan (Châm 23:23).

II. Tân Ước luận về lẽ thật.

Theo nguyên văn Hy-lạp: alẽthos, Lu 21:3; Giăng 6:14; 7:40; ITê 2:13; ontõs, ICôr 14:25; pistos, ITi 3:1 có ý nghĩa là “thật” và nó được dùng nhiều trong ba sách Tin lành đầu và sách Công vụ các sứ đồ. Trong Mat 22:16 có sự ứng dụng rộng hơn dầu cho lời dua nịnh của người Pha-ri-si giả hình (Xem Mác 12:14; và Lu 20:21) là “lẽ thật”. Để minh chứng rõ ý chữ “thật” đó nên nói chân thật, phải ăn ở chân thật, chớ nói dối (Êph 4:25), nhứt là phải lấy lòng yêu thương mà nói ra (Êph 4:15).

1. Phao-lô hằng lấy hai chữ lẽ thật để bày tỏ ý chỉ của Chúa tuyên bố cho người, tức tỏ rõ trong lương tâm người (Rô 1:18-25). Lẽ thật là lời bày tỏ Tin lành của Chúa Jêsus Christ (IICôr 4:2; Ga 3:1-5), cũng là Tin lành nữa (Êph 1:13; Ga 2:5, 14; 4:16; 5:7; Cô 1:5). Lẽ thật chép trong hai thơ Ti-mô-thê và Tít dường như là các điều tin kính trong qui tắc của Hội Thánh (ITi 3:15; IITi 2:15; 3:7-8; 4:4; Tít 1:14). Các sách trong Tân Ước cũng đồng một ý đó (Hêb 10:26; Gia 1:18; IIPhi 1:22; IIPhi 1:12).

2. Giăng coi lẽ thật là một nghĩa cốt yếu đặc biệt. Xin coi luôn cả sự sống và sự sáng chép trong sách Tin lành Giăng. Đại ý sách đó là cắt nghĩa kỹ lẽ thật Chúa Jêsus đã bày tỏ và phương pháp Ngài dùng để bày tỏ. Ý nghĩa lẽ thật theo Giăng là sự thật rất mực của Đức Chúa Trời vậy (Giăng 8:40, 45, 46). Chúa Jêsus là Con một của Cha (Giăng 1:18), sanh ra vì lẽ thật, muốn làm chứng cho lẽ thật (Giăng 18:37). Vậy nên Ngài có đầy lẽ thật và lẽ thật do Ngài mà đến (Giăng 1:14, 17). Lẽ thật đã trở nên xác thịt, được ứng nghiệm trong Chúa Jêsus nên Ngài tức là lẽ thật (14:6). Ngài ban lẽ thật cho môn đồ (8:31). Sau khi lên trời Ngài ban Thần lẽ thật cho môn đồ để ở cùng họ luôn (14:17). Lẽ thật có thể buông tha tín đồ (8:32), khiến nên thánh (17:17-19), giúp giữ điều răn, và khiến họ lấy lòng chơn thật yêu người (IGiăng 2:4; 3:18-19). Vậy, tín đồ chẳng những biết lẽ thật thôi cũng nên tin (Giăng 8:32, 45, 46) và làm theo nữa (Giăng 3:21; IGiăng 1:6; IIGiăng 1:4; IIIGiăng 4:1-). Ai làm theo lẽ thật không dối trá (IGiăng 1:6; 2:4,21), thuộc v lẽ thật ắt giữ lời Đấng Christ dạy (Giăng 18:37). Vả, Thần lẽ thật sẽ dẫn môn đồ vào mọi lẽ thật (Giăng 16:13).

Lên đầu trang