PHỤC TRUYỀN LUẬT LỆ KÝ - Phần 1
Nếu bạn có cơ hội vào nhà hội, hãy nhìn quanh, tìm một cái tủ rất lớn ở một bên, thường nấp sau
tấm rèm hoặc màn che. Đây là mô hình tí hon của nó, và nếu được phép, hãy mở cái tủ ra, bạn sẽ thấy trong đó có một số cuộn giấy, thường là được bọc trong tấm vải thêu rất đẹp mắt; và những cuộn giấy nhỏ này là Luật của Môi-se, năm sách đầu tiên của Kinh Thánh - người Do Thái gọi đó là Torah hay Sách chỉ dẫn. Đây, tôi có cả năm bằng tiếng Hê-bơ-rơ, in rất đẹp, bản in nhỏ tí xíu. Nhưng mỗi cuộn giấy được đặt tên theo mấy chữ đầu trong cuộn vì đó là cách họ nhận diện các sách. Khi lấy một cuộn giấy ra khỏi tủ, họ sẽ hé mở ra xem đó là sách nào.
Ví dụ Sáng Thế Ký - theo cách chúng ta gọi - tên là Ban đầu, còn sách Phục truyền luật lệ ký chỉ được gọi là “Những lời” vì cụm từ đầu tiên trong tiếng Hê-bơ-rơ là “Đây là những lời”; và danh từ đầu tiên là Những lời, nên sách chỉ được gọi là Những lời, các Rabbi Do Thái sẽ gọi như vậy. Nhưng chúng ta gọi sách là Phục truyền luật lệ ký, tiếng Anh là Deuteronomy. Khi Cựu Ước bằng tiếng Hê- bơ-rơ được dịch sang tiếng Hy Lạp, người ta phải nghĩ ra một cái tên mới cho sách này và họ ghép tên Deuteronomy từ hai từ trong tiếng Hy Lạp. Một là từ “deutero” nghĩa là thứ hai, và từ kia là “nomos” nghĩa là luật, nên kể từ đó, sách thứ năm của Kinh Thánh này được gọi là Phục truyền luật lệ ký - luật thứ hai. Nếu đã đọc sách này một lượt thì bạn sẽ để ý thấy điều đầu tiên và ấn tượng nhất về sách, ấy là Mười Điều Răn cũng xuất hiện trong sách này như Xuất Ê-díp-tô Ký. Luật pháp xuất hiện hai lần - trong Xuất Ê-díp-tô Ký 20 và Phục truyền 5 có Mười Điều Răn, thế nên sách mới có tên như vậy - “luật thứ hai.”
Vậy tại sao Mười Điều Răn lại phải lặp lại lần thứ hai? Không chỉ mười điều, mà có tổng cộng 613 điều luật mà Môi-se truyền do dân Y-sơ-ra-ên, và chúng lặp lại trong Xuất Ê-díp-tô Ký và Phục truyền. Tại sao? Manh mối nằm trong sách Dân số ký, nó cho chúng ta biết rằng Phục truyền được viết sau Xuất Ê-díp-tô Ký 40 năm, và trong 40 năm đó, cả một thế hệ đã chết. Tất cả những người trưởng thành từng ra khỏi Ai Cập, vượt Biển Đỏ, đóng trại tại Si-na-i và nghe Mười Điều Răn lần đầu đều đã chết, vì họ vi phạm luật đó quá nhanh tới mức Chúa phán: “Các ngươi sẽ không bao giờ bước vào Xứ Hứa.” Các ngươi phải lang thang quanh đồng vắng trong 40 năm nữa cho tới khi tất cả các ngươi đều chết.
Như vậy, cả một thế hệ đã mất đi, còn thế hệ mới chỉ là những đứa trẻ - họ còn rất nhỏ khi dân này vượt Biển Đỏ và đóng trại tại Si-na-i. Nhiều người trong số họ thậm chí còn không nhớ những gì đã xảy ra khi cha ông họ ra khỏi Ai Cập. Nên giờ đây, một thế hệ mới phải nghe luật này lại từ đầu. Một thế hệ mới phải bước vào giao ước với Chúa, và điều này cũng đúng với chúng ta. Con cháu chúng ta, tự chúng phải bước vào giao ước mà chúng ta lập với Chúa. Vì Chúa không có cháu chắt, những điều này không nhờ thừa kế mà có. Chính bạn phải bước vào những lời hứa của Chúa. Cha mẹ bạn có thể ở trong giao ước, rồi ông bà bạn, bạn có thể truy ngược gia phả của gia đình, nhưng không nghĩa là bạn tự động được vào.
Như vậy, Môi-se phải nói lại hết từ đầu. Thực ra là có ba người, chỉ ba người còn sống từ thời Xuất Ê-díp-tô Ký. Giô-suê, Ca-lép và chính Môi-se. Giô-suê lúc này đã 80 còn Môi-se 120. Như vậy, ông đang đối mặt với nhu cầu của một thế hệ hoàn toàn mới chưa lập giao ước đó với Chúa, họ chưa nói rằng “chúng con sẽ làm như vậy.” Tại Si-na-i đã diễn ra lễ thành hôn và họ nói “chúng con sẽ làm như vậy” với Chúa. Chúa cho họ biết những điều kiện mà Ngài muốn họ sống theo, rằng Ngài muốn
họ sống như thế nào và họ nói “chúng con sẽ làm như vậy.” Nhưng họ đã không làm như vậy, nên họ đã đánh mất hết cả.
Cũng có một cơn khủng hoảng nữa. Không chỉ là thế hệ kế cận, họ còn ở một không gian cũng như thời gian khác. Lúc này, họ đã đóng trại ở phía đông sông Giô-đanh. Như vậy, họ sắp vào Xứ Hứa và đây là khủng hoảng thứ hai. Vì khi trước chỉ có mình họ ở trong đồng vắng, còn giờ đây, họ đang đứng trước một xứ mà kẻ thù đã chiếm đóng. Điều này tạo ra khủng hoảng và hơn thế nữa, Môi- se sẽ không vào với họ. Ông đã để mất quyền vào đó. Ông đã 120 tuổi và biết mình chỉ sống được thêm một tuần nữa. Chúa đã bày tỏ cho ông điều đó, rằng ông sẽ qua đời chỉ sau một tuần nữa. Ông còn một tuần với thế hệ mới này, thế hệ con cháu của những người mà ông đã đưa ra khỏi Ai Cập, và ông sẽ thuật lại toàn bộ từ đầu cho họ. Hơn nữa, họ sẽ thấy lại thấy phép lạ rẽ nước một lần nữa - lần này không phải là Biển Đỏ mà là sông Giô-đanh. Cứ như thể Chúa đang nói rằng “Ta sẽ phải bắt đầu lại từ đầu. Ta sẽ phải cho các ngươi thấy cánh tay quyền năng của ta khi rẽ nước sông, để các ngươi có thể vào xứ đó. Khi đã vào, các ngươi phải sống thế này.”

Tôi đã vẽ chút phác thảo rất thô sơ để bạn thấy được kiểu địa hình thời đó. Nhìn thô nhỉ, xin lỗi nhé, để tôi giải thích. Dải xanh dương, xanh lá này là sông Giô-đanh có cây cối bao quanh. Chỗ đó được gọi là Rừng rậm Giô-đanh, địa bàn của sư tử và gấu thời Cựu Ước. Sông Giô-đanh uốn lượn qua khu rừng nhỏ đó rồi đổ về Biển Chết. Thung lũng này là vết nứt sâu nhất trên bề mặt trái đất, chạy thẳng xuống, qua Châu Phi, Thung lũng Tách giãn lớn. Nhưng nó bắt đầu từ Xứ Hứa và phần này khoảng 305m dưới mực nước biển. Thực ra bạn có thể lấy được bằng phi công nếu mượn được một chiếc máy bay và bay xuống đó. Bạn sẽ có một chiếc bằng lái ghi rằng bạn đã bay dưới mực nước biển trên một chiếc máy bay. Nhưng nó đây, vết nứt sâu này và ở hai bên đều có núi. Bên này là dãy Mô-áp - và đây là Núi Nê-bô, nơi Môi-se sẽ qua đời. Ông sẽ qua đời, ngồi dựa vào một tảng đá trên đỉnh núi Nê-bô nhìn qua thung lũng này đến những quả đồi trong Xứ Hứa, nhưng ông sẽ không bao giờ vào đó.
Đây là trại quân Y-sơ-ra-ên khi Môi-se nói và viết Phục truyền, với đền tạm ở giữa. Họ đang đứng ngay trước sông, đối diện với thành đầu tiên mà họ phải chinh phục, Giê-ri-cô. Thành đó cũng ở dưới thung lũng. Xa xa trên các ngọn đồi là A-hi, Si-lô và Bê-tên, nhưng ở phía bên này của các ngọn đồi Giu-đê, họ sẽ chỉ thấy đồng vắng, chỉ thấy sa mạc vì đây là vùng không có mưa, thật sự cằn cỗi và trống trải. Tất cả các cơn mưa đều đổ xuống phía bên kia của các quả đồi - phía Địa Trung Hải, bên đó thì xanh tươi. Bạn chỉ thấy chút xanh xanh trên đỉnh; nhưng từ đó xuống Giê-ri-cô chỉ là đồng vắng và sa mạc cằn cỗi. Có một thung lũng đi lên phía Giê-ru-sa-lem, Wadi Kelt. Tôi đã cuốc bộ từ Giê-ru-sa-lem thẳng xuống Giê-ri-cô vào một ngày nọ qua thung lũng đó. Đó là một trải nghiệm rất kỳ lạ, quá ư là tĩnh mịch và hoang vắng. Trên đỉnh thung lũng là Núi Ô-liu và Giê-ru-sa-lem ở ngay phía bên kia.
Một điều khác mà bạn cần để ý là ở đường chân trời phía bắc có hai đỉnh núi, Núi Ê-banh ở phía bắc và Núi Ga-ri-xim ở phía nam. Họ sẽ phải nhóm họp tại hai ngọn núi đó và nhắc lại giao ước của Chúa, và Môi-se bảo họ rằng khi vào Xứ Hứa, họ phải đứng - dân sự phải đứng giữa hai ngọn núi, rồi một số người phải đứng trên núi này, một số người đứng trên núi kia và phải la lớn những lời chúc phước cùng sự rủa sả của giao ước. Điểm quan trọng ở đây là Chúa đưa họ qua Biển Đỏ trước rồi mới lập giao ước tại Si-na-i. Ngài không bảo họ phải sống như thế nào, sau khi cứu họ Ngài mới bảo. Ngài cứu họ trước, và giải phóng họ trước, rồi mới phán rằng: Bây giờ các con phải sống thế này.
Đó là khuôn mẫu của cả Kinh Thánh, trước hết, Chúa bày tỏ ân điển của Ngài qua việc cứu chúng ta, rồi Ngài phán: Bây giờ, để tỏ lòng biết ơn, các con nên sống như thế này. Như vậy, thế hệ mới này, chúng ta sẽ thấy Chúa giải cứu họ và đưa họ qua sông Giô-đanh. Vào thời điểm đó trong năm, lũ đang dâng cao và không thể vượt sông được. Nhưng sự việc xảy ra như sau: con sông uốn khúc dâng cao lên thung lũng sẽ làm lở bờ và bờ sông sẽ sụp xuống, tạm thời ngăn con sông trong vòng vài tiếng. Chúa đã làm như vậy và để họ đi qua, Chúa hẳn phải khiến con sông dâng lên, bờ sông lở ra và ngăn sông trong vài tiếng để họ có thể qua được. Sau khi thấy phép lạ đó, họ phải làm một việc tương tự như ở núi Si-na-i, nhắc lại những lời chúc phước và sự rủa sả của Luật.
Một lần nữa, chúng ta lại thấy điều này: Chúa hành động trước, sau đó Ngài mới bảo chúng ta phải đáp ứng với điều Ngài đã làm cho chúng ta như thế nào. Kiểu như thực hiện lại từ đầu, ở thời điểm cuối 40 năm, cho một thế hệ hoàn toàn mới, bạn có hiểu những gì tôi nói không? Đó là bối cảnh của Phục truyền luật lệ ký. Sách được viết ra và truyền ra ở trại quân này, phía bên này sông Giô- đanh khi Môi-se vẫn còn sống và ở với họ.
Có những cụm then chốt nhất định trong Phục truyền, chúng xuất hiện gần 40 lần. Một là cụm “xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em.” Hết lần này đến lần khác, họ được nhắc nhở rằng xứ mà họ sắp vào là một món quà, một món quà mà họ không đáng nhận - vì đất và muôn vật trên đất đều thuộc về Đức Giê-hô-va. Nếu bạn tới Luân Đôn và vào Tòa Royal Exchange, bạn sẽ thấy câu đó khắc trên đá phía trên tòa nhà - “đất và muôn vật trên đất đều thuộc về Đức Giê-hô-va.” Khi tranh luận xem ai là người sở hữu mảnh đất này, chúng ta nên nói ngay từ đầu rằng ấy là Chúa. Ngài ban nó cho bất cứ ai mà Ngài muốn.
Phao-lô nói điều này trong Công vụ 17 tại Mars Hill, A-thên. Ông nói rằng: chính Chúa là Đấng ấn định ranh giới và thời kỳ của một dân tộc trên đất này. Trái đất này là của Chúa và Ngài có quyền ban nó cho bất cứ ai mà Ngài lựa chọn - và đây là cụm từ xuất hiện khắp Phục truyền, “xứ mà Giê- hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em.” Nhưng một cụm khác cũng xuất hiện với số lần giống như
vậy là “Hãy vào và chiếm xứ” và ở đây có một bài học sâu sắc. Mọi thứ bạn nhận được từ Chúa là một món quà, nhưng bạn phải đi và chiếm lấy, nếu không thì bạn sẽ không có được nó. Nhiều năm trước, khi đang giảng, tôi đặt một thanh sô-cô-la trên bục giảng và nói: “Cái này dành cho cô cậu nào lên lấy nó trước tiên.” Và từ đó, lũ trẻ không hề nghe tôi nói chút nào, chúng cứ dán mắt vào thanh sô-cô-la ấy, không đứa nào động đậy. Đến cuối cùng, có một cậu bé táo tợn chạy lên, vồ lấy thanh sô- cô-la, xé vỏ ra trước khi ra khỏi bục giảng, vừa bước xuống bậc vừa nhai khiến tất cả những đứa khác đều ghét cậu. Chúng ghen với cậu quá đi, chúng tức cậu lắm, nhưng lẽ ra chúng có thể có nó.
Sự cứu rỗi là một món quà miễn phí từ Chúa, nhưng bạn phải vào và lấy nó. Ở đây có sự hợp tác, Chúa không áp đặt điều đó trên bạn. Ngài nói rằng: “Xứ đó đây, Ta ban nó cho các con, giờ hãy vào và chiếm lấy nó.” Để chiếm được nó cũng phải trả giá rất đắt, họ phải chiến đấu để giành được nó. Họ phải tranh chiến vì nó. Tuy Chúa ban mọi thứ cho chúng ta nhưng chúng ta phải cố gắng lấy được chúng. Cả Cựu và Tân Ước đều vận hành như vậy và chúng ta cần nhấn mạnh cả hai. Chúa cho anh điều này cách nhưng không, nhưng anh phải lại gần và nắm lấy nó. Nó là của anh nếu anh bắt lấy nó cách nhưng không, và đó là bài học mà tôi cố gắng truyền đạt bằng thanh sô-cô-la đó.
Xứ này có phải là của họ để mà giữ lấy không? Đó là một câu hỏi quan trọng, và nếu bạn đọc kỹ Phục truyền thì bạn sẽ rút ra hai kết luận. Kết luận 1, tôi gọi đó là Quyền sở hữu vô điều kiện và kết luận 2, tôi gọi đó là Sự chiếm hữu có điều kiện. Điều đó vẫn đúng, thậm chí với cả Y-sơ-ra-ên ngày nay và chúng ta cần nắm được cả hai lẽ thật này. Quyền sở hữu vô điều kiện - Chúa phán rằng Ta ban nó cho các con mãi mãi, nhưng không nghĩa là các con có thể chiếm hữu nó mãi. Để chiếm hữu nó thì cần có điều kiện. Bạn đã hiểu điều đó chưa? Đó là một sự phân biệt rất quan trọng. Nó là của các con một cách vô điều kiện, các con có thể sở hữu nó mãi mãi, nhưng liệu các con có sống trong đó và tận hưởng nó hay không? - Việc này còn tùy thuộc vào cách các con sống trong đó.
Chúng ta sẽ thấy rằng thông điệp của Phục truyền rất đơn giản. Các con có thể giữ xứ đó chừng nào các con còn giữ luật pháp Ta. Nhưng nếu các con không giữ thì dù các con có sở hữu nó và Ta đã ban nó cho con, các con cũng sẽ không được tự do sống trong đó và tận hưởng nó. Bạn có hiểu sự khác nhau giữa Quyền sở hữu vô điều kiện và Sự chiếm hữu có điều kiện không? Xứ đó có thể bị cất khỏi tay họ dù họ đã sở hữu nó đời đời, vì họ không sống cho đúng đắn trong xứ. Đó là một sự phân biệt rất quan trọng mà các tiên tri trong Cựu Ước luôn nhắc nhở họ. Các tiên tri nói rằng các ngươi sở hữu đất này, nhưng các ngươi sẽ không được tiếp tục hưởng điều đó nếu các ngươi cứ tiếp tục sống thế này. Giao ước kết nối xứ đó với luật pháp Chúa. Tới tận ngày nay, những lời hứa của Chúa cũng có điều kiện. Chúng là món quà dành cho bạn, nhưng cách bạn sống trong những lời hứa đó quyết định việc bạn có được hưởng chúng hay không.
Một trong những điều thú vị nhất về Phục truyền là đây. Hy vọng là bạn không mất hứng vì tất cả những từ đao to búa lớn này. Chắc là bạn chưa bao giờ nghe đến từ đầu tiên. Từ này nằm trong từ điển Oxford và là một thuật ngữ nổi tiếng trong lịch sử cổ đại. Mỗi khi một vị vua mở rộng bờ cõi và xâm chiếm những nước khác, ông ta sẽ lập một hiệp ước với các nước mà ông ta chiếm được, và hiệp ước đó gọi là Hiệp ước Suzerain hay Hiệp ước Bá chủ. Nếu đã từng đến Đảo Sark trong Quần đảo Eo biển thì bạn sẽ biết rằng gia đình cai quản hòn đảo nhỏ đó gọi là một Suzerain - đây là cùng một từ. Hiệp ước Bá chủ được lập giữa một vị vua và một đất nước đã phục dưới quyền ông ta. Nhìn chung, hiệp ước là một giao kèo rằng nếu họ biết điều thì ông ta sẽ bảo vệ và chu cấp cho họ, nhưng nếu họ không biết điều và không sống theo cách mà ông ta muốn thì ông ta sẽ trừng trị họ.

Có nhiều, rất nhiều ví dụ mà khảo cổ học đã khám phá ra từ thời cổ đại, đặc biệt là Ai Cập. Khi Ai Cập chiếm được nước khác, Pha-ra-ôn sẽ lập Hiệp ước Bá chủ với họ, một thỏa thuận rằng họ vẫn có thể sống tương đối tự chủ và tự do, nhưng họ phải sống theo cách của ông ta. Có một khuôn mẫu rất rõ ràng trong những hiệp định này, và điều thú vị là khi xem những hiệp định từ thời cổ đại của một ông vua chế ngự được một dân mới dưới chướng mình, bạn sẽ thấy nó có bố cục giống hệt với sách Phục truyền. Môi-se, khi được đào tạo trong trường Đại học Ai Cập, hẳn đã thấy một số hiệp định như thế và nghiên cứu chúng. Ở đây, Môi-se đang trình bày giao ước với dân Y-sơ-ra-ên dưới dạng một hiệp định, dường như muốn nói rằng giờ đây, Đức Giê-hô-va là vua của các ngươi và các ngươi là thần dân của Ngài. Đây là hiệp ước mà Ngài đang lập với các ngươi. Các ngươi cần cư xử như thế này.
Khuôn mẫu của hiệp ước thời xưa giống hệt với bố cục trên bảng đây. Có một chút lời tựa. Đây là hiệp ước giữa Pha-ra-ôn với dân Hê-tít hoặc một dân nào đó, rồi có một đoạn mở đầu mang tính lịch sử, tóm tắt xem vị vua đó và dân này liên quan đến nhau như thế nào. Sau chút lịch sử đó, sẽ có phần tuyên bố những nguyên tắc cơ bản làm căn cứ cho cả hiệp định. Sau đó có những điều luật chi tiết trong hiệp định quy định xem họ phải cư xử như thế nào, rồi đến phần thưởng phạt, nghĩa là phần thưởng hoặc hình phạt, điều vua sẽ làm nếu họ cư xử đúng mực và điều vua sẽ làm nếu họ không làm như vậy. Rồi sau đó, họ thường có một nhân chứng để ký vào đó, nhưng họ sẽ kêu cầu các vị thần chứng giám cho hiệp ước rồi cuối cùng...thường là họ kêu cầu thần thánh đến chứng giám. Họ sẽ kêu cầu những vị thần trong một buổi lễ tôn giáo đến chứng giám cho hiệp định, và cuối cùng sẽ có cái mà chúng ta gọi là điều khoản tiếp nối: điều gì sẽ xảy ra nếu vị vua qua đời. Trong đó sẽ nêu tên người kế vị mà dân đó vẫn phải phục tùng và cuối cùng, tất cả sẽ được chốt trong một buổi lễ, nơi tất cả những điều đó sẽ được viết ra, ký vào và được vị vua cùng những thần dân mới của ông ta chấp thuận. Thật thú vị khi tất cả những hiệp định mà người ta khai quật được có bố cục giống hệt với Phục truyền. Như vậy là Môi-se, với trình độ đại học về lịch sử Ai Cập, đã trình bày giao ước dưới một dạng thức mà những người này có thể dễ dàng nhận diện. Họ biết rằng giờ đây, Đức Chúa Trời là vua của họ, họ phải cư xử như thế này, và nếu họ làm theo luật của Ngài thì mọi thứ sẽ ổn thỏa.
Điều này đặt ra một câu hỏi thú vị: Vậy Chúa sẽ làm gì nếu họ không biết điều? Những hình phạt. Cũng xin nói thêm rằng những nguyên tắc cơ bản trong Phục truyền là Mười Điều Răn. Rồi chúng ta có rất nhiều luật chi tiết. Nhưng còn những hình phạt này thì sao? Chúa sẽ làm gì với họ nếu họ không sống theo cách Ngài phán bảo? Có hai điều mà Chúa sẽ thực hiện, một điều liên quan đến thiên nhiên, điều còn lại liên quan đến con người. Hình phạt liên quan đến thiên nhiên là nếu các con không cư xử đúng mực, các con sẽ không có mưa. Xứ mà họ sắp vào nằm giữa Biển Địa Trung Hải và Hoang mạc Ả Rập, và Chúa kiểm soát thời tiết, gió từ hướng tây thổi đến sẽ mang mưa từ Địa Trung Hải đổ xuống Xứ Hứa. Nhưng nếu gió từ hướng đông thổi đến thì đó sẽ là gió sa mạc nóng khô, thậm chí đến ngày nay vẫn được gọi là Khamsin và khi Khamsin đến, nó sẽ khiến mọi thứ khô lại và biến xứ đó thành hoang mạc. Chúa phán: Đó là một trong những hình phạt của Ta, đó sẽ là hình phạt đầu tiên mà Ta sẽ dùng. Khi các ngươi không biết điều thì trời sẽ không mưa. Nếu bạn còn nhớ thì trong thời Ê-li, trời đã không mưa trong ba năm rưỡi vì mọi thứ trở nên tệ hại.
Đó là cách đơn giản mà Chúa dùng để thưởng hoặc phạt họ. Nhưng nếu cách đó không thành công thì Ngài sẽ chuyển sang một cách dữ dội hơn chút ít. Ngài sẽ dùng nhân tố con người để tấn công họ, và có thể một số người trong các bạn chưa từng để ý đến một điều, ấy là khi Chúa đưa con dân Y-sơ- ra-ên vượt sông Giô-đanh vào xứ hứa từ phía Đông, Ngài cũng đưa một dân khác vào cùng thời điểm, đến chính xứ đó từ phía Tây. Ngài đưa họ từ đảo Cáp-tô đến và người ta gọi họ là dân Phi-li-tin. Giơ tay cho tôi xem bao nhiêu bạn biết điều đó, rằng Chúa đưa dân ấy vào cùng một thời điểm. Chỉ có ít người biết điều đó. Hãy đọc Kinh Thánh cho kỹ. Chúa phán qua A-mốt, trong A-mốt chương 9 rằng: “Chẳng phải Ta đã từng đem Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ai Cập và Người Phi-li-tin ra khỏi Cáp-tô hay sao?”
Như vậy, thực chất là Chúa đã mang một dân mà sau này trở thành kẻ thù đáng gờm nhất của Y- sơ-ra-ên đến chính xứ đó, vào cùng thời điểm đó. Nhưng Ngài đặt Y-sơ-ra-ên trên các núi hoặc các đồi, và Ngài đặt dân Phi-li-tin tại vùng đồng bằng ven biển, nay là dải Gaza. Cũng xin nói thêm rằng dân Palestine tự xưng là hậu duệ của dân Phi-li-tin. Vậy là Chúa đưa hai dân vào cùng một nơi, và Ngài phán rằng nếu các ngươi biết điều thì sẽ có hòa bình, nhưng nếu các ngươi không biết điều thì ta sẽ bảo dân Phi-li-tin đến và xử lý các ngươi. Chỉ đơn giản vậy thôi, và tất cả những điều này có chép trong Cựu Ước. Đó là một điều kỳ lạ. Một số người trong các bạn có thể khá bất ngờ khi biết rằng Chúa đưa hai dân tộc đó đến sống sát vách nhau trên cùng một dải đất nhỏ và dân này sẽ trừng phạt dân kia.
Bằng chứng ngay trước mắt cho thấy Chúa có thể đưa những quân cừu địch đến chống lại dân đang sống trong Xứ Hứa, ấy là là Ngài sắp phải đuổi những dân đã sống tại đó ra. Xứ Hứa không phải là đất vô chủ. Xứ đó không hoang vu. Trong đó là đủ loại dân, chủ yếu là dân Am-môn và dân Ca- na-an, họ đã ở đó rồi. Chúa phán với dân Y-sơ-ra-ên rằng: Các con phải đuổi chúng ra để chiếm xứ này. Chính tại điểm này mà chúng ta phải giải quyết một ý kiến phản đối Kinh Thánh, đây là một trong những phản đối hay gặp nhất. Gần đây, một số người nói rằng hội thánh nên bỏ Cựu Ước vì trong đó tồn tại quá nhiều vấn đề với Cơ Đốc nhân, rằng nếu chúng ta bỏ Cựu Ước và bám vào Tân Ước thì hầu hết những lý lẽ phản đối đức tin của chúng ta sẽ câm bặt. Vì hầu hết những lý lẽ phản đối niềm tin của chúng ta đều xoay quanh Cựu Ước. “Đừng nói là cậu vẫn tin rằng thế giới được tạo dựng trong sáu ngày đấy nhé?” - Chắc bạn hiểu ý tôi. Người ta nói theo lối đó. Ngay sau khi bạn nói rằng mình là người tin Chúa, họ sẽ đi thẳng vào một vấn đề trong Cựu Ước và một trong những vấn đề họ hay nhắc đến nhất là điều này. “Sao cậu lại tin vào một ông Chúa bảo người Do Thái giết hại toàn bộ dân sống trong Xứ Hứa được nhỉ? Thật xấu xa, thật bất công, thật không đúng, thật không công bằng.”
Và đây thật sự là một vấn đề đối với nhiều người. Chúa đưa dân Do Thái vào và Ngài nói: Hãy vào và giết hết mọi người trong đó, hãy đuổi chúng ra và chiếm lấy xứ! Cha yêu thương trên trời mà thế à! Nhưng có câu trả lời cho điều đó và chúng ta phải cho người ta biết câu trả lời thực sự. Câu trả lời là dân sống trong xứ đó đáng bị như vậy, và Chúa đã phán với Áp-ra-ham một điều thú vị: Bạn có thể đọc điều này trong Sáng Thế Ký 15. Chúa phán: Hỡi Áp-ra-ham, Ta sẽ phải để gia đình con và dòng dõi con ở nơi đất khách trong 400 năm cho đến khi tội ác của dân Am-môn đạt đến cực độ. Đó là câu trả lời phải đạo cho sự buộc tội vô đạo mà người ta gán cho Chúa. Sự thật không phải như vậy. Chúa đã đợi 400 năm để dân đó trở nên tệ đến nỗi không đáng sống trong đó, không đáng sống ở bất cứ đâu trên trái đất của Ngài.
Hãy hiểu rõ điều này. Trái đất của Chúa dành cho những người tốt và đất thánh của Ngài dành cho những người thánh. Đó là thông điệp của Kinh Thánh và sớm muộn gì thì Chúa cũng không cho phép những người gian ác ở mãi trên trái đất của Ngài. Ngài rất kiên nhẫn với họ. Ngài đợi rất, rất lâu, nhưng Ngài phải đợi tới khi tội ác của dân Am-môn đạt đến cực độ - và chỉ khi đó, Ngài mới nói: Bây giờ thì Ta có thể đưa các con ra khỏi Ai Cập, bảo các con đi và giết sạch chúng. Khảo cổ học đã khám phá ra mức độ tội lỗi của họ; càng biết nhiều về xã hội Am-môn trước khi người Do Thái vào đó thì bạn càng nhận ra rằng họ không đáng sống; và để họ sống cũng là một điều không an toàn. Để tôi nói cho bạn biết, hiện tại, chúng ta biết rằng các bệnh lây truyền qua đường tình dục đã xuất hiện tràn lan tại Ca-na-an khi dân Do Thái vào đó.
Không an toàn chút nào. Bạn có thể tưởng tượng được rằng mình sẽ sống trong một xứ mà ai cũng bị AIDS không? Đó là tình cảnh mà họ phải đối mặt khi nhìn qua sông Giô-đanh. Thực tế, để tôi đọc một hoặc hai câu Phục truyền cho bạn nghe. “Nhưng khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã đánh đuổi chúng trước mặt anh em thì anh em đừng tự nhủ rằng: ‘Nhờ sự công chính của ta nên Đức Giê-hô-va đã đem ta vào chiếm hữu đất nầy.’ Thật ra, chính vì tội ác của các dân tộc đó mà Đức Giê-hô-va đánh đuổi chúng khỏi anh em. Không phải vì sự công chính hay lòng chính trực của anh em mà anh em được vào chiếm hữu đất đai của các dân tộc ấy; nhưng vì tội ác của chúng mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ trục xuất chúng khỏi anh em.”
Bạn có biết rằng Winston Churchill trong Chiến tranh Thế giới Thứ nhất được làm Bộ trưởng Hải quân, và đêm đó ông đã rất hài lòng với chính mình, rồi nuôi một tham vọng rất lớn: “Mình sẽ đuổi quân Đức ra” - và ông cũng có cảm giác như vậy trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai. Nhưng rất thú vị: đêm đó, ông ngụ tại một căn nhà lớn tại vùng quê nước Anh và trong đó có một cuốn Kinh Thánh của tổ chức Ghi-đê-ôn, hay một cuốn Kinh Thánh cạnh giường. Ông nhấc Kinh Thánh lên và đọc những câu mà tôi vừa đọc cho bạn nghe, và Chúa phán: “Winston Churchill, con sẽ không đuổi được quân Đức ra vì con giỏi hơn chúng mà vì chúng tội lỗi,” và điều đó đã thay đổi thái độ của Winston Churchill, điều đó khiến ông phải hạ mình. Nó khiến ông hổ thẹn và ông không bao giờ quên câu Phục truyền mà mình đã đọc trong Kinh Thánh.
Chúa bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng các con phải giết chúng, các con phải đuổi chúng ra. Điều này lại đặt ra câu hỏi tại sao. Tại sao Chúa không tự hủy diệt họ trước? Tại sao Ngài lại bảo họ làm điều này. Câu trả lời rất rõ ràng, vì đó là cách để Ngài dạy họ: Những dân khác sẽ đến và làm như vậy với các con nếu các con sống giống họ, và điều các con đã làm với họ, các dân khác sẽ làm với các con. Từ đó, hãy trở lại để hỏi điều này. (Cho tôi cốc nước được không nhỉ? Cảm ơn!) Vì thế, bạn nhận ra rằng khi đọc Phục truyền, bạn đang đọc một tấm gương phản chiếu cuộc sống tại Ca-na-an. Mọi điều Chúa bảo họ không được làm là những điều đang xảy ra. Các bạn có nắm được không?
Như vậy, nếu đọc kỹ Phục truyền thì bạn có thể mường tượng được những gì đang diễn ra tại xứ này trước khi họ vào đó. Tôi có thể tóm tắt điều này bằng ba từ: một là Sự đồi bại. Phục truyền nói rất nhiều đến sự đồi bại về tình dục vì đó chính là điều đang diễn ra tại đất nước mà họ sắp vào. Có gian dâm, có ngoại tình, có lăng nhăng, có loạn luân, có đồng tính luyến ái, có loạn dâm giả trang (transvestism) - mặc quần áo của giới khác; có thú dâm - quan hệ với động vật, người ta ly dị và tái hôn tràn lan, và như tôi đã từng nói, bệnh hoa liễu xuất hiện khắp nơi. Phục truyền bảo họ đừng dính líu đến những thứ như vậy.
Điều thứ hai mà tôi muốn nói là Sự bất công - chúng ta biết rằng kẻ giàu ngày càng giàu lên còn người nghèo ngày càng nghèo đi. Ở đó có sự kiêu ngạo, lòng tham, có sự ích kỷ, sự bóc lột, và ai phải chịu trận đây? Người mù, người điếc, những người không thể nhận được phần của cải mình; và đặc biệt là những góa phụ và trẻ mồ côi bị đối xử rất tệ. Mọi người đều cố gắng trở thành số một và Chúa phán: “Các con không được làm như vậy. Các con phải chăm sóc người mù và người điếc, các con phải chăm sóc những góa phụ và trẻ mồ côi.
Đặc điểm thứ ba của người Ca-na-an là Sự thờ thần tượng. Thuyết huyền bí, mê tín dị đoan, chiêm tinh, ma thuật, thuật chiêu hồn - gọi hồn - và hơn hết là việc thờ cúng thần sinh sản - những điều khủng khiếp, thờ lạy Mẹ Trái đất, Mẹ Thiên nhiên và cố gắng sinh con bằng những hành vi tôn thờ tình dục. Trong những đền thờ ngoại giáo trong xứ, có cả gái mại dâm và mại dâm nam, và khi bạn muốn thờ lạy, bạn đến đó và quan hệ với một trong số họ. Thảo nào người ta bu đến các đền thờ và cả nước đầy những thứ mà Kinh Thánh gọi là A-sê-ra, hay những cây cột chỉ đơn giản là những hình dương vật ngửa lên - có một cái như thế ở giữa Basingstoke, Anh; một dương vật bằng cẩm thạch cao gần hai mét rưỡi, và cái này xuất hiện nhan nhản ở Ca-na-an.
Như vậy, thuyết huyền bí, mê tín dị đoan và ma thuật tràn lan khắp nơi. Tất cả những điều này, theo Phục truyền, đã khiến xứ đó trở nên ô uế trong mắt chúa. Đó là xứ của Ngài và lúc này, nó đã mục ruỗng. Nó đã bị ô uế, bị hạ bệ, bị ô nhục, và Chúa không thể để điều này tiếp diễn. Khi tôi đọc tất cả những điều này, tôi nghĩ bụng: Thôi xong, cả thế giới của chúng ta đang đi theo hướng đó. Chúa sẽ làm gì đây? Rồi, đó thực sự là bối cảnh của Phục truyền. Đừng vào và sống như thế, nếu không, Ta sẽ sai một dân khác đến giết các con giống như Ta đã sai các con đến giết chúng. Không phải vì các con tốt đẹp, mà vì chúng tồi tệ nên Ta mới làm điều này.
Giờ thì hãy xét đến Môi-se một chút. Ông đang đối mặt với một thế hệ mới. Ông cha chúng đã thất bại, họ đã để mất xứ mà Chúa hứa ban cho tổ tiên họ. Giờ đây, Môi-se nhìn vào con cháu họ và nghĩ: “Liệu chúng có sống sót không? Liệu chúng có vào được không? Liệu chúng có sống đúng đắn không? Khi phải đi vào và đối mặt với tất cả những điều này? Ở trong đồng vắng có ít cám dỗ như vậy mà đã đủ tệ rồi, giờ lại còn sống giữa những thứ đó nữa chứ. Liệu chúng có xóa sổ được điều đó, liệu chúng có loại hết những điều này một cách không khoan nhượng, hay chúng sẽ thỏa hiệp?” Và Môi-se biết là ông không thể vào cùng với họ. Ông sắp chết, chỉ còn sống được một tuần nữa và ông lo cho họ. Một mặt, họ phải đối mặt với trận chiến khốc liệt. Họ phải tranh chiến thì mới vào và chiếm được xứ. Mặt khác, sẽ có những cám dỗ mạnh mẽ cần phải vượt qua. Môi-se đã dẫn họ đến tận đây và lúc này, ông phải nói lời tạm biệt với họ. Vậy nên trong tuần cuối cùng của đời mình, ông đã nói cùng họ ba lần.
Cả sách Phục truyền gồm ba bài phát biểu dài, để phát biểu mỗi bài cũng mất kha khá thời gian trong ngày. Nhưng thú vị ở chỗ, văn phong của Phục truyền là cả văn nói và văn viết. Văn nói dễ hiểu
vì nó rất cá nhân, rất ấm áp. Nếu đọc sách từ đầu chí cuối thì bạn phải đọc to để cảm nhận được phong vị của sách. Khi đọc to lên, bạn sẽ nhận ra rằng Môi-se đã truyền đạt tất cả những điều này với họ và kêu gọi họ. Ông đang nói cùng họ như một người cha nói cùng con mình, như một người cha dặn dò con cái lúc lâm chung. “Các con ạ, khi bố qua đời...,” ông đã nói theo cách đó. Rất ấm áp, rất diễn cảm và xúc động, nhưng cũng rất trau chuốt.
Tôi nghĩ cũng không có gì là viển vông khi nghĩ rằng vào sáu ngày trong tuần cuối của cuộc đời Môi-se đó, ông đã nói và viết xen kẽ nhau; rằng vào ngày 1, 3 và 5, ông thực hiện một trong ba bài phát biểu này, nhưng vào ngày 2, 4, 6, ông viết chúng ra. Chắc hẳn là ông phát biểu từ những ghi chép của mình, vì ông là người có học, ông có thể viết và đọc. Như vậy, tôi tin rằng chúng ta đang xét đến ba ngày nọ xen kẽ ba ngày kia, ba ngày nói xen kẽ ba ngày viết. Ông đã phát biểu cả ngày trời - hay có lẽ là cả buổi sáng - rồi quay lại trại mình và viết hết những điều đó ra cho họ, rồi đưa bản thuật lại những gì đã nói cho các thầy tế lễ và bảo: “Hãy giữ cái này cạnh hòm chứng ước. Các ngươi đừng bao giờ quên điều ta đã nói, đừng bao giờ sửa một từ trong đó, mà phải giữ nó và đọc nó cho dân Y- sơ-ra-ên bảy năm một lần.”
Sách Phục truyền đã ra đời như vậy đó! Chúng ta có ba bài diễn văn của Môi-se tại trại quân ở phía bên kia sông Giô-đanh. Bài đầu chỉ nói về quá khứ - ôn lại 40 năm và xa hơn nữa, ôn lại những gì ông cha họ đã làm, rồi ông chuyển sang hiện tại và ban Luật pháp cho họ lại từ đầu. Đầu tiên là ông cho họ những nguyên tắc căn bản trong chương 4-11 rồi lý giải chi tiết trong chương 12-26. Đến lần thứ ba, cũng là lần cuối ông nói cùng họ, ngay trước khi qua đời, ông đã lo liệu cho tương lai của họ. Ngoài những điều khác, ông còn nói rằng: “Ta đã lập Giô-suê làm người đảm đương trách nhiệm của ta. Ta đã đưa các ngươi ra khỏi Ai Cập, Giô-suê sẽ đưa các ngươi vào, và khi vào đó, các ngươi phải đến núi Ê-banh và núi Ga-ri-xim, đọc lại luật này và quyết tâm làm theo, nhưng Chúa sẽ đưa các ngươi vào.” Rồi, đó là bố cục của Phục truyền luật lệ ký. Đó là một bố cục rất đơn giản và mỗi bài phát biểu có hai phần. Tôi đã cố gắng chỉ ra điều đó bằng những tiểu mục ở đây, và chúng ta sẽ lần lượt xem qua các phần này. Tôi chỉ có thời gian để giới thiệu với bạn phần đầu tiên, khi ông ôn lại thời họ ra khỏi Ai Cập - thời ông cha của họ. Rồi ông ôn lại những sai lầm của họ. Ông nói rằng ông cha các ngươi đã thất bại, các ngươi đừng như vậy. Thực ra tôi nghĩ là chúng ta nên dừng lại tại đây và nghiên cứu điều này ở bài nói chuyện sau.
PHỤC TRUYỀN LUẬT LỆ KÝ - Phần 2
Chúng ta đã kết thúc bài nói chuyện trước ngay tại ý mà chúng ta sẽ bắt đầu bài thứ hai - ba bài
phát biểu của Môi-se trong tuần cuối cùng của đời ông, với thế hệ con cháu của dân Y-sơ-ra-ên khi họ đóng trại phía bên này sông Giô-đanh. Bài diễn thuyết đầu tiên, chương 1-4, ông ôn lại quá khứ và ôn lại thời kỳ sau Si-na-i, khi Chúa lập giao ước với cha mẹ họ và ông nói rằng chỉ mất có 11 ngày để đi từ Si-na-i đến Xứ Hứa, thế mà cha mẹ các ngươi đã mất đến khoảng 15,490 ngày. Tại sao? Câu trả lời là thiếu đức tin. Đúng là họ đã đi thẳng đến Xứ Hứa, đến một chỗ gọi là Ca-đe Ba-nê-a, ngay tại biên giới và dừng lại tại đó, sai một người từ mỗi chi phái trong 12 chi phái vào do thám xứ, rồi quay lại và cho họ biết cách tốt nhất để vào đó - chưa đầy hai tuần sau khi rời Si-na-i. Các thám tử đã quay lại và họ nói: “Đó là một xứ sở tuyệt vời.” Họ trở lại, vác theo những chùm nho từ xứ đượm sữa và mật này. Điều đó đã trở thành biểu tượng của Ủy ban Du lịch Y-sơ-ra-ên; nếu đã từng đến đó thì bạn sẽ biết.
Họ trở lại và nói: “Đồ ăn thật tuyệt vời,” nhưng họ lại nói: “Dân ở đó cao lớn hơn chúng ta, ở đó có những người khổng lồ.” Vì người Do Thái không cao, họ rất nhỏ con. Các thám tử nói rằng ở đó có những người cao lớn, các bức tường bao quanh thành của họ lại vươn đến tận trời nên chúng ta sẽ không bao giờ chiếm được nó. Có một cuộc bỏ phiếu giữa vòng các thám tử và mười người trong số họ nói rằng chúng ta sẽ không bao giờ vào được còn hai người nói rằng: Đương nhiên là chúng ta sẽ vào vì Chúa lớn hơn tất cả bọn họ. Môi-se nói: Nghe này, chúng ta luôn cưỡi trên vai Chúa mà!
Tôi nhớ lúc còn nhỏ, tôi đã cưỡi trên vai bố tôi; và khi cưỡi trên vai bố mình, bạn biết mình cao lớn hơn mọi người và bạn có thể nhìn qua những bức tường cao. Môi-se nói: Anh em lo cái gì! Nhưng dù sao thì họ vẫn thực hiện cuộc bỏ phiếu dân chủ và đa số nghiêng về mười người chứ không phải hai người. Ấy là khi Môi-se nói rằng: Không ai trong các ngươi được vào đó, trừ hai thám tử, Giô- suê và Ca-lép. Chuyện xảy ra đúng như vậy.
Đó không phải là lý do khiến Môi-se không được vào. Sau đó khá lâu, ông không vâng lời Chúa và mất kiên nhẫn nên Chúa phán: Môi-se, con cũng sẽ không được vào đó, chỉ Giô-suê và Ca-lép được vào. Chỉ hai trong số 2,500,000 người làm được, và ba trước giả Tân Ước đã dùng điều đó như lời cảnh báo với Cơ Đốc nhân. Bắt đầu chưa phải là xong, đến được đích mới là tốt. Cả Phao-lô, Hê- bơ-rơ và Giu-đe đều dùng thực tế rằng chỉ hai trong số hai triệu người vào được xứ hứa để cảnh báo những người tin - hãy làm sao để anh em làm được, tiếp tục tin Chúa cho tới cuối cùng. Họ có mọi thứ trước mặt mình, nhưng lại mất nhuệ khí.
Trong mọi trận chiến, bạn cần có chiến lược, chiến thuật và nhuệ khí, nhưng về lâu về dài, chính nhuệ khí là yếu tố chủ chốt. Nếu người ta cảm thấy rằng mình sẽ thắng thì họ sẽ thắng và nếu họ cảm thấy thất bại thì họ sẽ thua. Nhiều nhà chỉ huy vĩ đại nhất biết điều này. Tướng Montgomery trong Chiến tranh Thế giới Thứ 2 là một tấm gương điển hình. Ông đã nâng cao nhuệ khí Quân Đoàn số 8 của Anh khi họ bị dồn lại Ai Cập. Ông chỉ trò chuyện với họ và nói: “Chúng ta sẽ hạ gục thằng cha Rommel này!.” Và họ đã thành công. Quan trọng là bạn có tin rằng mình sẽ làm được hay không. Tôi e rằng họ không tin như vậy. Nên tuy Chúa luôn thành tín với họ nhưng họ lại vô tín và nhìn chung, chương 4 nói rằng: Các con ạ, đừng như cha mẹ mình: họ đánh mất đức tin và họ đánh mất xứ hứa. Giờ thì hãy giữ đức tin của các con, rồi các con có thể giữ được xứ đó. Đó là một bài giảng rất đơn giản cho các bạn, và chắc các bạn không cần tôi phải giải thích thêm.

Nên hãy chuyển sang phần chính của sách, đọc phần này không được thú vị lắm. Chúng ta thích những câu chuyện hơn là luật lệ. Giống như đọc một danh bạ điện thoại từ đầu chí cuối khiến người ta hơi chán, nhưng đó là một phần thú vị. Bài phát biểu thứ hai là bài dài nhất, có lẽ là vào ngày thứ ba trong tuần cuối đời của Môi-se. Nhưng ông bảo họ phải sống như thế nào sau khi Chúa ban cho họ xứ đó, nếu họ muốn giữ nó. Ông bắt đầu với những nguyên tắc cơ bản trong lối sống công chính của Chúa, lối sống ngay thẳng của Ngài, ấy là Mười Điều Răn.
Mười điều đó là trọng tâm. Bạn học chúng trên mười đầu ngón tay; chúng là những nguyên tắc cơ bản nhất và tất cả đều nói đến một điều: tất cả đều nói đến sự tôn trọng. Tôn trọng Chúa, tôn trọng danh Ngài, tôn trọng ngày của Ngài, tôn trọng cha mẹ bạn, tôn trọng sự sống, tôn trọng hôn nhân, tôn trọng tài sản, tôn trọng danh tiếng của người khác. Cách nhanh nhất để hủy hoại xã hội là hủy hoại sự tôn trọng. Đó chính là điều đang diễn ra trên nước Anh chúng ta, chủ yếu là qua chương trình hài kịch trên ti-vi. Một nghệ sĩ hài nổi tiếng mà các bạn đều biết tên đã nói rằng “chúng tôi định loại bỏ tính thiêng liêng của mọi thứ”; nói cách khác, “mục tiêu của chúng tôi là hủy hoại mọi sự tôn trọng.” Sự tôn trọng hoàng gia, tôn trọng luật pháp, tôn trọng luật pháp, tôn trọng lẫn nhau. Hủy hoại sự tôn trọng tức là hủy hoại xã hội, và cả mười Điều Răn đều được xây dựng trên sự tôn trọng. Như vậy là trong phần đầu, chúng ta có Mười Điều Răn đó.
Rất thú vị khi so sánh giữa Luật của Môi-se ở đây và bộ luật tệ nhất cũng như hay nhất trong xã hội ngoại giáo. Khi bạn so sánh những tiêu chuẩn trong luật của Môi-se với bộ luật tệ nhất, chúng ta đã làm điều này với dân Am-môn sống tại đây từ trước, bạn sẽ thấy đây thật là một luật thật sự thánh khiết. Người ta sẽ khỏe mạnh và hạnh phúc hơn bao nhiêu nếu họ sống như vậy! Nhưng có một so sánh rất thú vị giữa Luật của Môi-se và một luật khác mà người ta đã khám phá được từ thế giới cổ đại tên là Bộ luật Hammurabi, một vị vua người Am-môn của một thành tên là Ba-by-lôn hay Ba- bên. Nếu bạn đến Louvre tại Paris, Pháp thì bạn nhất định phải đến xem cây cột bằng thép hay bằng đá mà người ta tìm thấy tại một nơi tên là Su-sơ xứ Ba Tư.
Nó hiện đang ở Louvre và cột đá đó có khắc 282 điều luật của Hammurabi. Những điều luật đó được viết trước thời Môi-se 300 năm. Nhiều học giả thích so sánh giữa hai bộ luật và bạn sẽ ngạc
nhiên khi làm như vậy. Không giết người, không phạm tội tà dâm, không trộm cắp, không làm chứng dối. Chúng đều có trong bộ luật của Hammurabi từ 300 năm trước đó. Một điều luật nổi tiếng gọi là Lextalionus hay luật trả thù - mắt đền mắt, răng đền răng - cũng nằm trên cột đá đó. Nhiều người nói rằng: “Ồ, những điều luật này khá phổ biến, ít nhất thì Vua Hammurabi cũng biết chúng.” Nhưng bạn biết đó, trong Rô-ma chương 2, Phao-lô nói một điều rất thú vị. Ông nói: Chúa đã viết luật pháp Ngài trong lòng dân ngoại. Ngài không chỉ viết nó trên đá, Ngài còn viết nó trong lòng người. Nói cách khác, người ta biết những điều này là sai; Chúa đã viết luật pháp Ngài trong lòng họ, họ biết điều đó. Bạn có biết rằng mọi xã hội trên thế giới đều nghĩ rằng loạn luân là sai trái không? Chúa đã viết những điều này trong lòng, nhưng Ngài cũng làm rõ chúng trong luật của Môi-se.
Tuy nhiên, có một số khác biệt rõ rệt giữa luật của Hammurabi và luật của Môi-se. Có một điều là luật Hammurabi gần như chỉ có một hình phạt cho mọi điều, đó là tội chết, trong khi Luật của Môi- se khá hiếm án tử hình. Chỉ có 15 điều trong luật của Môi-se lĩnh án tử hình. Như vậy, nếu so sánh thì Luật của Môi-se không quá man rợ như người ta nói - không quá hà khắc, không quá tàn nhẫn. Một khác biệt rõ rệt khác là trong Luật của Môi-se, nô lệ và phụ nữ là con người, trong khi Luật Hammurabi coi họ là tài sản. Vì vậy, phụ nữ không có quyền và không được tôn trọng trong luật Hammurabi, nhưng trong luật của Môi-se thì có - đó là một so sánh rất thú vị. Khác nữa là luật Hammurabi có phân chia tầng lớp, có quý tộc, có dân thường, và có luật riêng cho những tầng lớp khác nhau. Trong Luật của Môi-se hay Luật của Chúa không có cái gọi là tầng lớp và cùng một luật áp dụng cho tất cả mọi người. Tôi nói điều này vì một số học giả nói rằng: “Ôi dào, Luật của Môi-se cũng giống như nhiều luật khác thôi.” Không, luật này khá khác. Tuy Chúa đã viết luật pháp Ngài trong lòng dân ngoại, họ biết những điều này là sai nhưng có một khác biệt thú vị về mặt chuyên môn.
Tôi sẽ nêu tên chuyên môn rồi sẽ giải thích. Các điều luật Hammurabi thuộc dạng luật điều kiện (casuistic law). Chúng được trình bày dưới dạng điều kiện. Nếu ngươi làm thế này thì ngươi phải chết. Nếu ngươi làm thế này. Đó là một điều kiện. Trong khi các điều luật của Môi-se được trình bày dưới dạng mà chúng ta gọi là hình thức “mệnh lệnh” (apodictic), không phải dạng điều kiện mà là dạng mệnh lệnh: Ngươi không được làm như vậy! Bạn có thấy sự khác biệt không? Mọi điều luật của Hammurabi đều là “Nếu ngươi làm thế này thì ngươi sẽ bị trừng phạt.” Luật của Môi-se là “Ngươi không được làm thế này.” Chỉ Chúa mới có quyền nói theo cách đó. Luật của loài người thường là luật điều kiện: Nếu anh làm thế này thì hậu quả sẽ như sau. Nhưng Chúa có quyền nói rằng “Ngươi không được làm thế này. Ta ra lệnh cho ngươi không được làm như vậy.” Vì Ngài là Vua của các Vua. Như vậy là có những khác biệt.
Những điều còn lại của phần từ chương 12-26 bao trùm nhiều khía cạnh và những tiểu tiết trong đó rất tuyệt vời. Tôi chỉ có thể lướt qua các đề mục cho bạn và cho bạn thấy rằng chúng bao trùm thật nhiều khía cạnh. Đầu tiên, có rất nhiều điều luật tôn giáo. Chúng nói đến việc thờ thần ngoại giáo, tội đó đáng bị tử hình. Chúng nói đến thuyết huyền bí, tội đó bị tử hình - chiêu hồn người chết và tà thuật; tội nhạo báng; việc dâng những bông trái đầu mùa và ngon nhất; dâng phần mười; và một loại phần mười đặc biệt dâng ba năm một lần cho ngoại kiều, trẻ mồ côi và người góa bụa sống trong xứ. Những điều luật về Sa-bát. Đây là một điều hoàn toàn mới.
Trước thời Môi-se, chưa ai có ngày Sa-bát. A-đam không, Áp-ra-ham không, Y-sác không, Gia- cốp không. Đó là một điều mới cho những nô lệ từng phải làm việc bảy ngày một tuần. Giờ đây, Chúa cho họ một ngày trong tuần không phải làm việc. Một số người nghĩ rằng ngày Sa-bát có từ ban đầu, nhưng không phải. Ngày đó bắt đầu từ thời Môi-se và kết thúc nơi Đấng Christ, nhưng đó là một câu
chuyện khác. Ở đây có điều luật về các kỳ lễ - Lễ Vượt Qua, Lễ Ngũ tuần và Lễ Lều tạm. Có những điều luật về các sinh tế. Có những điều luật về sự hứa nguyện; nếu bạn hứa nguyện với Chúa thì bạn phải giữ lời - cái giá của nó là sự cứu rỗi đời đời của chính bạn.
Có những điều luật về sự phân tách. Tôi đang mặc bộ đồ Oxfam, 15 bảng. Nhưng đây là bộ đồ làm bằng vải pha len và polyester, thực ra là vải lông dê, chỉ có 15%. Nhưng tôi đang phạm luật của Môi-se, và chính một gia đình Do Thái đã làm tôi phạm luật vì nó là của nhà Marks và Spencers. Bạn thấy đó. Có những điều luật - các con không được pha lẫn các loại vải khác nhau; không được trộn lẫn các loại hạt giống trong vườn, không được trộn lẫn cái này với cái kia, không được bắt bò cày chung với lừa. Vậy tất cả những điều đó có nghĩa gì? Rất đơn giản, tất cả những điều này là một phần trong tập tục thờ thần sinh sản trong xứ. Người ta tin rằng khi trộn lẫn thứ này với thứ kia, họ sẽ tạo ra sự sinh sôi, năng suất; bạn có hiểu ý tôi không? Khi pha vải với nhau, anh sẽ làm cho vải sinh sôi. Tất cả là vì vậy. Chúa ban sự sinh sôi - anh không nhận được điều đó nhờ trộn lẫn thứ này với thứ kia, nên các luật về sự pha trộn mới nằm trong phần tôn giáo của Phục truyền luật lệ ký. Rồi có những luật về chính quyền, và thật thú vị là ở đây có những điều luật cho một vị vua.
Thế nhưng Chúa là Vua của họ - họ sẽ không có vua trong nhiều thế kỷ và Chúa cũng không muốn họ có vua, nhưng Chúa biết là một ngày nào đó, họ sẽ muốn có vua. Ngài đặt ra một số điều luật cho vua và thú vị nhất là khi một vị vua lên ngôi, người đó phải chép các điều luật của Môi-se bằng tay và thường xuyên đọc chúng. Bạn có thể tưởng tượng được việc người ta bảo Nữ hoàng Anh tại Tu viện Westminster rằng: “Người phải chép Kinh Thánh bằng tay” hay thậm chí là “chép Bài giảng Trên núi bằng tay và thường xuyên đọc điều đó” không? Làm vậy để đảm bảo rằng vua biết Luật, và vua không được có nhiều vợ, nhiều ngựa hay nhiều tiền.
Rồi ở đây có những điều luật cho các quan xét, ở đây có tòa phúc thẩm. Xúc phạm tòa án sẽ bị tử hình. Có những quy tắc về sự công bằng - không hối lộ, không thiên vị. Người ngoại kiều, trẻ mồ côi và người góa bụa được đối đãi hệt như một doanh nhân giàu có nhất. Đây chẳng phải là những điều luật tuyệt vời sao? Rồi có những điều luật về các nhân chứng - phải có ít nhất hai hoặc ba nhân chứng hoàn toàn đồng thuận về những điều họ đã thấy hoặc nghe, và nếu họ làm chứng dối, họ phải chịu chính hình phạt mà người kia phải chịu nếu bị kết tội. Nói cách khác, đây là lúc Kinh Thánh chép rằng lấy mắt đền mắt, lấy răng đền răng. Nếu tôi làm chứng dối tại tòa và khiến anh này bị phạt 30 triệu thì khi người ta phát hiện ra là tôi làm chứng dối, tôi sẽ bị phạt 30 triệu. Hoàn toàn công bằng đúng không - lấy mắt đền mắt, lấy răng đền răng? Rất công bằng.
Rồi đến sự trừng phạt, chỉ được tối đa là 40 đòn. Có đánh đòn, nhưng 40 là tối đa, nên người ta thường đánh 39 đòn để đảm bảo không phạm luật, nhưng Kinh Thánh chép rằng đánh nhiều hơn tức là anh đang sỉ nhục người ta. Anh đang hạ thấp họ, coi họ chỉ là một tảng thịt. Không nên để một xác chết treo trên cây sau khi mặt trời lặn và đem nó ra làm trò cười. Thực ra, Phao-lô áp dụng điều đó với Chúa Jêsus trong Ga-la-ti 3, rất thú vị. Rồi có những điều luật chống những tội đặc biệt - giết người. Tội này luôn lĩnh án tử hình, trừ trường hợp ngộ sát và vô ý. Sáu thành trú ẩn được lập ra để một người vô ý giết người có thể chạy tới và thoát án tử hình.
Có những điều luật chống bắt cóc và thật thú vị là tội này cũng bị tử hình. Những điều luật chống hiếp dâm; những điều luật chống cưỡng dâm; những điều luật chống trộm cắp tài sản và đặc biệt là dời các mốc giới. Mỗi người sẽ đánh dấu nông trại nhỏ của mình bằng các viên đá. Đêm đến, người ta có thể ra ngoài và dời các viên đá sang một hoặc hai mét mỗi đêm và đó là một tội rất nặng. Có
những điều luật về sức khỏe: phải làm gì nếu bạn mắc một bệnh ngoài da không chữa được. Từ phong hủi trong Kinh Thánh chỉ rất nhiều loại bệnh ngoài da khác nhau chứ không chỉ là bệnh phong theo tên gọi ngày nay. Những điều luật chống lại việc ăn những con vật đã chết, những điều luật về đồ ăn thanh sạch và ô uế: các con không được ăn thịt lạc đà, thỏ, lợn hoặc chim.
Rồi có điều rất lạ mà gần như mọi người Do Thái đều hiểu sai điều này: “Con chớ nấu dê con trong sữa mẹ nó.” Chỉ từ một câu đó mà người Do Thái đã xây dựng cả một chế độ ăn kiểu Kosher phức tạp, bếp ăn của họ có hai bộ nồi chảo tách biệt nhau hoàn toàn, các bồn để rửa chúng rồi đủ thứ; phải để các sản phẩm bơ sữa ở đây và các sản phẩm thịt ở kia. Họ đã hoàn toàn hiểu sai điều đó. Đó lại là một nghi thức thờ thần sinh sản ngoại giáo. Để có sự sinh sôi nảy nở, người ta cho dê con loạn luân với mẹ nó bằng cách nấu con dê trong sữa mẹ nó. Đó là một nghi thức sinh sản, chỉ vậy thôi; và Chúa bảo họ đừng bao giờ làm vậy, nhưng giờ đây, người ta đã xây dựng cả một hệ thống đồ ăn Kosher chỉ từ một câu Kinh Thánh, không cân xứng chút nào.
Rồi có những luật về phúc lợi, rằng các con phải để lại cụm ở góc ruộng cho người nghèo lượm lại. Có những điều luật quy định việc giúp đỡ hàng xóm có vật nuôi đi lạc. Có một điều luật nói rằng khi con bò đạp lúa để tách hạt khỏi vỏ, các con không được khớp miệng nó lại. Nó được thoải mái ăn thứ mà nó đang đạp cho những người khác. “Chớ khớp miệng con bò đang đạp lúa.” Và Phao-lô áp dụng điều đó với những người như tôi, những người giảng đạo. Ông nói người giảng đạo đang chuẩn bị đồ ăn cho anh em, hãy quyên tiền cho người đó, Phao-lô đã nói như vậy - một cách áp dụng luật rất thú vị. Họ được phép lấy trứng từ tổ chim nhưng không được bắt chim mẹ. Họ phải để lại con chim mẹ để nó đẻ thêm trứng.
Có những quy định về chiến tranh, họ không được chặt cây trong chiến tranh vì họ không đấu với cây, họ đang đấu với người. Tôi nghĩ đến luật đó khi Hoa Kỳ đầu độc các cánh rừng của Việt Nam và diệt hết cây cối. Chúa nói rằng các con không đấu với cây, các con đấu với người. Có cách chiến đấu. Đây là Công ước Geneva từ rất lâu trước khi người ta nghe đến Geneva. Những quy định rất thú vị cho nhà vệ sinh của quân lính và một quy định thú vị cho một quân nhân mới kết hôn. Anh ta có thể ở nhà trong một năm trước khi ra trận trở lại. Thật là một điều luật tuyệt vời đúng không? Để anh ta có thời gian tìm hiểu vợ mình và vun đắp hôn nhân cho bền chặt. Đừng có đi đánh trận mà phải đánh đổi hôn nhân ở quê nhà.
Vậy chúng ta phải làm gì với tất cả những điều luật này? Tôi vừa mới nhảy cóc đấy, có hàng trăm điều luật. Đầu tiên, phạm vi của những điều luật này rất thú vị. Chúng bao trùm toàn bộ đời sống từ việc bạn sắp đặt nhà vệ sinh đến cách bạn thờ phượng, từ quần áo đến việc nấu nướng của bạn. Chúa quan tâm đến toàn bộ đời sống. Sống đúng đắn không chỉ là điều bạn làm trong hội thánh vào Chúa Nhật. Sống đúng đắn là toàn bộ đời sống và luật của Môi-se cho thấy Chúa nói rằng có cách đúng đắn để làm mọi thứ và Ngài muốn dân sự sống đúng trong mọi mặt đời sống.
Điều thứ hai mà tôi suy ra từ sách là tính thống nhất tuyệt vời của những điều luật này. Tôi đã phân loại chúng cho bạn từ nãy đến giờ, nhưng thực ra là chúng trộn lẫn hết với nhau. Bạn đi thẳng từ một điều luật về không ăn thịt lạc đà đến một điều luật về các Kỳ lễ và trí tuệ phương Tây hiện đại không hài lòng với điều này. Chúng ta phải phân loại chúng. Chúng ta thích tập hợp chúng dưới các tiêu đề đúng không? Nhưng chúng đều trộn lẫn với nhau. Tại sao? Vì Chúa đang nói rằng không có sự phân chia trong đời sống. Chúng ta có xu hướng nói rằng cái kia thánh, cái này đời. Chúa không bao giờ nói như vậy.
Tất cả đều là một thể thống nhất. Tất cả đều hợp nhất, không chỉ bao trùm toàn bộ đời sống mà đó còn là sự trọn vẹn của đời sống, hay theo ngôn ngữ hiện đại là sự toàn vẹn. Đó là sự tổng hòa, Chúa hiện hữu dù bạn đang ngồi ăn hay đến hội thánh thờ phượng, giống nhau cả thôi. Tôi nghĩ là tôi đã kể với một số người trong đây rằng trong sách cầu nguyện của người Do Thái có một lời cầu nguyện đáng yêu khi bạn đi giải quyết nỗi buồn.
Với chúng ta thì đó là trò cười, chúng ta cười khẩy khi nghe điều đó, nhưng người Do Thái thì không như vậy. Họ cầu nguyện rằng: “Lạy Chúa, con cảm ơn Ngài vì cơ thể con đang hoạt động tốt, và cảm ơn Ngài vì bây giờ con thấy nhẹ cả người. Hallelujah.” Tôi đã vào nhiều nhà vệ sinh Cơ Đốc vì tôi đã ở nhiều nhà khác nhau. Trong đó thường có cả chồng sách tĩnh nguyện ngay bên cạnh, có câu gốc dán trên tường, nhưng cả sách lẫn câu gốc đều chẳng liên quan gì đến việc mà tôi vào để thực hiện. Đến khi tuổi cao sức yếu, không kiểm soát được ruột và bàng quang của mình nữa thì bạn sẽ ước rằng mình đã ngợi khen Chúa khi nó còn hoạt động tốt. Với Chúa thì tất cả là một thể thống nhất, là toàn bộ đời sống. Một đời sống thánh khiết là làm điều đúng đắn trong tất cả các phần.
Điều thứ ba mà tôi để ý thấy là mục đích của tất cả những điều luật này. Không phải để tước mất niềm vui hay dựng những hạn chế quanh họ. Có một cụm xuất hiện liên tục: “để ngươi được phước và được sống lâu trên đất.” Chúa muốn chúng ta được khỏe mạnh và hạnh phúc - thế nên Ngài mới lập nên luật pháp. Thế mà chúng ta nghĩ rằng Chúa chỉ ngồi đó nghĩ xem Ta nên bảo chúng phải làm gì và không được làm gì sau đó. Giống như có cậu bé đến trường và cô giáo hỏi: “Tên con là gì?” “Con tên là Đạt Ơi Đừng.” Cô giáo nói: “Chắc chắn là không ai gọi con như vậy đâu.” “Mẹ con suốt ngày gọi con thế.”
Và bạn biết đó, người ta tưởng tượng rằng Chúa chỉ ngồi một chỗ và nói đừng - Ngươi không được. Tại sao Ngài lập ra luật này? Ngài đang nói “để con được phước,” được sống tốt. Đó là một trong những điều đầu tiên mà chúng ta hỏi nhau. “Anh dạo này ổn không?” Cũng giống với từ hạnh phúc - Ngài quan tâm đến hạnh phúc của chính họ. Nên đọc tất cả những điều luật này là một điều ích lợi. Chúng ta phải đi tiếp.
Bài phát biểu thứ ba và cuối cùng trong ngày cuối, Môi-se lại nói cùng họ theo hai phần. Trong phần đầu, ông nói rằng giờ đây, các con phải tự mình xác nhận luật pháp. Khi các con vào xứ đó sau khi Chúa rẽ nước cho các con và đưa các con vào như Ngài đã rẽ nước cho cha mẹ các con và mang họ vào. Khi Ngài đưa các con vào, các con phải đến núi đó, phải đọc tất cả những phước lành và sự rủa sả này và phải áp dụng chúng cho chính mình.
Núi Ê-banh và núi Ga-ri-xim. Tôi đã đến núi Ga-ri-xim và một số người Sa-ma-ri còn sót lại trên thế giới vẫn sống ở đó. Họ có Luật của Môi-se, họ không có các sách khác trong Kinh Thánh nhưng họ có năm sách của Môi-se. Họ làm những bản sao nhỏ của cuộn giấy bằng vỏ lon cũ và viết một phần của luật - bằng tiếng Sa-ma-ri. Đó là một phần của Luật Môi-se và họ cho bạn xem một cuộn giấy rất, rất cũ mà họ đã giữ trong nhiều thế kỷ - đây là một bản sao của nó. Họ có một cuộn lớn, cao khoảng mét hai, bản thật. Họ trưng cuộn giấy ra như vậy để thu hút sự “quan tâm” nhất định, bởi lẽ họ rất, rất nghèo. Chính một người nữ Sa-ma-ri đã hỏi rằng chúng tôi nên thờ phượng Chúa ở đâu? Trên núi này, núi Ga-ri-xim, hay núi kia? Chúa Jêsus nói: “Không, vấn đề không phải là núi nào, vấn đề là “bằng tâm thần và lẽ thật.”
Nhưng nó đây. Hai ngọn núi này có âm vang tuyệt vời. Hai mặt của chúng lõm vào và đối diện nhau, nên kiểu như một đấu trường khổng lồ có hai đỉnh. Người ta la to những phước lành từ đỉnh
này, những sự rủa sả từ đỉnh kia và dân sự phải la A-men sao mỗi lời chúc phước và rủa sả. Tôi đã làm điều này vào một tối Chúa nhật, tôi đang giảng tại một hội thánh Anh giáo vào tối Chúa Nhật và tôi nói: “Hãy rủa sả người ta và tôi muốn các bạn nói A-men sau mỗi lời rủa sả.”
Đáng nguyền rủa cho kẻ nào khinh bỉ cha mẹ mình! Đáng nguyền rủa cho kẻ nào dời ranh giới của láng giềng mình! Đáng nguyền rủa cho kẻ nào làm cho người mù lạc đường! Đáng nguyền rủa cho kẻ nào bẻ cong công lý đối với ngoại kiều, kẻ mồ côi và người góa bụa! Đáng nguyền rủa cho kẻ nào nằm với vợ của người lân cận mình. Đáng nguyền rủa cho kẻ nào nhận của hối lộ để giết người vô tội! Đáng nguyền rủa cho những kẻ đang tâm tà dâm và ngoại tình, kẻ tham lam, kẻ thờ thần tượng, kẻ vu khống, kẻ say sưa, kẻ tống tiền.
Khi chúng tôi đọc điều này vào tối Chúa Nhật, hội chúng ngày càng lặng dần, lặng dần và những tiếng A-men tắt dần. Có người đến gặp tôi sau giờ và nói: “Mục sư có biết tại sao chúng tôi lại im lặng không?” Cậu nói: “Vì chúng tôi phát hiện ra là mình đang rủa sả chính mình.” Những điều tôi vừa đọc cho các bạn là từ Phục truyền đoạn 27, nhưng chúng có trong Kinh Cầu nguyện Chung của Anh giáo để nhắc lại vào mỗi Mùa Chay - và hội chúng đó không hề biết rằng tôi chỉ đang cho họ đọc Kinh Cầu nguyện của Anh giáo.
Nhưng để tôi cho bạn biết, các hội thánh sợ làm buổi lễ đó vì họ sợ làm dân sự khó chịu. Bạn cứ thử tưởng tượng xem điều đó sẽ có tác động như thế nào nếu cứ vào Mùa Chay, mọi Hội thánh Anh giáo tại Anh đều rủa sả dân sự trong danh Thiên Chúa. Nhân tiện, trong Ga-la-ti, Phao-lô nói rằng nếu một nhà giảng đạo đến với anh em và truyền một phúc âm khác với phúc âm Phao-lô đã truyền thì hãy nguyền rủa anh ta. Người ta hỏi: “Vậy tôi phải làm gì với những nhà giảng đạo xuyên tạc phúc âm?” Anh có thể rủa sả họ. Chúng ta có quyền làm điều đó, lời nói có sức mạnh, sự chúc phước có sức mạnh, sự rủa sả cũng vậy. Từ để rủa sả là “khốn thay.” Và Môi-se nói: Khi vào trong xứ, hãy đi lên hai núi đó, la to những phước lành trên một núi và những sự rủa sả trên núi kia, dân sự ở giữa hãy nói A-men. Hãy xác nhận giao ước; các con sẽ được phước và tận hưởng xứ đó nếu các con giữ những điều luật này, nếu không thì các con sẽ bị rủa sả.
Phần còn lại của lịch sử Cựu Ước là như vậy. Khi bạn đọc Phục truyền 28, cứ như thể bạn đọc toàn bộ lịch sử Y-sơ-ra-ên trong bốn ngàn năm qua vậy - vì Chúa vẫn tiếp tục nói: Nếu các ngươi cứ như vậy, thậm chí sau khi Ta mang mưa đi mà các ngươi không nghe, thậm chí sau khi ta sai kẻ thù đến chiếm xứ mà các ngươi không nghe, thì ta sẽ khiến các ngươi tan lạc khắp đất và các ngươi sẽ bị chế nhạo và cười chê. Bạn đã nghe chuyện cười về người Ireland, người Scotland và người Do Thái chưa? Phục truyền 28 báo trước rằng điều đó sẽ xảy ra và khi bạn đọc Phục truyền 28, bạn sẽ hiểu được toàn bộ lịch sử Y-sơ-ra-ên cho tới ngày nay. Chúa đã và luôn thành tín - Ngài đã giữ lời hứa chúc phước và rủa sả họ. Họ đã được phước hơn mọi quốc gia khác và họ đã bị rủa sả hơn mọi quốc gia khác.
Điều này chứng tỏ rằng có Đức Chúa Trời và Ngài là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Chương 32, Môi-se hát. Ở tuổi 120, Kinh Thánh chép rằng mắt ông không mờ, và hẳn là ông có một chất giọng hay. Môi-se, cũng giống như nhiều tiên tri khác, là một nhạc sĩ. Tiên tri và âm nhạc gắn liền với nhau xuyên suốt Kinh Thánh. Đa-vít là một tiên tri và ông là người sáng tác nhiều bài hát nhất cho Kinh Thánh của chúng ta.
Nhưng Môi-se đã hát, ông và chị mình là Mi-ri-am đã hát khi họ vượt Biển Đỏ và Môi-se đã viết một bài hát hay mà người Anh chúng ta hát mỗi năm một lần. “Ôi, lạy Chúa, nguyên Đấng giúp tôi
mãi. Là ước vọng lúc hậu lai. Duy cánh tay Chúa bao phủ ngày đêm. Lòng càng được vững vàng thêm.” Chúng ta cả gan hát điều đó vào Chúa Nhật Đình Chiến. Duy cánh tay Chúa bao phủ ngày đêm. Lòng càng được vững vàng thêm ư? Nhưng chúng ta lại thủ sẵn vài quả bom nguyên tử để phòng thân.
Nhưng đó là bài hát của Môi-se, bài hát phỏng theo Thi Thiên 90 và ở đây, ông hát một bài ca và nói: “Đức Chúa Trời hẳn nhiên và hoàn toàn đáng tin cậy, không dời đổi và thành tín.” Ngài là Vầng Đá, Ngài là Đức Chúa Trời thành tín, trong Ngài không có sự bất công. Bạn đã bắt đầu nhận ra lời bài hát chưa? Hát nhanh nào - Max đâu rồi? Hãy đánh đàn piano đi và chúng ta sẽ hát bài đó. Số bao nhiêu rồi nhỉ? Mười hai. Nhanh lên, tôi đang hết thời gian nên hãy hát nhanh thôi nhé. “Ngợi tôn danh cả.” Chỉ đánh nốt nhạc thôi cũng được. “Ngợi tôn danh cả Vầng Đá Chúa đời đời. Việc Ngài luôn toàn hảo và đường của Ngài chính trực. Ngợi tôn danh cả Vầng Đá Chúa đời đời. Việc Ngài luôn toàn hảo và đường của Ngài chính trực. Lạy Chúa, thành tín thay Ngài, công chính thay Ngài. Chính trực, công minh là Ngài. Lạy Chúa, thành tín thay Ngài, công chính thay Ngài. Chính trực, công minh là Ngài.”
Bạn vừa mới hát bài ca của Môi-se và Kinh Thánh chép rằng khi chúng ta bước vào sự vinh hiển trong sách Khải huyền, chúng ta sẽ lại nghe bài ca của Môi-se. Đó là một bài hát hay. Ông chẳng lấn cấn gì với việc Chúa bảo họ giết người Am-môn. Ông nói Chúa không có sự bất công; Ngài thành tín, Ngài tốt lành.
Chương 33, ông chúc phước cho 12 chi phái, từng chi phái một. Ông thật sự là một tiên tri vì ông có thể nhìn thấy tương lai của từng chi phái và ông chúc phước cho từng chi phái. Chỉ có một chi phái mà ông không chúc phước và chi phái đó biến mất. Xuyên suốt Kinh Thánh, 12 chi phái có sự thay đổi, không phải tất cả đều tồn tại. Cũng giống như trong 12 sứ đồ có một người hư mất, trong 12 chi phái có một chi phái mất đi - một sự tương đồng thú vị giữa Cựu và Tân Ước. Chương 34 là sự qua đời và việc chôn cất Môi-se.
Tôi khá chắc chắn khi bảo bạn rằng ông không viết phần này, phần Phục truyền duy nhất mà ông không viết; có lẽ là Giô-suê đã viết thêm vào, nhưng ông đã qua đời một mình, lưng dựa vào tảng đá trên đỉnh núi Nê-bô nhìn qua sông Giô-đanh tới xứ hứa, xứ mà ông không bao giờ nhìn thấy. Thực ra là có; ông được vào đó một lần, vào nhiều thế kỷ sau, và ông trò chuyện với Chúa Jêsus trên một trong các đỉnh núi đó. Nhưng ông đã qua đời trên đỉnh Nê-bô và ông được chôn cất tại đó. Không ai tìm được mộ ông vì không ai có mặt lúc ông được chôn cất, thế có phải ông tự chôn mình không? Bạn sẽ thấy câu trả lời ở sách Giu-đe trong Tân Ước. Một thiên sứ đến và chôn cất ông. Khi thiên sứ tiến đến gần Môi-se, ma quỷ đang đứng ở phía bên kia Môi-se và nói “Người này là của ta. Hắn đã giết một người Ai Cập, hắn là của ta.” Đó chính là thiên sứ trưởng, Mi-ca-ên. Mi-ca-ên nói với ma quỷ rằng “Cầu Chúa quở trách ngươi” rồi vị đó đến và chôn Môi-se.
Một câu chuyện hay, với cái kết tuyệt vời. Tất nhiên là vị đó chỉ chôn xác ông; còn tâm linh ông thì về với Chúa. Người ta đã thương khóc ông suốt một tháng. Họ cố gắng tìm xác ông, mà không tìm được; và đó là đoạn kết của câu chuyện. Phục truyền luật lệ ký là cuốn sách nền tảng nhất trong cả Cựu Ước. Đó là chìa khóa mở ra toàn bộ lịch sử Y-sơ-ra-ên. Vì khi vào xứ hứa, họ chỉ chiếm các núi còn để các thung lũng cho người Am-môn và vào một tối thứ bảy, những gã trai trẻ xuống núi, đi vào các thung lũng để tìm các cô gái.
Đó là khi cả một câu chuyện buồn và nhơ nhớp bắt đầu. Không lâu sau, họ sống giống hệt với các dân kia, hết tiên tri này đến tiên tri khác đã bảo họ rằng: cứ thế này thì Chúa sẽ giữ lời hứa, Ngài sẽ rủa sả các ngươi. Mọi tiên tri đều kêu gọi theo lời Phục truyền luật lệ ký. Trong hơn một ngàn năm, họ đã chật vật giành lấy mọi thứ mà Chúa đã hứa cho họ. Họ đã mất một ngàn năm từ Áp-ra-ham đến Đa-vít và họ giành được mọi thứ - và đến 500 năm sau, họ mất hết mọi thứ, chúng ta sẽ thấy điều đó khi nghiên cứu sách Các Vua. Bạn có thể tóm tắt toàn bộ lịch sử của Y-sơ-ra-ên chỉ trong hai câu. Vâng phục và công chính mang đến cho họ phước lành. Bất tuân và gian ác mang đến cho họ những rủa sả.
Sách Phục truyền cũng đóng vai trò rất quan trọng trong Tân Ước - sách được trích dẫn 80 lần chỉ trong 27 sách. Chúa Jêsus biết rất rõ Phục truyền. Đến nỗi khi Ngài bị cám dỗ trong đồng vắng - chính là Hoang mạc Giu-đa mà Môi-se đã nhìn bằng đôi mắt nhòa dần - khi Chúa Jêsus bị cám dỗ trong đồng vắng đó, Ngài đã dùng Kinh Thánh để bảo vệ mình và Ngài luôn trích dẫn Phục truyền luật lệ ký. Điều đó không thú vị sao? “Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi” - Phục truyền. Bạn thấy đấy, sách này rất quan trọng. Bài giảng trên núi chứa đầy Phục truyền. Người nữ Sa-ma-ri mà tôi đã nhắc đến - bà hỏi: Chúng tôi nên thờ phượng Chúa trên núi Ga-ri-xim này, một núi thánh của chúng tôi, hay trên núi thánh của người Do Thái tại Giê-ru-sa-lem? Ngài đáp: cả hai đều không phải, sắp đến ngày chúng ta thờ phượng bằng tâm thần và lẽ thật. Khi người ta bảo Ngài tóm tắt Luật của Môi-se, Ngài đã tóm tắt luật bằng những câu từ trong Phục truyền luật lệ ký. “Anh em phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực mà kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời.” Nhân tiện thì một trong những điều đáng ngạc nhiên nhất mà tôi quên nói đến, nhưng cực kỳ quan trọng, là đây: thậm chí trong phần mạnh nhất của luật thì từ hay gặp nhất vẫn là “yêu.” 31 lần trong đó - đằng sau tất cả các điều luật là tình yêu thương.
Chúa Jêsus phán: Nếu các con yêu mến Ta thì sẽ vâng giữ các điều răn Ta. Không có sự mâu thuẫn giữa luật pháp và tình yêu thương. Nếu yêu Chúa thì bạn vâng giữ luật pháp Ngài. Phao-lô nói rằng tình yêu thương làm trọn luật pháp và thực sự, đó không phải là vấn đề về pháp lý, đó là vấn đề yêu thương. 31 lần từ “yêu” xuất hiện trong phần đó, 31 lần từ “vâng phục” xuất hiện, vì yêu thương là vâng phục vì trong mắt Chúa, tình yêu là sự trung thành. Là luôn trung thành với ai đó. Là yêu họ quá nhiều tới nỗi muốn làm điều mà họ muốn bạn làm.
Đó là một ý rất quan trọng vì đôi khi chúng ta nghe rằng luật pháp và tình yêu thương đi ngược lại với nhau, không phải như vậy. Vâng giữ luật pháp là thể hiện tình yêu của bạn với người ban nó. Nên khi người ta hỏi Chúa Jêsus rằng: Luật pháp là gì? Ngài nói: Ấy là yêu thương. Hai điều răn quan trọng nhất là yêu Chúa và yêu người lân cận. Tất nhiên là hãy nhớ rằng Môi-se và Ê-li đã trò chuyện cùng Chúa Jêsus. Bạn có biết là họ đã trò chuyện về điều gì không? Kinh Thánh chép rằng họ nói về Xuất Ai Cập mà Chúa Jêsus sắp làm trọn tại Giê-ru-sa-lem. Một Xuất Ai Cập để giải phóng người ta khỏi cảnh nô lệ. Khi Chúa Jêsus chết trên thập tự giá thì đó là Xuất Ai Cập của chúng ta.
Phao-lô nhắc tới Phục truyền hết lần này đến lần khác, khi ông nhấn mạnh vào đạo của tấm lòng, rằng điều mà Chúa thực sự quan tâm không phải là cắt bì trên thân thể mà là cắt bì trong tấm lòng, những tấm lòng được cắt bỏ sự gian ác và những tấm lòng tự do yêu kính Chúa và sống đúng đắn. Tôi nghĩ đó là tất cả những điều mà tôi muốn nói về Phục truyền luật lệ ký. Tôi hy vọng là nhờ đó, bạn sẽ có cảm giác muốn đọc sách và đọc ba bài phát biểu đó, từng bài một. Hãy nghĩ đến chúng, cảm nhận chúng và nhận ra rằng đây là toàn bộ lịch sử của chúng ta vì giờ đây, chúng ta là con cháu của
Áp-ra-ham và chúng ta đã được ghép vào cây ô-liu của Y-sơ-ra-ên và vì vậy, đây không phải là một lịch sử lạ lẫm về một dân khác, chúng ta đang đọc chính lịch sử của mình.
Chúa chẳng hề biến cải và Ngài sẽ đối xử với chúng ta hệt như cách Ngài đối xử với họ. Có cả phước lành và sự rủa sả, có sự vâng phục và bất tuân, có sự công chính và gian ác; và nếu chúng ta nghĩ rằng mình có thể thoát tội khi xử sự giống như mọi người ngoại xung quanh thì chúng ta cần phải suy nghĩ lại. Chúa phán với dân Y-sơ-ra-ên rằng các con hãy vào và chiếm xứ từ tay họ nhưng đừng sống theo cách của họ vì nếu các con làm như vậy, Ta sẽ sai dân khác đến chiếm xứ từ tay các con, và điều đó vẫn còn đúng. Như Phao-lô nói, những điều này được ghi chép lại để làm gương cho chúng ta và tốt cho chúng ta, để chúng ta rút ra bài học từ những sai lầm của họ, để không phạm những sai lầm như vậy, vì Chúa vẫn khát khao một dân tộc thánh, cũng là một dân tộc khỏe mạnh và một dân tộc hạnh phúc. A-men.