LỊCH SỬ TUYỂN DÂN TẬP II: GIÔ-SUÊ – SA-LÔ-MÔN

MỤC LỤC

BÀI 1. LÒNG GANH TỊ HỦY DIỆT HÀNG NGÀN NGƯỜI.

KINH THÁNH: Dân số ký 16 và 17.

CÂU GỐC: “Hãy hết lòng tin cậy Đức Giê-hô-va, chớ nương cậy nơi sự thông sáng của con; phàm trong các việc làm của con, khá nhận biết Ngài, thì Ngài sẽ chỉ dẫn các nẻo của con” (Châm ngôn 3:5-6).

MỤC ĐÍCH: Giúp tín hữu biết sự ganh tị là một tội nặng, nhất là ganh tị và chỉ trích tôi tớ của Đức Chúa Trời.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ lên án sự ganh tị

(Mác 10:35-45).

TH:

Ganh tị hủy diệt hàng ngàn người

(Dân 16 và 17).

TB:

Lòng ganh tị hủy diệt

(Châm 6:34; Nhã ca 8:6).

TT:

Ganh tị là một tội nặng

(Sáng 37:1-11).

TN:

Đức Chúa Trời là Quan án

(Thi 50:6; Rô-ma 16:5-7).

TS:

Môi-se để Đức Chúa Trời đoán xét

(Dân 16:5-7).

TB:

Đừng đoán xét ai

(Mác 7:1-5; Gia-cơ 5:12).

Khi dân Y-sơ-ra-ên ở trong đồng vắng, 10 sứ giả trở về sau chuyến do thám Đất Hứa đã xui cho dân chúng lằm bằm Môi-se và A-rôn. Bấy giờ đến việc Cô-rê, Đa-than và A-bi-ram với 250 người nữa, vì lòng ganh tị mà chỉ trích Môi-se và A-rôn. Kết quả của tội ấy thật đáng sợ.

I. CÔ-RÊ, ĐA-THAN VÀ A-BI-RAM GANH TỊ MÔI-SE VÀ A-RÔN (Dân 16:1-14).

Cô-rê thuộc về dòng Lê-vi, có uy tín lớn, vì được Chúa dùng trong đền tạm, nhưng không phải là thầy tế lễ. Cô-rê hiệp với hai bạn mình là Đa-than và A-bi-ram, rồi cả ba xúi giục 250 người nữa thuộc hàng lãnh đạo đứng lên chống lại Môi-se và A-rôn. Họ dựa vào thế lực của quần chúng, công kích Môi-se và A-rôn hai điều:

1. Môi-se và A-rôn tự tôn trên dân Y-sơ-ra-ên (c.1-12).

Họ muốn nói cả hội chúng đều là thánh, tại sao chỉ có A-rôn được làm thầy tế lễ? Theo câu trả lời của Môi-se, chúng ta biết họ chưa thỏa mãn về chức vụ Chúa ban, vì cho là nhỏ. Tham vọng của họ là được làm thầy tế lễ (6-10). Môi-se giải thích cho nhóm Cô-rê rằng không phải A-rôn tự tôn làm thầy tế lễ, bèn là chính Chúa kêu gọi và đặt ông vào chức vụ đó. A-rôn là ai mà họ lằm bằm? Đó là họ hiệp lại chống nghịch cùng Chúa thôi.

2. Môi-se là người làm hại họ (13-14).

Họ lên án Môi-se đã đem họ ra khỏi xứ tốt tươi no đủ, là Ê-díp-tô, và giết họ trong đồng vắng, nhưng lại cứ cầm quyền trên họ. Hơn nữa Môi-se không thể đưa họ đến xứ đượm sữa và mật đâu, ông toan khoét mắt họ, nên họ bất tuân lệnh Môi-se.

Nhóm Cô-rê cho mình là đại diện của quần chúng, nói lên tiếng nói của dân sự là bênh vực kẻ bị bóc lột và hà hiếp. Thật ra họ chỉ lợi dụng dân sự để mưu đồ cho lợi ích riêng nên đã nói những lời vô lễ và phi lý. Chính Môi-se đã bác bỏ lời đề nghị của Giô-suê cấm dân chúng nói tiên tri: “Ngươi ganh cho ta chăng??? Ôi chớ chi cả dân sự của Đức Giê-hô-va đều là tiên tri, chớ chi Đức Giê-hô-va ban Thần Ngài cho họ”. Môi-se là người khiêm nhường hơn hết thảy mọi người trên thế gian (Dân 11:29; 12:3). Vậy làm sao nói rằng ông tự tôn và lạm quyền? Môi-se dám xin Chúa xóa tên ông khỏi sách sự sống của Ngài, miễn là Ngài tha tội cho dân sự (Xuất 32:32). Vậy làm sao nói rằng ông khoét mắt họ? Môi-se đã được Chúa trực tiếp kêu gọi và ông lắm lần từ chối nhưng không được. Chúa bảo ông dẫn dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô là nhà nô lệ, mà vào nhà Ca-na-an là xứ đượm sữa và mật. Bây giờ họ nói ngược lại, tức là lấy ân làm oán, lấy oán báo ân. Những lời của Cô-rê, Đa-than và A-bi-ram là hoàn toàn vu khống, do tinh thần phản bội, nổi loạn mà ra. Họ muốn có một địa vị mà chính mình không có khả năng tương xứng nên không được Chúa kêu gọi. Thiết tưởng điều điên dại nhất trên đời là tìm cách chiếm địa vị của người khác mà Chúa ban cho họ. Cô-rê có việc của Cô-rê, và Môi-se có việc của Môi-se, không cần ai ganh tị ai. Hội Thánh của Đức Chúa Trời được ví như thân thể, trong thân thể có nhiều chi thể, Đức Chúa Trời sắp đặt các chi thể trong thân của chúng ta, ban cho mỗi chi thể một địa vị theo ý Ngài lấy làm tốt mà chỉ định (ICôr 12:8). Mỗi chi thể có một công việc, chi thể nào có công việc ấy. Mỗi chi thể đều ích lợi cho toàn thân, không ai vượt qua quyền chỉ định của Chúa mà tự lập vào một địa vị. Thi hành công tác Chúa giao là để gây dựng Hội Thánh, tức thân thể của Ngài. Nếu chia phe lập đảng chống đối và nổi loạn thì chỉ chuốc lấy cho mình sự hình phạt.

II. ĐỨC CHÚA TRỜI XÉT ĐOÁN LÒNG GANH TỊ (Dân 16:15-49).

“Môi-se nghe điều đó bèn sấp mặt xuống đất” (c.4). Môi-se xin tất cả nhóm Cô-rê, Đa-than và A-bi-ram cũng như A-rôn, mỗi người sẽ dâng hương cho Đức Chúa Trời vào sáng mai và Đức Chúa Trời sẽ tỏ ra ai thuôc về Ngài, ai là thánh, ai là người mà Chúa đã chọn. Ông đem nội vụ trình lên cho Chúa để Ngài xét đoán.

Sáng hôm sau, Chúa hiện ra tại hội mạc phán cùng Môi-se và A-rôn: “Hãy tách khỏi giữa hội chúng này, thì Ta sẽ tiêu diệt nó trong một lát” (c.20-21). A-rôn và Môi-se sấp mình xuống kêu cầu Chúa thương xót. Ngài phán: “Hãy nói cùng hội chúng mà rằng: Hãy dang ra khỏi chung quanh chỗ ở của Cô-rê, Đa-than và A-bi-ram” (c.24). Kết quả: Ngay dưới chân họ và mọi người trong gia đình họ, đất nứt ra, hả miệng nuốt sống họ rồi lấp lại. Kế đó có một ngọn lửa từ Đức Giê-hô-va thiêu hóa 250 người dâng hương và họ chết.

Thế mà hôm sau hội chúng lại lằm bằm Môi-se và A-rôn: “Hai người đã làm chết dân của Đức Giê-hô-va” (c.41). Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: “Hãy dang ra khỏi giữa hội chúng này, thì Ta sẽ tiêu diệt nó trong một lát” (c.45). Hai ông phải cầu thay cho hội chúng, tai vạ mới dừng lại. Dầu vậy có 14.700 người chết.

Thật là khủng khiếp cho ai sa vào tay Đức Chúa Trời hằng sống. Cô-rê, Đa-than và A-bi-ram muốn chiếm địa vị cao nhất giữa hội chúng, lại rơi xuống chỗ thấp của âm phủ. Ai đem mình lên cao sẽ bị rơi xuống thấp, vì Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường. Đấng được đem lên cao nhất trên trời là Đấng đã hạ thấp nhất dưới đất (Thi 2:3-11).

III. ĐỨC CHÚA TRỜI KHIẾN KẺ GANH TỊ PHẢI NGẬM MIỆNG (Dân 17:1-13).

Để chứng minh sự kêu gọi theo quyền chỉ định của Ngài, Chúa bảo Môi-se truyền cho 12 chi phái Y-sơ-ra-ên đem nộp cho ông 12 cây gậy, cây gậy của chi phái nào đề tên của chi phái ấy, cây gậy của A-rôn đề tên chi phái Lê-vi. Môi-se phải để 12 cây gậy đó trong hội mạc, trước hòm bảng chứng. Người nào Chúa chỉ định làm thầy tế lễ thì cây gậy đó sẽ trỗ hoa. Môi-se làm y như lời Chúa bảo. Sáng hôm sau, Môi-se vào trước hòm bảng chứng, thấy cây gậy của A-rôn, nhà Lê-vi, trỗ hoa, nó “nứt mụt, sanh hoa và trái hạnh nhân chín” (c.8). Môi-se lấy các cây gậy ấy trao cho mỗi người, và cây gậy của A-rôn được đặt trong hội mạc, trước hòm bảng chứng, để dân Y-sơ-ra-ên luôn nhớ rằng Đức Chúa Trời đã lập A-rôn làm thầy tế lễ. Bấy giờ toàn dân Y-sơ-ra-ên im lặng, không có ai tự lập địa vị mình muốn, nhưng do Chúa chỉ định (Hê-bơ-rơ 5:14). Hãy coi chừng tinh thần phản loạn của Cô-rê, Đa-than và A-bi-ram (Thi 106:16; Giu-đe 11).

Cây gậy A-rôn trỗ hoa còn dạy chúng ta một chân lý quan trọng. Một số người trong vòng dân Y-sơ-ra-ên đã tranh giành chức tế lễ. Đức Chúa Trời đã dùng cây gậy trỗ hoa của A-rôn để bịt miệng họ. Ngày nay, một số người tranh giành chức vụ Cứu Thế nên Đức Chúa Trời đã đặt các giáo chủ Đông Tây kim cổ trong phần mộ. Ai sống lại là người mà Ngài chỉ định làm Đấng Cứu Thế. Kết quả mọi người đều rục xương trong phần mộ như 11 cây gậy khô, chỉ có Chúa Jêsus sống lại như cây gậy trỗ hoa của A-rôn. Kinh Thánh giải thích: “Nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Người (Chúa Jêsus) sống lại, bứt đứt dây trói của sự chết, vì nó không thể giữ Người lại dưới quyền nó. Vậy, cả nhà Y-sơ-ra-ên khá biết chắc rằng Đức Chúa Trời đã tôn Jêsus này, mà các ông đã đóng đinh trên thập tự giá, làm Chúa và Đấng Christ… Chẳng có sự cứu rỗi trong Đấng nào khác” (Công 2:24,36; 4:12).

CÂU HỎI

1. Cô-rê, Đa-than và A-bi-ram vốn là những người như thế nào trong dân Y-sơ-ra-ên?

2. Họ nhân danh hội chúng mà lên án Môi-se và A-rôn hai điều gì?

3. Xin chỉ ra sự sai lầm trong việc vu cáo của họ.

4. Hội Thánh giống như gì? Những chức vụ trong Hội Thánh do ai chỉ định?

5. Môi-se có thái độ và hành động nào trong trường hợp này?

6. Có bao nhiêu người chết vì lòng ganh tị?

7. Đức Chúa Trời chống cự ai và ban ơn cho ai?

8. Đức Chúa Trời làm cách nào để bịt miệng những kẻ ganh tị về chức vụ tế lễ của A-rôn?

9. Cây gậy trỗ hoa của A-rôn là hình bóng chỉ về ai?

10. Câu gốc hôm nay dạy chúng ta điều gì?

BÀI 2. MÔI-SE KHÔNG VÂNG LỜI CHÚA

KINH THÁNH: Dân số ký 20:1-29.

CÂU GỐC: “Họ uống nơi một hòn đá thiêng liêng theo mình, và đá ấy tức là Đấng Christ” (ICôr 10:4).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên nhận biết sự vâng lời Đức Chúa Trời cách trọn vẹn là quan trọng.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đức Chúa Trời ban nước

(Dân 20:1-3).

TH:

A-rôn qua đời

(Dân 20:14-29).

TB:

Chúa Jêsus là nước sự sống

(Giăng 4:13-14).

TT:

Đức Chúa Trời làm sạch tội

(IGiăng 1:7-9).

TN:

Thỏa mãn khao khát thuộc linh

(Giăng 4:10; 7:37-38).

TS:

Giá trị của sự vâng lời

(I Sa-mu-ên 15:22-23).

TB:

Đức Chúa Trời muốn sự vâng lời

(Giăng 14:15).

Đáng lẽ dân Y-sơ-ra-ên đã vào Ca-na-an từ lâu, nhưng vì không tin nên họ vẫn còn lang thang trong đồng vắng khô khan và thiếu nước. Trong hoàn cảnh đó, nếu họ cầu xin Chúa, Chúa đã cho, song họ lại cãi lẫy, lằm bằm với Môi-se và A-rôn bằng những lời cay đắng nặng nề. Suốt cuộc hành trình từ Ê-díp-tô đến Ca-na-an, dân Y-sơ-ra-ên sa vào tội lỗi đó rất nhiều lần. Lòng vô tín đã gây cho họ nhiều sự đau đớn. Nguyện Chúa giữ chúng ta không sa vào cái hố vô ơn đó để không lằm bằm cãi lẫy mà luôn vui mừng và cảm tạ.

I. MÔI-SE VÀ ARÔN KHÔNG VÂNG LỜI CHÚA (c.1-11).

Bốn mươi năm qua, Môi-se và A-rôn chịu đựng sự cứng cỏi và không tin của hơn một triệu người Y-sơ-ra-ên mỗi khi thiếu bánh, thiếu thịt, thiếu nước. Sự chống đối của họ mỗi lúc một kịch liệt, họ nói không tiếc một lời, có lần họ đòi trở về Ê-díp-tô (Dân 14:4), có lần họ đòi ném đá Môi-se (Xuất 17:4). Trái lại, chúng ta không thấy họ có một việc gì, lời nào để tỏ lòng biết ơn hay an ủi Môi-se, cho nên dẫu là người rất khiêm hòa, hy sinh và nhẫn nại, Môi-se cũng không chịu nổi. Vì vậy, có lần quá buồn, ông xin Chúa giết ông đi để ông không thấy sự khốn nạn của mình (Dân 11:15). Về sau Ê-li cũng có lần như vậy (ICác 19:3).

Chúng ta cần thông cảm với đầy tớ Chúa là Môi-se đã phải chịu đựng buồn rầu, đau đớn trong một thời gian dài. Chúa phán: “Đừng đụng đến kẻ chịu xức dầu Ta, chớ làm hại các tiên tri Ta… Hãy nhớ lại người đã dẫn dắt mình, nghĩ xem sự cuối cùng của đời họ là thế nào và học đòi đức tin họ” (Thi 105:15; Hê-bơ-rơ 13:7). Không một mục sư nào vững vàng chức vụ cho đến cuối cùng nếu không được tín đồ an ủi. Hội Thánh Phi-líp là “sự vui mừng của Phao-lô” (Phi-líp 4:1). Phao-lô viết thư cho Phi-lê-môn: “Hỡi anh, tôi đã được vui mừng và an ủi lắm bởi lòng yêu thương của anh” (Phi-lê-môn 7). Phao-lô viết cho Ti-mô-thê và Ô-nê-si-phô-rơ: “Cầu xin Chúa thương xót lấy nhà Ô-nê-si-phô-rơ, vì người nhiều phen an ủi ta, chẳng hề lấy sự ta bị xiềng xích làm xấu hổ” (II Ti-mô-thê 1:16). Nguyện Chúa cho mỗi chúng ta là con trai của sự an ủi.

Mỗi lần gặp khó khăn, Môi-se sấp mình xuống đất để trình bày mọi sự cho Chúa (Dân 16:4). Thật không có một thái độ nào đẹp đẽ hơn, vì trước đó ông đã thưa với Chúa: “Nếu chính mình Chúa chẳng đi, thì đừng đem chúng tôi khỏi đây”. Lần này cũng vậy, khi tâm trạng đang nặng nề, thần kinh căng thẳng, bị dồn ép quá mức, Môi-se và A-rôn sấp mình trước cửa hội mạc. Chúa phán: “Hãy cầm cây gậy ngươi, rồi nói với anh ngươi truyền cho hội chúng nhóm lại và hai ngươi hãy nói cùng hòn đá trước mặt hội chúng, thì hòn đá sẽ chảy nước ra cho hội chúng và súc vật họ uống” (c.8). Nhưng tiếc thay, vì cơn giận đối với dân Y-sơ-ra-ên, Môi-se và A-rôn mất bình tĩnh, thay vì nói với hòn đá, họ lại nói với hội chúng: “Hỡi dân phản nghịch, chúng ta há dễ khiến nước từ hòn đá này cho các ngươi uống được sao?” Rồi Môi-se giơ tay lên đập hòn đá hai lần bằng cây gậy của mình, nước bèn tràn ra cho dân chúng và súc vật của họ uống.

Chúng ta thấy hòn đá chỉ về Chúa Jêsus (ICôr 10:4). Hòn đá bị đập lần thứ nhất khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô (Xuất 17:5-7), chỉ về Chúa Jêsus chịu chết một lần đủ cả để tuôn tràn nước sống cho chúng ta. “Bởi biết rằng Đấng Christ đã từ kẻ chết sống lại thì chẳng chết nữa, sự chết không còn cai trị trên Ngài. Vì nếu Ngài đã chết, ấy là chết cho tội lỗi một lần đủ cả” (Rô-ma 6:9-10). Lần này hòn đá không cần bị đập mà chỉ nói một lời, hòn đá sẽ tuôn tràn nước ra. Điều đó chỉ về Chúa Jêsus chịu chết một lần thôi và bây giờ chỉ cất tiếng cầu xin thì dòng sông ơn phước từ Ngài sẽ tuôn tràn cho chúng ta (Giăng 7:37-38). Môi-se và A-rôn đã không vâng lời Chúa trọn vẹn mà làm hư hỏng ý nghĩa tượng trưng về sự chết của Chúa Jêsus qua hòn đá bị đập đến lần thứ hai.

II. HẬU QUẢ CỦA SỰ KHÔNG VÂNG LỜI (c.12-13; 22-29).

1. Môi-se và A-rôn bị quở trách và trừng phạt (c.12-13).

Không tin Chúa là một tội nặng vì không tôn vinh Ngài. Chúa muốn dạy một bài học ngay lúc đó là Ngài có thể bảo hòn đá thì nó vâng lời, còn dân Y-sơ-ra-ên lại không vâng lời, song Môi-se và A-rôn đã làm hư bài học đó, vì hai ông không tin, và nghĩ rằng phải đập hòn đá thì nước mới chảy ra. Hai ông hành động như nhờ quyền riêng của mình để làm hòn đá phun nước chứ không phải do lệnh của Chúa truyền. Vì vậy khi Chúa bảo nói với hòn đá, thì hai ông lại nói với dân chúng, còn Chúa không bảo hai ông đập thì hai ông lại đập. Do đó Chúa không cho hai ông dẫn dân Y-sơ-ra-ên vào Ca-na-an, tức là Ngài bày tỏ sự thánh khiết của Ngài đối với tội lỗi.

2. A-rôn qua đời trên núi Hôrơ (c.22-29).

Theo lệnh của Chúa, A-rôn trao chức thầy tế lễ cho con trai mình là Ê-liasa, còn ông thì qua đời trên đỉnh núi Hôrơ. Dầu A-rôn có khuyết điểm nhưng chức tế lễ của ông đã đem lại phước hạnh rất nhiều cho dân Y-sơ-ra-ên, nên họ thương tiếc ông và để tang ông trong 30 ngày. A-rôn thỏa lòng về với Chúa và con trai ông thay thế ông phục vụ Ngài. Tin cậy và vâng lời Chúa, chúng ta sẽ tôn vinh Ngài, nếu không, chúng ta chỉ làm buồn lòng Ngài – Đặt bàn tay xác thịt vào công việc Chúa chỉ làm trở ngại công việc Chúa mà thôi. Bốn mươi năm trong chức vụ, Môi-se chỉ một lần phạm lỗi, còn chúng ta có thể nhiều lần. Ai nấy phải tự xét để ăn năn hầu được Chúa tha thứ và xin Ngài giữ gìn chúng ta khỏi tái phạm.

Chúng ta thấy Đức Chúa Trời không tây vị ai, Môi-se và A-rôn thuộc thành phần lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên đã được Chúa trọng dụng suốt 40 năm dài, song khi hai ông phạm tội, Chúa cũng không bỏ qua sự quở trách và sửa phạt, vì Chúa rất yêu thương nhưng cũng rất công bằng. Vả lại, cùng một tội không tin và không vâng lời mà người kém quan trọng thiệt hại nhỏ, còn người quan trọng thì thiệt hại lớn. Vậy người có chức vụ cao phải thận trọng nhiều.

Không thể nghĩ rằng mình có chức vụ cao, dày công với nhà Chúa thì được quyền bê tha, bướng bỉnh rồi Chúa sẽ vị nể mà bỏ qua. Đó là điều cám dỗ hiểm nghèo. Đa-vít có công lớn với nhà Chúa, song khi ông phạm tội tà dâm và sát nhân, Chúa đã hỏi: “Cớ sao ngươi khinh dể lời của Đức Giê-hô-va và làm điều không đẹp lòng Ngài?” Na-than trách: “Nhưng vì việc này vua đã gây dịp cho những thù nghịch Đức Giê-hô-va nói phạm đến Ngài” (II Sa-mu-ên 12:9-14), và Đa-vít phải chịu sửa phạt cách nặng nề. Vì ai đã được ban cho nhiều, thì sẽ bị đòi lại nhiều, và ai đã được giao cho nhiều thì sẽ bị đòi lại nhiều hơn. Vì trước mặt Đức Chúa Trời chẳng có tây vị ai đâu (Lu-ca 12:47; Rô-ma 2:11).

CÂU HỎI

1. Khi lưu lạc trong đồng vắng, dân Y-sơ-ra-ên thường phạm những tội gì?

2. Tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên đã làm khổ Môi-se đến mực nào?

3. Khi thiếu nước lần thứ nhất, Môi-se đã đập hòn đá lúc nào? Tại đâu?

4. Mỗi lần gặp khó khăn, Môi-se và A-rôn đã làm gì?

5. Lần này thiếu nước, Chúa bảo hai ông làm gì?

6. Tại sao Môi-se và A-rôn không vâng lời Chúa?

7. Sự không vâng lời của Môi-se và A-rôn đã làm hư ý nghĩa tượng trưng nào?

8. Chúa Jêsus phải chịu chết mấy lần để tuôn tràn nước sống cho chúng ta?

9. Môi-se và A-rôn đã bị sửa phạt thế nào về sự không vâng lời?

10. Làm sao chúng ta biết Chúa không tây vị ai?

11. Tại sao người có công trong Hội Thánh phải thận trọng lắm mới được?

BÀI 3. MÔI-SE TREO CON RẮN ĐỒNG

KINH THÁNH: Dân số ký 21:1-9.

CÂU GỐC: “Xưa Môi-se treo con rắn lên nơi đồng vắng thể nào, thì Con Người cũng phải bị treo lên dường ấy, hầu cho hễ ai tin đến Ngài đều được sự sống đời đời” (Giăng 3:14-15).

MỤC ĐÍCH: Chỉ cho chúng ta thấy tội lỗi đưa đến sự chết và Chúa Jêsus là phương pháp duy nhất để được tha tội.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chúa Jêsus giảng cho Ni-cô-đem

(Giăng 3:1-13).

TH:

Môi-se treo con rắn đồng

(Dân 21:1-9).

TB:

Chúa Jêsus bị treo lên

(Giăng 3:14-18).

TT:

Đức Chúa Trời cảnh cáo dân Y-sơ-ra-ên

(Phục 29:25-30).

TN:

Chúng ta phải xưng tội lỗi mình

(Châm 28:13; Giê-rê-mi 3:13).

TS:

Chúa Jêsus tha tội chúng ta

(IGiăng 1:9).

TB:

Lời của Ngài là chắc chắn

(Thi 111:7; Lu-ca 21:33).

Dân Y-sơ-ra-ên lại rơi vào hố sâu khác là ngã lòng để rồi lằm bằm, chống đối, buông những lời độc ác rằng: Chúa không cứu họ, nhưng Ngài giết họ, nên thà chết trong Ê-díp-tô còn hơn chết trong đồng vắng. Ma-na là một thức ăn đặc biệt, ngon lành và bổ dưỡng mà chỉ có dân Y-sơ-ra-ên mới được ăn suốt 40 năm trong đồng vắng. Bây giờ họ cho thức ăn đó không ra chi, họ lấy làm gớm ghê như muốn giày đạp dưới chân. Vững lòng là điều rất tốt nhưng ngã lòng là điều rất xấu, nó làm cho chúng ta hết nghị lực, hết can đảm mà trở nên hèn nhát. Kẻ ngã lòng không nên làm gì, không nên đi đâu, vì ngã lòng là đầu hàng trước khi ra trận. Dân Y-sơ-ra-ên ngã lòng nên bị Chúa phạt.

I. LÝ DO CON RẮN ĐỒNG ĐƯỢC TREO LÊN (c.6).

Trong đồng vắng, có rất nhiều rắn lửa, song có tay Chúa bảo vệ trong những năm tháng đã qua nên họ được bình an. Bây giờ Ngài rút tay lại, cho phép rắn lửa cắn họ. Đây là một loại rắn độc, ai bị nó cắn thì ít lâu sau là chết. Đối với chúng ta, tội lỗi còn hơn nọc rắn độc, nọc rắn chỉ giết thân thể, còn tội lỗi giết cả thân thể lẫn tâm linh. Nọc rắn giết hại được từng người, còn tội lỗi giết hại cả dòng dõi trải qua nhiều thế hệ. A-đam và Ê-va phạm tội, tội đó di truyền đến toàn thể nhân loại suốt mọi thời đại. Có người không sợ tội vì chưa biết đúng về tội. Ai cũng sợ rắn cắn, vì một lần bị nó cắn là một lần bỏ mạng, còn phạm tội cũng vậy. “Vì tiền công của tội lỗi là sự chết” (Rô-ma 6:23).

Người nghiện rượu hay nha phiến, say mê cờ bạc hoặc dâm loạn, thì con cháu của họ phải chịu hậu quả. Khắp đó đây có nhiều người bị bịnh hoạn, tàn tật một cách ghê gớm, phần lớn do chính họ hoặc cha mẹ họ gây ra. Kết quả của tội lỗi làm cho thân thể bị bại hoại, linh hồn hư mất. Sa-tan và kẻ ác giống như rắn độc (Sáng 3:15; Thi 58:4). Chúng ta phải lánh xa họ.

II. HIỆU QUẢ CỦA VIỆC TREO CON RẮN ĐỒNG (c.7-9).

1. Đem lại sự chữa lành cho người biết ăn năn (c.7).

Khi bị rắn cắn, người Y-sơ-ra-ên chết rất nhiều nên họ nhận biết rằng việc này không xảy ra một cách ngẫu nhiên, nhưng là hậu quả tội lỗi họ đã phạm cùng Chúa. Họ đã ăn năn và Môi-se cầu thay để Chúa khiến rắn lửa lìa khỏi họ. Nhiều lúc chúng ta không thể giải quyết được nan đề trong đời sống cá nhân, gia đình và Hội Thánh, vì không nhận biết lý do gây ra điều đó, chúng ta cho rằng chẳng qua là rủi ro, bất trắc, do hoàn cảnh tạo nên hoặc là do người này, người khác ngăn trở, song không nhận ra do chính mình mà có. Nếu phục vụ Chúa mà không kết quả thì phải nhận biết là do tội lỗi nào đó chính mình đã phạm nên mới có tình trạng như vậy. Tội lỗi làm cho mất niềm vui, mất ân tứ, mất quyền năng và mất mọi sự.

Một trong các học trò của tiên tri Ê-li-sê đi đốn cây mà làm sút lưỡi rìu và nó rơi xuống nước, anh chỉ còn có cán. Đốn cây mà rìu không có lưỡi, dù cố gắng dùng cán gõ vào cây để cho vang tiếng như mọi người khác cũng không làm ngã được cây nào. Anh không làm như vậy, nhưng la lên, nên tiên tri đã giúp anh tìm được lưỡi rìu bị mất (IICác 6:1-7). Có thể có những đời sống như những lưỡi rìu bị mất lưỡi, chỉ là chiếc cán thôi. Đó là đời sống chỉ có hình thức, Hội Thánh chỉ có tổ chức, song mất quyền năng.

Mỗi lần dân Y-sơ-ra-ên phạm tội, Chúa phó họ vào tay kẻ thù để bị sửa trị hầu đưa họ đến sự ăn năn. Trong bữa ăn cuối cùng với các môn đồ, Chúa Jêsus phán: “Quả thật, Ta nói cùng các ngươi rằng, trong các ngươi sẽ có một người phản Ta”. Các sứ đồ không ai nhìn ai, song mỗi người lần lượt đến thưa với Chúa rằng: “Lạy Chúa, có phải tôi không?” (Ma-thi-ơ 26:20-26). Ước gì mỗi chúng ta đều đến với Chúa và thưa như vậy. Không nhận biết được tội mình, không bao giờ có thể ăn năn, không bao giờ giải quyết được vấn đề.

2. Phương pháp tiếp nhận sự chữa lành (c.6-9).

Môi-se cầu thay ngay lập tức và Đức Chúa Trời trả lời liền. Chúa bảo Môi-se làm một con rắn lửa bằng đồng, rồi treo lên cây sào, ai bị rắn lửa cắn, nhìn nó thì được lành. Môi-se làm y như vậy.

Thế là bao nhiêu người bị rắn lửa cắn đang hấp hối đều nhìn lên con rắn… Khắp trại quân Y-sơ-ra-ên, kẻ đi, người dắt, bồng bế nhau để đến nhìn con rắn đồng. Con rắn đồng không giúp chi được cho nạn nhân, song nhờ tin cậy và vâng lời Chúa mà nạn nhân khỏi chết, vì được Ngài tha thứ. Sự khoan dung, nhẫn nại, thương xót của Chúa thật lớn biết bao! Ngài chờ tội nhân ăn năn để họ được cứu. Chúa làm quá điều cầu xin của dân Y-sơ-ra-ên. Họ chỉ cầu xin Chúa khiến rắn lửa lìa khỏi họ, nhưng Ngài còn chữa lành những người bị rắn cắn. Vì sao Chúa treo con rắn đồng trên cây sào để giải cứu dân Y-sơ-ra-ên? Tại sao Chúa Jêsus nói chính Ngài bị treo trên cây gỗ như con rắn đó để cứu chúng ta? (Giăng 3:14-15).

Rắn là loài bị rủa sả (Sáng 3:15). Chúng ta là những tội nhân bị luật pháp rủa sả. “Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã trở nên sự rủa sả vì chúng ta, -vì có lời chép: Đáng rủa sả thay là kẻ bị treo trên cây gỗ” (Ga-la-ti 3:13). Đấng vốn chẳng biết tội lỗi đã trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời (I Phi-e-rơ 3:10), và ai tin đến Ngài thì được sự sống đời đời. Chính Chúa Jêsus đã giải thích thêm: “Đây là ý muốn của Cha Ta, phàm ai nhìn Con và tin Con, thì được sự sống đời đời” (Giăng 6:40). Hàng trăm năm trước khi Chúa Jêsus giáng sinh, tiên tri Ê-sai đã truyền tin mừng này: “Hỡi các ngươi hết thảy ở nơi đầu cùng đất, hãy nhìn xem Ta và được cứu, vì Ta là Đức Chúa Trời, chẳng có Chúa nào khác” (Ê-sai 42:22). Chúng ta cũng như Ê-sai, vô luận gặp ai, tại đâu, đều nói cho mọi người biết tội lỗi của họ, rồi tha thiết khuyên nài họ ăn năn, nhìn xem Chúa Jêsus chịu chết vì họ trên thập tự giá để ai ai cũng được cứu rỗi. Chúng ta có thể phạm tội, song không cần phải phạm tội. Chúng ta phải ăn ở thánh khiết. Chúa chịu chết vì chúng ta để cứu chúng ta khỏi hậu quả của tội lỗi, tức là không những cứu chúng ta khỏi sự hư mất, mà còn cứu chúng ta khỏi quyền lực của tội lỗi để sống thánh khiết. Muốn được như vậy, chúng ta phải luôn luôn: “Nhìn xem Chúa Jêsus là cội rễ và cuối cùng của đức tin”. Nếu đã bị cám dỗ mà phạm tội, chúng ta hãy hết lòng ăn năn, tức là xưng tội, bỏ tội, bồi thường, sửa lại để được tha thứ. “Nếu lòng tôi có chú về tội ác, ắt Chúa chẳng nghe tôi. Người nào giấu tội lỗi mình sẽ không được may mắn, nhưng ai xưng nó ra và lìa bỏ nó thì sẽ được thương xót” (Thi 66:18; Châm 28:13).

CÂU HỎI

1. Tại sao dân Y-sơ-ra-ên lằm bằm?

2. Họ cho mana như thế nào?

3. Chúa dạy họ ra sao?

4. Tội lỗi ví như gì?

5. Tại sao Chúa khiến rắn lửa lìa khỏi Y-sơ-ra-ên và chữa lành bệnh cho họ?

6. Chúa dùng cách nào để cứu dân Y-sơ-ra-ên bị rắn cắn?

7. Tại sao Chúa Jêsus tự ví mình như con rắn đồng bị treo trên cây sào?

8. Nhân loại muốn được cứu phải làm sao?

9. Chúa chịu chết để cứu chúng ta khỏi tội, có nghĩa gì?

10. Nếu lỡ vấp phạm, chúng ta phải làm sao?

BÀI 4. BA-LA-AM LÀM THEO Ý RIÊNG

KINH THÁNH: Dân số ký 22:1-41.

CÂU GỐC: “Phi-e-rơ và các sứ đồ trả lời rằng: Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn là vâng lời người ta” (Công vụ 5:29).

MỤC ĐÍCH: Cho tín hữu biết chỉ nói và làm theo những điều Chúa muốn.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Ba-la-am muốn làm theo ý riêng

(Dân 22:1-41).

TH:

Ba-la-am muốn làm theo ý riêng

(Dân 23:1-24).

TB:

Cơ Đốc nhân phải vâng phục Đấng Christ

(Giăng 4:41).

TT:

Đức Chúa Trời dùng cả những bình xấu

(Lu-ca 1:52; I Cô 1:27).

TN:

Ba-la-am nói tiên tri về sự giáng thế của Chúa Jêsus

(Dân 24:17).

TS:

Vâng phục Đức Chúa Trời

(Ga-la-ti 1:10; Ma-thi-ơ 4:10; 28:24).

TB:

Sự hiện diện của Chúa làm ích lợi chúng ta

(Ma-thi-ơ 18:20; 28:20).

Vì vua Sô-đôm không cho mượn đường để đi nên dân Y-sơ-ra-ên phải vòng qua xứ đó. Họ đánh bại vua A-mô-rít và Ca-na-an. Bấy giờ họ đến đồng bằng Mô-áp, chuẩn bị qua sông Giô-đanh và vào chiếm thành Giê-ri-cô. Ba-lác là vua của Mô-áp, rất sợ hãi, nên cố tìm phương chiến thắng Y-sơ-ra-ên. Phương pháp vua tìm được là mượn Ba-la-am rủa sả dân Y-sơ-ra-ên. Nhờ việc đó, chúng ta thấy chân tuớng của Ba-la-am là người muốn làm theo ý riêng.

I. Ý RIÊNG CỦA BA-LA-AM LÀ THAM TIỀN TÀI, DANH VỌNG.

Ba-la-am là một tiên tri (II Phi-e-rơ 2:15-16). Ông biết Chúa, thờ Chúa, song cũng thờ Mamôn -tiền tài (Ma-thi-ơ 6:24). Ông làm tôi hai chủ.

Khi các trưởng lão của Ba-lác đến, có lễ vật trong tay thỉnh cầu Ba-la-am: “Nầy một dân đã ra khỏi Ê-díp-tô, phủ khắp mặt đất, và đóng trại đối ngang ta, vậy ta xin ngươi hãy đến bây giờ, rủa sả dân này cho ta vì nó mạnh hơn ta” (c.22:5-6). Dầu Ba-lác không nói đích danh dân Y-sơ-ra-ên, song Ba-la-am biết ngay.

Đáng lẽ Ba-la-am phải từ chối hẵn: Tôi là tiên tri của Đức Chúa Trời, tôi không thể rủa sả dân sự của Ngài, mà chỉ có thể chúc phước. Nhưng máu tham của kẻ tham thấy hơi đồng thì mê, vì lễ vật rất quí, rất nhiều, Ba-la-am không thể từ chối. Ông nói với các trưởng lão Mô-áp: “Hãy ở lại đây đêm nay, rồi ta sẽ trả lời cho các ngươi những gì Đức Giê-hô-va phán cùng ta”. Đêm đó, Ba-la-am chưa cầu hỏi ý Chúa thì Ngài đã hỏi ông: “Những người trong nhà ngươi là ai?” Ba-la-am trình bày mọi sự cho Chúa và được Ngài chỉ cho: “Ngươi chớ đi với chúng nó, chớ rủa sả dân này, vì dân này được ban phước”. Sáng hôm sau, Ba-la-am nói với các trưởng lão Mô-áp: “Hãy trở về xứ các ngươi, vì Đức Giê-hô-va không cho ta đi cùng các ngươi”.

Vì Ba-la-am không thuật đầy đủ mạng lệnh của Chúa, nên khi các trưởng lão về nói lại thì Ba-lác hiểu lầm, tưởng lễ vật còn ít quá nên Ba-la-am không nhận lời. Lần này Ba-lác sai một đoàn sứ giả đông hơn, cao trọng hơn, lễ vật nhiều hơn và quí giá hơn với lời hứa: “Ta xin ngươi, chớ có chi ngăn cản ngươi đến cùng ta, vì ta sẽ tôn ngươi rất vinh hiển, và làm theo mọi điều ngươi sẽ nói cùng ta. Ta xin ngươi hãy đến rủa sả dân này”. Ba-la-am trả lời cùng các sứ giả: “Dầu Ba-lác sẽ cho ta nhà người đầy vàng và bạc, ta cũng chẳng được vượt qua mạng lệnh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ta, đặng làm một việc hoặc nhỏ hay lớn”. Ba-la-am cũng nói những câu rất mạnh, rất hay, song chưa dứt khoát. Ông không dám vượt qua mạng lệnh của Đức Chúa Trời mà cũng không dám từ khước lời thỉnh cầu của Ba-lác, hầu cho được tiền tài, danh vọng. Trong đêm đó, Chúa phán với ông: “Nếu các người đó đến đặng gọi ngươi, hãy đứng dậy đi với chúng nó; nhưng chỉ hãy làm theo lời Ta sẽ phán”. Đó là cách Chúa trả lời cho dân Y-sơ-ra-ên khi họ xin một vua (I Sa-mu-ên 8:7-9). Họ như một đứa con không vâng lời, đòi hỏi những điều cha mẹ không muốn, cuối cùng cha mẹ phải cho nhưng rất buồn. Đáng lẽ Ba-la-am phải nói với Ba-lác như Chúa Jêsus nói với quỉ Sa-tan: “Hỡi Sa-tan, hãy lui ra” (Ma-thi-ơ 16:27), như Phi-e-rơ nói với thuật sĩ Si-môn: “Tiền bạc ngươi hãy hư mất với ngươi” (Công vụ 8:20). Song ông cố nài xin Chúa cho ông làm theo ý muốn của Ba-lác.

Sáng hôm sau, Ba-la-am rất vui vẻ, đi theo sứ giả của Ba-lác, nhưng cơn thạnh nộ của Chúa phừng phừng nổi lên và thiên sứ của Ngài cầm gươm trần ra đứng chặn đường của ông. Thấy thiên sứ, lừa sợ hãi đi tẻ xuống ruộng. Ba-la-am đánh nó và dẫn nó vào đường. Thiên sứ bèn đứng trên một lối nhỏ, có vách bên nầy và bên kia. Lừa thấy thiên sứ thì nép vào vách và ép chân Ba-la-am. Người đánh nó. Thiên sứ đi đến một chỗ rất hẹp, không còn đường tránh, lừa bèn quị dưới chân Ba-la-am. Ba-la-am nổi giận, đánh lừa vì nó không vâng lời ông, song chính lúc đó ông là người không vâng lời Chúa. Con lừa có lý hơn ông vì nó thấy thiên sứ, còn ông thì không, sự tham muốn đã làm mù mắt ông.

Bấy giờ Chúa mở miệng con lừa và nó dùng tiếng người nói với ông là nó chưa bao giờ không vâng lời ông. Khi ma quỉ cám dỗ Ê-va, thì nó dùng con rắn, là giống xảo trá hơn hết, nói tiếng người. Còn Đức Chúa Trời cảnh cáo Ba-la-am thì Ngài dùng con lừa, là giống ngu dại hơn hết. Chúa mở mắt Ba-la-am, ông thấy thiên sứ cầm gươm trần đứng đó, Ba-la-am liền sấp mình xuống đất. Thiên sứ của Chúa phán: “Vả, con lừa có thấy ta, đi tẻ trước mặt ta ba lần, nếu nó không đi tẻ trước mặt ta, chắc ta đã giết ngươi rồi và để nó sống”. Thế là con lừa đáng sống hơn một tiên tri tham lam. Ba-la-am xin Chúa cho ông trở về, nhưng Chúa bảo ông cứ đi và nói những điều Chúa dặn.

II. BA-LA-AM KHÔNG THỰC HIỆN ĐƯỢC NHỮNG Ý RIÊNG (c.23:7-24; 24:4-9).

1. Ba-la-am chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên lần thứ nhất (c.7-10).

Ba-lác rất mừng tiếp đón Ba-la-am, giết chiên và bò thết đãi ông. Ba-la-am nói: “Kẻ mà Đức Chúa Trời không rủa sả, tôi rủa sả làm sao? Kẻ mà Đức Chúa Trời không giận mắng, tôi sẽ giận mắng làm sao?” (c.8). Kẻ mà Đức Chúa Trời ban phước, thì ai dám rủa sả??? (Sáng 12:3). “Ai đếm được bụi cát của Gia-cốp, ai tu bổ được phần tư của Y-sơ-ra-ên?” Phải, dòng dõi Gia-cốp đông như sao trên trời, như cát biển, như bụi đất không ai diệt được. “Người công bình thác thể nào, tôi nguyện thác thể ấy”. Ba-la-am muốn chết như dân Y-sơ-ra-ên, nhưng không muốn sống như họ. Sống như người gian ác mà muốn chết như người công bình. Muốn chết trong Chúa thì phải sống trong Chúa.

Nếu ông nhà giàu bất nghĩa mà muốn chết như La-xa-rơ thì thật vô lý. Muốn chết như người công nghĩa thì phải sống như người công nghĩa. Muốn chết trong Chúa, phải sống trong Chúa.

2. Ba-la-am chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên lần thứ hai (c.18-24).

Nghe Ba-la-am chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên, Ba-lác kiên nhẫn đưa Ba-la-am đến chỗ khác, hy vọng ông sẽ thay đổi. Ông nói tiếp: “Đức Chúa Trời chẳng phải là người để nói dối, cũng chẳng phải là con loài người để hối cải. Điều Ngài nói, Ngài há sẽ chẳng làm ư? Điều Ngài phán, Ngài há sẽ chẳng làm ứng nghiệm sao?” Phải, Ngài là Đấng thành tín đời đời, “Ngài chẳng xem tội ác nơi Gia-cốp và không thấy tà vạy trong Y-sơ-ra-ên”, Chúa luôn ở cùng dân sự của Ngài. Dầu họ có lỗi lầm, nhưng sau khi họ được Ngài chữa trị, thì Ngài kể như họ không có lỗi gì hết. Dầu tình trạng họ là bất toàn, song địa vị họ là hoàn toàn. “Trong Y-sơ-ra-ên có tiếng reo mừng của vua, ấy là Đức Chúa Trời đã rút dân đó ra khỏi xứ Ê-díp-tô, chúng có sức mạnh như bò rừng vậy”. Không kẻ thù nào đứng nổi trước mặt dân sự của Ngài.

3. Ba-la-am chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên lần thứ ba (c.24:4-9).

“Hỡi Gia-cốp! trại ngươi tốt dường bao! Hỡi Y-sơ-ra-ên! nhà ngươi đẹp biết mấy!” Y-sơ-ra-ên giàu có và vinh hiển, “người có sức mạnh như bò rừng, sẽ nuốt các nước… bẻ gãy xương chúng nó, đánh chúng nó bằng mũi tên mình”. Chúa ở cùng dân Y-sơ-ra-ên và họ luôn luôn đắc thắng mọi kẻ thù.

Dầu kiên nhẫn đến đâu, Ba-lác cũng không chịu nổi, vì cơn giận của ông đã lên đến cực độ. Muốn Ba-la-am rủa sả dân Y-sơ-ra-ên, ông lại chúc phước cho họ và rủa sả Mô-áp. Ba-lác đuổi Ba-la-am về và không cho chi hết. Ngày nay có nhiều người từng rủa sả Hội Thánh, nhưng không ai thành công, kể cả đế quốc La-mã. Kết quả ngược lại, bất cứ ai rủa sả Hội Thánh, kẻ ấy sẽ bị rủa sả.

Ba-la-am là một tiên tri tham lam gặp Ba-lác là vua hối lộ thì như cá gặp nước. Ba-la-am muốn được tiền tài danh vọng bằng con đường tôn giáo, bán chức thánh để được lợi nhơ bẩn nên ông đã sống thất bại và chết sỉ nhục (Dân 31:8).

Làm tôi hai chủ không được gì hết. Thà vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn là vâng lời người ta.

CÂU HỎI

1. Tại sao dân Mô-áp lại sợ dân Y-sơ-ra-ên?

2. Để diệt trừ dân Y-sơ-ra-ên, vua Mô-áp đã làm gì?

3. Tại sao Ba-la-am muốn rủa sả dân Y-sơ-ra-ên?

4. Để làm vừa lòng Ba-lác, Ba-la-am đã làm gì?

5. Thiên sứ cản đường để dạy Ba-la-am điều gì?

6. Chúa cho phép Ba-la-am rủa sả ai?

7. Chúa buộc Ba-la-am phải làm gì cho dân Y-sơ-ra-ên?

8. Ba-la-am chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên những gì?

9. Cuối cùng, Ba-lác đã đối xử với Ba-la-am như thế nào?

10. Balam là tiên tri như thế nào? Sống thế nào và chết thế nào?

11. Làm tôi hai chủ và vâng lời Đức Chúa Trời, điều nào dễ hơn trong hai điều đó? Tại sao?

BÀI 5. ĐỨC CHÚA TRỜI TÔN TRỌNG MÔI-SE

KINH THÁNH: Phục Truyền Luật Lệ Ký 34:1-12.

CÂU GỐC: “Nếu ai hầu việc Ta, thì phải theo Ta, và Ta ở đâu, thì kẻ hầu việc Ta cũng ở đó; nếu ai hầu việc Ta, thì Cha Ta ắt tôn quí người” (Giăng 12:26).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng khi chúng ta vâng phục Chúa và hầu việc Ngài, thì Ngài sẽ tôn trọng chúng ta như tôn trọng Môi-se.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đức Chúa Trời tôn trọng chúng ta

(Giăng 15:14-15).

TH:

Đức Chúa Trời tôn trọng Môi-se

(Phục 13:15-19).

TB:

Đức Chúa Trời tôn trọng Môi-se

(Phục 31:30).

TT:

Bài ca của Môi-se

(Phục 31:1-43).

TN:

Môi-se chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên

(Phục 33:1-29).

TS:

Môi-se được tương giao với Chúa

(Xuất 14:21-31; Phục 34:10).

TB:

Đức Chúa Trời làm phép lạ

(Xuất 14:31; Phục 3:24; 33:26).

Môi-se là lãnh tụ của dân Y-sơ-ra-ên, người mà Đức Chúa Trời dùng để giải phóng họ ra khỏi xứ Ê-díp-tô, kiến tạo họ thành một quốc gia có nền tư pháp tốt đẹp và đưa họ vào Đất Hứa. Không những vậy thôi, Môi-se còn là một tiên tri, một trước giả của Kinh Thánh, nói chung là một nhân vật nổi tiếng.

Tài lãnh đạo của Môi-se thật hiếm có. Dầu gặp lúc khó khăn trên đường tiến, ông vẫn vượt qua hết và đạt đến mục tiêu. Môi-se là tiên tri lớn nhất (Phục 18:18; Công vụ 3:22). Qua Môi-se, Chúa ban luật pháp cho dân Y-sơ-ra-ên. Về sau Kinh Thánh gọi luật pháp ấy là luật pháp Môi-se. Chính ông đã chép ra Ngũ Kinh, một tác phẩm tuyệt vời, chính xác, quan trọng có một không hai. Sau nầy, trong dân Y-sơ-ra-ên không dấy lên một tiên tri nào giống như Môi-se mà Đức Giê-hô-va đã giáp mặt. Tại sao ông được như vậy?

I. LÝ DO MÔI-SE ĐƯỢC CHÚA TÔN TRỌNG.

“Ngài đã trung tín với Đấng đã lập Ngài, cũng như Môi-se trung tín với cả nhà Chúa vậy” (Hê-bơ-rơ 3:2), “Tôi tớ Môi-se Ta không có như vậy, người thật trung tín trong cả nhà Ta” (Dân 12:7).

Suốt 40 năm chức vụ, ngoại trừ một lần tức giận dân Y-sơ-ra-ên, Môi-se đập hòn đá mà phạm tội cùng Chúa, kỳ dư ông vâng lời Chúa cách trọn vẹn (Xuất 40:16). Môi-se rất khiêm nhường nhưng cũng rất cương quyết sống đẹp lòng Chúa. Ong sống ngay thẳng, quở trách tội lỗi, nhưng rất yêu thương tội nhân, thậm chí dám liều lĩnh cầu thay cho họ để họ được tha thứ. Ông được Chúa gọi lên núi với Ngài 40 ngày đêm, ông không ngờ mặt mình sáng rực vì được hầu việc Chúa (Xuất 34:28-35). Môi-se đã sống cuộc đời khó khăn đặc biệt, song cao thượng lạ lùng. Ông kinh nghiệm quyền năng và ân điển của Chúa, vì Ngài trọng dụng ông trong những công tác lạ lùng và vĩ đại hiếm có xưa nay.

II. TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ĐƯỢC CHÚA TÔN TRỌNG.

1. Dạy dỗ dân sự trước lúc từ giã (Phục 31:1-8).

Chúng ta thấy Môi-se lo lắng cho tương lai dân tộc, không phải vì những hoàn cảnh khó khăn, hoặc vì Chúa không thương xót, nhưng vì họ bội bạc không tin. Ông nói rằng Chúa sẽ đi với họ, diệt hết mọi kẻ thù và dẫn họ vào Đất Hứa. Ông sẽ về với Chúa, song có Giô-suê hướng dẫn họ. Ông khuyên Giô-suê và dân chúng đừng sợ, cứ bền chí vì Chúa không bao giờ lìa bỏ họ. Môi-se và Phao-lô có đồng một tâm tình. Khi từ giã các trưởng lão tại Ê-phê-sô, Phao-lô cũng có những lời tha thiết nhiệt tình như Môi-se (Công vụ 20:17-35).

2. Ca tụng Chúa (32:1-12).

Môi-se nhân cách hóa trời đất, bảo hãy lắng tai nghe lời ông tung hô danh cao cả của Chúa, về những việc lạ lùng mà Ngài đã làm cho dân Ngài. Đấng Chí Cao đã chỉ định xứ Ca-na-an cho dân Y-sơ-ra-ên, rồi gìn giữ, dẫn dắt, chăn nuôi họ như chim phụng hoàng nuôi con mình.

3. Chúc phước cho dân sự (33:1-29).

Môi-se chúc phước cho mỗi chi phái theo như giao ước Đức Chúa Trời đối với họ, Ngài thương yêu dân sự, các thánh Ngài ở trong tay Ngài, quì dưới chân Ngài, đặng nhận lãnh lời Ngài (33:3). Qua cặp mắt tiên tri, Môi-se thấy dân Y-sơ-ra-ên được Đức Chúa Trời oai nghi, hằng sống dùng cánh tay đời đời của Ngài bảo vệ họ, cung cấp cho họ, nên họ được bình an, thạnh vuợng. Cuối cùng, ông phải reo lên: “Ồ! Dân Y-sơ-ra-ên có phước biết bao, hỡi kẻ được cứu rỗi, ai giống như ngươi?” Ngài là cái thuẫn đỡ cho họ, Ngài là thanh gươm làm cho họ được vinh hiển, không có kẻ thù nào đứng nổi trước mặt họ.

Tất cả những phước trên đây không những riêng cho dân Y-sơ-ra-ên đâu, mà cũng cho Hội Thánh của Đức Chúa Trời nữa, vì chúng ta là dân của Ngài (Ga-la-ti 6:16). Nếu chúng ta trung tín, tận tâm theo Chúa, phục vụ Ngài như Môi-se, chúng ta sẽ là những người có phước nhất trần gian. Dầu ma quỉ có đem toàn quyền lực của địa ngục cũng không thể phân rẽ chúng ta khỏi tình thương của Chúa, trái lại chúng ta phải nhờ Ngài mà đắc thắng có thừa (Rô-ma 8:37-39).

III. SỰ QUA ĐỜI CỦA NGƯỜI ĐƯỢC CHÚA TÔN TRỌNG (34:1-9).

Theo mạng lệnh Chúa truyền, Môi-se lên núi Nêbô, nơi đỉnh Phíchga để xem toàn bộ xứ Ca-na-an mà dân Y-sơ-ra-ên sẽ chiếm lấy. Môi-se qua đời tại đó và được Đức Chúa Trời chôn xác ông và không hề có ai biết được mộ ông ở đâu.

1. Môi-se được Chúa gọi cách trìu mến.

Mặc dầu tất cả các tín đồ đều là tôi tớ Chúa, song Môi-se được gọi là “tôi tớ” của Ngài một cách đặc biệt với tất cả âu yếm như chiếc hôn từ miệng Ngài, vì ông trung tín cho đến chết (Dân 12:7-8; Giô-suê 1:1-2).

2. Đức Chúa Trời chôn xác Môi-se.

“Sự chết của người thánh là quí báu trước mặt Đức Giê-hô-va” (Thi 116:15).

Chúa định thì giờ và địa điểm cho Môi-se qua đời, và Ngài chỉ định thiên sứ Mi-chên an táng thi hài ông. Chúa không muốn ai biết thi hài ông ở đâu để dân Y-sơ-ra-ên không phạm tội thờ hình tượng mà thờ lạy thi hài ông. Vì vậy ma quỉ cố chiến đấu với Mi-chên để dành xác ông mà không được. Môi-se thọ 120 tuổi, mắt không làng, sức không giảm, có thể trèo lên đỉnh núi Phíchga.

Cuộc đời của Môi-se chia làm ba giai đoạn: 40 năm sống trong cung điện Pha-ra-ôn một cách dư dật, 40 năm kế đó ông sống nghèo nàn, cô quạnh tại Ma-đi-an với nghề chăn chiên, 40 năm sau nữa với dân mình trong đồng vắng, dẫn họ từ Ê-díp-tô đến Ca-na-an. Dầu không được đặt chân vào xứ đượm sữa và mật, nhưng chúng ta không thấy ông phàn nàn; trái lại trước khi qua đời, ông ân cần dặn dò, khích lệ dân Y-sơ-ra-ên từng điều một, ông hết lòng cảm tạ Đức Chúa Trời. Môi-se đã sống xứng đáng nên cũng đã chết cách xứng đáng. Môi-se là người phi thường, ông thân mật với Đức Chúa Trời biết bao! Công việc của ông vĩ đại dường nào! Được mọi người tôn trọng đã là phước rồi, còn được Đức Chúa Trời tôn trọng, thật phước biết bao! Không những Môi-se được Đức Chúa Trời tôn trọng đang khi còn sống, nhưng Ngài cũng tôn trọng khi ông chết, vì Ngài đã chôn xác ông. Khi Chúa Jêsus hóa hình trên núi, có Môi-se và Ê-li hiện ra với Ngài. Môi-se đại diện cho tín đồ chết sống lại, còn Ê-li đại diện cho tín đồ đang sống, hết thảy đều được Chúa cất lên trời khi Ngài tái lâm. Muốn được tôn trọng, chúng ta phải trung tín phục vụ Chúa cho đến chết.

Nếu chúng ta được Đức Chúa Trời tôn trọng thì cũng sẽ được mọi người tôn trọng. Trái lại nếu chúng ta tìm sự tôn trọng nơi loài người mà không tìm sự tôn trọng nơi Đức Chúa Trời thì kết quả chỉ là sự sỉ nhục mà thôi. Chúa Jêsus phán hứa: “Nếu ai hầu việc Ta, Cha Ta ắt tôn quí người”.

CÂU HỎI

1. Môi-se là người như thế nào đối với dân Y-sơ-ra-ên?

2. Môi-se được hưởng những đặc ân nào?

3. Tại sao Đức Chúa Trời biệt đãi và trọng dụng Môi-se?

4. Trong bài từ giã, Môi-se khuyên Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên những gì?

5. Trong bài ca tụng Chúa, Môi-se cho biết Chúa có chương trình gì cho dân Y-sơ-ra-ên?

6. Trong lời chúc phước, Môi-se cho thấy dân Y-sơ-ra-ên sẽ như thế nào?

7. Lời chúc phước đó cũng dành cho ai?

8. Môi-se chết ở đâu? Chôn tại đâu? Ai chôn thi hài ông? Ông thọ bao nhiêu tuổi?

9. Đời của Môi-se chia làm mấy giai đoạn? Mỗi giai đoạn có đặc điểm gì?

10. Môi-se và Ê-li hiện ra với Chúa Jêsus lúc nào và có ý nghĩa gì?

BÀI 6. GIÔ-SUÊ, TÂN LÃNH TỤ

(Đấng Christ Là Lãnh Tụ Của Chúng Ta – Giăng 6:67-69).

KINH THÁNH: Dân Số Ký 27:15-23, Giô-suê 1:1-18.

CÂU GỐC: “Ta há không có phán dặn ngươi sao? Hãy vững lòng bền chí, chớ run sợ, chớ kinh khủng; vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi vẫn ở cùng ngươi trong mọi nơi ngươi đi” (Giô-suê 1:9).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết Chúa Jêsus là Lãnh tụ của dân Y-sơ-ra-ên và cũng là của chúng ta. Chúng ta phải vâng phục Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Giô-suê được Đức Chúa Trời chọn

(Xuất 17:9-13).

TH:

Giô-suê được Đức Chúa Trời chọn

(Dân 27:15-23).

TB:

Giô-suê, tân lãnh tụ

(Giô-suê 1:1-18).

TT:

Chúa Jêsus, Lãnh tụ của chúng ta

(Giăng 6:67-69).

TN:

Bảo đảm về sự hiện diện của Đức Chúa Trời

(Giô-suê 1:5,9).

TS:

Bảo đảm về sự hiện diện của Đức Chúa Trời

(Ma-thi-ơ 28:20; Công 17:27).

     

TB:

Qui luật thành công của Đức Chúa Trời

(Giô-suê 1:7-8).

Đức Chúa Trời chọn Giô-suê làm lãnh tụ cho dân sự Ngài thay thế lãnh tụ Môi-se sắp qua đời. Nhưng chính Đức Chúa Trời mới là Lãnh tụ đích thực, quyền năng và vĩnh cửu của dân sự, Ngài bảo đảm sẽ ở cùng Giô-suê để giúp ông đắc thắng quân thù và chiếm Đất Hứa.

I. CON NGƯỜI CỦA TÂN LÃNH TỤ.

1. Có Thần của Đức Chúa Trời cảm động (Dân 27:18a).

– Có sự khôn ngoan (Phục 34:9).

Điều quan trọng nhất là Giô-suê được Thần của Chúa cảm động, tức là đầy dẫy Thánh Linh, bởi vậy ông có sự khôn ngoan đặc biệt. Sa-lô-môn cũng đã ý thức điều đó nên ngay khi lên ngôi, ông liền cầu xin Chúa ban cho ông sự khôn ngoan để cai trị dân Chúa theo đúng đường lối của Ngài (ICác 3:7-9). Chúng ta cũng có thể cầu xin Chúa ban sự khôn ngoan để hầu việc Ngài (Gia-cơ 1:5), và bí quyết để nhận được điều đó là hết lòng kính sợ Đức Chúa Trời (Châm 1:7).

Chúa nhắc Giô-suê phải luôn vững lòng bền chí, phải có Thần của Đức Chúa Trời và đầy đức tin. Một người run sợ, thối chí và thiếu khôn ngoan sẽ không bao giờ dẫn dắt dân sự của Chúa được.

2. Được đặt tay (phong chức: Dân 27:18b, Phục 34:9).

a. Dân sự sẽ vâng lời (Dân 27:20).

Giô-suê được Môi-se đặt tay truyền chức thánh, được giới thiệu cho cả dân sự Y-sơ-ra-ên, để họ vâng lời ông như vâng lời Môi-se vậy. Ngay từ đó “Giô-suê… được đầy dẫy thần khôn ngoan, vì Môi-se đã đặt tay mình trên người, dân Y-sơ-ra-ên bèn vâng lời người và làm theo điều Đức Giê-hô-va phán dặn Môi-se” (Phục 34:9). Giô-suê đã trung tín phục vụ Môi-se suốt 40 năm, thái độ phục vụ của ông trở thành tấm gương cho dân sự. Người có đủ tư cách lãnh đạo là người học tập vâng lời, kính sợ Chúa và hầu việc Ngài với tinh thần sốt sắng. Lịch sử chinh phục Đất Hứa cho chúng ta thấy Giô-suê quả là một Môi-se thứ hai.

b. Có ơn và uy tín để hầu việc Chúa (I Ti-mô-thê 4:14).

Chỉ những người có ơn của Chúa mới có thể phục vụ Ngài cách trung tín trong một thời gian lâu dài như vậy. Ân tứ của Đức Thánh Linh ban cho mỗi chúng ta để ai nấy hầu việc Chúa có kết quả. Chúng ta không được “bỏ quên”, trái lại phải trau giồi ơn ấy bằng cách hầu việc Chúa nhiều hơn. Giô-suê là con người như vậy. Ông là một chiến sĩ can trường, một người phục vụ đắc lực, sống một đời sống đạo đức mẫu mực, vì vậy ông được đặt tay phong chức để trở thành người lãnh đạo dân sự. Trước khi làm người lãnh đạo, người ấy phải nhận được sự kính trọng của dân sự qua nếp sống đạo đức và tinh thần phục vụ.

Người lãnh đạo trong nhà Chúa phải được Ngài chọn chứ không phải do chiếm đoạt. Nếu ai tự chọn cho mình chức vụ đó, dân sự của Chúa sẽ không hoan nghinh, không ủng hộ và kết quả cuối cùng mà người ấy nhận được là sự thất bại thảm hại.

II. CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TÂN LÃNH TỤ (Giô-suê 1:1-9).

1. Làm thống lãnh quân đội (Xuất 17:9-13).

– Chiến thắng quân A-ma-léc.

Từ lâu, Giô-suê đã được chuẩn bị cho chức vụ lãnh tụ. Khi ra khỏi Ê-díp-tô, Giô-suê vâng lệnh Môi-se thống lĩnh quân đội Y-sơ-ra-ên đánh bại A-ma-léc chỉ trong một ngày (Xuất 17:8-16). Người làm lãnh tụ phải là người chiến thắng những “A-ma-léc” trong đời sống để có thể hướng dẫn dân sự tiến vào Đất Hứa.

2. Làm trợ tá của Môi-se (Xuất 24:12-13).

– Hầu việc (phục vụ) Môi-se (Xuất 24:9-13).

Giô-suê hết lòng phục vụ Môi-se như một tôi tớ suốt 40 năm trong đồng vắng (Xuất 24:13; 33:11). Đồng vắng là trường huấn luyện mà Giô-suê cần đến để trở thành lãnh tụ của dân Y-sơ-ra-ên sau này. Phải là người hết lòng phục sự Chúa rồi mới trở nên người lãnh đạo, đó là phương cách của Đức Chúa Trời để đào luyện người hầu việc Ngài.

3. Đầy đức tin (Dân 13:1-30, 14:5-10, 38).

– Can đảm (Dân 14:10).

Trong 12 thám tử, chỉ có ông đứng với Ca-lép khích lệ dân Y-sơ-ra-ên cứ vào Ca-na-an, chớ sợ chi (Dân 13:30-14:9). Cùng một hoàn cảnh nhưng với cái nhìn đầy đức tin, hai ông đã can đảm trình bày quan điểm của mình dù điều đó có thể khiến hai ông bị dân sự ném đá. Can đảm là bản tính mà người lãnh đạo cần có để vượt qua những thử thách trong chức vụ của mình.

III. CÔNG TÁC CỦA TÂN LÃNH TỤ (Giô-suê 1:10-18).

Môi-se qua đời nhưng Chúa vẫn sống. Trước kia Ngài chỉ huy dân sự qua Môi-se, bây giờ qua Giô-suê, nên Ngài ban công tác cho ông.

1. Mục tiêu công tác (Giô-suê 1:2).

– Chiếm lấy Đất Hứa.

Mạng lệnh Chúa truyền cho Giô-suê lúc này là qua sông Giô-đanh và chiếm lấy Đất Hứa. Thay đổi người lãnh đạo nhưng không thay đổi chương trình. Chương trình của Chúa không những giải phóng dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ê-díp-tô mà còn đưa họ vào tận Ca-na-an như Ngài đã hứa. Dẫu chưa thấy có một phương tiện tối thiểu nào khả dĩ cho dân Y-sơ-ra-ên vượt qua sông Giô-đanh đang mùa gặt, nước lên tràn bờ, nhưng Chúa đã chuẩn bị mọi sự cho họ rồi.

2. Sự bảo đảm cho công tác.

a. Nơi nào bàn chân đạp đến thì Chúa sẽ ban cho (Giô-suê 1:3).

Lời hứa này bao gồm cả địa phận mà Ngài dành cho họ (c.7). Ngay khi bàn chân của họ đạp trên nước sông Giô-đanh, thì nước cũng rẽ ra cho họ đi (3:13).

b. Đức Chúa Trời sẽ ở cùng (Giô-suê 1:5,9).

Không ai chống cự nổi với người được Chúa ở cùng, được Chúa sai đi, vì chống cự với người đó là chống cự với chính mình Chúa. Lịch sử ghi lại rất rõ ràng: Chẳng có dân tộc nào, cá nhân nào đứng nổi trước mặt Giô-suê, hết thảy đều bị đánh ngã (Giô-suê 21:14). Phi-e-rơ bị giam trong ngục, được canh phòng cẩn mật. Nhưng khi được thiên sứ đánh thức, Phi-e-rơ chờ dậy, xiềng liền rớt ra khỏi tay ông, ông cùng đi với thiên sứ cách tự do. Cùng đi với Chúa thì chúng ta không sợ một trở ngại nào, “cả người lẫn vật” đều không thể đứng nổi, nhưng thảy đều mở đường cho họ đi. Mọi trở lực trong đời sống chúng ta dù cao như núi cũng sẽ được san bằng bởi quyền năng của Chúa nếu chúng ta cùng bước đi với Ngài (Xa-cha-ri 4:7).

Đấng Christ là Lãnh tụ đích thực, toàn năng và vinh hằng của chúng ta. Chúng ta phải hết lòng vâng phục Chúa và hầu việc một mình Ngài. Ai trung tín trong việc nhỏ, sẽ trung tín trong việc lớn và được Chúa lập coi sóc nhiều (Ma-thi-ơ 25:21).

CÂU HỎI

1. Vì sao người lãnh đạo hội chúng của Đức Chúa Trời phải có Thần của Ngài?

2. Vì sao Chúa truyền cho Môi-se phải đặt tay trên Giô-suê?

3. Vì sao phải làm người hầu việc rồi mới được làm lãnh tụ?

4. Đức tin của Giô-suê như thế nào?

5. Mục tiêu công tác của Giô-suê là gì?

6. Vì sao công tác của Giô-suê chắc chắn thành công?

7. Vì sao bạn biết công tác mà bạn đang phục vụ Chúa sẽ có kết quả?

8. Bạn có nhận Đấng Christ là Lãnh tụ của bạn không? Vì sao?

BÀI 7. SỢI DÂY CHỈ ĐIỀU

(Đấng Christ Cứu Chúng Ta – I Phi-e-rơ 1:18-19).

KINH THÁNH: Giô-suê 2:1-24.

CÂU GỐC: “Nhưng nếu chúng ta đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta giao thông cùng nhau và huyết của Đức Chúa Jêsus, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta” (IGiăng 1:7).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết Chúa Jêsus dùng huyết cứu những ai đặt đức tin nơi Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Mọi người là tội nhân

(Rô-ma 1:29-32).

TH:

Sợi dây chỉ điều

(Giô-suê 2:1-24).

TB:

Huyết của Chúa Jêsus cứu chúng ta

(I Phi-e-rơ 1:18-19).

TT:

Lời Đức Chúa Trời tăng cường đức tin chúng ta

(Rô 10:17, Côl 1:9-11).

TN:

Tình yêu cao cả của Đức Chúa Trời

(Giê 31:3, Ê-phê-sô 2:4-9).

TS:

An toàn trong tình yêu của Chúa

(Giăng 3:36, 10:28-29).

TB:

Huyết đổ ra vì tội của thế gian

(Rô-ma 5:9, Hê-bơ-rơ 9:14).

Ra-háp là người nữ ngoại bang và có đời sống không tốt, nhưng trong khi mọi người ở thành Giê-ri-cô đều bị chết, thì nàng và cả nhà đều được cứu. Nàng đã bày tỏ đức tin sống động của mình trong việc dùng sợi dây chỉ điều cứu các thám tử, thì cũng chính sợi dây chỉ điều đó được dùng để cứu sống nàng và gia đình.

I. SỢI DÂY CHỈ ĐIỀU CỨU CÁC THÁM TỬ.

1. Các thám tử được sai đi.

a. Công tác của họ: Trước khi tiến chiếm Đất Hứa, hai thám tử được sai đi do thám xứ Ca-na-an và Giê-ri-cô. Không phải họ nghi ngờ sự dẫn dắt của Chúa, vì trong suốt bốn mươi năm lưu lạc trong đồng vắng, họ không hề đói khát hay thất bại trước quân thù là bằng cớ về sự chăm sóc, bảo vệ đặc biệt ấy. Dầu vậy, những khó khăn sắp đến có thể khiến dân sự chùn bước, nên để có chứng cớ khích lệ dân sự tiếp tục tin cậy và vâng lời Chúa, họ cần thực hiện cuộc do thám đó.

b. Nơi họ trú ngụ: Tại Giê-ri-cô có nhiều nhà có thể vào trọ nhưng hai thám tử chọn nhà của một kỵ nữ vì hai lý do:

– Nơi đây có nhiều người lui tới nên quân Giê-ri-cô rất khó phát hiện.

– Nhà của kỵ nữ Ra-háp ở trên vách thành nên có thể tẩu thoát khi gặp nguy hiểm.

2. Các thám tử được cứu bằng sợi dây chỉ điều.

Tuy nhiên vì hai thám tử là người ngoại quốc, nên dân bản xứ nhận diện, tâu lên vua Giê-ri-cô và vua ra lệnh bắt họ. Nhưng nhờ Ra-háp tin hai sứ giả là người của Đức Chúa Trời nên nàng không nộp họ cho vua mà giấu họ trên mái nhà để bảo vệ mạng sống họ. Phải có đức tin đến Đức Chúa Trời, Ra-háp mới dám làm việc đó. Ban đêm, Ra-háp dùng một sợi dây màu điều dòng họ ra ngoài thành và nhờ đó họ thoát khỏi nơi hiểm nguy.

Người hầu việc Chúa thì được Chúa bảo vệ, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào thì Ngài cũng có kế hoạch để giải cứu khi người ấy gặp khó khăn. Nếu chúng ta tận tâm hầu việc Ngài thì Ngài là Đấng ban sự giải cứu cho chúng ta khi có cần.

II. SỢI DÂY CHỈ ĐIỀU CỨU RA-HÁP.

1. Lý do Ra-háp được cứu: Đức tin nơi Chúa.

a. Sự hình thành đức tin.

Kinh Thánh chép: “Đức tin đến bởi sự người ta nghe” (Rô-ma 10:17). Đức tin của Ra-háp được hình thành và phát triển qua các bước:

– “Biết Đức Chúa Trời” (Giô-suê 2:9): Ra-háp nhận biết Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, và Ngài đã ban xứ Ca-na-an cho dân Y-sơ-ra-ên vì dân Ca-na-an đã phạm tội trọng với Ngài, bà và dân tộc của bà sẽ bị tiêu diệt. Do đó bà quyết tìm cầu Ngài để được cứu và đã thực sự gặp Ngài, trong khi nhiều người khác cùng sống một nơi, cùng nhận thức như bà nhưng vẫn chết mất vì chưa hết lòng tìm kiếm Chúa (Giê-rê-mi 29:13).

– “Hay” các việc kỳ diệu Đức Chúa Trời làm (Giô-suê 2:9-10): Đức tin của bà được củng cố bằng những dấu kỳ phép lạ mà bà nghe khi Chúa giải cứu dân Ngài ra khỏi Ai-cập. Ngài rẻ Biển Đỏ cho họ đi qua như đi trên đất khô, giúp họ chiến thắng hai vua A-mô-rít một cách dễ dàng. Tuy là người ngoại, nhưng bà lại nhận biết Chúa và tin cậy Ngài, trong khi một số người Y-sơ-ra-ên chưa nhận biết như vậy nên thay vì can đảm, họ sợ hãi, thay vì vui mừng, họ lại lo lắng, bất an.

– Tin Đức Chúa Trời: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời ở trên trời cao kia” (Giô-suê 2:11): Từ sự nhận biết Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, bà tin Ngài là Đấng tể trị cả cõi trời đất, Đấng có quyền ban ơn hay giáng họa cho con người nên bà tìm kiếm Ngài và phó thác cả đời mình cho Ngài.

b. Hành động của đức tin.

– Giấu các thám tử: Đức tin không có việc làm là đức tin chết (Gia-cơ 2:26). Đức tin của Ra-háp là đức tin sống động, được bày tỏ bằng hành động cụ thể, đó là nàng đem giấu các thám tử dưới các cọng gai trên mái nhà.

– Giúp các thám tử trốn thoát: Giấu các thám tử chỉ là bước đầu tiên trong việc bày tỏ đức tin. Ra-háp còn tiến xa hơn trong việc giải cứu các thám tử. Ngay trong đêm, bà dùng sợi dây màu điều dòng hai thám tử ra khỏi thành, đồng thời dặn dò hai người ẩn nấp tại nơi an toàn chờ khi những người đuổi theo đã trở về mới tiếp tục cuộc hành trình.

2. Kế hoạch giải cứu Ra-háp.

a. Lời dặn của các thám tử: Đặt lòng tin nơi Đức Chúa Trời, Ra-háp giải cứu các thám tử và được Đức Chúa Trời ban sự giải cứu cho bà và người thân khi Ngài tuyệt diệt Giê-ri-cô. Theo lời dặn của các thám tử, bà phải thông báo cho hết thảy người thân vào nhà có cột sợi dây màu điều mà bà đã dùng để cứu các thám tử thoát khỏi nơi hiểm nguy. Mọi người phải ở trong nhà, nếu ai ra ngoài thì không được an tòan (Giô-suê 2:17-20).

b. Sự vâng lời của Ra-háp: Sự an toàn được bảo đảm với hai điều kiện: Mọi người phải ở trong nhà và sợi dây màu điều phải được cột nơi cửa sổ. Nhờ làm theo lời dặn dò của các thám tử, Ra-háp và cả nhà bà được bình yên vô sự (Giô-suê 2:21b).

Bằng đức tin, Ra-háp giúp đỡ những người thi hành trọng trách Chúa giao và bà cũng nhận được ơn giải cứu của Chúa. Không những giải cứu bà, Chúa còn cho bà được dự phần trong chương trình cứu rỗi của Ngài, và bà đã trở thành tổ mẫu của Đấng Cứu Thế (Ma-thi-ơ 1:5). Bởi đức tin, Ra-háp được cứu, và bởi việc làm, bà được ban thưởng. Chúa dùng những người mà chúng ta không ngờ, miễn là người ấy có đức tin. Công khó của mỗi chúng ta trong Chúa chẳng phải là vô ích, dù chỉ với một chén nước lạnh cho người hầu việc Chúa thì chúng ta vẫn được Chúa ban thưởng (ICôr 15:58; Mác 9:41).

Đức tin thật phải có hành động xứng đáng. Đức tin phải sanh ra việc làm, và việc làm đó phải được bày tỏ cách công khai trước mọi người. Nếu đức tin không được bày tỏ công khai thì đó là đức tin vô giá trị (Rô-ma 10:9-10).

III. HÌNH BÓNG CỦA SỢI DÂY CHỈ ĐIỀU: HUYẾT CỦA CHÚA JÊSUS.

Những người ở trong nhà dù có học hay dốt nát, giàu hay nghèo, chủ hay tớ đều được cứu. Nhưng cũng hạng người trên, nếu ở ngoài căn nhà có sợi dây màu điều thì hết thảy đều bị chết mất. Sợi dây màu điều tượng trưng cho huyết Chúa Jêsus. Ngài đổ huyết ra trên thập tự giá để cứu hết thảy những người tin nhận sự chết đền tội của Ngài. Nếu ai nhận định đúng tình trạng của thế gian, số phận của loài người và sự nhân từ của Chúa, cũng phải hành động như kỵ nữ Ra-háp. Thế gian bị rủa sả vì nhân loại đều đã phạm tội và đáng bị hình phạt. Song Tin Lành của Đức Chúa Trời được truyền ra cho mọi người, nếu ai nấy kịp thời ăn năn tin nhận Ngài thì được cứu rỗi.

Trong dòng huyết của Chúa Jêsus, mọi người đều được cứu, ngoài Ngài, hết thảy mọi người đều bị hư mất vì “chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác” (Công vụ 4:12).

CÂU HỎI

1. Công tác của các thám tử là gì?

2. Vì sao các thám tử phải do thám Giê-ri-cô?

3. Vì sao các thám tử chọn nhà Ra-háp?

4. Xin cho biết các bước hình thành đức tin của Ra-háp.

5. Điều gì bày tỏ đức tin thật của Ra-háp?

6. Điều kiện để kế hoạch giải cứu Ra-háp được thành công là gì?

7. Phước hạnh lớn lao hơn hết mà Ra-háp đã nhận được sau khi được giải cứu là gì?

8. Sợi dây màu điều tượng trưng cho gì?

9. Điều kiện để tội nhân được cứu là gì?

10. Vì sao Kinh Thánh xác quyết “chẳng có sự cứu rỗi trong Đấng nào khác”?

BÀI 8. VƯỢT SÔNG GIÔ-ĐANH

(Đấng Christ Là Con Đường Của Chúng Ta – Giăng 14.4-6).

KINH THÁNH: Giô-suê 3-4.

CÂU GỐC: “Vậy Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta là Đường đi, Lẽ thật và Sự sống, chẳng bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha” (Giăng 14:6).

MỤC ĐÍCH: Bày tỏ Chúa Jêsus là Đấng duy nhất dẫn chúng ta đến cùng Đức Chúa Trời.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Vượt sông Giô-đanh

(Giô-suê 3).

TH:

Đài kỷ niệm vượt sông Giô-đanh

(Giô-suê 4:1-18).

TB:

Đài kỷ niệm vượt sông Giô-đanh

(Giô-suê 4:19-24).

TT:

Chúa Jêsus là Con đường của chúng ta

(Giăng 14:4-6).

TN:

Nước sông Giô-đanh chảy ngược

(Thi thiên 114).

TS:

Con đường duy nhất dẫn đến Đức Chúa Trời

(Công vụ 4:1-12).

TB.

Chúa dẫn dắt đúng đường

(Thi thiên 1).

 

Dân Y-sơ-ra-ên không thể nào vượt qua sông Giô-đanh được vì nước dâng tràn bờ và họ không có thuyền bè chi cả. Nhưng Chúa Toàn năng đã làm một con đường vững chắc để họ đi bộ qua bên kia sông. Ngày nay, Chúa Jêsus là Con đường mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho chúng ta đến cùng Ngài.

I. PHƯƠNG CÁCH VƯỢT SÔNG GIÔ-ĐANH.

1. Công tác của Đức Chúa Trời.

a. Tạo con đường băng ngang sông Giô-đanh: Dân Y-sơ-ra-ên chuẩn bị vượt sông Giô-đanh đang lúc mùa gặt (c.15). Nắng xuân làm tan các khối tuyết trên dãy núi Liban nên dòng sông Giô-đanh chảy mạnh và tràn ngập hai bên bờ. Quanh năm chỉ có mùa này sông Giô-đanh sâu và rộng hơn hết. Qua sông lúc này rất nguy hiểm, hơn nữa họ lại chẳng có thuyền bè gì cả, nếu có thì cũng không thể nào đáp ứng nổi vì 40 năm trước, lúc vừa ra khỏi Ê-díp-tô, chỉ riêng nam giới đã hơn 600.000 người (Dân số ký 1:46), bây giờ còn đông hơn nữa. Các dân tộc chung quanh nghĩ rằng dân Y-sơ-ra-ên không thể nào qua sông Giô-đanh. Khi Giô-suê ra lệnh cho mọi người đến ngủ tại mé sông để chuẩn bị vượt qua, chắc họ có hỏi ông Giô-suê: “Thưa ông, làm sao qua được khi không có phương tiện tối thiểu?” Đối với Đấng Toàn Năng không có lựa chọn giữa việc nhỏ và dễ, mà sẵn sàng chấp nhận việc lớn và khó vì không có gì khó khăn cho Ngài cả. Ngài đã làm một việc mà họ không ngờ: Khi chân của những người khiêng hòm giao ước vừa bước xuống mé sông thì nước thượng nguồn dồn lại, tạo một con đường cho dân sự đi qua an toàn.

b. Bảo vệ dân sự.

– Hòm giao ước đi trước (Giô-suê 3:9-11): Hòm giao ước chỉ về sự hiện diện của Đức Chúa Trời phải được các thầy tế lễ khiêng đi trước khoảng 800 mét rồi dân Y-sơ-ra-ên mới theo sau. Khi chân của các thầy tế lễ khiêng hòm giao ước vừa chạm nước nơi mé sông thì nước sông rẽ ra, một con đường trống trải mở ra trước mắt họ. Mắt ai nấy đều nhìn hòm giao ước, chân họ bước đi. Ngài đi trước vào sông Giô-đanh là một nơi xa lạ và nguy hiểm để dân sự đi qua an toàn và tiến thẳng vào Đất Hứa. Sự hiện diện của Chúa phá tan mọi trở lực, chúng ta chỉ cần làm theo sự chỉ dẫn của Ngài thì phép lạ sẽ xảy ra. Điểm khác biệt giữa lần vượt qua Biển Đỏ và qua sông Giô-đanh lần này là khi qua Biển Đỏ, Môi-se đưa cây gậy lên thì nước liền rẽ ra, bây giờ các thầy tế lễ phải khiêng hòm giao ước và bước xuống sông thì nước mới rẽ. Con đường đức tin càng ngày càng cao, chúng ta phải thực hành đức tin phù hợp với sự trưởng thành thuộc linh của mình và sẽ thấy quyền năng của Chúa thể hiện.

– Hòm giao ước dừng lại giữa dòng sông và lên bờ sau cùng (Giô-suê 3:17, 4:11): Chúa biết đức tin của dân sự nên Ngài truyền lệnh cho các thầy tế lễ khiêng hòm giao ước phải dừng lại giữa sông để bảo đảm an ninh cho toàn dân và khiến họ an tâm. Đó là lý do Giô-suê tuyên bố: “Đức Chúa Trời hằng sống ngự giữa các ngươi… Chúa của cả thế gian đi trước các ngươi vào sông Giô-đanh”. Ngài không đi trước mà bỏ dân sự Ngài theo sau, nhưng Ngài đi trước mở đường và ở lại sau để bảo vệ. Nếu hòm giao ước đi xuống sông rồi lên bờ trước, đoàn người theo sau sẽ sợ sông Giô-đanh chôn vùi họ như Biển Đỏ chôn vùi đạo quân Ê-díp-tô. Vì vậy, khi dân sự đã đi qua hết, họ mới khiêng hòm giao ước lên.

Trong nơi xa lạ, nguy hiểm, Chúa luôn đi trước dân sự của Ngài, ở lại đó với họ và ra khỏi nơi đó sau cùng. Ngày nay cũng vậy, trên con đường chúng ta chưa hề đi, Chúa đã đi trước, thậm chí Ngài đã đi vào sự chết, vào phần mộ, vào âm phủ, và từ đó, Ngài sống lại khải hoàn, cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ. Vì thế, Chúa bảo: “Đừng sơ” (Khải 1:17-18).

2. Công tác của dân Y-sơ-ra-ên.

a. Làm cho mình ra thánh (Giô-suê 3:5).

Để có thể chứng kiến và từng trải phép lạ Chúa làm, dân sự phải làm cho mình ra thánh, tức là trong mọi suy nghĩ và hành động đều nhằm mục đích tôn cao danh Chúa, những gì bất khiết đối với Chúa họ đều phải xa lánh. Trước sự hiện diện của Chúa cả thế gian, Biển Đỏ không thể ngăn trở, đồng vắng không thể ngăn trở, thì sông Giô-đanh cũng vậy, chỉ tội lỗi như sự ham mê của xác thịt, nhất là sự vô tín mới ngăn trở Chúa thi hành quyền năng của Ngài mà thôi. Muốn kinh nghiệm ân điển và quyền năng lạ lùng của Chúa, chúng ta phải mặc trang sức thánh, phải nên thánh trong mọi cách ăn ở của mình (Thi 29:2; I Phi-e-rơ 1:15).

b. Vâng lời (Giô-suê 3:2,6,14,17).

Để có thể tiến vào Đất Hứa, dân Y-sơ-ra-ên phải làm theo sự chỉ dẫn của Chúa: Họ phải đi sau hòm giao ước và vượt sông Giô-đanh. Ngài phải đi trước để dẫn dắt họ, nếu họ không chịu vâng lời và tự tiến lên thì sẽ bị nước sông Giô-đanh cuốn trôi đi mất. Và nếu họ cứ trì hoãn không chịu vượt sông đúng thời điểm đã định thì sau khi hòm giao ước đã lên khỏi sông, nước sông trở lại như cũ, không có cách nào vượt qua được. Tin cậy và vâng lời là hai bí quyết để hưởng mọi phước hạnh Chúa ban, vì “sự vâng lời tốt hơn của lễ…” (II Sa-mu-ên 15:22). Chúng ta phải vâng lời Chúa và chờ đợi ý muốn của Ngài được bày tỏ, nếu tự hành động thì thất bại là điều không tránh khỏi.

II. ĐÀI KỶ NIỆM VƯỢT SÔNG GIÔ-ĐANH.

Vừa qua sông Giô-đanh, ai nấy bận biết bao nhiêu công việc. Nhưng có một việc quan trọng mà họ không được phép bỏ qua là tôn vinh Chúa qua hai kỷ niệm.

1. Dựng đài kỷ niệm.

a. Đài kỷ niệm giữa dòng sông (Giô-suê 4:9).

Giô-suê truyền lệnh lấy 12 hòn đá chỉ về 12 chi phái của dân Y-sơ-ra-ên, dựng nên một đài kỷ niệm ở giữa sông Giô-đanh, nơi các thầy tế lễ đứng khiêng hòm giao ước của Chúa. Khi ra khỏi Ai-cập, họ đã được Báp-têm trong đám mây và dưới biển (ICôr 10:2), và việc qua sông Giô-đanh bây giờ cũng có cùng một ý nghĩa. Những hòn đá đó ám chỉ dân Y-sơ-ra-ên đã chết và chôn vùi đời sống cũ, đời sống tội lỗi. Chúng ta đã đồng chết với Chúa Jêsus trên thập tự giá, đồng chôn với Ngài trong phần mộ của lễ Báp-têm và đồng sống lại với Ngài trong đời sống mới (Rô-ma 6:1-4; Cô-lô-se 2:12-13).

b. Đài kỷ niệm trên đất (Giô-suê 4:1-3).

Con người rất dễ quên, nhất là dễ quên ơn Chúa. Đa-vít đã sáng tác rất nhiều Thi Thiên là để ghi lại các việc lạ lùng mà Chúa đã làm cho ông. Dầu vậy, ông còn tự nhủ: “Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va” (Thi 103:2). Chúa luôn nhắc cho dân Y-sơ-ra-ên rằng Ngài là “Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, của Y-sác và của Gia-cốp, Đấng đã rút họ ra khỏi Ê-díp-tô là nhà nô lệ. Hãy nhớ các điều này… Hãy nhớ mọi sự đó… Hãy nhớ lại những sự ngày xưa” (Ê-sai 44:21; 46:8-9). Tiệc thánh mà Chúa Jêsus thiết lập là để chúng ta nhớ Ngài. Khi Hội Thánh Ê-phê-sô nguội lạnh, Chúa bảo: “Ngươi hãy nhớ lại, ngươi đã sa sút từ đâu”. Giô-suê cũng đã công bố mạng lệnh của Chúa cho dân Y-sơ-ra-ên là mỗi chi phái phải vác một hòn đá từ giữa sông Giô-đanh, dựng thành một đài kỷ niệm tại nơi họ nghỉ đêm để nhắc nhở con cháu họ nhớ đến phép lạ Ngài đã làm để đưa họ vào Đất Hứa. Mỗi khi con cháu họ hỏi các hòn đá có ý nghĩa gì là cơ hội để họ nhớ lại và giải thích cho con cháu họ biết điều đó. Không những chỉ lo cho dân Y-sơ-ra-ên, Chúa còn lo cho con cháu họ. Chúng ta phải có những kỷ niệm để chứng minh cho con cháu mình những việc lạ lùng mà Chúa đã làm, nhất là đời sống chúng ta mà Chúa đã cứu bởi quyền năng của thập tự giá. Nhớ lại các ơn lành của Chúa, Đa-vít đã hát lên: “Tôi sẽ lấy gì báo đáp Đức Giê-hô-va về các ơn lành mà Ngài đã làm cho tôi” (Thi 116:12).

Qua sông Giô-đanh, dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu cuộc sống phong phú trong xứ Ca-na-an. Sau khi kể mình đã chết trong đời sống cũ, bị chôn vùi dưới phần mộ của lễ Báp-têm và sống lại, chúng ta bắt đầu cuộc sống của Cơ Đốc nhân trưởng thành, phong phú trong Đấng Christ là Ca-na-an thuộc linh.

2. Ý nghĩa của đài kỷ niệm.

Trước hết, đài kỷ niệm được dựng nên bởi 12 hòn đá, nước Y-sơ-ra-ên cũng được hình thành từ 12 chi phái. Bài học từ biểu tượng đó là, nếu thiếu sự hiệp một, họ sẽ không thể nào trở thành một quốc gia hùng cường được. Hội Thánh cũng sẽ đánh mất sức mạnh nếu thiếu sự hiệp một.

Đài kỷ niệm là chứng cớ bày tỏ quyền năng của Đức Chúa Trời cho các thế hệ tiếp theo để họ nhận biết Ngài và kính sợ Ngài (Giô-suê 4:6-7, 20-23). Đồng thời qua đó, thế gian cũng sẽ nhận biết tay của Đức Giê-hô-va rất mạnh (Giô-suê 4.24).

CÂU HỎI

1. Cách qua sông Giô-đanh chứng minh Đức Chúa Trời đang làm gì ở giữa dân Y-sơ-ra-ên?

2. Tại sao hòm giao ước phải đi trước?

3. Tại sao hòm giao ước phải dừng lại giữa sông?

4. Kết quả như thế nào?

5. Dân Y-sơ-ra-ên qua Biển Đỏ và sông Giô-đanh khác nhau thế nào?

6. Chúa bảo lấy 12 hòn đá giữa sông và mang theo để làm gì?

7. Vì sao Chúa bảo dân Y-sơ-ra-ên lập đài kỷ niệm ở giữa sông và trên bờ sông Giô-đanh?

8. Ý nghĩa của đài kỷ niệm là gì?

9. Đài kỷ niệm là chứng cớ bày tỏ những điều gì?

10. Chúng ta phải kể mình như thế nào?

BÀI 9. THÀNH GIÊ-RI-CÔ NGÃ XUỐNG

KINH THÁNH: Giô-suê 5:10-6:27.

CÂU GỐC: “Bởi đức tin, các tường thành Giê-ri-cô đổ xuống, sau khi người ta đi vòng quanh bảy ngày” (Hê-bơ-rơ 11:30).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết Đức Chúa Trời sẽ thực hiện những điều kỳ diệu khi chúng ta đặt đức tin nơi Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Lời hứa chắc chắn cho vào Đất Hứa

(Giô-suê 5:10-12).

TH:

Tướng đạo binh của Đức Giê-hô-va

(Giô-suê 5:13-15).

TB:

Kế hoạch để tường thành Giê-ri-cô đổ xuống

(Giô-suê 6:1-11).

TT:

Tường thành Giê-ri-cô đổ xuống

(Giô-suê 6:12-21).

TN:

Giải cứu gia đình Ra-háp

(Giô-suê 6:22-27).

TS:

Đức tin

(Hê-bơ-rơ 11).

TB.

Đức Chúa Trời toàn năng

(I Sử 29:12, Thi 82:11, Gióp 42:2).

 

   

Đức Chúa Trời biết dân Y-sơ-ra-ên không đủ sức để tiến chiếm Đất Hứa, nên chính Ngài đã đến để làm Tướng đạo binh của Đức Giê-hô-va và chinh chiến thế cho họ. Nhưng họ phải đặt đức tin hoàn toàn nơi Đức Chúa Trời và vâng lời Ngài. Chúa đã khiến thành Giê-ri-cô đổ xuống để minh chứng cho lời hứa quyền năng của Ngài.

I. KẾ HOẠCH ĐỂ THÀNH GIÊ-RI-CÔ ĐỔ XUỐNG.

1. Đấng ban kế hoạch.

Khi Giô-suê đang suy nghĩ không biết làm cách nào để triệt hạ thành Giê-ri-cô và tiến chiếm Đất Hứa, thì thình lình ông thấy một người đứng trước mặt mình, tay cầm gươm trần như một chiến sĩ. Ông can đảm lại gần và hỏi: “Ngươi là người của chúng ta hay là người của kẻ thù chúng ta?” Giô-suê muốn biết đúng người ấy là bạn hay thù để khỏi lầm bạn là thù, thù là bạn, vì ma quỉ cũng hay giả làm thiên sứ. Người ấy đáp: “Không, bây giờ Ta đến làm Tướng Đạo Binh của Đức Giê-hô-va”. Câu ấy có ý nghĩa, Ta không phải là kẻ thù của ngươi, cũng không phải là thuộc hạ của ngươi mà Ta là Tư lệnh của đạo binh Đức Giê-hô-va và đạo binh của Y-sơ-ra-ên. Nghe vậy, Giô-suê vội vàng phủ phục dưới chân, lạy và thưa rằng: “Chúa truyền cho tôi tớ Chúa điều gì?” Chắc chắn Giô-suê vui mừng phấn khởi, bao nhiêu ưu tư tan biến như sương mù trước mặt trời buổi sáng. Giô-suê liền cởi giày ra theo mạng lệnh của Chúa, vì sự hiện diện của Chúa làm cho chỗ này trở nên thánh. Đó là dấu hiệu của lòng tôn kính, không những giở nón cúi đầu mà còn phải cởi giày nữa. Đấng đã hiện ra với Môi-se trong bụi gai cháy, bây giờ cũng hiện ra với ông tại đây để bày tỏ kế hoạch của Ngài cho ông. Đấng đã giải phóng dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ê-díp-tô và dẫn dắt họ suốt 40 năm trong đồng vắng, bây giờ tiếp tục chiến thắng kẻ thù của họ và ban Đất Hứa cho họ. Ngài chính là:

a. Đấng Tự hữu hằng hữu.

Ngài bày tỏ cho Môi-se danh Ngài là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, Đấng dựng nên cả vũ trụ này và thiết lập những qui luật để muôn vật tồn tại và phát triển. Chúa luôn hiện hữu và điều khiển vũ trụ. Nương cậy nơi Ngài, chúng ta sẽ không thất vọng vì Ngài là Đấng hằng sống, luôn chăm sóc và bảo vệ chúng ta.

b. Đấng Toàn năng.

Chúa dựng nên thế giới này bằng lời phán của Ngài. Khi Áp-ra-ham được kêu gọi, Ngài cho ông biết chẳng việc chi Ngài không làm được (Sáng 18:14). Khi giải phóng dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập, Ngài bày tỏ nhiều dấu kỳ phép lạ: Các tai vạ tại Ai-cập, rẽ Biển Đỏ cho họ đi qua, ban mana từ trời và nước từ vầng đá, che chở họ bằng trụ mây và trụ lửa, rẽ nước sông Giô-đanh… Những việc đó cho thấy Chúa chúng ta là Đấng Toàn Năng. Tuy nhiên, phép lạ chỉ xảy ra khi chúng ta vâng lời Chúa và phép lạ đó phải được thực hiện trong ý muốn của Ngài.

2. Nội dung kế hoạch.

Để chiến thắng sự chống cự mạnh mẽ và bền bĩ của kẻ thù, Đức Chúa Trời có những biện pháp của Ngài. Biện pháp đó là làm cho chúng ta ngạc nhiên vì lạ kỳ, song rất hiệu lực, đồng thời cũng rất dễ cho chúng ta thực hiện.

a. Hòm giao ước cùng dân sự ra chiến trận.

Hòm giao ước là bằng chứng sự hiện diện của Chúa giữa dân sự. Khi họ vâng lời Chúa đi vòng quanh thành thì hòm giao ước vẫn luôn đi cùng họ. Điều đó chứng tỏ Ngài luôn bước đi bên cạnh để bênh vực và dẫn dắt họ (Giô-suê 6:9).

Đức Chúa Trời đi cùng dân sự Ngài và chiến đấu cho họ nên trận chiến này thuộc về Chúa. Giê-ri-cô là một thành phố được phòng thủ hết sức kiên cố, án ngữ ngay lối vào xứ Ca-na-an. Muốn tiến chiếm Ca-na-an thì trước hết phải chiếm thành Giê-ri-cô. Chúa biết dân Y-sơ-ra-ên không thể nào chiếm lĩnh thành được. Ngài đã chiến đấu cho họ, họ chỉ cần thực hiện theo đúng sự chỉ dẫn của Ngài thì sẽ được toàn thắng (Giô-suê 5:14, 6:16).

b. Tất cả chiến sĩ đi vòng quanh thành.

Chúa truyền cho Giô-suê rằng tất cả chiến sĩ phải đi vòng quanh thành mỗi ngày một lần, suốt trong 6 ngày (Giô-suê 6:3). Thứ tự của đoàn quân là: những người cầm binh khí, các thầy tế lễ thổi kèn, hòm giao ước, một phần của đoàn quân và dân chúng đi sau cùng. Ngoại trừ tiếng kèn, hết thảy những người tham gia cuộc diễu hành đều phải yên lặng tuyệt đối và chỉ la lớn tiếng lên khi có lệnh của Giô-suê. Không có tiếng hát, không một mũi tên nào được bắn ra, không một vũ khí nào được sử dụng. Chắc chắn binh lính trong thành Giê-ri-cô sẵn sàng chiến đấu, nhưng không có cuộc tấn công nào xảy ra, nên ngày sau họ chẳng thèm để ý, xem như một trò kỳ lạ xưa nay chưa từng có.

Ngày thứ bảy, Giô-suê và dân sự dậy sớm hơn thường lệ, họ phải đi vòng quanh thành đến bảy lần. Thành Giê-ri-cô đóng cửa, không người vào ra, dân thành nhìn dân Y-sơ-ra-ên như thách đố họ. Còn dân Y-sơ-ra-ên thì cẩn thận thi hành ý chỉ của Chúa. Không những tin cậy và vâng lời Chúa, họ còn phải bền chí cho đến cuối cùng. Khi gần hết vòng thứ 7, thành Giê-ri-cô cũng chẳng hề gì. Trong khi các thầy tế lễ thổi kèn, Giô-suê truyền lệnh: “Hãy la lên” (Giô-suê 6:4-5).

3. Kết quả của kế hoạch (c.20-27).

a. Thành sụp đổ: Tường thành Giê-ri-cô tức thì đổ xuống, mỗi người Y-sơ-ra-ên xông vào thành ngay trước mặt mình, dùng gươm hủy diệt tất cả các sinh vật.

b. Cứu gia đình Ra-háp: Hai thám tử được lệnh đem kỵ nữ Ra-háp và mọi người trong nhà nàng như cha mẹ, anh em, bà con ra khỏi thành.

c. Tịch thu chiến lợi phẩm: Quân đội Y-sơ-ra-ên lấy bạc, vàng, đồng, sắt dâng vào kho Đức Chúa Trời và phóng hỏa thành.

Thật Đức Chúa Trời đã ở cùng Giô-suê như Ngài đã ở cùng Môi-se.

Tường thành Giê-ri-cô ngã xuống không phải là chuyện hoang đường, nhưng là thực sự đã xảy ra trước đây 3.400 năm. Các nhà khảo cổ Anh, Đức, Mỹ đã thay phiên nhau đào bới vùng đất của thành Giê-ri-cô xưa từ năm 1925 đến năm 1927, rồi từ năm 1930 đến năm 1933, và từ năm 1952 đến năm 1957. Họ khám phá thành Giê-ri-cô bị đổ xuống như sách Giô-suê đã ghi:

(1) Tường ngoài dày 2 mét, tường trong dày 4 mét, giữa có một khoảng trống 5 mét, cao 10 mét, có chỗ 15 mét. Tường xây bằng gạch phơi nắng, dùng bùn làm hồ.

(2) Trong kho tàng của Giê-ri-cô còn dấu vết của nhiều phòng chứa lương thực, như thùng, chậu đựng đầy bột, hột giống, trái cây khô… Điều này chứng tỏ vua Giê-ri-cô đã tích lũy thức ăn lâu ngày, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống dân Y-sơ-ra-ên. Vì Đức Chúa Trời ra lệnh phải tiêu diệt tất cả mọi vật trong thành, nên dân Y-sơ-ra-ên không lấy một của ăn, vật dùng nào trong đó (Giô-suê 6:18).

(3) Các nhà khảo cổ học không tìm thấy một kim loại nào trong đống đổ nát, vì Đức Chúa Trời đã ra lệnh: “Phàm bạc, vàng và hết thảy vật bằng đồng, sắt đều sẽ biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va” (Giô-suê 6:19).

(4) Những vật bị cháy sém, đống tro tàn, khói than đen cho chúng ta biết rằng thành đã bị phóng hỏa đúng như mạng lệnh của Chúa (Giô-suê 6:24).

Các nhà khảo cổ học đồng ý rằng sông Giô-đanh bị khô, thành Giê-ri-cô bị đổ xuống đều do cơn động đất. Điều đó rất đúng đối với Kinh Thánh, vì Chúa có thể sử dụng năng lực thiên nhiên để làm nên ý muốn Ngài (Thi 114:1-7).

Về phương diện thuộc linh, thành Giê-ri-cô bị đổ xuống là việc đương nhiên vì không thành nào đứng nổi trước sự hiện diện của Chúa. Toàn dân Y-sơ-ra-ên phải im phăng phắc trước hòm giao ước vì: “Mọi xác thịt khá nín lặng trước mặt Đức Giê-hô-va, trước mặt Ngài, cả đất hãy làm thinh” (Xa-cha-ri 2:13; Ha-ba-cúc 2:20). Bảy thầy tế lễ đi trước thổi kèn như các sứ giả truyền lệnh của Chúa. Vua và dân thành Ni-ni-ve đã ăn năn nên được Chúa tha thứ (Giô-na 3:4-10), song vua và dân thành Giê-ri-cô chống cự, nên bị hủy diệt.

Mọi trận chiến trong cuộc đời chúng ta đều thuộc về Đức Chúa Trời. Có gì khó quá cho Chúa đâu, tại sao chúng ta bướng bỉnh, hãy triệt để tin cậy và vâng lời, chúng ta sẽ thấy sự vinh hiển của Ngài.

II. SỨC MẠNH KHIẾN THÀNH GIÊ-RI-CÔ ĐỔ XUỐNG.

1. Đức tin.

Kinh Thánh chép: “Không có đức tin thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài…” (Hê-bơ-rơ 11:6). Người có đức tin nơi Chúa là người luôn sống đẹp lòng Ngài. Đức tin là chìa khóa để giải quyết mọi nan đề trong cuộc sống. Dân Y-sơ-ra-ên đã ý thức được tầm quan trọng của đức tin nơi Đức Chúa Trời và đức tin chính là:

a. Chìa khóa của phép lạ (Hê-bơ-rơ 11:6; Ma-thi-ơ 9:22).

Không phải nhờ số đông hay được trang bị vũ khí hiện đại mà dân Y-sơ-ra-ên triệt hạ được thành Giê-ri-cô. Sự sụp đổ của Giê-ri-cô là một phép lạ. Dân sự của Chúa không tốn một mũi tên, không cần một phương tiện tối thiểu nào mà vẫn chiếm được thành ấy. Bí quyết để phép lạ ấy xảy ra đó là đức tin nơi Đức Chúa Trời. Dân Y-sơ-ra-ên đã tin cậy Ngài và thực hiện đúng theo mạng lệnh của Ngài nên điều đó đã xảy ra.

b. Đức tin sống động (Hê-bơ-rơ 11:30, Gia-cơ 2:17).

Đức tin phải được bày tỏ bằng hành động. Đức tin không có việc làm là đức tin chết. Dân Y-sơ-ra-ên đã bày tỏ đức tin của mình qua việc đi vòng quanh thành Giê-ri-cô theo sự chỉ dẫn của Chúa và họ đã đạt được một chiến thắng hết sức quan trọng. Chúa Jêsus là cội nguồn của đức tin, chúng ta cần đặt đức tin nơi Ngài thì sẽ nhận được một đức tin “sống” để có thể phá đổ bất cứ thành lũy kiên cố nào của ma quỉ (Lu-ca 17:6).

2. Vâng lời (Giô-suê 6:15-21).

Chúa tạo nên muôn vật và loài người, mọi biến chuyển của lịch sử thể hiện đúng kế hoạch đời đời của Ngài. Chúng ta phải vâng lời Ngài vì Ngài luôn dành cho chúng ta điều tốt đẹp nhất. “Sự vâng lời tốt hơn của tế lễ” (I Sa-mu-ên 15:22), và sự vâng lời chính là:

a. Không thắc mắc.

Không thắc mắc, cứ làm theo mạng lệnh của Chúa tức là tin cậy trọn vẹn nơi Ngài. Áp-ra-ham đã không thắc mắc, cứ vâng lệnh Chúa ra đi và trở thành tổ phụ của đức tin; dân Y-sơ-ra-ên không thắc mắc khi áp dụng kế hoạch của Chúa, dù đối với người khác đó việc làm hết sức kỳ lạ và cuối cùng họ đã chiến thắng.

b. Thực hiện kế hoạch “lạ lùng” của Đức Chúa Trời.

“Chẳng phải là bởi quyền thế, cũng chẳng phải là bởi năng lực, bèn là bởi thần Ta…” (Xa-cha-ri 4:6), do đó chúng ta không cần phải chiến đấu mà chỉ vâng lời Ngài là đủ. Đức Chúa Trời luôn điều khiển công việc của Ngài, khi chúng ta vâng lời thì mọi việc sẽ diễn ra đúng theo kế hoạch tốt đẹp của Ngài.

Sức mạnh để dân Y-sơ-ra-ên chiến thắng Giê-ri-cô là vâng lời Chúa, sức mạnh để chúng ta chiến thắng ma quỉ không có gì khác hơn là tin cậy và vâng lời Ngài.

CÂU HỎI

1. Ai lập kế hoạch chiếm Giê-ri-cô? Những thuộc tính thiên thượng của Ngài là gì?

2. Vì sao xưng Ngài là Đấng tự hữu hằng hữu?

3. Kế hoạch chiếm Giê-ri-cô gồm những bước nào? Thành phần nào tham dự?

4. Sự kiện hòm giao ước cùng dân sự ra trận cho bạn bài học gì?

5. Kết quả của kế hoạch ấy thế nào?

6. Các nhà khảo cổ đã nói gì về việc sụp đổ thành Giê-ri-cô?

7. Sức mạnh nào khiến cho thành Giê-ri-cô sụp đổ?

8. Vì sao bạn phải hoàn toàn tin cậy và vâng lời Chúa?

9. Điều kiện để bạn chiến thắng trong mọi trận chiến thuộc linh là gì?

BÀI 10. ĂN NĂN TỘI LỖI

KINH THÁNH: Giô-suê đoạn 7 và 8.

CÂU GỐC: “Vậy, hãy nhớ lại ngươi đã sa sút từ đâu, hãy ăn năn và làm lại những công việc ban đầu của mình” (Khải huyền 2:5).

MỤC ĐÍCH: Giúp cho học viên biết tội lỗi sẽ mang đến thất bại, nhưng sự ăn năn sẽ mang lại chiến thắng.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chúa ban quyền năng đắc thắng cám dỗ

(Ma-thi-ơ 6:13).

TH:

Nén vàng

(Giô-suê 7).

TB:

Chiến thắng A-hi

(Giô-suê 8).

TT:

Chúa gìn giữ khỏi vấp phạm

(Giu-đe 24-25).

TN:

Đắc thắng sự cám dỗ

(Hê-bơ-rơ 2:18; ICôr 10:13).

TS:

Sự thử thách giúp đức tin tăng trưởng

(Gia-cơ 1:2-3; I Phi 1:6-7).

TB:

Phần thưởng khi chịu nổi thử thách

(Gia-cơ 1:12).

Trong chương trình của Đức Chúa Trời, Giô-suê luôn luôn đắc thắng, vì “chẳng ai sẽ được chống cự trước mặt ngươi” (Giô-suê 1:3). Nhưng tại sao ông đã thất bại? Theo chương trình của Chúa, Cơ Đốc nhân sẽ sống cuộc đời đắc thắng có thừa (Rô-ma 8:37). Nhưng tại sao chúng ta đã thất bại như Giô-suê? Chúng ta cùng tìm hiểu để giải quyết vấn đề.

I. TỘI LỖI MANG ĐẾN THẤT BẠI.

1. Tội lỗi.

a. Tội của Giô-suê: Cậy sức mình (7:2).

Đáng lẽ sau khi hạ thành Giê-ri-cô, Giô-suê trở về Ghinhganh, xin Chúa cho biết cách nào hạ thành A-hi, rồi cử binh đi hạ thành. Nhưng ông đã cử người đi do thám rồi chỉ phái một đạo binh nhỏ đi đánh A-hi. Ông hành động như chính đạo quân của ông đã hạ thành Giê-ri-cô chứ không phải Chúa. Thiếu sự nhờ cậy Chúa mà nhờ cậy sức mình là bước đầu tiên của sự thất bại. Cầu nguyện tức là nhờ cậy Chúa, là điều trước nhất và sau cùng của mọi công tác.

b. Tội của dân sự: Kiêu căng (7:3-4).

Dân sự lấy làm hãnh diện về sự đắc thắng thành Giê-ri-cô, tưởng như nhờ đạo quân hùng dũng của họ, nên đã khinh dể thành A-hi nhỏ bé, không đáng phải đem toàn lực đi. Vì vậy, chỉ có ba ngàn người lên đánh A-hi. Mạng lệnh của Chúa là hết thảy chiến sĩ phải ra trận chứ không phải một phần (8:1;10:7). “Sự kiêu ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau và tánh tự cao đi trước sự sa ngã” (Châm 16:18). Ngày nay cũng vậy, trong mọi công tác của Hội Thánh lớn hoặc nhỏ đều là công tác chung, mỗi tín hữu phải triệt để tham gia.

c. Tội của A-can: Tham lam (7:21, 10-15).

Chúa đã ra lệnh cấm không cho ai được lấy bất cứ vật gì trong thành Giê-ri-cô (6:18-19). Thế mà A-can đã lấy áo choàng, bạc và vàng rồi đem đi giấu. Do đó, dân Y-sơ-ra-ên không đứng nổi trước mặt kẻ thù vì họ đã bị Chúa rủa sả. Nếu Giô-suê không cậy sức mình, nhưng hạ mình cảm tạ Chúa về chiến thắng Giê-ri-cô và xin Ngài chiến thắng A-hi, thì ông đã được Chúa giúp phát giác tội lỗi của A-can, và họ đã không thất bại.

2. Thất bại.

Dầu một mình A-can phạm tội, nhưng Chúa không kể đó là tội lỗi của một người mà bảo rằng: “Y-sơ-ra-ên có phạm tội, chúng nó bội nghịch giao ước ta đã truyền cho” (7:11-12). Một chi thể đau, cả thân thể đều đau, một chi thể được tôn trọng, cả thân thể đều vui mừng. A-can là một phần tử trong quốc gia Y-sơ-ra-ên nên khi A-can phạm tội, quốc gia Y-sơ-ra-ên phải họa lây (Hê-bơ-rơ 12:15). Tuy vậy, trong trường hợp này, chúng ta thấy không những A-can mà cả dân sự cùng Giô-suê đều mắc tội với Chúa nên thất bại là điều không tránh khỏi.

Sự thất bại tại A-hi không những làm cho 36 người Y-sơ-ra-ên chết mà còn làm cho lòng dân tan ra như nước, Giô-suê mất hết can đảm. Trái lại dân Ca-na-an vững vàng chiến đấu, vì tin rằng có thể tiêu diệt được dân Y-sơ-ra-ên (7:9).

Chúng ta có thể đắc thắng những việc lớn và khó, vì hết lòng khiêm cung nhờ cậy Chúa, song thường thất bại trong những việc nhỏ và dễ vì cậy sức mình, kiêu căng và tham lam. Không có đắc thắng nào, hoặc lớn hoặc nhỏ mà bởi sức riêng của chúng ta, nhưng bởi sức toàn năng của Chúa. Công tác bởi sức riêng của chúng ta bị ma quỉ đánh bại dễ dàng, chỉ có công tác bởi sức Chúa là tồn tại mãi mãi, vì ma quỉ không làm chi được (Ê-phê-sô 6:10-11). Một lần thất bại là một lần mất mát rất nhiều.

II. ĂN NĂN TỘI MANG ĐẾN CHIẾN THẮNG.

1. Ăn năn.

a. Cầu nguyện với lòng tan vỡ (7:6,7).

Giô-suê xé áo mình chỉ vì lòng tan vỡ của ông, rồi cùng các trưởng lão sấp mặt xuống đất, vãi bụi lên đầu mình và bền lòng cầu nguyện cho đến chiều tối. Ông xin Chúa can thiệp cứu dân Ngài, vì cớ danh cao cả của Ngài. Không có gì đau đớn cho kẻ yêu mến Chúa bằng thấy danh Ngài bị sỉ nhục. Bất cứ một cơn phục hưng nào, một sự thăm viếng nào, cũng đều bắt nguồn từ lòng ăn năn, đau đớn và kêu cầu danh Chúa cách kiên nhẫn: “Vì Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, mà ban ơn cho kẻ khiêm nhường… Của lễ đẹp lòng Đức Chúa Trời ấy là lòng đau thương thống hối. Đức Chúa Trời ôi! Lòng đau thương thống hối Chúa không khinh dể đâu” (I Phi-e-rơ 5:5; Thi 51:17).

b. Phát giác và tiêu trừ tội lỗi (7:16-26).

Khi Chúa nghe lời cầu nguyện tha thiết của Giô-suê thì Ngài chỉ cho ông cách phát giác tội lỗi, vì tội lỗi là nguyên nhân chính của sự thất bại. Sáng hôm sau, Giô-suê thức dậy sớm, làm theo lệnh Chúa và ông đã tìm ra thủ phạm là A-can.

Do tham lam, A-can đã ăn cắp áo, bạc, vàng. A-can dám làm điều đó vì nghĩ rằng đội quân Y-sơ-ra-ên có 40 ngàn người mà chỉ có một mình ông ăn cắp thì ai biết được. Vì nghĩ sai như vậy nên khi dân Y-sơ-ra-ên thất bại tại A-hi, có 36 người chết, A-can vẫn lạnh lùng, vẫn điềm nhiên như một người vô can, đang khi ông đáng phải sấp mình xuống khóc lóc, kêu la vì tội lỗi của ông. Sự tham lam làm mờ tâm trí, nhận thức sai lầm, tính toán lệch lạc, hành động vội vàng. A-can đã quên hay không biết rằng Đức Chúa Trời hằng sống đang ngự giữa dân Y-sơ-ra-ên, Ngài là Tư lệnh của dân Y-sơ-ra-ên chứ không phải Giô-suê.

Dầu Giô-suê không biết được việc xấu A-can làm, song Chúa biết rất rõ. Chúa cho A-can có cơ hội ăn năn, song ông không thừa nhận. Bây giờ sự việc đã bị bại lộ, tội lỗi kín đáo nhất đã bị phát giác, A-can phải thú nhận: Tôi có thấy… tôi có tham muốn… tôi có lấy… tôi có giấu… Sự xưng tội này không do lòng ăn năn, mà chỉ biết mình đã giấu mà không thể giấu, nên ông không được thương xót (Châm ngôn 28:13). Vì vậy A-can và cả gia đình phải bị xử tử. Phải tiêu trừ tội lỗi mới tiêu trừ sự rủa sả. Xưng và trừ tội là tôn vinh Đức Chúa Trời.

A-can ăn cắp bạc, vàng tại thành Giê-ri-cô, nhưng không phải là ăn cắp của người mà ăn cắp của Đức Chúa Trời, vì các vật ấy thuộc về Ngài (6:19-24). Chúng ta ăn cắp một phần mười và các của dâng (Ma-la-chi 3:8). Chúng ta không ăn cắp như A-can, song có thể ăn cắp như Giu-đa (Giăng 12:6), sự cám dỗ xưa nay không ngoài mắt thấy, lòng tham, tay lấy. Chúng ta có thể phạm tội, song không cần phạm, trái lại có thể đắc thắng luôn luôn, đắc thắng có thừa vì lòng yêu Chúa. Kẻ phạm tội tự hại mình, làm hại gia đình mình, làm hại Hội Thánh Chúa. Tội lỗi làm cho chúng ta bị Chúa rủa sả và lìa bỏ, bị kẻ thù làm hại. Tự hại mình trước, kẻ thù mới hại mình sau. Phạm tội là điều rất nguy hiểm, song điều nguy hiểm hơn nữa là cố sức giấu tội lỗi như A-can. Nên nhớ rằng tội lỗi không sớm thì muộn sẽ bị bại lộ. Nếu ăn năn tội trước khi bị phát giác thì được Chúa tha thứ, song nếu cứ khư khư giữ kín tội lỗi, đến khi bị phát giác, thì không còn cơ hội để ăn năn mà phải chịu hình phạt kinh khiếp đó thôi.

2. Chiến thắng (8:35).

a. Chúa công bố kế hoạch chiến thắng cho họ (18:2).

Sau khi tội lỗi bị tiêu trừ, nguồn phước bắt đầu tuôn chảy. Chúa bảo Giô-suê đừng sợ, hãy đem theo ông hết thảy quân lính lên đánh A-hi, Ngài đã phó tất cả thành ấy vào tay ông. Không phải họ chiến thắng A-hi sau khi phóng hỏa thành, nhưng Chúa cho biết họ đã thực sự chiến thắng vì Ngài đã phó A-hi vào tay họ. Mỗi người được phép lấy của giặc cho mình.

b. Giô-suê thực hiện kế hoạch của Chúa (3:29).

Quân Y-sơ-ra-ên chia ra làm hai: 30 ngàn quân mai phục sau thành A-hi, 5 ngàn quân do Giô-suê điều khiển khiêu chiến trước thành. Quân A-hi không biết phía sau có quân Y-sơ-ra-ên mai phục nên dồn hết lực lượng đánh quân Y-sơ-ra-ên ở phía trước. Quân Y-sơ-ra-ên trá bại chạy trốn, quân A-hi thừa thắng đuổi theo. Khi quân A-hi đã ra khỏi thành xa rồi. Giô-suê vừa ra lệnh cho quân mai phục xông vào thành và phóng hỏa, vừa ra lệnh cho quân Y-sơ-ra-ên trá bại trở lại đánh quân A-hi. Phía trước bị phản công, phía sau thành bị phóng hỏa, quân A-hi rối loạn hàng ngũ và bị tiêu diệt hoàn toàn.

c. Giô-suê lập một bàn thờ cảm tạ Chúa (30-35).

Lần này khác lần trước, họ dâng của lễ thiêu và của lễ thù ân cho Chúa, nhận biết Ngài đã chiến thắng cho họ. Giô-suê đọc cho dân sự nghe luật pháp của Chúa.

Hãy loại trừ tội lỗi khỏi đời sống chúng ta, hãy xé lòng, đừng xé áo (Giô-ên 2:13). Chúa muốn thấy lòng ăn năn thật, Ngài sẽ bày tỏ quyền năng lạ lùng của Ngài trên đời sống chúng ta nếu chúng ta sống nếp sống thánh khiết. Chúng ta không nên quên cảm tạ Chúa vì ân điển lạ lùng của Ngài đối với chúng ta. Đừng sống như chín người phung (Lu-ca 17:17), hãy học theo gương Giô-suê, không những cảm tạ Chúa mà còn khuyên dạy dân sự biết cảm tạ Ngài nữa.

CÂU HỎI

1. Tại sao Giô-suê cũng như chúng ta không cần thất bại?

2. Ba nguyên nhân nào đưa dân Y-sơ-ra-ên đến chỗ thất bại?

3. Giô-suê đã cậy sức mình như thế nào?

4. Dân Y-sơ-ra-ên kiêu căng ra sao?

5. A-can đã phạm tội gì?

6. Xin cho biết hậu quả của sự thất bại.

7. Giô-suê đã làm gì khi bị thất bại?

8. A-can nghĩ như thế nào mà dám ăn cắp?

9. Tại sao ta biết A-can dầu đã xưng tội nhưng không ăn năn?

10. Chúng ta phải đối với tội lỗi như thế nào?

11. Vì sao dân Y-sơ-ra-ên chiến thắng A-hi?

BÀI 11. CHIẾN THẮNG TẠI GA-BA-ÔN

KINH THÁNH: Giô-suê 9:1-10,15.

CÂU GỐC: “Trái lại, trong mọi sự đó, chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần” (Rô-ma 8:37).

MỤC ĐÍCH: Bày tỏ rằng, Đức Chúa Trời sẽ nhậm lời cầu nguyện của chúng ta, và qua Chúa Jêsus Christ, Ngài sẽ làm cho chúng ta trổi hơn những kẻ chiến thắng.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chiến thắng nhờ Đấng Christ

(Rô 8:37, II Cô 2:14).

TH:

Âm mưu của dân Ga-ba-ôn

(Giô-suê 9:1-27).

TB:

Mặt trời dừng lại

(Giô-suê 10:1-14).

TT:

Sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời

(Đa-ni-ên 9:13; Gia-cơ 1:5-6).

TN:

Ý chỉ của Chúa thắng hơn

(Thi 77:14; Đa 4:3).

TS:

Bình an nhờ tha thứ

(II Cô 5:21; Ê-phê-sô 1:7).

TB:

Thoát khỏi cơn thạnh nộ sẽ đến

(Giăng 3:18, 38; Hêb 2:3).

Sau khi hai thành Giê-ri-cô và A-hi bị hạ, tất cả các sắc dân còn lại trong Ca-na-an đã hiệp lại, đồng lòng giao chiến cùng Giô-suê và Y-sơ-ra-ên để bảo vệ xứ sở của họ.

Ga-ba-ôn là thành phố quan trọng như một đế đô của dân Hêvít (9:7;10:2). Ga-ba-ôn là trung tâm liên hiệp các thành phố Kêphira, Bêêrốt, Ki-ri-át Giê-a-rim (9:17). Ga-ba-ôn ở cách Ghinhganh, là trung tâm hành quân của Y-sơ-ra-ên, khoảng hơn 35 cây số. Đó là nơi Y-sơ-ra-ên phải chiến thắng.

I. KẾT ƯỚC VỚI NGƯỜI GA-BA-ÔN (9:1-27).

1. Lỗi lầm của Giô-suê khi kết ước với dân Ga-ba-ôn.

Dầu dân Hêvít rất mạnh dạn và thành Ga-ba-ôn rất đồ sộ, song họ tự biết không thể đứng nổi trước dân Y-sơ-ra-ên, vì họ có nghe những việc Đức Chúa Trời đã làm tại Ê-díp-tô, đã làm cho hai vua A-mô-rít, đã hạ hai thành Giê-ri-cô và A-hi (9:3,9-10). Họ cũng nghe rằng Đức Chúa Trời đã ra lệnh cho Y-sơ-ra-ên tận diệt các dân tại Ca-na-an (9:24). Bây giờ, để bảo tồn mạng sống của dân tộc họ, họ phải dùng âm mưu để kết ước với dân Y-sơ-ra-ên.

Ngày kia, dân Y-sơ-ra-ên chứng kiến một cảnh khác thường. Một nhóm người lạ, ăn mặc rách rưới, bẩn thỉu đi vào trại quân Y-sơ-ra-ên. Ai nấy đổ dồn ra xem và hỏi: Các ông từ đâu đến? Họ đáp: Chúng tôi từ một xứ xa xôi đến. Lúc chúng tôi ra đi thì chiếc bánh mốc meo này vừa từ trong lò lấy ra còn nóng hổi, quần áo, giày dép của chúng tôi còn mới tinh, các bầu da rượu được đổ đầy. Bây giờ bánh bể vụn, quần áo, giày dép cũ mòn, bầu da rượu cạn khô. Chúng tôi là tôi tớ của các ông đến đây để tôn trọng danh Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của các ông. Vì chúng tôi có nghe về những việc Ngài đã làm tại Ê-díp-tô, cho hai vua A-mô-rít, cho hai thành Giê-ri-cô và A-hi. Vậy, bây giờ xin các ông kết ước cùng chúng tôi. Người Y-sơ-ra-ên bèn nhận lương thực của họ, không cầu hỏi Đức Giê-hô-va. Giô-suê lập hòa cùng họ và kết ước cho họ sống, rồi các trưởng lão của hội chúng bèn thề cùng họ (9:14-15).

Một lần nữa, Giô-suê cùng các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đã vội vàng hành động mà không cầu hỏi Đức Giê-hô-va nên bị lừa gạt. Người Ca-na-an nói dối, nịnh hót và giả bộ khiêm nhường (9:4,9). Nhìn quang cảnh đáng thương, nghe lời đường mật, người đạo đức dễ chịu cảm động nên cũng dễ bị lầm lạc.

2. Hậu quả lỗi lầm của Giô-suê.

a. Hội chúng phàn nàn cùng Giô-suê và các trưởng lão về sự kết ước với dân Ca-na-an (9:18).

b. Vì sự kết ước đó mà các vua A-mô-rít đã liên minh đánh Ga-ba-ôn vì cho rằng Ga-ba-ôn phản bội họ (10:3-4).

c. Cũng vì sự kết ước đó mà Y-sơ-ra-ên phải giải cứu Ga-ba-ôn (10:4). Dầu muốn dầu không, Giô-suê phải giữ lời hứa, vì Chúa không cho phép ai nhân danh Ngài mà thề rồi bội thề (Dân 30:3, Giô-suê 9:19-20). Chắc Giô-suê hối tiếc lắm vì lỗi lầm của ông không sửa lại được. Sự phàn nàn của hội chúng Y-sơ-ra-ên làm cho ông đau đớn không ít. Nhưng ông đã bình tĩnh đề ra các biện pháp để ngăn ngừa tai họa trong tương lai.

– Buộc dân Ga-ba-ôn phải làm dân nô lệ, đốn củi xách nước cho dân Y-sơ-ra-ên (9:21,25,27).

– Rủa sả dân Ga-ba-ôn về tội dối trá của họ để ngăn ngừa sự kết hôn giữa người Y-sơ-ra-ên với người Ga-ba-ôn, vì không ai muốn kết hôn với một người thuộc dân tộc bị rủa sả (9:23).

– Buộc dân Ga-ba-ôn đốn củi, xách nước cho bàn thờ của Đức Chúa Trời, như nước rửa củi để dâng của lễ thiêu (9:27). Sống bên cạnh cuộc thờ phượng Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên, dân Ga-ba-ôn không có dịp tiện thực hiện việc thờ hình tượng của họ. Chúng ta phải kể âm mưu xảo trá của người Ga-ba-ôn là xấu. Mặc dầu nhờ đó họ sống còn, nhưng không có phước. Nếu họ chân thành kết ước, làm hòa với dân Y-sơ-ra-ên, thì họ đã được chấp thuận như trường hợp của Ra-háp đã tiếp rước các thám tử. Chúa đã ra lệnh tận diệt các dân Ca-na-an vì tội ác của họ, nhất là họ hiệp nhau chống cự Y-sơ-ra-ên mà không chịu ăn năn đầu phục. Chúa đã nhẫn nại đối với dân Ca-na-an suốt một thời gian dài (Sáng thế ký 15:16). Trong thời gian đó, Chúa đặt giữa vòng họ những nhân vật làm chứng cho họ về chính mình Ngài như thầy tế lễ Mên-chi-xê-đéc, Áp-ra-ham, Chúa cảnh cáo họ qua sự hủy diệt hai thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ. Các tội ác của dân Ca-na-an là mại dâm (Giô-suê 2:1), mê tín (Lê-vi 20:23), thờ hình tượng (Xuất 23:23,24; Phục 7:5). Dân Am-môn dâng con nhỏ mình cho thần Molóc bằng cách nướng tượng đồng Molóc cho đỏ lên rồi đặt con mình trong tay tượng thần đó (Lê-vi 20:2). Các nhà khảo cổ đã quật mộ ở một nơi cao của Ghêxe, tìm thấy có nhiều chum chứa thi hài các trẻ sơ sinh đã bị chôn sống. Đức Chúa Trời không thể thay đổi sự thánh khiết của Ngài, song tội nhân có thể được cứu, nếu họ ăn năn.

Đó là những lý do Kinh Thánh dạy chúng ta “chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin” (IICôr 6:14,18), “chớ làm bạn với thế gian” (Gia-cơ 4:4), “chớ mắc lừa, bạn bè xấu làm hư thói nết tốt” (ICôr 15:33), “chớ lấy danh Chúa làm chơi”. Khi đã nhân danh Ngài mà thề, phải giữ vẹn lời thề với bất cứ giá nào. Vì vậy, phải rất cẩn thận về vấn đề hôn nhân. Phải cầu hỏi ý Chúa trước khi kết ước với nhau.

II. ĐỨC CHÚA TRỜI CAN THIỆP TẠI GA-BA-ÔN (10:1-14).

Khi dân Ga-ba-ôn bị lực lượng của liên minh 5 vua A-mô-rít đánh, họ vội vàng cầu cứu Y-sơ-ra-ên. Theo lời cam kết và tinh thần trách nhiệm, Giô-suê phải giải cứu Ga-ba-ôn, song ông lo sợ. Chúa an ủi ông: Chớ sợ, vì ta đã phó chúng nó vào tay ngươi, chẳng còn một ai đứng nổi trước mặt ngươi. Được lệnh Chúa, Giô-suê không chút do dự, đem quân đi trọn đêm để đánh úp kẻ thù tại Ga-ba-ôn. Đức Chúa Trời làm cho lực lượng của 5 vua đều tan vỡ và chạy trốn.

1. Khiến mưa đá lớn trên kẻ thù (10-11).

Không những lực lượng dưới đất, mà đồng thời lực lượng trên trời cũng tham dự cuộc chiến tại Ga-ba-ôn. Vì vậy, số người chết vì mưa đá nhiều hơn số người chết vì gươm. Dân Y-sơ-ra-ên chỉ tin cậy và vâng lời Chúa, còn bao nhiêu nhu cầu khác Ngài lo liệu hết. Chúa không muốn dân Ngài thất hứa với ai thì Ngài cũng chẳng bao giờ thất hứa với họ. Trái lại, Ngài đã làm trổi hơn vô cùng mọi điều họ cầu xin và suy nghĩ để họ đắc thắng có thừa.

2. Khiến mặt trời dừng lại (10:12-15).

Để toàn thắng, Giô-suê xin Chúa cho mặt trời và mặt trăng dừng lại hầu ông có đủ thì giờ tận diệt kẻ thù. Chúa đã nhậm lời. Đấy là một việc hết sức lạ lùng, xem như việc không thể xảy ra nhưng là một thực sự vô tiền khoáng hậu mà Kinh Thánh đã ghi. Một bản tin ngày nay cho biết: Khi kiểm soát vị trí của mặt trời, mặt trăng và các hành tinh trong thái dương hệ với những máy trắc lượng điện tử tối tân nhất, có thể tính ngược hàng trăm ngàn năm trong quá khứ cũng như hàng trăm ngàn năm trong tương lai, khoa học gia không gian Harold Hill, Giám đốc công ty Curtin Engine ở Baltimore, Maryland, đã kinh ngạc về sự phối kiểm không được chính xác: thiếu mất một ngày. Trong lúc ấy, một chuyên viên rất am hiểu Kinh Thánh đã tham khảo sách Giô-suê đoạn 10 và thấy rằng Giô-suê đã xin Đức Chúa Trời cho mặt trời, mặt trăng dừng lại gần trọn một ngày và máy tính điện tử đã tính ra được là 23 giờ 20 phút. Như thế còn 40 phút nữa ở đâu? Trong sách IICác 20:11, Ê-sai xin Chúa đem bóng lên 10 độ, mà trên bàn trắc ảnh là 40 phút.

Như thế Kinh Thánh không trái với khoa học, nhưng giúp cho khoa học giải thích được những sự kiện thiên nhiên một cách đầy đủ. Mater F. Bunker, tổng giám đốc chương trình không gian Mercucy và Genmini đã nói: “Tôi không tìm thấy có cái gì trong những khám phá của khoa học hoặc không gian bắt buộc tôi phải từ bỏ Kinh Thánh hoặc chối bỏ Chúa Jêsus là Đấng Cứu Chuộc tôi. Thời đại không gian là một yếu tố khiến cho đời sống thuộc linh của tôi mỗi ngày càng thêm sâu nhiệm”.

Nếu cần, Đức Chúa Trời sẽ sử dụng cõi thiên nhiên để giải cứu dân Ngài, ban phước cho Hội Thánh Ngài, hầu ai nấy đắc thắng có thừa những kẻ thù chí tử là tội lỗi, thế gian, xác thịt và ma quỉ.

CÂU HỎI

1. Sau khi hai thành Giê-ri-cô và A-hi bị hạ thì các dân khác làm gì? Dân Ga-ba-ôn làm gì?

2. Lỗi lầm của Giô-suê là gì?

3. Hậu quả lỗi lầm của Giô-suê là gì?

4. Khi biết đã bị lừa gạt, Giô-suê làm gì với dân Ga-ba-ôn?

5. Tại sao chúng ta không chấp nhận âm mưu của người Ga-ba-ôn?

6. Tại sao Chúa ra lệnh tận diệt các dân Ca-na-an? Việc ấy dạy chúng ta điều gì?

7. Vì sao Giô-suê phải giải cứu dân Ga-ba-ôn?

8. Chúa hứa với Giô-suê thế nào?

9. Chúa đã làm gì cho dân Y-sơ-ra-ên để họ toàn thắng kẻ thù?

10. Tại sao ta biết mặt trời mặt trăng đã dừng lại là một sự thật?

BÀI 12. CA-LÉP, NGƯỜI CAN ĐẢM

KINH THÁNH: Giô-suê 14:6-15, 15:13-19.

CÂU GỐC: “Quả thật đất mà chân ngươi đã đạp đến sẽ thuộc về ngươi và con cháu ngươi làm sản nghiệp đời đời, vì ngươi đã trung thành vâng theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta” (Giô-suê 14:9).

MỤC ĐÍCH: Khích lệ mọi người sống tận tâm và can đảm như Ca-lép.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ ban cho chúng ta can đảm

(Phi-líp 4:13).

TH:

Ca-lép rất can đảm

(Giô-suê 14:6-15).

TB:

Ca-lép rất can đảm

(Giô-suê 15:13-19).

TT:

Phân chia đất đai

(Giô-suê 18:1-11).

TN:

Tôn Chúa Jêsus làm Chúa

(Giăng 3:30, Phi-líp 3:7-8).

TS:

Đầu phục Chúa

(Giăng 13:35; IGiăng 2:5-6; 5:2).

TB:

Lưu tâm đến kẻ khác (Ga-la-ti 6:2; Êph 4:32;

Cô-lô-se 3:12-13).

Sau khi chinh phục toàn xứ, Giô-suê phân chia đất đai cho các chi phái, để ai nấy an cư lạc nghiệp đúng như lời hứa và mạng lệnh của Chúa.

Chúng ta biết rằng tất cả những người nam từ 20 tuổi trở lên đã ra khỏi xứ Ê-díp-tô đều chết trong đồng vắng, chỉ còn hai người được vào Ca-na-an, đó là Giô-suê và Ca-lép (Dân 14:28-31), vì hai người nầy can đảm, trung thành và tin cậy Chúa.

I. CA-LÉP CAN ĐẢM KHI CÒN TRẺ (14:6-9).

Ca-lép thuộc chi phái Giu-đa. Khi ra khỏi Ê-díp-tô, ông gần 40 tuổi. Khi được Môi-se cử đi do thám xứ Ca-na-an, ông đã 40 tuổi. Khi do thám trở về, ông không đồng ý với 10 thám tử kia làm nản lòng dân chúng, song ông đứng với Giô-suê khích lệ mọi người vào Ca-na-an (Dân 13:30; 14:6-9). Ngay lúc đó, Chúa hứa sẽ cho Ca-lép vào Ca-na-an và cho dòng dõi ông đất làm sản nghiệp (Dân 14:24).

Khi đã vào Ca-na-an, Ca-lép nhắc lại lời hứa mà Chúa đã hứa với ông cho Giô-suê. Ông có đủ điều kiện xin Chúa thực hiện lời hứa của Ngài vì ông tin cậy Ngài. Ông được kể là can đảm, trung thành, vì ông dám đứng với Chúa, dám theo Chúa và hết lòng tin cậy Ngài.

Sống bởi đức tin là điều quan trọng trước mặt Chúa. “Song người công bình thì sống bởi đức tin” (Ha-ba-cúc 2:4). Tân Ước trưng dẫn câu nầy ba lần, mỗi lần nhấn mạnh một phương diện. Rô-ma 1:17 nhấn mạnh phương diện “người công bình”, Ga-la-ti 3:11 nhấn mạnh phương diện “bởi đức tin”, Hê-bơ-rơ 10:38 nhấn mạnh phương diện “sống”. Tội nhân không thể nhờ bất cứ cách nào để được xưng công bình, nhưng phải luôn luôn nhờ đức tin mà sống. Nói cách khác, bởi đức tin tội nhân được xưng công bình, bởi đức tin đó, người công bình sống. “Người công bình của ta sẽ cậy đức tin mà sống”. Người công bình không thể sống bởi bất cứ cách nào, điều gì, mà phải sống bởi đức tin. “Vì chúng ta bước đi bởi đức tin chứ chẳng bởi mắt thấy” (IICôr 5:7). Đức tin đến Đức Chúa Trời là liên kết mình với Ngài để nhờ đó, chúng ta nhận được quyền năng và ân điển của Ngài để sống và sống sung mãn.

Ca-lép đã sống can đảm, sống đắc thắng, sống đẹp lòng Chúa, tôn vinh Chúa vì ông sống bởi đức tin. Tất cả các bậc anh hùng được liệt kê trong Hê-bơ-rơ 11 đều là những người sống bởi đức tin. Trong cả đoạn đó có 20 lần lặp lại chữ “bởi đức tin”. Bảng liệt kê đó chưa chấm dứt, còn dành cho chúng ta hôm nay, Chúa sẽ ghi thêm vào.

II. CA-LÉP CAN ĐẢM KHI ĐÃ GIÀ (14:9-15).

Sau 45 năm, tức là lúc 85 tuổi, Ca-lép vẫn giữ được phong độ của một chiến sĩ can đảm như trước. Tuổi già thì sức yếu, nhưng sức của Ca-lép thì không yếu nên ông vẫn còn quắc thước như thanh xuân. Người già thường mất hết nghị lực, không dám thực hiện một việc quan trọng nào, song Ca-lép còn dám đánh giặc.

Thời gian 45 năm qua có nhiều thay đổi, song sức khỏe và tâm trí của Ca-lép vẫn không thay đổi. Vì Đấng mà ông tin cậy, tôn thờ, phục vụ muôn đời vẫn y nguyên. Ca-lép nói: “Đức Giê-hô-va đã bảo tồn mạng sống tôi cho đến bây giờ”.

Có lẽ chúng ta không theo kịp sức cường tráng của Ca-lép vì bản chất yếu đuối của chúng ta. Song chúng ta chắc chắn có thể như Ca-lép, giữ được phong độ như xưa của một Cơ Đốc nhân can đảm, nghị lực, vì chúng ta cũng tin cậy, tôn thờ Đấng hôm qua, ngày nay cho đến vô cùng không hề thay đổi dầu hoàn cảnh bao lần đổi thay.

Ca-lép xin núi Hếp-rôn. Ai nấy đều biết đó là nơi nguy hiểm, vì dân A-na-kim đang chiếm cứ, họ có các thành lớn lao và kiên cố. Biết được khả năng và ân tứ của bạn mình, Giô-suê chấp thuận ngay.

Hếp-rôn là nơi có nhiều kỷ niệm: Tại đó, Áp-ra-ham và Y-sác đã từng sống, Áp-ra-ham đã lập cho Đức Chúa Trời một bàn thờ để cầu khẩn danh Ngài, Chúa đối diện nói chuyện với Áp-ra-ham như một người nói chuyện cùng bạn mình (Sáng 13:18). Thi hài của Sa-ra, Áp-ra-ham, Y-sác, Rê-bê-ca, Gia-cốp, Lê-a đều được an táng tại Hếp-rôn. Dân A-na-kim là dân khổng lồ. Chỉ thấy vóc giạc của dân A-na-kim cũng đủ làm nản lòng 10 thám tử của Môi-se nên họ đòi trở lại Ê-díp-tô (Dân 13:22,33). Cuộc hành quân vĩ đại của Giô-suê đã tiêu diệt lực lượng liên minh của 5 vua, trong đó có vua Hếp-rôn. Nhưng những kẻ sống sót nhờ chạy trốn trong hang, trong hầm, lần hồi lập lại thành trì lớn lao và kiên cố của họ, vì dân Y-sơ-ra-ên đã đánh tan kẻ thù mà chưa chiếm cứ toàn xứ. Núi là một địa thế hiểm trở. Hếp-rôn cũng vậy. Trước đó Giô-suê phải huy động cả lực lượng của Y-sơ-ra-ên để chiến thắng A-na-kim, bây giờ chỉ có gia đình Ca-lép. Song Ca-lép tin cậy Chúa, nên chắc rằng mình sẽ đuổi được kẻ thù mạnh mẽ đó. Thật, người tin cậy Chúa, ý nghĩ họ khác hơn người thường. Người hoàn toàn tin cậy Chúa là người hoàn toàn đắc thắng mọi kẻ thù. Trong đời sống riêng của chúng ta, ai nấy đều khao khát Hếp-rôn thuộc linh, là nơi tôn thờ, ca tụng Chúa, nơi tương giao thân mật cùng Ngài. Song chúng ta phải đương đầu với người A-na-kim, tức là những kẻ thù gây trở ngại trên bước tiến của chúng ta. Vừa thấy người A-na-kim, các thám tử đã hoảng hốt, quên Lời Chúa hứa với họ. Nhưng Chúa đã phó tất cả dân Ca-na-an trong tay dân Y-sơ-ra-ên, có trừ dân A-na-kim đâu? Khi Cơ Đốc đồ thấy sư tử chắn ngang đường của mình, nếu vội vàng, ông đã chạy trốn. Song Cơ Đốc đồ bình tĩnh xem xét kỹ càng, thấy quả thật là một sư tử, nhưng sư tử bị xiềng. Phạm vi hoạt động của nó rất giới hạn nên ông chỉ cần lách qua một bên là sư tử không làm gì được ông. Về mọi kẻ thù như hoạn nạn, khốn cùng, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, gươm giáo, thì chúng ta nhờ Chúa yêu thương, nhân từ, quyền năng, hằng sống mà thắng hơn có thừa.

III. CA-LÉP ĐƯỢC PHẦN THƯỞNG (15:13-19).

1. Ông đánh đuổi người A-na-kim khỏi Hếp-rôn (13-14).

Kinh Thánh không cho chúng ta biết ông đánh cách nào, vì không cần thiết, Đức Chúa Trời đã định như vậy, thì người A-na-kim dầu có giềnh giàng đến đâu cũng không đứng nổi trước Ca-lép. Chính Chúa chiến thắng cho Ca-lép, làm kẻ thù phải bỏ chạy, và ông chỉ cần rượt đuổi họ.

2. Con rể của ông đánh Đê-bia (15-19).

Đê-bia cũng thuộc vùng núi non hiểm trở của Hếp-rôn nên một số người A-na-kim đã ẩn núp tại đó. Ốtniên, con rể của Ca-lép, đã đánh chiếm được Đê-bia. Như vậy, phước Chúa từ Ca-lép cũng tràn qua con cái ông như Chúa đã hứa. Từ đây về sau, xứ được bình tịnh, không còn giăc giã. Phước cho Ca-lép, cho dòng dõi ông, mà cũng phước cho xứ sở, cho dân tộc ông nữa.

Có 3 lần Kinh Thánh chép: “Ca-lép trung thành theo Chúa” (Phục 1:36, Giô 14:9,14). Những người trung thành theo Chúa sẽ không mất phần thưởng lớn (Khải 2:10). Đây, không phải người thưởng, bèn là Chúa thưởng. Bởi đức tin, Phao-lô đã xem mọi lợi lộc của đời như rác rến, để được chính mình Chúa Jêsus, vì Ngài là quý tột bực cho ông. Tác giả Hê-bơ-rơ khuyên: “Vậy, chớ bỏ lòng dạn dĩ mình, vốn có một phần thưởng lớn đã để dành cho. Vì anh em cần phải nhịn nhục, hầu cho khi đã làm theo ý muốn Đức Chúa Trời rồi, thì được như lời đã hứa cho mình. Còn ít lâu, thật ít lâu nữa, thì Đấng đến sẽ đến, Ngài không chậm trễ đâu. Người công bình của ta sẽ cậy đức tin mà sống” (Hê-bơ-rơ 10:35-38).

CÂU HỎI

1. Những người từ 20 tuổi trở lên đã ra khỏi Ê-díp-tô thì ai được vào Ca-na-an?

2. Tại sao kẻ được vào, người lại không?

3. Khi Ca-lép đứng vững với Chúa, Ngài hứa gì với ông?

4. Người công bình sẽ sống bởi đức tin có nghĩa gì?

5. Tại sao một số người được liệt kê vào bảng anh hùng đức tin trong Hê-bơ-rơ 11?

6. Khi trở về già, Ca-lép là người như thế nào?

7. Điều gì khiến Ca-lép vẫn can đảm như lúc trẻ?

8. Tại sao tâm trí Ca-lép không hề thay đổi?

9. Cách nào Ca-lép chiến thắng dân A-na-kim?

10. Tác giả thơ Hê-bơ-rơ khuyên chúng ta thế nào?

BÀI 13. VÂNG PHỤC ĐỨC CHÚA TRỜI

KINH THÁNH: Phục truyền 4:1-9.

CÂU GỐC: “Các ngươi phải theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, kính sợ Ngài, gìn giữ các điều răn Ngài, vâng nghe tiếng phán Ngài, phục sự Ngài và tríu mến Ngài” (Phục truyền 13:4).

MỤC ĐÍCH: Ôn lại các bài học trong quí vừa qua, giúp cho tín hữu nhớ rằng Đức Chúa Trời luôn đòi hỏi chúng ta vâng phục Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Vâng lời Đức Chúa Trời

(Lê-vi 18:4-5).

TH:

Vâng lời Đức Chúa Trời

(Dân 21-25).

TB:

Giúp nhau để chiến thắng

(Phục 3:18).

TT:

Tân lãnh tụ

(Phục 31-33; Giô-suê 1).

TN:

Vào Đất Hứa

(Giô-suê 2-7).

TS:

Chiếm lấy Đất Hứa

(Giô-suê 8-13).

TB:

Chia xứ

(Giô-suê 14-19).

Hôm nay chúng ta ôn lại 12 bài đã học qua để nhắc nhở nhau về sự vâng phục Chúa là quan trọng dường nào. A-đam và Ê-va không vâng phục Chúa, đã đưa toàn thể nhân loại là dòng dõi của ông bà vào tội lỗi và sự chết (Rô 5:12). Chúa Jêsus hoàn toàn vâng phục Cha cho đến chết, nên cứu được toàn thể nhân loại, nhất là Ngài trở nên Cứu Chúa của kẻ vâng phục Ngài (Phi-líp 2:8; Hê-bơ-rơ 5:8-9). Vì vậy chúng ta thấy có hai hạng người trong thế gian: Không vâng phục và vâng phục. Kẻ không vâng phục bị sửa trị, nếu không ăn năn thì sẽ bị hư mất. Kẻ vâng phục được phước lớn lao và đời đời. Nhờ vâng phục Chúa mà dân Y-sơ-ra-ên đã chinh phục Ca-na-an. Nếu không vâng phục Chúa họ đã bị dân Ca-na-an nuốt sống. Dân Y-sơ-ra-ên vâng phục Chúa và họ còn cho đến ngày nay.

I. NHỮNG NGƯỜI KHÔNG VÂNG PHỤC.

1. Cô-rê, Đa-than và A-bi-ram (Dân 16-17).

Ba người nầy có danh vọng và uy tín giữa vòng dân Y-sơ-ra-ên. Họ lôi cuốn dân chúng theo mình và công kích A-rôn là giữ độc quyền chức tế lễ, tố cáo Môi-se bóc lột như khoét mắt họ. Nghe vậy, Môi-se sấp mặt xuống đất dâng mọi sự lên Chúa. Hành động trên đây là nghịch cùng Chúa và khinh bỉ Ngài. Mặc dầu Chúa cho họ đủ thì giờ để ăn năn, song họ ngoan cố, nên kết quả có 15 ngàn người đã thiệt mạng.

2. Ba-la-am (Dân 22-24).

Tiên tri của Chúa có quyền được nhân danh Ngài chúc phước hoặc rủa sả. Biết vậy nên Ba-lác, vua Mô-áp, dùng bạc vàng và lễ vật mướn Ba-la-am rủa sả dân Y-sơ-ra-ên. Dầu biết rõ mình chỉ được quyền chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên, Ba-la-am cố xin rủa sả họ để hưởng lợi lộc dơ bẩn.

Vì hành động bất tuân do lòng tham lam đó mà Ba-la-am suýt bỏ mạng. Kết quả cuối cùng, Ba-la-am không được gì cả, ngoài ra hổ thẹn suốt đời.

3. A-can (Giô 7-8).

A-can là một chiến sĩ trong đạo quân của Chúa. Vì tham lam, mắt của A-can đã mờ như mắt của Ba-la-am, không thấy Chúa mà chỉ thấy của cải, nên đã bị cám dỗ trộm cắp vàng bạc trong Giê-ri-cô. A-can cố giấu tội mình, nghĩ rằng Giô-suê không thể nào biết được. Kết quả là tội lỗi của A-can bị phát giác, nên cả gia đình của A-can bị hình phạt.

Tóm lại, vì tham danh vọng, nên Cô-rê, Đa-than, A-bi-ram đã không vâng phục Chúa, gây bè lập đảng để chống lại Môi-se và A-rôn. Vì tham danh vọng và tiền tài, nên Ba-la-am không vâng phục Chúa và lệch lạc khi thi hành chức thánh. Vì tham lam vàng bạc của cải, nên A-can trộm cắp và giấu giếm. Kinh Thánh chép: “Kẻ tham của từ bỏ Đức Giê-hô-va và khinh dể Ngài” (Thi 10:3).

II. NHỮNG NGƯỜI VÂNG PHỤC.

1. Môi-se (Dân 20-21).

Bởi đức tin Môi-se đã từ bỏ vinh hoa phú quý tại Ê-díp-tô, chấp nhận cuộc sống gian khổ vì danh Chúa. Ông đã vâng phục Ngài ra đi giải phóng dân Y-sơ-ra-ên khỏi Ê-díp-tô và dẫn họ qua Ca-na-an. Suốt 40 năm ông đã tỏ ra là một người nhu mì hơn tất cả mọi người trên thế gian, một người hi sinh vì đồng bào mình, một lãnh tụ tài năng hiếm có.

Nhưng rất tiếc đã có lần Môi-se và A-rôn không vâng phục Chúa. Tại Mêriba, khi dân Y-sơ-ra-ên không có nước uống, Chúa bảo hai ông họp dân sự lại, rồi nói với hòn đá để nó tuôn nước ra cho họ. Thay vì nói với hòn đá, Môi-se tức giận dân chúng nên cầm gậy đập hòn đá hai lần. Kết quả của việc ấy là Môi-se và A-rôn không được vào Ca-na-an (Dân 20:2-24; 27:12-14).

2. Giô-suê (Giôs 1:3; 9:10).

Từ khi thay Môi-se hướng dẫn dân Y-sơ-ra-ên, Giô-suê luôn vâng phục Chúa. Sau khi được lệnh Ngài, “Giô-suê dậy sớm để thi hành” (3:1; 6:12; 8:10). Khi ông vâng phục Chúa trọn vẹn, thì đúng như Ngài đã phán: “Chẳng ai được chống cự trước mặt ngươi”. Nào là sông Giô-đanh chảy ngược, thành Giê-ri-cô bị sụp đổ, mặt trời mặt trăng dừng lại. Nào là lực lượng liên minh mạnh mẽ nhất của 5 vua cũng quay lưng chạy dài. Bí quyết thành công đắc thắng của Giô-suê là hoàn toàn vâng phục Chúa.

Nhưng có hai lần ông thất bại, chỉ vì ông hành động vội vàng, chưa cầu hỏi Chúa: Một là đánh thành A-hi, hai là kết ước với dân Ga-ba-ôn!

3. Ra-háp (Giô-suê 3).

Ra-háp là một người đàn bà tội lỗi, sống trong một thành phố tội lỗi đáng bị hủy diệt. Nhưng Ra-háp nghe những việc lớn lao Đức Chúa Trời đã làm cho dân Ngài từ Ê-díp-tô đến bên kia sông Giô-đanh, thì bà thức tỉnh, biết số phận của các dân tại Ca-na-an, trong số đó có cả gia đình bà. Vì vậy, khi hai thám tử thình lình đến nhà bà thì bà tiếp rước họ ngay và đem họ đi giấu. Bà bày tỏ đức tin đến Chúa, và xin hai thám tử cứu cả gia đình bà, các thám tử bảo sao, bà làm y như vậy. Thế là bà và cả gia đình đều được cứu. Hơn nữa, bà còn trở nên tổ mẫu của Đấng Cứu Thế về phần xác (Hê-bơ-rơ 11:13; Ma-thi-ơ 1-5; Mác 1:5).

4. Ca-lép (Giô-suê 14-15).

Bởi đức tin Ca-lép vâng phục Chúa, nên ông được vào Ca-na-an, được núi Hếp-rôn làm sản nghiệp, chiến thắng cả dân A-na-kim khổng lồ. Ông và dòng dõi ông đều được phước.

Bây giờ chúng ta thấy rằng không phải tại việc lớn hay nhỏ, dễ hay khó, kẻ thù mạnh hay yếu mà chúng ta thất bại hay thành công, tất cả đều tùy thuộc vào hành động vâng phục hay bất tuân của chúng ta.

Chúng ta không thể nào vâng phục Chúa nếu chúng ta không tin cậy Ngài. Chúng ta không thể nào vâng phục một cách mù quáng, cứ vâng phục mà không biết phải trái gì cả. Không phải vậy, chúng ta hoàn toàn vâng phục Chúa, vì tin rằng Ngài là Đấng từ ái, thành tín, quyền năng, vinh hiển, tức là Đấng sẵn sàng giải cứu, bảo vệ, ban cho và còn làm trổi hơn mọi điều chúng ta cầu xin và suy tưởng. Khi chúng ta xin bạc Chúa cho vàng, lắm nhu cầu chúng ta chưa biết để xin, Chúa đã cho, thế thì càng tin cậy Chúa, chúng ta càng vâng phục Ngài.

Phao-lô nói: “Vì ta biết Đấng ta đã tin”. Biết rõ Đấng mình đã tin là ai, là thế nào, Phao-lô sẵn sàng phục vụ trong chức vụ truyền đạo, sứ đồ, giáo sư và phó thác mọi sự cho Đấng đó (II Ti-mô-thê 1:11-12).

Đành rằng Môi-se, Giô-suê đã có lần thất bại, song không cần thất bại nếu họ tin cậy Chúa và vâng phục Ngài. Dầu chúng ta đã có lần thất bại như họ song không cần, vì các bài học trong Kinh Thánh, trong đời sống riêng đã cho chúng ta thấy như vậy. Dưới quyền lãnh đạo của Chúa toàn ái, toàn năng, toàn tri thì không thể thất bại mà chỉ có đắc thắng bội phần.

CÂU HỎI

1. Hành động của A-đam và Đấng Christ khác nhau như thế nào?

2. Hai hành động đó đưa đến hai kết quả như thế nào?

3. Trong bài học ai đã không vâng phục? Xin kể lại từng trường hợp.

4. Tại sao họ đã không vâng phục?

5. Ai đã vâng phục? Xin kể lại từng trường hợp.

6. Bí quyết nào đưa đến thành công?

7. Bí quyết nào đưa đến vâng phục?

8. Tại sao chúng ta không cần phải thất bại?

BÀI 14. ĐIỀU KIỆN ĐỂ CHUNG SỐNG NƠI ĐẤT HỨA

KINH THÁNH: Giô-suê 20,21,22.

CÂU GỐC: “Điều răn của ta đây nầy, các ngươi hãy yêu nhau cũng như ta đã yêu các ngươi” (Giăng 15:12).

MỤC ĐÍCH: Gây ấn tượng trong mỗi học viên về tầm quan trọng của sự thông cảm và yêu thương lẫn nhau.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ dạy phải yêu nhau

(Giăng 15:12-13).

TH:

Các thành ẩn náu

(Giô-suê 20).

TB:

Phần của người Lê-vi

(Giô-suê 21).

TT:

Đấng Christ là nơi ẩn náu của chúng ta

(Ma-thi-ơ 8:23-27).

TN:

Sự che chở của Đức Chúa Trời

(Phục 33:27; II Sa-mu-ên 22:2-4).

TS:

An toàn trong cơn nguy biến (Thi 9:9; 46:1; 62:7; 91:15-16).

 

TB:

Bàn thờ của Ru-bên và Gát

(Giô-suê 22).

Sau khi chinh phục cả Đất Hứa, dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu an cư lạc nghiệp, nhưng Đức Chúa Trời biết những gì sẽ xảy ra nên dự liệu những phương pháp ngăn ngừa và giải quyết. Chung sống với nhau là rất vui, song cũng dễ đụng chạm về quyền lợi và cá tính, dễ hiểu lầm và gây xung đột.

Hôm nay chúng ta học 3 điều về dân Y-sơ-ra-ên khi chung sống nơi Đất Hứa:

1. Lập 6 thành ẩn náu để bảo vệ kẻ vô tội.

2. Phân chia đồng đều đất đai cho người Lê-vi.

3. Giải quyết sự hiểu lầm để thông cảm nhau.

I. BẢO VỆ KẺ VÔ TỘI (20:1-9).

Chúa bảo Giô-suê lập 6 thành ẩn náu như Ngài đã truyền lệnh cho Môi-se (Dân 35:9-34; Phục 19:4-7). Sáu thành đó phải lập rải rác trong cả xứ: 3 thành ở phía Đông và 3 thành ở phía Tây, nên bất cứ ai ở đâu cũng chỉ chạy tối đa là 40 cây số là đến thành ẩn náu gần nhất.

Nếu một người không vì bất bình, hoặc oán ghét, mà chỉ vì vô tình, vô ý gây thiệt mạng cho ai thì kẻ sát nhân được phép chạy đến thành ẩn náu, được các trưởng lão của thành tiếp đón, cho ở yên chờ ngày hội chúng xét xử. Trong thời gian đó, kẻ sát nhân không được ra khỏi giới hạn của thành, nếu ra khỏi, thân nhân của kẻ bị giết có thể làm hại để báo thù mà không ai chịu trách nhiệm. Khi hội chúng xét xử, nếu thấy có đủ bằng cớ kẻ sát nhân không cố ý, mà chỉ vô tình, kẻ ấy được bảo vệ trong thành ẩn náu và phải ở đó như bị giam lõng cho đến khi thầy tế lễ thượng phẩm qua đời, anh ta mới được trở về nhà mình. Luật lệ này nhằm bảo vệ kẻ vô ý làm thiệt mạng người, tức là không nên giết kẻ vô tội. Song cũng cảnh cáo mọi người không được xem thường sinh mạng người khác mà hành động một cách vô ý thức. Vì vậy kẻ sát nhân phải ở trong thành ẩn náu một thời gian khá lâu để tỉnh thức, ăn năn về tội bất cẩn của mình đã làm thiệt mạng người khác. Không ai có phép hành động bừa bãi và nói rằng: “Tôi vô tình chớ không cố ý”.

Tóm lại, không ai được lợi dụng thành ẩn náu để giết người rồi chạy đến đó. Kẻ sát nhân sẽ bị báo thù: “Mạng đền mạng” (Dân 35:16-21; Xuất 21:12-14). Đó là trường hợp của Giô-áp khi ông chạy đến nắm sừng của bàn thờ thì ông cũng bị giết (I Cácvua 2:28-34). Luật lệ của Chúa là yêu thương song cũng là công bình.

II. PHÂN CHIA ĐỒNG ĐỀU (21:1-8).

Trong mười hai chi phái của Y-sơ-ra-ên, chi phái Lê-vi được Chúa biệt riêng ra phục vụ Ngài trong đền tạm (Dân 1:47-54). Vì vậy họ không cần có sản nghiệp đặc biệt (Dân 18:20). Khi ai nấy nhận sản nghiệp mình rồi, chi phái Lê-vi xin Giô-suê làm theo mạng lệnh Chúa hứa cùng họ. Giô-suê và cả dân Y-sơ-ra-ên làm ngay.

Chức vụ của người Lê-vi là:

(1) Xử xét các cuộc tranh tụng trong dân sự (Dân 17:8-13).

(2) Chỉ dẫn dân sự cách ngừa bệnh phung (Phục 24:8-9).

(3) Ghi chép luật pháp của Chúa (Phục 17:18; 31:9).

(4) Dạy dân sự luật pháp Chúa (Phục 27:9; A-ghê 2:11; Ma-la-chi 2:7).

Vì vậy Chúa đặt họ trong 48 thành như 48 mục sư cho toàn quốc. Dầu chi phái Lê-vi được cấp 48 thành ở rải rác khắp xứ và chung quanh thành để chăn nuôi trồng trọt thì hoa lợi đó vẫn không đủ cho họ sống, nên họ được phụ cấp:

(1) Con đầu lòng các bầy súc vật và của lễ cho Chúa (Dân 12:8-9; Ê-xê-chi-ên 44:28-30).

(2) Thuế 1/10 các hoa lợi người Y-sơ-ra-ên dâng cho Chúa (Dân 18:20-32; Lê 27:30-33).

Vì thế, khi dân Y-sơ-ra-ên không đem các của lễ dâng cho Chúa, không dâng 1/10 cho Ngài thì người Lê-vi bị thiếu thốn, phải bỏ việc tế lễ nơi đền thờ mà về tự túc nơi đồng ruộng mình. Rồi khi có cuộc phục hưng như đời Nê-hê-mi, họ lập lại luật lệ đó (Nê 10:36-39; 13:10-13). Chúa đã bảo rằng dân Y-sơ-ra-ên sẽ bị rủa sả vì đã ăn trộm Ngài trong các phần mười và các của dâng, tức là họ không dâng 1/10 và các của lễ cho Chúa (Ma-la-chi 2:8-10).

Đến đời Tân Ước, Phao-lô áp dụng luật lệ nầy cho Mục sư, Truyền đạo là người Chúa biệt riêng ra phục vụ Ngài: “Anh em há chẳng biết rằng ai hầu việc thánh thì ăn của dâng trong đền thờ, còn ai hầu việc nơi bàn thờ thì có phần nơi bàn thờ sao? Cũng vậy, Chúa có truyền rằng ai rao giảng Tin Lành thì được nuôi mình bởi Tin Lành” (ICôr 9:13-14).

Chúa dặn dò người Y-sơ-ra-ên: “Trọn đời ngươi ở trong xứ, khá giữ mình, chớ bỏ bê người Lê-vi… Chớ bỏ bê người Lê-vi ở trong thành ngươi” (Phục 12:19; 14:27). Chúa truyền lệnh cho Hội Thánh: “Kẻ nào mà người ta dạy đạo cho, phải lấy trong hết thảy của cải mình mà chia cho người dạy đó” (Ga-la-ti 6:6). Dân sự bị rủa sả vì ăn trộm của Chúa, và bỏ bê người Lê-vi trong thành phố mình.

III. CẢM THÔNG NHAU (Giô-suê 22).

Khi quân Y-sơ-ra-ên toàn thắng các vua A-mô-rít và các vua Ma-đi-an bên Đông sông Giô-đanh (Dân 21:1-35, 31:1-54) thì hai chi phái Gát, Ru-bên và nửa chi phái Ma-na-se xin Giô-suê cho họ chiếm phần đất đó làm sản nghiệp (Dân 32:1-42). Họ để vợ con và bầy súc vật lại, còn họ sẵn sàng qua bên kia sông Giô-đanh, chiến đấu bên cạnh anh em mình cho đến khi cả xứ được bình tịnh, ai nấy nhận lấy sản nghiệp, nhiên hậu họ sẽ trở về với sản nghiệp họ, Giô-suê đồng ý. Khi toàn xứ được bình tịnh, Giô-suê cho các binh sĩ của chi phái Gát, chi phái Ru-bên và nửa chi phái Ma-na-se trở về sản nghiệp mình, phía Đông sông Giô-đanh.

Về đến nơi, họ nghĩ rằng trong tương lai con cháu các chi phái phía bên Tây sông Giô-đanh sẽ nói với các con cháu họ rằng: “Các anh không có phần gì với nơi Đức Giê-hô-va, không liên hệ gì với chúng tôi, vì Đức Giê-hô-va đặt sông Giô-đanh làm ranh giới”.

Để tránh khỏi điều đó xảy ra, họ lập một bàn thờ lớn như kiểu bàn thờ của họ đã thấy tại Silô, hầu cho con cháu họ sẽ chứng minh với con cháu của các chi phái bên kia sông rằng hai dân tộc là một, đều thờ Đức Giê-hô-va.

Ý kiến họ rất tốt, vì biết lo xa, nhưng họ chưa đưa ra bàn với Giô-suê và các trưởng lão, nhất là chưa cầu hỏi ý Chúa mà đã vội làm nên gây sự hiểu lầm. Khi các chi phái bên kia sông nghe báo cáo rằng hai chi phái rưỡi bên nầy lập một bàn thờ lớn, thì họ hoảng hốt và nghĩ rằng có sự bội đạo xảy ra và tai họa xảy đến (Lê 17:8-9; Phục 12:11-14). Họ vội vàng hiệp lại với nhau đem quân đến vấn tội anh em mình để bênh vực sự thánh khiết của Chúa.

Đến nơi, họ vừa hỏi, vừa lên án anh em mình là bất trung bỏ Chúa, lập một bàn thờ để phản nghịch Ngài, họ cũng khuyên lơn và cảnh cáo các anh em ấy (22:19). Song họ được trả lời một cách quả quyết: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời Toàn năng! Giê-hô-va Đức Chúa Trời Toàn năng! Ngài biết và dân Y-sơ-ra-ên sẽ rõ”. Sau khi được giải thích, đại diện các chi phái bên kia sông thấy nhẹ nhỏm. Ai nấy từ giã nhau ra về, biết rằng anh em mình không như mình tưởng. Cảm tạ Chúa (22:33).

Trong trường hợp nầy nếu thiếu khôn ngoan và tình thương, có thể xảy ra xung đột, mặc dù đôi bên đều có lòng sốt sắng với Đức Chúa Trời. Đừng vội nghi ngờ sự dữ cho anh mình, phải mau nghe, chậm nói, chậm giận, chúng ta phải có ân tứ nói cho người khác hiểu mình, song cũng phải có ân tứ hiểu người khác nói. Phải có ân tứ nói, cũng phải có ân tứ nghe.

CÂU HỎI

1. Công dụng của 6 thành ẩn náu là gì?

2. Tại sao mỗi thành ở mỗi nơi?

3. Ai là người được thực sự ẩn náu?

4. Tại sao kẻ sát nhân vì vô ý phải ở trong thành cho đến khi thầy tế lễ thượng phẩm qua đời?

5. Chức vụ của người Lê-vi là gì?

6. Tại sao Chúa cấp cho họ 48 thành rải rác trong xứ?

7. Chúa phụ cấp cho họ những gì?

8. Phao-lô ứng dụng luật lệ nầy cho ai?

9. Tại sao hai chi phái rưỡi bên kia sông Giô-đanh làm một bàn thờ?

10. Tại sao ý tốt của họ lại bị chi phái bên Tây sông Giô-đanh hiểu lầm?

11. Chúa dạy chúng ta phải cư xử với nhau thế nào trong những trường hợp tương tự?

BÀI 15. LỜI THÁCH THỨC CỦA GIÔ-SUÊ

KINH THÁNH: Giô-suê 23,24.

CÂU GỐC: “Nhưng phải tríu mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, y như các ngươi đã làm đến ngày nay” (Giô-suê 23:8).

MỤC ĐÍCH: Trình bày tầm quan trọng của việc lựa chọn phải lẽ cho cuộc đời.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Mạng lệnh của Chúa Jêsus

(Ma-thi-ơ 22:37-38).

TH:

Lời cảnh cáo của Giô-suê

(Giô-suê 23).

TB:

Lời từ giã của Giô-suê

(Giô-suê 24).

TT:

Sự lựa chọn khôn ngoan

(Phục 26:16-19).

TN:

Phước hạnh của sự lựa chọn khôn ngoan

(Thi 16).

TS:

Môi-se là người khôn ngoan

(Hê-bơ-rơ 11:24-26).

TB:

Đức Chúa Trời ban sự khôn ngoan

(Gia-cơ 1:5-6).

Giô-suê đã xong nhiệm vụ, ông đã già, tuổi đã cao, ông đã sống cuộc đời không uổng phí, trái lại rất xứng đáng. Bây giờ ông đã thỏa mãn về với Chúa. Nhưng ông băn khoăn nghĩ đến tương lai đồng bào, nhất là danh vinh hiển của Chúa, nên ông đã làm hai điều: Cảnh cáo dân Y-sơ-ra-ên và từ giã họ.

I. GIÔ-SUÊ CẢNH CÁO DÂN Y-SƠ-RA-ÊN (Giô-suê 23).

Ông triệu tập một phiên họp đầy đủ viên chức trong nước, những trưởng lão, quan trưởng, quan xét, quan tướng. Ông đặt trước mặt họ hai con đường, họ phải lựa chọn: Chúc phước hay rủa sả.

1. Chúc phước (23:5-11).

a. Muốn được chúc phước, họ phải: “Chớ nên xen lộn cùng các dân còn ở lại giữa các ngươi”. Cưới gả với các dân tộc Ca-na-an là bị rủa sả nặng, nên trước khi vào đó Chúa đã dặn dò: “Đừng cưới con gái chúng nó cho con trai ngươi, e khi con gái chúng nó hành dâm với các tà thần của chúng nó, quyến dụ con trai ngươi cũng hành dâm với những tà thần của chúng nó nữa chăng” (Xuất 34:16). Mạng lệnh này được lặp lại: “Ngươi chớ làm sui gia với chúng, chớ gả con gái mình cho con trai họ, cũng đừng cưới con gái họ cho con trai mình, vì các dân tộc này sẽ dụ dỗ con trai ngươi lìa bỏ Ta mà phục sự các thần khác” (Phục 7:3-4).

Kinh Thánh ghi lại các trường hợp hoặc cá nhân hoặc tập thể đã phạm mạng lệnh này. Sam-sôn (Quan 14:1-3, 16:14), Sa-lô-môn (ICác 11:1-2), dân Y-sơ-ra-ên (E-xơ-ra 9:1-2). Vì vậy mạng lệnh này còn nhắc lại luôn (Thi 106:35-36; IICôr 6:14-18).

b. Muốn được chúc phước, họ “Chớ xưng đến danh của thần chúng nó, chớ biểu ai bắt các thần ấy mà thề, chớ hầu việc và đừng quỳ lạy các thần đó”. Thờ tà thần là tội rất dễ mắc, nên trước khi vào Ca-na-an Chúa đã ban lệnh: “Ngươi chớ quỳ lạy và thờ tà thần chúng nó; chớ bắt chước công việc họ, nhưng phải diệt hết các thần đó và đập nát các pho tượng họ đi.” (Xuất 23:24). Mạng lệnh này đã được lặp lại: “Các ngươi hãy phá hủy bàn thờ, đập bể pho tượng và đánh hạ các thần chúng nó” (Xuất 34:13). Đây là một mạng lệnh rất nghiêm được lặp đi lặp lại nhiều lần trong Kinh Thánh suốt thời gian 1.500 năm từ Môi-se đến Giăng.

c. Muốn được chúc phước, “Ngươi phải tríu mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, y như các ngươi đã làm đến ngày nay… Vậy, hãy cẩn thận giữ mình đặng kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi”. Yêu mến Chúa cũng có nghĩa là dính liền với Ngài như vợ chồng dính liền với nhau (Sáng 2:24). Chúa Jêsus gọi điều răn này là điều răn lớn và thứ nhất (Ma-thi-ơ 22:37-38).

Trên đường theo Chúa chúng ta thường cẩu thả, không chín chắn và nghiêm trang thi hành mạng lệnh Chúa. Do đó, chúng ta mất phước. Muốn được phước chúng ta phải cẩn thận về 3 điều Giô-suê lặp lại trên đây.

2. Rủa sả (23:12-16).

Giô-suê cho dân Y-sơ-ra-ên biết họ sẽ bị rủa sả khi nào cưới gả với các dân tộc còn sót lại trong xứ. Các dân tộc đó sẽ thành bẫy, lưới, roi và gai cho họ. Lưới, bẫy là họ bị lừa gạt, bị bắt lấy để làm nô lệ cho người ta như người đánh lưới cá, đánh bẫy chim và thú rừng. Roi đánh nơi hông là họ sẽ bị đau đớn lắm, gai chích trong mắt là họ sẽ bị đui mù, điều này rất đúng cho cá nhân của Sam-sôn. Vì không cẩn thận trong hôn nhân, ông bị lừa gạt, bị đau đớn trong tay kẻ thù, bị móc mắt làm trò cười cho họ. Điều này cũng rất đúng cho dân Y-sơ-ra-ên, từ chỗ cưới gả với dân ngoại, họ bị cám dỗ từ bỏ Chúa và thờ tà thần. Kết quả cuối cùng của họ là bị lưu đày làm nô lệ (IICác 25:1-7).

Giô-suê sắp qua đời, ông ân cần nhắc cho dân Y-sơ-ra-ên thấy luôn rằng các điều lành mà Chúa hứa cho họ đều ứng nghiệm trọn vẹn, chẳng có một lời nào sai (21:45; 23:14). Đức Chúa Trời rất thành tín, rất quyền năng, điều chi mà Ngài đã hứa thì Ngài cũng làm trọn. Vì vậy các lời rủa sả mà Ngài cảnh cáo họ cũng được ứng nghiệm như vậy, không có một lời nào sai hết, nếu họ bất tuân mạng lệnh của Ngài.

Môi-se nói rằng, nếu họ phản bội Chúa thì họ sẽ bị kẻ thù vây chặt và trong bước đường cùng họ sẽ ăn thịt con mình (Phục 28:53-57). Các lời này đã được ứng nghiệm ít nhất 3 lần: (1) Khi kinh thành Sa-ma-ri bị quân Sy-ri vây chặt (IICác 6:28-29), (2) Khi thành Giê-ru-sa-lem bị Ba-by-lôn vây và bị hạ (Giê-rê-mi 19:9, Ca 2:20, 4:10), (3) Năm 70 SC khi thành Giê-ru-sa-lem bị quân La-mã vây chặt lâu ngày, nhân dân trong thành đói, đến nỗi mẹ phải ăn thịt chính con mình (Histoire de Ysrael, Tome II, trang 5527).

Đối với tất cả những lời Chúa Jêsus đã nói, Ngài long trọng tuyên bố như đóng ấn rằng: “Trời đất sẽ qua, nhưng lời Ta nói chẳng bao giờ qua đi” (Ma-thi-ơ 24:35). Thế thì ai còn dám nghi ngờ những lời ấy.

II. GIÔ-SUÊ TỪ GIÃ DÂN Y-SƠ-RA-ÊN (24).

Giô-suê triệu tập buổi họp tại địa điểm rất quan trọng là Si-chem, thành phần tham dự cũng như lần trước.

1. Ông nhắc dân Y-sơ-ra-ên những việc Chúa đã làm cho họ (24:1-13).

Sau 20 năm, có lớp người lớn lên, có lớp người mới sinh, chưa biết việc Chúa làm, có lớp người già quên đi, vì vậy ông nhắc lại 12 việc kỳ diệu Chúa đã làm: (1) Chúa kêu gọi Áp-ra-ham từ Canh-đê đến Ca-na-an; (2) Chúa ban Y-sác cho Áp-ra-ham; (3) Chúa đưa gia đình Gia-cốp xuống Ê-díp-tô; (4) Chúa đổ 10 tai họa trên người Ê-díp-tô; (5) Chúa đem Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô; (6) Chúa đưa Y-sơ-ra-ên qua Biển Đỏ; (7) Chúa nuôi Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng; (8) Chúa dẫn Y-sơ-ra-ên đến phía Đông Ca-na-an; (9) Chúa cấm Ba-la-am không rủa sả Y-sơ-ra-ên; (10) Chúa đưa Y-sơ-ra-ên qua sông Giô-đanh; (11) Chúa đánh đuổi kẻ thù cho họ; (12) Chúa ban Đất Hứa cho họ. Trong 11 câu trên đây Chúa đã dùng nhiều danh từ “Ta” trước các động từ: “Ta chọn, Ta ban, Ta sai, Ta làm, Ta dẫn, Ta phó, Ta diệt, Ta không muốn, Ta giải cứu.” Kinh Thánh bản Việt lặp lại 14 lần chữ “Ta”, bản Anh ngữ 10 lần, bản Pháp ngữ 20 lần, tất cả mọi việc đều bởi Chúa. Đó là lý do Đa-vít đã tự hỏi: “Tôi sẽ lấy gì báo đáp Đức Giê-hô-va về các ơn lành mà Ngài đã làm cho tôi” (Thi 116:12), Ma-ri mừng rỡ ca tụng Chúa: “Bởi Đấng toàn năng đã làm những việc lớn cho tôi”.

2. Ông khuyên dân Y-sơ-ra-ên lựa chọn (14-22).

Vì lý do trên, Giô-suê khuyên họ bỏ hết các thần tượng mà phục vụ Chúa cách thành tâm trung tín. Tuy nhiên ông không ép buộc họ điều họ không muốn, hoăc không biết, nên ông khuyên họ sáng suốt lựa chọn phục sự ai tùy ý, nhưng ông và gia đình ông sẽ phục sự Đức Giê-hô-va. Ông đem chính mình và gia đình để làm gương khích lệ họ. Ông khuyên họ suy nghĩ kỹ lưỡng, cân nhắc kỹ càng rồi mới quyết định. Lời khuyên của Giô-suê rất có hiệu lực nên được dân Y-sơ-ra-ên hưởng ứng ngay: “Chúng tôi quyết hẳn không lìa bỏ Đức Giê-hô-va mà hầu việc các thần khác… Chúng tôi sẽ phục sự Đức Giê-hô-va, bởi Ngài là Đức Chúa Trời của chúng tôi”. Giô-suê ngại dân Y-sơ-ra-ên bồng bột và nông nổi, chưa suy nghĩ kỹ lời cam kết của mình, nên ông nói: “Các ngươi không đủ sức phục sự Đức Giê-hô-va vì là Đức Chúa Trời thánh”. Họ quả quyết: “Không đâu; vì chúng tôi sẽ phục sự Đức Giê-hô-va”. Giô-suê nhấn mạnh: “Các ngươi phải làm chứng lấy cho mình rằng chính các ngươi đã chọn Đức Giê-hô-va để phục sự Ngài”. Dân sự đáp: “Chúng tôi làm chứng về điều đó”. Giô-suê tiếp: “Vậy bây giờ, hãy cất các thần ngoại bang khỏi giữa các ngươi đi, hãy xây lòng về cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời Y-sơ-ra-ên”. Dân sự đáp: “Chúng tôi sẽ phục sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi và nghe theo tiếng Ngài.”

Giô-suê ghi các lời ấy vào trong luật pháp và dựng một hòn đá làm kỷ niệm về giao ước ấy. Giô-suê muốn có một ấn tượng mạnh mẽ và sâu sắc trong tâm trí người Y-sơ-ra-ên về một giao ước qua cuộc đối thoại giữa ông với họ. Giô-suê thật là một nhà lãnh đạo lão thành, đầy kinh nghiệm, xứng đáng là “tôi tớ của Đức Giê-hô-va”.

CÂU HỎI

1. Dân Y-sơ-ra-ên muốn được chúc phước phải tránh những điều gì và làm gì?

2. “Chớ nên xen lộn với các dân tộc khác” có nghĩa gì?

3. Những ai đã phạm lệnh này và hậu quả ra sao?

4. Chúa bảo dân Y-sơ-ra-ên khi vào Ca-na-an phải làm gì với các thần tượng?

5. Sự thờ thần tượng được Kinh Thánh nghiêm cấm đến mức độ nào?

6. Chúa Jêsus đã dạy thế nào về sự yêu mến Chúa?

7. Chúa cho biết trước nếu Y-sơ-ra-ên phạm tội sẽ bị cùng đường như thế nào?

8. Khi từ giã, Giô-suê nhắc gì cho dân Y-sơ-ra-ên?

9. Chúa dùng nhiều chữ Ta có ý nghĩa gì?

10. Giô-suê quyết định gì cho ông và cả gia đình ông?

11. Cuộc đối thoại giữa Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên như thế nào?

12. Giô-suê là nhà lãnh đạo như thế nào? Ông được gọi là gì?

BÀI 16. ĐÊ-BÔ-RA VÀ BA-RÁC.

KINH THÁNH: Các quan xét 4-5.

CÂU GỐC: “Đức Giê-hô-va bênh vực tôi, tôi chẳng sợ; loài người sẽ làm chi tôi?” (Thi thiên 118:6).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết không cần lo sợ khi có Chúa và vâng phục Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Chúa Jêsus phán “Đừng sợ chi”

(Lu-ca 12:31-32).

TH:

Người chiến sĩ thiếu can đảm

(Quan xét 4).

TB:

Bài ca Đê-bô-ra

(Quan xét 5).

TT:

Ba-rác, anh hùng đức tin

(Hê-bơ-rơ 11:29-32).

TN:

Nương tựa nơi Đức Chúa Trời

(Thi 22:11; 25:15-18).

TS:

Đức tin làm những việc lớn

(I Sa 14:6,14;17:32,45-47,50).

TB:

Tin nơi Đức Chúa Trời

(Ma-thi-ơ 21:21; Mác 9:23; 11:22).

Sách Các Quan xét chép lại giai đoạn lịch sử từ khi Giô-suê qua đời cho đến Sa-mu-ên ra đời, tức là buổi giao thời của chế độ thần quyền và chế độ quân chủ. Trong buổi giao thời đó, dân Y-sơ-ra-ên đã sống tối tăm do tinh thần bội đạo, bất tuân mạng lệnh của Chúa, chìm sâu vào sự thờ lạy hình tượng. Nhiều lần Chúa phó họ cho kẻ thù để bị hà hiếp, ngược đãi một cách thậm tệ. Song khi họ ăn năn, Chúa dấy lên những quan xét giải cứu họ, rồi họ lại tái phạm nên liên tiếp có đến 12 quan xét thay nhau trong thời gian hơn 400 năm. Điều này chứng tỏ Đức Chúa Trời hằng hữu, lúc nào cũng tể trị lich sử loài người, nhất là lịch sử của dân Ngài, tình thương của Ngài không hề thay đổi, dầu lòng họ thay đổi.

Đọc sách Các Quan xét, chúng ta thấy được thực trạng của loài người và tình thương của Đức Chúa Trời, nói cách khác là sự thất bại của loài người và sự giải cứu của Chúa. Qua sách Các Quan xét chúng ta sẽ học một số nhân vật, trước hết là Đê-bô-ra và Ba-rác.

I. ĐÊ-BÔ-RA, MỘT NỮ TIÊN TRI CAN ĐẢM (4:1-5).

Dưới quyền lãnh đạo của Giô-suê, Chúa phó tất cả kẻ thù trong tay Y-sơ-ra-ên để tiêu diệt, song Y-sơ-ra-ên còn để sót lại một số người, về sau chính dân đó lần hồi đông đúc và mạnh mẽ, đánh bại dân Y-sơ-ra-ên và bắt họ làm nô lệ. Trong số đó Giabin, vua Ca-na-an, có một lực lượng hùng hậu với 900 xe sắt, do Sisêra chỉ huy. Họ hà hiếp Y-sơ-ra-ên một cách hung bạo trong 20 năm.

Ngày nay cũng vậy, dưới quyền lãnh đạo của Chúa Jêsus, chúng ta có thể đắc thắng và tiêu trừ mọi thứ tội lỗi. Song chúng ta chỉ bỏ những tội lớn mà giữ lại những tội nhỏ, vì cho là vô hại. Nào những thói xấu như điếu thuốc lá, lá bài, nào tánh nóng giận, ích kỷ, ganh tị, tham lam, ham mê thế gian. Những tội nhỏ đó, không nhỏ nữa mà lớn lên rất mau và trở thành những kẻ thù nguy hiểm. Cọp, beo khi còn nhỏ rất hiền hòa, song bản chất hung dữ của nó vốn sẵn có và sẵn sàng giết người một ngày nào đó. Vì vậy mà một số tín đồ lâu năm vẫn làm nô lệ cho thói hư tật xấu đó.

Bấy giờ, dân Y-sơ-ra-ên nhớ lại Chúa và kêu cầu Ngài, nên Ngài dấy lên một nữ tiên tri là Đê-bô-ra. Dân Y-sơ-ra-ên đến với bà để nghe sự đoán xét. Tức là nghe dạy dỗ cảnh cáo họ để họ cảnh tỉnh và ăn năn. Tại sao Chúa lại dùng một người đàn bà? Đàn ông há không mạnh hơn sao? Đây không nói lên sức mạnh của đàn ông hay đàn bà là sức mạnh của thân thể, của tài năng, nhưng nói lên sức mạnh của đức tin. Theo hoàn cảnh bấy giờ, tất cả sức mạnh đó không thể đương nổi với kẻ thù, mà phải có sức mạnh của đức tin, tức là sức mạnh của Đức Chúa Trời. Chúa muốn dùng một người để giải cứu Y-sơ-ra-ên, nhưng Ngài không tìm thấy trong vòng dân sự một người có đức tin như bà Đê-bô-ra. Vì vậy, Chúa cho bà là người mạnh mẽ nhất mà Ngài có thể dùng. Đặc điểm của bà là đức tin, đức tin đã biến bà trở nên vô địch, vượt hẳn những người đồng thời.

Ngày nay, Đức Chúa Trời đang tìm những Đê-bô-ra, tức là những người vô luận nam hay nữ, dám tin cậy Chúa mà sống, dám đứng và đi với Ngài. Chúa sẽ dùng những người ấy giải phóng tội nhân ra khỏi xiềng xích tội lỗi, khỏi nô lệ của Sa-tan để trở thành con trai con gái của Ngài. Chúa Jêsus đã phán với Ma-thê: “Ta há chẳng từng nói với ngươi rằng: Nếu ngươi tin thì sẽ thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời sao?” (Giăng 11:40).

II. BA-RÁC, MỘT CHIẾN SĨ THIẾU CAN ĐẢM (4:6-8).

Đê-bô-ra lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên, song dưới quyền bà phải có một người cầm binh ra trận. Vì vậy, bà vâng lệnh Chúa mời Ba-rác đến, bảo ông chọn một muôn binh lên núi Thabô và Chúa sẽ phó cả lực lượng của vua Giabin do Sisêra thống lãnh vào tay ông. Được Chúa đồng công, sự đắc thắng của Ba-rác chắc chắn trọn vẹn.

Song rất tiếc, Ba-rác không có đức tin lớn đủ như Đê-bô-ra, nên ông nói: “Nếu bà đi với tôi, thì tôi sẽ đi, nhưng nếu bà không đi với tôi, tôi sẽ không đi”. Dầu Ba-rác là một chiến sĩ song thấy Đê-bô-ra có điều gì hơn mình. Đó là bà có đức tin lớn, được Chúa đặt tay, được Chúa xức dầu và được trọng dụng nên cần có bà đi mới bảo đảm sự toàn thắng.

Dầu Ba-rác rất yếu đuối song rất thành thật nhận sự yếu đuối của mình. Ông không tự tôn mà xem thường một người đàn bà như Đê-bô-ra. Ông có đủ bằng cớ và lý do mà nhận đây là một người đáng kính. Chúng ta thường lệch lạc trong vấn đề đánh giá người, như xem khinh một người có vẻ đơn sơ nhưng đạo đức, tôn trọng một người quá mức khoe khoang kiêu hãnh. Kinh Thánh chép về người này, người kia đầy ân điển, đầy Đức Thánh Linh theo tính cách khách quan, nhưng không có một cá nhân nào nhận mình đầy ân điển, đầy dẫy Đức Thánh Linh theo tư cách chủ quan. Nếu ai nói mình như vậy là khoác lác thôi, dối mình, gạt người. Người đầy ân điển và quyền năng luôn luôn im lặng về mình mà nói về Chúa.

III. ĐÊ-BÔ-RA ĐI VỚI BA-RÁC (4:9-10).

Dầu lệnh của Chúa truyền, Lời của Chúa hứa, nhưng Ba-rác đòi phải được Đê-bô-ra đi cùng và bà chấp nhận. Sự yếu đuối của con người là muốn nương cậy một cái gì mình thấy được như là một cây gậy. Vì vậy, khi Giô-suê còn sống, dân Y-sơ-ra-ên theo Chúa, khi Giô-suê qua đời, họ sa ngã. Khi hoạn nạn, Chúa dấy lên một tiên tri giải cứu họ, khi quan xét đó qua đời, họ sa ngã, và cứ như vậy (Quanxét 3:7; 4:1). Đành rằng chúng ta cần dìu nhau trên con đường hẹp để theo Chúa, nhưng có lúc Chúa cất những cây gậy đó khỏi chúng ta mà ai nấy phải hoàn toàn sống với Chúa bởi đức tin. Đa-ni-ên và ba bạn của ông bị bắt khỏi gia đình và xứ sở để đến Ba-by-lôn xa lạ, cô đơn. Tại đây không được ai hướng dẫn, họ phải sống giữa muôn người thù nghịch, không nhận biết Chúa. Nhưng họ dám chứng tỏ cho mọi người biết về Chúa đến nỗi hai hoàng đế của hai nước Ba-by-lôn và Mê-đi Ba-tư phải ra chiếu chỉ: “Bất cứ là dân nào, nước nào, thứ tiếng nào, hễ ai nói xấu Đức Chúa Trời… thì họ sẽ bị phân thây… trong khắp nước ta, người ta phải kính sợ, run rẩy trước mặt Đức Chúa Trời của Đa-ni-ên vì Ngài là Đức Chúa Trời hằng sống và còn đến đời đời” (Đa-ni-ên 3:2; 6:26).

IV. BA-RÁC CHIẾN THẮNG QUÂN THÙ (4:10-24).

Vâng lệnh Chúa, Ba-rác kéo một muôn binh lên núi Thabô. Được tin ấy, Sisêra đem toàn lực đến khe Kisôn. Đê-bô-ra liền nói với Ba-rác: “Hãy đứng dậy, vì này là ngày Đức Giê-hô-va phó Sisêra vào tay ngươi. Đức Giê-hô-va há chẳng đi đàng trước ngươi sao?” Chính Chúa sẽ dùng gươm Ngài làm cho Sisêra và lực lượng của hắn bị tiêu diệt không còn sót một người. Theo lời Đê-bô-ra thuật lại, thì một cơn bão lớn nổi lên, mưa rơi tầm tã, nước trên núi Thabô đổ xuống khe Kisôn làm cho xe ngựa và binh sĩ Sisêra sa lầy, không thể di chuyển được. Thế là ai nấy hoảng hốt, hàng ngũ rối loạn, lớp bị giết chết, lớp bị dòng nước cuốn trôi đi cả (5:20-22).

Không có Đê-bô-ra, Ba-rác không dám ra trận, không có Ba-rác, Đê-bô-ra không làm chi được. Họ tôn trọng lẫn nhau, hiệp một lẫn nhau trong công tác quan trọng để quy vinh danh Chúa. Sau đó Đê-bô-ra và Ba-rác cùng hát: “Khá ngợi khen Đức Giê-hô-va… nguyện những kẻ yêu mến Ngài giống như mặt trời mọc lên rực rỡ” (5:1-2,31). Hỡi những kẻ yêu mến Chúa, hãy dấy lên và sáng như mặt giữa trưa!

Đê-bô-ra là nữ tiên tri và là quan xét, Ba-rác là anh hùng đức tin (Hê-bơ-rơ 11:38). Họ là công cụ trong tay Chúa, chính mình Ngài sử dụng họ trong chương trình giải cứu dân Ngài để nhân loại biết rằng có Đức Chúa Trời và Ngài là Đấng hằng sống.

CÂU HỎI

1. Trong thời các quan xét, dân Y-sơ-ra-ên sống như thế nào?

2. Chúa đã ra lệnh cho Y-sơ-ra-ên tận diệt dân Ca-na-an. Tại sao còn có dân Ca-na-an đánh lại dân Y-sơ-ra-ên?

3. Khi bị dân Ca-na-an hà hiếp, dân Y-sơ-ra-ên làm gì?

4. Tại sao Chúa dùng Đê-bô-ra?

5. Muốn chiến thắng dân Ca-na-an, Chúa phải dùng ai nữa?

6. Tại sao Ba-rác đòi phải có Đê-bô-ra theo?

7. Trong lịch sử dân Y-sơ-ra-ên, có lần nào họ không có lãnh đạo?

8. Đức Chúa Trời đã làm gì để giúp Ba-rác chiến thắng kẻ thù dễ dàng?

9. Đê-bô-ra và Ba-rác là những người thế nào?

10. Bài học cho chúng ta hôm nay là gì?

BÀI 17. ĐỨC CHÚA TRỜI KÊU GỌI GHÊ-ĐÊ-ÔN

KINH THÁNH: Các Quan xét 6:1-40.

CÂU GỐC: “Đức Giê-hô-va phán rằng: Ta sẽ ở cùng ngươi, và ngươi sẽ đánh bại dân Ma-đi-an như đánh một người vậy” (Các quan xét 6:16).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng khi Đức Chúa Trời kêu gọi ai phục vụ Ngài thì ban cho quyền năng, ân tứ để làm thành điều Ngài muốn.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ kêu gọi chúng ta

(Mác 16:15).

TH:

Ghê-đê-ôn được kêu gọi

(Các quan xét 6:16).

TB:

Sự kêu gọi của Chúa Jêsus

(Ma-thi-ơ 4:18-22).

TT:

Chúng ta phải nghe theo sự kêu gọi của Chúa

(Giăng 4:35).

TN:

Sự hiện diện của Chúa

(Mat 18:20; Mác 16:20).

TS:

Sẵn sàng đầu phục

(IICôr 8:3-5).

TB:

Tuân theo mạng lệnh của Chúa

(Giăng 15:7).

“Dân Y-sơ-ra-ên làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va” (Các quan xét 2:11; 3:7,12; 4:1; 6:1; 8:33; 10:6). Câu nầy được lặp lại nhiều lần như điệp khúc của một bài ca. Đáng lẽ sau một lần phạm tội và được giải cứu, dân Y-sơ-ra-ên biết và thấy rằng lìa bỏ Đức Giê-hô-va là xấu xa và cay đắng (Giê 2:19). Nhưng chẳng bao lâu họ lại ngã vào đống bùn lấm, hầm gớm ghê, nên sau đó một điệp khúc khác: “Đức Giê-hô-va phó họ vào tay kẻ thù” (Các quan xét 2:4; 3:8,12,13; 4:2; 6:1; 10:7).

Lần nầy, Chúa phó họ vào tay dân Ma-đi-an. Dân Ma-đi-an là dân du mục sống trong sa mạc, chuyên cướp phá mùa màng, súc vật và tài sản. Suốt 7 năm liền, chúng cướp phá của dân Y-sơ-ra-ên, không để lại một vật thực gì cả. Tình trạng của dân Y-sơ-ra-ên thật là bi đát, vừa đói khát, vừa sợ hãi. Trong cơn khốn nạn đó họ kêu cầu Đức Giê-hô-va.

Để giải cứu dân Y-sơ-ra-ên, trước hết Chúa sai một tiên tri, rồi một thiên sứ và cuối cùng là một quan xét. Một tiên tri để nhắc cho họ những việc diệu kỳ mà Chúa đã làm và mạng lệnh Ngài đã ban. Vì vong ân bội nghĩa, họ đã gặt lấy hậu quả như hiện có (6:7-10), nên họ phải ăn năn. Vấn đề tiên quyết không phải là khổ nhục mà là tội lỗi. Khổ nhục là hậu quả, tội lỗi mới là nguyên nhân. Không thể giải quyết hậu quả khi chưa giải quyết căn nguyên. Kế đó, một thiên sứ đến kêu gọi một người giải cứu và quan xét là người thi hành sự giải cứu. Sau khi dân Y-sơ-ra-ên ăn năn, Chúa kêu gọi Ghê-đê-ôn.

I. GHÊ-ĐÊ-ÔN ĐƯỢC PHONG CHỨC (c.11-24).

Ghê-đê-ôn sợ dân Ma-đi-an nên đập lúa mạch ở một nơi kín đáo là bàn ép nước nho. Thình lình, ông thấy một người đứng trước mặt mình. Đó chính là Đức Giê-hô-va mượn hình thiên sứ hiện ra với Ghê-đê-ôn, nhưng ông không biết. Thiên sứ phán: “Hỡi người dõng sĩ! Đức Giê-hô-va ở cùng ngươi!” Ghê-đê-ôn lấy làm hổ thẹn vì dũng sĩ gì mà núp trong nơi kín đáo như vậy? Ông cũng ngạc nhiên vì Chúa ở cùng sao phải khốn nạn như vậy? Ghê-đê-ôn biết mình yếu đuối, biết đồng bào mình bị Chúa bỏ, song không biết làm sao trước tình trạng bi đát đó. Ông không dám nhận lời chào của vị khách. Thiên sứ tiếp: “Hãy dùng sức của ngươi vẫn còn mà đi giải cứu dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi dân Ma-đi-an. Ta há chẳng sai ngươi đi sao?” Chắc Ghê-đê-ôn ngạc nhiên hơn vì sức mạnh ông đang có là bao nhiêu mà Chúa sai đi giải cứu dân Y-sơ-ra-ên? Ông muốn nói: “Nếu có một người đi giải cứu Y-sơ-ra-ên thì không phải tôi. Vì họ hàng tôi nghèo nhất trong chi phái Ma-na-se, còn tôi là nhỏ nhất trong nhà cha tôi! Tôi có gì đâu? Tôi ra chi đâu mà làm được công trình vĩ đại đó?” Ông nhận mình hoàn toàn bất lực trước nhiệm vụ của Chúa giao. Thiên sứ quả quyết: “Ta sẽ ở cùng ngươi và ngươi sẽ đánh bại dân Ma-đi-an như một người vậy.”

Đến đây, Ghê-đê-ôn không còn thoái thác được nữa. Ông yếu đuối nhưng Chúa mạnh mẽ, ông đê hèn nhưng Chúa cao trọng, ông không có chi nhưng Chúa có mọi sự. Chúa sai ông đi, Chúa ở cùng ông là đủ. Bấy giờ trước mặt ông, dân Ma-đi-an không còn đông như một đám cào cào, mà như một người thôi.

Ghê-đê-ôn xin dâng cho sứ giả của Chúa một bữa ăn. Qua bữa ăn đó, Ghê-đê-ôn sẽ biết sứ giả nầy là ai, tiên tri hay thiên sứ và ông có thật được trọng dụng như thế không. Được chấp nhận, ông vội vã về làm thịt một con dê con, làm bánh nhỏ không men đem ra dọn trên một hòn đá. Không ngờ sự việc xảy ra quá sức tưởng tượng của Ghê-đê-ôn. Khi sứ giả đưa gậy đụng vào thịt và bánh thì từ hòn đá, lửa liền bốc lên thiêu hóa tất cả, đồng thời người cũng biến mất. Bấy giờ ông biết rằng sứ giả ấy không phải là tiên tri, cũng không là thiên sứ mà là Đức Giê-hô-va nên ông thất kinh la lên, vì chắc phải chết (Xuất 33:20).

Chúa phán: “Khá yên lòng, chớ sợ chi, ngươi sẽ không chết đâu”. Ghê-đê-ôn rất vui mừng vì biết Đấng đã phán với mình là ai, nên ông lập một bàn thờ cho Ngài tại đó để kỷ niệm sự kêu gọi của Chúa và phong chức quan xét cho ông.

Không người nào có thể phục vụ Chúa bằng chính khả năng mình, nhưng khi tất cả những khả năng dầu nhỏ đến đâu dâng lên cho Chúa như năm cái bánh và hai con cá trong tay Ngài, thì ai cũng có thể phục vụ Ngài một cách kết quả. Để chọn người, Chúa đặt một tiêu chuẩn khác thường (ICôr 1:26-28).

II. GHÊ-ĐÊ-ÔN BẮT ĐẦU CHỨC VỤ (c.25-32).

Dầu có tiên tri đến cảnh cáo nhắc nhở, dân Y-sơ-ra-ên vẫn chưa phá hủy các thần tượng mà họ đã cúng bái. Nên ngay trong đêm đó, Chúa ra lệnh cho Ghê-đê-ôn phá hủy bàn thờ Ba-anh và hình tượng Asêra của cha ông. Có lẽ là một miếu lớn do cha ông cai quản, nơi thờ phượng công cộng của những người trong thành phố. Sau khi phá hủy xong, ông phải bắt một con bò đực 7 tuổi, rồi dùng gỗ của tượng Asêra làm củi, dâng của lễ thiêu cho Chúa tại trên nơi cao đó, vì trước mặt Chúa không có thần nào khác. Đây là một hành động táo bạo và nguy hiểm, song nó nằm trong chức vụ quan xét của Ghê-đê-ôn. Ông không thể là một dũng sĩ, một quan xét Y-sơ-ra-ên để giải cứu họ, nếu ông không bắt đầu công tác này. Sự đắc thắng Ma-đi-an để giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi khổ nhục của thể xác phải bắt đầu bằng việc đắc thắng ma quỉ để giải cứu họ khỏi tội lỗi là khổ nhục của tâm hồn. Muốn giải cứu người khác khỏi quyền lực của ma quỉ và tội lỗi thì chính mình phải được giải cứu khỏi quyền lực đó. Nói một cách khác, phải tôn vinh Chúa trong đời sống, trong gia đình mình trước, nhiên hậu mới tôn vinh Ngài giữa mọi người.

Để tránh mọi trở ngại có thể xảy ra, Ghê-đê-ôn chọn 10 đầy tớ hiệp lại với mình để thi hành mạng lệnh của Chúa ngay trong một đêm. Sáng hôm sau dân chúng thức dậy sớm, ai nấy kinh ngạc, vì bàn thờ Ba-anh và tượng Asêra không còn, lại có con bò đực được dâng làm tế lễ thiêu trên bàn thờ mới. Khi tra xét và biết được Ghê-đê-ôn làm điều đó, dân trong thành đòi Giô-ách phải nộp Ghê-đê-ôn cho họ xử tử. Giô-ách đáp: Ai theo Ba-anh phải bị xử tử. Kể từ sáng hôm nay, nếu hắn là thần, hắn phải tự tranh luận lấy chứ, vì người ta đã phá dỡ bàn thờ của hắn. Trước lời cương trực và hợp lý, đoàn dân kéo nhau ra về. Thế là Ghê-đê-ôn tái lập bàn thờ Chúa trong lòng ông, trong gia đình ông và chuẩn bị tái lập bàn thờ trong xứ sở ông.

III. GHÊ-ĐÊ-ÔN CHUẨN BỊ ĐÁNH KẺ THÙ (c.33-40).

Như bao lần trước, lần này dân Ma-đi-an, dân A-ma-léc và dân đông phương hiệp lại, đem toàn lực xông vào dân Y-sơ-ra-ên và đóng trại tại Gít-rê-ên.

Việc làm của Ghê-đê-ôn đã gây tin tưởng cho dân Y-sơ-ra-ên. Ai nấy cũng hi vọng ông giải cứu dân mình. Vì vậy, khi Ghê-đê-ôn mặc lấy Thần của Chúa và thổi kèn hiệu triệu thì hết thảy mọi người đều hiệp lại với ông. Họ thấy Ba-anh là vị thần tối tôn của họ cũng chẳng làm gì được Ghê-đê-ôn, hơn nữa Thần của Chúa đã cảm động Ghê-đê-ôn, Ngài cũng dùng ông cảm động dân sự, nên họ biết ông được Chúa dùng. Vì khi Chúa kêu gọi ai phục vụ Ngài, Ngài cũng ban mọi nhu cầu cho người ấy như: ân tứ, quyền năng, nhân sự và cơ hội… Ghê-đê-ôn xin Chúa hai dấu hiệu để xác nhận Ngài đã kêu gọi ông làm quan xét đi giải cứu Y-sơ-ra-ên. Điều ấy không những làm cho ông mà làm cho toàn dân theo ông cũng vững lòng. Trong thời đại đó khải thị chưa được đầy đủ nên Chúa chấp nhận như Ngài đã hứa với Áp-ra-ham (Hê-bơ-rơ 6:13-18). Ngày nay chúng ta có toàn bộ Kinh Thánh trong tay, thiết tưởng không nên đòi hỏi như vậy.

Qua hai dấu hiệu đó, Ghê-đê-ôn tin rằng Chúa đã chọn ông làm quan xét để giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi tay kẻ thù. Kinh Thánh chép “Phàm làm điều chi không bởi đức tin thì điều đó là tội lỗi” (Rô 14:23b). “Vậy, hãy chú ý cho chắc chắn về sự Chúa kêu gọi và lựa chọn mình” (II Phi 1:10).

CÂU HỎI

1. Trong Các quan xét, hai câu nào thường được lặp lại?

2. Khi dân Y-sơ-ra-ên kêu cầu Chúa thì Ngài sai những ai đến với họ?

3. Chúa phán với Ghê-đê-ôn mấy lần? Ngài phán điều gì?

4. Khi không thể thoái thác trước sự kêu gọi của Chúa thì Ghê-đê-ôn làm gì?

5. Qua bữa ăn mà Ghê-đê-ôn dọn thì ông nhận biết sứ giả đến với ông là ai?

6. Khi bắt đầu chức vụ, Ghê-đê-ôn làm những gì? Điều này có sự dạy dỗ gì cho chúng ta?

7. Khi chuân bị đánh dân Ma-đi-an thì họ làm gì cho Ghê-đê-ôn?

8. Khi ông thổi kèn hiệu triệu thì dân chúng có thái độ nào?

9. Ghê-đê-ôn xin Chúa hai dấu hiệu nào?

10. Không ai có đủ khả năng phục vụ Chúa, vì vậy chúng ta phải làm sao?

11. Tiêu chuẩn Chúa chọn người là gì?

BÀI 18. GHÊ-ĐÊ-ÔN TIN CẬY ĐỨC CHÚA TRỜI

KINH THÁNH: Các quan xét 7:1-8:23.

CÂU GỐC: “Hãy phó thác đường lối mình cho Đức Giê-hô-va và nhờ vậy nơi Ngài thì Ngài sẽ làm thành việc ấy” (Thi 37:5).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng tin cậy và vâng lời Chúa là sức mạnh để đắc thắng mọi kẻ thù.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Tin cậy Chúa Jêsus Christ

(II Ti-mô-thê 2:1-3).

TH:

Ba trăm người của Ghê-đê-ôn

(Các quan xét 7).

TB:

Ghê-đê-ôn tin cậy Chúa

(Các quan xét 8).

TT:

Ghê-đê-ôn, con người của đức tin

(Hê-bơ-rơ 11:32-34).

TN:

Tin cậy Chúa không hề hổ thẹn

(Thi 25:1-3).

TS:

Sức lực của chúng ta nơi Chúa

(II Sa-mu-ên 22:23; Thi 29:11).

TB:

Đức Chúa Trời dùng những sự hèn mọn

(ICôr 1:26-29).

Ghê-đê-ôn đã có đủ bằng cớ để chắc chắn rằng Chúa dùng ông giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi tay người Ma-đi-an (6:36-40). Tin cậy Chúa là nền tảng của mọi sinh hoạt. “Phàm làm điều chi không bởi đức tin là tội lỗi. Vì người công bình sẽ sống bởi đức tin”.

I. TIN CẬY CHÚA, GHÊ-ĐÊ-ÔN CHIẾN THẮNG KẺ THÙ (7:1-25).

1. Kẻ thù của Ghê-đê-ôn.

Kẻ thù thấy được của Ghê-đê-ôn là 135 ngàn quân Ma-đi-an, A-ma-léc và người phương đông bủa ra như cào cào, còn lạc đà thì vô số như cát bờ biển không thể đếm được (6:33; 7:12; 8:10). Trước lực lượng quân sự hùng hậu như vậy, nếu không có đức tin nơi Chúa, Ghê-đê-ôn không thể nào dám chỉ huy một đội quân ít ỏi, chưa từng được huấn luyện, để giải cứu dân tộc mình. Nhưng ông cứ làm theo sự dẫn dắt của Chúa, cuối cùng, đạo quân đông đảo ấy bị tiêu diệt, Ghê-đê-ôn và dân sự ông chiến thắng vẻ vang. Kẻ thù không thấy được của Ghê-đê-ôn là thần Ba-anh lại đáng sợ hơn nữa. Tất cả lực lượng thấy được chỉ là công cụ trong tay kẻ thù không thấy được. “Cả thế gian đều phục dưới quyền ma quỉ” (IGiăng 5:19). Ngày nay cũng vậy, chúng ta đánh trận chẳng phải cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền, cùng thế lực, cùng vua chúa của thế gian mờ tối này, cùng các thần dữ ở các miền trên trời vậy (Ê-phê-sô 6:12).

2. Ghê-đê-ôn lựa chọn chiến sĩ (7:1-8).

Đạo quân của kẻ thù đông gấp bốn lần đạo quân của Ghê-đê-ôn. Vì vậy để chiến thắng kẻ thù, Ghê-đê-ôn phải lựa chọn chiến sĩ không theo lượng mà theo phẩm.

Đang khi Ghê-đê-ôn cần mộ thêm chiến sĩ, thì Chúa phán với ông: “Đạo binh đi theo ngươi lấy làm đông quá, Ta chẳng phó dân Ma-đi-an vào tay nó đâu, e Y-sơ-ra-ên đối cùng Ta tự khoe mà rằng: Tay tôi đã cứu tôi”. Số ít thắng số nhiều, kẻ yếu thắng người mạnh không phải là việc của người, không ai có thể nhờ sức riêng mà thắng được ma quỉ. Sự đắc thắng thuộc về Chúa. Phải tiêu trừ sự tự cao để tôn vinh Ngài trên hết.

Ghê-đê-ôn lựa chọn lần thứ nhất: “Ai là người sợ hãi, run rẩy, hãy trở về nhà”. Kẻ sợ hãi và run rẩy không phải là một chiến sĩ, kẻ đó sẽ đào ngũ, sẽ đầu hàng giặc. Tức thì có 22 ngàn người trở về, chỉ còn lại 10 ngàn người. Tín đồ hữu danh vô thực sẽ chối bỏ đức tin ngay bước đầu gặp khó khăn trên đường theo Chúa. Vị tướng lãnh của họ là Ghê-đê-ôn đã lật đổ bàn thờ thần Ba-anh nên được biệt danh là Giêrubaanh. Họ không thể theo một vị tướng lãnh như vậy, nếu họ sợ hãi, run rẩy. Vị tướng lãnh của chúng ta phán: “Các ngươi sẽ có hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng, Ta đã thắng thế gian rồi” (Giăng 16:33).

Chúa lại phán với Ghê-đê-ôn: “Dân hãy còn đông quá…” Thế là phải lựa chọn lần thứ hai. Theo mạng lệnh của Chúa, Ghê-đê-ôn dẫn đạo quân 10 ngàn người xuống dòng suối Harốt uống nước. Hễ ai quỳ gối cúi đầu uống nước như ngựa thì không kể, nhưng ai bụm nước trong tay mà đưa lên miệng mà liếm như chó thì để riêng ra. Số người bụm nước trong tay là 300. Bấy giờ Chúa phán: “Ta sẽ dùng 300 người đã liếm nước đó mà giải cứu các ngươi và Ta sẽ phó dân Ma-đi-an vào tay ngươi. Còn dân sự khác ai nấy hãy trở về nhà mình”.

Một chiến sĩ khi cần uống nước mà quỳ gối, cúi đầu, úp mặt xuống là không còn giữ tư thế của mình. Nếu kẻ thù đột ngột xuất hiện và tấn công chớp nhoáng thì không phản ứng kịp. Nhưng một chiến sĩ khi cần uống nước mà chỉ cúi xuống lấy tay bụm nước lên miệng, là giữ tư thế sẵn sàng chiến đấu. Chúa lựa chọn chiến sĩ không phải chỉ nhắm vào bộ quân phục, mà nhắm vào tư cách, tâm chí của người đó. Phao-lô khuyên: “Con chớ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa chúng ta, cũng đừng lấy sự ta vì Ngài ở tù làm xấu hổ, nhưng hãy cậy quyền phép Đức Chúa Trời mà chịu khổ với Tin Lành… Hãy cùng Ta chịu khổ như một người lính giỏi của Đức Chúa Jêsus Christ” (II Ti-mô-thê 1:8; 2:3).

3. Ghê-đê-ôn quan sát trại kẻ thù (7:9-18).

“Biết người, biết ta, trăm trận trăm thắng”. Đức tin không phải là nhắm mắt làm liều, đi bướng, song biết chắc đường nào Chúa bảo mình đi, việc chi Chúa bảo mình làm. Vì vậy Chúa bảo Ghê-đê-ôn đi quan sát trại quân Ma-đi-an. Ông lắng nghe hai người lính Ma-đi-an nói chuyện với nhau: “Nầy, tôi có một điềm chiêm bao, thấy một cái bánh nhỏ bằng bột lúa mạch nha lăn vào trại quân Ma-đi-an: Nó lăn đến một trại, đụng làm cho trại ngã, lật ngược trên lộn dưới, nên trại bị đánh đổ”. Người kia đáp: “Đó nào khác hơn là gươm của Ghê-đê-ôn… Đức Chúa Trời đã phó Ma-đi-an và cả trại quân vào tay người”. Chúa đặt ý muốn của Ngài vào miệng những người phải nói để cho Ghê-đê-ôn nghe, đạo quân 300 người của ông như cái bánh mạch nha đó. Dấu hiệu này càng chắc chắn hơn hai dấu hiệu trước mà Ghê-đê-ôn đã xin. Vậy ông cúi đầu cảm tạ Chúa, trở về trại quân Y-sơ-ra-ên thuật lại cho mọi người nghe và nói: “Hãy chỗi dậy, vì Đức Giê-hô-va đã phó dân Ma-đi-an vào tay các ngươi”. Nghe vậy, quân Y-sơ-ra-ên vô cùng phấn khởi, tinh thần lên cao tột độ, nắm chắc phần thắng trong tay, không phải vì lực lương của số đông, song được Chúa ở cùng. Bấy giờ Ghê-đê-ôn hăng hái điểm quân, chia làm ba đại đội, mỗi đại đội có 100 người, phát cho mỗi người một chiếc kèn, một cái bình không và một cái đuốc trong bình. Ông nói: “Hãy ngó ta và làm y như ta làm”. Đâu đó xong xuôi, Ghê-đê-ôn và đạo quân của ông chờ đợi ra trận. Thật ra họ chỉ đi như một cuộc du ngoạn vì không có một khí giới nào.

4. Kết quả của sự tin cậy và vâng lời (7:19-25).

Ba đại đội từ ba mặt vây trại quân Ma-đi-an vào lúc nửa đêm. Ai nấy theo lệnh của Ghê-đê-ôn, làm như ông đã làm là thổi kèn, đập bể bình để đốt đuốc, giơ cao lên và rập một tiếng lớn: “Gươm của Đức Giê-hô-va và của Ghê-đê-ôn”, rồi ai nấy cứ đứng yên một chỗ. Đạo quân Ma-đi-an sẵn có lòng sợ hãi, thình lình họ thấy đuốc sáng rực trời, nghe tiếng kèn vang dội với khẩu hiệu oai hùng, tưởng có một đạo quân đông đảo đang bủa vây mình, họ đâm hoảng hốt, hỗn loạn hàng ngũ, xem bạn là thù, họ vừa giết lẫn nhau, vừa kêu la chạy trốn.

Đây là một chiến thuật kỳ lạ và kết quả hết sức lạ lùng. Ba trăm chiến sĩ đánh tan đạo quân 135 ngàn người mà không một tấc sắt trong tay. Thật không phải đạo quân Ghê-đê-ôn thắng đạo quân Ma-đi-an, song chính Chúa đã toàn thắng cho họ. Đạo quân Ma-đi-an chỉ là công cụ của ma quỉ, còn đạo quân Ghê-đê-ôn là công cụ trong tay Ngài. Chúng ta không thể hèn nhát mà phải mạnh dạn trong Chúa để đắc thắng ma quỉ như vậy. Xưa cũng như nay, Đức Chúa Trời đã chọn những sự dại ở thế gian để làm hổ thẹn những kẻ khôn; Đức Chúa Trời đã chọn những kẻ yếu ở thế gian để làm hổ thẹn những sự mạnh (ICôr 1:27-29).

Về phương diện thuộc linh, để chiến thắng Sa-tan, giải phóng tội nhân, chúng ta phải thổi kèn Tin Lành, phải đập bình tức là tan vỡ, hầu cho ánh sáng của Chúa Jêsus chiếu ra. Trong vườn Ghết-sê-ma-nê cũng như trên thập tự giá, Chúa Jêsus đã tan vỡ cho đến chết, ánh sáng cứu rỗi mới tràn ra.

II. GHÊ-ĐÊ-ÔN BÀY TỎ LÒNG TIN CẬY CHÚA (8:1-23).

1. Sự cãi lẫy của dân Ép-ra-im (8:1-3).

Sau chiến thắng kỳ diệu và vẻ vang nầy, chi phái Ép-ra-im nặng lời công kích Ghê-đê-ôn đã không cho họ đi, vì cho rằng ông muốn dành phần vinh hiển một mình. Thật là hoàn toàn vô lý, vì việc nầy là của Chúa. Giặc ngoài vừa xong thì đến giặc trong nhà. Để dẹp yên giặc nầy, Ghê-đê-ôn nhã nhặn đáp: “Sánh với anh em tôi há làm được điều chi???” Bởi đức tin, Ghê-đê-ôn chiến thắng đạo quân Ma-đi-an, cũng bởi đức tin, ông chiến thắng sự tranh cạnh của người Ép-ra-im (Phi-líp 2:3).

2. Ghê-đê-ôn đuổi theo hai vua Ma-đi-an (8:4-21).

Đạo quân 135 ngàn đã chết 120 ngàn, chỉ còn 15 ngàn chạy theo hai vua của họ. Biết rằng nếu hai vua nầy còn, chiến tranh còn, nên ông quyết tâm tận diệt. Bởi đức tin, ông đã thành công.

3. Ghê-đê-ôn từ chối làm vua Y-sơ-ra-ên (8:22-23).

Được giải phóng, toàn dân Y-sơ-ra-ên rất cảm động, xin Ghê-đê-ôn với con cháu ông làm vua cai trị họ. Ghê-đê-ôn từ chối đáp: “Ta chẳng cai trị các ngươi, con trai ta cũng chẳng cai trị các ngươi, Đức Giê-hô-va sẽ cai trị các ngươi”. Sự kiêu ngạo là một con quái vật có một ngàn cái đầu. Nó cám dỗ Ghê-đê-ôn qua sự công kích vô lý của Ép-ra-im, qua sự chế nhạo và bạc đãi của người Sucốt. Bây giờ nó cám dỗ ông qua sự tôn vương của toàn dân Y-sơ-ra-ên. Ghê-đê-ôn đã tin cậy Chúa để chiến thắng quân Ma-đi-an, ông cũng tin cậy Chúa để chiến thắng cám dỗ mà tôn vinh một mình Chúa: “ĐỨC GIÊ-HÔ-VA SẼ CAI TRỊ CÁC NGƯƠI”.

CÂU HỎI

1. Quân số của Ma-đi-an bao nhiêu? Và của Ghê-đê-ôn bao nhiêu?

2. Thế tại sao Chúa bảo Ghê-đê-ôn bớt quân?

3. Ghê-đê-ôn phải dùng hai cách nào để lựa chọn và bớt quân?

4. Để thêm đức tin cho Ghê-đê-ôn, Chúa bảo ông làm gì?

5. Kết quả của việc đó như thế nào?

6. Khí giới của Ghê-đê-ôn cấp cho đạo quân của ông là gì?

7. Giải thích sự chiến thắng lạ lùng của Ghê-đê-ôn?

8. Sau khi chiến thắng, chi phái Ép-ra-im công kích Ghê-đê-ôn thế nào?

9. Ghê-đê-ôn giải quyết bằng cách nào?

10. Khi đuổi theo hai vua Ma-đi-an, thì dân tại Sucốt chế nhạo và bạc đãi Ghê-đê-ôn thế nào?

11. Khi toàn dân Y-sơ-ra-ên tôn Ghê-đê-ôn lên làm vua thì ông nói gì?

12. Nhờ đâu Ghê-đê-ôn đắc thắng kẻ thù bên ngoài và bên trong?

BÀI 19. SAM-SÔN – VỊ QUAN XÉT MẠNH VÀ YẾU

KINH THÁNH: Các quan xét 14-15.

CÂU GỐC: “Vậy thì, ai tưởng mình đứng, hãy giữ kẻo ngã” (ICôr 10:12).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng chính Chúa là Đấng ban cho chúng ta năng lực và Ngài muốn chúng ta dùng năng lực đó cách khôn ngoan để tôn vinh Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ ban năng lực

(Ê-phê-sô 3:16).

TH:

Sam-sôn ra đời

(Các quan xét 13).

TB:

Sam-sôn, một quan xét

(Các quan xét 14).

TT:

Sức mạnh của Sam-sôn

(Các quan xét 15).

TN:

Đấng ban năng lực

(Phi-líp 4:13; ICôr 15:10).

TS:

Đức Chúa Trời ban năng lực cho dân sự

(Phục 24:23-17; 30:17-18).

TB:

Hãy vững vàng trong Chúa

(Thi 46:1; 73:26; Ê-phê-sô 6:10).

Sau khi Ghê-đê-ôn qua đời, Chúa có dùng Thôla, Giairơ, Giépthê, Iếpsan, Êlôn, và Ápđôn làm quan xét. Nhưng dân Y-sơ-ra-ên lại sa ngã, nên Chúa phó họ vào tay dân Phi-li-tin ở bên cạnh và họ phải phục dịch trọn 40 năm. Trạng huống đau thương đó khiến cho người Y-sơ-ra-ên khao khát một quan xét sẽ giải cứu họ.

Ngày kia, thiên sứ của Chúa hiện ra với một người đàn bà son sẻ là vợ Ma-nô-a, mà bảo rằng bà sẽ thọ thai và sanh một trai. Thiên sứ bảo bà rằng ngay bây giờ hãy cẩn thận, chớ uống rượu, cũng đừng ăn vật gì chẳng sạch, vì đứa trẻ từ trong lòng mẹ sẽ làm người Na-xi-rê cho Đức Chúa Trời, về sau nó sẽ giải phóng dân Y-sơ-ra-ên khỏi tay người Phi-li-tin, dao cạo sẽ chẳng qua đầu nó. Khi bà Ma-nô-a thuật lại cho chồng, ông thiết tha xin Chúa dạy phải làm gì cho đứa trẻ sắp sanh ra. Ông bà rất run sợ trước trách nhiệm làm cha mẹ của một người Chúa sẽ trọng dụng.

Chắc ông bà Ma-nô-a cũng vui lắm, vì vốn không con mà nay được có. Con đó lại là người sẽ giải phóng dân Y-sơ-ra-ên đúng như nguyện vọng của ông bà. Vì vậy ông bà đặt tên cho con là Sam-sôn, tức là mặt trời nhỏ. Khi lớn lên, Sam-sôn được cha mẹ cho biết chương trình của Chúa đối với chàng là như vậy. Cha mẹ hết lòng chăm sóc, dạy dỗ con đúng theo luật lệ của một người Na-xi-rê (Dân 6:1-8). Việc làm của ông bà Ma-nô-a dạy chúng ta về bổn phận cha mẹ đối với con cái ngay khi chúng còn là một bào thai. Sam-sôn được Chúa ban phước, thần của Ngài cảm động chàng. Sam-sôn là người rất mạnh mẽ song cũng rất yếu đuối.

I. SỰ MẠNH MẼ CỦA SAM-SÔN.

1. Sam-sôn giết sư tử tơ (14:5,6).

Sam-sôn đi đường với cha mẹ xuống Thim-na, nhưng chàng đi trước một mình và gặp một sư tử tơ gầm thét. Thần của Chúa cảm động Sam-sôn rất mạnh nên mặc dầu trong tay không có chi, chàng xé sư tử tơ như xé một con dê con.

2. Sam-sôn giết 30 người Phi-li-tin (14:8-20).

Sau ít lâu, Sam-sôn xuống Thim-na cưới một thiếu nữ Phi-li-tin làm vợ. Đi ngang qua xác của sư tử hôm nọ, chàng thấy trong đó có ong và mật. Chàng bụm mật trong tay và ăn, cũng cho cha mẹ ăn nữa.

Tiệc cưới bày ra trong 7 ngày, có 30 thanh niên đến chúc mừng Sam-sôn, chàng ra cho họ một câu đố, hẹn trong 7 ngày nếu họ giải đáp được, chàng sẽ thưởng cho họ 30 bộ áo lễ, nếu họ không giải đáp được thì phải thưởng cho chàng 30 bộ áo lễ. Cho đến ngày thứ 7 mà 30 thanh niên đó không giải đáp được, vì sợ phải mất 30 bộ áo lễ, họ làm áp lực với vợ Sam-sôn, buộc nàng phải dụ chàng cho câu giải đáp. Cuối cùng Sam-sôn chịu thua, tỏ cho nàng câu giải đáp. Bấy giờ Thần của Chúa cảm động Sam-sôn. Chàng đi xuống Ách-ca-lôn giết 30 người Phi-li-tin, cướp áo xống của họ để thưởng cho 30 thanh niên kia. Bị vợ cám dỗ, Sam-sôn tức giận bỏ về nhà cha mẹ mình, và vợ chàng bị gả cho một người khác.

3. Sam-sôn phá ruộng lúa của người Phi-li-tin (15:1-8).

Cách ít lâu, Sam-sôn xuống Thim-na thăm vợ. Khi được biết vợ mình đã bị gả cho người khác, Sam-sôn bắt 300 chó rừng, cột đuôi 2 con chung với nhau và cột đuốc giữa 2 đuôi, đốt đuốc lên và thả chó rừng vào ruộng lúa của người Phi-li-tin. Người Phi-li-tin tức giận Sam-sôn đốt cháy cả ruộng lúa của họ nên làm hại gia đình bên vợ của chàng. Sam-sôn tức giận họ và đánh họ để báo thù.

4. Sam-sôn giết 1.000 người Phi-li-tin (15:9-17).

Người Phi-li-tin kéo quân vào địa phận người Giu-đa để tìm giết Sam-sôn. 3.000 người Giu-đa sợ hãi, đến hang đá Êtam để trói Sam-sôn, đem nộp cho dân Phi-li-tin, Sam-sôn sẵn sàng để cho họ trói, miễn là họ phải thề là không giết chàng. Họ trói Sam-sôn bằng hai sợi dây thừng mới và nộp chàng cho quân Phi-li-tin tại Lêchi.

Khi thấy Sam-sôn bị trói và nộp cho mình, quân Phi-li-tin reo hò vui vẻ. Nhưng Sam-sôn được Thần của Chúa cảm động, những dây trói chàng như chỉ gai gặp lửa, tự nhiên rơi khỏi tay chàng. Lượm một hàm lừa, Sam-sôn dùng nó đánh chết 1.000 người Phi-li-tin.

Sam-sôn không giải phóng Y-sơ-ra-ên khỏi tay người Phi-li-tin theo tư cách của một tướng lãnh có quân đội trong tay mà chỉ theo tư cách cá nhân. Vì sau 40 năm cai trị, người Phi-li-tin đã lập nhiều căn cứ trên đất Y-sơ-ra-ên để kiểm soát, nên Sam-sôn không thể tổ chức quân đội được. Ông phải tạo những cơ hội báo thù bằng đường lối du kích, nên tất cả chiến thắng của Sam-sôn chỉ lẻ tẻ từng địa phương mà không toàn diện. Sam-sôn làm quan xét 20 năm.

II. SỰ YẾU ĐUỐI CỦA SAM-SÔN.

Sức mạnh của Sam-sôn không phải là sức mạnh của một lực sĩ do dày công tập luyện mà có. Sức mạnh của Sam-sôn là sức mạnh siêu nhiên do Chúa cho, bởi Thần của Chúa cảm động. Vì chẳng có lực sĩ nào với hai tay không mà có thể xé một con sư tử tơ như xé một con dê con. Chẳng có lực sĩ nào đủ sức bứt đứt hai sợi dây thừng như một sợi chỉ gặp lửa. Chẳng có một lực sĩ nào có thể dùng một xương hàm lừa con mà đánh chết 1.000 người có khí giới trong tay.

Về phương diện thuộc linh, ngày nay chúng ta đắc thắng tội lỗi, ma quỉ, thế gian, tư dục xác thịt, không bởi sự luyện tập hay cố gắng của chúng ta mà hoàn toàn bởi Chúa Thánh Linh cảm động. Phao-lô nói: “Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi… Nhưng tôi nay là người thể nào, là nhờ ơn Đức Chúa Trời” (Phi-líp 4:13; ICôr 15:10).

“Ê-li vốn là người yếu đuối như chúng ta”, thì Sam-sôn cũng vậy.

1. Sam-sôn cưới một thiếu nữ Phi-li-tin (15:1-4).

Sam-sôn được Đức Chúa Trời kêu gọi và biệt riêng từ trong lòng mẹ để phục vụ Ngài, làm quan xét, thì hôn nhân của ông là việc quan trọng, có ảnh hưởng đến người dân trong nước. Ông viện dẫn lý do là làm điều đó để tìm dịp gây hấn với người Phi-li-tin, và cũng được Chúa cho phép, song thiết tưởng Chúa chỉ chấp nhận đường lối ông đã chọn, như người thợ mộc tìm một chỗ để đặt một khúc cây cong. Thật ra, Sam-sôn đã sống theo tư dục xác thịt vì không phải chỉ lần nầy mà về sau, có lần ông đã đến ngủ đêm nơi nhà một kỵ nữ và cuối cùng là yêu một người đàn bà Phi-li-tin để rồi ngã chết trong tay người đàn bà khốn nạn đó.

2. Sam-sôn không vâng lời cha mẹ (15:1-4).

Cha mẹ Sam-sôn ghi nhớ lời Chúa dặn, hết lòng chăm sóc, dạy dỗ Sam-sôn, hy vọng con mình sẽ là người hoàn toàn sống cho Chúa. Khi nghe con muốn cưới một thiếu nữ ngoại bang làm vợ, ông bà vội vàng khuyên con rằng trong vòng dân sự của Chúa, chẳng có thiếu nữ nào sao, mà con phải cưới một người Phi-li-tin? Lời khuyên chí lý biết bao. Nhưng Sam-sôn quả quyết: “Xin cha hãy cưới nàng đó cho con, vì nó đẹp mắt con”. Lời nói và việc làm của ông đã gây đau đớn và sỉ nhục cho cha mẹ không ít. Dầu Chúa còn dùng Sam-sôn, nhưng đây là bước thứ nhất trên đường sa sút cho đến chết.

3. Sam-sôn phạm luật người Na-xi-rê.

Không những cưới vợ là người ngoại (Xuất 34:16), Sam-sôn cũng uống rượu (Dân 6:1-3). Sam-sôn tổ chức tiệc tùng liên miên 7 ngày tại nhà cha mẹ vợ là người Phi-li-tin để thết đãi bạn bè ngoại bang, liệu ông có từ chối rượu không?

Sam-sôn được Chúa ban ân tứ đặc biệt là sức mạnh phi thường để giải phóng Y-sơ-ra-ên, song Sam-sôn đã sử dụng ân tứ đó như của riêng, theo đường lối riêng, chúng ta không thấy có lần nào Sam-sôn cầu xin Chúa dẫn dắt mình con đường phải đi, việc chi phải làm. Kinh Thánh để 3 đoạn chép về hoạt động của Sam-sôn, song chỉ thấy 2 lần ông cầu nguyện: Khi bị khát quá và khi bị móc mắt, làm trò cười cho kẻ nghịch.

Sam-sôn rất mạnh mẽ, nhưng cũng rất yếu đuối nên ông đã không sử dụng đúng mức, đúng chỗ ân tứ Chúa ban. Ông chưa giải phóng dân Y-sơ-ra-ên được vì chính ông chưa được giải cứu khỏi tư dục xác thịt.

CÂU HỎI

1. Người Na-xi-rê có nghĩa gì?

2. Chúa ban sức mạnh phi thường cho Sam-sôn để làm gì?

3. Hoạt động của Sam-sôn khác các quan xét trước như thế nào? Tại sao?

4. Sự yếu đuối của Sam-sôn là gì?

5. Tại sao ta biết Sam-sôn sử dụng ân tứ Chúa cho như là của riêng?

6. Nhờ đâu chúng ta đắc thắng tội lỗi, thế gian, ma quỉ và xác thịt?

7. Sự yếu đuối nào đã đưa Sam-sôn đến chỗ chết?

8. Ai tưởng mình đứng phải thế nào?

BÀI 20. SAM-SÔN PHÁ MIẾU ĐA-GÔN

KINH THÁNH: Quan xét 16:1-31.

CÂU GỐC: “Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy” (Ga-la-ti 6:7).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng tội lỗi rất nguy hiểm, nên phải hết sức nhờ Chúa tránh xa chừng nào tốt chừng nấy.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Chúa Jêsus che chở chúng ta khỏi điều ác

(Giăng 17:15).

TH:

Sam-sôn phá miếu Đa-gôn

(Quan xét 16:1-31).

TB:

Đấng có thể giữ chúng ta khỏi vấp phạm

(Giu-đe 24-25).

TT:

Sa-tan tìm nhược điểm của chúng ta

(I Phi-e-rơ 5:8).

TN:

Chạy trốn tội lỗi

(Châm 1:10; 4:14; Ê-phê-sô 4:26-27).

TS:

Đừng nhờ cậy sức riêng

(Châm 28:26; Ô-sê 10:13; ICôr 10:12).

TB:

Sức mạnh để chiến đấu cùng ma quỉ

(Ê-phê-sô 6:10-18).

Bài trước chúng ta đã học về sự mạnh mẽ và sự yếu đuối của Sam-sôn. Rất tiếc Sam-sôn đã không ăn năn sự yếu đuối của mình, nhưng cứ tiếp tục sống trong tình trạng đó, nên ông cũng như nhiều người, đáng thành công mà thất bại. Chiến thắng cuối cùng của ông là phá miếu thần Đa-gôn. Đời sống Sam-sôn là hình ảnh lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên. Dân Y-sơ-ra-ên được Chúa lựa chọn, biệt riêng làm một dân thánh cho Ngài. Chúa cho họ sức mạnh như Sam-sôn, có thể đắc thắng mọi kẻ thù, song họ cũng từng thất bại chua cay. Đời sống Sam-sôn là một bài học đích đáng cho mỗi chúng ta, mà ai nấy phải áp dụng cho chính mình.

I. SAM-SÔN PHẠM TỘI (16:1-9).

Phạm tội rất dễ, nhưng ăn năn rất khó. Người đã phạm tội mà không ăn năn sẽ cứ phạm tội thêm.

1. Sam-sôn đem mình vào sự cám dỗ (16:1-3).

Sam-sôn đến Ga-xa, vào nhà một kỵ nữ và qua đêm tại đó. Đây là một việc rất tệ hại, chứng tỏ ông không có tâm hồn cao thượng mà tầm thường, không có đời sống thánh khiết, mà ô uế, không tránh xa sự cám dỗ, mà đến gần, đem mình vào đó và phạm tội gớm ghê. Ông tưởng mình là quan xét mạnh mẽ, nên có quyền tự do đi đâu làm gì tuỳ ý, chẳng cần đắn đo cân nhắc, cũng chẳng cần cầu hỏi Chúa. Ông đã lầm to vì kiêu căng tự phụ.

Tại thành Ga-xa, ông bị kẻ thù bao vây suốt đêm. Họ theo dõi ông từng bước một, ông đi đâu làm gì, họ biết hết, chỉ chờ cơ hội giết ông. Nhưng sáng sớm hôm sau, ông thức dậy nắm hai cánh cửa thành và hai cây trụ, nhổ luôn lên với cây then, vác trên vai, đem lên chót núi. Ông dùng sức mạnh của Chúa ban để biểu diễn như một trò ảo thuật hầu thiên hạ xem chơi, chứ không ích gì cho đồng bào của ông. Hành động trên đây không xứng đáng cho một con cái Chúa, nhất là cho một quan xét của Y-sơ-ra-ên.

Chúa Jêsus dạy chúng ta cầu nguyện: “Xin chớ để chúng tôi bị cám dỗ”, hoặc chớ đưa chúng tôi vào sự cám dỗ. Chúng ta phải luôn luôn tránh xa sự cám dỗ: TÌNH hay TIỀN (Châm 23:27; I Ti-mô-thê 6:10-11).

2. Sam-sôn chơi giỡn với tội lỗi (16:4-20).

Sam-sôn ngày càng sa sút như một người đang đi xuống. Kế đó ông yêu một người đàn bà Phi-li-tin tên Đa-li-la tại trũng Xôréc, và ông đến ở đó. Điều nầy chứng tỏ Sam-sôn sống quá liều lĩnh, bê tha, không trang nghiêm, không đoan chánh, không kỷ luật. Lấy một người đàn bà trong vòng kẻ thù chí tử của mình để làm vợ mà trước hết không tìm hiểu tánh tình của người ấy ra sao là hết sức vô lý. Hơn nữa, cưới vợ mà không đem vợ về nhà mình, lại đến ở trong nhà vợ như trường hợp nầy là tự ý nộp mình cho sự chết.

Các quan trưởng Phi-li-tin không bỏ qua cơ hội cuối cùng, họ đem rất nhiều tiền mua chuộc Đa-li-la để nàng tìm ra bí quyết sức mạnh của Sam-sôn. Vì họ dư biết rằng sức mạnh đó không phải của riêng ông. Sam-sôn hết lòng yêu Đa-li-la, song Đa-li-la giả vờ yêu Sam-sôn, để ông bị sụp bẫy.

Mỗi ngày nàng tha thiết xin chàng nói cho nàng biết nhờ đâu chàng có sức mạnh như vậy, và làm cách nào để bắt được chàng. Chàng đáp: “Nếu người ta trói tôi bằng 7 sợi dây cung tươi và còn ướt, tôi sẽ trở nên yếu như một người khác”. Đa-li-la báo tin mừng cho người Phi-li-tin để mai phục sẵn sàng, rồi nàng dùng 7 dây cung tươi còn ướt trói Sam-sôn. Khi trói xong, Đa-li-la ra hiệu người Phi-li-tin tràn vào, nhưng Sam-sôn bứt đứt cả 7 sợi dây cung tươi như một sợi chỉ gai gặp lửa.

Sau đó Đa-li-la trách Sam-sôn đã gạt mình. Lần này, Sam-sôn nói: “Nếu người ta cột tôi bằng dây lớn mới chưa có ai dùng, tôi sẽ trở nên yếu đuối như người khác”. Đa-li-la báo tin cho người Phi-li-tin, đồng thời dùng dây như vậy trói Sam-sôn, rồi ra dấu cho họ xông vào. Nhưng Sam-sôn bứt đứt dây đó như bứt một sợi chỉ.

Đa-li-la lại trách Sam-sôn rằng: “Chàng gạt tôi hoài”. Sam-sôn nói: “Nàng cứ dệt 7 lọn tóc thắt của đầu tôi vào trong canh chỉ của nàng”. Đa-li-la làm y như lời Sam-sôn nói rồi ra hiệu cho người Phi-li-tin xông vào. Nhưng Sam-sôn chỗi dậy, nhổ con sẻ của khung cửi luôn với canh chỉ. Lần nầy Đa-li-la trách Sam-sôn là làm sao chàng nói yêu nàng vì chàng chưa nói thật? Mỗi ngày nàng cứ hỏi han trêu ghẹo, chọc tức làm Sam-sôn rối trí. Cuối cùng chàng nói: “Dao cạo chẳng hề đưa qua đầu tôi, vì từ trong lòng mẹ tôi đã là người Na-xi-rê cho Đức Chúa Trời. Nếu tôi bị cạo, sức lực tôi sẽ lìa khỏi tôi, tôi tất trở thành yếu như người khác”. Sau khi kể hết sự tình, Sam-sôn vẫn nằm trên gối của Đa-li-la mà ngủ, và nàng cho người cạo 7 mé tóc của chàng.

Sam-sôn đã coi thường ân tứ của Chúa, khinh địch, chơi giỡn với tử thần. Ông muốn khoe khoang sức mạnh của mình với người yêu để làm trò vui cho nàng. Tình yêu chân chánh mở mang lý trí, tình yêu bất chánh làm mờ lý trí. Với những người như Sam-sôn, Sa-lô-môn nói: “Vì môi kẻ dâm phụ đặt ra mật, và miệng nó dịu hơn dầu, nhưng rốt lại đắng như ngãi cứu, bén như gươm hai lưỡi. Nàng dùng lắm lời êm dịu quyến dụ hắn, làm hắn sa ngã vì lời dua nịnh của môi miệng mình. Hắn liền đi theo nàng như một con bò đến lò cạo, như kẻ ngu dại bị cùm dẫn đi chịu hình phạt” (Châm 5:3-4;7:21-22).

II. SAM-SÔN BỊ HÌNH PHẠT (20-27).

Khi đã cạo xong 7 mé tóc của Sam-sôn, Đa-li-la ra lệnh người Phi-li-tin tràn vào. Sam-sôn tưởng như những lần trước tự giải thoát được, vì chưa biết đã bị Chúa bỏ. Người Phi-li-tin bắt Sam-sôn trói lại, khoét hai mắt, đem xuống Ga-xa giam vào ngục để xay cối.

Người Phi-li-tin chỉ bắt được Sam-sôn khi ông đã bị Chúa bỏ. Một đầy tớ của Chúa, bị Chúa bỏ mà không biết, và ông không nằm trên tay Chúa, mà trên gối của Đa-li-la, ngủ mê trên gối của Đa-li-la, thức dậy trong tay kẻ thù. Con mắt thấy đàn bà Phi-li-tin, kỵ nữ Ga-xa, nàng Đa-li-la mà ham mê phải bị khoét đi.

Các quan trưởng Phi-li-tin tổ chức một cuộc họp trọng thể để dâng tế lễ cho thần Đa-gôn của họ. Vì mọi người đều cho rằng thần của họ đã phó Sam-sôn vào tay họ. Vậy họ đồng thanh la lớn: “Hãy gọi Sam-sôn để hắn làm trò vui cho chúng ta”. Bị khoét hai mắt rất đau đớn, bị xay cối trong tù rất khổ sở, song không đau đớn và khổ sở bằng bị sỉ nhục và làm sỉ nhục danh Chúa.

Ôi, một người Na-xi-rê của Đức Chúa Trời, một quan xét của Y-sơ-ra-ên, Sam-sôn bị đui mù trước khi bị khoét mắt, nên ông đã không thấy mưu thâm, kế độc của Đa-li-la. Sam-sôn làm nô lệ cho tư dục xác thịt trước khi làm nô lệ cho kẻ thù. Sam-sôn làm trò cười cho ma quỉ trước khi làm trò cười cho người Phi-li-tin. Sam-sôn có sức mạnh của một lực sĩ, song có trí não của một người thường: Có dõng, không mưu. Vì vậy, Sam-sôn không chết trong vấu của sư tử tơ, không chết trong tay của 1.000 người Phi-li-tin, mà chết trên gối của một phụ nữ.

III. SAM-SÔN ĂN NĂN (28-31).

Vì là một lễ trọng thể để ăn mừng một thành công lớn lao, nên có chừng năm, bảy ngàn người đến dự. Sam-sôn bảo đứa trẻ nắm tay mình: “Hãy buông ta, để ta rờ đến các cột đền”. Bấy giờ, Sam-sôn cầu nguyện xin Chúa nhậm lời ông chỉ một lần này. Sam-sôn vớ lấy hai cây cột cái của đền la lên: “Nguyện tôi chết chung với người Phi-li-tin”. Đền thờ Đa-gôn sụp đổ hoàn toàn. Hết thảy đều chết.

Sự đau đớn đưa Sam-sôn đến sự ăn năn, kêu cầu Chúa. Ngài đã thương xót, tha thứ và nhậm lời cầu nguyện của ông. Kinh Thánh liệt Sam-sôn vào hàng anh hùng đức tin.

CÂU HỎI

1.Vì không ăn năn nên Sam-sôn đưa mình đến đâu?

2. Sam-sôn tiếp tục phạm tội gì?

3. Sam-sôn còn làm gì tệ hại hơn nữa?

4. Người Phi-li-tin mua chuộc Đa-li-la để làm gì?

5. Thuật lại ba lần Sam-sôn dùng sức mạnh của Chúa cho để chơi giỡn?

6. Tại sao cuối cùng Sam-sôn phải nói thật hết với Đa-li-la?

7. Tại sao dân Phi-li-tin bắt được Sam-sôn?

8. Khi bắt được Sam-sôn, người Phi-li-tin làm gì?

9. Thật ra Sam-sôn đã bị khoét mắt, bị bắt làm nô lệ, bị bắt làm trò cười từ khi nào?

10. Tại sao ta biết Sam-sôn đã ăn năn?

11. Tại sao Sam-sôn chết trong trường hợp không đáng chết?

BÀI 21. RU-TƠ THEO NA-Ô-MI

KINH THÁNH: Ru-tơ 1:2-22.

CÂU GỐC: “Ngài phán cùng người rằng: Hãy theo Ta! Lê-vi bỏ hết mọi sự, đứng dậy mà theo Ngài” (Lu-ca 5:27-28).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên nhận biết Ru-tơ đã yêu mến Na-ô-mi nên hết lòng theo bà, chúng ta cũng nên bỏ mọi sự mà theo Chúa vì yêu mến Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Lê-vi theo Chúa

(Lu-ca 5:27-28).

TH:

Ru-tơ theo Na-ô-mi

(Ru-tơ 1:1-22).

TB:

Các môn đồ nhất định theo Chúa

(Giăng 6:66-69).

TT:

Đời sống làm gương

(Mat 5:16; ICôr 1:10; Tít 2:7-8).

TN:

Tất cả chúng ta phải quyết định

(Giô-suê 24:15).

TS:

Có kẻ thối lui

(Lu-ca 8:4-15;9:57-62).

TB:

Phục sự Chúa đem lại niềm vui

(Gióp 36:11; Lu-ca 18:28-30).

Về thời các quan xét, tại thành Bết-lê-hem có một gia đình gồm 4 người đang sống hạnh phúc trong Chúa. Cha là Ê-li-mê-léc, mẹ là Na-ô-mi và hai con là Mạc-lôn và Ki-li-ôn.

Một cơn đói xảy ra trong xứ, chắc vì dân Y-sơ-ra-ên đã quên Đức Chúa Trời mà hướng về thần tượng hư không, giả dối. Thay vì ăn năn, hết lòng quay về với Chúa, chờ đợi Ngài tha thứ và cứu trợ, gia đình này đã vội bỏ thành Bết-lê-hem xứ Giu-đa mà qua kiều ngụ tại xứ Mô-áp. Họ định tạm trú một vài năm cho qua cơn đói rồi trở về. Thì giờ thấm thoát họ đã ở đó 10 năm. Trong thời gian 10 năm, Ê-li-mê-léc qua đời. Hai con trai lớn lên cưới vợ người Mô-áp, rồi hai con trai cũng qua đời, chỉ còn lại bà Na-ô-mi với hai nàng dâu không chồng, không con. Cả gia đình Ê-li-mê-léc sợ chết đói, nên bỏ xứ ra đi để được sống. Tại Mô-áp họ không chết đói nhưng chết bịnh. Họ đã tính toán sai lầm.

Tổ phụ của họ là Áp-ra-ham đã được Đức Chúa Trời dẫn đến Ca-na-an để ở đó. Khi trong xứ có cơn đói kém, Áp-ra-ham đã không cầu hỏi Chúa mà vội vàng đi xuống Ê-díp-tô, nên phải gặt lấy hậu quả rất tai hại. Có lẽ Đa-vít đã căn cứ vào các thực sự ấy mà khuyên: “Hãy tin cậy Đức Giê-hô-va và làm điều lành, khá ở trong xứ và nuôi mình bằng sự thành tín của Ngài” (Thi 37:3). Không ở đâu tốt bằng chỗ Chúa đặt mình. Người ta sống không phải chỉ nhờ bánh, thì người ta chết cũng không phải tại thiếu bánh. Người ta sống cần phải nhờ Lời Chúa nữa, thì người ta chết vì thiếu Lời Chúa, thiếu chính mình Chúa.

I. LÝ DO RU-TƠ QUYẾT ĐỊNH THEO NA-Ô-MI (1:6-18).

Sống trong cảnh không chồng, không con ở xứ người, Na-ô-mi cảm thấy buồn thảm. Đồng thời nghe rằng Chúa đã thăm viếng dân Ngài, ban cho họ đầy đủ lương thực nên Na-ô-mi nhất định hồi hương. Có xứ nào tốt bằng xứ Thánh? Có đất nào phì nhiêu bằng Đất Hứa? Đói kém chẳng qua là cây roi trong tay Chúa để tỉnh thức dân Ngài, hầu đem họ đến sự ăn năn. Ra đi thì dễ, trở về rất khó. Nhưng Na-ô-mi đã trở về.

Trước khi lên đường hồi hương, Na-ô-mi suy nghĩ chín chắn về tương lai của hai nàng dâu là Ọt-ba và Ru-tơ. Được gặp lại bà con thân thuộc là những người đồng tâm tình, đồng tư tưởng, cùng thờ phượng Chúa với họ thì bà vui biết mấy, song đối với hai nàng dâu thì xa lạ, khó khăn vì nhiều khác biệt về phong tục tập quán. Vả lại nếu Na-ô-mi giàu thì họ còn được an ủi, đằng nầy bà đã mất hết. Hi vọng trần gian chẳng còn gì cả. Sau khi dẫn hai nàng dâu đi một đoạn đường, đến biên giới của Mô-áp và Giu-đa là nơi hai nàng phải quyết định dứt khoát, một lần đủ cả cho đến suốt đời, thì Na-ô-mi dừng lại, với giọng thiết tha nhưng quả quyết, bà nói: “Mỗi con hãy trở về nhà của cha mẹ mình. Nguyện Đức Giê-hô-va lấy ân huệ tốt nhất đãi hai con. Nguyện Ngài ban cho hai con được phước nơi nhà chồng mới”. Rồi bà ôm hôn hai nàng dâu. Họ khóc và nói: “Chúng con sẽ đi với mẹ đến quê hương của mẹ”. Na-ô-mi giải thích rằng: “Đi với mẹ không có hi vọng gì cho đời của hai con, vì mẹ già cả, cô đơn, nghèo khổ. Vậy đi với mẹ làm chi?”

Ọt-ba bàn với thịt và máu: Đi theo một bà già tốt thật, nhưng nghèo xác xơ, và chẳng lo chi được cho ta. Đến một nơi xa lạ sao bằng trở về nhà mình. Nghĩ vậy, Ọt-ba hôn từ biệt bà gia và quay lại với quê hương mình. Từ đó chúng ta không nghe nói gì về Ọt-ba nữa.

Ọt-ba yêu mẹ chồng vì mẹ chồng yêu nàng. Song Ọt-ba yêu mẹ chồng với mức độ thường của con người ích kỷ. Đến đây Ọt-ba thấy không có lợi mà theo mẹ chồng nữa, nên đã trở về.

Sự chia tay của Ọt-ba đem đến một thách thức lớn cho Ru-tơ. Hai nàng dâu trong một gia đình, đi cùng đi, về cùng về, vui buồn sống chết có nhau thì được an ủi biết bao. Đằng này Ọt-ba đã trở về, thêm vào đó Na-ô-mi còn thúc đẩy: “Nầy, chị con đã trở về quê hương và thần của nó, con hãy trở về theo nó đi”. Nếu đã bàn với thịt và máu, chắc Ru-tơ cũng đã trở về như Ọt-ba.

Song Ru-tơ yêu mẹ chồng với mức độ cao hơn Ọt-ba yêu, nàng muốn tận tâm, tận lực giúp đỡ mẹ chồng trong tuổi già, mặc dù nàng sẽ bị thiệt hại. Ngoài ra Ru-tơ biết Chúa, yêu mến Ngài, tin cậy Ngài. Vì vậy nàng muốn theo mẹ chồng để cứ được tôn thờ Chúa. Bởi Thần của Chúa cảm động, những lời của Ru-tơ nói với mẹ chồng là một đoản văn hết sức cao đẹp: “Xin chớ nài con phân rẽ mẹ”. Na-ô-mi cao thượng nên có một nàng dâu cao thượng. Đáng lẽ Na-ô-mi nài Ru-tơ theo mình, ngược lại bà nài Ru-tơ trở về. Ru-tơ không trở về mà nài xin được theo Na-ô-mi. Ru-tơ tiếp: “Vì mẹ đi đâu, con sẽ đi đó; mẹ ở nơi nào, con sẽ ở nơi đó. Dân sự của mẹ, tức là dân sự của con; Đức Chúa Trời của mẹ, tức là Đức Chúa Trời của con; mẹ thác nơi nào, con muốn thác và được chôn nơi đó”. Đi với mẹ, ở với mẹ, sống giữa đồng bào của mẹ, tôn thờ Đức Chúa Trời của mẹ, chết và chôn nơi nào mẹ chết và chôn. Đó là quyết định dứt khoát của Ru-tơ. Để đóng ấn cho lời cam kết của mình, Ru-tơ tiếp: “Ví bằng có sự chi khác hơn sự chết phân cách con khỏi mẹ, nguyện Đức Giê-hô-va giáng họa cho con!” Na-ô-mi không thể nói gì nữa.

II. PHƯỚC HẠNH CỦA RU-TƠ KHI THEO NA-Ô-MI (c.19-22).

Dầu đã lỡ lầm bỏ Giu-đa qua Mô-áp, thì lúc nào nơi nào, Na-ô-mi cũng giữ nếp sống đạo đức cao thượng nên bà đã cảm hóa và hướng dẫn Ru-tơ đến với Chúa. Tình yêu giữa mẹ chồng – nàng dâu của Na-ô-mi và Ru-tơ thật cao đẹp, đáng làm mẫu mực cho con cái Chúa.

Cả thành Bết-lê-hem đều cảm động, khi thấy Na-ô-mi trở về sau 10 năm đi khỏi đó. Lại gặp nhau, ai nấy mừng rỡ rối rít hỏi: “Có phải Na-ô-mi đó chăng?” Ngày nay chúng ta thường thấy quang cảnh nầy khi có một gia đình sa ngã, ăn năn trở lại với Chúa, gặp lại anh chị em mình trong Hội Thánh. Vui thật là vui.

Na-ô-mi than: “Chớ gọi tôi là Na-ô-mi nữa, hãy gọi tôi là Ma-ra, vì Chúa đã đãi tôi cách cay đắng lắm. Tôi ra đi đầy dẫy, nhưng Đức Giê-hô-va dắt tôi về tay không”. Khi Na-ô-mi ra đi, dầu tiền bạc của cải không đầy dẫy, nhưng có chồng và hai con. Bây giờ trở về, tiền bạc cũng không có, mà lại mất cả chồng lẫn con. Tuy nhiên, Na-ô-mi còn nàng dâu là niềm an ủi và hi vọng của bà.

Trở về cùng Chúa, ở nơi Chúa muốn mình ở, tương giao mật thiết với anh chị em mình là phần thưởng lớn lao rồi. Theo mẹ chồng về Bết-lê-hem, được tôn thờ Chúa, Ru-tơ có một tương lai rực rỡ mà nàng không ngờ. Nàng sẽ tái giá, con cái nàng sẽ là dòng dõi được Chúa ban phước, nàng là tổ mẫu của Đấng Cứu Thế theo phần xác. Trong gia phổ của Chúa Jêsus, có Ru-tơ (Ma-thi-ơ 1:5).

Một lần kia có nhiều môn đồ trở lui, không đi với Chúa nữa. Ngay lúc đó Chúa phán với 12 sứ đồ: “Còn các ngươi cũng muốn lui chăng?” Chúa bảo họ nếu muốn lui thì cứ lui đi. Phi-e-rơ thưa: “Lạy Chúa, chúng tôi đi theo ai? Chúa có những lời của sự sống đời đời; chúng tôi đã tin và nhận biết rằng Chúa là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời” (Giăng 6:66-69).

Chúng ta có thể thưa với Chúa như Ru-tơ nói với Na-ô-mi: “Xin chớ nài con phân rẽ Chúa, vì Chúa đi đâu, con đi đó, Chúa ở nơi nào con ở nơi đó…” Chúng ta cũng nên thưa với Chúa như Phi-e-rơ: “Lạy Chúa, chúng con đi theo ai?” Theo Chúa không tùy thời, tùy buổi, tùy giai đoạn, mà trước sau như một, dầu trời long đất lỡ cũng vậy.

Trọn đời theo Chúa, chúng ta sẽ không bao giờ hối tiếc vì Ngài ban cho chúng ta những ân huệ lạ lùng không kể xiết. Khi vào thiên đàng, chúng ta sẽ còn ngạc nhiên biết bao. Phước thay cho kẻ dám bỏ hết mọi sự để theo Chúa.

CÂU HỎI

1. Tại sao gia đình Na-ô-mi bỏ Bết-lê-hem qua Mô-áp?

2. Họ sợ gì rồi lại gặp gì?

3. Đa-vít đã khuyên thế nào?

4. Tại sao Na-ô-mi hồi hương?

5. Tại sao Na-ô-mi khuyên hai dâu ở lại xứ họ?

6. Ọt-ba nghĩ thế nào mà trở về xứ mình?

7. Ru-tơ nghĩ thế nào mà đi theo Na-ô-mi?

8. Những lời Ru-tơ nói với Na-ô-mi có ý nghĩa gì?

9. Cả thành Bết-lê-hem có thái độ nào khi thấy Na-ô-mi trở về?

10. Ơn phước Chúa dành cho Ru-tơ là gì?

11. Phi-e-rơ thưa với Chúa thế nào khi Chúa bảo ông lui đi?

12. Chúng ta phải theo Chúa thế nào cho xứng đáng?

BÀI 22. BÔ-Ô CƯỚI RU-TƠ

KINH THÁNH: Ru-tơ 2-4.

CÂU GỐC: “Vì biết rằng chẳng phải bởi vật hay hư nát như bạc hoặc vàng mà anh em đã được chuộc…, bèn là bởi huyết báu Đấng Christ” (I Phi-e-rơ 1:18-19).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên nhận biết khi chúng ta lựa chọn một cách khôn ngoan sẽ được phước lớn.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Chúa Jêsus, Đấng cứu chuộc chúng ta

(I Phi-e-rơ 1:18-19).

TH:

Sự phục vụ của Ru-tơ

(Ru-tơ 2).

TB:

Sự an nghỉ của Ru-tơ

(Ru-tơ 3).

TT:

Ru-tơ được ban thưởng

(Ru-tơ 4).

TN:

Luật lệ về sự mua chuộc

(Lê-vi 25:25-34, 47-55).

TS:

Luật lệ về sự mua chuộc

(Phục25:5-10).

TB:

Chúa cung cấp mọi nhu cầu

(Phil 4:19; IGiăng 5:14-15).

Bước đi bởi đức tin là bước đi trên con đường hạnh phúc, mặc dầu bước đầu phải gặp nhiều khó khăn. Khi Na-ô-mi và Ru-tơ về đến Bết-lê-hem, họ được mọi người chào đón niềm nở. Nhưng sau đó Ru-tơ phải tìm kế sanh nhai. Bấy giờ nhằm mùa gặt. Ru-tơ cung kính thưa với Na-ô-mi: “Xin để con đi ra ngoài ruộng đặng mót gié lúa theo sau kẻ sẵn lòng cho con mót”. Mẹ bảo: “Hỡi con, hãy đi đi”. Thật đâu có ý chí, đó có phương pháp. Ru-tơ không chút hổ thẹn, vì nàng là con người khiêm tốn, siêng năng. Không có việc nào là hèn, miễn là việc lành, chỉ có con người kiêu căng, biếng nhác mới là hèn.

I. BÔ-Ô GẶP RU-TƠ (Ru-tơ 2:1-7).

Ru-tơ chỉ biết làm trọn bổn phận con dâu nuôi mẹ chồng, hằng ngày đi mót lúa. Nàng dâu nuôi mẹ chồng khi chồng đã chết, lại không con, là việc hiếm có xưa nay. Vì vậy ai nấy trầm trồ mãi về Ru-tơ là một nàng dâu hiếu hạnh, mừng cho Na-ô-mi là một bà gia phúc đức.

Ngày nọ, đang khi Ru-tơ mót lúa, thì tình cờ Bô-ô đến thăm ruộng của mình. Bô-ô là một người quyền thế và giàu có, lại là bà con với Ê-li-mê-léc, là chồng của Na-ô-mi, mà Ru-tơ không ngờ. Sau khi Bô-ô chào mừng con gặt và được họ chào mừng lại, ông quan sát, thấy giữa vòng các con gặt có một thiếu phụ lạ mặt, nên hỏi người coi con gặt: “Người gái trẻ này là con của ai?” Đáp: “Ấy là người con gái trẻ Mô-áp, từ xứ Mô-áp trở về cùng Na-ô-mi”. Khi được nghe thuật lại về lai lịch của Ru-tơ, tư cách của nàng đối với mẹ chồng, đối với mọi người, thì Bô-ô cảm động.

Ru-tơ không hay biết chi cả. Nàng cứ thản nhiên mót lúa từ sáng đến tối. Song mọi sự đó nằm trong chương trình của Đức Chúa Trời và Ngài sắp xếp như vậy cho kẻ nào nhờ cậy Ngài.

II. BÔ-Ô YÊU RU-TƠ (2:8-3:18).

Rôbô kêu Ru-tơ lại, dặn dò nàng đừng đi nơi khác, cứ mót lúa trong ruộng của ông, chẳng ai có quyền đụng đến nàng, trái lại con gặt của ông sẵn sàng giúp đỡ nàng.

Trong đời, biết bao kẻ giàu khinh bạc người nghèo, lại còn có kẻ kỳ thị chủng tộc. Vì vậy Ru-tơ rất đỗi ngạc nhiên trước lòng ưu ái của Bô-ô. Cảm kích sâu xa, nàng cúi đầu cảm tạ và thưa: “Vì duyên cớ nào tôi được ơn trước mặt ông, đến nỗi ông đoái xem tôi, vốn là một người ngoại bang?” Bô-ô cho nàng biết rằng người ta đã thuật cho ông về lòng đạo đức của nàng đối với mẹ chồng, dầu chồng nàng đã qua đời, và nàng quyết định lìa cha mẹ, xứ sở mà đến nơi xa lạ, sống giữa một dân tộc mà nàng chưa từng biết đến để núp dưới cánh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Bô-ô cầu Chúa báo đáp cách xứng đáng và ban thưởng trọn vẹn cho nàng. Đến bữa ăn, Bô-ô mời Ru-tơ đến ăn chung với các con gặt. Ông trao cho nàng phần ăn dư dật, đến nỗi nàng chia ra và để dành, đem về cho mẹ. Bô-ô dặn con gặt phải hậu đãi Ru-tơ, giúp đỡ nàng mót được nhiều lúa. Chiều tối trở về, Ru-tơ lấy làm vui mừng thuật lại cho bà gia về lòng tử tế hiếm có của ông chủ ruộng Bô-ô. Na-ô-mi rất vui mừng thốt lên: “Nguyện Đức Giê-hô-va ban phước cho người, vì Ngài không dứt làm ơn cho kẻ sống và kẻ chết”. Na-ô-mi nói: Chúa ban ân huệ cho kẻ sống, nhưng khi họ đã chết, Ngài vẫn còn ban ân huệ cho họ qua dòng dõi đang sống của họ. Trước cảnh chết chóc của thành Giê-ru-sa-lem bị vây hãm và tàn phá, Giê-rê-mi đã nói: “Ấy là nhờ sự nhân từ Đức Giê-hô-va mà chúng ta chưa tuyệt. Vì sự thương xót của Ngài chẳng dứt; mỗi buổi sáng thì lại mới luôn, sự thành tín Ngài là lớn lắm” (Ca thương 3:22-23). Chúa sẽ làm ơn đến ngàn đời cho những kẻ yêu mến Ngài và giữ các điều răn Ngài (Xuất 20:6).

Na-ô-mi liền nói cho Ru-tơ biết rằng Bô-ô là bà con của họ, người có quyền chuộc sản nghiệp của họ. Vì vậy bà dặn Ru-tơ cứ tiếp tục mót lúa trong ruộng của Bô-ô cho đến hết mùa gặt. Khi mùa gặt đã xong, Bô-ô mở tiệc tại sân đạp lúa để khoản đãi các con gặt, trong tiệc ấy cũng có Ru-tơ. Theo lời dặn của Na-ô-mi, sau bữa tiệc, Ru-tơ vào gặp Bô-ô và hỏi: “Ông là người bà con của chồng tôi và của cha chồng tôi. Vậy ông có vui lòng vì họ mà chuộc sản nghiệp của tôi không?” Bô-ô rất cảm động, biết rằng Ru-tơ không phải như bao nhiêu phụ nữ khác, khi chồng chết thì buông tuồng sống theo ý riêng, song nàng vẫn giữ danh giá nhà chồng, sống trong luật pháp của Chúa. Vì vậy Bô-ô đáp: “Ta sẽ làm cho nàng mọi điều nàng xin, vì cả dân sự trong thành ta đều biết rằng nàng là một người đàn bà hiền đức”.

Kỳ diệu thay là ân điển của Đức Chúa Trời. Bất cứ tội nhân nào đã sanh ra và lớn lên trong sự tối tăm, vùi mình trong tội lỗi, song khi được ân điển của Chúa đụng đến, thì người ấy thay đổi hẳn để trở nên con cái thánh của Ngài, một con người tuyệt hảo. Không phải chỉ có một mình Ru-tơ mà cả dòng lịch sử nhân loại đã có vô số người như Ru-tơ. Cho đến ngày nay Đức Chúa Trời còn làm phép lạ, và phép lạ diệu kỳ hơn hết, không phải nói tiếng lạ, cũng không phải chữa bịnh, đuổi quỉ, mà là thánh hóa con người.

III. BÔ-Ô CHUỘC RU-TƠ ĐỂ LÀM VỢ (4:1-12).

Dầu Bô-ô muốn cưới Ru-tơ làm vợ, ông cũng biết còn có một người bà con gần hơn với gia đình Ê-li-mê-léc. Theo luật pháp của Chúa, thì một người đàn ông đã có vợ mà chưa có con, lại qua đời, thì người em chồng, hay người bà con gần hơn hết của người quá cố phải cưới vợ góa ấy. Đứa con đầu lòng mà nàng sanh ra sẽ nối dòng cho kẻ chết, hầu cho kẻ chết không bị tuyệt tự (Phục 27:5-10). Đó là cách Đức Chúa Trời không dứt làm ơn cho kẻ sống và kẻ chết.

Vì vậy Bô-ô đến tại cửa thành là nơi xử đoán mọi việc trong thành. Ông mời người bà con gần hơn hết của Ê-li-mê-léc đến, và xin người ấy hãy mua sản nghiệp của Na-ô-mi và mua luôn người vợ góa để nối dòng cho kẻ chết. Người ấy chối từ. Bô-ô mời 10 trưởng lão trong thành đến chứng kiến để ông mua chuộc sản nghiệp của Na-ô-mi và cưới Ru-tơ làm vợ. Hết thảy các trưởng lão đều đồng ý. Hôn nhân của Bô-ô và Ru-tơ rất cao đẹp. Họ không vội vàng, cũng không chậm trễ, nhưng bước từng bước theo sự dẫn dắt của Chúa. Dầu Bô-ô rất yêu Ru-tơ, song ông rất cẩn thận làm theo luật pháp của Chúa, chớ không dùng một thủ đoạn nào để được người yêu. Ai nấy đều vui mừng chúc phước cho đôi vợ chồng mới: “Vợ sẽ được như Lê-a và Ra-chên, chồng sẽ được cường mạnh và nổi danh tại Bết-lê-hem, dòng dõi họ sẽ được Chúa ban phước”.

Ru-tơ thọ thai sanh một trai, đặt tên Ôbết, về sau Ôbết sanh Ysai, Ysai sanh Đa-vít. Đa-vít là tổ phụ của Đấng Cứu Thế trong phần xác.

Cuộc tình duyên của Bô-ô và Ru-tơ là hình ảnh của Chúa Jêsus là tân lang và Hội Thánh là tân phụ. Chúng ta cũng như Ru-tơ, sống trong cảnh cô đơn, cơ cực giữa đồng ruộng bao la là thế gian để tìm thức ăn hàng ngày. Chúa Jêsus như Bô-ô, Đấng quyền năng vinh hiển đến tìm và gặp chúng ta. Về thân thể chúng ta như Ru-tơ, không đáng được Chúa yêu, song Ngài đã yêu chúng ta như Bô-ô yêu Ru-tơ. Bô-ô bỏ tiền ra mua chuộc sản nghiệp của Ru-tơ và cưới nàng làm vợ. Chúa Jêsus đối với chúng ta cũng vậy. Ngài mua chuộc chúng ta không phải bằng bạc hay vàng mà bằng huyết báu của Ngài đổ ra. Từ khi trở nên vợ của Bô-ô, Ru-tơ đã chấm dứt cuộc sống cô đơn, cơ cực; không còn mót từng gié lúa rơi nữa, mà bắt đầu cuộc sống phong phú quá mức tưởng tượng của nàng. Nàng đã trở thành tổ mẫu của một dòng dõi thánh, qua dòng dõi đó, Đấng Cứu Thế ra đời. Dân Do Thái biết Ru-tơ, các dân trong thế giới thuộc Cơ Đốc giáo biết Ru-tơ. Tin Chúa, chúng ta không còn cô đơn, cơ cực, song lúc nào cũng ấm áp, vui tươi, vì chính Chúa cung cấp cho chúng ta mọi nhu cầu. Chúng ta là con kế tự của Đức Chúa Trời, vợ hứa của Chúa Jêsus, thuộc về một đại gia đình bao gồm muôn dân muôn nước.

Dân Y-sơ-ra-ên rất quý trọng sách Ru-tơ. Hằng năm đến ngày lễ Ngũ tuần, cũng gọi là lễ đầu mùa, họ đọc sách Ru-tơ.

CÂU HỎI

1. Sau khi về đến Bết-lê-hem, Na-ô-mi và Ru-tơ sống cách nào?

2. Chúng ta thấy Ru-tơ là con người thế nào?

3. Cơ hội nào Bô-ô gặp Ru-tơ?

4. Bô-ô có thái độ nào đối với Ru-tơ?

6. Sau bữa tiệc khoản đãi con gặt, Ru-tơ đã xin gì với Bô-ô?

7. Tại sao Bô-ô cảm động về điều Ru-tơ xin?

8. Bô-ô hứa thế nào? Và vì lẽ gì?

9. Dầu yêu Ru-tơ, Bô-ô phải làm gì theo luật pháp dạy?

10. Hôn nhân của Bô-ô và Ru-tơ cao đẹp như thế nào?

11. Sau khi thành hôn với Bô-ô, cuộc sống của Ru-tơ ra sao?

12. Cuộc tình duyên của Bô-ô và Ru-tơ là hình ảnh về ai?

BÀI 23. LỜI CẦU NGUYỆN CỦA AN-NE ĐƯỢC NHẬM

KINH THÁNH: I Sa-mu-ên 1:1-2:10.

CÂU GỐC: “Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa, sẽ mở cho” (Mathhiơ 7:7).

MỤC ĐÍCH: Khuyến khích mọi người cầu nguyện để tôn vinh Chúa.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Chúa Jêsus nhậm lời cầu nguyện

(Giăng 13:13-14).

TH:

Sanuên ra đời

(I Sa-mu-ên 1).

TB:

An-ne ca ngợi Chúa

(I Sa-mu-ên 2).

TT:

Cầu xin việc lớn và khó

(Giê-rê-mi 33:3).

TN:

Cầu nguyện giải quyết mọi lo phiền

(Phi-líp 4:6-7).

TS:

Bước đi bởi đức tin

(Mác 11:24; Phi-líp 4:19).

TB:

Chúa ban cho chúng ta nhiều hơn điều cầu xin

(Ê-phê-sô 3:20).

Sau thời các quan xét, tại thành phố Ra-ma, có gia đình của Ên-ca-na. Ông nầy có hai người vợ, có lẽ vì An-ne son sẻ nên ông lấy vợ bé là Phênia để có con. Hằng năm họ đến Silô là nơi đặt đền tạm của Đức Chúa Trời để thờ phượng. Như người ta thường nói: “Không có nhà nào rộng đủ cho hai người vợ”, thì gia đình của những người như Áp-ra-ham, Ên-ca-na, luôn có sự xung đột giữa hai người vợ, nhất là vợ lớn không có con mà vợ nhỏ lại có con. Dầu An-ne được chồng yêu quý, hậu đãi, nhưng bị vợ bé của chồng ghen tương, chọc tức. Theo phong tục của người Do Thái, người đàn bà không có con là một sự sỉ nhục, là dấu hiệu của sự rủa sả, và người có con lấy làm hãnh diện kể mình vẫn sống trong hậu duệ của mình.

Cuộc xung đột hàng ngày kéo dài cho đến một ngày kia, khi cả gia đình đến Silô thờ phượng, thì An-ne không chịu được nữa, nên khi cả gia đình ai nấy ăn uống vui vẻ thì nàng chỉ khóc và một mình bước vào đền thờ, quỳ xuống và cầu nguyện. Nàng không thể nói với ai, vì ngay chồng nàng cũng chẳng hiểu nàng nên buông lời trách móc: “Hỡi An-ne sao nàng khóc, ta há chẳng đáng cho nàng hơn 10 con trai sao?” Phước thay An-ne biết Chúa và biết cầu nguyện.

I. CƠ HỘI AN-NE CẦU NGUYỆN.

Cũng như An-ne, người không biết Chúa chắc đã phải điên cuồng và tự tử, nhưng với An-ne đây là cơ hội đưa nàng đến với Đức Chúa Trời qua lời cầu nguyện, chỉ có nơi chân Chúa nàng được dốc đổ lòng mình ra, tức là giãi bày tâm sự cùng Ngài để vơi bớt được nỗi đau đớn, tìm được an ủi, niềm tin, hi vọng. Tiên tri Ê-li đã từng sống trong cảnh bi đát vì vua A-háp bỏ Chúa, thờ lạy tà thần, Giê-sa-bên bắt bớ các tiên tri, dân chúng đi hàng hai. Kinh Thánh chép: “Ê-li vốn là người yếu đuối như chúng ta, người cầu nguyện” (Gia-cơ 5:17). Tại vườn Ghết-sê-ma-nê, Chúa Jêsus đã phán: “Linh hồn ta buồn bực cho đến chết”. Rồi Ngài sấp mình xuống đất mà cầu nguyện và có một thiên sứ từ trời hiện xuống để thêm sức cho Ngài.

Trong gia đình hay Hội Thánh không tránh khỏi những bất trắc xảy ra như trường hợp của An-ne và Ê-li. Chúng ta không nãn lòng, không thất vọng vì có một lối thoát hữu hiệu nhất trần gian xưa nay là CẦU NGUYỆN. Đau khổ là cơ hội đưa chúng ta đến gần Chúa hơn và được giải cứu: “Trong anh em có ai chịu đau khổ chăng? Người ấy hãy cầu nguyện” (Gia-cơ 5:13).

II. MỤC ĐÍCH AN-NE CẦU NGUYỆN.

Đọc lời cầu nguyện của An-ne, chúng ta cảm thấy nỗi đau đớn của bà, không phải vì gia đình mà thôi, song cũng vì dân Chúa nữa. Bấy giờ, tình trạng trong xã hội rất hỗn độn: “Lúc đó, không có vua trong Y-sơ-ra-ên, ai nấy làm theo ý mình lấy làm phải” (Quan 21:25). Tình trạng tôn gíao rất tối tăm. Hai thầy tế lễ Hóp-ni và Phi-nê-a là người gian tà, chẳng nhận biết Đức Giê-hô-va, gây cho dân chúng vấp phạm (I Sa-mu-ên 2:12-17). Ngay khi An-ne cầu nguyện trong đền thờ, thầy tế lễ Hê-li tưởng bà say rượu, có nghĩa là ông đã từng thấy có người say rượu trong đền thờ. Vì vậy, An-ne vừa cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va vừa tuôn tràn giọt lệ xin Chúa cho bà một con trai. Bà sẽ dâng nó trọn đời cho Chúa và dao cạo sẽ chẳng qua đầu nó. Con trai đó sẽ là người Na-xi-rê. An-ne có một hoài bão lớn, bao hàm nhu cầu của cả gia đình, xã hội Y-sơ-ra-ên cũng là Hội Thánh của Chúa. Vậy khi Chúa ban cho bà Sa-mu-ên là để đáp ứng cho tất cả nhu cầu đó, Sa-mu-ên là một quan xét (Công vụ 13:20), một tiên tri (Công vụ 3:24) kiêm cả chức tế lễ (I Sa-mu-ên 13:8-13).

Tóm lại một lời, An-ne cầu nguyện với một mục đích vô cùng cao đẹp, không phải chỉ nghĩ về mình, song cũng nghĩ về Hội Thánh Chúa và dân sự của Ngài. Đó là lý do khiến lời cầu nguyện của bà được nhậm.

Lời cầu nguyện của chúng ta cũng có thể còn nhuộm màu tư kỷ: Cho cá nhân mình, cho gia đình mình, cho chi hội mình. Xin Chúa mở rộng phạm vi khải tượng của chúng ta, để chúng ta thấy nhu cầu lớn lao của mọi người mà cầu nguyện. Hội Thánh của Chúa không phải chỉ tại Việt nam mà còn tại các nước trên thế giới mà chúng ta gọi đó là Hội Thánh phổ thông.

Phao-lô đã bảo chúng ta cầu nguyện cho các vua, các bậc cầm quyền (I Ti-mô-thê 2:2), cho mục sư, truyền đạo, cho các giáo hữu, cho đồng bào, cho những kẻ bắt bớ mình (Ma-thi-ơ 5:44; Lu-ca 6:27-28). Chúng ta cầu nguyện cho danh Chúa được tôn thánh, nước Chúa được đến, ý Chúa được nên, cuộc giảng Tin Lành cho thế giới được mở rộng, và nhiều người được cứu rỗi, cho Hội Thánh được phục hưng, ai nấy đều phục vụ Chúa như Sa-mu-ên.

III. CHÚA BAN CHO AN-NE HƠN ĐIỀU BÀ CẦU XIN.

Bà phủ phục nơi chân Chúa, giãi bày tâm sự cùng Ngài với mục đích cao đẹp. Chúa cho bà biết Ngài đã nhậm lời của bà. Cầu nguyện xong, bà đứng dậy, lòng không còn âu sầu nữa mà tràn ngập niềm vui, bà trở ra ăn uống như thường. Đó là lời cầu xin bởi đức tin, cầu nguyện trong Thần của Chúa, dầu cầu nguyện không ra tiếng, người bên cạnh không thể nghe, nhưng Đức Chúa Trời nghe rõ mồn một.

Khi An-ne thọ thai, bà sanh một con trai, bà biết chắc đây là kết quả của lời cầu nguyện, nên bà đặt tên con trai đó là Sa-mu-ên, nghĩa là Đức Chúa Trời nhậm. Biết Đức Chúa Trời đã nhậm, bà theo sự hứa nguyện của mình dâng con trai đó cho Chúa. Một bà đã lớn tuổi mới sanh được một con trai, ắt sẽ xem nó như vàng, như ngọc. Dầu vậy, sau khi dứt sữa, độ 3-5 tuổi, An-ne đem con trai mình đến đền thờ ở luôn tại đó hầu cho con tập tành hầu việc Chúa. Chúng ta không thể dâng cho Chúa những gì thừa thải, nhỏ mọn của mình, nhưng phải dâng điều tốt nhất, quý nhất, như Áp-ra-ham dâng Y-sác, như An-ne dâng Sa-mu-ên. An-ne không tiếc chi với Chúa, bà biết rằng con mình được Chúa dùng là phước vô cùng.

Dâng cho Chúa không mất mát, không thiệt thòi, lòng yêu Chúa bao giờ cũng được thưởng (Hê-bơ-rơ 6:10). Sau khi An-ne đem con mình là Sa-mu-ên vào đền thờ, Chúa ban thêm cho bà 3 con trai và 2 con gái (I Sa-mu-ên 2:21). Đó là điều bà chưa xin, song Chúa đã cho vì biết nhu cầu của bà. Bà dâng 1, Chúa cho 5.

IV. AN-NE CẢM TẠ CHÚA.

Chúng ta xin ơn thì thiết tha, được ơn thì vui mừng, song biết ơn thì rất khó vì chúng ta hay quên. Chúng ta lòng dặn lòng đừng quên ơn Chúa (Thi thiên 103:1-2).

Để cảm tạ Chúa, An-ne dẫn Sa-mu-ên vào đền thờ, đem theo một lễ vật xứng đáng. Trước mặt thầy tế lễ Hê-li và mọi người, An-ne làm chứng lại thế nào trước đây bà đã cầu nguyện, Chúa đã nhậm lời, bây giờ bà hoàn nguyện. Sau hết, bà chúc tạ Đức Chúa Trời về đức thánh khiết, nhân từ, về công việc diệu kỳ, về quyền năng tể trị của Ngài để thực hiện chương trình cứu rỗi thế gian.

Qua bài học nầy, chúng ta thấy người công bình luôn luôn sống bởi đức tin, không lệ thuộc hoàn cảnh mà chinh phục hoàn cảnh, vì biết rằng Cha mình đang tể trị trời đất và khiến mọi vật hiệp lại làm ích cho mọi người. Người đó không thấy khó khăn trong cơ hội mà thấy cơ hội trong khó khăn, đó là người không tùy thời, tùy buổi, tùy giai đoạn mà theo Chúa luôn luôn. Người công bình lấy lòng sốt sắng cầu nguyện, thật có linh nghiệm nhiều.

Hội Thánh rất cần những bà mẹ như An-ne để có những người con như Sa-mu-ên hầu cứu vãn mọi tình trạng nguy ngập trong Hội Thánh và chứng minh Đức Chúa Trời hằng hữu cho thế giới.

CÂU HỎI

1. Gia đình của Ên-ca-na thế nào?

2. Tâm trạng của An-ne ra sao?

3. Trong hoàn cảnh khó khăn, An-ne đã làm gì?

4. An-ne xin gì nơi Chúa? Với mục đích gì?

5. Bà An-ne có lòng thế nào sau khi cầu nguyện? Tại sao?

6. Chúng ta phải cầu nguyện cho ai?

7. Tại sao bà An-ne đặt tên cho con mình là Sa-mu-ên?

8. Tại sao chúng ta biết Chúa ban Sa-mu-ên để đáp ứng nhu cầu cho Y-sơ-ra-ên?

9. An-ne đã hoàn nguyện như thế nào?

10. Chúa ban thưởng gì cho An-ne?

11. Chúng ta sẽ dâng gì cho Chúa?

12. Nhu cầu của Hội Thánh trải qua các đời là gì?

BÀI 24. ĐỨC CHÚA TRỜI PHÁN CÙNG SA-MU-ÊN

KINH THÁNH: I Sa-mu-ên 3:1-21.

CÂU GỐC: “Người nói cùng Sa-mu-ên rằng: Hãy đi ngủ đi, và nếu có ai gọi con, con hãy nói: Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy phán, kẻ tôi tớ Ngài đương nghe!” (I Sa-mu-ên 3:9).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng Đức Chúa Trời vẫn còn phán dạy chúng ta qua Kinh Thánh nếu chúng ta sẵn sàng lắng nghe và làm theo.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ phán cùng chúng ta

(Giăng 12:26).

TH:

Đức Giê-hô-va phán

(I Sa-mu-ên 3:1-21).

TB:

Đức Chúa Trời phán cùng chúng ta

(Rô-ma 10:15-17).

TT:

Hãy nghe lời phán của Chúa

(Lu-ca 12:32; Giăng 14:26; 16:13).

TN:

Chúa tôn vinh kẻ phục vụ Ngài

(Giăng 4:36; 12:26).

TS:

Phục vụ Chúa

(Ê-phê-sô 6:7-8).

TB:

Tìm kiếm Đức Chúa Trời

(I Sa-mu-ên 16:10-12).

Từ khi được mẹ đem lên đền thờ để ở tại đó, cậu bé Sa-mu-ên bắt đầu phục vụ Đức Chúa Trời trước mặt thầy tế lễ Hê-li. Cậu chưa làm được việc gì lớn lao ngoài ra đóng và mở cửa, quét dọn đền thờ cho sạch sẽ, lau chùi sắp xếp mọi vật một cách tươm tất. Kinh Thánh 4 lần lặp lại “Sa-mu-ên phục sự Chúa” (I Sa-mu-ên 2:11,18,16; 3:1). Đồng thời chắc cậu cũng học đọc, học viết để biết Lời Chúa qua Ngũ kinh Môi-se.

Bấy giờ Lời của Đức Chúa Trời lấy làm hiếm hoi và sự hiện thấy cũng chẳng năng có, chẳng phải tại Chúa không muốn phán hay chẳng muốn bày tỏ, song tại chẳng có người muốn nghe, muốn thấy. Hê-li đã quá già với tuổi 98, không còn đủ sức thi hành nhiệm vụ nên đã hồi hưu, hai con trai ông làm thầy tế lễ theo luật cha truyền con nối, nhưng họ lại quá bất kính, bất nghĩa, vô tín. Họ là những người có nhiệm vụ nhận mạng lệnh của Chúa để truyền lại cho dân chúng, song họ chẳng sẵn sàng chút nào. Vì vậy Chúa phải chờ đợi và tìm kiếm một người và người đó là cậu bé Sa-mu-ên: “Còn gã trai trẻ Sa-mu-ên cứ lớn lên, Đức Giê-hô-va và người ta đều lấy làm đẹp lòng người”. Ấy là về Sa-mu-ên mà Chúa đã phán: “Ta sẽ lập cho Ta một thầy tế lễ trung tín, người sẽ làm theo lòng và ý Ta” (I Sa-mu-ên 2:26-35).

I. SA-MU-ÊN NGHE TIẾNG CHÚA (3:1-10).

Như thường lệ, Sa-mu-ên ngủ trong đền thờ, nơi có hòm giao ước của Chúa. Thình lình Sa-mu-ên nghe gọi tên mình, cậu tưởng Hê-li gọi nên vội vàng chỗi dậy đến bên cạnh Hê-li mà thưa: “Có con đây”. Hê-li bảo: “Ta không kêu, hãy đi ngủ lại đi”. Cậu bé vừa nằm xuống lại nghe tiếng gọi: “Hỡi Sa-mu-ên”. Cậu bé vội vàng chạy đến Hê-li và thưa: “Có con đây, ông đã kêu con”. Hê-li đáp: “Hỡi con, ta không kêu”. Sa-mu-ên vừa nằm xuống lại có tiếng gọi lần thứ ba, cậu chỗi dậy chạy đến Hê-li như hai lần kia và thưa: “Có con đây”. Bấy giờ Hê-li hiểu Đức Giê-hô-va gọi Sa-mu-ên nên bảo: “Hãy đi ngủ lại đi và nếu có ai gọi con, hãy thưa: Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy phán, kẻ tôi tớ Ngài đương nghe”. Trở lại giường và nằm xuống, Sa-mu-ên nghe: “Hỡi Sa-mu-ên, hỡi Sa-mu-ên…” Sa-mu-ên thưa: “Xin hãy phán, kẻ tôi tớ Ngài đương nghe”.

Trên đây là câu chuyện tuyệt đẹp về một cậu bé hoàn toàn vâng phục người trưởng thượng. Nếu không vâng phục như vậy, Sa-mu-ên đã mất cơ hội vô cùng quý báu là nghe Chúa phán cùng mình. Đức tính tốt nhất của trẻ con là biết vâng phục hoàn toàn người lớn, đức tính tốt nhất của đầy tớ Chúa là hoàn toàn vâng phục Ngài. Không ai có thể làm một đầy tớ mà không vâng phục. Vì tinh thần vâng phục đó, Sa-mu-ên nghe được tiếng Chúa, được biết mạng lệnh của Ngài. Chúa không thể phán với ai, nếu người đó không sẵn sàng vâng phục.

Ngày nay khác ngày xưa về điểm nầy, trong thời Sa-mu-ên chỉ có Ngũ kinh của Môi-se, Chúa phải dùng chiêm bao, dị tượng, hoặc hiện ra bằng một thiên sứ hay trực tiếp phán dạy một người rồi người đó truyền lại mạng lệnh Ngài cho dân chúng. Ngày nay, chúng ta có toàn bộ Kinh Thánh là sự khải thị trọn vẹn và đầy đủ của Chúa, nên Ngài chỉ phán với chúng ta qua Kinh Thánh. Chúng ta không thể nào nghe được tiếng Ngài nếu chúng ta không chịu đọc và suy gẫm Kinh Thánh. Chúa Thánh Linh dùng Kinh Thánh khi chúng ta đọc và suy gẫm mà dạy dỗ, nhắc nhở, dẫn dắt chúng ta (Giăng 14:26; 16:13).

“Sa-mu-ên thơ ấu phục vụ Đức Giê-hô-va”. Không phải đợi đến lúc tráng niên lão thành rồi mới phục vụ Chúa như dâng cho Ngài đóa hoa tàn tạ, nhưng ai nấy có thể phục vụ Ngài không cứ lúc nào, ngay từ buổi thơ ấu lại càng quý. Chúa cần mỗi người chúng ta, Chúa có việc làm dành cho nhiều lứa tuổi. Khi Chúa Jêsus vào thành Giê-ru-sa-lem lần cuối cùng để ứng nghiệm lời dự ngôn của tiên tri Xa-cha-ri, Ngài cần một con lừa con chưa có ai cỡi (Mác 11:2). Chúa hóa bánh để nuôi đoàn dân 5.000 người thì có một cậu bé dâng cho Ngài 5 cái bánh mạch nha và 2 con cá là phần ăn của cậu (Giăng 6:9). Ápđia kính sợ Đức Giê-hô-va ngay từ khi thơ ấu nên đã can đảm giấu 100 tiên tri trong hang đá, dùng bánh và nước để nuôi họ (ICác 18:12-13). Giê-rê-mi nói: “Thật tốt cho người mang ách lúc trẻ thơ” (Giê-rê-mi 3:27). Phục vụ Chúa ngay từ lúc thơ ấu là tốt nhất, khỏi phí thì giờ quý báu đó. Sa-lô-môn nói: “Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo” là dạy nó phục vụ Chúa. Nhờ phục vụ Chúa ngay khi còn thơ ấu nên Sa-mu-ên đã sớm trở thành người quan trọng, lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên trong giai đoạn cực kỳ đen tối.

II. SA-MU-ÊN THUẬT LẠI MẠNG LỆNH CỦA CHÚA (3:11-18).

Những lời Chúa phán với Sa-mu-ên rất vắn tắt, song rất quan trọng về tương lai của gia đình và dòng dõi của Hê-li (11-14). Chúng ta thật khó hiểu làm sao hai con trai của Hê-li ăn ở quá gian ác, dám xúc phạm đến Chúa như vậy (2:12-17). Mặc dù Hê-li có kêu hai con trai lại quở trách, song quá trễ. Sự việc tệ hại đến mức không còn sửa chữa được nữa, vì họ không nghe lời của cha mình (2:22-25). Vả lại Hê-li quở trách chưa đủ, nên sau đó Chúa phải dùng một người của Ngài để cảnh cáo và lên án Hê-li cùng hai con trai ông một cách khủng khiếp (2:27-36): “Ngươi kính trọng các con trai ngươi hơn ta”. Khi Chúa truyền mạng lệnh Ngài cho Sa-mu-ên cũng có câu: “Ta sẽ báo trước, Ta sẽ đoán xét nhà người đời đời, vì người đã biết tánh nết quái gỡ của con trai mình mà không cấm”.

Qua các lời trên đây, ta thấy tính nết quái gỡ của các con trai Hê-li đã phát sinh ngay từ khi còn nhỏ, nhưng ông đã nuông chìu họ, không kịp thời chận đứng, cuối cùng họ đã trở thành những người quái gỡ thì lời khiển trách của ông không còn hiệu lực nữa, chỉ còn đợi hậu quả khốn nạn dành cho họ mà thôi. Tội ác của họ không có tế lễ nào chuộc được, vì chính họ khinh bỉ và chà đạp chức tế lễ. Ai nghe đến hình phạt đó cũng lùng bùng lỗ tai.

Cha mẹ không dạy con cái kịp thời lúc chúng nó còn trẻ thơ, để khi chúng vùi mình trong tội lỗi, phạm tội gian ác gớm ghê, thì cha mẹ phải chịu trách nhiệm. Lúc đó, nỗi đau đớn của cha mẹ không những thấy con mình bại hoại mà danh Chúa còn bị sỉ nhục.

Sáng hôm sau, như thường lệ, Sa-mu-ên mở các cửa trong đền thờ, nhưng không dám truyền lệnh của Chúa cho Hê-li. Vì một cụ già 98 tuổi (4:15) có thể ngã chết khi nghe tin chẳng lành đó. Tuy nhiên, khi Hê-li hỏi đến, Sa-mu-ên phải truyền lại một cách trung thực: “Sa-mu-ên bèn thuật lại hết, chẳng giấu gì với người”.

III. CHÚA TIẾP TỤC PHÁN CÙNG SA-MU-ÊN (3:19-21).

“Sa-mu-ên khôn lớn”, câu này được lặp lại 3 lần (2:21,26; 3:19) là muốn nhấn mạnh về phương diện thuộc linh lẫn thuộc thể. Chúa cứ tiếp tục hiện ra với Sa-mu-ên, bày tỏ lời Ngài cho ông, làm cho mỗi lời ông nhân danh Chúa nói ra, không có lời nào hư không mà thảy đều ứng nghiệm. Toàn thể dân Y-sơ-ra-ên đều nhận biết rằng Đức Chúa Trời đã lập Sa-mu-ên làm tiên tri (9:6). Thiết tưởng dân Y-sơ-ra-ên vui mừng biết bao vì có một nhà lãnh đạo như Sa-mu-ên, ông đã tôn vinh Chúa nên Ngài làm cho ông được tôn vinh.

Sa-mu-ên sanh ra giữa xã hội đen tối, lớn lên trong khung cảnh hung ác, nhưng Sa-mu-ên có đời sống kính sợ Chúa nên đời sống ông như ngôi sao sáng chói giữa đêm trường tối mịt, như hoa sen tươi thắm ngọt ngào giữa vũng lầy. Sa-mu-ên là ngọn đèn chưa tắt duy nhất trong đền thờ Đức Chúa Trời (I Sa-mu-ên 3:3).

Cha mẹ không thể nào kêu con vào chức vụ, mục sư, truyền đạo không thể nào kêu tín hữu vào chức vụ. Đừng ai chạy đến với họ, nhưng hãy chạy đến với Chúa như Sa-mu-ên nói với Chúa: “Xin hãy phán kẻ tôi tớ Ngài đương nghe”. Cha mẹ, mục sư, truyền đạo chỉ là công cụ trong tay Chúa mà thôi. Hãy lắng nghe tiếng Chúa. Hãy truyền lại mạng lệnh Ngài một cách trung thực. Chúa sẽ chẳng để một lời nào của Ngài ra vô ích đâu.

CÂU HỎI

1. Cậu bé Sa-mu-ên phục vụ Chúa là làm gì?

2. Tại sao lúc bấy giờ Lời Chúa rất hiếm hoi và sự hiện thấy chẳng năng có?

3. Tại sao chúng ta biết Sa-mu-ên sẵn sàng phục vụ Chúa?

4. Tại sao ngày nay Chúa không dùng chiêm bao, dị tượng hoặc hiện ra bằng thiên sứ để phán dạy chúng ta?

5. Chúng ta phải làm gì để được nghe tiếng Chúa?

6. Chúng ta phải phục vụ Chúa lúc nào?

7. Tại sao hai con trai của Hê-li ăn ở quá gian ác?

8. Sự hình phạt dành cho họ như thế nào?

9. Tại sao Sa-mu-ên không dám thuật lại mạng lệnh Chúa cho Hê-li?

10. Hê-li hỏi thì Sa-mu-ên đã trả lời làm sao?

11. Chúa dùng Sa-mu-ên làm gì?

12. Bài học nầy dạy thế nào về bổn phận làm cha mẹ?

BÀI 25. HÒM GIAO ƯỚC BỊ CƯỚP

KINH THÁNH: I Sa-mu-ên đoạn 4,5,6.

CÂU GỐC: “Hãy hết lòng tin cậy Đức Giê-hô-va, chớ nương cậy nơi sự thông sáng của con; phàm trong các việc làm của con, khá nhận biết Ngài, thì Ngài sẽ chỉ dẫn các nẽo của con” (Châm ngôn 3:5-6).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên nhận biết không vâng lời là một tội nặng. Dân Y-sơ-ra-ên và cả nhân loại mất phước vì tội đó.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Vâng phục Chúa Jêsus Christ

(Giăng 14:12-15).

TH:

Hòm giao ước bị cướp

(I Sa-mu-ên đoạn 4).

TB:

Hòm giao ước là sự rủa sả cho kẻ thù

(I Sa-mu-ên đoạn 5).

TT:

Hòm giao ước được trở về

(I Sa-mu-ên đoạn 6).

TN:

Hòm giao ước đặt sai chỗ

(Xuất 26:33-34, Dân 4:15).

TS:

Tìm kiếm sự dẫn dắt của Chúa

(Thi 37:3-5; Phi-líp 4:6).

TB:

Tin cậy Chúa

(Ê-sai 26:1-4).

Hậu qủa của tội lỗi thật rùng rợn mà kẻ gieo ra tội lỗi không thể nào tránh khỏi. Thầy tế lễ Hê-li đã phạm tội, hai con ông cũng đã phạm tội, dân Y-sơ-ra-ên đã phạm tội và bây giờ họ phải chuốc lấy cho mình sự hình phạt đích đáng.

I. DÂN Y-SƠ-RA-ÊN LÀM MẤT HÒM GIAO ƯỚC (I Sa-mu-ên đoạn 4).

Bấy lâu, dân Phi-li-tin ở yên, không dám đến địa phận Y-sơ-ra-ên. Bây giờ, họ dàn trận đánh Y-sơ-ra-ên. Mỗi khi Y-sơ-ra-ên phạm tội, Chúa dấy các dân tộc chung quanh làm cái roi để sửa trị họ (Ê-sai 10:5). Ngay trận đầu, quân Y-sơ-ra-ên đã thất bại và bốn ngàn người bị giết.

Thay vì hạ mình ăn năn trước mặt Chúa như Giô-suê và các trưởng lão thời xưa đã làm, thì họ lại không ăn năn (Giô-suê 7:6-7). Các trưởng lão Y-sơ-ra-ên hỏi: “Cớ sao ngày nay Đức Giê-hô-va để cho dân Phi-li-tin đánh bại chúng ta?” Họ phàn nàn, cãi lẫy với Chúa một cách vô lễ. Họ nhớ lại khi Môi-se làm đền tạm tại núi Si-na-i và bắt đầu di chuyển về hướng Ca-na-an, thì ông nói rằng: “Hỡi Đức Giê-hô-va, xin chỗi dậy, để kẻ thù nghịch Ngài bị tản lạc và kẻ nào ghét Ngài chạy trốn trước mặt Ngài” (Dân 10:35). Khi những thầy tế lễ khiêng hòm giao ước của Đức Giê-hô-va đi vòng quanh thành Giê-ri-cô 7 ngày thì cuối cùng, thành ấy bị sụp đổ hoàn toàn, song họ đã quên rằng dân Y-sơ-ra-ên bị thất bại khi A-can phạm tội.

Vì vậy các quan trưởng Y-sơ-ra-ên quyết định: “Chúng ta hãy đi thỉnh hòm giao ước của Đức Giê-hô-va tại Silô, phải đem hòm đó về giữa chúng ta, nó ắt sẽ giải cứu chúng ta khỏi tay kẻ thù nghịch chúng ta”. Họ không muốn đứng với Đức Chúa Trời trong sự thánh khiết mà muốn kéo Ngài đứng với họ trong tội lỗi và buộc Ngài phải giải cứu họ. Họ tối tăm đến nỗi khi thỉnh hòm giao ước tại Silô, họ cũng mời hai con trai của Hê-li là Hóp-ni và Phi-nê-a đi theo. Hai người đó ăn ở như thế nào họ đã biết. Vì quá tin cậy vào hòm giao ước mà không tin cậy vào chính mình Chúa, nên các trưởng lão không một lời cầu hỏi Ngài qua tiên tri Sa-mu-ên, người đang có mặt ở giữa họ.

Khi hòm giao ước vào trại quân, dân Y-sơ-ra-ên reo mừng rúng đất, vì tin rằng hòm giao ước sẽ giúp họ đắc thắng kẻ thù. Còn dân Phi-li-tin thì kinh hồn khiếp vía, vì họ đã từng nghe về hòm giao ước của Đức Chúa Trời. Nhưng lần này kết quả trái ngược, vì có hòm giao ước mà không có sự hiện diện của Chúa nên:

– Ba vạn người Y-sơ-ra-ên tử trận.

– Hóp-ni và Phi-nê-a bị giết.

– Hòm giao ước bị dân Phi-li-tin cướp đoạt.

Nghe tin ấy:

– Hê-li ngã lăn ra chết.

– Sanh con xong, vợ của Phi-nê-a cũng chết.

Các trưởng lão đã nhận định sai lầm về hòm giao ước:

Hòm giao ước làm tượng trưng về sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Hòm giao ước là một vật được Chúa dùng, nó chỉ có giá trị khi Chúa ngự trị tại đó, như bụi gai cháy mà Môi-se đã thấy. Có hòm giao ước mà không có Chúa thì trống rỗng như một trái có vỏ mà không có ruột. Khi người Y-sơ-ra-ên dùng chiên con làm tế lễ, đức tin họ phải hướng về Cứu Chúa sẽ chịu chết đền tội cho họ mà chiên con đó làm tượng trưng. Nếu không có đức tin như vậy, sinh mạng một con chiên không có giá trị gì để đền tội cho ai cả (Thi 50:8-13). Lễ cắt bì của dân Y-sơ-ra-ên rất quan trọng vì nó là dấu hiệu của sự giao ước Chúa lập với họ (Sáng 17:9-14), trong đó chứa đựng ý nghĩa thuộc linh về sự biệt riêng ra thánh cho Chúa để làm dân Ngài (Phục 10:16; 30:6; Giê-rê-mi 9:25). Vì thế Phao-lô giải thích: “Vì người nào chỉ bề ngoài là ngưòi Giu-đa thì không phải là người Giu-đa, còn phép cắt bì làm về xác thịt ở ngoài thì không phải là phép cắt bì, nhưng bề trong là người Giu-đa mới là người Giu-đa, phép cắt bì bởi trong lòng làm theo cách thiêng liêng, không theo chữ nghiã, mới là phép cắt bì thật” (Rô-ma 2:28-29). Phao-lô cũng đem ý nghiã của lễ cắt bì mà áp dụng vào lễ Báp-têm của chúng ta (Cô-lô-se 2:11-13,28-29).

II. HÒM GIAO ƯỚC TRONG TAY DÂN PHI-LI-TIN (I Sa-mu-ên đoạn 5).

Dân Phi-li-tin cướp được hòm giao ước nên tưởng rằng đã thắng dân Y-sơ-ra-ên, thần Đa-gôn của họ đã thắng Thần của Y-sơ-ra-ên là Đức Giê-hô-va. Nhưng sự thật không phải vậy.

1. Đức Giê-hô-va thắng Đa-gôn (1-5).

Dân Phi-li-tin đem hòm giao ước vào đền thờ của Đa-gôn và đặt bên tượng thần Đa-gôn. Sáng hôm sau, họ vào và thấy tượng thần Đa-gôn nằm sải, úp mặt xuống đất trước hòm giao ước. Họ vội vàng lấy tượng thần Đa-gôn lên đặt tại chỗ cũ. Hôm sau, họ trở vào, thấy một cảnh tệ hại hơn nữa là tượng thần Đa-gôn đầu lìa mình, tay chân rơi ra trước hòm giao ước.

2. Đức Giê-hô-va toàn thắng dân Phi-li-tin (6-12).

a.Tại Ách-đốt (6-7).

Dân thành Ách-đốt bị một tai vạ lớn về bệnh trĩ. Họ kêu la kinh khiếp, xin dời hòm giao ước khỏi họ.

b.Tại Gát (8-9).

Các quan trưởng Phi-li-tin họp lại và quyết định thỉnh hòm giao ước đến Gát. Khi hòm giao ước vừa đem đến Gát, Chúa giáng tai vạ lớn trên thành đó làm cho dân chúng bị mắc bệnh trĩ. Hết thảy dân Phi-li-tin đều sợ hãi.

c.Tại Écrôn (10-12).

Vì hai thành kia đã bị hại nặng nên khi hòm giao ước được gởi đến Écrôn thì tất cả dân chúng kêu la, xin trả hòm giao ước về cho dân Y-sơ-ra-ên, kẻo họ phải chết hết. Tiếng kêu vang lên đến tận trời.

III. HÒM GIAO ƯỚC ĐƯỢC TRẢ VỀ DÂN Y-SƠ-RA-ÊN (I Sa-mu-ên đoạn 6).

Hòm giao ước ở giữa dân Phi-li-tin 7 tháng là thời gian họ bị tai vạ khủng khiếp. Các thuật sĩ của dân Phi-li-tin bày vẽ cho họ cách nào phải trả hòm giao ước về cho Y-sơ-ra-ên, cặp theo các tế lễ chuộc tội hầu cho họ được chữa lành (1-60).

Để biết chắc có phải Đức Giê-hô-va đã giáng họa cho họ hay tình cờ xảy ra, họ đóng một chiếc xe mới, bắt hai con bò cái còn bú thắng vào xe, rồi đặt hòm giao ước lên xe. Không cần ai dẫn dắt, hai con bò cái vượt qua mọi trở ngại đi thẳng về hướng thành phố Bếtsêmết của dân Y-sơ-ra-ên, vừa đi vừa rống, không xây bên hữu hay bên tả. Từ Écrôn đến Bếtsêmết khoảng 10 cây số. Dân Y-sơ-ra-ên trong thành Bếtsêmết rất vui mừng khi thấy hòm giao ước được trả về. Khi xe đến gần một hòn đá lớn, họ cất hòm giao ước khỏi xe và đặt trên hòn đá, rồi bửa xe làm củi, giết hai con bò làm của lễ thiêu dâng lên Chúa. Trong ngày đó họ còn dâng nhiều của lễ khác nữa. Nhưng một số người Bếtsêmết đã xúc phạm đến sự thánh khiết của Chúa khi họ tọc mạch nhìn vào hòm giao ước nên đã có 70 người thiệt mạng. Thấy vậy, dân chúng la lên: “Ai có thể đứng nổi trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời chí thánh?” Chắc chắn không có ai. Ngày nay cũng vậy, khi chúng ta nhân danh Chúa mà nhóm lại, nhân danh Chúa mà thi hành các thánh lễ, chúng ta không được phép xem thường, nhất là đã có lời cảnh cáo về tiệc thánh: “Ai ăn bánh và uống chén của Chúa cách không xứng đáng thì sẽ mắc tội với thân và huyết của Chúa… Người nào không phân biệt thân Chúa mà ăn bánh uống chén đó, tức là ăn uống sự xét đoán cho mình” (ICôr 11:27-29). Xin đừng xúc phạm sự thánh khiết của Chúa.

CÂU HỎI

1. Tại sao dân Phi-li-tin dám dàn trận đánh dân Y-sơ-ra-ên?

2. Các trưởng lão Y-sơ-ra-ên nghĩ thế nào khi bị thất bại?

3. Họ đã làm gì để đắc thắng kẻ thù?

4. Tại sao có hòm giao ước cùng ra trận mà dân Y-sơ-ra-ên thất bại nặng hơn?

5. Hãy kể ra các sự thiệt hại của dân Y-sơ-ra-ên.

6. Dân Phi-li-tin nghĩ thế nào khi họ cướp được hòm giao ước?

7. Điều gì tỏ ra Chúa đắc thắng Đa-gôn?

8. Điều gì tỏ ra Chúa đắc thắng toàn dân Phi-li-tin?

9. Để khỏi chết, dân Phi-li-tin đã làm gì?

10. Dân Y-sơ-ra-ên tại thành Bếtsêmết tiếp rước hòm giao ước thế nào?

11. Tại sao có 70 người bị thiệt mạng?

12. Bài học này cảnh cáo chúng ta điều gì?

BÀI 26. SỰ BẤT TUÂN ĐEM ƯU SẦU

KINH THÁNH: Giô-suê 20 đến I Sa-mu-ên 6.

CÂU GỐC: “Hãy tránh sự ác, và làm điều lành” (Thi thiên 34:14a).

MỤC ĐÍCH: Dạy chúng ta phải phục vụ để tôn vinh Chúa, vì Ngài ban phước cho những ai vâng phục để tôn vinh Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ là nơi ẩn náu của chúng ta

(Giô-suê 20:1-9).

TH:

Trung thành với Đức Chúa Trời

(Giô-suê 24:14-24).

TB:

Ca ngợi Đức Chúa Trời

(Các quan xét 5:1-5).

TT:

Chiến thắng nhờ Đức Chúa Trời

(Các quan xét 7:13-18).

TN:

Người Na-xi-rê

(Các quan xét 13:1-7).

TS:

Ru-tơ, người nữ tài đức

(Ru-tơ 1:15-18, 4:13-22).

TB:

Sa-mu-ên lắng nghe tiếng Chúa

(I Sa-mu-ên 3:1-10).

Trong 3 tháng, chúng ta đã học 7 nhân vật quan trọng như: Giô-suê, Đê-bô-ra, Bárác, Sam-sôn, Ru-tơ, An-ne, và Sa-mu-ên. Bây giờ chúng ta ôn lại.

Giô-suê đã được chọn thay cho Môi-se lãnh đạo Y-sơ-ra-ên chiến thắng các dân tộc Ca-na-an, để đưa Y-sơ-ra-ên vào Đất Hứa và phân chia đất đai cho mỗi chi phái làm sản nghiệp. Trước khi qua đời, Giô-suê nhắc lại cho Y-sơ-ra-ên các việc lớn và khó mà Chúa đã làm từ đời tổ phụ họ là Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp và giải phóng họ ra khỏi nhà nô lệ là Ê-díp-tô, đem họ qua Biển Đỏ, vào đồng vắng, đến tận Ca-na-an đượm sữa và mật. Mọi lời hứa của Ngài đều ứng nghiệm hoàn toàn. Ông khuyên họ hết lòng, hết sức phục vụ Chúa như ông đã phục vụ Ngài. Rất tiếc khi Giô-suê qua đời, Y-sơ-ra-ên quên Chúa, bắt chước các dân tộc chung quanh thờ lạy tà thần. Vì vậy nhiều lần Chúa phó họ vào tay kẻ thù nghịch để bị hà hiếp ngược đãi thậm tệ cho đến chừng họ tỉnh thức và ăn năn, bấy giờ Chúa dùng các quan xét mà giải phóng họ. Có ba quan xét đáng ghi nhớ là nữ tiên tri Đê-bô-ra, Ghê-đê-ôn và Sam-sôn.

Bà Đê-bô-ra được Chúa dùng với sự hiệp tác của Ba-rác đánh tan đạo quân hùng mạnh của Ca-na-an, giải phóng dân Y-sơ-ra-ên sau 20 năm trong cảnh nô lệ. Nhờ vậy xứ được hòa bình 40 năm.

Sau Đê-bô-ra có Ghê-đê-ôn, ông chiến thắng Ma-đi-an một cách vẻ vang, vì số ít mà thắng số nhiều. Quân của Ghê-đê-ôn có 300 mà đánh tan đạo quân Ma-đi-an đông vô số kể và giải phóng dân Y-sơ-ra-ên sau 7 năm bị hà hiếp. Xứ được hòa bình 40 năm.

Chiến thắng của Đê-bô-ra và Ghê-đê-ôn là chiến thắng của Đức Chúa Trời vì họ chỉ là công cụ trong tay Ngài. Chúa đã dùng họ vì họ đã vâng lời để tôn vinh Ngài.

Dân Y-sơ-ra-ên lại sa ngã vào sự thờ lạy tà thần, nên Chúa phó họ vào tay dân Phi-li-tin để làm nô lệ trong 40 năm. Trong lúc đó, Sam-sôn ra đời làm người Na-xi-rê cho Đức Chúa Trời. Ông được Thần của Chúa cảm động, có sức mạnh phi thường. Với sức mạnh như vậy, Sam-sôn có thể làm được nhiều việc cho Chúa để giải phóng dân Y-sơ-ra-ên của Ngài. Thật tiếc, Sam-sôn đã không nghe lời Chúa, sa vào mưu chước của kẻ thù và chết chung với họ. Ông làm quan xét Y-sơ-ra-ên trong 20 năm.

Trong sách Các Quan Xét, ta thấy lặp lại nhiều lần từ “TA PHÓ” (2:14; 3:8; 4:2; 10:7; 13:1). Chúa phó hay Chúa giao dân Y-sơ-ra-ên vào tay kẻ thù nghịch mỗi khi họ phản bội và thờ lạy tà thần. Khi Chúa phó họ như vậy, dân Y-sơ-ra-ên như người bị trói trước mặt kẻ thù, họ hoàn toàn bị bắt phục cho đến lúc hết lòng ăn năn quay về với Chúa và được Ngài giải phóng. Ngược lại khi họ trung tín theo Chúa thì Ngài sẽ phó mọi kẻ thù vào tay họ (4:7,14; 7:2, 9,14-15).

Sau khi Sam-sôn qua đời, dân Y-sơ-ra-ên rơi vào một tình trạng thê thảm là không có người hướng dẫn, mỗi người sống theo một ý riêng. Dầu vậy giữa vòng họ cũng có người trung tín theo Chúa, đó là gia đình Ê-li-mê-léc. Có lần gia đình nầy bị yếu đuối, cám dỗ, bỏ Bết-lê-hem của xứ Y-sơ-ra-ên mà đến xứ Mô-áp tìm kế sinh nhai để tránh khỏi cơn đói kém. Tại đó, Ê-li-mê-léc và hai con trai là Mạc-lôn và Ki-li-ôn qua đời để lại bà Na-ô-mi với hai nàng dâu chưa có con là Ọt-ba và Ru-tơ. Khi Na-ô-mi quyết định trở về quê quán thì Ru-tơ quyết định theo mẹ chồng, bởi đức tin của bà nơi Đức Chúa Trời, Ru-tơ đã sống cuộc sống chí hiếu với mẹ chồng. Chúa đã ban thưởng cho nàng được tái giá, trở thành tổ mẫu của vị vua nổi tiếng là Đa-vít.

Để giải phóng dân Y-sơ-ra-ên khỏi tình trạng bi đát hơn về phương diện thuộc linh lẫn phương diện thuộc thể (tôn giáo), Chúa đã dùng bà An-ne, do lòng thiết tha yêu Chúa, yêu dân sự Ngài, bà xin Chúa cho bà một con trai trong lúc bà còn son sẻ, bà sẽ dâng nó trọn đời cho Chúa. Nhờ vậy Sa-mu-ên đã ra đời.

Sa-mu-ên khác hơn Sam-sôn. Dầu không có sức mạnh về thể chất như Sam-sôn, nhưng ông lại là người có sức mạnh thuộc linh. Sa-mu-ên có lòng vâng phục Chúa trọn vẹn và muốn được phục vụ Ngài để tôn vinh Ngài, nên ngay khi còn thơ ấu, Sa-mu-ên đã được Chúa chọn và trọng dụng. Bên cạnh Sa-mu-ên có hai con trai của thầy tế lễ Hê-li là Hóp-ni và Phi-nê-a đã sống cuộc sống quá bất kính, bất nghĩa, và vô kỷ luật nên cuối cùng gặt lấy hậu quả vô cùng đau đớn và sỉ nhục.

Trên đây là hai con đường đưa đến hai kết quả khác nhau. Bởi sự không vâng phục của một người là A-đam mà cả dòng dõi ông đều trở thành người có tội. Bởi sự vâng phục của một người là Chúa Jêsus mà mọi người tin Ngài được kể là công bình (Rô-ma 5:19). Chính Chúa Jêsus học tập vâng phục bởi những sự khốn khổ mà mình đã chịu, và sau khi đã được trọn vẹn rồi thì trở nên căn nguyên của sự cứu rỗi đời đời cho mọi kẻ vâng phục Ngài (Hê-bơ-rơ 5:8-9). Sự cứu rỗi đời đời của Chúa Jêsus dành cho mọi kẻ vâng phục Ngài.

CÂU HỎI

1. Chúa chọn Giô-suê thay Môi-se để làm những gì?

2. Trước khi chết, Giô-suê đã nhắc lại cho dân sự những điều gì?

3. Sau khi Giô-suê qua đời, tình trạng của dân Y-sơ-ra-ên như thế nào?

4. Khi nào Chúa dùng các quan xét và dùng họ làm gì?

5. Chúa dùng Đê-bô-ra hiệp tác với ai để đánh tan quân thù?

6. Vì sao 300 quân của Ghê-đê-ôn chiến thắng được đạo quân Ma-đi-an đông vô kể?

7. Vì sao Sam-sôn thất bại?

8. Vì sao Ru-tơ được Chúa ban thưởng và ban thưởng như thế nào?

9. Vì sao lời cầu nguyện của An-ne được Chúa nhậm?

10. Lý do nào Chúa chọn và trọng dụng Sa-mu-ên?

11. Bởi sự không vâng phục của A-đam mà dòng dõi của ông như thế nào?

12. Bởi sự vâng phục của Chúa Jêsus mà những người tin Ngài sẽ như thế nào?

BÀI 27. SAU-LƠ, VỊ VUA ĐẦU TIÊN

KINH THÁNH: I Sa-mu-ên 10:1-27.

CÂU GỐC: “Ấy chẳng phải chúng nó từ chối ngươi đâu, bèn là từ chối Ta đó, hầu cho Ta chẳng cai trị chúng nó nữa” (I Sa-mu-ên 8:7).

MỤC ĐÍCH: Cảnh cáo chúng ta không được từ khước Đức Chúa Trời và ý muốn của Ngài để đi theo đường riêng.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ, Vua của muôn vua

(I Ti-mô-thê 6:14-15).

TH:

Sau-lơ, vị vua đầu tiên

(I Sa-mu-ên 8 và 9).

TB:

Sau-lơ được xức dầu và đắc thắng

(I Sa-mu-ên 10 và 11).

TT:

Đức Chúa Trời là tối thượng

(Công vụ 2:23; 13:27).

TN:

Đức Chúa Trời cai trị trên con người

(Sáng 18:26; Xuất 14:21-22).

TS:

Đức Chúa Trời cai trị trên con người

(Xuất 33:19; Khải 12:5; 19:16).

TB:

Sự quan trọng của việc lựa chọn

(Giô-suê 24:15,22; Hê 11:24-25).

Bài học hôm nay là một khúc quanh quan trọng trong lịch sử dân Y-sơ-ra-ên. Họ đã chuyển từ chính thể thần quyền qua chính thể quân chủ, mặc dù không phải là quân chủ chuyên chế.

Từ khi họ được giải phóng khỏi Ê-díp-tô, khỏi cảnh nô lệ tại đó, được Chúa đưa vào Ca-na-an, cho đến đời Sa-mu-ên, thì Đức Chúa Trời chính là Vua của họ. Chúa dùng các tôi tớ Ngài như Môi-se, Giô-suê, các quan xét, song Ngài trực tiếp điều khiển mọi sự, bây giờ họ đòi một vua.

I. LÝ DO DÂN Y-SƠ-RA-ÊN MUỐN CÓ MỘT VUA (I Sa-mu-ên 8:1-22).

“Hết thảy các trưởng lão đều hiệp lại, tìm đến Sa-mu-ên tại Ra-ma”. Đây không phải là một việc tình cờ do một sự cảm xúc nhất thời, bèn là một quyết định sau nhiều lần hội họp, bàn cãi. Các trưởng lão yêu cầu Sa-mu-ên lập trên họ một vua, vì những lý do:

– Ông đã già.

– Các con trai ông chẳng noi gương ông.

– Chúng tôi muốn như các dân tộc khác.

Dầu Sa-mu-ên đã già, song ông vẫn còn đi lại được để phục vụ Chúa. Ông là con người giàu kinh nghiệm hơn hết vì đã phục vụ Chúa từ khi còn thơ ấu. Ông chưa xin hưu trí. Các con của Sa-mu-ên không theo gương ông thì dân Y-sơ-ra-ên có thể xin ông cử người khác. Điều chính yếu là họ muốn như các dân tộc chung quanh, có một vị vua cai trị họ. Muốn một việc quan trọng mà trước kia chưa từng có, đáng lẽ họ phải để nhiều thì giờ cầu hỏi ý Chúa, thì họ lại không làm, song chỉ có những cuộc bàn luận để đi đến nhất trí. Họ sử dụng quyền tự quyết của họ, chứ không phục tùng sự chỉ định của Chúa. Họ tưởng mình khôn ngoan đủ, không cần nhờ cậy Chúa nữa. Họ muốn như các dân tộc khác. Đức Chúa Trời đã kêu gọi Áp-ra-ham ra khỏi xứ Canh-đê là vì Ngài muốn ông không như dân tộc đó, thậm chí Áp-ra-ham phải ra khỏi vòng bà con và nhà của cha ông. Trước khi chiếm xứ Ca-na-an, Chúa đã ra lệnh cho dân Y-sơ-ra-ên phải tiêu diệt cả 7 sắc dân trong xứ vì Ngài không muốn họ giống như các dân đó (Xuất 34:11-16; Lê-vi ký 20:23; Phục 7:1-6). Chúa không muốn dân Ngài bắt chước các dân chung quanh, mà phải làm gương cho họ. “Ta sẽ khiến ngươi làm sự sáng cho các dân ngoại, hầu cho ngươi đem sự cứu rỗi của Ta đến nơi đầu cùng đất” (Ê-sai 49:6). Bây giờ dân Y-sơ-ra-ên đi ngược lại đường lối của Chúa. Họ cho mình làm vậy là tiến bộ, kỳ thật là thoái bộ. Họ tưởng mình khôn ngoan, thật ra là dại dột.

Ngoài ba lý do nêu trên, còn có một lý do mà họ chưa nói ra là họ sợ dân Phi-li-tin và dân Am-môn bên cạnh họ. Họ muốn như hai dân kia, có vua dẫn họ ra trận, song họ quên rằng Đức Giê-hô-va vạn quân là Vua của chiến trận, Đấng bách chiến bách thắng, đã từng chiến thắng cho họ hơn 500 năm qua (Công vụ 13:19-20). Bây giờ họ muốn có một vua mới dưới đất để thay thế cho Vua trên trời, muốn có một vua thấy được thay cho một Vua không thấy được. Thật là phi lý!

Khi dân Y-sơ-ra-ên xin một vua, tức là họ từ chối Sa-mu-ên, nhất là từ chối Chúa. Sa-mu-ên rất buồn, ông không trả lời cho họ chi hết, nhưng đem mọi sự trình lên Chúa. Ngài bảo ông nghe theo lời họ mà đừng thông báo cho họ biết vua đó sẽ cai trị họ như thế nào (7-18). Sau mấy ngày, Sa-mu-ên triệu tập dân sự lại, thuật cho họ nghe mọi lời của Chúa. Họ đáp: “Không, phải có một vua trên chúng tôi. Chúng tôi muốn như các dân tộc khác, vua chúng tôi sẽ đoán xét chúng tôi, đi trước chúng tôi, và đánh giặc cho chúng tôi”. Dân Y-sơ-ra-ên đã không kể đến lời cảnh cáo của Chúa. Họ điếc vì lý luận không đâu, họ đui vì dục vọng và hiếu kỳ của họ.

Sự thay đổi từ chính thể thần quyền ra chính thể quân chủ làm cho nước Y-sơ-ra-ên mất ý nghĩa là một nước tôn giáo, trở thành một nước chính trị. Đành rằng, chế độ thần quyền vẫn còn hành động xuyên qua chế độ quân chủ, song không còn hoàn toàn cai trị như trước. Vì thế mà về sau có những vua gian ác như A-háp, Giô-ram.

Vả lại, Đức Chúa Trời đã dự liệu trước nước Y-sơ-ra-ên sẽ có vua (Phục 17:14-20). Nếu họ chờ đợi sự chỉ định của Chúa, 12 năm sau họ có một vua rất tốt là Đa-vít. Vì không chờ đợi Chúa, nên họ có một vua mà về sau họ rất hối tiếc là Sau-lơ.

Sa-lô-môn khuyên: “Hãy hết lòng tin cậy Đức Giê-hô-va, chớ nương cậy nơi sự thông sáng của con, phàm trong các việc làm của con, khá nhận biết Ngài, thì Ngài sẽ chỉ dẫn các nẽo của con” (Châm ngôn 3:5-6). Phao-lô khuyên: “Nhưng trong mọi sự, hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin và sự tạ ơn mà trình các sự cầu xin của mình cho Đức Chúa Trời” (Phi-líp 4:6). “Đừng làm theo đời này…” (Rô-ma 12:2). Tiến bộ theo đời là càng cách xa Chúa, tiến bộ theo Chúa mới gần gũi Ngài. Chỉ một mình Chúa biết đúng điều gì tốt cho chúng ta.

II. SAU-LƠ ĐƯỢC CHỌN LÀM VUA (9:10-10:16).

1. Gia thế của Sau-lơ.

Kích, thân sinh của Sau-lơ, thuộc chi phái Bên-gia-min, là một dũng sĩ. “Dũng sĩ” có nghĩa là giàu có. Sau-lơ thú nhận rằng từ chi phái đến gia đình của ông đều rất nhỏ, vì ngoài sự giàu có, gia đình ông không có ảnh hưởng gì trong dân Y-sơ-ra-ên.

2. Cá nhân của Sau-lơ.

Mặc dầu Sau-lơ còn trẻ, song đã có gia đình riêng, vì sau đó, Giô-na-than, con trai Sau-lơ, là bạn của Đa-vít, con gái Sau-lơ gả cho Đa-vít. Song Sau-lơ chỉ lo chăn nuôi và cày cấy mà không quan tâm đến vấn đề thuộc linh. Khi Sa-mu-ên còn nhỏ thì từ Đan cho đến Bê-e-sê-ba, tức là từ Bắc chí Nam đều biết ông được lập làm tiên tri của Chúa (I Sa-mu-ên 3:20). Người đầy tớ của Sau-lơ còn biết rằng trong thành Ra-ma có một người của Đức Chúa Trời, là người rất được tôn trọng, nhưng chính Sau-lơ lại không biết như thế (9:6). Cả nước chỉ có một người vừa là tiên tri, vừa là quan xét và thầy tế lễ, mà Sau-lơ không biết người đó, chẳng khác nào một tín đồ trong Hội Thánh mà không biết mục sư của mình.

Vì vậy, khi những người đã từng quen biết Sau-lơ, nghe thấy ông nói tiên tri, họ phải ngạc nhiên hỏi nhau: “Con trai của Kích đã xảy ra làm sao? Sau-lơ cũng vào hàng các tiên tri ư?” (10:1). Khi được xức dầu, Thần của Đức Giê-hô-va cảm động Sau-lơ và lòng ông được thay đổi. Ông không còn bận lo về bò lừa, ruộng đất, mùa màng, mà bắt đầu suy nghĩ việc nước như tổ chức hành chính, tư pháp, quân đội để bảo vệ xứ sở, chống nạn xâm lăng của ngoại bang.

III. SAU-LƠ LÊN NGÔI (10:17-11:15).

1. Sau-lơ được tung hô.

Sa-mu-ên triệu tập dân Y-sơ-ra-ên tại Mích-ba, nói cho họ nghe Lời của Chúa về việc họ xin một vua (10:17-19). Kế đó, trong 12 chi phái thì Bên-gia-min được chỉ định, trong chi phái Bên-gia-min thì họ Mátri được chỉ định, trong họ Mátri thì gia đình Kích được chỉ định, trong gia đình Kích thì Sau-lơ được chỉ định. Khi Sau-lơ ra mắt dân chúng, ông được họ tung hô: Nguyện vua vạn tuế!

2. Sau-lơ giải cứu dân thành Giabe.

Vua Am-môn đem quân vây thành Giabe của Y-sơ-ra-ên, đòi khoét mắt bên mặt của mỗi người. Dân Giabe báo tin cho Sau-lơ. Ông triệu tập dân chúng trong cả nước đánh tan đạo quân của Am-môn và giải cứu dân thành Giabe. Kế đó dân chúng tụ họp tại Ghinhganh và chính thức tôn Sau-lơ lên ngôi vua Y-sơ-ra-ên. Ông trị vì 40 năm (Công vụ 13:21).

CÂU HỎI

1. Theo bài học hôm nay, dân Y-sơ-ra-ên muốn gì?

2. Tại sao điều họ muốn làm Chúa buồn?

3. Tại sao họ muốn như các dân tộc khác là không đúng?

4. Tại sao nếu họ nhờ cậy Chúa thì không cần sợ các dân tộc chung quanh?

5. Sự thay đổi đột ngột từ chính thể thần quyền qua chính thể quân chủ đã khiến dân Y-sơ-ra-ên mất phước thế nào?

6. Nếu họ chờ đợi ý chỉ của Chúa thì sẽ ra sao?

7. Kinh Thánh khuyên chúng ta thế nào về những trường hợp tương tự?

8. Gia thế và cá nhân Sau-lơ thế nào?

9. Khi được xức dầu thì Sau-lơ ra sao?

10. Công trạng thứ nhất của vua Sau-lơ là gì?

BÀI 28. SA-MU-ÊN PHỤC VỤ ĐỨC CHÚA TRỜI

KINH THÁNH: I Sa-mu-ên 12:1-25.

CÂU GỐC: “Vì phàm ai tôn kính Ta, Ta sẽ làm cho được tôn trọng, còn ai khinh bỉ Ta, tất sẽ bị khinh bỉ lại” (I Sa-mu-ên 2:30b).

MỤC ĐÍCH: Thách thức mỗi người phục vụ Chúa với tất cả sức lực đời mình.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Phục sự Đấng Christ

(Giăng 12:25-26).

TH:

Sa-mu-ên phục vụ Đức Chúa Trời

(I Sa-mu-ên 11).

TB:

Sa-mu-ên nói về sự chăm sóc của Chúa

(I Sa-mu-ên 12).

TT:

Sống một đời ngay thẳng

(Thi 1:1; 101:6).

TN:

Sống một đời ngay thẳng

(Rô-ma 6:4; 13:13-14).

TS:

Đời sống cầu nguyện

(I Sa-mu-ên 12:22-25).

TB:

Đời sống cầu nguyện

(Ma-thi-ơ 9:38; 14:23; Cô-lô-se 1:3,9).

Sau khi đắc thắng dân Am-môn trở về, thì tại Ghinhganh, hết thảy người Y-sơ-ra-ên hiệp lại tôn Sau-lơ lên ngôi vua. Bấy giờ Sa-mu-ên trao quyền cai trị nước cho Sau-lơ. Trong dịp này, Sa-mu-ên ngỏ lời với dân Y-sơ-ra-ên trước sự hiện diện của Chúa.

I. SA-MU-ÊN BÀY TỎ SỰ THANH LIÊM CỦA MÌNH TRONG NHỮNG NĂM PHỤC VỤ CHÚA (1-6).

Sa-mu-ên đã theo yêu cầu của dân Y-sơ-ra-ên mà lập trên họ một vua. Từ đây, vua đó sẽ đi đầu hướng dẫn họ. Ông đã hướng dẫn họ từ khi còn thơ ấu cho đến ngày già nua. Bây giờ, trước mặt Chúa và trước mặt Sau-lơ, ông muốn bày tỏ sự thanh liêm của ông, nên công khai hỏi dân chúng:

1. Tôi có bắt bò lừa của ai chăng? Nghĩa là ông có lợi dụng hoặc lạm quyền mà cướp đoạt tài sản của dân chúng chăng?

2. Tôi có lừa dối ai chăng? Nghĩa là ông có gian lận, gạt gẫm ai để lấy tiền của họ chăng?

3. Tôi có hành hung cùng ai chăng? Nghĩa là ông có đánh đập ai hoặc hà hiếp, áp chế ai chăng?

4. Tôi có nhận của hối lộ nơi tay ai chăng? Nghĩa là ông có vì tham lam mà làm trái lẽ công bình chăng?

Nếu tôi có làm điều đó, tôi sẽ trả lại. Dân chúng đáp: “Ông không có lừa dối chúng tôi, ông không có hành hung chúng tôi, và ông không có nhận chi nơi tay ai hết”.

Sa-mu-ên tiếp: “Đức Giê-hô-va làm chứng, Sau-lơ cũng làm chứng rằng ngày nay các ngươi không tìm thấy gì trong tay ta”. Sa-mu-ên muốn chứng minh lòng thanh liêm của ông trước Chúa và mọi người để ai nấy biết, không phải vì ông không xứng đáng làm quan xét mà vì dân Y-sơ-ra-ên xin một vua để thay ông cai trị họ. Họ thay đổi chính thể như một cuộc cách mạng là do ý riêng của họ mà thôi. Sa-mu-ên từ chức, trao quyền hành cho Sau-lơ, song ông đã để lại danh thơm tiếng tốt, đạo cao, đức trọng như gương trong chẳng bụi hầu họ soi chung.

Những câu hỏi thách thức của Sa-mu-ên khích lệ chúng ta biết chừng nào! Phước cho dân nào có được một lãnh tụ như vậy, nhất là dân Chúa. Khi từ giã các trưởng lão Ê-phê-sô, Phao-lô cũng đã nói: “Tôi chẳng ham bạc vàng hay là áo xống của ai hết… Nên bữa nay tôi nói quyết trước mặt anh em rằng tôi tinh sạch về huyết anh em hết thảy”.

II. SA-MU-ÊN TRÁCH DÂN Y-SƠ-RA-ÊN ĐÃ KHÔNG PHỤC VỤ CHÚA.

1. Họ quên ơn Chúa (6-15).

Ông nhắc lại các việc lớn lao Chúa đã làm cho họ: Ngài đem gia đình Gia-cốp xuống Ê-díp-tô, Ngài giải cứu họ ra khỏi đó, khi họ sa ngã thì Ngài phó họ vào tay kẻ thù, rồi khi họ ăn năn thì Ngài tha thứ và giải cứu họ. Chúa đã dùng các quan xét như Ghê-đê-ôn, Ba-rác, Giépthê và Sa-mu-ên hướng dẫn họ. Không những trong quá khứ mà cũng trong hiện tại. Khi họ sợ dân Am-môn mà đòi có một vua cai trị họ, thì họ đã có một vua. Song Sa-mu-ên quả quyết, không phải vua Sau-lơ đã giải cứu họ đâu, “thật Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đã là Vua các ngươi”. Chính Ngài mới là Đấng giải cứu họ. Ông khuyên vua tôi đều phải kính sợ Chúa, phục sự Ngài, bằng không Ngài sẽ giáng họa trên họ. Vua không phải là toàn quyền tuyệt đối, bèn là Chúa.

2. Ông chứng minh Đức Chúa Trời rất buồn về họ (16-19).

Sau khi chiến thắng dân Am-môn trở về, dân Y-sơ-ra-ên phấn khởi nghĩ rằng họ đã xin một vua rất kịp thời, đúng lúc, nhờ vậy họ được giải cứu, nên họ đã dâng của lễ thù ân cho Ngài (11:15). Không, đó là sự nhân từ của Chúa. Để cho dân Y-sơ-ra-ên “biết và thấy mình đã phạm sự ác lớn trước mặt Đức Giê-hô-va, vì đã xin một vua”, Sa-mu-ên xin Chúa cho họ thấy một dấu lạ. Bấy giờ là mùa gặt lúa, vào khoảng tháng Năm hay tháng Sáu, không hề có mưa. Trong ngày đó, Chúa làm sấm sét và mưa. Dân Y-sơ-ra-ên run sợ, xin Sa-mu-ên cầu thay cho họ khỏi chết về tội đã xin một vua. Dân Y-sơ-ra-ên không ngờ họ đã làm một việc sai lầm, đại ác.

III. SA-MU-ÊN KHÍCH LỆ DÂN Y-SƠ-RA-ÊN PHỤC VỤ CHÚA.

1. Ông khuyên họ coi chừng tội thờ hình tượng (20-22).

Ông bảo họ đừng sợ vì Chúa đã tha thứ, miễn là họ đừng lìa bỏ Ngài mà đi theo thần tượng hư không, vô ích. Từ chỗ bắt chước các dân tộc khác để xin một vua đến chỗ bắt chước họ mà thờ thần tượng không bao xa vì cả hai việc thường đi đôi với nhau. Từ khi vào Ca-na-an, dân Y-sơ-ra-ên bắt chước các dân tộc chung quanh, thờ thần Ba-anh, Át-tạt-tê, nữ vương trên trời… Dầu có những cơn phục hưng bùng cháy đã quét sạch, thiêu hủy mọi thần tượng, song sau một thời gian, họ lại sa vào đó nữa. Mãi cho đến khi bị đày qua Ba-by-lôn 70 năm rồi trở về, họ mới bỏ tội thờ thần tượng cho đến ngày nay. Trong 10 điều răn thì điều răn thứ hai về tội thờ thần tượng là rất chi tiết và nghiêm trọng.

Lịch sử Hội Thánh chúng ta giống như lịch sử dân Y-sơ-ra-ên về phương diện này. Ngay trong thế kỷ thứ nhất của công nguyên, tức là khi Đức Thánh Linh giáng lâm, Hội Thánh được thành lập và sinh hoạt một cách đơn thuần và thánh khiết, nên kết quả kỳ diệu vô cùng. Chỉ có Đức Chúa Trời Ba Ngôi là Vua của Hội Thánh. Nhưng rất tiếc, đến thế kỷ thứ tư, có một người được tôn lên làm vua trong Hội Thánh, được gọi là Giáo hoàng. Ngay khi Hội Thánh có Giáo hoàng thay cho Đức Chúa Trời thì cũng có đủ thứ hình tượng xen vào Hội Thánh làm mất sự thuần khiết mà trở nên hư hỏng. Đó là tinh thần của thế gian đã tràn vào Hội Thánh. Kết quả của sự bắt chước người đời và các tôn giáo khác, cũng như dân Y-sơ-ra-ên bắt chước các dân tộc chung quanh là một điều đại ác (12:17,19).

2. Ông hứa sẽ cầu thay cho dân Y-sơ-ra-ên (23-25).

Mặc dầu dân Y-sơ-ra-ên không còn được Sa-mu-ên lãnh đạo họ theo phương diện tổ chức, hành chánh, song ông không dám phạm tội cùng Chúa mà thôi cầu nguyện cho họ. Ông xem đó là một tội lớn. Cầu nguyện cho Hội Thánh, cho đồng bào là trách nhiệm của mỗi chúng ta, ai không làm là phạm tội nặng cùng Chúa. Vì dầu Sa-mu-ên không còn làm quan xét, nhưng ông còn làm tiên tri và tiếp tục thi hành chức vụ tế lễ, nên ông còn có bổn phận dạy dỗ, hướng dẫn mọi người trên con đường ngay lành. Ông thiết tha khuyên nài họ hãy vì lòng kính sợ Chúa mà trung tín phục sự Ngài. Ông bảo: “Hãy xem những việc lớn lao mà Ngài đã làm cho các ngươi là dường nào!” Cũng vậy, chúng ta hãy nhớ, hãy xem những việc lớn lao mà Chúa đã làm cho chúng ta còn hơn những việc mà Ngài đã làm cho dân Y-sơ-ra-ên. Còn việc lớn lao nào bằng việc Con Đức Chúa Trời thành người, để chịu chết vì chúng ta và sống lại? Đức Chúa Trời đã không tiếc với chúng ta Con Độc Sanh Ngài, thì Ngài còn tiếc gì nữa sao?

Ông tiếp: “Nhưng nếu các ngươi cứ làm ác thì các ngươi và vua các ngươi chắc sẽ bị diệt vong”. Có vua chưa đủ, phải có Chúa. Ngày nay Hội Thánh phải coi chừng tinh thần thế gian tràn vào Hội Thánh như nước tràn vào tàu để nhận chìm nó (Mác 4:37). Đừng bắt chước mọi người chung quanh mà lìa bỏ Chúa hằng sống, nhưng phải để họ bắt chước chúng ta mà quay về cùng Ngài. Đừng ước ao được như người, nhưng hãy để họ ước ao được như chúng ta, vì Chúa đã chịu chết để cứu chúng ta khỏi đời ác này (Ga-la-ti 1:4). Niềm hãnh diện của chúng ta trong Chúa là “thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh và tôi đối với thế gian cũng vậy” (Ga-la-ti 6:14).

CÂU HỎI

1. Khi Sau-lơ lên ngôi vua Y-sơ-ra-ên thì Sa-mu-ên làm gì?

2. Trong dịp trao quyền hành cho Sau-lơ thì Sa-mu-ên muốn bày tỏ điều gì?

3. Tại sao Sa-mu-ên dám thách thức dân chúng bằng bốn câu hỏi đó?

4. Dầu không còn làm quan xét nữa, Sa-mu-ên còn để lại gì cho dân Y-sơ-ra-ên và Sau-lơ?

5. Sa-mu-ên trách dân Y-sơ-ra-ên điều gì?

6. Sa-mu-ên đã xin Chúa điều gì để cho dân Y-sơ-ra-ên biết rằng xin một vua là một điều đại ác?

7. Sa-mu-ên bảo dân Y-sơ-ra-ên coi chừng tội gì?

8. Trong 10 điều răn, điều răn nào nói rõ hơn hết và nghiêm trọng hơn hết?

9. Dân Y-sơ-ra-ên cứ phạm tội thờ hình tượng cho đến chừng nào mới hết?

10. Cho đến thế kỷ thứ mấy Hội Thánh mới có Giáo hoàng và thờ hình tượng?

11. Tại sao chúng ta không nên bắt chước người đời và các tôn giáo khác?

12. Chúng ta có trách nhiệm gì với Hội Thánh và đồng bào?

BÀI 29. CHỚ SỢ

KINH THÁNH: I Sa-mu-ên 13:1-14:23.

CÂU GỐC: “Hãy vững lòng bền chí; chớ sợ chi và chớ kinh khủng trước mặt các dân đó: vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đi cùng ngươi; Ngài chẳng lìa khỏi ngươi, chẳng từ bỏ ngươi đâu” (Phục truyền 31:6).

MỤC ĐÍCH: Giúp cho học viên tin rằng Chúa Jêsus ban cho chúng ta sự can đảm để chống cự và chiến thắng Sa-tan.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Chirst ban chiến thắng cho chúng ta

(Phi-líp 4:13).

TH:

Sau-lơ làm buồn lòng Chúa

(I Sa-mu-ên13:1-23).

TB:

Đại chiến công của Giô-na-than

(I Sa-mu-ên14:1-23).

TT:

Quyền năng của Đức Chúa Trời trong một số ít người

(Quan xét 7:1-7).

TN:

Quyền năng của Đức Chúa Trời

(I Sa 17:40,45-49; Giô-suê 23:10).

TS:

Đức tin mang lại chiến thắng

(IGiăng 5:4-5).

TB:

Đức Chúa Trời ban sức lực cho chúng ta

(Rô-ma 8:35-37).

Trong hai năm ở trên ngôi, Sau-lơ không được may mắn. Sau-lơ chiến thắng dân Am-môn phía đông nam, nhưng bây giờ dân Phi-li-tin ở phía tây nam đem quân lấn áp và kiểm soát dân Y-sơ-ra-ên, đến nỗi trong xứ không có thợ rèn, ai muốn có vật dụng bằng sắt như cày, cuốc, rìu, liềm, chỉa thì phải xuống Phi-li-tin. Quân Phi-li-tin họp thành từng toán đi cướp bóc của cải dân Y-sơ-ra-ên. Bao nhiêu nguồn lợi bị mất, nên từ 33 ngàn quân, Sau-lơ chỉ giữ lại 3 ngàn, đang khi đó dân Phi-li-tin có 30 ngàn cổ xe, 6 ngàn lính kỵ, đạo quân đông vô số. Bị bao vây một cách nguy kịch, quân Y-sơ-ra-ên đào ngũ, trốn trong bụi bờ, hầm hố, ghềnh đá, mồ mả. Có người trốn qua bên kia sông Giô-đanh tìm chỗ ẩn thân, vì ai nấy đều sợ hãi quá.

I. SAU-LƠ SỢ KẺ THÙ, NÊN TRÁI MẠNG CHÚA (13:9-15).

1. Trái mạng Chúa trong việc dâng tế lễ.

Trước khi ra chiến đấu với dân Phi-li-tin, Sau-lơ muốn dâng của lễ thiêu và của lễ thù ân cho Đức Chúa Trời để bảo đảm cho mình sự chiến thắng. Vì vậy, ông tổ chức lễ và mời Sa-mu-ên đến dâng tế lễ. Sa-mu-ên nhận lời, song buộc Sau-lơ phải đợi trong 7 ngày. Khi gần hết ngày thứ 7 mà Sa-mu-ên chưa đến, lòng của quân lính mỗi ngày một tan đi. Sau-lơ sợ bị quân Phi-li-tin đánh úp thình lình nên ông tự mình dâng của lễ thiêu. Mặc dầu vua tổ chức dâng tế lễ, song chỉ theo nghi thức mà lòng vua không đặt vào đó, vua xem thường mạng lệnh của Chúa và nghĩ rằng trong một trường hợp như vậy, vua cũng có quyền dâng tế lễ như Sa-mu-ên là tiên tri. Đáng lẽ Sau-lơ phải chờ Sa-mu-ên cho đến giờ phút cuối cùng, song vì đời sống thuộc linh còn non, tri thức thuộc linh còn kém, Sau-lơ không biết giá trị của sự thuộc linh, không phân biệt được sự thánh khiết và sự ô uế, nên đã lạm quyền mà hành động dại dột. Ông tưởng phải làm bất cứ cách nào, điều gì, miễn được việc, mà không cần biết có đẹp lòng Chúa hay không.

2. Hậu quả của việc trái mạng Chúa.

a. Vua Sau-lơ đỗ lỗi cho người khác.

Nhưng ngay khi vua Sau-lơ vừa dâng xong thì Sa-mu-ên đến. Sau-lơ ra đón chào Sa-mu-ên. Sa-mu-ên hỏi: “Vua đã làm chi?” Sau-lơ muốn đổ lỗi cho Sa-mu-ên, nên đáp: “Khi tôi thấy dân sự tan đi, ông không đến theo ngày đã định và dân Phi-li-tin đã họp lại tại Mích-ma, thì tôi nói rằng: Dân Phi-li-tin sẽ hãm đánh tôi tại Ghinhganh và tôi chưa cầu hỏi Đức Giê-hô-va. Vì vậy tôi miễn cưỡng dâng của lễ thiêu”. Sa-mu-ên đáp: “Vua thật có làm ngu dại, không vâng theo mạng lệnh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời vua truyền cho”. Hành động dại dột của Sau-lơ đã làm nản chí binh sĩ, nên từ hai ngàn quân, bây giờ chỉ còn 600 quân. Khi ra đón chào Sa-mu-ên, Sau-lơ không tỏ lòng ăn năn, lại đổ lỗi cho mọi người: Nào là dân chúng tản mát, Sa-mu-ên đến trễ, nào là quân Phi-li-tin bao vây, nên ông phải miễn cưỡng làm điều không thuộc phạm vi quyền hạn của mình. Ông muốn Sa-mu-ên thông cảm.

b. Vua Sau-lơ bị quở trách.

Sa-mu-ên trách Sau-lơ đã làm một việc hết sức ngu dại. Tội lỗi là ngu dại. Tội nhân là những người ngu dại hơn hết. Bất tuân kỷ luật, chống lại quyền tể trị của Chúa là một tội nặng do ngu dại mà ra. Đành rằng Sau-lơ sợ bị dân Phi-li-tin đánh úp, ông không trở tay kịp, song nếu ông là người khôn ngoan thì càng kính sợ Chúa, cẩn thận theo mạng lệnh, chứ không được phép bừa bãi như vậy. “Sự sợ loài người gài bẫy, nhưng ai nhờ cậy Đức Giê-hô-va được yên ổn vô sự” (Châm ngôn 29:25). Nếu Sau-lơ sợ Chúa thì sẽ không cần sợ loài người. Sự sợ loài người là cái bẫy rất hiểm nghèo mà bao nhiêu người đã mắc. Vì mắc bẫy đó, Sau-lơ sắp bị Chúa bỏ mặc dầu còn ngồi trên ngôi.

Xưa nay, người ta thường dựa vào hoàn cảnh để trái mạng lệnh Chúa, bỏ luật Ngài mà làm những điều mình biết là sai. Nên nhớ rằng “phàm điều chi không bởi đức tin thì đó là tội lỗi” (Rô-ma 14:23).

II. GIÔ-NA-THAN KHÔNG SỢ KẺ THÙ NÊN CHIẾN THẮNG (14:1-23).

1. Giô-na-than chiến thắng vì can đảm.

Trước kia Sau-lơ đóng tại Mích-ma, nhưng khi quân Phi-li-tin dàn trận tại đó thì Sau-lơ dời về Ghi-bê-a, gần Giô-na-than. Giô-na-than can đảm hơn cha mình. Sự can đảm của Giô-na-than không ra từ con người mà ra từ đức tin đến Đức Chúa Trời. Chàng muốn nói rằng đông người hay ít, không gì ngăn trở Chúa ban cho sự đắc thắng.

Ngày kia, Giô-na-than ra khỏi nơi đóng quân, cùng đi với một kẻ vác binh khí mình đến đồn Phi-li-tin ở Mích-ma. Con đường dốc thẳng thật hiểm trở, nhưng chí anh hùng không chịu lùi bước, nên hai người cứ đi. Đang khi đi, Giô-na-than nói với bạn mình: “Hè, chúng ta hãy hãm đồn của những kẻ không chịu cắt bì kia, hoặc giả Đức Giê-hô-va sẽ hành sự vì chúng ta, vì Đức Giê-hô-va khiến cho số ít người được thắng cũng như số đông người vậy”. Bạn của Giô-na-than rất đồng ý. Kẻ không chịu cắt bì là những kẻ không thuộc về Chúa. Dầu vậy, chỉ có hai người mà nghĩ đến việc hãm đồn của địch là một việc mạo hiểm, phải can đảm lắm mới dám làm.

Dầu số ít, Chúa không những cứu chúng ta mà còn dùng chúng ta cứu người khác nữa. Về sau Đa-vít cũng nói với Gô-li-át: “Khắp thế gian sẽ biết rằng trong Y-sơ-ra-ên có một Đức Chúa Trời và quân lính này sẽ thấy rằng Đức Giê-hô-va không giải cứu bằng gươm hoặc bằng giáo, vì Đức Giê-hô-va là Chúa của chiến trận” (I Sa-mu-ên 17:47).

2. Giô-na-than chiến thắng vì làm theo ý Chúa.

Giô-na-than xin Chúa một dấu hiệu, rồi nói với bạn mình, nếu họ thấy chúng ta và nói rằng: “Hãy đợi chúng ta đến cùng các ngươi”. Chúng ta sẽ đứng tại chỗ. Còn nếu như họ thấy chúng ta, rồi nói: “Hãy lên đến chúng ta”, thì chúng ta sẽ lên, vì Đức Giê-hô-va đã phó chúng nó vào tay chúng ta. Khi dân Phi-li-tin trong đồn thấy chỉ có hai người, họ tưởng là quân đào ngũ của Y-sơ-ra-ên đã ẩn trong các hang đá bây giờ ra đầu hàng nên kêu: “Hãy đi đến chúng ta, chúng ta có chuyện tỏ cùng hai ngươi”. Giô-na-than rất mừng, nói với bạn mình: “Hãy theo ta, vì Đức Giê-hô-va đã phó chúng nó vào tay Y-sơ-ra-ên”. Khi họ đến gần, quân Phi-li-tin cũng không đề phòng chi cả, nên ngay đợt tấn công thứ nhất, hai chàng đã giết chừng 20 người. Sự kinh hãi tràn ngập đội quân Phi-li-tin, quân trong đồn, quân đi ra cướp bóc đều rối loạn hàng ngũ đến cực điểm. Thêm vào đó còn có động đất. Lính của Sau-lơ báo tin cho Sau-lơ, vua ra lệnh điểm quân, thấy thiếu Giô-na-than và kẻ vác binh khí của chàng. Sau-lơ liền kéo quân ra trợ chiến. Vua thấy người Phi-li-tin rút gươm giết lẫn nhau. Bấy giờ những kẻ đã đầu hàng để phục dịch quân Phi-li-tin nay trở lại hiệp với Giô-na-than và Sau-lơ. Những kẻ bấy lâu sợ hãi trốn trong núi rừng, hầm hố nay đuổi theo quân Phi-li-tin và giết họ. Trong ngày đó, quân Phi-li-tin giết lẫn nhau nhiều hơn là bị quân Y-sơ-ra-ên giết. Thế là Đức Giê-hô-va đã giải cứu dân Y-sơ-ra-ên.

Chỉ một mình Chúa có thể khiến kẻ yếu thắng người mạnh, số ít thắng số nhiều. Đúng như Chúa hứa: “Năm người trong các ngươi sẽ đuổi theo một trăm, một trăm trong các ngươi sẽ đuổi theo một muôn và quân nghịch sẽ bị gươm ngã trước mặt các ngươi. Đức Giê-hô-va sẽ làm cho kẻ thù nghịch dấy lên cùng ngươi bị đánh trước mặt ngươi. Một người trong các ngươi sẽ đuổi được đến ngàn người chúng nó, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi là Đấng chiến đấu cho các ngươi y như Ngài đã phán” (Lê-vi ký 26:8, Phục 28:7).

Chúa Jêsus hỏi các môn đồ khi họ gặp cơn bão lớn: “Hỡi kẻ ít đức tin kia, cớ sao các ngươi sợ” (Ma-thi-ơ 8:26, Mác 4:40). Các môn đồ run sợ trong khi có Ngài bên cạnh, còn chúng ta thì sao? Ngài luôn nhắc chúng ta chớ sợ vì Ngài luôn ở bên chúng ta (Giô-suê 1:9). Hãy tin cậy Ngài và can đảm, chúng ta sẽ thắng cho dù mình chỉ là số ít.

CÂU HỎI

1. Tình trạng dân Y-sơ-ra-ên thế nào khi bị quân Phi-li-tin bao vây?

2. Trong tình trạng đó, vua Sau-lơ làm gì? Tại sao ông làm như vậy?

3. Điều gì tỏ ra Sau-lơ không vâng lời Chúa và không ăn năn?

4. Sa-mu-ên trách Sau-lơ thế nào?

5. Giô-na-than là con người như thế nào?

6. Vì sao Giô-na-than chiến thắng?

7. Đức Chúa Trời đã dùng những con người như thế nào để làm nên công việc Ngài?

8. Sự sợ loài người giống như gì?

BÀI 30. SAU-LƠ KHÔNG VÂNG LỜI CHÚA

KINH THÁNH: I Sa-mu-ên 15:1-35.

CÂU GỐC: “Vả, sự vâng lời tốt hơn của tế lễ, sự nghe theo tốt hơn mỡ chiên đực” (I Sa-mu-ên 15:22).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết nếu họ yêu mến Ngài, thì sẽ vâng phục Ngài bằng sự giữ các điều răn Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Vâng phục Đấng Christ

(Giăng 15:8-14).

TH:

Sự bất tuân của Sau-lơ

(I Sa-mu-ên 15:1-35).

TB:

Diệt trừ tham dục tội lỗi

(Rô-ma 6:12-14).

TT:

Diệt trừ tham dục tội lỗi

(Rô-ma 13:14; Ga-la-ti 5:16-26).

TN:

Tình yêu của Đức Chúa Trời trong chúng ta

(IGiăng 2:3-5).

TS:

Ao ước ý chỉ của Đức Chúa Trời

(I Phi-e-rơ 4:1-6).

TB:

Chớ yêu thế gian

(IGiăng 2:15-17).

Sau khi chiến thắng dân Phi-li-tin do một phép lạ Chúa đã làm, Sau-lơ trở nên can đảm. Vua đánh với các vua Mô-áp, Am-môn, Ê-đôm, Sê-ba và thắng họ. Bây giờ Chúa truyền một mạng lệnh cho vua để vua khiêm nhường thực hiện chu đáo.

I. MẠNG LỆNH CỦA CHÚA CHO SAU-LƠ (1-3).

1. Lý do vua Sau-lơ phải vâng lời Chúa.

Sa-mu-ên nói: “Đức Giê-hô-va đã sai ta xức dầu cho ngươi lập làm vua dân Y-sơ-ra-ên của Ngài”. Dân Y-sơ-ra-ên không tự ý tôn Sau-lơ làm vua mà do Chúa xức dầu ông mới được như vậy. Đó là lý do ông phải vâng lời Ngài.

2. Nội dung mạng lệnh của Chúa cho vua Sau-lơ.

Đây là mạng lệnh của Chúa: “Hãy đi đánh dân A-ma-léc và diệt trừ hết thảy mọi vật thuộc về chúng nó…”

3. Lý do Chúa ra lệnh cho vua Sau-lơ tiêu diệt dân A-ma-léc.

a. Dân A-ma-léc luôn gây hấn với dân Y-sơ-ra-ên.

Dân A-ma-léc gây hấn với dân Y-sơ-ra-ên luôn, từ khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô cho đến giờ này (Xuất 17:8-16, Dân 14:45, Quan xét 3:13,6:3, I Sa-mu-ên 14:48, Phục 25:17-19).

b. Dân A-ma-léc phạm tội với Chúa.

Khi trong thân có một chỗ bị ung thối thì không thể nào tiếc được, phải cắt bỏ chỗ đó đi. Chúa Jêsus đã phán: “Nếu tay hay là chân ngươi làm ngươi sa vào tội lỗi thì hãy chặt và ném nó xa ngươi đi, vì thà ngươi què chân hay là cụt tay mà vào nơi hằng sống còn hơn là đủ cả hai tay mà bị quăng vào lửa đời đời” (Ma-thi-ơ 18:8). Nếu chúng ta nhận biết sự thánh khiết vô cùng của Chúa và tội lỗi là gớm ghiếc đến bậc nào, thì chúng ta không ngạc nhiên vì sao Chúa đã hủy diệt nhân loại thời Nô-ê, hủy diệt thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ và bây giờ Ngài hủy diệt dân A-ma-léc.

II. SAU-LƠ KHÔNG VÂNG THEO MẠNG LỆNH CỦA CHÚA (4-9).

1. Những việc bày tỏ Sau-lơ không vâng theo mạng lệnh của Chúa.

Sau-lơ nhân danh Chúa hiệu triệu toàn dân cho chiến dịch này. Ai nấy hăng hái tham gia, nên dưới quyền Sau-lơ có 210 ngàn quân. Họ chiến thắng dân A-ma-léc và tiêu diệt tất cả, chỉ giữ lại Aga và những con vật tốt nhất.

2. Lý do Sau-lơ không vâng theo mạng lệnh của Chúa.

Lòng kiêu ngạo do chiến thắng và tham lam đã khiến Sau-lơ không vâng lời Chúa. Tại sao vua lại giữ Aga? Vua Aga là thành phần ưu tú, nên Sau-lơ muốn khai thác để được những gì quí hơn. Tại sao vua Sau-lơ giữ những con vật tốt nhất? Vì vua tham lam.

III. HẬU QUẢ SỰ KHÔNG VÂNG LỜI CHÚA CỦA SAU-LƠ (10-35).

Sự không vâng lời của Sau-lơ, hay là chỉ vâng lời một nửa thì hậu quả rất tai hại.

1. Chúa buồn Sau-lơ (10-12,35).

“Ta hối hận (ăn năn) vì đã lập Sau-lơ làm vua, bởi người đã xây bỏ ta, không làm theo lời ta”.

– Ý nghĩa sự ăn năn của Chúa.

Đức Chúa Trời ăn năn có nghĩa gì? Đức Chúa Trời không bao giờ thay đổi, hôm qua ngày nay cho đến vô cùng, Ngài vẫn y nguyên. Bản tính thánh khiết, nhân từ, thương xót, thành tín của Chúa là hoàn toàn và đơi đời vẫn như một (Ma-la-chi 3:6, Gia-cơ 1:17, Hêbêrơ 13:8, Ê-xê-chi-ên 24:14, Dân 23:19, I Sa-mu-ên 15:29). Đức Chúa Trời ăn năn khác hơn chúng ta ăn năn. Chúng ta ăn năn là thay đổi ý kiến, tâm trạng, vì biết mình đã phạm tội, nên quay về với Chúa, xin thương xót như đứa con hoang đàng trở về cùng cha. Còn Chúa ăn năn là thay đổi thái độ, thay đổi phương pháp đối với con người xấu hay người biết ăn năn.

a. Chúa thay đổi thái độ do con người ăn năn.

Sự thánh khiết đời đời của Chúa đòi hỏi Ngài phải hủy diệt thành Ni-ni-ve. Nhưng khi Ngài thấy từ vua chí dân, từ người đến thú đều hạ mình kêu cầu cùng Chúa, từ bỏ việc ác của mình nên Ngài ăn năn, tức là thay đổi thái độ của Ngài đối với họ là không hủy diệt mà thương xót (Giô-na 3:10).

b. Chúa thay đổi thái độ do con người không ăn năn.

Chúa đã dựng nên muôn vật và loài người một cách tốt đẹp, nhưng đến Nô-ê, loài người đã bại hoại cực điểm, thì Ngài ăn năn tức là rất buồn mà phải quyết định hủy diệt họ bằng một cơn lụt (Sáng 6:5-7).

Khi Chúa sai Sa-mu-ên xức dầu cho Sau-lơ làm vua, bấy giờ ông ấy là ngươi khiêm nhường, nhưng về sau ông trở nên một người ngạo mạn, bất tuân nên Chúa phải ăn năn, là thay đổi thái độ của Ngài đối với ông, là không dùng ông nữa mà phải bỏ đi. Trong khi Chúa buồn về Sau-lơ, Sa-mu-ên cũng buồn rầu về Sau-lơ mà kêu cầu cùng Chúa cả đêm, thì Sau-lơ vênh vang, tự đắc về chiến thắng của mình. Vua lên núi Cạt-mên và lập một đài kỷ niệm cho mình tại đó. Niềm kiêu hãnh đã làm cho ông đui mù, không thấy nguy cơ trước mặt.

2. Sa-mu-ên quở trách Sau-lơ (13-23).

a. Sau-lơ đỗ lỗi cho dân chúng.

Khi gặp Sa-mu-ên, Sau-lơ nói: “Nguyện Đức Chúa Trời ban phước cho ông. Tôi đã làm theo lệnh của Đức Giê-hô-va”. Sa-mu-ên hỏi: “Vậy thì tiếng chiên kêu vang lên đến tai ta, cùng tiếng bò rống ta nghe kia là làm sao?” Tiếng chiên kêu vang và tiếng bò rống tố cáo Sau-lơ đã bất tuân mạng lệnh của Chúa, tiếng đó lớn hơn tiếng của Sau-lơ khoe khoang với Sa-mu-ên. Hành vi của ông có tiếng lớn hơn môi miệng của ông. Sau-lơ tìm cách chữa chối, đỗ lỗi cho dân chúng, nói rằng họ chỉ giữ lại những con vật tốt nhất để làm tế lễ cho Đức Chúa Trời. Ông càng phạm tội vì nói dối và lấy công việc thờ phượng Đức Chúa Trời để che giấu tội lỗi của mình.

Chúng ta sẵn sàng bỏ tội lỗi nào đó như say sưa, trác táng, bạo tàn, nhưng chúng ta giữ lại tội lỗi nào có lợi như lừa gạt, gian lận, không dâng hiến của cải, thì giờ… Như vậy là giả hình, nói là vì Chúa, kỳ thật chỉ vì mình.

b. Sau-lơ kiêu ngạo.

Sa-mu-ên nói với Sau-lơ: “Lúc ngươi còn nhỏ, tại mắt ngươi, ngươi há chẳng trở nên đầu trưởng của các chi phái Y-sơ-ra-ên sao? Và Đức Giê-hô-va há chẳng xức dầu cho ngươi làm vua Y-sơ-ra-ên ư?”. Khi Sau-lơ tự xem mình là nhỏ, Chúa đã làm cho ông trở nên lớn. Nếu ông cứ giữ thái độ đó, Chúa còn trọng dụng ông. Song từ khi ông thay đổi thái độ, tự xem mình là lớn mà bất tuân mạng lệnh của Chúa, thì Ngài bỏ ông. Khi bị Chúa bỏ, dầu ông cố gắng làm cho mình ra quan trọng như dựng đài kỷ niệm cũng vô ích. Khi Chúa đem ông lên thì không ai có thể hạ ông xuống, bây giờ Chúa hạ ông xuống, cũng không ai có thể đem ông lên. Sau-lơ là người đáng thành công mà thất bại vì kiêu ngạo.

c. Sau-lơ cố chấp.

Sau-lơ vẫn cãi bướng là ông đã vâng lời Chúa, ông chỉ giữ con vật tốt nhất là vì Chúa để dùng làm tế lễ cho Ngài. Sa-mu-ên giải thích: “Đức Giê-hô-va há đẹp lòng của lễ thiêu và của lễ thù ân bằng sự không vâng theo lời phán của Ngài ư? Vả, sự vâng lời tốt hơn của tế lễ, sự nghe theo tốt hơn mỡ chiên đực, sự bội nghịch cũng đáng tội bằng sự tà thuật, sự cố chấp giống như tội cúng lạy thần tượng”.

Bất tuân mạng lệnh, phản loạn cùng Chúa, ngang với tội bói khoa, phù thủy. Bướng bỉnh ngoan cố ngang với tội thờ lạy hình tượng. Đó là những tội đáng chết. A-đam và Ê-va cũng chỉ phạm tội bất tuân mà gây cho cả dòng dõi bị bại hoại. “Như bởi sự không vâng phục của một người mà mọi người khác thành ra kẻ có tội” (Rô-ma 5:19).

3. Sau-lơ không ăn năn và bị Chúa bỏ (24-35).

Trong khi cùng đường túng thế, Sau-lơ nói với Sa-mu-ên: “Tôi có phạm tội… tôi sợ dân sự, nên nghe theo tiếng của họ. Bây giờ xin ông tha tội tôi, trở lại cùng tôi thì tôi sẽ sấp mình xuống trước mặt Đức Giê-hô-va”. Đáng lẽ Sau-lơ phải nói: “Tôi sợ Chúa nên nghe theo tiếng Ngài”, nhưng vì ông không sợ Chúa, không nghe theo tiếng Ngài nên ông đã sợ dân sự và nghe theo tiếng họ. Đó là hành động xấu hổ biết bao. Sa-mu-ên đáp: “Ta không trở lại cùng ngươi vì ngươi đã bỏ Lời của Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va từ bỏ ngươi để ngươi chẳng còn làm vua của Y-sơ-ra-ên nữa”. Một tiên tri của Chúa làm sao có thể trở lại với một người bỏ Chúa và bị Chúa bỏ? Khi Sa-mu-ên quay gót, thì Sau-lơ nắm áo tơi của Sa-mu-ên kéo lại, nên áo bị rách. Nhân đó Sa-mu-ên dạy cho ông một bài học cụ thể là nước ông sẽ bị xé khỏi ông để ban cho một người tốt hơn. Sau-lơ tiếp: “Tôi có tội, song xin hãy tôn trọng tôi trước mặt các trưởng lão của dân sự tôi và trước mặt Y-sơ-ra-ên. Xin ông trở lại cùng tôi, thì tôi sẽ thờ lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông”. Ăn năn mà đòi điều kiện như Sau-lơ là không ăn năn thật. Ăn năn mà sợ mất thể diện, mất địa vị như Sau-lơ thì không phải là ăn năn. Nên dầu Sau-lơ có sấp mình thờ lạy Chúa, Ngài không chấp nhận mà vẫn từ bỏ ông.

Sau-lơ đã phạm tội, nhưng cố che đậy. Khi tội lỗi bị phát giác, Sau-lơ bào chữa, cãi bướng, khi bị lên án, Sau-lơ miễn cưỡng nhận tội, nhưng không thật lòng ăn năn. Ăn năn là nhận mình có tội, đau đớn về tội, lìa bỏ tội và xin Chúa thương xót. Vì không ăn năn, Sau-lơ bị Chúa bỏ.

Chúng ta uyệt đối phục tùng Chúa là phước vô cùng. Nếu đã phạm tội thì chúng ta phải hết lòng ăn năn.

CÂU HỎI

1. Chúa ban mạng lệnh gì cho Sau-lơ?

2. Tại sao Chúa hủy diệt dân A-ma-léc?

3. Sau-lơ vâng lời Chúa điều gì và không vâng lời điều gì?

4. Tại sao Sau-lơ bất tuân mạng lệnh Chúa?

5. Đức Chúa Trời ăn năn có nghĩa gì?

6. Khi Sau-lơ khoe khoang mình đã vâng lời, thì điều gì tố cáo Sau-lơ?

7. Sa-mu-ên trách Sau-lơ không “còn nhỏ tại mắt ông” có nghĩa gì?

8. Khi Sau-lơ tự bào chữa là để lại các con thú tốt để dâng cho Chúa, thì Sa-mu-ên giải thích thế nào?

9. Tại sao chúng ta biết Sau-lơ không thật lòng ăn năn?

10. Tại sao Sau-lơ bị Chúa bỏ?

BÀI 31. GÃ CHĂN CHIÊN ĐƯỢC CHỌN LÀM VUA

KINH THÁNH: I Sa-mu-ên 16:1-23.

CÂU GỐC: “Đức Giê-hô-va chẳng xem điều gì loài người xem, loài người xem bề ngoài nhưng Đức Giê-hô-va nhìn thấy trong lòng” (I Sa-mu-ên 16:7).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết Đức Chúa Trời chọn những người sẵn sàng phục vụ Ngài hết lòng để làm lãnh tụ.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ chọn chúng ta

(Giăng15:16).

TH:

Gã chăn chiên được chọn làm vua

(I Sa-mu-ên 16:1-13).

TB:

Gã chăn chiên được chọn làm vua

(I Sa-mu-ên 16:14-23).

TT:

Đức Chúa Trời tìm kiếm lãnh tụ

(Êxê 22:30; Giăng 12:26; 15:16).

TN:

Đức Chúa Trời thử nghiệm những lãnh tụ

(Ma-thi-ơ 25:14-28).

TS:

Nhiệm vụ của vua

(Châm 16:12; 20:28; 21:3; 29:14).

TB:

Hết lòng làm theo ý Chúa

(Ê-phê-sô 6:6).

Vì Sau-lơ không chịu ăn năn mà cứ tiếp tục phạm tội, nên bị Chúa bỏ. Sa-mu-ên rất buồn rầu (15:35;16:1). Ngày kia, Chúa bảo Sa-mu-ên đổ đầy một sừng dầu rồi đi đến nhà Ysai tại Bết-lê-hem, vì Chúa đã chọn một trong các con trai người làm vua dân Y-sơ-ra-ên.

I. TIÊU CHUẨN CHÚA CHỌN NGƯỜI (1-7).

Sa-mu-ên sợ Sau-lơ biết chuyện đó, sẽ làm hại ông, vì từ Ra-ma là chỗ ở của Sa-mu-ên đến Bết-lê-hem phải qua Ghi-bê-a là kinh đô của Sau-lơ. Làm tiên tri bên cạnh một ông vua bị Chúa bỏ, lại dữ tợn thì rất nguy hiểm cho tính mạng (I Sa-mu-ên 22:18-19). Chúa bảo Sa-mu-ên phải làm như lần xức dầu cho Sau-lơ (9:15;10:1). Thế là Sa-mu-ên đến Bết-lê-hem dâng tế lễ và mời các trưởng lão cũng như cả nhà Ysai dự tế lễ và dự tiệc.

1. Không xem bề ngoài.

Chúa bảo Sa-mu-ên phải theo một tiêu chuẩn đặc biệt: “Chớ xem về hình dạng và tầm vóc cao lớn của nó, vì Ta đã bỏ nó. Đức Giê-hô-va chẳng xem điều gì loài người xem, loài người xem bề ngoài nhưng Đức Giê-hô-va nhìn thấy trong lòng”. Sau-lơ có diện mạo khôi ngô, oai phong lẫm liệt, cao hơn mọi người từ vai trở lên, nên khi thấy Sau-lơ, dân Y-sơ-ra-ên tung hô: “Nguyện vua vạn tuế”, nhưng rất tiếc, Sau-lơ có tâm địa nhỏ nhen, trí óc hẹp hòi, chỉ nghĩ về mình nên không xứng hiệp là vua của một nước, nhất là nước Y-sơ-ra-ên. Vì vậy, ông bị Chúa bỏ.

2. Có lòng tin cậy và thuận phục Chúa.

Lần này tiêu chuẩn Chúa đặt, không phải xác thể mà là tấm lòng, một tấm lòng tin cậy, phục tùng, một tấm lòng tìm kiếm Chúa, vừa ý Ngài.

Dáng vẻ của loài người rất đẹp mà lòng dạ lại rất xấu (Giê-rê-mi 17:9). Nhưng loài người không chịu ăn năn để lòng mình trở nên tốt, mà chỉ trau giồi xác thể giống như quét vôi mồ mả cho đẹp mà bên trong là một đống xương hôi thối, điều đó sai với tiêu chuẩn của Chúa. Sa-lô-môn khuyên: “Khá cẩn thận giữ tấm lòng con hơn hết, vì các nguồn sự sống do nơi nó mà ra” (Châm ngôn 4:23).

II. GÃ CHĂN CHIÊN ĐA-VÍT ĐƯỢC CHÚA CHỌN.

1. Lý do Đa-vít được Chúa chọn.

a. Khiêm nhường.

Sau phần nghi thức tế lễ xong, Sa-mu-ên bảo các con trai của Ysai đi qua trước mặt mình. Mọi người đi qua mà Chúa không cảm động Sa-mu-ên xức dầu cho ai trong đám họ. Sa-mu-ên hỏi: “Hết thảy con trai ông là đó sao?” Ysai đáp: “Còn đứa con út, nhưng nó đi chăn chiên”. Sa-mu-ên tiếp: “Hãy sai gọi nó, chúng ta không ngồi ăn trước khi nó đến”.

Khi trong nhà có lễ lớn, có tiệc to, do vị tiên tri duy nhất đến hành lễ và dự tiệc, mà không ai nhớ đến Đa-vít, nhưng khi được gọi về, ông không ganh tị, không đòi hỏi, bày tỏ là một người khiêm nhường. Đó là một số các ưu điểm mà Chúa đã chọn ông. Con người quên Đa-vít, nhưng Chúa không quên ông. Ông là người quan trọng nhất trong bữa tiệc đó, vì cớ ông mà bữa tiệc đó được tổ chức, nếu không có ông thì bữa tiệc không thành. Giô-sép cũng vậy. Vợ Phô-ti-pha vu khống Giô-sép, Phô-ti-pha bỏ tù Giô-sép, quan tửu chánh quên mất Giô-sép, song Đức Chúa Trời buộc Pha-ra-ôn phải mời Giô-sép giải quyết nan đề của mình và tôn Giô-sép lên ngôi tể tướng. Đúng như Chúa phán: “Kẻ nào tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn kẻ nào hạ xuống sẽ được tôn lên” (Ma-thi-ơ 23:12, Lu-ca 14:11, 18:14). “Đức Giê-hô-va chống cự kẻ kiêu ngạo mà ban ơn cho kẻ khiêm nhường. Vậy hãy hạ mình xuống dưới tay quyền phép của Đức Chúa Trời, hầu cho đến kỳ thuận hiệp Ngài nhắc anh em lên” (I Phi-e-rơ 5:5-6).

Tất cả những người Chúa chọn đã đi con đường đó.

b. Tin cậy Chúa.

Khi Đa-vít bước vào, Chúa phán với Sa-mu-ên: “Ấy là nó, hãy đứng dậy xức dầu cho nó”. Phải chăng về sau khi nhớ lại quang cảnh này mà Đa-vít đã viết: “Chúa dọn bàn cho tôi, trước mặt kẻ thù nghịch tôi, Chúa xức dầu cho đầu tôi, chén tôi đầy tràn” (Thi thiên 23:5).

2. Phước hạnh của Đa-vít khi được Chúa chọn.

– Thần của Đức Giê-hô-va cảm động Đa-vít.

“Mặt người hồng hồng, con mắt xinh lịch và hình dung tốt đẹp”. Đa-vít có nước da sạm nắng vì ở ngoài đồng, dáng của một thư sinh hiền hậu nhưng thông minh (17:42). Điều quan trọng nhất là “từ ngày đó về sau, Thần của Đức Giê-hô-va cảm động Đa-vít”. Cảm động có nghĩa là bắt lấy, chiếm hữu, mà cũng là hành động một cách mãnh liệt. Vì vậy Đa-vít có thể giết được gấu và sư tử khi chúng xâm phạm bầy của ông (17:34-35). Không một kẻ thù nào đứng nổi trước một người đầy dẫy Đức Thánh Linh. Ma quỉ phải chịu thua.

III. GÃ CHĂN CHIÊN ĐA-VÍT AN ỦI VUA SAU-LƠ (14-23).

1. Cơ hội Đa-vít an ủi Sau-lơ.

Sau khi được xức dầu, Đa-vít tiếp tục chăn chiên của cha mình. Thần của Đức Giê-hô-va lìa khỏi Sau-lơ, Đức Giê-hô-va khiến một ác thần khuấy phá người. Thật ra Chúa không cần khiến ác thần nhập vào Sau-lơ đâu, song hễ Ngài lìa khỏi Sau-lơ, ác thần đương nhiên chiếm hữu ông liền (Ma-thi-ơ 12:43-45, Lu-ca 11:23-26). Khi đèn trong nhà tắt thì sự tối tăm tràn vào chứ không cần mời mọc. Ác thần làm cho Sau-lơ kinh hãi và sầu khổ. Khi được Chúa ở cùng, ông đã đem quân đi đánh các vua, các nước và thắng họ (14:47-48). Bây giờ bị Chúa bỏ, ông sợ họ báo thù, mất mạng. Ông đã mất ân điển, mất quyền năng, mất trí khôn nên tinh thần rối loạn. Thật một người bị Chúa bỏ là khốn nạn biết bao. Phải chăng vì đã chứng kiến khổ cảnh ấy, nên khi Đa-vít phạm tội, ông đã hết lòng ăn năn và khẩn thiết: “Xin chớ bỏ tôi khỏi trước mặt Chúa, cũng đừng cất khỏi tôi Thánh Linh Chúa” (Thi Thiên 51:11). Khi bị Chúa bỏ, bị Chúa hạ, thì dầu có cần trục mạnh nhất mà trục cũng không lên. Số phận của Sau-lơ bây giờ khốn nạn hơn bao giờ hết, hơn lúc chưa làm vua. Triều thần của Sau-lơ lo ngại cho ông, song họ cũng biết rằng bịnh ông không thuốc chữa vì “trí nao sờn làm xương cốt khô héo” (Châm ngôn 17:22).

Cuối cùng họ tìm thấy một phương thuốc giải sầu là âm nhạc và con người có thể gảy đàn để an ủi được Sau-lơ, không ai khác hơn Đa-vít. “Nầy tôi thấy một con trai Ysai, người Bết-lê-hem, nó gảy đàn hay, một chiến sĩ mạnh bạo, ăn nói khôn ngoan, mặt mày tốt đẹp và Đức Giê-hô-va ở cùng người”.

2. Phương thức Đa-vít an ủi Sau-lơ.

Bởi đầy dẫy Thánh Linh, Đa-vít có đủ ân tứ và khả năng an ủi Sau-lơ. Vì Thánh Linh là Thần An ủi (Giăng 14:16), người đầy dẫy Thánh Linh là con trai của sự an ủi (Công vụ 4:36). Vì vậy Đa-vít được mời vào triều, ở bên cạnh Sau-lơ, gảy đàn để an ủi Sau-lơ. Sau-lơ rất yêu thương Đa-vít, vì nhờ Đa-vít, ông được yên ủi. Đa-vít được ở đó một thời gian để học biết nhiều điều cần thiết cho chức vụ của ông sau này. “Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời”. Song mọi sự hiệp lại làm hại cho kẻ không yêu mến Ngài.

ÁP DỤNG.

Chúng ta là những người được Chúa chọn và lập (Giăng 15:16), đã được Chúa xức dầu bằng Thánh Linh (IGiăng 2:20,27), thì hãy an ủi người khác. Biết bao gia đình đau khổ, biết bao đời sống điêu linh, biết bao tâm hồn tan vỡ vì không có Chúa, không có niềm tin, không có hy vọng. Họ cần được an ủi. Đức Chúa Trời là Cha an ủi, Ngài ban mọi sự an ủi, không hề có sự đau khổ nào mà Ngài không thể an ủi được.

CÂU HỎI

1. Khi Sa-mu-ên buồn về Sau-lơ thì Chúa bảo ông làm gì?

2. Chúa bảo Sa-mu-ên chọn người theo tiêu chuẩn nào?

3. Điều gì chứng minh Đa-vít được tôn trọng giữa các anh em và các trưởng lão?

4. Khi được xức dầu thì có điều gì xảy ra cho Đa-vít?

5. Trong khi đó có điều gì xảy ra cho Sau-lơ?

6. Khi ác thần nhập vào Sau-lơ thì ông thế nào?

7. Triều thần của Sau-lơ đã làm gì cho ông?

8. Người an ủi được Sau-lơ là người như thế nào?

9. Ai cần được an ủi?

10. Ai có khả năng và ân tứ để an ủi?

BÀI 32. ĐA-VÍT, NGƯỜI CHĂN CHIÊN HIỀN LÀNH

KINH THÁNH: I Sa-mu-ên 17:34-37, Thi Thiên 23.

CÂU GỐC: “Ta là người chăn hiền lành, người chăn hiền lành vì chiên mình phó sự sống mình” (Giăng 10:11).

MỤC ĐÍCH: Khuyến khích học viên tin cậy Chúa Jêsus, Đấng chăn chiên hiền lành, luôn bảo vệ và chăm sóc mỗi con cái Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Chúa Jêsus, Đấng chăn chiên hiền lành

(Giăng 10:1-18).

TH:

Đa-vít, người chăn hiền lành

(I Sa-mu-ên 17:34-37).

TB:

Thi thiên của người chăn

(Thi Thiên 23).

TT:

Người chăn hiền lành dẫn dắt chiên

(Ês 30:21; Giăng 10:4).

TN:

Người chăn hiền lành bảo vệ chiên

(II Tê 3:3; I Phi-e-rơ 1:5).

TS:

Người chăn phó sự sống vì chiên

(Ê-sai 53:6-7; Rô-ma 5:6-8).

TB:

Người chăn chiên hiền lành tìm chiên lạc mất

(Lu-ca 15:6).

Từ nhỏ, Đa-vít đã chăn chiên, cho đến khi được Chúa xức dầu, Đa-vít vẫn tiếp tục nghề chăn chiên. Người Ê-díp-tô gớm ghiếc mọi kẻ chăn chiên (Sáng 46:34), song Đức Chúa Trời tự xưng là Đấng Chăn chiên và Chúa Jêsus cũng vậy (Ê-sai 40:11, Giăng 10:11). Chúa còn gọi các tiên tri, các sứ đồ là người chăn chiên thuộc linh, tức là chăn dân sự, chăn Hội Thánh của Ngài (Dân 27:16, Giăng 21:15-17). Đa-vít đã từ một người chăn chiên trở nên một người chăn dân của Chúa. Ông đã thành công trong cả hai lãnh vực đó (Thi Thiên 78:70-72).

I. ĐA-VÍT DẪN DẮT CHIÊN.

1. Dẫn dắt chiên đến đồng cỏ xanh tươi, mé nước bình tịnh.

Dẫn dắt chiên không phải là việc dễ dàng mà rất khó khăn. Phải tìm cho bầy chiên đồng cỏ xanh tươi, mé nước bình tịnh, để chiên không lúc nào bị thiếu cỏ ăn, nước uống. Tại vùng Bết-lê-hem, đồng cỏ nhỏ, suối nước ít, nên người chăn phải nhọc nhằn lắm mới lo cho bầy chiên không thiếu thốn gì. Sau khi cho chiên ăn no, uống đủ, người chăn để chiên nằm nghỉ ngơi, thoải mái. Do kinh nghiệm đó, Đa-vít đã hát: “Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi, tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì. Ngài khiến tôi an nghỉ nơi đồng cỏ xanh tươi, dẫn tôi đến mé nước bình tịnh. Ngài bổ lại linh hồn tôi…” (Thi thiên 23).

2. Chăm sóc chu đáo chiên mẹ lẫn chiên con.

Người chăn ôm các chiên con vào cánh tay mình, ẳm chúng nó vào tay và từ từ dắt các con chiên cái đang cho bú. Người chăn phải khôn ngoan, hiền lành đối với chiên mẹ lẫn chiên con. Bầy chiên được vuông tròn, sinh sôi nẩy nở là nhờ đó. Tiên tri Ê-sai bảo rằng Đức Chúa Trời đối với chúng ta là như vậy (Ê-sai 40:11).

Người chăn còn phải làm cho chiên yếu nên mạnh, chữa lành chiên đau, rịt thuốc chiên què, tức là chăm sóc chu đáo, cấp cứu kịp thời những trường hợp bất trắc xảy ra, để lúc nào bầy chiên cũng được bình an. Vì vậy khi các nhà lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên thiếu trách nhiệm dẫn dắt dân mình, họ bị Chúa quở trách: “Các ngươi chẳng làm cho những con chiên mắc bịnh nên mạnh, chẳng chữa lành những con đau, chẳng rịt thuốc những con bị thương, chẳng đem những con bị đui về, chẳng tìm những con bị lạc mất” (Ê-xê-chi-ên 34:4). “Họ rịt vết thương cho dân ta cách sơ sài mà rằng: Bình an, bình an, mà không bình an chi hết” (Giê-rê-mi 6:14, 8:11).

Sáng sớm dẫn chiên ra đồng, người chăn đi trước, chiên theo sau. Tối lại người chăn dắt chiên về, đem vào chuồng và đếm từng con một để biết chiên còn đủ hay thiếu. Nếu thiếu mất một con, người chăn đi tìm ngay cho đến khi gặp được chiên và đem về.

ÁP DỤNG.

– Chúa Jêsus chăn dắt Hội Thánh.

Chúa Jêsus là Đấng dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên, Ngài cũng dẫn dắt Hội Thánh. Ngài không để chúng ta bị đói khát, thiếu thốn, Ngài luôn chăm sóc và lo liệu cho chúng ta đầy đủ mọi nhu cầu. Gia-cốp đã nói với Ê-sau: “Đức Chúa Trời cho em đầy dẫy ân huệ và em đã có đủ hết” (Sáng 33:11). Chúa an ủi chúng ta trên giường đau yếu, chữa lành chúng ta mọi bịnh tật (Thi 41:3, 103:3). Không những Ngài dẫn dắt mà còn bồng, gánh vác chúng ta từ lúc tóc xanh cho đến khi bạc đầu (Ê-sai 41:10-13, 42:6). “Đức Giê-hô-va sẽ cứ dắt đưa ngươi…” (Ê-sai 58:11).

– Chúa Jêsus sửa trị Hội Thánh.

Khi tay Ngài đã làm cho chúng ta thương tích thì Ngài cũng bó rịt cho. Khi tay Ngài làm cho chúng ta đau đớn thì cũng làm cho chúng ta êm dịu (Phục 32:39, Gióp 5:18).

II. ĐA-VÍT GÌN GIỮ CHIÊN.

1. Can đảm bảo vệ chiên.

Chiên là loài vật rất yếu đuối, không thể tự vệ. Kẻ thù của chiên lại rất nhiều, rất dữ tợn như gấu, hùm, beo, sư tử. Vì vậy dẫn dắt chiên đã là khó, thì gìn giữ chiên cho được an toàn còn khó hơn.

2. Siêng năng bảo vệ chiên.

Người chăn đôi khi phải thức đêm canh giữ bầy chiên (Lu-ca 2:8). Gia-cốp rất thạo nghề chăn chiên đã thuật: “Ban ngày tôi chịu nắng nồng, ban đêm tôi chịu lạnh lùng, ngủ nào có yên giấc đâu” (Sáng 31:40). Một người lười biếng không thể chăn chiên. Đa-vít cũng thuật lại thể nào ông đã đánh với gấu và sư tử để bảo vệ bầy chiên (I Sa-mu-ên 17:34-35). Phải can đảm và hy sinh mới dám làm điều đó. Dám làm điều đó mới là người chăn chiên hiền lành. Bầy chiên lấy làm sung sướng có được người chăn như vậy.

ÁP DỤNG.

– Chúa Jêsus bảo vệ Hội Thánh.

Tác giả Thi thiên 121 đã hát: “Ngài không để chân ngươi xiêu tó, Đấng gìn giữ ngươi chẳng hề buồn ngủ… Đức Giê-hô-va sẽ gìn giữ ngươi khỏi mọi tai họa, Ngài sẽ gìn giữ linh hồn ngươi. Đức Giê-hô-va sẽ gìn giữ ngươi khi ra khi vào, từ nay cho đến đời đời”. Khi bầy chiên ngủ, Ngài cũng không nháy mắt, Ngài không để cho chân chúng ta lảo đảo vì mệt mỏi mà làm cho bước chúng ta vững vàng. Chúng ta được bình an như ngày nay không phải là một sự may mắn bèn là nhờ sự gìn giữ của Chúa. Trong ngày tai họa, Chúa giấu chúng ta trong lều Ngài, trong nơi bí mật của trại Ngài, cách xa tầm hoạt động của ma quỉ (Thi 27:5; 31:10). Dầu chúng ta như những con chiên còn ma quỉ như sư tử rống, thì nó cũng chỉ rình mò để chờ cơ hội thôi (I Phi-e-rơ 5:8). Cho nên Đa-vít đã hát: “Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chết, tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào, vì Chúa ở cùng tôi” (Thi 23:4).

Chúa Jêsus là người chăn hiền lành, đã phó sự sống Ngài vì chúng ta. Ngài quả quyết rằng chẳng ai cướp nổi chúng ta khỏi tay Ngài và tay Cha của Ngài (Giăng 10:11,28-29). Ví thử có ai mạnh hơn Đức Chúa Trời mới cướp chúng ta khỏi tay Ngài.

– Chúa Jêsus đi tìm chiên lạc.

Chúa Jêsus nói về một người chăn có một trăm con chiên mà mất một con, thì đi tìm cho kỳ được, là nói về kinh nghiệm thông thường của một người chăn. Chắc Đa-vít cũng không thoát khỏi cảnh có con chiên lạc mất mà ông phải đi tìm. Người chăn yêu từng con một trong bầy mình, nên khi biết có một con lạc mất thì đi tìm cho kỳ được. Nếu người chăn không đi tìm, thì chiên không biết đường mà trở về. Ê-sai nói: “Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy”. Khi người chăn tìm được chiên, không tức giận mà vui mừng vác nó lên vai và đem về. Chúa Jêsus đã từ trời xuống đất để tìm chúng ta và đem chúng ta về với Ngài.

Trong đời người có nhiều ngày đáng kỷ niệm như ngày sinh, ngày thành hôn, ngày thi đỗ, nhưng không có ngày nào đáng kỷ niệm bằng ngày được về với Chúa. Thế mà sau đó, đôi khi chúng ta vẫn còn đi lạc, cách xa Ngài: Người này theo tà giáo, người kia theo thế gian, người khác theo ý tưởng hư không của mình. Tính ngông cuồng của chúng ta thích đi dông dài, lang bạt như Ê-sau để rồi có ngày bán quyền trưởng nam. Sau khi người con hoang đàng trở về với cha, được mặc áo tốt nhất, đeo nhẫn vào tay, mang giày vào chân, chung bàn với cha ăn thịt bò con mập, thì không có lý do gì còn thèm vỏ đậu của heo.

Nguyện chúng ta đồng thanh với Đa-vít: “Tôi sẽ ở trong nhà Đức Giê-hô-va cho đến lâu dài”. Vì tại đây “Chúa dọn bàn cho tôi, trước mặt kẻ thù nghịch tôi, Chúa xức dầu cho đầu tôi, chén tôi đầy tràn. Quả thật, trọn đời tôi, phước hạnh và sự thương xót sẽ theo tôi”. Trong Thi thiên 23 có đến 17 đại danh từ “tôi” như tôi đi, của tôi, cho tôi… Tất cả quyền lợi, an ninh, hạnh phước của đời tôi, cả quá khứ, hiện tại, tương lai đều ở trong “Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi”.

CÂU HỎI

1. Đa-vít làm nghề gì?

2. Người chăn phải dẫn dắt bầy chiên như thế nào?

3. Chúa dẫn dắt chúng ta thế nào?

4. Gia-cốp và Đa-vít đã làm chứng thế nào về Chúa đã dẫn dắt họ?

5. Đa-vít gìn giữ bầy chiên ra sao?

6. Gia-cốp gìn giữ bầy chiên ra sao?

7. Chúa gìn giữ chúng ta ra sao?

8. Khi chiên lạc mất thì người chăn làm gì?

9. Dầu đã trở về với Chúa, tại sao đôi khi chúng ta còn đi lạc?

10. Chúng ta phải đồng thanh với Đa-vít mà nói gì?

BÀI 33. ĐA-VÍT THẮNG GÔ-LI-ÁT

KINH THÁNH: I Sa-mu-ên 17:1-54.

CÂU GỐC: “Đức Giê-hô-va là ánh sáng và là sự cứu rỗi tôi, tôi sẽ sợ ai? Đức Giê-hô-va là đồn lũy của mạng sống tôi, tôi sẽ hãi hùng ai?” (Thi thiên 27:1).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết nhờ Chúa Jêsus chúng ta sẽ đắc thắng ma quỉ, tội lỗi và thế gian.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ khiến chúng ta chiến thắng

(Rô-ma 8:37).

TH:

Đa-vít chiến thắng tên khổng lồ

(I Sa-mu-ên 17:1-54).

TB:

Mọi sự hiệp lại làm ích cho chúng ta

(Rô-ma 8:28).

TT:

Sự hiện diện của Chúa đối với Đa-vít

(Thi 25:1-5;28:7).

TN:

Sẵn sàng

(II Ti-mô-thê 2:21; I Phi-e-rơ 3:15).

TS:

Mặc lấy binh khí của Đức Chúa Trời

(Ê-phê-sô 6:11-13).

TB:

Mang lấy khí giới của Đức Chúa Trời

(Ê-phê-sô 6:14-17).

Đa-vít được mời gảy đàn để an ủi Sau-lơ, song khi trong nước có chiến tranh, Sau-lơ phải ra trận, thì Đa-vít trở về nhà tiếp tục chăn chiên như trước.

Trong khi đó, dân Phi-li-tin đã từng bị dân Y-sơ-ra-ên đánh hạ (I Sa-mu-ên 14,15) lại chỉnh đốn và tăng cường lực lượng để đánh dân Y-sơ-ra-ên. Trận chiến lần này thật dữ dội. Có lẽ họ nghe Sau-lơ đã bị Đức Chúa Trời lìa bỏ, bị ác thần nhập vào làm cho tinh thần bấn loạn. Đó là cơ hội tốt cho họ. Trên mặt trận thuộc linh giữa chúng ta với ma quỉ cũng vậy, xong trận này, nó gầy trận khác, mỗi lần một dữ dội hơn. Nó rình mò xung quanh, chờ cơ hội tốt và cơ hội đó là khi chúng ta phạm tội, mất bình an, mất ơn phước của Ngài.

I. GÔ-LI-ÁT THÁCH ĐỐ DÂN Y-SƠ-RA-ÊN (1:11).

1. Con người của Gô-li-át.

Trong quân đội Phi-li-tin có một tên khổng lồ, bề cao gần 3 mét, cầm cây lao nặng 20 ký, mặc áo giáp gần 80 ký, tên hắn là Gô-li-át. Sau-lơ dù cao hơn người Y-sơ-ra-ên từ vai trở lên cũng không nhằm gì so với hắn. Ai nấy xem hắn là nhà vô địch.

2. Sự thách đố của Gô-li-át.

Hằng ngày hắn đi ra thách đố dân Y-sơ-ra-ên chọn một người chiến đấu cùng hắn, bên nào bại sẽ làm nô lệ cho bên thắng.

3. Dân Y-sơ-ra-ên trước sự thách đố của Gô-li-át.

Sau-lơ và quân đội Y-sơ-ra-ên thấy hình hài cao lớn của hắn và nghe giọng nói xấc xược của hắn thì đều khiếp vía, kinh hồn.

ÁP DỤNG.

Đối với chúng ta, ma quỉ là tên khổng lồ vô địch. Nó luôn hiện ra bằng những hình thù quái dị như bịnh tật, đói kém, bắt bớ, hoạn nạn, khó khăn để thách đố, đe dọa tiêu diệt chúng ta. Trước kẻ thù đó, con cái Chúa lo sợ hàng ngày, vì vậy ai nấy cần học kỹ bài học này và áp dụng cho mình.

II. ĐA-VÍT ĐẾN TRẠI QUÂN Y-SƠ-RA-ÊN (12:30).

1. Lý do Đa-vít đến trại quân Y-sơ-ra-ên.

Đa-vít có ba anh em đã nhập ngũ trong quân đội Y-sơ-ra-ên. Một ngày nọ, cha của Đa-vít sai chàng đi tiếp tế thức ăn cho ba người anh và thăm hỏi sức khỏe của họ. Nhân cơ hội đó, Đa-vít được đến trại quân Y-sơ-ra-ên.

2. Điều Đa-vít thấy và nghe được tại trại quân Y-sơ-ra-ên.

Trong khi trò chuyện với các anh mình, Đa-vít thấy từ hàng ngũ Phi-li-tin, một tên khổng lồ xông ra, múa giáo dương oai như chỗ không người, miệng hắn buông lời xấc xược như bao lần trước, vì mỗi ngày hai lần, hắn đều làm vậy suốt 40 ngày. Rồi mỗi lần thấy hắn ra, hết thảy người Y-sơ-ra-ên đều chạy trốn một cách sợ hãi. Người Y-sơ-ra-ên nói với nhau: Ai giết được tên khổng lồ đó sẽ được trọng thưởng.

3. Phản ứng của Đa-vít trước sự thách đố của Gô-li-át.

Đa-vít giận lắm nên hỏi: “Người ta sẽ đãi thế nào cho kẻ giết được người Phi-li-tin này và cất sự sỉ nhục khỏi Y-sơ-ra-ên? Vì người Phi-li-tin này, kẻ chẳng chịu phép cắt bì này là ai mà dám sỉ nhục đạo binh của Đức Chúa Trời hằng sống?” Đa-vít cho rằng tên Phi-li-tin khổng lồ không thuộc về Chúa, ngoài giao ước của Ngài, hay hắn là ai đi nữa cũng không có phép ngạo mạn, lộng ngôn như vậy, vì không phải hắn sỉ nhục thách đố một cá nhân, mà cả quân đội, lại là quân đội của Đức Chúa Trời hằng sống. Hắn đáng chết.

ÁP DỤNG.

Người có mắt đức tin, có sự sống thuộc linh mới phân tích được một việc như thế. Phân tích được như thế mới không sợ, mới dám làm những việc lớn và khó. Người đó không nhân danh mình, hoặc nhân danh người mà làm, nhưng nhân danh Đức Chúa Trời hằng sống. Chắc chắn do sự hướng dẫn của Chúa mà Đa vít đã đến trại quân để phục vụ Ngài.

III. ĐA-VÍT CHẤP NHẬN SỰ THÁCH ĐỐ CỦA GÔ-LI-ÁT (31-37).

1. Đa-vít xin ra trận.

Bị các anh khiển trách nặng vì hiểu lầm, Đa-vít bỏ qua. Mối quan tâm của chàng là dân sự của Chúa, danh vinh hiển của Ngài đang bị sỉ nhục. Đa-vít không thể ngậm miệng đứng yên. Chàng cứ lặp lại câu hỏi trước và được mọi người đáp lại bằng lời hứa của vua. Có người thuật lại cho Sau-lơ câu hỏi của Đa-vít nên Sau-lơ đòi Đa-vít đến. Câu thứ nhất Đa-vít thưa với Sau-lơ là: “Xin chớ ai ngã lòng vì cớ người Phi-li-tin kia. Kẻ tôi tớ vua sẽ đi đấu địch cùng hắn”.

2. Đa-vít thuyết phục Sau-lơ.

Chắc Sau-lơ ngạc nhiên lắm, vì trong 40 ngày qua chưa có ai dám nói như thế, kể cả chính mình ông. Trước hoàn cảnh khó khăn, ai nấy thường cầu an như con ốc rúc vào vỏ và đóng kỹ nắp lại, hoặc buông ra những lời não nề, thất vọng làm nhụt chí nhiều người. Sau-lơ nhìn vẻ thư sinh của Đa-vít và khuyên chàng đừng đi. Vì chiến đấu với kẻ địch phải có sức tương đương, trong khi bên này là một gã chăn chiên mộc mạc, bên kia là một chiến sĩ lão luyện, giàu kinh nghiệm, nên Sau-lơ không chút hy vọng Đa-vít sẽ chiến thắng Gô-li-át. Đa-vít giải thích rằng trong khi chăn chiên, chàng đã từng đánh nhau với gấu và sư tử, chàng đều đắc thắng. Nếu Đức Giê-hô-va đã giúp chàng giết được gấu và sư tử, Ngài cũng sẽ giúp chàng giết được kẻ dám sỉ nhục đạo quân của Đức Chúa Trời hằng sống. Đa-vít không liều lĩnh, bướng bỉnh, nhưng chàng nhìn mọi việc qua con mắt đức tin, qua kinh nghiệm ân điển và quyền năng của Chúa. Kinh nghiệm những năm chăn chiên đã chuẩn bị cho Đa-vít cơ hội này. Vì vậy Đa-vít nắm chắc phần thắng trong tay. Qua những lời trình bày đó, Sau-lơ không thể chối từ, mà chỉ nói: “Hãy đi, nguyện Đức Giê-hô-va ở cùng ngươi”.

ÁP DỤNG.

Đa-vít được đưa đến chiến trường là để chiến thắng Gô-li-át. Ê-xơ-tê được chọn làm hoàng hậu là chuẩn bị bà cho sự giải cứu dân Y-sơ-ra-ên. Chúa cứu chúng ta là chuẩn bị chúng ta đem Tin Lành cho đồng bào mình.

IV. ĐA-VÍT GIAO CHIẾN VÀ ĐẮC THẮNG GÔ-LI-ÁT (38:54).

1. Chiến sĩ Gô-li-át.

Gô-li-át ra trận với đầy đủ khí giới của một chiến sĩ như lao, mũ đồng, áo giáp.

2. Chàng chăn chiên Đa-vít.

Trái lại, Đa-vít ra trận với bộ thường phục của một gã chăn chiên, tay cầm một cây gậy, vai mang một túi nhỏ trong đó có một cái trành ném đá và năm viên đá lượm dưới khe.

3. Trận chiến giữa Đa-vít và Gô-li-át.

a. Gô-li-át cậy sức mình.

Đa-vít xông qua phía Gô-li-át. Thấy tướng mạo của Đa-vít, Gô-li-át vừa tức giận, vừa cười nhạo báng: “Ta há là một con chó nên ngươi cầm gậy đến cùng ta? Hãy lại đây, ta sẽ ban thịt ngươi cho chim trời và thú đồng”. Gô-li-át nói rất đúng theo quan điểm của hắn, vì lực lượng đôi bên quá chênh lệch như một với mười, như trứng chọi đá, như châu chấu chống xe.

b. Đa-vít nhờ cậy Đức Giê-hô-va.

Trái lại, Đa-vít không tự phô trương, song nói về Đức Giê-hô-va là Chúa của chiến trận, Chúa của quân đội Y-sơ-ra-ên, và Ngài là Đấng mà chàng nương tựa, tin cậy để chiến đấu. Đối với Đa-vít đây không phải là một tai họa, bèn là một cơ hội để thế gian biết đến Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên và chính người Y-sơ-ra-ên biết rằng Đức Chúa Trời là Đấng giải cứu. Không phải Đa-vít có khả năng đắc thắng Gô-li-át, song Chúa đã phó Gô-li-át vào tay Đa-vít. Đa-vít không nói như một chiến sĩ nơi trận địa, mà nói như một thầy tế lễ trước bàn thờ của Đức Chúa Trời.

Trong mọi trường hợp nguy khốn, chúng ta chỉ thấy một khía cạnh, nên thường khoanh tay, bó gối chờ đợi số phận dành cho mình. Song chúng ta phải bởi đức tin nhìn một khía cạnh khác là cơ hội Chúa cho để chứng minh sự hiện hữu và quyền tể trị của Ngài.

c. Đa-vít thắng Gô-li-át.

Gô-li-át huênh hoang, tự đắc sẽ giết Đa-vít một cách dễ dàng, song hắn không biết hoặc quên rằng có những người Y-sơ-ra-ên ném đá bằng trành rất giỏi, có thể trúng một sợi tóc (Các Quan xét 20:16). Khi hai bên còn cách xa nhau, cây lao của Gô-li-át chưa làm chi được thì Đa-vít đã lấy ra một viên đá, dùng trành ném mạnh về phía Gô-li-át. Viên đá trúng ngay vào giữa trán của Gô-li-át, thấu vô óc làm cho hắn ngã xuống ngay lập tức. Đa-vít liền chạy lại, lấy chính gươm của Gô-li-át, cắt đầu hắn mang về. Quân Y-sơ-ra-ên thừa thắng đuổi theo tận diệt quân Philitrin.

ÁP DỤNG.

Đa-vít đắc thắng tên khổng lồ Gô-li-át là hình ảnh của Hội Thánh trải qua các thời đã đắc thắng sự cám dỗ, thử thách, bắt bớ, khó khăn nhờ tin cậy và vâng lời Chúa. Kẻ thù như Gô-li-át có thể đè bẹp bất cứ ai, vô luận lúc nào, song chúng ta có thể đắc thắng chúng dễ dàng trong danh Đức Chúa Trời hằng sống. Chúng ta đã đắc thắng ma quỉ (IGiăng 2:14), đã đắc thắng tội lỗi (IGiăng 3:9), đã đắc thắng thế gian (IGiăng 5:4). Nên nhớ rằng Chúa không dành cho chúng ta phần thất bại, song dành cho chúng ta phần đắc thắng.

CÂU HỎI

1. Tại sao Đa-vít có dịp ra trại quân Y-sơ-ra-ên?

2. Gô-li-át là người như thế nào?

3. Gô-li-át thách đố Y-sơ-ra-ên ra sao?

4. Y-sơ-ra-ên làm gì trước sự thách đố của Gô-li-át?

5. Tại sao Đa-vít dám nhận lời thách đố của Gô-li-át?

6. Thuật lại cuộc đối thoại giữa Đa-vít và Sau-lơ.

7. Đa-vít đã hạ sát Gô-li-át bằng cách nào?

8. Đa-vít thắng Gô-li-át là hình ảnh giữa chúng ta với ai?

BÀI 34. ĐA-VÍT TRỐN KHỎI SAU-LƠ

KINH THÁNH: I Sa-mu-ên 18:1- 19:24.

CÂU GỐC: “Thà nương náu mình nơi Đức Giê-hô-va còn hơn tin cậy loài người” (Thi thiên 118:8).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết rằng dầu Sau-lơ đã phản bội Đa-vít thì Đức Chúa Trời luôn ở cùng chàng. Chúa cũng luôn ở với và giúp đỡ chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ chẳng hề lìa bỏ chúng ta

(Hê-bơ-rơ 13:5-6).

TH:

Sự ganh tị của Sau-lơ

(I Sa-mu-ên 18:6-30).

TB:

Đa-vít chạy trốn

(I Sa-mu-ên 19).

TT:

Đức Chúa Trời gìn giữ chúng ta

(Thi thiên 121).

TN:

Tội ganh tị

(Gióp 5:2, Châm ngôn 3:31, 14:30, 23:17).

TS:

Sự hủy hoại của tính ganh tị

(I Côinhtô 13:4, Gia-cơ 4:5).

TB:

Đức Chúa Trời bảo vệ người trung tín

(Châm ngôn 16:7).

Xưa nay lòng ganh tị đã phá hoại nhiều đời sống, nó là một tật xấu rất ti tiện. Mình làm không được nhưng cũng không muốn ai hơn mình. Ai tốt hơn mình thì tìm cách bôi nhọ họ, ai cao hơn mình thì muốn đánh hạ họ. Ganh tị là con quỉ giết người, nó hoạt động khắp nơi và liên tục. Khi nó vào lòng ai, kẻ đó trở thành nguy hiểm. Nó vào lòng Ca-in, Ca-in giết A-bên; nó vào lòng các anh Giô-sép, họ âm mưu giết chàng; nó vào lòng Sau-lơ, Sau-lơ âm mưu giết Đa-vít, và vì thế đã đưa đến những thảm kịch mà chúng ta sẽ học trong những bài sau.

I. LÝ DO ĐA-VÍT PHẢI TRỐN SAU-LƠ (18:6-30).

1. Sau-lơ ganh tị Đa-vít (c.6-16).

Trong khi toàn dân Y-sơ-ra-ên sợ hãi trước tên khổng lồ Gô-li-át thì Đa-vít đã hạ được hắn. Đó là cớ vui mừng cho mọi người, nhất là cho Sau-lơ, vì trong dân mình có nhân tài, từ đây xứ sở bình an, ngôi báu vững vàng. Khi đoàn quân chiến thắng trở về, phụ nữ trong thành phố Giê-ru-sa-lem tổ chức một cuộc đón rước long trọng. Họ vui mừng nhảy múa và hát đối đáp với nhau: “Sau-lơ giết hàng ngàn, còn Đa-vít giết hàng vạn”. Họ muốn nói rằng nước của họ có phước, Sau-lơ là anh hùng, Đa-vít còn anh hùng hơn. Lời nói đó rất đúng, nhưng nói ra không đúng chỗ, không phải lúc, vì nói những lời như vậy trước mặt Sau-lơ đã vô tình làm ông ganh tị.

Đành rằng lời nói đúng, nhưng không phải nói với ai cũng được, nói lúc nào và nơi nào cũng được.

Nghe lời nói, Sau-lơ giận lắm: “Người ta cho Đa-vít hàng vạn, còn ta hàng ngàn, chỉ còn cho nó ngôi nước mà thôi”. Mặc dầu các phụ nữ không có ý tôn Đa-vít làm vua thế Sau-lơ, nhưng vì ganh tị, ông đã hiểu sai. Kể từ đó, Sau-lơ nhìn Đa-vít bằng con mắt khó chịu. Hôm sau, ác thần ganh tị nhập vào Sau-lơ, làm cho ông bối rối hơn. Đang khi Đa-vít gảy đàn để an ủi Sau-lơ, ông nổi giận cầm giáo phóng Đa-vít để ghim chàng vào tường. Hai lần như vậy, Đa-vít đều tránh được. Nếu Đa-vít lấy cây giáo của Sau-lơ để phóng lại, chắc Sau-lơ đã chết, song Đa-vít không làm.

Chúng ta thấy người bị Chúa bỏ với người được Chúa chọn có hai thái độ khác nhau. Sau-lơ bối rối, nóng giận, sợ hãi muốn giết Đa-vít, Đa-vít bình tĩnh gảy đàn, hai lần tránh mũi giáo của Sau-lơ và đánh giặc cho Sau-lơ.

2. Sau-lơ âm mưu giết Đa-vít (c.17-30).

Đến đây, Sau-lơ không còn giấu giếm ác tâm của mình nữa nhưng phô bày nó ra cho ai cũng thấy. Ông biết rằng Chúa đã bỏ ông mà ở cùng Đa-vít, nên ông sợ Đa-vít như Hê-rốt sợ Giăng Báp-tít (Mác 6:20). Sau-lơ đặt Đa-vít cai quản ngàn quân, sai ra trận là ngầm mượn tay giặc giết Đa-vít. Nhưng mỗi lần Đa-vít ra đi đều trở về bình an, mọi công tác đều may mắn. Toàn dân yêu mến Đa-vít, còn Sau-lơ sợ hãi Đa-vít.

Thấy Đa-vít thành công trong mọi việc, vua Sau-lơ càng sợ Đa-vít sẽ đoạt ngôi của mình, lòng ganh tị càng sôi lên nên vua quyết định phải hạ sát Đa-vít cho kỳ được. Vua nghĩ ra một kế. Trước đó vua đã hứa gả con gái mình làm vợ cho ai giết được Gô-li-át, nhưng chưa thực hiện. Vua liền kêu Đa-vít lại nói rằng vua thương Đa-vít, sẵn sàng gả con gái lớn của vua là Mêráp cho chàng, miễn là chàng phải can đảm giúp vua đánh giặc cho Đức Giê-hô-va, Đa-vít vâng lời. Lần này cũng như lần trước, khi Đa-vít ra trận, Sau-lơ không ước ao cho chàng được thắng, song ước ao cho chàng bị thất bại và chết. Vì vậy khi Đa-vít còn ngoài trận địa, thì Sau-lơ bắt vợ hứa của Đa-vít gả cho người khác. Nhưng Đa-vít lại trở về bình an.

Biết con gái thứ của mình là Mi-canh yêu Đa-vít, một lần nữa, Sau-lơ muốn mượn tay dân Phi-li-tin để hạ Đa-vít, nên cho người nói với chàng rằng vua không đòi một sính lễ nào khác ngoài ra sinh mạng của một trăm quân Phi-li-tin để báo thù họ. Thật Sau-lơ là một con người hèn nhát, ném đá giấu tay, giết người mà không dám chịu trách nhiệm. Dầu vậy, Đa-vít nhận lời. Trước kỳ định, Đa-vít đem quân đánh chết hai trăm người Phi-li-tin. Sau-lơ phải gả Mi-canh cho Đa-vít. Con gái của Sau-lơ yêu Đa-vít, nhưng Sau-lơ càng sợ Đa-vít hơn nữa. Bao nhiêu âm mưu thâm độc của Sau-lơ đều thất bại. Đa-vít đã không chết mà ngược lại còn được mọi người yêu mến và tôn trọng. Sau-lơ muốn hại Đa-vít, song chính Sau-lơ bị hại. Ganh tị là tự sát. Chúa không ở với người ganh tị mà ở với người bị ganh tị vì danh Ngài để đổi họa thành phúc, đổi rủi thành may.

II. CUỘC TRỐN THOÁT CỦA ĐA-VÍT (19:1-24).

1. Giô-na-than báo tin để Đa-vít trốn thoát (c.1-7).

Sau-lơ triệu tập một cuộc họp mật với con trai mình là Giô-na-than và quần thần để chỉ thị họ giết Đa-vít. Sau-lơ nghĩ rằng để bảo vệ ngôi vua mà Giô-na-than sẽ được, nên chàng sẵn sàng giết Đa-vít. Nhưng Giô-na-than rất thương Đa-vít, báo cho chàng hay tin đó và yêu cầu chàng sáng mai hãy ẩn mặt để chờ xem kết quả.

Sáng hôm sau, Giô-na-than đứng bên cạnh cha mình, bênh vực Đa-vít: Chàng đâu có phạm tội chi với vua, trái lại, đã có công lớn với vua, chàng đã liều mạng giết người Phi-li-tin và Đức Giê-hô-va đã dùng điều đó để giải cứu dân Y-sơ-ra-ên, vua đã thấy điều đó và mừng rỡ. Nay tại sao vua phạm tội giết người vô cớ? Giô-na-than sợ cha mình làm đổ huyết vô tội mà cả dòng dõi ông phải chịu hậu quả. Nghe lời Giô-na-than, Sau-lơ thề rằng: “Đa-vít sẽ không chết”. Vì thế, Giô-na-than dẫn Đa-vít đến phục sự Sau-lơ như trước.

2. Mi-canh giúp Đa-vít trốn thoát (c.8-17).

Chiến tranh cứ tiếp diễn. Đa-vít ra trận chiến thắng quân Phi-li-tin, và trở về an ủi vua mình. Thấy Đa-vít thành công, Sau-lơ càng bực dọc, muốn giết Đa-vít ngay. Thiết tưởng, Sau-lơ chỉ cảm động nhất thời qua những lời khuyên khôn ngoan và chí lý của Giô-na-than, chứ chưa cảm xúc sâu xa về tội ác của mình, mặc dầu ông đã nhân danh Chúa mà thề. Khi ác thần ganh tị nhập vào, Sau-lơ thấy Đa-vít đang gảy đàn, liền lấy giáo định đâm Đa-vít dính vào tường. Nhưng Đa-vít tránh khỏi và trốn về nhà ngay tối đó. Sau-lơ cho người bao vây và canh giữ nhà chàng cho đến sáng hôm sau thì giết. Nhưng Mi-canh, vợ của Đa-vít cấp báo cho chàng hay tin đó. Rồi giòng chàng xuống cửa sổ và trốn thoát. Nàng lấy một tượng gỗ đặt vào chỗ Đa-vít nằm, lấy chăn đắp lại. Khi Sau-lơ cho người đến bắt Đa-vít, nàng nói chàng đau. Khi Sau-lơ truyền đem Đa-vít ở trên giường đến cho ông, mới biết Đa-vít đã trốn thoát. Sau-lơ muốn dùng Mi-canh giết Đa-vít, song Chúa dùng Mi-canh cứu Đa-vít.

3. Đa-vít chạy trốn đến nhà của Sa-mu-ên (c.18-24).

Trong cảnh nguy khốn, Đa-vít nghĩ không có nơi nào an toàn bằng nhà Sa-mu-ên là đầy tớ của Chúa. Chàng bèn chạy lại đó, tường thuật cho Sa-mu-ên nghe mọi sự. Không ngờ, khi Sau-lơ hay tin Đa-vít đang ở với Sa-mu-ên tại Na-giốt, thuộc Ra-ma, thì sai người đến bắt chàng. Na-giốt là trường đào tạo tiên tri do Sa-mu-ên điều khiển. Khi những người lính đến thấy các tiên tri họp thờ phượng Chúa, họ chịu Thần của Chúa cảm động, gia nhập đoàn tiên tri mà không nghĩ đến việc bắt Đa-vít. Sau-lơ sai một tốp khác, rồi một tốp khác nữa, họ đều bị chinh phục. Cuối cùng, Sau-lơ thân hành đến, ông cũng chịu Thần của Chúa cảm động nói tiên tri. Bởi cớ ấy, người ta đặt một câu hỏi được nhắc lại luôn thành một tục ngữ: “Sau-lơ há cũng vào hàng tiên tri sao?” Họ muốn nói rằng một người xấu xa gian ác như vậy mà cũng được liệt vào hàng các tiên tri à?

Đa-vít là bạn của Sau-lơ, song vì ganh tị, Sau-lơ đã nhiều lần mượn tay quân thù để giết bạn mình. Tình thương làm cho kẻ thù trở nên bạn hữu, ganh tị xem bạn hữu như kẻ thù. Đa-vít bị ganh tị, bị lừa gạt, bị hãm hại, phải trốn tránh, nhưng Đức Chúa Trời là bạn chí thân của chàng, Ngài đã giải cứu, an ủi, lo liệu mọi sự cho chàng. Vậy, người đáng thương hại không phải là Đa-vít mà là Sau-lơ.

CÂU HỎI

1. Ganh tị lợi hay hại như thế nào?

2. Tại sao Sau-lơ ganh tị Đa-vít?

3. Vì ganh tị, Sau-lơ đối xử với Đa-vít như thế nào?

4. Những âm mưu của Sau-lơ để hại Đa-vít là gì?

5. Kết quả những âm mưu đó ra sao?

6. Tại sao Sau-lơ không giữ lời hứa?

7. Tại sao Đa-vít trốn đến Ra-ma?

8. Tại sao những người của Sau-lơ không bắt Đa-vít tại Ra-ma?

9. Tại sao Sau-lơ đã dùng đủ cách mà không giết được Đa-vít?

10. Đa-vít có thái độ nào đối với Sau-lơ?

BÀI 35. TÌNH BẠN GIỮA ĐA-VÍT VÀ GIÔ-NA-THAN

KINH THÁNH: I Sa-mu-ên 18:1-5; 19:1-7; 20:1-43.

CÂU GỐC: “Nhưng có một bạn tríu mến hơn anh em ruột” (Châm ngôn 18:24b).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết ý nghĩa và giá trị của tình bạn chân thật.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ yêu chúng ta như bạn hữu

(Giăng 15:12-15).

TH:

Kết ước giữa Giô-na-than với Đa-vít

(I Sa-mu-ên 18:1-5).

TB:

Giô-na-than bênh vực Đa-vít

(I Sa-mu-ên 19:1-7).

TT:

Giô-na-than bảo vệ Đa-vít

(I Sa-mu-ên 20:1-34).

TN:

Giô-na-than và Đa-vít lại kết ước với nhau

(I Sa 20:35-43).

TS:

Tình bạn chân thật

(Châm 27:6-10).

TB:

Hãy yêu mến lẫn nhau

(Châm 17:17).

Trong đời sống, tình bạn rất quý. Nhưng nhiều người lợi dụng nó mà thành ra kẻ lừa thầy phản bạn. Kinh Thánh chép: “Bằng hữu thương mến nhau luôn luôn và anh em sanh ra để giúp đỡ nhau trong lúc hoạn nạn… Có một bạn tríu mến hơn anh em ruột” (Châm ngôn 17:17, 18:24b).

Tình bạn giữa Giô-na-than và Đa-vít rất cao đẹp. Họ yêu thương nhau rất chân thành. Họ muốn yêu thương hơn là được yêu, họ muốn làm một người bạn hơn là muốn có một người bạn. Tình bạn của họ đáng làm mẫu mực cho tình bạn của chúng ta với nhau, nhất là chúng ta với Chúa Jêsus.

I. GIÔ-NA-THAN VÀ ĐA-VÍT YÊU THƯƠNG NHAU (18:1-5).

1. Mức độ của tình bạn: Yêu bạn như chính mình.

Sau khi Đa-vít hạ được tên khổng lồ Gô-li-át, Sau-lơ đem chàng vào sống trong hoàng cung tại Ghi-bê-a. Nơi đây, Giô-na-than và Đa-vít trở thành đôi bạn chí thân và Giô-na-than yêu thương Đa-vít như chính mình. Giô-na-than là người đầy đức tin và lòng can đảm, Đa-vít cũng vậy. Giô-na-than không đối với Đa-vít như một hoàng tử đối với mục đồng, song xem Đa-vít ngang hàng với mình là một hoàng tử. Hai tâm hồn gặp nhau và kết tình bằng hữu.

2. Biểu hiện của tình bạn: Ban cho.

Không thể nào yêu mà không cho, nên Giô-na-than đã cởi áo mình đang mặc với những xiêm áo khác, luôn cả gươm, cung và đai mà cho Đa-vít. Tình bạn của Giô-na-than thật là hiếm có, hy sinh vì bạn, làm vinh cho bạn.

ÁP DỤNG.

Tình bạn của Chúa Jêsus còn hơn nữa. Ngài yêu chúng ta đến nỗi phó mạng sống Ngài vì chúng ta, ban cho chúng ta mọi sự như áo công bình, đai năng lực, gươm đắc thắng.

II. GIÔ-NA-THAN BÊNH VỰC ĐA-VÍT (19:1-7).

1. Không vì ngôi báu.

Giô-na-than không có thái độ như cha mình là ích kỷ, ganh tị. Ích kỷ và ganh tị làm mù lý trí của Sau-lơ, vua chỉ còn thấy ngôi báu và muốn làm bất cứ cách nào để bảo vệ ngôi báu của mình. Nhưng tình yêu chân thật làm cho Giô-na-than rất sáng suốt, nhận định phải trái một cách hợp lý, hợp tình.

2. Chỉ vì tình bạn.

Dầu Giô-na-than là con, cũng không hùa theo ý kiến của cha mình, chỉ đứng trên bình diện khách quan, theo công tâm mà xét, nên ông cực lực bênh vực sự vô tội của bạn mình. Giô-na-than yêu thương bạn, yêu thương cha, song không thiên vị bên nào. Dầu Sau-lơ muốn giết Đa-vít, nhưng khi Giô-na-than phân giải rõ ràng, ông phải nói: “Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, Đa-vít sẽ chẳng chết”. Giô-na-than không những can đảm tại chiến trường mà cũng can đảm trước công lý, dám nói thật, nói thẳng để cứu bạn mình khỏi chết, cứu cha mình khỏi phạm tội ác và chính mình khỏi bị hậu quả tai hại.

ÁP DỤNG.

Phước cho ai có bạn như Giô-na-than, dám bênh vực người vắng mặt, người bị hiểu lầm. Phước cho chúng ta có Chúa Jêsus luôn luôn cầu thay và bênh vực chúng ta. Khi Ma-ri bị môn đồ công kích vì bà đã xức dầu cam tòng hương cho Chúa, thì bà yên lặng, nhưng Chúa lên tiếng bênh vực bà. Ngài trách môn đồ và khen bà đã làm một việc tốt mà hễ nơi nào Tin Lành được giảng ra, người ta sẽ thuật lại việc của bà (Ma-thi-ơ 26:6-13).

III. GIÔ-NA-THAN VÀ ĐA-VÍT TÁI KẾT ƯỚC (20:1-43).

1. Cơ hội Đa-vít và Giô-na-than tái kết ước.

Khi Sau-lơ đuổi theo Đa-vít đến Na-giốt thì Đa-vít trở lại Ghi-bê-a để gặp Giô-na-than. Đa-vít không muốn bỏ vợ, bỏ bạn, bỏ vua mà đi đâu, song muốn trở lại sống giữa mọi người để tiếp tục phục vụ đồng bào, xứ sở. Tuy nhiên, làm sao ở được với Sau-lơ, vì vua đã hứa rồi lại nuốt lời. Dầu Sau-lơ như vậy, Đa-vít còn hy vọng nơi Giô-na-than.

2. Lòng tin cậy của Đa-vít đối với Giô-na-than.

Gặp Giô-na-than, Đa-vít hỏi dồn dập: “Tôi đã làm chi? Tội ác tôi là gì? Tôi đã phạm tội chi cùng cha anh mà người toan hại mạng sống tôi?” Đa-vít và Giô-na-than ở bên nhau, họ biết rõ lời nói và việc làm của nhau. Đa-vít hết lòng tin cậy Giô-na-than.

Giô-na-than đáp: “Chẳng phải thế, anh chẳng phải chết đâu, cha tôi chẳng hề làm một sự gì, bất luận lớn hay nhỏ mà chẳng nói trước với tôi. Nhân sao cha tôi giấu sự này với tôi”. Giô-na-than tin cậy lời hứa của cha mình (19:6). Trong tình phụ tử, Giô-na-than không muốn nghi ngờ sự thành thật của cha mình. Chàng bênh vực bạn mình, cũng bênh vực cha mình. Đa-vít quả quyết rằng sở dĩ vua Sau-lơ không nói cho Giô-na-than biết ý định của người vì sợ Giô-na-than buồn, bởi vì Giô-na-than yêu thương Đa-vít. “Song tôi chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống và mạng sống của anh mà thề, chỉ còn một bước cách tôi và sự chết mà thôi”. Sinh mạng của Đa-vít có thể mất đi bất cứ lúc nào. Giô-na-than có vẻ nhường bước, vì nghĩ rằng Đa-vít không phải là con người nói dối, hơn nữa đã nhân danh Chúa mà thề, nên chàng đáp: “Hễ anh muốn tôi làm điều gì, thì tôi sẽ làm cho anh”. Thấy bạn lâm vào nguy cảnh do cha mình gây ra, Giô-na-than biết chính mình có trách nhiệm. Giô-na-than muốn làm bất cứ điều gì miễn có thể giúp được bạn mình. Trong hoạn nạn mới biết ai là bạn thật.

Đa-vít tiếp: “Mai là ngày mùng một…” (câu 5). Vào mỗi đầu tháng, cũng là ngày trăng mới, liên tiếp 3 ngày, có dâng tế lễ và tiệc tùng (Dân 10:10; 28:11-15). Đa-vít là phò mã và cũng là một sĩ quan, nên không phép vắng mặt trong một dịp như vậy. Đa-vít bèn nhờ Giô-na-than xin phép và giải thích sự vắng mặt của chàng cho Sau-lơ. Đồng thời, nhờ điều này sẽ thấy được thái độ của Sau-lơ đối với Đa-vít, để chàng quyết định dứt khoát có nên trở lại với Sau-lơ hay không.

3. Nội dung sự kết ước giữa Đa-vít và Giô-na-than.

Đa-vít có ý trách Giô-na-than, tại sao đã kết ước với chàng lại còn dẫn chàng đến Sau-lơ (19:7). Để chứng minh sự trung thành của mình, Giô-na-than đề nghị với Đa-vít cùng ra đồng thảo luận. Tại đó, Giô-na-than hứa sẽ cho Đa-vít biết kết quả sau 3 ngày Đa-vít vắng mặt tại bàn ăn và chắc chắn sẽ không bao giờ phản bội Đa-vít. Giô-na-than còn xác nhận giao ước hai bên đã lập (18:3), yêu cầu Đa-vít lấy sự nhân từ và thương xót của Chúa mà đối với dòng dõi của chàng. Về sau Đa-vít đã làm ơn cho Mê-phi-bô-sết là con của Giô-na-than (II Sa-mu-ên 9:7; 21:7).

IV. GIÔ-NA-THAN BẢO VỆ ĐA-VÍT.

1. Liều chết để bảo vệ Đa-vít.

Ba ngày tiệc tùng trong cung vua Sau-lơ đã diễn ra như vầy: Ngày thứ nhất, Sau-lơ thấy chỗ dành cho Đa-vít bị bỏ trống, nên hỏi Giô-na-than: “Cớ sao con trai của Ysai không đến dự ăn hôm qua và hôm nay?” Giô-na-than giải thích lý do.

Bấy giờ, Sau-lơ giận dữ như sư tử mất mồi, trách mắng Giô-na-than thậm tệ, rằng chàng là con trai gian tà và bội nghịch, đã tự làm nhục và làm nhục cha mẹ đã sinh ra chàng vì đã kết bạn với Đa-vít. Hễ Đa-vít còn sống thì nước nhà của chàng không được vững bền. Ông liền chỉ thị cho Giô-na-than phải tìm bắt Đa-vít vì Đa-vít phải chết. Giô-na-than hỏi cha về tội gì mà Đa-vít phải chết. Sau-lơ càng giận hơn, nên ông cầm giáo phóng Giô-na-than. Giô-na-than rất buồn về thái độ của cha mình đối với Đa-vít, nên đứng dậy đi ra.

2. Báo tin cho Đa-vít chạy trốn.

Ngày thứ ba, Giô-na-than đi tìm Đa-vít và báo cho chàng hay hung tin đó. Hai người ôm nhau khóc và Đa-vít khóc nhiều hơn, vì chàng mất hết mọi sự, phải ra đi trốn tránh rày đây mai đó. Thật ra chàng không mất hết đâu, còn Chúa là chàng còn mọi sự. Sau-lơ mới là người bị mất hết. Vì ganh tị, ông mất bạn bè, mất Đa-vít và cuối cùng là mất Chúa.

Đa-vít và Giô-na-than chúc phước cho nhau và từ giã nhau. Họ chỉ gặp lại lần chót trong khoảnh khắc (23:16). Khi Giô-na-than tử trận, trong bài điếu văn Đa-vít đọc trước thi hài của bạn mình có câu: “Hỡi Giô-na-than, anh tôi, lòng tôi quặn thắt vì anh. Anh làm cho tôi khoái dạ, nghĩa bầu bạn của anh lấy làm quý hơn tình thương người nữ” (II Sa-mu-ên 1:26).

CÂU HỎI

1. Tại sao Giô-na-than yêu thương Đa-vít như chính mình?

2. Điều gì chứng tỏ Giô-na-than yêu Đa-vít như chính mình?

3. Sau-lơ đã nói gì khi nghe lời biện hộ của Giô-na-than?

4. Tại sao Đa-vít bỏ Na-giốt trở về Ghi-bê-a?

5. Giô-na-than hứa gì với Đa-vít?

6. Đa-vít nhờ Giô-na-than làm gì?

7. Khi biết rõ ý định của cha mình, Giô-na-than làm gì?

8. Giô-na-than và Đa-vít tái kết ước như thế nào?

9. Vì ganh tị, Sau-lơ đã mất những gì?

10. Đa-vít đã nói gì trước thi hài của Giô-na-than?

BÀI 36. ĐA-VÍT THA CHẾT CHO SAU-LƠ

KINH THÁNH: I Sa-mu-ên 24,26.

CÂU GỐC: “Đừng để điều ác thắng mình, nhưng hãy lấy điều thiện thắng điều ác” (Rô-ma 12:21).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết không nên báo thù mặc dầu có cơ hội, nhưng hãy thương yêu và đối xử tử tế với kẻ thù.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ tha thứ chúng ta

(Ê-phê-sô 4:30-32).

TH:

Cuộc phiêu lưu của Đa-vít

(I Sa-mu-ên23:1-28).

TB:

Lòng nhân từ của Đa-vít đối với Sau-lơ

(I Sa-mu-ên 24:1-23).

TT:

Đa-vít tha thứ cho Sau-lơ

(I Sa-mu-ên 26).

TN:

Hãy yêu kẻ thù mình

(Ma-thi-ơ 5:38-48).

TS:

Chớ trả thù ai

(Rô-ma 12:14-19; Truyền đạo 3:17).

TB:

Hãy tha thứ

(Ma-thi-ơ 18:21-22).

Sau khi giã từ Giô-na-than, Đa-vít đã chạy trốn sự rượt đuổi của Sau-lơ ở nhiều nơi. Đa-vít không an thân một nơi nào, phải lang thang đây đó, trong xứ mình, ra xứ người. Để lập công với Sau-lơ, nhiều người đã cấp báo cho vua biết nơi Đa-vít trú ngụ. Nhưng Đức Chúa Trời không phó Đa-vít vào tay Sau-lơ, ngược lại, hai lần Sau-lơ rơi vào tay Đa-vít và được Đa-vít tha chết.

I. ĐA-VÍT THA CHẾT CHO SAU-LƠ TẠI HANG ĐÁ ÊN-GHÊ-ĐI (24:1-23).

Sau khi lìa khỏi đồng vắng Maôn, Đa-vít đến trú trong đồng vắng Ên-ghê-đi về phía tây Biển Chết. Khi Sau-lơ đuổi được quân Phi-li-tin ra khỏi bờ cõi thì có người đến báo cho ông rằng Đa-vít đang ở trong đồng vắng Ên-ghê-đi. Sau-lơ liền đem 3000 quân truy tìm Đa-vít. Đường xa, nắng gắt, ai nấy đều mệt mỏi mà chưa tìm được Đa-vít nên họ dừng chân để nghỉ. Sau-lơ một mình vào trong hang đá lớn, tưởng không có ai ở đó. Không ngờ Đa-vít và đoàn tùy tùng đang ở trong. Những người theo Đa-vít mừng rỡ cho rằng thời cơ đã đến nên nói với Đa-vít: “Nầy là ngày mà Đức Giê-hô-va có phán cùng ông: Ta sẽ phó kẻ thù nghịch ngươi vào tay ngươi. Hãy xử người tùy ý ông”. Đa-vít đứng dậy, mọi người nghĩ rằng ông sẽ giết Sau-lơ lập tức. Nhưng Đa-vít biết rằng đó không phải là ý Chúa, nên ông chỉ nhẹ nhàng cắt vạt áo tơi của Sau-lơ rồi yên lặng lui vào trong hang. Những người theo ông tức giận, muốn giết Sau-lơ ngay lập tức. Đa-vít can ngăn và quở trách họ, rồi nói: “Nguyện Đức Giê-hô-va chớ để ta phạm tội cùng chúa ta, là kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va mà tra tay trên mình người”.

Nghỉ ngơi xong, Sau-lơ ra khỏi hang đá mà không hay điều chi đã xảy đến với mình. Đa-vít cùng đoàn tùy tùng cũng ra khỏi hang, Đa-vít gọi lớn: “Hỡi vua, chúa tôi!” Sau-lơ quay lại, Đa-vít sấp mặt xuống đất. Ông xin Sau-lơ đừng nghe lời người ta đồn là Đa-vít kiếm thế hại vua. Nếu đúng như vậy thì ông đã hạ sát vua rồi. Bằng cớ là vạt áo tơi của vua đang ở trong tay ông. Đa-vít phân trần: “Tôi chẳng có sự ác hoặc sự phản nghịch, tôi chẳng có phạm tội gì với cha, còn cha lại săn mạng sống tôi để cất nó đi. Đức Giê-hô-va sẽ đoán xét cha và tôi. Đức Giê-hô-va sẽ báo thù cha cho tôi, nhưng tôi không tra tay trên mình cha”. Sa-mu-ên đã xức dầu cho Đa-vít làm vua thế cho Sau-lơ là người đã bị Chúa bỏ, song Đa-vít cứ yên lặng chờ đợi, không vì lý do đó để giết Sau-lơ và lên ngôi, mặc dầu Đa-vít có nhiều cơ hội. Sau-lơ bị hại là do việc làm gian ác của ông.

Qua lời phân giải của Đa-vít với đầy đủ chứng cớ, Sau-lơ khóc. Ông nhận định rất đúng: “Con thật công bình hơn cha, vì con có lấy điều thiện mà báo điều ác cha đã làm cho con”. Đa-vít không phải là người như Sau-lơ tưởng. Nếu vậy, Sau-lơ đã chết về tay Đa-vít. Sau-lơ liền chúc phước cho Đa-vít, ông biết rằng Đa-vít sẽ làm vua bền vững, nên xin Đa-vít thề là sẽ không tiêu diệt dòng dõi và danh ông khỏi nhà tổ phụ ông. Đa-vít đã thề, Sau-lơ bị chinh phục bởi cách cư xử độ lượng của Đa-vít, ông biết Đa-vít tốt hơn mình nhưng lại chưa chịu hối cải, tức chưa bỏ con đường dữ mà chọn con đường lành. Ông chỉ hối tiếc, vì vô ý mà thất một trận chứ chưa chịu thua hoàn toàn. Sau-lơ chỉ chờ cơ hội khác thôi. Lắm tội nhân bị thuyết phục bởi chân lý, song chưa thật lòng ăn năn nên chưa được thay đổi. Lắm tín đồ đã khóc lóc, hối tiếc về những điều xấu xa mình đã làm, rồi lại tái phạm, vì chưa thật lòng hối cải, bỏ tà theo chánh, tức là chưa thật ăn năn.

II. ĐA-VÍT THA CHẾT CHO SAU-LƠ TẠI ĐỒNG VẮNG XÍP (26:1-25).

1. Cơ hội Đa-vít gặp Sau-lơ tại đồng vắng Xíp.

Trước sự truy đuổi của Sau-lơ, Đa-vít chạy trốn đến đồng vắng Xíp. Có người hay tin liền báo cho Sau-lơ biết Đa-vít đang ở trên gò Hakila thuộc đồng vắng Xíp, gần Maôn. Sau-lơ lại tiếp tục huy động 3000 tinh binh kéo đến Hakila tìm bắt Đa-vít.

2. Cách Đa-vít tha chết cho Sau-lơ.

Là người kính sợ Đức Chúa Trời, Đa-vít không bao giờ hành động vì mục đích tầm thường, đê tiện, nhưng luôn mong muốn làm theo ý Chúa để danh Chúa được vinh hiển. Đa-vít cho người do thám, biết đúng nơi Sau-lơ đóng quân; đang đêm, Đa-vít và Abisai lẻn vào giữa đám họ, thấy Sau-lơ ngủ trong đồn, cây giáo cắm xuống đất nơi đầu giường, quân lính ngủ xung quanh. Abisai hăm hở nói với Đa-vít: “Ngày nay Đức Chúa Trời đã phó kẻ thù nghịch vào tay ông. Xin cho phép tôi lấy giáo đâm người chỉ một cái mà cắm người xuống đất, chẳng cần phải đâm lại”. Một lần nữa, Đa-vít đã tha chết cho Sau-lơ, chỉ lấy cây giáo và bình nước rồi đi ra. Đa-vít sợ phạm tội với Chúa hơn sợ kẻ tìm hại mình. Đa-vít tin vào sự bảo vệ của Chúa nên không tự bảo vệ mình mà phạm tội.

– Cuộc sống của Sau-lơ và của Đa-vít là hai bức tranh tương phản rõ rệt. Sự gian ác của Sau-lơ làm cho đạo đức của Đa-vít ngày càng nổi bật. Sau-lơ thấp kém, nhỏ nhen như một thường nhân, còn Đa-vít cao thượng vĩ đại như một đế vương, một quân tử.

CÂU HỎI

1. Sau khi từ giã Giô-na-than, Đa-vít sống ở đâu?

2. Tại sao Đa-vít đã tha chết cho Sau-lơ?

3. Chúa phó Sau-lơ vào tay Đa-vít trong những trường hợp nào?

4. Thay vì giết Sau-lơ, Đa-vít đã làm gì?

5. Qua lời phân giải của Đa-vít, Sau-lơ đã làm gì?

6. Tại sao ta biết rằng Sau-lơ vẫn chưa ăn năn?

7. Hãy so sánh hai bức tranh về hai đời sống của Đa-vít và Sau-lơ?

8. Không thật lòng ăn năn tội sẽ dẫn đến hậu quả gì?

9. Bí quyết nào giúp Đa-vít có nếp sống cao thượng?

BÀI 37. SAU-LƠ CẦU HỎI BÀ BÓNG

KINH THÁNH: I Sa-mu-ên 28:1-25.

CÂU GỐC: “Ví bằng trong anh em có kẻ kém khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời, là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không trách móc ai, thì kẻ ấy sẽ được ban cho” (Gia-cơ 1:5).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên tuyệt đối tránh xa ma quỉ qua các hình thức đồng bóng, phù thủy… nhưng trong mọi sự hãy nhờ cậy Chúa.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ là chân lý

(Giăng 14:6).

TH:

Sau-lơ cầu hỏi bà bóng

(I Sa-mu-ên 28:1-25).

TB:

Đức Chúa Trời giải đáp mọi nan đề

(Giê-rê-mi 33:2-3).

TT:

Tà thần và linh thần

(IGiăng 4:1-4).

TN:

Các thiên sứ hầu việc

(Hê-bơ-rơ 1:4-7).

TS:

Đức Chúa Trời lên án việc phù phép

(Lê-vi ký 20:6,27).

TB:

Cầu hỏi Đức Chúa Trời

(Thi thiên 32:8-10).

Đáng lẽ Sau-lơ là người được thành công, nhưng vì kiêu căng, bội nghịch, theo ý riêng, ông bị Chúa bỏ. Thay vì ăn năn, ông cứng lòng và cứ miệt mài trong tội lỗi, nên mất hết mọi sự. Từ một vị vua, ông đã sa sút, trôi giạt, đến nỗi tự hạ mình đi cầu hỏi một bà bóng cho biết số phận của mình.

I. NGUYÊN NHÂN SAU-LƠ CẦU HỎI BÀ BÓNG (1-6).

1. Người Phi-li-tin tập trung lực lượng đánh Y-sơ-ra-ên.

Ngay từ thời các tổ phụ, người Phi-li-tin đã là kẻ thù của dân Y-sơ-ra-ên. Hai dân tộc sống cạnh nhau như hai nhà sát vách, người Phi-li-tin lúc nào cũng dòm ngó chờ cơ hội thuận tiện để xâm lấn lãnh thổ Y-sơ-ra-ên. Lúc bấy giờ hoàn cảnh đất nước Y-sơ-ra-ên có nhiều thay đổi, đây là dịp tiện tốt cho họ thực hiện ý đồ đen tối đó.

a. Sa-mu-ên qua đời.

Mất một người như Sa-mu-ên, dân Y-sơ-ra-ên mất rất nhiều, vì chính ông rất yêu họ, không ngớt cầu thay cho họ (12:23).

b. Đa-vít trốn đi.

Đa-vít là anh hùng số một, người từng hạ gục tên khổng lồ Gô-li-át và giải cứu đất nước Y-sơ-ra-ên khỏi hiểm họa xâm lăng của người Phi-li-tin. Do bị truy đuổi, Đa-vít phải lánh nạn sang xứ Phi-li-tin và không còn đứng với Y-sơ-ra-ên, mà A-kích, vua Phi-li-tin muốn dùng Đa-vít đánh lại dân Y-sơ-ra-ên. Thật là nguy khốn càng thêm nguy khốn.

c. Sau-lơ bị Chúa bỏ.

Sau-lơ đã mất quân bình, bất thường vì bị ác thần nhập vào. Một khi người lãnh đạo đất nước ở trong tình trạng như vậy thì thật là nguy khốn.

Đó là ba lý do khiến dân Phi-li-tin cầm chắc sự đắc thắng trong tay nên họ đem quân hăm hở xâm chiếm Y-sơ-ra-ên.

2. Vua Sau-lơ bị cô thế hoàn toàn.

a. Không có tiên tri để thỉnh ý.

Sa-mu-ên đã qua đời, và ngay cả khi ông còn sống, Sau-lơ cũng đã gạt bỏ lời can gián của ông; còn Đa-vít phải chạy trốn trước âm mưu sát hại của Sau-lơ. Cả hai đều là tiên tri nên bây giờ chẳng có ai để cầu vấn.

b. Cầu hỏi Chúa không được.

Ngài không trả lời qua chiêm bao mà U-rim cũng không. Muốn dùng U-rim thay Ê-phót phải có thầy tế lễ, song Sau-lơ đã tàn sát 85 thầy tế lễ của Đức Chúa Trời tại thành Nóp nên chẳng còn ai để cầu hỏi ý Chúa.

Tuy nhiên, nếu Sau-lơ thật lòng ăn năn thì Ngài sẽ bày tỏ đường lối Ngài cho ông. Rất tiếc Sau-lơ quá cứng lòng nên cuối cùng không cầu hỏi được nơi nào, ông quay sang cầu hỏi bà bóng.

II. NGƯỜI HIỆN RA QUA BÀ BÓNG (7-19).

Sau-lơ cải trang thành một thường dân đi bộ hơn 10 cây số từ Ghi-bê-a đến Ênđôrơ trong ban đêm để xin bà bóng cầu Sa-mu-ên lên. Khi tà linh nhập vào bà bóng, bà biết ngay Sau-lơ chớ chẳng phải ai khác. Bà trách Sau-lơ: “Tại sao ông gạt tôi? Ông là Sau-lơ”. Sau-lơ an ủi bà và hỏi: “Ngươi thấy gì?” Bà đáp: “Tôi thấy một vị thần ở dưới đất lên”. Sau-lơ hỏi mặt mày ra sao, bà đáp: “Ấy là một ông già… mặc một cái áo tơi”. Sau-lơ biết là Sa-mu-ên bèn cúi đầu, sấp mình xuống đất và lạy.

Sau-lơ trình bày hoàn cảnh nguy khốn của mình là bị quân Phi-li-tin đánh mà không cầu hỏi được nên nhờ Sa-mu-ên chỉ dẫn những điều phải làm.

1. Đức Chúa Trời không bao giờ hiện ra qua bà bóng.

– Đức Chúa Trời nghiêm cấm đồng bóng, phù thủy, tà thuật.

Khi ban luật pháp cho dân Y-sơ-ra-ên, Chúa truyền dặn họ không được hành nghề hay cầu hỏi đồng bóng, thầy bói, thuật sĩ và mọi hình thức tà thuật khác. Trái lại phải trừ diệt tất cả các hình thức trên khỏi xứ sở của họ (Xuất 22:18; Lê-vi 19:31; 20:6,27; Phục 18:10-14).

– Kinh Thánh cho biết có một vực sâu giữa người sống và người chết, không thể qua lại được (Lu-ca 16:26; II Sa-mu-ên 12:23). Do vậy giữa người sống và kẻ chết không thể giao lưu với nhau qua bất cứ hình thức nào.

– Sa-mu-ên là tiên tri, là quan xét và thầy tế lễ của Đức Chúa Trời, còn bà bóng chỉ là công cụ của Sa-tan, bà không có quyền gì để triệu Sa-mu-ên lên.

2. Ma quỉ hiện ra qua bà bóng.

– Đồng bóng là công việc của ma quỉ, là vua cầm quyền chốn không trung, là chủ quyền, thế lực, vua chúa của thế gian mờ tối này, là các thần dữ ở các miền trên trời (Ê-phê-sô 2:2, 6:12).

– Sa-tan mạo làm thiên sứ sáng láng (IICôr 11:14). Vậy Sa-tan đã nhập vào bà bóng mạo làm Sa-mu-ên nói chuyện với Sau-lơ (IITê 2:9-11).

– Sa-tan có thể biết trước những việc sẽ xảy ra và nó cũng đã nghe những lời Sa-mu-ên nói với Sau-lơ trước đó nên đã lặp lại rất đúng các lời đó (Công vụ 16:17). Nếu là Sa-mu-ên thật thì chắc ông đã tha thiết khuyên nài Sau-lơ ăn năn để được Chúa thương xót.

– Chỉ có ma quỉ mới ưa thích và chấp nhận sự thờ lạy, vì ngoài Đức Chúa Trời, Đấng duy nhất đáng được thờ phượng, chẳng có ai dám nhận sự thờ phượng cả (Ma-thi-ơ 4:10). Nếu là Sa-mu-ên thật thì ông phải từ chối giống như Phao-lô và Ba-na-ba (Công vụ 14:11-18).

Kết quả, Sau-lơ ngất xỉu vì đã bối rối lại bối rối hơn. Nhờ ma quỉ giúp đỡ mình là một sai lầm lớn (20:25). Tất cả công việc của ma quỉ, dưới bất cứ hình thức nào cũng đều lừa gat, khiến con người phạm tội. Cảm tạ Đức Chúa Trời ba ngôi nhân từ, chân thật. Lúc nào Ngài cũng sẵn sàng giúp đỡ chúng ta. Trong mọi hoàn cảnh chúng ta cần phải nhờ cậy Chúa, cầu xin sự khôn ngoan từ nơi Chúa.

CÂU HỎI

1. Tại sao dân Phi-li-tin tập trung lực lượng đánh Y-sơ-ra-ên?

2. Tại sao Sau-lơ bị cô thế hoàn toàn?

3. Do đâu bà bóng biết được Sau-lơ?

4. Nhờ đâu chúng ta biết đó không phải là Sa-mu-ên hiện hồn về?

5. Người nhập vào bà bóng là ai?

6. Kết quả của việc Sau-lơ nhờ bà bóng là gì?

7. Trong mọi nan đề chúng ta phải nhờ ai?

BÀI 38. ĐA-VÍT THA THỨ CHO SAU-LƠ

KINH THÁNH: I Sa-mu-ên 31:1-13, II Sa-mu-ên 1:1-27.

CÂU GỐC: “Vả, nếu các ngươi tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ tha thứ các ngươi” ( Ma-thi-ơ 6:14).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết tha thứ cho mọi người, kể cả kẻ thù mình.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ dạy chúng ta tha thứ

(Ma-thi-ơ 6:14-15).

TH:

Sự qua đời của Sau-lơ

(I Sa-mu-ên 31:1-13).

TB:

Đa-vít khóc Sau-lơ và Giô-na-than

(II Sa-mu-ên 1:1-27).

TT:

Đừng vui mừng khi kẻ thù mình bị hại

(Châm 24:17-22).

TN:

Chúa Jêsus dạy phải tha thứ

(Ê-phê-sô 4:30-32; Lu-ca 17:3-4).

TS:

Hãy mang lấy gánh nặng của nhau

(Châm 10:12; Ga-la-ti 6:1).

TB:

Hãy tha thứ cho kẻ thù

(Ma-thi-ơ 5:44; Cô-lô-se 3:13).

Qua cái chết thê thảm của Sau-lơ, chúng ta thấy Đa-vít là một vĩ nhân, một con người bao dung, nhẫn nhục, nhân từ đối với kẻ làm hại mình. Không phải bản tính tự nhiên ông là như vậy, nhưng nhờ lòng kính sợ Chúa mà được Ngài ban cho. Chúng ta có thể sống như Đa-vít nếu chúng ta cũng kính sợ Chúa, xin Ngài ban cho mình đầy dẫy tình thương để sẵn sàng tha thứ mọi người, kể cả kẻ thù nữa.

I. ĐA-VÍT BẮT TỘI KẺ ĐÃ GIẾT SAU-LƠ (II Sa-mu-ên 1:1-10, 13-16).

Khiếp sợ trước cuộc chiến với người Phi-li-tin, Sau-lơ cầu hỏi bà bóng và trong trận đánh quyết liệt sau đó, Sau-lơ tận mắt chứng kiến nhiều người Y-sơ-ra-ên ngã chết, kể cả ba con trai ông và cuối cùng chính ông cũng tử trận.

Một người A-ma-léc từ trại quân của Sau-lơ chạy về cấp báo cho Đa-vít. Người này nghĩ rằng mình đem tin mừng cho Đa-vít và để chứng minh tính xác thực của tin tức đó, anh mạo nhận chính anh đã giết Sau-lơ theo yêu cầu của vua. Anh nghĩ rằng Đa-vít sẽ ban thưởng cho anh vì chính anh đã giúp cho Đa-vít giết chết Sau-lơ, kẻ thù của Đa-vít, và Đa-vít sẽ vui mừng.

Trái với nhận định của anh, Đa-vít chẳng vui mừng mà còn nổi cơn thạnh nộ, bắt tội anh dám giết kẻ chịu xức dầu của Chúa và cuối cùng ra lệnh xử tử anh.

Vì hành động dối trá mong được ban thưởng mà anh phải chịu án chết, người theo Chúa phải tuyệt đối tránh tình trạng này. Lừa gạt nếu có thành công thì chỉ được đôi ba lần, song suốt đời mang danh là kẻ dối trá. Người công bình không thích xu nịnh ai, không thích ai xu nịnh mình vì xu nịnh là hình thức của lừa gạt.

II. ĐA-VÍT BUỒN RẦU VÌ CÁI CHẾT CỦA SAU-LƠ (II Sa-mu-ên 1:11-12).

Đa-vít đau buồn, kiêng ăn, xé áo để tang, khóc lóc vì thương tiếc kẻ chịu xức dầu của Chúa. Sự thất bại của Sau-lơ không phải chỉ là sự thất bại của một cá nhân nhưng cũng là sự thất bại của dân sự Đức Chúa Trời, làm tổn thương đến danh Ngài. Sa-lô-môn đã viết rằng: “Khi kẻ thù nghịch con sa ngã, chớ vui mừng, lúc nó bị đánh đổ lòng con đừng hớn hở” (Châm 24:17).

Đa-vít xứng đáng là kẻ chịu xức dầu của Chúa để làm vua Y-sơ-ra-ên, xứng đáng là tổ phụ của Đấng Cứu Thế theo phần xác. Chúa phán: “Ta đã tìm thấy Đa-vít, con của Giesê là người vừa lòng Ta, người sẽ tuân theo mọi ý chỉ Ta” (Công vụ 13:22). Thái độ của Đa-vít phải làm cho dân Y-sơ-ra-ên ngạc nhiên, thán phục.

III. ĐA-VÍT THƯƠNG TIẾC SAU-LƠ VÀ GIÔ-NA-THAN (1:17-27).

Đa-vít đau xót về sự chết của Sau-lơ và Giô-na-than, không những tỏ ra bằng hành động mà còn tỏ ra qua ngôn ngữ nữa. Ông làm điếu văn để dân Y-sơ-ra-ên truyền tụng công lao hai người.

Đa-vít không hề nhắc lại những bất toàn của Sau-lơ, nhưng ca ngợi họ và kêu gọi mọi người tưởng nhớ đến người quá cố, nhớ đến công lao của họ. Đa-vít vẫn giữ gìn uy tín, danh dự của Sau-lơ vì ông là vua của dân Y-sơ-ra-ên, kẻ chịu xức dầu của Chúa. Đa-vít bỏ qua, tha thứ, quên đi những đau khổ mà Sau-lơ gây ra cho mình.

Đa-vít khuyên dân Y-sơ-ra-ên không nên để kẻ thù biết anh hùng của họ đã chết, không nên để kẻ thù có cớ vui mừng. Đa-vít thương khóc Giô-na-than, ông ca ngợi tình bạn chân thành của Giô-na-than, tình bạn đó hiếm có và quí hơn tình yêu của người nữ.

Ngày nay, những người hầu việc Chúa cũng có những bất toàn. Chúng ta không nên chỉ thấy khuyết điểm của họ mà cũng phải thấy ưu điểm của họ. Chúng ta phải nghĩ đến công khó của họ. Trong Kinh Thánh, Chúa cho ghi lại những ưu và khuyết điểm của người hầu việc Chúa để chúng ta có được những bài học, chúng ta học tập ưu điểm của họ và tránh khuyết điểm của họ. Khi Chúa đã tha thứ ai, Ngài không nhớ đến tội lỗi của họ nữa (Dân 23:21). Xin Chúa cho chúng ta không thấy, không nhớ đến lỗi lầm của người khác. Phao-lô khuyên các Hội Thánh phải kính trọng người hầu việc Chúa (ITê 5:12-13; I Ti-mô-thê 5:17). Người đạo đức phải là người biết ơn, biết ơn Chúa và biết ơn người.

CÂU HỎI

1. Đa-vít xử kẻ nhận mình đã giết Sau-lơ như thế nào?

2. Đa-vít có thái độ nào khi nghe Sau-lơ tử trận?

3. Trong bài điếu văn, Đa-vít gọi Sau-lơ là gì của Y-sơ-ra-ên?

4. Đa-vít khuyên dân Y-sơ-ra-ên đừng làm gì?

5. Đa-vít cho nghĩa bầu bạn của Giô-na-than quý hơn gì?

6. Chúng ta phải có thái độ nào đối với người hầu việc Chúa?

7. Tại sao Chúa cho ghi lại cả sự thành công lẫn thất bại của người trước?

8. Chúng ta có trách nhiệm gì đối với danh dự và uy tín của các đầy tớ Chúa?

BÀI 39. CÁC VUA ĐẦU TIÊN CỦA Y-SƠ-RA-ÊN

KINH THÁNH: I Sa-mu-ên 8-31, II Sa-mu-ên 1.

CÂU GỐC: “Đức Giê-hô-va làm Vua đến đời đời vô cùng” (Thi thiên 10:16).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên ý thức tầm quan trọng của việc tôn Chúa làm Vua cai trị đời mình.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Đức Giê-hô-va làm Vua đến đời đời

(Thi thiên 10:16-18).

TH:

Sự trị vì của Đấng chịu xức dầu

(Thi thiên 2:1-12).

TB:

Đừng làm theo đời nầy

(Rô-ma 12:1-8).

TT:

Bắt chước Chúa

(Ê-phê-sô 5:1-2, 8-21; ICôr 11:1).

TN:

Ca ngợi Chúa vì thắng được kẻ thù

(Thi thiên 18:1-6).

TS:

Chúa là Đấng chăn giữ tôi

(Thi thiên 23:1-6).

TB:

Sống khiêm nhường

(I Phi-e-rơ 5:5-7).

Chúng ta ôn lại 12 bài học vừa qua để học biết phải tôn Chúa làm Vua trong đời sống mình.

I. DÂN Y-SƠ-RA-ÊN THEO Ý RIÊNG.

Từ khi được giải phóng khỏi vòng nô lệ tại Ê-díp-tô, Đức Chúa Trời trực tiếp cai trị Y-sơ-ra-ên qua Môi-se, Giô-suê rồi các quan xét như Ốtniên, Êhút, Samga, Đê-bô-ra cho đến Sa-mu-ên.

Dân Y-sơ-ra-ên nhìn thấy các dân tộc chung quanh có vua cai trị nên cầu xin một vua giống như các dân tộc khác. Họ từ chối quyền cai trị của Đức Chúa Trời qua các thầy tế lễ, các quan xét.

Dân Y-sơ-ra-ên lạm dụng quyền tự do chọn lựa để theo ý riêng. Thay vì ước ao giống như Chúa mình, chúng ta lại ước ao giống như người đời, nên thay vì tốt hơn, chúng ta xấu hơn. Đó là nguyên do chúng ta thất bại như dân Y-sơ-ra-ên. Phao-lô khuyên: “Anh em hãy bắt chước Đức Chúa Trời như con cái rất yêu dấu của Ngài… Hãy bắt chước tôi cũng như chính mình tôi bắt chước Đấng Christ vậy” (Ê-phê-sô 5:1; ICôr 11:1).

II. SAU-LƠ – VỊ VUA ĐẦU TIÊN.

Sau-lơ có ngoại hình đẹp hơn người khác: ông cao hơn mọi người từ vai trở lên, làm cho ai nấy kính nể (I Sa-mu-ên 10:24).

Sau-lơ là người khiêm cung hòa nhã (I Sa-mu-ên 9:31). Nhưng khi lên làm vua, ông trở nên kiêu ngạo và phạm nhiều sai lầm.

1. Lỗi lầm thứ nhất của Sau-lơ.

Sau-lơ không tuân luật pháp của Chúa mà tự ý dâng của lễ thiêu và của lễ thù ân, là việc của thầy tế lễ. Ông nghĩ mình là vua thì có toàn quyền, nhưng đã vi phạm mạng lệnh của Chúa.

2. Lỗi lầm thứ hai của Sau-lơ.

Chúa muốn Sau-lơ tiêu diệt cả dân A-ma-léc là dân phạm tội trọng trước mặt Chúa và mọi vật thuộc về họ. Nhưng Sau-lơ không vâng lời Chúa. Sau-lơ đã dung tha Aga, vua của A-ma-léc và để lại nhiều súc vật tốt nhất. Điều này tỏ ra Sau-lơ đã không ăn năn những lỗi lầm trước kia và tiếp tục phạm những lỗi lầm khác.

Khi phạm lỗi, Sau-lơ biện hộ là muốn dâng tế lễ cho Đức Giê-hô-va. Sa-mu-ên cho biết sự vâng lời tốt hơn của tế lễ, còn bội nghịch ngoan cố giống như tà thuật và thờ lạy hình tượng. Ông tuyên án: “Bởi ngươi đã bỏ Lời của Đức Giê-hô-va, nên Ngài cũng bỏ ngươi, không cho ngươi làm vua nữa”.

III. VUA ĐA-VÍT.

Đa-vít được xức dầu khi chưa đầy 20 tuổi, chính thức lên ngôi vua nước Y-sơ-ra-ên khi đã 30 tuổi (II Sa-mu-ên 5:4). Trong hơn 10 năm đó, Đa-vít được rèn luyện kỹ càng nên khi lên ngôi, các vấn đề đối nội, đối ngoại, chính trị tôn giáo, ông đều tài giỏi.

Khi được xức dầu làm vua Y-sơ-ra-ên, Đa-vít vẫn thản nhiên làm công việc hàng ngày là chăn chiên, nhưng tấm lòng rất can đảm.

Đa-vít đã chiến thắng Gô-li-át và tiếp tục đánh giặc cho Sau-lơ. Sự thành công của Đa-vít đã làm cho Sau-lơ ganh tỵ, sợ Đa-vít sẽ chiếm vị của mình. Ông tìm đủ cách để hạ sát Đa-vít cho kỳ được. Đa-vít phải trốn tránh khắp nơi và được Chúa gìn giữ, giải cứu.

Đa-vít đã làm được nhiều bài thơ ca ngợi tình yêu, sự bảo vệ, những ơn phước của Chúa được ghi lại trong Thi thiên làm nguồn phước cho vô số người trãi qua mọi thời đại. Dầu khó khăn, nguy hiểm như thế nào thì hết thảy đều ở dưới quyền tể trị của Chúa, nên mọi sự hiệp lại làm ích lợi cho kẻ yêu mến Ngài.

Kẻ thù của thành công là kiêu căng. Người kiêu căng bị Chúa từ bỏ nhưng Ngài ban ơn cho kẻ khiêm nhường (I Phi-e-rơ 5:5-7). Lòng ganh tị cũng là kẻ thù, nó cô lập chúng ta và đưa chúng ta đến chỗ phạm tội (Châm 14:30). Vậy nên, hãy phó thác cho Chúa mọi thành công cũng như thất bại của mình, hãy cầu xin Chúa giữ gìn mình.

CÂU HỎI

1. Dưới chế độ thần quyền, ai là Vua của Y-sơ-ra-ên?

2. Dưới chế độ quân chủ, ai là vua thứ nhất của Y-sơ-ra-ên?

3. Dân Y-sơ-ra-ên xin một vua là bắt chước ai?

4. Tín đồ thường bắt chước thế gian làm gì?

5. Kinh Thánh dạy chúng ta phải bắt chước ai?

6. Các lỗi lầm của Sau-lơ là gì?

7. Không vâng lơì Chúa giống như gì?

8. Trong khoảng hơn 10 năm sau khi được xức dầu, Đa-vít đã làm gì?

9. Khi Chúa cho thành công, chúng ta phải giữ thái độ nào?

10. Ai là Vua đời đời cai trị vũ trụ và cai trị mỗi đời sống chúng ta?

BÀI 40. ĐA-VÍT LÊN NGÔI VUA

KINH THÁNH: II Sa-mu-ên 2:1-11, 5:1-12.

CÂU GỐC: “Khá lập một vua lên cai trị ngươi mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ chọn” (Phục truyền 17:15).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên hiểu rằng, mọi quyền bính đều thuộc về Đức Chúa Trời.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Chương trình của Chúa tốt đẹp hơn hết

(Rô-ma 8:28-30).

TH:

Đa-vít, vua của Giu-đa

(II Sa-mu-ên 2:1-11).

TB:

Đa-vít, vua của cả dân Y-sơ-ra-ên

(II Sa-mu-ên 5:1-5).

TT:

Đa-vít chiếm đóng Giê-ru-sa-lem

(II Sa-mu-ên 5:6-12).

TN:

Đức Chúa Trời có chương trình cho ta

(Phục 32:9-12; Thi 75:6-7).

TS:

Vâng phục ý Chúa

(Thi 40:8).

TB:

Cầu xin Chúa dẫn dắt

(Thi 25:4-5; 143:10).

Sau khi Sau-lơ qua đời, trong xứ không có vua. Mặc dầu Đức Chúa Trời đã dùng Sa-mu-ên xức dầu cho Đa-vít làm vua Y-sơ-ra-ên thế Sau-lơ, nhưng bây giờ Sa-mu-ên đã qua đời. Đa-vít phải làm sao để chính thức lên ngôi? Ông phải đi từng bước một.

I. ĐA-VÍT LÀM VUA CHI PHÁI GIU-ĐA (II Sa-mu-ên 2:1-11).

Lúc này, Đa-vít có thể chiếm xứ và xưng vương vì lực lượng của ông rất mạnh (I Sử ký 12:1-22). Ngoài ra ông có thể sai người đi khắp nơi để cổ động và tuyên truyền cho mình, nhưng Đa-vít không làm vậy mà cầu xin sự hướng dẫn của Chúa. Ông nhận rằng xứ sở và dân sự đều là của Chúa, Ngài muốn ban cho ai tùy ý, Ngài có quyền trên tất cả mọi người, Ngài là Đấng quyết định mọi việc theo ý muốn của Ngài. Qua sự cầu nguyện, Đa-vít nhận được sự chỉ dẫn của Chúa.

Ngài phán bảo Đa-vít lên thành Hếp-rôn. Ông vâng lời Chúa và đi đến đó. Đa-vít có mối tương giao mật thiết với Đức Chúa Trời. Ông đã hành động một cách cẩn thận với tinh thần khiêm nhường. Vua Sa-lô-môn cũng khuyên: “Hãy hết lòng tin cậy Đức Giê-hô-va, chớ nương cậy nơi sự thông sáng của con, phàm trong các việc làm của con, khá nhận biết Ngài, thì Ngài sẽ chỉ dẫn các nẻo của con” (Châm 3:5-6). Phao-lô cũng khuyên: “Chớ lo phiền chi hết, nhưng trong mọi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin và sự tạ ơn mà trình các sự cầu xin của mình cho Đức Chúa Trời” (Phi-líp 4:6).

Khi Đa-vít và đoàn tùy tùng đến Hếp-rôn, những người Giu-đa và các trưởng lão của Giu-đa đã xức dầu cho ông, đặt một mão triều lên đầu ông và tôn ông lên làm vua của họ.

Đa-vít cũng đã biết khi Sau-lơ qua đời, dân thành Giabe đã can đảm lấy xác vua cùng các hoàng tử đem về chôn cất tử tế, nên khi lên làm vua, Đa-vít sai sứ giả đến, ngỏ lời khen ngợi lòng tốt của họ, chúc phước và hứa sẽ hậu đãi họ (I Sa-mu-ên 31:11-13). Biết dùng người, biết trách nhiệm, biết khen người, tức là biết xử thế. Đa-vít chỉ cai trị chi phái Giu-đa tại Hếp rôn trong 7 năm 6 tháng.

II. ĐA-VÍT LÀM VUA CẢ 12 CHI PHÁI Y-SƠ-RA-ÊN (5:1-5).

Thời gian 7 năm sáu tháng trôi qua, 11 chi phái còn lại thấy chi phái Giu-đa được phước nên cử các trưởng lão đến Hếp-rôn, hạ mình xuống, đồng lòng tôn Đa-vít làm vua của họ. Ai nấy ở đó ba ngày ăn uống, thông công vui vẻ với nhau (I Sử ký 12:23-40). Như vậy, Đa-vít được ơn Chúa, không chinh phục toàn dân bằng võ lực, hoặc bằng thủ đoạn, mà bằng tình thương chân thật. Cai trị bằng sức mạnh không so được với cai trị bằng tình thương.

Đa-vít làm vua hơn 40 năm: 7 năm 6 tháng tại Hếp-rôn và 33 năm tại Giê-ru-sa-lem. Ông qua đời năm 71 tuổi.

Chúa Jêsus có trọn quyền hành trên trời dưới đất, vì mọi vật đều do Ngài dựng nên (Giăng 1:3; Cô-lô-se 1:16). Dầu vậy Chúa không chinh phục nhân loại bằng quyền năng vô hạn của Ngài, mà bằng tình yêu đời đời của Ngài qua sự xả thân trên thập tự giá. Bởi đó, hơn hai ngàn năm qua, những người thật lòng tin Ngài đều tôn Ngài làm Vua độc nhất vô nhị của đời họ.

III. ĐA-VÍT CHIẾM GIÊ-RU-SA-LEM ĐỂ LÀM KINH ĐÔ (5:6-12).

Trong thời Áp-ra-ham, thầy tế lễ Mên-chi-xê-đéc là vua của Salem (Sáng 14:18).

Khi gia đình của Gia-cốp bỏ Ca-na-an xuống Ê-díp-tô và 400 năm sau con cháu họ là dân Y-sơ-ra-ên trở lại thì Giê-ru-sa-lem đã ở trong tay dân Giêbusít (Giô-suê 10:1-3).

Khi dân Y-sơ-ra-ên chiếm cứ xứ Ca-na-an và phân chia xứ sở thì Giê-ru-sa-lem thuộc về chi phái Bên-gia-min (Giô-suê 18:26). Nhưng chi phái Bên-gia-min không chiến thắng nổi dân Giêbusít, nên dân ấy còn ở giữa dân Y-sơ-ra-ên tại Giê-ru-sa-lem (Quan xét 1:21).

Khi Đa-vít lên ngôi vua, ông thấy cần phải chiếm thành Giê-ru-sa-lem, dùng làm thủ đô vì là một địa điểm quan trọng.

Dân Giêbusít xây dựng thành Giê-ru-sa-lem kiên cố, họ thách đố Đa-vít, cho rằng chỉ kẻ đui và què cũng thừa sức giữ thành vì nghĩ quân đội của ông không thể nào chiến thắng được. Tuy nhiên tướng của Đa-vít là Giô-áp đã chiếm được thành (I Sử ký 11:6-7).

Đức Chúa Trời ở cùng Đa-vít và vua càng ngày càng trở nên cường thạnh. “Nước nào có Giê-hô-va làm Đức Chúa Trời mình, dân nào được Ngài chọn làm cơ nghiệp Ngài có phước thay” (Thi 33:12). Đó là hình ảnh vinh hiển của một đời sống tôn Chúa làm Vua. Đời sống đó luôn luôn sung mãn, thịnh vượng như cây trồng gần dòng nước, như vườn năng tưới, lúc nào cũng xanh tươi, sai trái, đẹp đẽ. Vẻ đẹp của Cơ Đốc nhân là khiêm nhường nhưng cao thượng, đơn sơ nhưng thành thực, yêu thương nhưng thánh khiết.

CÂU HỎI

1. Vì sao Đa-vít cầu nguyện với Chúa trước khi lên ngôi?

2. Khi ông vâng lời Chúa đến Hếp-rôn, có việc gì xảy ra?

3. Đa-vít khen ngợi dân Giabe về vệc gì? Vì sao điều đó là cần thiết?

4. Đa-vít chinh phục được 11 chi phái kia bằng cách nào?

5. Chúa Jêsus đã chinh phục thế giới bằng cách nào?

6. Tại sao Đa-vít muốn chiếm Giê-ru-sa-lem?

7. Dân Giêbusít thách đố Đa-vít như thế nào?

8. Nhờ đâu Đa-vít ngày càng thạnh vượng?

9. Hình ảnh vinh hiển của một đời sống tôn Chúa làm Vua là thế nào?

10. Vẻ đẹp của Cơ đốc nhân ra sao?

BÀI 41. ĐA-VÍT RƯỚC HÒM GIAO ƯỚC VỀ GIÊ-RU-SA-LEM

KINH THÁNH: II Sa-mu-ên 6:1-19.

CÂU GỐC: “Hãy cảm tạ mà vào các cửa Ngài, hãy ngợi khen mà vào hành lang Ngài, khá cảm tạ Ngài, chúc tụng danh của Ngài” (Thi thiên 100:4).

MỤC ĐÍCH: Dạy chúng ta khi đến nhà của Đức Chúa Trời để thờ phượng Ngài, nên giữ sự trang nghiêm, cung kính.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Chúa Jêsus dạy phải trang nghiêm, cung kính

(Mác 11:15-17).

TH:

Đa-vít rước hòm giao ước

(II Sa-mu-ên 6:1-9).

TB:

Đa-vít rước hòm giao ước lần nữa

(II Sa-mu-ên 6:10-19).

TT:

Đa-vít dâng các của lễ

(I Sử 15-16).

TN:

Thi Thiên của Đa-vít

(Thi thiên 24).

TS:

Trang sức trong nhà Chúa

(Thi 93 và 96).

TB:

Đến cùng Đức Chúa Trời

(I Ti-mô-thê 3:14-15).

Hòm giao ước dài chừng 40 phân tây, cao và rộng chừng 25 phân tây, làm bằng gỗ quí, bọc vàng ròng. Bên trong chứa hai bảng đá chép 10 điều răn, một bình vàng đựng mana và cây gậy trổ hoa của A-rôn (Hê-bơ-rơ 9:4).

Hòm đặt trong nơi chí thánh của đền tạm khi dân Y-sơ-ra-ên di chuyển từ núi Si-na-i về Đất Hứa. Khi đã vào Ca-na-an, dân Y-sơ-ra-ên đặt đền tạm tại Silô, thuộc địa phận chi phái Ép-ra-im (I Sa-mu-ên 1:3). Khi dân Y-sơ-ra-ên chiến trận với dân Phi-li-tin, họ thỉnh hòm giao ước của Đức Chúa Trời cùng ra trận với họ, có hai thầy tế lễ Hóp-ni và Phênia đi theo, hy vọng nhờ đó chiến thắng dân Phi-li-tin. Kết quả họ bị dân Phi-li-tin đánh bại và hòm giao ước bị cướp luôn (I Sa-mu-ên 4).

Dân Phi-li-tin đem hòm giao ước về, bị Chúa hình phạt nên họ sợ hãi, đem hòm giao ước trả lại dân Y-sơ-ra-ên tại Ki-ri-át Giê-a-rim, thuộc biên giới chi phái Giu-đa và Bên-gia-min (I Sa-mu-ên 5 và 6). Người Y-sơ-ra-ên lên thỉnh hòm giao ước về đặt trong nhà của A-bi-na-đáp (I Sa-mu-ên 7:1). Hòm giao ước ở đó cho đến khi Đa-vít thỉnh về Giê-ru-sa-lem.

I. ĐA-VÍT THỈNH HÒM GIAO ƯỚC TỪ NHÀ A-BI-NA-ĐÁP ĐẾN NHÀ Ô-BẾT-Ê-ĐÔM.

1. Đa-vít nhìn thấy nhu cầu thờ phượng Chúa là quan trọng.

Từ khi hòm giao ước ở tại Ki-ri-át Giê-a-rim đến lúc Đa-vít lên ngôi và thỉnh hòm về Giê-ru-sa-lem, tinh thần thờ phượng của dân Y-sơ-ra-ên rất nguội lạnh, không được Chúa ban phước (I Sử 13:1-4). Đa-vít nhận thấy thất bại trong thời Sau-lơ do đó mà ra, nên ngay khi lên ngôi, ông nghĩ ngay đến việc thỉnh hòm giao ước về Giê-ru-sa-lem.

Mục đích của Đa-vít khi thỉnh hòm giao ước về Giê-ru-sa-lem là tái lập sự thờ phượng trong Y-sơ-ra-ên. Hòm giao ước không phải là một hình tượng để thờ phượng, nhưng là một vật thánh chỉ về sự hiện diện của Chúa giữa vòng họ.

Bất luận đến nơi đâu, mối bận tâm đầu tiên của Áp-ra-ham là lập một bàn thờ cho Chúa. Công việc đầu tiên của chúng ta là thờ phượng Chúa. Cám dỗ lớn nhất và trước nhất là bỏ qua sự thờ phượng Chúa. Lời Chúa dạy chúng ta về thứ tự ưu tiên của đời sống là trước hết hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài (Ma-thi-ơ 6:33). Chúng ta chớ để cho sự cám dỗ nào khiến chúng ta bỏ qua sự thờ phượng Chúa, vì nếu thiếu sự thờ phượng thì không thể nào hưởng được ơn phước từ nơi Ngài.

2. Sai lầm của Đa-vít khi thỉnh hòm giao ước.

Đa-vít không cầu nguyện và không nghiên cứu luật pháp Môi-se về cách thỉnh hòm giao ước. Thay vì phải xỏ đòn vào 4 khoen ở 4 góc hòm để khiêng trên vai thì lại chuyên chở bằng xe bò (Dân 4:14-15; 7:9). Vì vậy, khi hai con bò vấp chân thì xe bị nghiêng, Uxa đi bên cạnh, vội vàng đặt tay lên hòm giao ước để giữ lại và hành động đó của Uxa khiến ông phải chết.

Sốt sắng thờ phượng, hầu việc Chúa là điều tốt nhưng chưa đủ, cần phải biết cách thờ phượng để được đẹp lòng Ngài. Tinh thần của Đa-vít rất tốt, nhưng cách thực hiện lại chưa tốt nên gây ra tai họa. Chúa bảo Giô-suê: “Quyển sách luật pháp này chớ xa miệng ngươi, hãy suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong, vì như vậy ngươi mới được may mắn trong con đường mình và mới được phước” (Giô-suê 1:8). Chúng ta phải thờ phượng Chúa bằng tất cả lòng, trí, sức dưới sự soi dẫn của Đức Thánh Linh mới có thể nhận được phước từ nơi Chúa.

3. Khinh lờn sự thánh khiết của Chúa sẽ bị phạt.

Hòm giao ước đã ở trong nhà cha của Uxa trong thời gian gần 80 năm, vì vậy Uxa đã quá quen thuộc với hòm giao ước nên sinh ra khinh lờn và tưởng rằng trong trường hợp như vậy, ông có đụng đến hòm giao ước cũng chẳng hại gì. Không ngờ hành động của Uxa xúc phạm đến sự thánh khiết của Đức Chúa Trời và hậu quả là Uxa phải chết. Ngày nay, người ta thường viện nhiều lý do để phạm tội, “Chớ hề dối mình, Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu” (Ga-la-ti 6:7).

Na-đáp và Abihu là thầy tế lễ, con trai của A-rôn, cũng đã phạm tội khinh lờn Chúa. Theo luật pháp, khi vào đền thờ để dâng hương, họ phải dùng lửa tại bàn thờ của lễ thiêu. Nhưng họ đã cho vào bình hương một thứ lửa lạ, là điều Chúa không phán dạy, nên một ngọn lửa từ một bình hương lòe ra giết họ ngay. Sau đó Chúa đã phán: “Ấy là một mạng lệnh đời đời, trải qua các thời đại, hầu cho các ngươi phân biệt điều thánh và chẳng thánh, điều khiết và chẳng khiết” (Lê-vi 10:9-10).

Khi đến nhà thờ, chúng ta phải giữ sự trang nghiêm, cung kính như Môi-se cơi giày ra trước sự hiện diện của Chúa trong bụi gai cháy. Xin đừng xem thường sự thánh khiết mà xúc phạm Đức Chúa Trời, phàm tục hóa sự thờ phượng Ngài như Uxa, Na-đáp và Abihu. Chúng ta được phước hay phải họa, tùy thuộc vào hành vi của chúng ta có xứng đáng hay không. Thấy Uxa chết, Đa-vít sợ, không dám rước hòm giao ước về nhà mình, vì nhận biết mình chưa chuẩn bị một tinh thần xứng đáng. Hòm giao ước được đưa về nhà của Ôbếtêđôm, một người thuộc chi phái Gát.

II. ĐA-VÍT THỈNH HÒM GIAO ƯỚC TỪ NHÀ Ô-BẾT-Ê-ĐÔM VỀ GIÊ-RU-SA-LEM (12-19).

Khi hòm giao ước đặt trong nhà Ôbếtêđôm, Đức Chúa Trời ban phước cho gia đình này rất nhiều. Ba tháng sau, Đa-vít tổ chức rước hòm giao ước từ nhà Ôbếtêđôm về Giê-ru-sa-lem. Không phải Chúa chỉ muốn ban phước cho một gia đình, mà cho cả dân Y-sơ-ra-ên.

Đa-vít chuẩn bị chu đáo, đúng theo luật pháp Môi-se mà Chúa đã truyền dạy. Ông nói: “Ngoại trừ người Lê-vi, chẳng ai xứng đáng khiêng hòm giao ước của Đức Chúa Trời, vì Đức Giê-hô-va đã chọn chúng đặng khiêng hòm giao ước của Đức Chúa Trời và hầu việc Ngài luôn luôn” (I Sử 15:2). Đám rước hết sức trang nghiêm, trọng thể, cứ mỗi 6 bước của những người khiêng, Đa-vít dâng một tế lễ thiêu. Đa-vít hạ mình, nhảy múa như một thường dân để chúc tụng Chúa.

Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy ân huệ và thành thực, nhưng chẳng kể kẻ có tội là vô tội, vì Ngài cũng là Đấng thánh khiết, “Sự thánh khiết là xứng đáng cho nhà Ngài đến đời đời… Hãy mang trang sức thánh mà thờ lạy Đức Giê-hô-va” (Thi thiên 93:5, 96:9). Một đời sống thánh khiết sẽ được Chúa ban phước. Muốn sống thánh khiết để được phước, chúng ta phải cẩn thận đọc và làm theo Lời Chúa.

CÂU HỎI

1. Đa-vít tìm ra lý do khiến dân Y-sơ-ra-ên không được phước trong thời Sau-lơ là gì?

2. Khi lên ngôi, Đa-vít đã làm gì?

3. Trong khi tổ chức cuộc rưóc hòm giao ước, Đa-vít có sai lầm gì?

4. Hậu quả của sai lầm đó là gì?

5. Sự chết của Uxa, Na-đáp, Abihu dạy chúng ta điều gì?

6. Trong khi thi hành các nghi thức thờ phượng, chúng ta phải có thái độ nào?

7. Tại sao sốt sắng thờ phượng Chúa vẫn chưa đủ?

8. Khi hòm giao ước ở trong nhà Ôbếtêđôm thì có gì xảy ra?

9. Đa-vít tổ chức rước hòm giao ước lần sau như thế nào? Kết quả ra sao?

10. Muốn thờ phượng Chúa cách xứng đáng để được phước, chúng ta phải làm gì?

BÀI 42. CÁC LỜI HỨA CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI CHO ĐA-VÍT

KINH THÁNH: II Sa-mu-ên 7:1-29.

CÂU GỐC: “Con trai ấy sẽ nên tôn trọng, được xưng là con của Đấng Rất Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi vua Đa-vít, là tổ phụ Ngài” (Lu-ca 1:32).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên thấy Đức Chúa Trời là thành tín, luôn thực hiện đúng lời hứa của Ngài đối với kẻ kính sợ Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Lời hứa của Đấng Christ cho chúng ta

(Giăng 5:23-24).

TH:

Giao ước của Chúa với Đa-vít

(II Sa-mu-ên 7:1-29).

TB:

Giao ước của Chúa với Đa-vít

(I Sử ký 17:1-27).

TT:

Chúa tôn trọng lời hứa của Ngài

(ICác 8:56; Lu-ca 21:23).

TN:

Lời tiên tri về Đấng Mê-si

(II Sa-mu-ên 7:16; I Sử 17:12-14).

TS:

Giao ước được ứng nghiệm

(Mat 1:1-16; Lu 1:32-33).

TB:

Chúa thành tín

(Giô-suê 21:45; 23:14).

Khoảng 15 năm qua, Đa-vít trải qua biết bao cảnh lao đao của một chiến sĩ. Bây giờ, xứ sở thái bình, ông ở trong cung điện bằng gỗ bá hương. Ôn lại, ông cảm kích sự nhân từ lớn lao của Chúa. Đang khi đó, ông thấy hòm giao ước còn đặt trong một cái trại, thì lòng rất xót xa. Tâm sự với tiên tri Na-than, ông muốn xây một đền thờ cho Đức Chúa Trời và xin Na-than cầu hỏi ý Ngài. Na-than đồng ý ngay, vì tin rằng Chúa đang ở với Đa-vít. Ước gì mỗi con cái Chúa không thể vui hưởng mọi tiện nghi cho riêng mình khi Hội Thánh Chúa khắp đó đây đang thiếu thốn, nhà thờ hư hao đổ nát. Nguyện ai nấy có lòng xót xa về nhà Chúa như Đa-vít.

Tối lại, Chúa hiện ra với Na-than, bảo ông đến nói với Đa-vít, nhắc lại những lời hứa trước của Ngài, và thêm những lời hứa quan trọng hơn.

I. NHỮNG LỜI HỨA CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI ĐÃ ĐƯỢC THỰC HIỆN (7:4-11).

Trước tấm lòng của Đa-vít đối với Chúa, Ngài nhắc lại những lời Ngài đã hứa cùng ông và đã thực hiện.

Đức Chúa Trời xức dầu cho Đa-vít làm vua Y-sơ-ra-ên, từ một gã chăn chiên đến một vị hoàng đế, con đường thật xa, thật khó, nhưng điều chi Chúa hứa, Ngài đã thực hiện.

Đức Chúa Trời đã ở cùng, bảo vệ, ban phước cho Đa-vít được hùng mạnh và đắc thắng kẻ thù. Ngài làm nổi danh ông giữa nhiều dân tộc.

Đa-vít được tôn trọng không phải chỉ giữa dân Y-sơ-ra-ên mà trong các nước khác đều biết Đa-vít là một vĩ nhân.

Về phương diện thuộc linh, Chúa cũng làm cho chúng ta như Ngài đã làm cho Đa-vít: Từ một tội nhân, hư mất trong trũng bùn lấm, trong hầm gớm ghê, Chúa đã đem chúng ta ra khỏi đó, đặt chân chúng ta trên hòn đá, làm cho bước chúng ta được vững bền, để trong miệng chúng ta một bài hát mới, ban cho chúng ta quyền làm con trai, con gái của Ngài. Ngài ngự trị đời sống chúng ta, chinh phục mọi kẻ thù nghịch là ma quỉ, tội lỗi, thế gian, cho chúng ta sự bình an của Ngài.

Nếu Đa-vít phải ngạc nhiên mà la lên: “Tôi sẽ lấy gì báo đáp Đức Giê-hô-va về các ơn lành mà Ngài đã làm cho tôi?”, thì chúng ta đáng phải ngạc nhiên hơn thế nữa.

II. NHỮNG LỜI HỨA CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI SẼ ĐƯỢC THỰC HIỆN (7:12-16).

1. Dòng dõi Đa-vít sẽ kế vị ông và xây đền thờ cho Chúa.

Đa-vít muốn xây một đền thờ cho Chúa, nhưng Ngài phán với ông qua tiên tri Na-than: “Rốt lại, Đức Giê-hô-va phán hứa rằng Ngài sẽ dựng cho vua một nhà” (7:11). “Nhà” chỉ về dân tộc, dòng dõi của Đa-vít. Khi nào Đa-vít qua đời, Chúa sẽ lập một người do ông sinh ra để kế vị ông, nước người sẽ vững bền. Người sẽ xây dựng đền thờ cho Ngài.

Lời hứa đó được thực hiện trong đời Sa-lô-môn, Đức Chúa Trời ban phước cho vua và vương quốc của vua được cường thạnh, và chính ông đã xây dựng đền thờ cho Chúa tại Giê-ru-sa-lem.

Thật phước hạnh khi Đa-vít biết đời con cháu mình được Đức Chúa Trời ban phước, cường thạnh và làm sáng danh Ngài.

2. Nhà Đa-vít được vững bền đời đời.

Đức Chúa Trời hứa sẽ lập dòng dõi Đa-vít được vững bền đời đời: “Lâu về sau, Chúa phán: Như vậy, nhà ngươi và nước ngươi được bền đỗ trước mắt ngươi đời đời, ngôi ngươi sẽ được vững lập đến mãi mãi” (c.16).

Lời hứa này được ứng nghiệm không phải qua Sa-lô-môn hay vô luận người nào khác mà qua Cứu Chúa Jêsus. Đa-vít là tổ phụ của Chúa Jêsus về phần xác (Lu-ca 1:32-33). Ngài là Vua của các vua, Chúa của các chúa (I Ti-mô-thê 6:15; Khải 7:14; 19:16).

Đây là điều Đa-vít chưa nghĩ đến, song Chúa đã dành đặc ân ấy cho ông. Cũng vậy, về sự cứu rỗi mà Chúa đã dành cho chúng ta, Phao-lô mô tả: “Ấy là sự mắt chưa thấy, tai chưa nghe và lòng người chưa nghĩ đến, nhưng Đức Chúa Trời đã sắm sẵn điều ấy cho những người yêu mến Ngài” (ICôr 2:9).

Ân điển của Đức Chúa Trời vô cùng to lớn đối với chúng ta. Tạ ơn Chúa. Ngài thật thành tín.

III. ĐA-VÍT TẠ ƠN CHÚA VÀ XIN CHÚA THỰC HIỆN LỜI HỨA CỦA NGÀI (7:17-29).

1. Đa-vít tạ ơn Chúa về những ân huệ lớn lao của Ngài cho ông (c.17-21).

Nghe Lời Chúa qua tiên tri Na-than, Đa-vít hết sức vui mừng và ngạc nhiên quá đỗi trước ân huệ diệu kỳ của Chúa: Ngài đã chọn ông, ban phước cho ông dù ông không ra gì, và Ngài sẽ làm ơn cho dòng họ ông. Đa-vít đến truớc hòm giao ước của Chúa và thưa rằng “Lạy Đức Giê-hô-va, tôi là ai, họ hàng tôi là gì mà Chúa đã đem tôi tới nơi này?”

Chúa tuyên phán rằng Ngài chọn và lập dòng dõi ông được bền vững đến đời đời, tức là ban một Cứu Chúa ra từ dòng dõi ông để làm Vua muôn đời.

Đó là lời hứa quí báu, to lớn, lâu dài Chúa ban cho Đa-vít mà chính ông không ngờ tới được. Đa-vít chẳng biết phải nói gì thêm với Chúa, ông chỉ biết cảm tạ và ca tụng Ngài thôi.

Chúng ta cần phải nhìn thấy những ơn phước Chúa ban và tạ ơn Ngài như Đa-vít. Ân huệ Chúa ban cho chúng ta lớn lao là dường nào! Ngài thương yêu chúng ta đến nỗi bằng lòng chết thay cho chúng ta trên thập tự giá để ban sự sống đời đời cho chúng ta. Ngài còn làm cho chúng ta nhiều việc lớn lao, lạ lùng không xiết kể. Hãy đồng thanh với Đa-vít: “Trọn đời sống tôi sẽ ngợi khen Đức Giê-hô-va, hễ tôi còn sống chừng nào, tôi sẽ hát xướng cho Đức Chúa Trời tôi chừng ấy”

2. Đa-vít tạ ơn Chúa về những ân huệ lớn lao Ngài cho dân tộc ông (c.17-21).

Chúa giải cứu dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ê-díp-tô, bảo vệ họ khỏi kẻ thù, ban xứ sở cho họ để họ làm một dân thuộc riêng về Ngài và Ngài làm Đức Chúa Trời của họ.

Hãy tạ ơn Chúa vì ơn cứu rỗi và những ơn phước của Ngài đến với dân tộc chúng ta.

3. Đa-vít xin Chúa làm thành lời hứa của Ngài (c.25-29).

Đa-vít hạ mình phục tùng Chúa và tha thiết xin Ngài làm thành lời hứa của Ngài đối với ông và dòng dõi ông.

Đa-vít tin cậy vào sự thành tín và chân thật của Đức Chúa Trời. Lời của Chúa là chân thật nên ông và dòng dõi ông được phước đến muôn đời.

Chúng ta cần khiêm nhường, hạ mình để thấy mình hèn mọn, đồng thời thấy ân huệ của Chúa đối với mình là lớn lao. Cầu xin Chúa tha thứ sự dại dột, bất kính, vô tín của chúng ta. Hãy nắm chắc các lời hứa của Chúa, bày tỏ đức tin trọn vẹn, vâng phục hoàn toàn, để nhận lãnh lời hứa của Ngài. Hãy cúc cung tận tụy mà tôn thờ, cảm tạ, ca ngợi, phục vụ Chúa trọn đời mình.

CÂU HỎI

1. Tại sao Đa-vít đang ở trong cung điện bằng gỗ bá hương mà lòng xót xa?

2. Đa-vít ngỏ ý với Na-than ước muốn gì?

3. Chúa bảo Na-than trả lời cho Đa-vít thế nào về việc xây đền thờ cho Ngài?

4. Chúa đã thực hiện lời hứa nào cho Đa-vít?

5. Những lời hứa nào sẽ được Ngài thực hiện cho Đa-vít?

6. Về phương diện thuộc linh, Chúa đã làm gì cho chúng ta?

7. Khi nghe Na-than thuật lại Lời Chúa, Đa-vít liền làm gì?

8. Điều gì tỏ ra sự khiêm nhường của Đa-vít?

9. Hãy kể lại các ân huệ Chúa đã làm và sẽ làm cho chúng ta.

10. Chúng ta phải làm gì để Chúa thực hiện các lời hứa của Ngài cho chúng ta?

BÀI 43. ĐA-VÍT ĐỐI XỬ NHÂN TỪ VỚI DÒNG DÕI SAU-LƠ

KINH THÁNH: II Sa-mu-ên 4:4, 8:15, 9:1-13.

CÂU GỐC: “Hãy ở với nhau cách nhân từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy” (Ê-phê-sô 4:32).

MỤC ĐÍCH: Chúa muốn chúng ta bày tỏ đời sống nhân từ đối với mọi người.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Nhân từ vì cớ Đấng Christ

(Mác 9:41; Cô-lô-se 3:17).

TH:

Mê-phi-bô-sết, vị hoàng tử què

(II Sa-mu-ên 4:4; 9:13).

TB:

Hãy nhân từ đối với nhau

(II Sa-mu-ên 9:1-13).

TT:

Đức Chúa Trời nhân từ đối với chúng ta

(Ê-phê-sô 2:4,6,7,13).

TN:

Đức Chúa Trời yêu chúng ta

(Giăng 1:12; Rô-ma 8:16; 9:26).

TS:

Đức Chúa Trời lập chúng ta làm kẻ kế tự Ngài

(Rô 8:17; Ga-la-ti 4:7; Tít 3:7).

TB:

Sự hy sinh vì tình yêu của Chúa Jêsus

(Rô 5:6-8; I Phi 1:18-19).

Khi mới lên ngôi vua, Đa-vít phải bận biết bao nhiêu là công việc: đối nội, đối ngoại, chính trị, tôn giáo. Công việc nặng nhất là chinh phục các dân tộc chung quanh như Phi-li-tin phía tây, Mô-áp phía đông, Sy-ri phía bắc và Ê-đôm phía nam. Sau một thời gian đã toàn thắng, bình định bốn phương, đồng bào an cư lập nghiệp, Đa-vít ngồi ôn lại quá khứ. Bấy giờ ông nhớ đến Giô-na-than, Sau-lơ và lời hứa với họ (I Sa-mu-ên 20:14-17; 24:20-23).

Thường tình khi con người đã trở nên giàu sang thì quên hết bạn bè cũ. Đa-vít không phải như vậy, ông tìm hậu duệ của Sau-lơ và Giô-na-than để làm ơn cho họ.

I. ĐA-VÍT CHO TÌM HẬU DUỆ CỦA SAU-LƠ (II Sa-mu-ên 9:1-13).

Đa-vít hỏi các cận thần: “Có người nào của nhà Sau-lơ còn sống chăng? Ta muốn vì cớ Giô-na-than mà làm ơn cho người”. Phần nhiều các vị vua thời xưa sau khi lên ngôi thường tiêu diệt hết thảy dòng dõi của vị vua trước để trừ hậu họa. Vì lý do đó, Mê-phi-bô-sết, con trai của Giô-na-than, được đem giấu ở một nơi hẻo lánh là Lô-đê-ba. Mê-phi-bô-sết sống trong tối tăm, trong sự quên lãng của mọi người như một người đã chết, nên câu hỏi của Đa-vít khiến cho ai nấy ngạc nhiên không ít. Sau khi được Xíp-ba, một đầy tớ của Sau-lơ, cung cấp tin tức, Đa-vít biết Mê-phi-bô-sết, con trai của Giô-na-than, cháu Sau-lơ còn sống. Mê-phi-bô-sết bị què chân trong lần chạy trốn khi Sau-lơ và Giô-na-than tử trận.

Đa-vít lập tức cho người mời Mê-phi-bô-sết về để làm ơn.

Đa-vít chẳng những không trả thù Sau-lơ mà còn đối xử tử tế với dòng dõi của vua. Thật chỉ có người kính sợ Chúa mới có cách xử sự như Đa-vít mà thôi.

II. ĐA-VÍT LÀM ƠN CHO CON CHÁU CỦA SAU-LƠ (9:6-13).

Mê-phi-bô-sết rất run sợ khi diện kiến Đa-vít vì chàng nghe thuật lại rằng ông nội chàng từng nhiều phen âm mưu sát hại Đa-vít. Đa-vít trấn an: “Ớ Mê-phi-bô-sết, chớ sợ, ta muốn làm ơn cho ngươi vì cớ Giô-na-than, cha ngươi, ta sẽ trả lại cho ngươi những đất của Sau-lơ, ông nội ngươi, và ngươi sẽ ăn chung bàn ta luôn”. Mê-phi-bô-sết vô cùng ngạc nhiên, mọi việc diễn ra ngoài sức tưởng tượng của chàng. Được tha khỏi chết là phước lắm rồi, nay lại được biệt đãi nữa.

1. Đa-vít làm ơn cho Mê-phi-bô-sết vì cớ Giô-na-than.

“Chớ sợ vì ta sẽ làm ơn cho ngươi vì cớ Giô-na-than, cha ngươi”. Lời này làm êm dịu tâm hồn nặng nề, bối rối của Mê-phi-bô-sết, nâng bỗng chàng lên thật cao đang khi chàng đang ở địa vị thật thấp. Lời này như một liều thần dược, vừa chữa bệnh, vừa bổ sức làm cho bệnh nhân hoàn toàn bình phục.

2. Đa-vít trả lại đất của Sau-lơ cho Mê-phi-bô-sết.

“Ta sẽ trả lại cho ngươi tất cả đất của Sau-lơ, ông nội ngươi”. Sau-lơ có nhiều vườn nho, đồng ruộng, song đã bị tịch thu bởi sự ngoan cố của Íchbôsết. Nhưng nay, Đa-vít trả lại cho Mê-phi-bô-sết tất cả ruộng vườn đó.

3. Mê-phi-bô-sết được ăn chung bàn với vua.

“Ngươi sẽ ăn chung bàn với ta luôn luôn”. Đây là sự biệt đãi của vua mà Mê-phi-bô-sết không bao giờ nghĩ tới. Đa-vít nâng chàng lên địa vị cao trọng, đưa chàng ra khỏi thân phận hẩm hiu, xem chàng như con trai của vua.

Mê-phi-bô-sết cảm kích quá đỗi, vội vàng phủ phục dưới chân Đa-vít để tỏ lòng tri ân. Đa-vít giao ruộng, vườn của Sau-lơ cho Xíp-ba quản lý khai thác để cung cấp hoa lợi cho những người thuộc về Mê-phi-bô-sết, còn Mê-phi-bô-sết thì ở luôn trong cung điện tại Giê-ru-sa-lem mà ăn chung bàn với Đa-vít. Mê-phi-bô-sết có một con trai là Mica. Qua con trai đó dòng dõi của Sau-lơ được lưu truyền (I Sử ký 9:40-44).

Đa-vít biết Chúa đối đãi với ông một cách nhân từ, nên ông cũng đối đãi với mọi người cũng như vậy. Chúa dạy chúng ta tha thứ nhau như Chúa đã tha thứ chúng ta, đối đãi nhau cách nhân từ như Chúa đối đãi chúng ta vậy (Ê-phê-sô 4:32, I Phi-e-rơ 3:8-4). Tha thứ và nhân từ là nhân cách của đế vương. Đa-vít đã nhân danh Chúa long trọng thề hứa với Giô-na-than và Sau-lơ là sẽ không tiêu diệt dòng dõi họ, cũng không cất ơn thương xót khỏi nhà họ. Những lời hứa như vậy phải giữ, mặc dầu không ai đòi, vì không ai được phép lấy danh Chúa mà làm chơi. Đức Chúa Trời đã thành tín với chúng ta, chúng ta phải thành tín với mọi người.

CÂU HỎI

1. Sau khi đất nước hòa bình, Đa-vít nhớ đến ai?

2. Đa-vít cho tìm hậu duệ của Sau-lơ làm gì?

3. Tại sao Mê-phi-bô-sết run sợ khi gặp Đa-vít?

4. Đa-vít đối với Mê-phi-bô-sết như thế nào?

5. Nghe các ân huệ của Đa-vít dành cho mình, Mê-phi-bô-sết có thái độ nào?

6. Tại sao Đa-vít có hành động tốt đẹp như thế?

7. Đức Chúa Trời đối đãi chúng ta như thế nào?

8. Chúng ta phải đối đãi nhau như thế nào?

BÀI 44. ÁP-SA-LÔM, NGƯỜI CON PHẢN CHA

KINH THÁNH: II Sa-mu-ên 15,18.

CÂU GỐC: “Hỡi kẻ làm con, mọi sự hãy vâng phục cha mẹ mình, vì điều đó đẹp lòng Chúa” (Cô-lô-se 3:20).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết vâng phục, hiếu kính cha mẹ là điều răn của Chúa.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ, người con công nghĩa

(Ma-thi-ơ 17:5).

TH:

Đa-vít tha thứ cho Áp-sa-lôm

(II Sa-mu-ên 14:21-33).

TB:

Sự phản nghịch của Áp-sa-lôm

(II Sa-mu-ên 15:1-37).

TT:

Sự chết của Áp-sa-lôm

(II Sa-mu-ên 18:1-33).

TN:

Hãy coi chừng sự kiêu ngạo

(Châm 16:18; 6:16-17).

TS:

Hãy để cho Đức Chúa Trời báo thù

(Rô-ma 12:19-21).

TB:

Hãy cầu xin sự tẩy sạch tâm hồn

(Thi 19:12; 51:2,10).

Trong đời Đa-vít có một vết sẹo ghê gớm là phạm tội tà dâm và sát nhân (II Sa-mu-ên 11:2-27). Dầu Đa-vít đã hết lòng ăn năn, khóc lóc đắng cay, dầu Chúa tha thứ tội, nhưng ông cũng phải gánh chịu hậu quả khủng khiếp của tội lỗi, như Am-môn cưỡng hiếp Ta-ma, là em một cha khác mẹ, khiến Áp-sa-lôm giết Am-môn để báo thù cho em. Sau đó, Áp-sa-lôm mưu phản cha mình.

I. ÁP-SA-LÔM ÂM MƯU CƯỚP NGÔI CỦA CHA (15:1-12).

Áp-sa-lôm có một thân hình rất đẹp, đẹp hơn hết mọi người trong nước. Chàng muốn làm vua, nhưng thấy Đa-vít yêu Sa-lô-môn hơn nên sợ cha mình sẽ lập Sa-lô-môn kế vị và chàng sẽ bị bỏ rơi. Vì vậy, Áp-sa-lôm âm mưu đoạt ngôi của cha.

1. Áp-sa-lôm mua chuộc lòng dân.

Áp-sa-lôm sắm sửa xe, ngựa và 50 người chạy trước mình, như chàng đã là vua rồi. Áp-sa-lôm muốn tỏ ra mình quan trọng, oai nghi, bệ vệ hơn cha mình, nên chàng cỡi ngựa thay vì la (ICác 1:33,38,34).

Áp-sa-lôm bày tỏ sự quan tâm, cảm thông với những người có nan đề. Mỗi ngày, Áp-sa-lôm dậy sớm, đứng tại cổng hoàng cung, hễ gặp bất cứ ai có việc gì cần khiếu nại thì chàng ân cần hỏi han cặn kẻ, tỏ ra quan tâm đến đời sống nhân dân và có khả năng chăm sóc mọi người cách chu đáo hơn vua cha. Bằng cách đó, chàng cố thuyết phục dân chúng đứng về phía chàng.

Áp-sa-lôm còn bày tỏ thiện cảm, gần gũi với mọi người. Mỗi khi gặp một người tôn trọng, Áp-sa-lôm ôm lấy họ mà hôn. Áp-sa-lôm đã khéo mua chuộc lòng dân một cách giả dối.

Vu khống, phản bội là cách của kẻ hèn nhát. Nó chỉ có hiệu lực trong một thời gian ngắn đối với những người nhẹ dạ, non lòng. Phao-lô nói: “Những kẻ đó chẳng hầu việc Đấng Christ, Chúa chúng ta, song hầu việc cái bụng họ và lấy lời ngọt ngào dua nịnh dỗ dành lòng kẻ thật thà” (Rô-ma 16:18). Một đứa con nói xấu cha mình là một đứa con bất hiếu, phản bội, gian trá. Đức Chúa Trời không thể ban phước cho một đứa con như vậy.

2. Áp-sa-lôm âm mưu tôn vương.

Sau 4 năm hoạt động cách xảo quyệt, Áp-sa-lôm thấy kết quả, lòng dân dần dần xây khỏi Đa-vít mà hướng về chàng. Áp-sa-lôm sắp đặt những kế hoạch sau cùng để xưng vương.

Áp-sa-lôm nói dối với Đa-vít rằng ông có hứa nguyện với Chúa, cần phải đến Hếp-rôn để trả xong sự hứa nguyện với Đức Giê-hô-va. Đa-vít mừng vì tưởng con mình vẫn yêu mến Chúa và sốt sắng về công việc Chúa nên đáp: “Hãy đi bình an”. Thật ra, Áp-sa-lôm đến Hếp-rôn chỉ để xưng vương.

Để bảo đảm cho kế hoạch thành công, Áp-sa-lôm cho mời nhiều tướng lãnh của Đa-vít đến Hếp-rôn. Có khoảng 200 người được mời như vậy. Họ đi mà chẳng hay biết gì về âm mưu đó. Áp-sa-lôm còn lôi cuốn cả A-hitôphe, cố vấn của Đa-vít, theo mình. Nhờ đó số người theo phe Áp-sa-lôm ngày càng đông.

Áp-sa-lôm ra lệnh khi tiếng kèn trổi lên, mọi người phải la to: “Áp-sa-lôm làm vua tại Hếp-rôn!” Mọi người tưởng Đa-vít đã thăng hà hoặc ông nhường ngôi lại cho Áp-sa-lôm.

II. ÁP-SA-LÔM ĐƯỢC TÔN LÀM VUA VÀ TRỞ VỀ GIÊ-RU-SA-LEM (15:13-17).

Nghe tin Áp-sa-lôm được tôn làm vua tại Hếp-rôn và sắp kéo quân về Giê-ru-sa-lem, Đa-vít và các cận thần của ông vội vàng trốn đi vì Đa-vít không muốn xung đột với con mình. Có 600 người thuộc chi phái Gát và một số cận vệ vẫn trung thành theo Đa-vít. Hết thảy dân trong xứ đều khóc khi thấy đoàn người của Đa-vít đi qua trước mặt họ. Vua qua khe Xếtrôn rồi hướng về con đường đồng vắng. Đa-vít vừa khóc vừa trèo lên núi Ô-li-ve với chân không, đầu trùm lại. Những người đi theo cũng vậy.

Áp-sa-lôm kéo quân về chiếm Giê-ru-sa-lem, chàng được tôn làm vua thế cho Đa-vít. Áp-sa-lôm làm sỉ nhục cha mình qua lời đề nghị của A-hitôphe (II Sa-mu-ên 16:20-23).

Kẻ phản loạn là kẻ không có tư cách của một quân tử. Áp-sa-lôm không có khả năng, tư cách của một ông vua mà chỉ hành động một cách điên rồ, xấu xa.

III. ÁP-SA-LÔM THẤT BẠI VÀ CHẾT (18:1-33).

1. Đa-vít tổ chức trận đánh (1-5).

Đa-vít chia quân ra làm 3 toán do 3 tướng lãnh chỉ huy. Đa-vít ngõ ý muốn cùng ra trận với họ nhưng họ không đồng ý, chỉ yêu cầu tiếp viện khi có cần thôi. Đa-vít cũng truyền lệnh cho tướng lĩnh và toàn quân phải dung thứ cho Áp-sa-lôm. Áp-sa-lôm muốn giết cha song Đa-vít muốn cứu con.

2. Quân Áp-sa-lôm bị đại bại (6-8).

Chúa đã làm cho số ít thắng được số nhiều. Quân của Áp-sa-lôm hoàn toàn bị thất bại. Họ đã chết trong hầm hố, trong gai chông, trong rừng rậm hơn là chết bởi gươm. Đức Chúa Trời làm cho họ tan tác lạc loài. Đức Chúa Trời không bảo vệ kẻ bất trung, bất hiếu.

3. Áp-sa-lôm chết (9-18).

Áp-sa-lôm hãnh diện về mái tóc của mình vì nó làm cho chàng đẹp hơn, nhưng chính mái tóc đó khiến chàng bị vướng vào cành cây, treo lơ lửng giữa khoảng không, còn con la chàng cỡi thì chạy mất. Người ta giết Áp-sa-lôm, ném thây chàng vào một cái hố giữa rừng, rồi chất đá lên trên.

Đức Chúa Trời không ban phước, ban bình an cho kẻ không hiếu kính cha mẹ.

4. Đa-vít thương khóc con (19-33).

Đa-vít lo lắng cho tình hình chiến trận. Nếu Áp-sa-lôm thắng, dân tộc sẽ ra sao? Nếu Áp-sa-lôm thua, tính mạng Áp-sa-lôm sẽ ra sao? Bên nào thắng ông cũng sợ, bên nào thua ông cũng sợ. Đối với Đa-vít, cuộc chiến diễn ra vừa ác liệt, tàn khốc, vừa diễn ra bên ngoài lẫn bên trong tâm hồn ông.

Tin từ chiến trận cho biết Áp-sa-lôm đã thua và tử trận. Đa-vít đau lòng than khóc con. Tình yêu của cha đối với con thật là lớn dầu là đứa con phản nghịch. Hỡi kẻ làm con, đừng làm khổ cho cha mẹ mình.

Chúa ban phước cho kẻ hiếu kính cha mẹ (Xuất 20:12). Chúa rủa sả và lên án xử tử kẻ không hiếu kính cha mẹ (Xuất 21:17, Lê-vi ký 20:9).

CÂU HỎI

1. Tội lỗi lớn nhất của Đa-vít là gì? Hậu quả của tội lỗi ấy là gì?

2. Áp-sa-lôm muốn gì? Áp-sa-lôm đã làm gì để đạt được mục đích?

3. Khi Áp-sa-lôm được tôn làm vua tại Hếp-rôn thì Đa-vít làm gì?

4. Áp-sa-lôm trở về làm vua tại Giê-ru-sa-lem, chàng sống thế nào?

5. Khi hai bên đánh nhau, kết quả thế nào? Áp-sa-lôm chết cách nào?

6. Tâm trạng Đa-vít ra sao khi hay tin Áp-sa-lôm chết?

7. Đời sống kẻ bất hiếu thế nào?

8. Kinh Thánh dạy gì về bổn phận con cái?

BÀI 45. ĐA-VÍT TÔN VINH ĐỨC CHÚA TRỜI

KINH THÁNH: II Sa-mu-ên 22:1-51.

CÂU GỐC: “Đức Giê-hô-va là sức mạnh và là cái khiên của tôi; lòng tôi đã nhờ cậy nơi Ngài, và tôi được cứu tiếp; vì vậy, lòng tôi rất mừng rỡ, tôi sẽ lấy bài ca mà ngợi khen Ngài” (Thi thiên 28:7).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên học theo gương Đa-vít, dâng tất cả khả năng, ân tứ Chúa cho để tôn vinh Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ ban cho chúng ta sự vui mừng

(Giăng 15:11).

TH:

Ca ngợi vì được giải cứu

(II Sa-mu-ên 22:1-51).

TB:

Ca ngợi về sự sáng tạo

(Thi 8:18).

TT:

Ca ngợi sự cao cả của Chúa

(Thi 24:1-10).

TN:

Ca ngợi sự tha tội

(Thi 51 và 65).

TS:

Ca ngợi quyền tể trị của Chúa

(Thi 68;145;150).

TB:

Ca ngợi sự nhân từ của Chúa

(Thi 136).

Trong đời Đa-vít làm vua, có rất nhiều thù nghịch xung quanh, nhưng Đức Chúa Trời cứu ông khỏi chết. Vì vậy, ông đã ghi lại nhiều bài cầu nguyện, nhiều bài cảm tạ, ca ngợi để dâng lên Chúa. Thi thiên không phải là những bài học lý thuyết, nhưng là những bài học kinh nghiệm thực tế trong cuộc sống. Đa-vít không những là một chiến sĩ, mà còn là một thi sĩ. Ông đã dâng tất cả khả năng và ân tứ đó cho Chúa. Ông đánh trận để tôn vinh Chúa. Ông đánh đàn, thổi sáo để tôn vinh Chúa và ông làm thơ cũng để tôn vinh Chúa.

Đời sống của chúng ta cũng như Đa-vít, là những nhạc cụ, mà chỉ có ngón tay yêu thương, nhân từ thánh khiết của Chúa chạm vào mới trỗi lên được những nốt nhạc du dương, đẹp đẽ nhất.

I. ĐA-VÍT TÔN VINH ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ ĐƯỢC NGÀI GIẢI CỨU (c.1-20).

1. Đức Chúa Trời là nơi nương náu của Đa-vít (1-4).

a. Chúa là hòn đá.

Chữ “hòn đá” dùng ở đây là núi đá, tảng đá, khối đá, hang đá, chính là nơi Đa-vít ẩn náu khi ông chạy trốn Sau-lơ.

b. Chúa là đồn lũy tôi.

Đồn lũy hay pháo đài là nơi kiên cố mà kẻ thù không thể xâm nhập được. Sau-lơ từng tấn công Đa-vít bằng nhiều cách khác nhau, nhưng Chúa bảo vệ ông như một pháo đài.

c. Chúa là Đấng giải cứu tôi.

Đức Chúa Trời có nhiều cách để giải cứu Đa-vít trong cơn nguy khốn. Khi Sau-lơ đem 3.000 quân vây hãm, Ngài cho quân Phi-li-tin xâm lấn bờ cõi Y-sơ-ra-ên khiến Sau-lơ phải lập tức bỏ Đa-vít để đối phó với quân thù (I Sa-mu-ên 23:25-28).

d. Chúa là cái thuẫn của tôi.

Thuẫn là vũ khí tự vệ, che chở cho người lính khỏi tên và gươm giáo của kẻ thù. Chúa đã bao phủ Đa-vít cả trước lẫn sau nên ông được bình an.

e. Chúa là sừng cứu rỗi tôi.

Sừng chỉ về sức mạnh. Khi Chúa đã cứu rỗi, đã trọng dụng thì không ai ngăn trở được. Chúa đã xức dầu cho Đa-vít làm vua thế Sau-lơ nên dầu Sau-lơ muốn giết Đa-vít để phá hủy chương trình đó thì cũng không thể nào thực hiện được.

f. Chúa là tháp cao của tôi.

Thời xưa, người ta xây tháp bằng đá rất cao để canh phòng quân địch, báo động cho toàn quân sẵn sàng chiến đấu. Vì được xây kiên cố nên kẻ thù không thể lên được và cũng không hạ được. Đối với Đa-vít, Chúa canh giữ ông trước sự tấn công của kẻ thù, họ chỉ ngước nhìn cách tức tối mà không làm gì được, bởi đó ông được an toàn.

g. Chúa là nơi nương dựa của tôi.

Đa-vít là một chiến sĩ, từng đánh thắng nhiều kẻ thù hùng mạnh, kể cả tên khổng lồ Gô-li-át. Thế nhưng ông không nương dựa vào khí giới, tài thao lược hay đội quân đông đảo của mình mà chỉ nương dựa vào Chúa, Đấng cai quản cả vũ trụ này nên ông được bình an.

2. Khi Đa-vít gặp nguy nan, Chúa can thiệp để giải cứu (5-20).

a. Những nguy nan.

Các lượn sóng của tử vong đã bao phủ tôi: Đa-vít hình dung sự chết như các lượn sóng lớn như muốn nhận chìm ông trong khi ông không có sức để kháng cự. Ông đã từng than thở: “Chỉ còn một bước cách tôi và sự chết” (20:3), “Chắc một ngày kia ta sẽ chết bởi tay Sau-lơ” (27:1).

Lụt gian ác chảy cuộn làm tôi sợ hãi: Sự gian ác, sự hủy diệt như cơn lụt đã áp đảo, lôi cuốn Đa-vít. Sức mạnh của nước có thể phá hủy nhiều công trình và giết người một cách dễ dàng.

Những dây của địa ngục đã vấn tôi: Quyền lực của địa ngục như những dây vương vấn ông, muốn trói cột ông lại, khiến ông thành nô lệ cho nó.

Lưới sự chết hãm bắt tôi: Quyền lực vô hình của sự chết như những tay lưới được giăng ra để vây bắt Đa-vít. Sau-lơ săn đuổi Đa-vít như người ta săn một con thú trong rừng.

Sự nguy hiểm bao vây Đa-vít bốn phía như lượn sóng, như nước lụt, như dây giăng, lưới bủa, đến nỗi Đa-vít không còn có đường nào để thoát thân. Sau-lơ quyết tâm giết Đa-vít. Đa-vít hoàn toàn tin cậy Chúa, nhưng trước thực tế quá phủ phàng, đôi phen làm cho ông nao núng. Thử hỏi: Vì danh Chúa, có bao giờ anh chị lâm vào tình trạng bi đát như Đa-vít chưa? Nếu có, thì Đa-vít là bạn tri âm của chúng ta, ngoài Đa-vít còn có nhiều người khác nữa, cả một đoàn tiên tri (Ma-thi-ơ 5:12,23,37; Công vụ 7:52). Bây giờ, chúng ta theo dõi lời làm chứng của Đa-vít để biết trong cảnh khổ đó, ông đã làm gì?

“Trong cơn hoạn nạn tôi cầu khẩn Đức Giê-hô-va, tôi kêu la cùng Đức Chúa Trời tôi. Từ đền Ngài, Ngài nghe tiếng tôi, tiếng kêu cầu của tôi thấu đến tai Ngài”. Đây là lối thoát duy nhất và hiệu lực nhất của Đa-vít. Khi không còn hy vọng, không ai tiếp trợ mình, thì Đa-vít ngước mắt đức tin lên trời, cầu khẩn kêu la cùng Chúa, không phải chỉ thấu đến Ngài, mà còn thấu đến tai Ngài. Còn có thể cầu nguyện với Chúa, là còn một năng lực phi thường để chiến thắng kẻ thù.

b. Chúa can thiệp.

Trời đất rung động (8-13). Đó là cảnh tượng Chúa hiện ra trên núi Si-na-i (Xuất 19:16-20).

Sấm sét, chớp nhoáng (14-15). Đó là cảnh tượng Chúa đổ tai vạ trên Ê-díp-tô để buộc họ phóng thích dân Y-sơ-ra-ên (Xuất 9:23-24).

Một trận gió thổi qua làm đáy biển lộ ra (16). Chúa dùng một cơn gió lớn thổi qua khiến nước Biển Đỏ rẽ ra cho dân Y-sơ-ra-ên đi như trên đất khô (Xuất 14:21-22).

Chúa đã sử dụng cõi thiên nhiên để cứu dân Y-sơ-ra-ên. Ngài cũng đã cứu Đa-vít như vậy (17-20). Từ trên cao Chúa giơ tay nắm lấy Đa-vít, đem ra khỏi nước sâu, khỏi bẫy và lưới của kẻ bạo tàn, mà đặt ông trong một nơi rộng rãi. Sự giải cứu này không đến từ bất cứ người nào dưới đất mà đến từ Chúa trên trời, nên Đa-vít tôn vinh một mình Ngài.

Quí vị có suy tôn, ca ngợi Chúa vì được Ngài giải cứu không?

II. ĐA-VÍT TÔN VINH SỰ CÔNG BÌNH CỦA CHÚA (21-28).

Chúa giải cứu Đa-vít vì Ngài nhìn thấy tấm lòng trung thành, không xây bỏ đường lối Chúa của ông. Ông theo mạng lệnh Ngài mà tránh xa tội lỗi nên Chúa đã thưởng ông. Ông đã gieo ra điều tốt lành nên gặt lấy kết quả khiến đời ông được hoàn toàn mãn nguyện.

Chúa không thiên vị, Ngài không hành động một cách bất thường nhưng theo một luật lệ nhất định. Ngài báo trả mỗi người tùy công việc họ làm, tùy cách họ sống: “Kẻ hay thương xót, Chúa sẽ thương xót lại; đối cùng kẻ trọn vẹn, Chúa sẽ tỏ mình trọn vẹn lại”. Chúa đã áp dụng luật này cho cả Đa-vít lẫn Sau-lơ.

III. ĐA-VÍT TÔN VINH ĐỨC CHÚA TRỜI VÌ ĐƯỢC THẮNG LUÔN LUÔN (29-51).

1. Chúa nâng đỡ Đa-vít.

Chúa là ngọn đèn của ông, tức là hy vọng của đời ông (29).

Chúa ban cho ông năng lực để vượt qua mọi trở ngại như đạo quân, như tường thành (30).

Chúa là cái khiên che chở ông (31).

Chúa là hòn đá lớn của ông (31).

Chúa là đồn lũy vững chắc của ông (33).

Chúa cho ông lẹ làng (34).

Chúa tập cho ông chiến đấu mạnh mẽ (35).

Chúa làm cho ông được sang trọng (36).

Chúa mở rộng đường lối cho ông (37).

2. Đa-vít được đắc thắng luôn luôn.

Ông rượt đuổi kẻ thù (38).

Ông đánh nát họ (39)

Ông bắt phục họ (40).

Kẻ thù chạy trốn ông (41).

Họ kêu cầu, Chúa không đáp lời họ (42).

Ông chà nát họ (43).

Ông làm đầu các nước (44).

Mọi dân phục tùng ông (45-46).

Đa-vít kết thúc bài ca cảm tạ để tôn vinh Ngài (47-51). Chúa của Đa-vít là Chúa của chúng ta, kinh nghiệm của Đa-vít cũng là kinh nghiệm của chúng ta. Hãy cảm tạ Chúa, hãy tôn vinh Ngài.

CÂU HỎI

1. Thi thiên là những bài học gì?

2. Đa-vít sử dụng các khả năng của mình để làm gì?

3. Vì sao Đa-vít tôn vinh Chúa?

4. Bạn có tôn vinh Chúa không? Vì sao?

5. Đa-vít bày tỏ Chúa là nơi nương cậy của ông qua những hình ảnh nào?

6. Đa-vít mô tả những nguy nan ông gặp như thế nào?

7. Trước những nỗi nguy nan đó, Đa-vít đã làm gì?

8. Chúa đã can thiệp bằng cách nào để cứu Đa-vít?

9. Nhờ đâu mà Đa-vít luôn đắc thắng?

10. Đa-vít nêu cho chúng ta tấm gương gì?

BÀI 46. SA-LÔ-MÔN ĐƯỢC CHỌN LÀM VUA

KINH THÁNH: ICác 1:5-2:4.

CÂU GỐC: “Còn ngươi, là Sa-lô-môn, con trai ta, hãy nhận biết Đức Chúa Trời của cha, hết lòng vui ý mà phục sự Ngài” (I Sử ký 28:9a).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết một người kính mến Chúa, vâng lời cha mẹ sẽ được Chúa ban phước.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ giao phó công việc cho chúng ta

(Giăng 15:16).

TH:

Sự phản loạn của A-đô-ni-gia

(ICác 1:5-31).

TB:

Sa-lô-môn được xức dầu làm vua

(ICác 1:32-40).

TT:

Lòng tha thứ của Sa-lô-môn

(ICác 1:41-53).

TN:

Đa-vít khuyên Sa-lô-môn

(I Sử 28:1-9).

TS:

Đức Chúa Trời lựa chọn vua

(Ê-sai 9:6-7; I Phi-e-rơ 2:1-9).

TB:

Phục sự với lòng vui mừng

(II Sử 29:25-29).

Cuộc đời của Đa-vít quá vất vả. Ông phải bình định xứ sở, nhọc lòng với bạn bè phản bội, với đàn con ngỗ nghịch. Đến tuổi già, ông chỉ nằm trên giường. Đó là cớ xui nhiều người thân của ông bị cám dỗ.

I. A-ĐÔ-NI-GIA ÂM MƯU CƯỚP NGÔI VUA (ICác 1:5-10).

1. Lý do A-đô-ni-gia muốn cướp ngôi vua.

A-đô-ni-gia nghĩ rằng Đa-vít đã quá già, không còn đủ sức cai trị và Sa-lô-môn còn quá trẻ chưa đủ kinh nghiệm, mặc dầu ông biết Chúa và cha mình đã lập Sa-lô-môn làm vua (I Sử 22:9). Ông muốn tự xưng vương trước ngày Đa-vít băng hà để tránh sự tranh chấp có thể xảy ra giữa ông và Sa-lô-môn.

Áp dụng: Dân sự của Chúa phải để Chúa chọn người của Ngài. Hội Thánh cũng là dân sự của Chúa.

2. Âm mưu của A-đô-ni-gia.

a. A-đô-ni-gia sắm ngựa và xe, mộ lính theo mình.

b. Tìm sự ủng hộ của quan tổng binh Giô-áp (quân đội), với thầy tế lễ A-bia-tha (tôn giáo).

c. Tổ chức một tiệc lớn mời tất cả những người theo phe mình đến dự. Sau bữa tiệc, phe của ông sẽ tôn ông lên ngôi và đưa ông vào Giê-ru-sa-lem.

Áp dụng: Đa-vít yêu mến Chúa, nhưng con của ông thì không. Phải chăng Đa-vít đã quá bận việc quốc gia đại sự mà thiếu thì giờ dạy dỗ con cái? Chúng ta thì sao? Con cái của chúng ta thế nào? (Sáng 18:19).

II. ĐA-VÍT CHỌN SA-LÔ-MÔN LÀM VUA (1:11-31).

1. Lý do Sa-lô-môn được chọn.

a. Sa-lô-môn đã tôn vinh Chúa. Ông biết âm mưu của A-đô-ni-gia, nhưng im lặng, phó thác cho Chúa, vì tin rằng nước Y-sơ-ra-ên là của Chúa, người làm vua phải được xức dầu.

b. Sa-lô-môn được tiên tri Na-than ủng hộ vì ông biết Chúa yêu Sa-lô-môn (II Sa-mu-ên 12:25). Ngoài ra Na-than còn có trách nhiệm với Chúa và với dân sự Ngài.

2. Tiến trình chọn Sa-lô-môn lên kế vị.

a. Na-than biết A-đô-ni-gia không hành động theo mạng lệnh của Chúa nên xin bà Bát-sê-ba thỉnh cầu vua thực hiện lời hứa của mình. Sau đó chính ông cũng vào để xác nhận với Đa-vít những điều Bát-sê-ba nói là thật và xin vua cho biết ai sẽ là người kế vị.

b. Dầu thể xác yếu đuối nhưng tinh thần của Đa-vít vẫn mạnh mẽ và sáng suốt, ông xác quyết lời hứa của mình với Bát-sê-ba là Sa-lô-môn sẽ làm vua.

Áp dụng: Không nên tranh chấp, hãy chờ đợi ý chỉ của Chúa được thành tựu, vì người hạ mình luôn được Chúa cất nhắc lên cao (Lu-ca 14:11).

III. SA-LÔ-MÔN ĐƯỢC TÔN LÀM VUA (1:32-40).

Sau bữa tiệc, phe của A-đô-ni-gia biết Đa-vít đã đồng ý cho Sa-lô-môn lên kế vị.

1. Nghi lễ tấn phong Sa-lô-môn.

a. Đa-vít ra lệnh cho thầy tế lễ Xa-đốc, tiên tri Na-than, tổng binh Bênagia, đưa Sa-lô-môn vào thành với nghi lễ của một tân vương: Cỡi con la của vua, thầy tế lễ Xa-đốc và tiên tri Na-than xức dầu cho Sa-lô-môn, người ta thổi kèn và dân chúng tung hô “vua Sa-lô-môn vạn tuế”.

b. Đa-vít chúc tụng Đức Chúa Trời về Sa-lô-môn: “Đáng ngợi khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, vì ngày nay Ngài có ban một người để ngồi trên ngôi của tôi mà mắt tôi xem thấy”.

2. Vua Sa-lô-môn tha thứ cho A-đô-ni-gia.

Nghe tiếng kèn và lời tung hô của dân chúng, lại được Giô-na-than, con trai thầy tế lễ A-bia-tha, thông báo, hết thảy mọi người dự tiệc của A-đô-ni-gia đều sợ hãi và ai nấy đều tìm cách thoát thân. A-đô-ni-gia chạy đến nắm lấy sừng của bàn thờ (Xuất 21:13-14). Sa-lô-môn tha thứ cho A-đô-ni-gia về tội âm mưu cướp ngôi vua, nhưng Giô-áp mất chức tổng binh vì đã theo con đường bất chánh của A-đô-ni-gia.

Áp dụng: Mưu lược của A-đô-ni-gia chỉ gây rối cho cha, đem tai họa cho lắm người, nhuốc nhơ cho mình. “Kẻ sống theo xác thịt thì chăm những sự thuộc về xác thịt… chăm về xác thịt sinh ra sự chết…” (Rô-ma 8:5-8). Có điều nào trong đời sống của mỗi Cơ Đốc nhân đang hướng đến con đường của A-đô-ni-gia chăng?

IV. LỜI KHUYÊN CỦA ĐA-VÍT CHO VUA SA-LÔ-MÔN (2:1-4).

Trước lúc lâm chung, Đa-vít khuyên Sa-lô-môn hãy hết lòng kính sợ Đức Giê-hô-va, giữ điều răn, luật lệ Ngài hầu cho đời sống của Sa-lô-môn và cả dân tộc được phước.

Là những người làm cha, mẹ, những gia trưởng thuộc linh trong gia đình, chúng ta phải tha thiết mời gọi bà con, anh em ăn năn tin nhận Chúa, công tác này phải thực hiện cách trung tín cho đến lúc tắt hơi. Người làm con phải tôn trọng và vâng giữ lời khuyên dạy của bậc tin kính Chúa.

CÂU HỎI

1. A-đô-ni-gia đã nhân cơ hội Đa-vít già yếu để làm gì?

2. Tại sao âm mưu của A-đô-ni-gia không thành?

3. Đa-vít đã chọn ai kế vị mình?

4. Lòng dân thế nào khi Sa-lô-môn được tôn làm vua?

5. Kết quả đời sống của những kẻ mưu phản như thế nào?

6. Đa-vít khuyên Sa-lô-môn điều gì trước khi qua đời?

7. Cha mẹ phải làm gì đối với con cái?

8. Con cái phải làm gì đối với cha mẹ?

BÀI 47. SỰ LỰA CHỌN CỦA SA-LÔ-MÔN

KINH THÁNH: ICác 3:3-15.

CÂU GỐC: “Ngày nay hãy chọn ai mà mình muốn phục sự… nhưng ta và nhà ta sẽ phục sự Đức Giê-hô-va” (Giô-suê 24:15).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết sự lựa chọn khôn ngoan hơn hết là tôn thờ Chúa Jêsus Christ làm Chúa độc nhất của đời mình.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Lựa chọn Đấng Christ

(Phi-líp 1:21).

TH:

Sa-lô-môn cầu xin sự khôn ngoan

(ICác 3:3-15).

TB:

Sự lựa chọn khôn ngoan của Sa-lô-môn

(II Sử 1:1-17).

TT:

Sự lựa chọn khôn ngoan hơn hết của chúng ta

(Mác 12:30-34).

TN:

Chúng ta cần sự khôn ngoan

(Gióp 28:12-16).

TS:

Tầm quan trọng của sự khôn ngoan

(Châm 3:14-15; 8:11).

TB:

Được khôn ngoan nhờ Kinh Thánh

(II Ti-mô-thê 3:15; Gia-cơ 1:5).

Đa-vít có nhiều con trai và con gái, người nào cũng đẹp (II Sa-mu-ên 13:1; 14:25; ICác 1:6), song Đa-vít chỉ tìm được an ủi nơi Sa-lô-môn, nên ông thoả lòng tôn con ấy lên kế vị mình. Đây là vị vua thứ ba của Y-sơ-ra-ên.

Chúng ta đã học qua đời sống của vua Sau-lơ, vua Đa-vít, bây giờ chúng ta học qua đời sống của vua Sa-lô-môn. Trong bài nầy, chúng ta học về sự lựa chọn của Sa-lô-môn.

I. SA-LÔ-MÔN CHỌN LỰA CON ĐƯỜNG KÍNH MẾN CHÚA (3:3-4).

1. Đi theo con đường yêu mến Chúa của Đa-vít.

Sa-lô-môn đi theo con đường của Đa-vít, hết lòng yêu mến Chúa, giữ gìn luật lệ Ngài (Thi thiên 18:1, 116:1). “Sa-lô-môn yêu mến Đức Giê-hô-va”. Yêu mến Chúa là đức tính tốt nhất của con người. Nếu không yêu mến Chúa, không ai có thể ăn ở vừa lòng Ngài. Chúa đã tìm thấy Đa-vít là người vừa lòng Ngài, vì ông yêu mến Ngài. Sa-lô-môn yêu Chúa, nên đi theo luật lệ của Đa-vít, cha mình, là người yêu mến Chúa. Những người không yêu mến Chúa thì cũng không yêu mến luật pháp của Chúa, vì vậy luật lệ của Chúa rất trái lẽ đối với họ. Nhưng đối với những người thật sự yêu mến Chúa, họ cũng yêu mến luật lệ của Ngài. Đa-vít đã nói: “Tôi yêu mến luật pháp Chúa biết bao. Trọn ngày tôi suy gẫm luật pháp ấy” (Thi 119:17).

Chúa Jêsus đã tóm tắt bổn phận của chúng ta đối với Đức Chúa Trời: “Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Đức Chúa Trời ngươi” (Ma-thi-ơ 22:37). Vì đó là bổn phận hết sức quan trọng nên sau khi chịu chết và sống lại, Chúa Jêsus đã hỏi Phi-e-rơ: “Ngươi yêu Ta chăng?” Nếu chúng ta có thể trả lời với Chúa như Phi-e-rơ: “Tôi yêu Chúa”, thì chúng ta mới có thể sống đẹp lòng Ngài.

2. Bày tỏ lòng yêu mến Chúa.

Sa-lô-môn dâng tế lễ cho Chúa để bày tỏ lòng yêu mến Ngài. Ông đã đi chừng 9 cây số để thờ phượng và dâng cho Chúa một ngàn con sinh tại đền tạm trên đồi Ga-ba-ôn. Vì yêu Chúa nên ông không tiếc công, tiếc của đối với Ngài. Dâng tế lễ chỉ về sự dâng mình cho Chúa. Phao-lô khuyên Cơ Đốc nhân dâng đời sống làm tế lễ đẹp lòng Chúa (Rô-ma 12:1). Sa-lô-môn bày tỏ lòng tin cậy và vâng phục Chúa để Ngài ban phước cho chức vụ chăn dân Y-sơ-ra-ên mà Ngài đã phó thác cho ông.

Không hề có ai yêu mến Chúa mà bị thiệt thòi, thiếu thốn, song ngược lại được Chúa ban phước một cách dồi dào quá sức tưởng tượng. Bạn chọn con đường yêu mến Chúa hay con đường theo ý riêng, vi phạm luật lệ Chúa?

II. SA-LÔ-MÔN LỰA CHỌN SỰ KHÔN NGOAN (3:5-15).

1. Sa-lô-môn được Chúa thăm viếng (c.5a).

Được Chúa hiện ra với mình không phải là việc thường xảy ra, Ngài chỉ làm điều đó trong những trường hợp đặc biệt, tức là đối với những người yêu mến Ngài và sống đẹp lòng Ngài. Chúa hiện ra với Sa-lô-môn trong một giấc chiêm bao chứng tỏ Ngài nhậm tế lễ mà ông đã dâng cho Ngài trước đó và xem ông ngang hàng với các tiên tri của Ngài (Dân 12:6).

Ngày nay, Chúa dạy dỗ dân sự Ngài qua Kinh Thánh, là sự khải thị trọn vẹn của Đức Chúa Trời. Các tiên tri được Chúa dùng trong thời đại chúng ta là những người được Đức Thánh Linh cảm động, ban sự thông hiểu để giải thích sự khải thị vốn có trong Kinh Thánh.

2. Sa-lô-môn được Chúa ban lời hứa (c.5b).

Trong khi hiện ra cùng Sa-lô-môn, Chúa hứa ban cho ông bất kỳ điều gì ông cầu xin: “Hãy xin điều gì ngươi muốn Ta ban cho ngươi”. Sa-lô-môn phải đắn đo cân nhắc để biết nhu cầu quan trọng nhất của đời mình là gì.

Không phải Sa-lô-môn là người duy nhất được Chúa ban lời hứa, nhưng chúng ta cũng được Ngài ban cho nhiều lời hứa quí báu: “Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa, sẽ mở cho” (Ma-thi-ơ 7:7), “Hãy cầu xin đi, các ngươi sẽ được, hầu cho sự vui mừng các ngươi được trọn vẹn” (Giăng 16:24), “Nầy là điều chúng ta dạn dĩ ở trước mặt Chúa, nếu chúng ta theo ý muốn Ngài mà cầu xin việc gì, thì Ngài nghe chúng ta” (IGiăng 5:14).

3. Sa-lô-môn xin sự khôn ngoan (6-9).

Sa-lô-môn tạ ơn Chúa về ơn lành Ngài làm cho Đa-vít, Ngài đã giữ sự thành tín của Ngài nên đã chọn ông làm người kế vị cha ông, là vua của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa.

Sa-lô-môn nhận biết mình yếu kém, nhỏ bé, thiếu kinh nghiệm, cần được ơn của Chúa để làm tròn trách nhiệm chăn dắt dân sự của Chúa (Châm 15:33; 18:12; Lu-ca 14:11).

Sa-lô-môn nhận biết dân sự của Chúa là lớn, đông đúc, là dân thánh, chức vụ Chúa giao hết sức quan trọng. Vì vậy cai trị dân đó không giống như cai trị các dân khác, mà phải bằng ân tứ và khả năng thuộc linh. Chúa Jêsus phán về cách cai trị Hội Thánh Ngài cũng phải như vậy (Lu-ca 22:25-27; Mác 10:42-45).

Sa-lô-môn cầu xin đúng nhu cầu mình là sự khôn ngoan để chăn dắt dân sự Chúa. Ông không cầu xin sự giàu có, danh tiếng là những quyền lợi cho riêng mình, nhưng điều ông xin nhằm phục vụ công việc nhà Chúa và làm sáng danh Chúa.

4. Chúa nhậm lời cầu xin của Sa-lô-môn (10-14).

Lời cầu xin của Sa-lô-môn đẹp lòng Chúa vì ông nghĩ đến ích lợi cho dân Chúa, không cầu xin với tinh thần vị kỷ.

Chúa ban cho Sa-lô-môn sự khôn ngoan tuyệt vời. Ngài còn ban sự giàu có, danh tiếng, thành công là những điều Sa-lô-môn không cầu xin. Sa-lô-môn thức dậy, lòng tràn ngập sự vui mừng chưa từng có. Ông trở về Giê-ru-sa-lem, đứng trước hòm giao ước của Chúa mà cảm tạ Ngài.

Điều cầu xin đẹp lòng Chúa là không vì mình mà vì người khác. Mỗi chúng ta phải vì chức vụ của mình có tương quan đến người khác mà xin Chúa cho những ân tứ cần thiết. Cha mẹ phải vì trách nhiệm dạy dỗ con cái mà xin Chúa cho mình sự khôn ngoan. Nếu nhằm mục đích tôn vinh Chúa, ích lợi cho tha nhân mà cầu xin, Chúa sẽ cho đầy đủ (Ma-thi-ơ 6:33).

Chúng ta hãy cẩn trọng trong sự lựa chọn. Hãy lựa chọn điều đẹp lòng Chúa. Ngoài ra sự khôn ngoan mà ta phải chọn như Sa-lô-môn, chúng ta phải lựa chọn như Áp-ra-ham, Môi-se, Phao-lô. Áp-ra-ham chọn bỏ những nơi thờ lạy hình tượng, Môi-se chọn bỏ danh hiệu mình là con trai công Chúa Pha-ra-ôn, chọn phần cùng dân Chúa bị hà hiếp. Phao-lô xem lợi lộc trần gian như rơm rác để được Đấng Christ.

Có nhiều điều chúng ta cần chọn lựa trong cuộc sống nhưng điều quan trọng hơn hết là sự cứu rỗi của Cứu Chúa Jêsus Christ. Chúng ta hãy chọn Ngài, trong Ngài chúng ta có tất cả. Hãy chọn con đường tôn kính Chúa và phục sự Ngài.

CÂU HỎI

1. Đức tính tốt nhất mà Sa-lô-môn có là gì?

2. Sa-lô-môn đã làm gì để bày tỏ lòng yêu Chúa?

3. Sau khi dâng tế lễ cho Chúa, Sa-lô-môn được phước gì?

4. Tại sao ngày nay Chúa không còn hiện ra để ban khải thị?

5. Khi Chúa hiện ra với Sa-lô-môn, Ngài hứa gì?

6. Sa-lô-môn đã xin Chúa điều gì? Vì sao?

7. Vì sao Chúa đẹp lòng về lời cầu xin của Sa-lô-môn?

8. Chúng ta phải cầu xin thế nào để đẹp lòng Chúa?

9. Chúng ta phải lựa chọn ai để tôn thờ và phục sự?

BÀI 48. SỰ KHÔN NGOAN TUYỆT VỜI CỦA SA-LÔ-MÔN

KINH THÁNH: ICác 3:16-28, 4:29-34.

CÂU GỐC: “Kính sợ Đức Giê-hô-va, ấy là khởi đầu sự khôn ngoan, sự nhìn biết Đấng Thánh, đó là sự thông sáng” (Châm ngôn 9:10).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng sự khôn ngoan đến từ Đức Chúa Trời. Muốn được sự khôn ngoan, hãy cầu xin Chúa.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ ban sự khôn ngoan

(Cô-lô-se 3:15-17).

TH:

Sự phân xử khôn ngoan

(ICác 3:16-28).

TB:

Khôn ngoan hơn tất cả

(ICác 4:29-34).

TT:

Tìm kiếm sự khôn ngoan

(Châm 2:1-5).

TN:

Sự khôn ngoan rất quí báu

(Châm 8:10-13).

TS:

Các câu khôn ngoan

(Châm 12:22; 3:5-6,9-10,27-30; 15:18).

TB:

Kỷ luật khôn ngoan

(Châm 13:24; 19:18; 22:6).

Đức Chúa Trời đã hiện ra với Sa-lô-môn, hay là Sa-lô-môn đã được gặp Chúa là một khởi điểm hết sức diệu kỳ trong đời sống của ông. Khi được gặp Chúa, ông đã xin Ngài sự khôn ngoan, vì đó là nhu cầu cần thiết của một ông vua. Điều cầu xin của Sa-lô-môn đã được Chúa đẹp lòng nhận lấy và ông trở nên một người khôn ngoan tuyệt vời, xuất chúng. Nguyện mỗi chúng ta được gặp Chúa một cách riêng tư để thông công mật thiết với Ngài, hầu nhận lấy ân tứ lớn nhất, thích hợp với nhu cầu tâm linh của chúng ta.

I. SỰ KHÔN NGOAN CỦA SA-LÔ-MÔN CHỊU THỬ NGHIỆM (3:16-28).

Sa-lô-môn giải quyết tranh chấp giữa hai người mẹ về một đứa con: Ngày kia, có hai người đàn bà ở chung một nhà. Người này sanh được một bé trai; ba ngày sau, người kia cũng sanh một bé trai nhưng vô ý nằm đè lên con mình khi ngủ mê khiến đứa trẻ phải chết. Người ấy liền đem đứa bé đã chết đổi lấy đứa bé còn sống của người kia. Sáng sớm, khi thức dậy thấy con mình đã chết, nhưng nhìn kỹ thì không phải là con mình. Hai người cứ cãi nhau giành cho kỳ được đứa bé còn sống, vì không ai chịu nhận đứa bé đã chết. Có lẽ vụ án đã được xử tại các tòa án cấp thấp nhưng không thành, sau đó họ chuyển lên cho vua Sa-lô-môn. Để tìm ra ai là mẹ thật của đứa bé, Sa-lô-môn đã gợi lên tình mẫu tử. Vua ra lệnh đem đến một thanh gươm và chia đôi đứa bé. Người mẹ thật của đứa bé hốt hoảng và khẩn thiết xin vua trao đứa bé cho người đàn bà kia, trái lại người đàn bà kia lại bảo đứa bé chẳng thuộc riêng về ai, vua hãy cứ chia làm hai. Thái độ và lời nói của họ chứng tỏ ai là người mẹ thật, vua ra lệnh trao đứa bé cho mẹ nó.

Qua việc phân xử khôn ngoan của Sa-lô-môn, cả dân Y-sơ-ra-ên đều kính nể ông. Họ nhận biết Đức Chúa Trời ở cùng ông và ban cho ông sự khôn ngoan không người nào so kịp.

Thiếu khôn ngoan thường không giải quyết được nan đề mà còn gây thêm nan đề. Chúng ta cần cầu xin Chúa ban sự khôn ngoan để biết xử sự, giải quyết những nan đề trong cuộc sống, tranh chấp giữa các mối quan hệ, biết phân biệt thật giả.

II. MỨC ĐỘ KHÔN NGOAN CỦA VUA SA-LÔ-MÔN (4:29-34).

Con người có thể học hỏi để mở mang kiến thức, nhưng cũng lắm người có kiến thức mà lại chẳng khôn ngoan. Để ai nấy ý thức được sự khôn ngoan của Sa-lô-môn, người ta phải dùng lối so sánh.

Vào thời đó, tại xứ Canh-đê và Ai-cập có nhiều học giả danh tiếng, đến nỗi người Hy-lạp về sau đã mượn sự khôn ngoan của họ để áp dụng vào đời sống thực tế. Sự khôn ngoan của Sa-lô-môn được Chúa ban một cách đặc biệt nên vượt xa sự khôn ngoan của các học giả ấy.

So với những người nổi tiếng khôn ngoan trong nước như Êthan, Hêman, Canhcôn và Đạtđa, Sa-lô-môn cũng khôn ngoan hơn họ.

Để chứng minh sự khôn ngoan của Sa-lô-môn, người ta trưng ra các sáng tác của ông như: Ba ngàn câu châm ngôn, chúng ta có một phần trong Kinh Thánh, một ngàn lẻ năm bài thơ, vì ông cũng là thi sĩ như Đa-vít, nhưng chỉ được ghi trong Kinh Thánh một số bài là Nhã ca với hai Thi thiên là 72 và 127. Khi về già ông viết sách Truyền Đạo.

Sa-lô-môn luận về các loài cây cối và các loài súc vật rất chính xác như một nhà thực vật học và động vật học.

Sự khôn ngoan của Sa-lô-môn đã đồn khắp các dân tộc thời bấy giờ và nhiều người đã đến nghe sự khôn ngoan của ông.

Sa-lô-môn đã dùng sự khôn ngoan Chúa ban cho mình để xử đoán công bình cho dân trong nước, cũng viết thành các sách lưu lại. Ngày nay chúng ta được phước khi đọc các sách của vua Sa-lô-môn như Châm ngôn, Truyền đạo và Nhã ca. Đó là những sách được Đức Thánh Linh hà hơi, có thần quyền để dạy dỗ. Chúng ta nên dùng sự khôn ngoan Chúa ban để chia sẻ ơn cứu rỗi vô giá cho người xung quanh, giúp ích cho người khác.

III. ÁP DỤNG SỰ KHÔN NGOAN CỦA SA-LÔ-MÔN VÀO ĐỜI SỐNG.

Trong Châm ngôn của Sa-lô-môn có dạy về nếp sống hàng ngày của một người khôn ngoan.

1. Nóng giận: Ai mau nghe, chậm nói chậm giận là người khôn ngoan, mạnh hơn người dõng sĩ (Châm 14:7; 16:32).

2. Nói dối: Kẻ nói dối sớm muộn gì người ta cũng biết và mình bị xấu hổ. Giữ môi miệng mình khỏi nói dối là giữ linh hồn mình khỏi ô uế. Bác sĩ chỉ cần xem lưỡi, thì đoán được phần lớn bịnh trạng của một người (Châm ngôn 19:5; 21:23).

3. Say sưa: Rượu là thuốc độc và thuốc điên, nó phá hại sức khỏe và trí não. Người khôn ngoan chữa mình khỏi bịnh, nhưng người say sưa mua bịnh vào mình (Châm ngôn 23:20,21,25).

4. Ích kỷ: Tùy khả năng, chúng ta phải sẵn sàng chia sẻ cho kẻ khác (Châm 19:17).

5. Giấu tội lỗi: Giấu tội lỗi trong lòng mình như giấu một tên sát nhân, một tên phản loạn trong nhà mình. Ai làm vậy sẽ không bao giờ bình an, vì Chúa biết hết mọi sự (Châm 28:13).

Để được khôn ngoan, chúng ta hãy cầu xin Chúa và sống theo sự dạy dỗ của Ngài trong Kinh Thánh (Thi thiên 119:99-100; II Ti-mô-thê 3:15).

CÂU HỎI

1. Sự khôn ngoan của Sa-lô-môn chịu thử nghiệm cách nào?

2. Sa-lô-môn đã dùng cách nào để tìm ra sự thật khi xử kiện?

3. Kết quả của việc trên, dân Y-sơ-ra-ên có thái độ nào đối với Sa-lô-môn?

4. Tại sao chúng ta thường gây thêm rắc rối trong việc xử đoán?

5. Tại sao sự khôn ngoan của Sa-lô-môn không giống như sự tri thức của loài người?

6. Sa-lô-môn khôn ngoan hơn ai?

7. Sa-lô-môn đã sáng tác những gì?

8. Những sáng tác nào của Sa-lô-môn còn để lại cho chúng ta?

9. Kể một vài điều trong nếp sống hàng ngày của người khôn ngoan?

10. Phải làm gì để ân tứ của Chúa ban cho không trở nên vô ích?

11. Làm sao để được khôn ngoan?

BÀI 49. SA-LÔ-MÔN XÂY CẤT ĐỀN THỜ

KINH THÁNH: ICác 5:1-6:14; II Sử ký 2:4-6.

CÂU GỐC: “Ta sẽ lập Hội Thánh ta trên đá này, các cửa âm phủ chẳng thắng được hội đó” (Ma-thi-ơ 16:18).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết cách Sa-lô-môn xây cất đền thờ vật chất, cách Chúa Jêsus xây dựng đền thờ thuộc linh, và mỗi Cơ Đốc nhân đều có vai trò trong việc xây dựng đền thờ Chúa.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ xây dựng Hội Thánh

(Ma-thi-ơ 16:16-18).

TH:

Sa-lô-môn chuẩn bị xây cất đền thờ

(ICác 5).

TB:

Các thợ của Sa-lô-môn

(II Sử Ký 2).

TT:

Kích thước của đền thờ

(II Sử Ký 3).

TN:

Vật dụng trong đền thờ

(II Sử Ký 4; 5:8-10).

TS:

Các vật liệu Đa-vít đã chuẩn bị

(I Sử Ký 22:1-5; 29:1-7).

TB:

Đền thờ được hoàn tất

(ICác 6:1-14; II Sử Ký 5:1).

     

Sau khi được giải phóng khỏi Ê-díp-tô, dân Y-sơ-ra-ên thờ phượng Chúa trong đền tạm. Vì thế, Đa-vít nóng lòng muốn xây cất một đền thờ cho Chúa, song Ngài bảo ông để công việc đó lại cho Sa-lô-môn (II Sa-mu-ên 7:12-13).

I. SA-LÔ-MÔN DỰ BỊ VẬT LIỆU XÂY CẤT ĐỀN THỜ (5:1-18).

1. Sa-lô-môn chuẩn bị gỗ.

Sa-lô-môn yêu cầu vua Hi-ram xứ Si-đôn cung cấp các thứ gỗ thơm như bá hương, tòng hương và bạch đàn hương, vì chỉ có dân Si-đôn thạo nghề đốn gỗ trên rừng Liban. Vua Hi-ram cung cấp đầy đủ gỗ cho Sa-lô-môn, còn Sa-lô-môn cung cấp lương thực cho vua. Hai bên lập ước với nhau.

2. Sa-lô-môn chuẩn bị nhân công.

Sa-lô-môn động viên 30 ngàn nhân công đốn gỗ trên rừng Liban, kéo xuống biển thả bè về Giaphô, rồi đem lên Giê-ru-sa-lem, 70 ngàn công nhân khiêng gánh và 80 ngàn công nhân đẻo đá trong hầm. Số đốc công là 3.300 người.

3. Vua Đa-vít chuẩn bị trước cho việc xây cất đền thờ.

Đa-vít đã dự bị 100 ngàn ta-lâng vàng, 1 triệu ta-lâng bạc, đồng, sắt, gỗ bá hương thì vô số. Ông cho thợ đục đá sẵn cho việc xây cất đền thờ và ra lệnh cho các quan trưởng giúp đỡ Sa-lô-môn thực hiện công việc (I Sử ký 22:1-5; 28:1-8).

II. CÔNG TRÌNH XÂY CẤT ĐỀN THỜ CỦA SA-LÔ-MÔN (6:1-10).

1. Nơi xây cất.

Nơi xây cất đền thờ là núi Mô-ri-a, nơi Áp-ra-ham đã dâng Y-sác làm của lễ thiêu cho Đức Chúa Trời, là sân đập lúa của Ọt-nan mà Đa-vít đã mua để lập một bàn thờ cho Chúa. Đó là nơi có những kỷ niệm lịch sử, nằm trong chu vi thành Giê-ru-sa-lem (II Sử ký 3:1-3).

2. Cách xây cất.

Đền thờ rất nguy nga, và được xây cất một cách hết sức nghiêm trang. Các thợ đá, thợ gỗ làm sẵn từ nơi khác rồi đem lên ráp lại, không dùng búa rìu hay vật dụng bằng sắt. 180 ngàn nhân công phải xây cất Đền thờ trong 7 năm mới xong (ICác 6:38).

III. MỤC ĐÍCH XÂY CẤT ĐỀN THỜ (II Sử ký 2:4-6).

Trong thư gởi cho vua Hi-ram, Sa-lô-môn có nói về mục đích của ông khi xây cất đền thờ là để biệt ra thánh, làm nơi dâng tế lễ cho Đức Chúa Trời theo mạng lệnh đời đời của Ngài và để tôn vinh Chúa. “Đức Chúa Trời chúng tôi vốn cao sang, vượt qua hết các thần, nên cái đền tôi toan cất sẽ rất nguy nga”. Tuy cả vũ trụ này đều không thể đủ chỗ cho Chúa (Ê-sai 66:1), nhưng Sa-lô-môn muốn hết lòng, hết sức tôn vinh Chúa nên qua việc xây cất đền thờ cho Chúa, Ngài đã phán với ông: “Về nhà này mà ngươi đang xây cất, nếu ngươi vâng theo các luật lệ Ta, noi theo các mạng lệnh Ta, giữ và đi trong hết thảy các điều răn của Ta, thì Ta sẽ vì ngươi làm hoàn thành lời Ta đã hứa cùng Đa-vít, cha ngươi. Ta sẽ ngự giữa dân Y-sơ-ra-ên, chẳng hề bỏ dân Y-sơ-ra-ên, là dân ta” (ICác 6:12-13).

IV. Ý NGHĨA CỦA VIỆC XÂY CẤT ĐỀN THỜ.

Sa-lô-môn xây cất đền thờ có ý nghĩa tượng trưng về Chúa Jêsus xây dựng Hội Thánh Ngài.

1. Chúa Jêsus là Vầng đá duy nhất làm nền của Hội Thánh, còn mỗi chúng ta là những viên đá sống được dùng xây dựng tòa nhà Hội Thánh (I Phi-e-rơ 2:4-5).

2. Khi xây cất đền thờ, người ta không hề dùng bất cứ khí dụng bằng sắt nào, phải tuyệt đối trang nghiêm và im lặng. Khi xây dựng Hội Thánh, phải tránh những tiếng ồn ào, cãi lẫy (Xa-cha-ri 2:13, Ha-ba-cúc 2:20).

3. Sa-lô-môn xây cất đền thờ bằng những vật liệu quí giá… nhưng đó là những vật liệu chết. Còn Hội Thánh xây dựng bằng những viên đá sống, tức là những con người vô giá, bất diệt, đã được mua chuộc bằng chính huyết Chúa Jêsus.

4. Tất cả các vật liệu xây cất đền thờ phải ăn khớp với nhau. Chúa Jêsus là sự hòa hiệp trọn vẹn của tất cả mọi Cơ Đốc nhân (Ê-phê-sô 2:22; 4:3).

5. Đền thờ của Sa-lô-môn xây cất rất nguy nga, nhưng không thể so sánh với đền thờ thuộc linh là Hội Thánh của Chúa Jêsus. Ngài đã dùng không biết bao nhiêu tỷ người, suốt gần hai ngàn năm để xây dựng Hội Thánh. Hội Thánh sẽ hoàn tất trọn vẹn khi Ngài từ trời trở lại (Khải 21:10-11).

6. Mỗi chúng ta là một công nhân xây dựng Hội Thánh. Phao-lô nói mình là bạn đồng công của Đức Chúa Trời. Ai gây chia rẽ là phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời và Ngài sẽ phá hủy người đó (ICôr 3:16-17).

7. Mục đích của Sa-lô-môn xây cất đền thờ là để tôn vinh Chúa. Chúng ta xây dựng Hội Thánh cũng vậy.

8. Hơn 90 năm qua, những người đi trước đã trồng Hội Thánh tại Việt Nam. Bây giờ chúng ta phải tưới và Đức Chúa Trời làm cho lớn lên. Hãy tưới bằng những giọt nước mắt cầu nguyện. Hãy xây dựng bằng công tác truyền giảng, chia sẻ, thăm viếng, chăm sóc, dâng hiến.

CÂU HỎI

1. Giao ước giữa vua Sa-lô-môn và vua Hi-ram là gì?

2. Sa-lô-môn có bao nhiêu công nhân cho việc xây cất?

3. Đa-vít dự bị cho Sa-lô-môn những gì cho việc xây cất đền thờ?

4. Điều gì chứng tỏ sự xây cất đền thờ hết sức trang nghiêm?

5. Sa-lô-môn xây cất đền thờ với mục đích gì?

6. Những vật liệu Sa-lô-môn xây cất đền thờ như thế nào? Điều này có liên hệ gì với chúng ta ngày nay?

7. Vầng đá làm nền và viên đá chỉ về ai?

8. Khi xây cất không ai nghe tiếng búa, rìu, có sự dạy dỗ gì cho chúng ta?

9. Giá trị của đền thờ Sa-lô-môn xây cất so với giá trị Hội Thánh khác nhau thế nào?

10. Là công nhân xây dựng Hội Thánh, chúng ta phải làm gì?

BÀI 50. SA-LÔ-MÔN CUNG HIẾN ĐỀN THỜ

KINH THÁNH: ICác 8:1-66.

CÂU GỐC: “Vậy hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em” (Rô-ma 12:1).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết phải cung hiến đời mình làm đền thờ, làm tế lễ sống và thánh cho Chúa.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Chúng ta cung hiến đời mình cho Chúa

(Rô-ma 12:1-2).

TH:

Rước hòm giao ước vào đền thờ

(ICác 8:1-13).

TB:

Sa-lô-môn tuyên bố lý do

(ICác 8:22-53).

TT:

Sa-lô-môn cầu nguyện cung hiến

(ICác 8:14-21).

TN:

Sa-lô-môn khuyên nhủ dân chúng

(ICác 8:54-67).

TS:

Dâng của lễ và vui mừng

(ICác 8:61-66).

TB:

Thờ phượng Đức Chúa Trời

(Ê-phê-sô 5:20; Thi 92:1; 100:1-5).

     

Sau 7 năm, 180 ngàn công nhân đã hoàn tất việc xây cất Đền thờ. Ai nấy ngắm nhìn đền thờ lộng lẫy với lòng vui sướng.

I. RƯỚC HÒM GIAO ƯỚC VÀO ĐỀN THỜ (8:1-13).

1. Chuẩn bị.

a. Sa-lô-môn sai đem các khí dụng bằng vàng, bằng bạc mà Đa-vít đã biệt riêng ra thánh vào kho của đền thờ (7:51).

b. Vua triệu tập các trưởng lão, các trưởng chi phái và các trưởng tộc để rước hòm giao ước từ núi Si-ôn vào đền thờ, vì hòm giao ước chỉ về sự hiện diện của Chúa.

2. Thực hiện.

a. Theo đúng lời dạy của Chúa.

Các thầy tế lễ khiêng hòm giao ước vào nơi chí thánh của đền thờ. Sa-lô-môn và dân chúng dâng nhiều tế lễ cho Đức Chúa Trời.

b. Chúa đẹp lòng.

Mây đầy dẫy đền thờ. Đức Chúa Trời bày tỏ sự hiện diện vinh quang của Ngài.

Sự dạy dỗ: Một đời sống dâng cho Chúa thì được đầy dẫy Thánh Linh và sự vinh quang của Ngài.

II. SA-LÔ-MÔN TUYÊN BỐ LÝ DO XÂY CẤT ĐỀN THỜ (8:14-21).

1. Đức Chúa Trời làm ứng nghiệm lời hứa của Ngài với Đa-vít.

Chúa cho Sa-lô-môn nối ngôi cha và xây cất một đền thờ cho Ngài để có nơi đặt hòm giao ước. Hòm giao ước phải luôn ở giữa dân Y-sơ-ra-ên để họ nhớ giao ước của Chúa đã lập với tổ phụ họ, khi Ngài dẫn họ ra khỏi Ê-díp-tô.

2. Đem phước hạnh cho toàn thể dân Y-sơ-ra-ên.

Đây là việc của Chúa để đem hạnh phước cho toàn thể dân chúng. Sa-lô-môn qui tất cả vinh hiển về cho Chúa nên câu nói đầu tiên của ông là: “Đáng ngợi khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên”.

III. SA-LÔ-MÔN CẦU NGUYỆN CUNG HIẾN ĐỀN THỜ (ICác 8:22-53).

Bấy giờ, Sa-lô-môn quì xuống trước bàn thờ của Chúa, đưa tay lên trời, dân chúng hiệp một ý với ông. Sa-lô-môn cầu nguyện một cách cung kính, trang nghiêm và sốt sắng.

1. Sa-lô-môn tôn vinh Chúa (23-24).

Trên trời, dưới đất đều không có ai giống như Chúa. Chúa là Đấng thành tín, luôn giữ giao ước và sự nhân từ đối với kẻ kính sợ Ngài. Vì điều chi miệng Chúa đã phán thì tay Chúa đã hoàn thành.

2. Sa-lô-môn nài xin ân huệ của Chúa (25-26).

Sa-lô-môn cảm tạ Chúa vì ân huệ đã qua và thiết tha nài xin ân huệ sắp đến: Hậu duệ của Đa-vít không thiếu người ngồi trên ngôi Y-sơ-ra-ên.

3. Sa-lô-môn xin Chúa nghe lời khẩn nguyện của ông (27-32).

Dầu đền thờ do Sa-lô-môn xây cất nguy nga đến đâu cũng không có giá trị gì đối với Chúa, nhưng xin Chúa nhận đền thờ làm ngôi ngự của Ngài và nhậm lời của người nào hướng về đền thờ mà cầu nguyện (Ê-sai 56:7, Ma-thi-ơ 21:13).

a. Nhu cầu của dân Y-sơ-ra-ên (33-36).

– Khi nào dân Y-sơ-ra-ên hết lòng nài xin Chúa tại trong đền thờ này, thì xin Chúa lắng nghe, tha thứ họ.

– Khi nào trời bị đóng chặt vì cớ dân Y-sơ-ra-ên phạm tội và nếu họ lìa bỏ tội, hướng về đền thờ mà cầu xin, xin Chúa tha thứ, và giáng mưa trên xứ sở của họ (Ê-li: ICác 18:1, 41-45).

b. Nhu cầu cá nhân (37-40).

Nếu một người có sự đau đớn trong lòng mà hướng về đền thờ để cầu xin, xin Chúa nhậm lời, tha thứ cho (Giô-ên 1:4, 10-12; 2:23-26).

c. Nhu cầu của người ngoại bang (41-43).

Nếu có người ngoại bang đến đền thờ cầu nguyện, xin Chúa lắng nghe, để muôn dân nhận biết Chúa, kính sợ Ngài (Thi 68:31; Sô-phô-ni 3:10; Công 8:27).

d. Nhu cầu chiến sự (44).

Khi dân Y-sơ-ra-ên phải ra trận, nếu họ hướng về đền thờ mà cầu nguyện, xin Chúa bênh vực họ (A-sa: II Sử 14:11-12).

e. Nhu cầu đặc biệt (45-51).

Khi dân Y-sơ-ra-ên phạm tội, Chúa phó họ vào tay kẻ thù để làm phu tù ở một xứ khác, nếu họ ăn năn, hướng về đền thờ cầu nguyện, xin Chúa tha thứ và bênh vực họ (Đa 6:10; 9:1-3; E-xơ-ra 9:6-7).

IV. SA-LÔ-MÔN KHUYÊN DÂN CHÚNG HẾT LÒNG THỜ PHƯỢNG CHÚA (54-61).

Sa-lô-môn khích lệ dân sự tin cậy Chúa vì chẳng có một lời hứa nào của Ngài mà không ứng nghiệm và hãy cho muôn dân của thế gian biết rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, chớ chẳng phải ai khác.

V. VUA TÔI DÂNG TẾ LỄ CHO CHÚA (62-66).

Họ dâng 22 ngàn con bò đực, 120 ngàn con chiên và dự lễ suốt 14 ngày. Ai nấy rất vui mừng về các phước hạnh Chúa ban.

– Đền thờ tượng trưng về Chúa Jêsus (Giăng 2:18-22). Chúng ta hướng về chính Chúa Jêsus mà cầu nguyện. Chúng ta hãy cung hiến đời mình cho Chúa làm tế lễ sống và thánh, hầu đẹp lòng Chúa nhận lấy.

CÂU HỎI

1. Tại sao phải rước hòm giao ước vào đền thờ?

2. Điều gì chứng tỏ Chúa vui nhận đền thờ?

3. Lý do Sa-lô-môn xây cất đền thờ là gì?

4. Điều thứ nhất trong lời cầu nguyện cung hiến đền thờ của Sa-lô-môn là gì?

5. Tại sao Sa-lô-môn kể rằng đền thờ ông xây cất không đáng gì cho Chúa?

6. Sa-lô-môn nêu những nhu cầu nào trong lời cầu nguyện và nài xin Chúa nhậm lời?

7. Sa-lô-môn đã khuyên nhủ dân chúng điều gì?

8. Ngày nay, chúng ta phải hướng về đâu để cầu nguyện?

9. Chúng ta phải cung hiến gì cho Chúa?

BÀI 51. NỮ HOÀNG SÊ-BA ĐẾN THĂM SA-LÔ-MÔN

KINH THÁNH: ICác 10:1-29.

CÂU GỐC: “Đây nầy, có một người tôn trọng hơn vua Sa-lô-môn” (Ma-thi-ơ 12:42).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết Chúa Jêsus còn cao cả hơn Sa-lô-môn biết bao.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Chúa Jêsus cao trọng hơn Sa-lô-môn

(Ma-thi-ơ 12:42).

TH:

Nữ hoàng Sê-ba đến thăm vua Sa-lô-môn

(ICác 10:1-29).

TB:

Vinh quang của Sa-lô-môn

(II Sử 9:1-28).

TT:

Sự giàu có của Chúa không lường được

(Ê-phê-sô 3:8-11).

TN:

Sự khôn ngoan của Chúa thật cao cả

(Ma-thi-ơ 19:26; 28:18).

TS:

Chúa ban cho nhiều hơn

(Giăng 10:28; 15:9-11; Phil 4:19).

TB:

Vua và nữ hoàng trao đổi lễ vật

(ICác 10:10,13; Thi 37:3-5).

Tiếng đồn về sự khôn ngoan của vua Sa-lô-môn mỗi ngày một vang lừng, đến nỗi có nhiều người trên thế giới đến Giê-ru-sa-lem để nghe (ICác 4:34), trong số đó có nữ hoàng Sê-ba.

I. NỮ HOÀNG SÊ-BA NGHI NGỜ LỜI ĐỒN VỀ VUA SA-LÔ-MÔN.

1. Thân thế của nữ hoàng Sê-ba.

Sê-ba là một nước thuộc Bắc phi, ngày nay được gọi là Ê-thi-ô-pi. Nữ hoàng cũng là người khôn ngoan và giàu có.

2. Lý do nữ hoàng nghi ngờ.

Khi nghe đồn về Sa-lô-môn khôn ngoan và giàu có hơn cả bà, thì bà không tin. Bà cho đó chẳng qua là lời đồn, phóng đại, nói quá sự thật. Bà muốn biết sự thật nên thực hiện chuyến viếng thăm Sa-lô-môn.

II. NỮ HOÀNG SÊ-BA NHÌN THẤY SỰ THẬT VỀ VUA SA-LÔ-MÔN.

1. Nữ hoàng nhìn thấy sự giàu có của vua Sa-lô-môn.

a. Đền thờ Giê-ru-sa-lem.

Bà mang theo một đoàn tùy tùng rất đông, có nhiều lạc đà chở thuốc thơm, vàng và ngọc để cho mọi người thấy sự khôn ngoan và giàu có của bà. Nhưng bà kinh ngạc khi đi xem đền thờ nguy nga của Đức Chúa Trời.

b. Cung điện của Sa-lô-môn.

Bà cũng khâm phục khi xem cung điện của Sa-lô-môn, với tất cả triều thần, xe cộ cùng hệ thống tổ chức trong triều. Tất cả đều nói lên vẻ giàu sang tột bực, thêm vào đó là cách thiết kế nột thất độc đáo chưa từng thấy ở bất cứ nơi đâu.

2. Nữ hoàng nhìn thấy sự khôn ngoan của vua Sa-lô-môn.

Bà đặt những câu hỏi hóc búa hơn hết với Sa-lô-môn, những câu hỏi chưa có ai trả lời được. Nhưng bà kinh ngạc vì Sa-lô-môn trả lời hết các câu hỏi của bà.

3. Nữ hoàng bày tỏ lòng của mình.

a. Khâm phục vua Sa-lô-môn.

Nữ hoàng nhìn nhận: “Điều tôi nghe nói trong xứ tôi về lời nói và sự khôn ngoan của vua, thì thật lắm. Song trước khi tôi chưa đến đây, và chưa thấy tận mắt những điều này, thì tôi chẳng tin; và kìa, người ta chẳng nói đến được phân nửa. Sự khôn ngoan và oai nghi của vua trổi hơn tiếng đồn tôi đã nghe”.

b. Mừng cho dân Y-sơ-ra-ên.

Bà mừng cho dân Y-sơ-ra-ên có một vua như Sa-lô-môn. Họ có phước thay.

c. Ca ngợi Đức Chúa Trời.

Bà ca ngợi Đức Chúa Trời đã thương xót dân Y-sơ-ra-ên cho họ một vua như vậy để cai trị họ cách ngay thẳng và công bình.

d. Tặng và nhận quà của Sa-lô-môn.

Nữ hoàng tặng cho Sa-lô-môn 120 ta lâng vàng, thuốc thơm và ngọc quí. Sa-lô-môn cũng tặng lại bà những gì bà ước ao (II Sử 9:12).

Bà có dịp học hỏi nơi Sa-lô-môn nhiều điều, Sa-lô-môn có dịp làm chứng cho bà về Chúa. Bà nhìn nhận sự hiện diện của Chúa và quyền tể trị của Ngài trên Y-sơ-ra-ên. Bà tặng cho Sa-lô-môn nhiều, Sa-lô-môn tặng lại bà nhiều hơn.

Đừng đến nhà Chúa với tay không, nhưng hãy đến với sự đầy dẫy để trở về được đầy dẫy hơn.

III. HÃY NHẬN BIẾT MỘT ĐẤNG TÔN TRỌNG HƠN SA-LÔ-MÔN.

1. Tấm gương của nữ hoàng Sê-ba.

Bà không cố chấp, ngồi một chỗ mà cho rằng người ta đồn đãi sai lầm. Bà đã chịu khó nhọc, tốn kém đến tận nơi để biết sự thật. Chính Chúa Jêsus đã khen ngợi bà: “Đến ngày phán xét, nữ hoàng nam phương sẽ đứng dậy với dòng dõi này mà lên án nó, vì người từ nơi cùng trái đất đến nghe lời khôn ngoan Sa-lô-môn; mà đây này, có một người tôn trọng hơn vua Sa-lô-môn!” (Ma-thi-ơ 12:42).

2. Noi gương nữ hoàng Sê-ba.

a. Có tinh thần khiêm nhường, tìm hiểu và học hỏi.

Nhiều người trên thế giới đã nghe đồn về Tin Lành quyền năng, vinh hiển, diệu kỳ… nhưng vì tự kiêu… nên để mất cơ hội. Nhưng ai có tinh thần tìm hiểu và học hỏi khi đến với Tin Lành của Chúa Jêsus sẽ phải kinh ngạc muôn lần hơn nữ hoàng Sê-ba đã kinh ngạc đối với Sa-lô-môn. Chúa Jêsus khôn ngoan, giàu có, vinh hiển, quyền năng muôn lần hơn Sa-lô-môn; Sa-lô-môn là vật thọ tạo, Chúa Jêsus là Đấng Tạo Hóa; Sa-lô-môn so với Chúa Jêsus như bình gốm với ông thợ gốm, như chiếc đèn dầu với mặt trời.

b. Không cố chấp.

Na-tha-na-ên nghĩ rằng “Há có vật gì tốt ra từ Na-xa-rét được sao?”, nhưng ông vẫn sẵn sàng theo Phi-líp đến với Chúa Jêsus. Sau vài câu, Na-tha-na-ên kinh ngạc nói: “Lạy thầy, thầy là Con của Đức Chúa Trời, Thầy là Vua dân Y-sơ-ra-ên” (Giăng 1:43-51).

Trải qua 20 thế kỷ, vô số người trên thế giới đã đến với Chúa Jêsus thì thảy đều kinh ngạc về vẻ đẹp thánh khiết, nhân từ, khôn ngoan, khả ái, giàu có, oai nghi, vinh hiển của Ngài. Chúa là đệ nhất trong muôn người. Chúa hoàn toàn đáng yêu, muôn lần hơn Sa-lô-môn. Mỗi chúng ta đáng phải cung kính thưa: LẠY CHÚA, CON YÊU NGÀI, CON YÊU NGÀI, CON YÊU NGÀI.

CÂU HỎI

1. Nữ hoàng Sê-ba là nguời thế nào?

2. Nữ hoàng nghĩ thế nào khi nghe đồn về sự khôn ngoan và giàu có của Sa-lô-môn?

3. Nữ hoàng đã làm gì?

4. Sau khi quan sát mọi sự và nghe Sa-lô-môn giải đáp các câu hỏi, nữ hoàng nói gì về vua Sa-lô-môn?

5. Nữ hoàng ca ngợi Đức Chúa Trời về điều gì?

6. Nữ hoàng để lại cho chúng ta những gương nào?

7. Ai được tôn trọng hơn Sa-lô-môn?

8. Chúng ta phải thưa gì với Chúa Jêsus? Tại sao?

BÀI 52. ĐỨC CHÚA TRỜI CAO CẢ

KINH THÁNH: II Sa-mu-ên 2-ICác 10.

CÂU GỐC: “Đức Giê-hô-va là lớn và đáng ngợi khen thay, sự cao cả Ngài không thể dò xét được” (Thi 145:3).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết Đức Giê-hô-va cao cả hơn Đa-vít, Sa-lô-môn và mọi vua chúa trên thế gian.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Đức Chúa Trời lập các vua

(Ê-sai 45:1-8).

TH:

Sự thờ phượng thật

(Giăng 4:19-26).

TB:

Sự thành tín của Chúa

(Ca thương 3:22-27).

TT:

Sự nhân từ của Chúa

(Thi thiên 136).

TN:

Hãy hiếu kính cha mẹ

(Ê-phê-sô 6:1-4).

TS:

Cảm tạ Đức Chúa Trời

(Thi thiên 100).

TB:

Sự khôn ngoan thật

(Gia-cơ 3:13-18).

Chúng ta ôn lại 12 bài học vừa qua, từ khi Đa-vít làm vua cho đến nữ hoàng Sê-ba đến thăm Sa-lô-môn.

1. Đa-vít sống gần suốt cuộc đời trong chinh chiến và luôn phải trốn chạy trước sự truy đuổi của Sau-lơ, nhưng khi vua Sau-lơ chết, Đa-vít không hề tự lên ngôi vua. Ông cầu hỏi, chờ nghe ý Chúa và vâng phục Ngài trọn vẹn. Ông là gương mẫu cho tất cả chúng ta trong đời sống hầu việc Chúa. Chúng ta phải chờ đợi Chúa ban công việc cho mình chớ không phải tự mình nắm lấy hay chiếm đoạt từ tay người khác.

2. Lòng yêu mến Chúa của Đa-vít được thể hiện rất mạnh mẽ khi công tác đầu tiên của ông khi lên ngôi là rước hòm giao ước về Giê-ru-sa-lem. Chúa phải là ưu tiên một trong đời sống thờ phượng và hầu việc của chúng ta.

3. Vì Đa-vít yêu mến Chúa nồng nàn như vậy, nên Chúa không tiếc gì hết đối với ông. Không những Chúa cho dòng dõi của ông được vững bền trên ngôi báu, nhưng chính Đấng Mê-si cũng thuộc dòng dõi Đa-vít. Ngài ngồi trên ngôi Đa-vít đời đời. Ai yêu mến Chúa thì Ngài ban phước ngàn đời cho hậu tự của người đó.

4. Đa-vít yêu thương Giô-na-than và muốn làm ơn cho con của bạn mình là Mê-phi-bô-sết. Là Cơ đốc nhân, chúng ta cũng phải có tâm hồn cao thượng, bao dung như Đa-vít.

5. Dầu Đa-vít đã ăn năn tội lỗi gian dâm và giết người của mình, nhưng ông vẫn phải gánh chịu hậu quả của tội lỗi đó: Áp-sa-lôm phản cha, muốn đoạt ngôi báu, và Đa-vít phải chạy trốn. Dầu sau đó, quân của Đa-vít chiến thắng, nhưng ông đã mất đứa con của mình. Tội lỗi khiến chúng ta mất hết mọi sự, cả đến những người và vật yêu quí nhất.

6. Chúa chọn Sa-lô-môn kế vị Đa-vít. Ông không xin giàu sang hay chiến thắng quân thù, nhưng xin sự khôn ngoan để quản trị dân sự của Chúa. Vì ông chỉ nghĩ đến dân sự của Chúa khi xin như thế, nên Ngài đã ban cho ông mọi điều khác nữa. Nếu chúng ta cầu xin không vị kỷ thì Chúa sẽ nhậm lời cầu nguyện của chúng ta và còn ban cho chúng ta nhiều ơn phước khác nữa.

7. Sa-lô-môn xây cất đền thờ cho Chúa để tôn vinh Ngài. Thật cả vũ trụ xinh đẹp và vĩ đại nầy cũng không xứng đáng cho Chúa, nhưng Chúa vui lòng ngự trong đền thờ Giê-ru-sa-lem vì Ngài thấy tấm lòng chân thật yêu mến, hi sinh dâng hiến của Đa-vít, Sa-lô-môn và toàn dân Y-sơ-ra-ên trong việc xây đền thờ dâng cho Ngài. Hôm nay, chúng ta cũng phải dâng những gì quí nhất của mình cho Chúa với tất cả lòng yêu mến Ngài.

Hội Thánh của Chúa bao gồm muôn dân trên thế giới. Người sống ở nơi này, người sống ở nơi khác, người sống trong thời đại nọ, người sống trong thời đại kia, nhưng hết thảy đều tôn vinh Chúa vì mọi sự chúng ta có đều do Chúa ban cho. Người giàu không đáng khoe, người nghèo không đáng thẹn. Người sướng không đáng kiêu, người khó không đáng buồn, vì hết thảy do Chúa cho phép xảy ra để làm ích lợi cho con cái Ngài.

Vì thế, chúng ta phải tôn vinh Đức Chúa Trời cao cả bằng tất cả lòng, trí, linh qua đời sống yêu thương, phục vụ Chúa và Hội Thánh của Ngài.

CÂU HỎI

1. Đa-vít là người thế nào trước khi làm vua? Nghề nghiệp, khả năng, đời sống tâm linh?

2. Ai là bạn chí thân của Đa-vít? Cho biết vài nét về người đó.

3. Vì sao Đa-vít không chiếm đoạt ngay ngôi báu khi vua Sau-lơ tử trận?

4. Khi lên ngôi vua, Đa-vít làm gì cho Chúa trước hết?

5. Chúa hứa gì với Đa-vít?

6. Trong những lời hứa của Chúa cho Đa-vít, lời hứa nào quan trọng nhất? Vì sao?

7. Đa-vít giữ lời hứa với Giô-na-than và Sau-lơ thế nào?

8. Ai định cướp ngôi Đa-vít? Kết quả việc đó ra sao?

9. Khi lên ngôi vua, Sa-lô-môn xin Chúa điều gì?

10. Chúng ta phải dâng gì cho Chúa?

Lên đầu trang