LỊCH SỬ TUYỂN DÂN TẬP I: TỪ SÁNG THẾ KÝ- MÔI SE

MỤC LỤC

BÀI 1. ĐẤNG CHRIST TRONG SUỐT KINH THÁNH.

KINH THÁNH: Lu-ca 24:27,44-47.

CÂU GỐC: “Hỡi Đức Chúa Trời, này tôi đến, trong sách có chép về tôi” (Hê-bơ-rơ 10:7).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết đề tài chính của Kinh Thánh là Đức Chúa Jêsus Christ.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Kinh Thánh nói về Đấng Christ

(Giăng 5:39).

TH:

Đức Chúa Trời nói về Đấng Christ

(Sáng 3:15).

TB:

Đa-vít nói về Đấng Christ

(Thi thiên 22; Ma-thi-ơ 22:41-45).

TT:

Tất cả tiên tri nói về Đấng Christ

(Lu-ca 18:31).

TN:

Môi-se và Đa-vít nói về Đấng Christ

(Lu-ca 24:27,44-47).

TS:

Áp-ra-ham biết trước về Đấng Christ

(Giăng 8:56).

TB:

Ê-sai mô tả sự cứu chuộc của Đấng Christ

(Ê-sai 53).

Kinh Thánh gồm có hai phần lớn là Cựu Ước và Tân Ước. Cả Kinh Thánh là một bức thư dài của Đức Chúa Trời gửi cho loài người, như cha gửi cho các con. Thực ra, Kinh Thánh không phải viết bằng mực trên giấy mà bằng huyết báu của Chúa Jêsus, bởi nếu Ngài không tình nguyện chịu chết vì chúng ta thì đã không có Kinh Thánh. Vì vậy, Chúa Jêsus là trọng tâm của cả Kinh Thánh.

I. ĐẤNG CHRIST TRONG CỰU ƯỚC.

Chúa Jêsus là “Chiên Con đã bị giết từ buổi sáng thế” (Khải 13:8), vì vậy kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời đã hình thành trước khi Lời thành văn của Ngài được ban cho loài người.

Đọc Cựu Ước, chúng ta thấy hình bóng về Đấng Christ xuất hiện từ trang đầu của sách Sáng thế ký cho đến trang cuối của Ma-la-chi. Chúa Jêsus cũng đã xác nhận Cựu Ước chép về Ngài và mọi điều đó phải được ứng nghiệm (Lu-ca 24:27, 44-47).

Chúa Jêsus Christ là trung tâm điểm của cả Kinh Thánh. Tất cả những việc đã chép trong Cựu Ước như luật pháp Môi-se, các tiên tri, các Thi thiên, thầy tế lễ, của lễ, đền thờ, giống như những chiếc căm xe đều hướng về một cái trục ở chính giữa: Trục đó là Chúa Jêsus Christ! Ngài đã đồng công với Đức Chúa Cha và Đức Thánh Linh trong công cuộc tạo dựng thế giới, Ngài là Ngôi Hai đã được dự ngôn sẽ sanh ra trong dòng dõi người nữ để giải cứu con người tội lỗi. Ngài là chiếc thang bắc từ đất lên trời, qua Ngài, những lời cầu xin của chúng ta được Đức Chúa Trời tiếp nhận và ban phước. Người Dothái được giải phóng khỏi ách nô lệ tại Ai-cập sau khi tai vạ thứ mười xảy ra, và nhờ chiên con của lễ Vượt Qua mà con trai đầu lòng của họ không bị giết chết. Chiên con đó tượng trưng về Chúa Jêsus. Ngài là Ma-na nuôi sống họ suốt 40 năm trong sa mạc, là Vầng Đá cung cấp nước uống làm thoả mãn cơn khát cho họ giữa chốn hoang vu. Ngài là Tiên Tri được hứa ban khi Đức Chúa Trời nói chuyện với Môi-se, là Vua Đời Đời sanh ra từ dòng dõi Đa-vít, là Con Trẻ trong sách tiên tri Ê-sai, là Con Người sẽ hiện đến trong đám mây mà Đa-ni-ên đã đề cập…

Nếu loại bỏ Chúa Jêsus khỏi Kinh thánh, Kinh Thánh chỉ còn là một mớ giấy lộn. Chúa Jêsus phán rằng, Kinh Thánh làm chứng về Ngài (Giăng 5:39), do vậy chúng ta không nên có thái độ đối với Kinh Thánh như người Dothái xưa kia, họ chỉ tin điều mình thích, còn những gì trái với suy nghĩ của họ thì họ không tin. Lời Chúa không bao giờ sai trật, dù chỉ một chấm, một nét (Ma-thi-ơ 5:18). Hãy đặt niềm tin trọn vẹn của chúng ta vào Lời đời đời của Đức Chúa Trời.

II. ĐẤNG CHRIST TRONG TÂN ƯỚC (Lu-ca 24:27;44-47).

Nếu Chúa Jêsus chưa giáng sanh và thi hành chức vụ trên đất, ngày nay chúng ta chưa có Kinh Thánh Tân Ước. Cả Tân Ước là bản tường thuật về công tác của Chúa Jêsus trên đất, sự mở mang và phát triển Hội Thánh Ngài từ buổi sơ khai cho đến ngày tận thế.

Khi Chúa Jêsus bị đóng đinh trên thập tự giá, đức tin của các môn đồ hoàn toàn sụp đổ, hy vọng của họ tiêu tan. Họ hoang mang, sửng sốt vì không hiểu tại sao các thầy tế lễ cả và các quan quyền của họ nộp Chúa Jêsus để chịu xử tử. Rồi đến ngày thứ ba, nghe tin Ngài đã sống lại, họ càng thêm thắc mắc. Trong số đó có hai môn đồ từ thành Giê-ru-sa-lem về làng Em-ma-út, vừa đi vừa thảo luận về việc ấy.

Chúa Jêsus đã hiện ra giữa họ và giảng giải Kinh Thánh cho họ hiểu. Song trước hết, Ngài trách họ chậm tin lời các tiên tri. Họ chỉ tin điều gì mình thích, còn điều gì không thích thì họ không tin. Vì thế, họ không hiểu được đúng Kinh Thánh. Kinh Thánh đề cập đến hai giai đoạn công tác của Đấng Christ, là phải chịu khổ nhục trước, rồi mới được vinh hiển sau. Nhưng khi đọc Kinh Thánh, người Dothái không tin Đấng Christ phải chịu khổ nhục, mà chỉ tin Ngài phải được vinh hiển, nên họ không hiểu tại sao Ngài phải chịu chết trên thập tự giá.

Khi nghe Chúa giải nghĩa những điều chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh, thì hai môn đồ như vừa tỉnh cơn ác mộng, biết rõ thực sự về Đấng Christ, nhất là biết rõ Ngài đã sống lại. Bấy giờ, họ không còn hoang mang, không còn thắc mắc, mà vui mừng khôn xiết. Họ trở lại Giê-ru-sa-lem thuật cho các môn đồ khác nghe, họ đã gặp Chúa sống lại.

Kế đó, Chúa cũng hiện ra với các môn đồ đang họp lại mà nhắc cho họ nhớ: “Ấy là điều mà khi Ta còn ở với các ngươi, Ta đã bảo các ngươi rằng mọi sự đã chép về Ta trong luật pháp Môi-se, các sách tiên tri cùng các Thi thiên phải được ứng nghiệm”, đồng thời Chúa mở trí họ. Bấy giờ, họ mới hiểu rằng Đấng Christ phải chịu khổ nhục trước rồi mới vinh hiển sau. Chúa liền ban cho họ mạng lịnh truyền giảng Tin Lành cho muôn dân bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem.

Khi đứng trước một dãy núi, chúng ta thấy tất cả các núi đều đứng liền nhau như một. Song khi đến gần, mới thấy giữa núi này với núi kia có một khoảng cách rất xa. Người Dothái đọc Kinh Thánh, họ chỉ thấy sự vinh hiển của Đấng Mê-si (Đấng Christ), như được mô tả trong các Thi thiên 2,24,110 và Ê-sai 11,35 v.v… mà không thấy sự khổ nhục của Ngài được mô tả trong các Thi Thiên 22, 69 và Ê-sai 53 v.v… Đó cũng là lý do Phi-e-rơ đã can ngăn Chúa lên thập tự giá (Ma-thi-ơ 16:21-23).

Vì vậy, người Dothái cũng không hiểu những sinh tế được Ngài làm tượng trưng như chiên con của A-đam, của A-bên, của Áp-ra-ham, của Lễ Vượt Qua, của tế lễ dâng lên hằng ngày đó là chỉ về ai. Về phần các môn đồ, mãi cho đến khi Chúa sống lại và giảng giải thì họ mới hiểu cả Kinh Thánh đều chỉ về Ngài.

Tuy nhiên, không phải hết thảy người Dothái đều như vậy. Áp-ra-ham, Môi-se, Đa-vít, đã tin chắc sự đau đớn của Đấng Christ vì nhân loại qua hình bóng Chiên Con chịu giết.

Chúng ta rất dễ thấy mũ triều thiên trong tương lai mà không thấy thập tự giá trong hiện tại. Song phải có thập tự giá đi trước mới có mũ triều thiên theo sau. Có gieo thì mới có gặt. Nếu chẳng có thập tự giá, cũng sẽ không có mũ triều thiên.

Chúa phán: “Khi nào vì cớ Ta mà người ta mắng nhiếc, bắt bớ, và lấy mọi điều dữ nói vu cho các ngươi, thì các ngươi sẽ được phước. Hãy vui vẻ và nức lòng mừng rỡ vì phần thưởng các ngươi ở trên trời sẽ lớn lắm… Khá giữ trung tín cho đến chết, rồi Ta sẽ ban cho ngươi mũ triều thiên của sự sống” (Ma-thi-ơ 5:11-12; Khải 2:10).

Phao-lô viết: “Vả, tôi tưởng rằng những sự đau đớn bây giờ chẳng đáng so sánh với sự vinh hiển hầu đến, là sự sẽ được bày ra trong chúng ta… Vậy nên, chúng ta chẳng ngã lòng, dầu người bề ngoài hư nát, nhưng người bề trong cứ đổi mới càng ngày càng hơn. Vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sanh cho chúng ta sự vinh hiển cao trọng đời đời, vô lượng vô biên… Lời này chắc chắn lắm: Ví bằng chúng ta chết với Ngài, thì cũng sẽ sống với Ngài; lại nếu chúng ta chịu thử thách nổi, thì sẽ cùng Ngài đồng trị; nếu chúng ta chối Ngài, thì Ngài cũng sẽ chối chúng ta… Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin. Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho ta…” (Rô-ma 8:18; IICôr 4:16-17; II Ti-mô-thê 2:11-12; 4:7-8).

Mong rằng qua bài học này, chúng ta không còn thắc mắc, lo buồn mà hỏi tại sao nữa, song ai nấy sẽ như các môn đồ đã gặp Chúa sống lại, lòng vui mừng khôn xiết, dùng lời Chúa an ủi, gây dựng lẫn nhau, truyền giảng Tin Lành cho đồng bào theo như mạng lệnh Chúa truyền dạy.

CÂU HỎI

1. Câu Kinh Thánh nào chứng minh kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời đã hình thành trước khi Lời thành văn của Ngài được ban cho loài người?

2. Ai viết Kinh Thánh và gửi cho ai?

3. Những điều gì trong Cựu ước là hình bóng về Chúa Jêsus?

4. Tại sao sau khi Chúa chết, các môn đồ hoang mang sửng sốt?

5. Ai đã hiện ra và giải thích Kinh Thánh cho họ?

6. Chúa đã giải thích Kinh Thánh cho họ như thế nào?

7. Tại sao các môn đồ là người Dothái lại không hiểu Kinh Thánh đã nói về Chúa Jêsus?

8. Chiên Con bị giết, các của lễ, các thầy tế lễ, đền thờ đều chỉ về ai?

9. Ai là trung tâm của Kinh Thánh?

10. Qua bài học này, chúng ta được dạy dỗ gì?

BÀI 2. KINH THÁNH, LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

KINH THÁNH: Ê-sai 30:8; II Ti-mô-thê 3:16; Hê-bơ-rơ 1:1-2.

CÂU GỐC: “Nhưng các việc này đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống” (Giăng 20:31).

MỤC ĐÍCH: Giải thích rằng Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời, nhờ Lời đó chúng ta tin và được cứu.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ là Lời hằng sống

(Giăng 1:1-2,14).

TH:

Kinh Thánh do Thánh Linh viết

(II Ti-mô-thê 3:16).

TB:

Các điều răn do Chúa ban

(Xuất 20:1-7; 34:27-35).

TT:

Lời cảnh cáo về sự bất tuân

(Phục 31:14-23).

TN:

Lời Chúa là chân thật và đáng tin cậy

(Ês 30:8-15; Ha 2:1-4).

TS:

Các lời hứa của Chúa được làm trọn

(ICác 8:56).

TB:

Lời của Chúa được ứng nghiệm

(Êx 12:25; Ma-thi-ơ 5:18).

Từ khi phạm tội và bị xa cách Đức Chúa Trời, con người rơi vào tối tăm, không giải đáp được các câu hỏi của mình: Tôi từ đâu mà có? Tại sao tôi phải khổ đau và chết? Tôi sẽ chẳng bao giờ bình an và hạnh phúc sao? Có gì sẽ xảy ra sau khi chết? Đức Chúa Trời có thực hữu không?

Tất cả tôn giáo và triết học của loài người không trả lời được các câu hỏi đó dầu họ đã cố gắng tìm tòi, khám phá. Chỉ một mình Đức Chúa Trời trả lời được, và Ngài đã trả lời qua Kinh Thánh.

Đức Chúa Trời là Đấng hằng sống, Ngài phán dạy: “Đời xưa, Đức Chúa Trời đã dùng các tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều cách, rồi đến những ngày sau rốt này, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài” (Hê-bơ-rơ 1:1-2).

“Hỡi các từng trời, hãy nghe; hỡi đất, hãy lắng tai… Hỡi dân Ta, hãy chăm chỉ mà nghe Ta; hỡi nước Ta, hãy lắng tai cho Ta! Vì sẽ có luật pháp ra từ Ta, hãy nghiêng tai và đến cùng Ta, hãy nghe Ta, thì linh hồn các ngươi được sống” (Ê-sai 1:2; 51:4; 55:3).

“Hỡi hết thảy các dân, hãy nghe! Hỡi đất và mọi vật chứa trên đất, hãy lắng tai!” (Mi-chê 1:2).

I. KINH THÁNH ĐƯỢC GHI CHÉP.

“Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy chép điều này trong sách làm kỷ niệm” (Xuất 17:14).

“Môi-se chép luật này, giao cho những thầy tế lễ, là con cháu Lê-vi…” (Phục 31:9).

“Bây giờ, ngươi hãy đi, chạm lời này trên bảng nhỏ ở trước mặt họ, hãy chép vào sách để truyền lại đời sau, mãi mãi không cùng” (Ê-sai 30:8).

“Hãy lấy một cuốn sách, chép vào đó mọi lời Ta đã phán cùng ngươi…” (Giê-rê-mi 36:2).

Đức Chúa Trời đã lựa chọn các tiên tri, rồi nhờ Đức Thánh Linh hướng dẫn, cảm động họ chép những lời Chúa phán, những việc Chúa làm. Ban đầu họ chép bằng tay một cách cẩn thận, công phu, không sai một nét, trên những miếng da đã phơi khô.

Song các bản chép tay đó quá ít, nên chỉ có tại giáo đường mới có một quyển, được giữ gìn cẩn thận như một bửu vật vô giá. Mỗi khi người ta muốn nghe, phải đến giáo đường. Song không phải ai cũng hiểu Kinh Thánh, vì lúc đó chỉ có Kinh Thánh viết bằng chữ Hy-bá-lai và Hy-lạp, nên phải có người đọc và giải thích thì người nghe mới hiểu được.

II. KINH THÁNH ĐƯỢC PHIÊN DỊCH VÀ PHỔ BIẾN.

Đến thế kỷ 15, một người Đức là Gutenberg sáng chế máy in và in Kinh Thánh trước nhất bằng chữ Latinh. Lần lượt Kinh Thánh được phiên dịch ra nhiều thứ tiếng, xuất bản và phổ biến. Nhờ đó chúng ta có Kinh Thánh trong tiếng mẹ đẻ như ngày nay. Toàn bộ Kinh Thánh đã được phiên dịch ra tiếng Việt và in xong năm 1925. Tân Ước nhuận chánh được in xong năm 1957.

Kinh Thánh đã được dịch ra hơn 3000 thứ tiếng và thổ ngữ, được phổ biến khắp nơi trên thế giới nhưng cũng gặp rất nhiều địch thủ. Voltaire, văn hào Pháp (1694-1778), Thomas Paine, ký giả Anh (1737-1809), kẻ nói sau khi tôi chết 100 năm, người nói sau khi tôi chết 50 năm, Kinh Thánh sẽ không còn nữa. Song ngày nay, sau khi họ đã chết trên dưới 200 năm, thì trái lại, Kinh Thánh đã được phiên dịch, đã được xuất bản và phổ biến, đã được người ta đọc nhiều hơn lúc họ còn sống. Trong vòng 150 năm (1804-1954), 1.300 triệu quyển Kinh Thánh vừa toàn bộ vừa từng phần đã được xuất bản. Chỉ riêng năm 1962, 50 triệu quyển Kinh Thánh vừa toàn bộ vừa từng phần được xuất bản. Nhà truyền đạo Spurgeon nói: “Không cần các ông bênh vực con sư tử khi nó bị cùm. Chỉ cần các ông mở cùm cho nó đi ra ngoài”.

Loài người hay chết nhưng Lời Chúa là Lời sống: “Loài người như hoa cỏ; cỏ khô hoa rụng, song lời Chúa còn lại đời đời” (Hê-bơ-rơ 4:12; II Phi-e-rơ 1:24-25).

III. THẨM QUYỀN VÀ MỤC ĐÍCH CỦA KINH THÁNH.

Kinh Thánh là lời của Đức Chúa Trời, vì thế Kinh Thánh có thẩm quyền tuyệt đối mà mọi người phải phục tùng. Ai phục tùng, được phước, ai bất tuân, bị phạt. Kinh Thánh truyền lịnh về bổn phận vua tôi, chủ tớ, vợ chồng, cha con, anh em, bè bạn, thân tộc, đồng bào, nhất là bổn phận của mọi người đối với Đức Chúa Trời.

“Ngươi phải thờ phượng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi… Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi” (Ma-thi-ơ 4:10; 22:37).

“Hãy tin Chúa Jêsus thì ngươi và cả nhà sẽ được cứu rỗi” (Công 16:31).

“Ai tin Con thì được sự sống đời đời, ai không chịu tin Con thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó” (Giăng 3:36).

“Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người. Ai tin và chịu Báp-têm sẽ được rỗi, nhưng ai chẳng tin sẽ bị đoán phạt” (Mác 16:15-16).

Các mạng lịnh của Kinh Thánh đều trực tiếp, đơn sơ, vắn tắt và rõ ràng. Các mạng lịnh đó có thẩm quyền cảm hóa, thay đổi tâm tính của loài người, khiến họ trở nên con cái Đức Chúa Trời, có một đời sống mới mẽ, vui vẻ, bình an. Đa-vít nói “Các điều ấy quý hơn vàng, thật báu hơn vàng ròng; lại ngọt hơn mật, hơn nước ngọt của tàng ong” (Thi Thiên 19:10).

Mục đích chính của Kinh Thánh là Đức Chúa Trời tự bày tỏ Ngài cho chúng ta. Dầu qua cõi thiên nhiên và qua lương tâm, loài người nhận biết có Đấng Tạo Hóa, nhưng không biết Ngài là Đấng như thế nào. Kinh Thánh bày tỏ rõ ràng bằng nhiều lần, nhiều cách, để chúng ta biết Đức Chúa Trời toàn năng, toàn ái, Ngài thương yêu chúng ta bằng tình thương lớn lao và đời đời. Ngài đã chứng minh tình thương đó qua sự giáng sinh, sự chết đền tội, sự sống lại và về trời của Chúa Jêsus, hầu ai tin đến thì được cứu. Kinh Thánh cũng bày tỏ cho chúng ta chương trình vĩ đại của Đức Chúa Trời trong tương lai là khi Chúa Jêsus trở lại, Ngài sẽ còn làm những việc kỳ diệu hơn nữa cho chúng ta.

Đang khi chờ đợi ngày vinh hiển của Chúa sẽ hiện ra, Kinh Thánh “có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành” (II Ti-mô-thê 3:16-17). Vậy chúng ta hãy ham thích Kinh Thánh như con trẻ ham thích sữa mẹ. Hãy đọc, suy gẫm và làm theo để ai nấy đều được lớn lên và mạnh mẽ!

CÂU HỎI

1. Ai mới có thể giải đáp những thắc mắc của loài người?

2. Từ xưa, Đức Chúa Trời hằng sống đã làm gì?

3. Sau khi phán dạy, Chúa bảo các tiên tri làm gì?

4. Ban đầu Kinh Thánh được chép cách nào?

5. Kinh Thánh tiếng Việt có khi nào? Tân Ước được nhuận chánh khi nào?

6. Kẻ thù của Kinh Thánh đã đe dọa thế nào? Và kết quả ra sao?

7. Kinh Thánh có thẩm quyền gì trên loài người?

8. Kinh Thánh truyền dạy những mạng lệnh nào?

9. Mục đích của Kinh Thánh là gì?

10. Chúng ta phải có thái độ nào đối với Kinh Thánh?

BÀI 3. CƠ ĐỐC NHÂN VỚI KINH THÁNH

KINH THÁNH: Lu-ca 24:44-48; Phi-líp 4:13.

CÂU GỐC: “Bấy giờ Ngài mở trí cho môn đồ hiểu Kinh Thánh” (Lu-ca 24:45).

MỤC ĐÍCH: Những sự dạy dỗ trong Kinh Thánh không được thấu hiểu và ứng dụng trong đời sống thì việc học Kinh Thánh của chúng ta không ích lợi. Chúa giúp chúng ta hiểu biết và vâng giữ Kinh Thánh.

ĐỌC KINH THÁNH HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ là Giáo sư

(Ma-thi-ơ 5:1-12).

TH:

Quyền năng cứu rỗi của KT

(Phục 17:18-19; Thi 19:7-11).

TB:

Quyền năng thêm sức của KT

(Giô-suê 1:1-18).

TT:

Quyền năng soi sáng của KT

(Thi Thiên 119:97-104).

TN:

Phước hạnh do suy gẫm KT

(Thi Thiên 1; Giăng 15).

TS:

Phước hạnh do vâng giữ Kinh Thánh

(Lu-ca 6:46-49).

TB:

Sự hư mất vì bất tuân Kinh Thánh

(I Sa-mu-ên 15:10-23).

Chúng ta cần hiểu biết nhiều điều trong cuộc sống hằng ngày, song điều cần hiểu biết hơn hết là Kinh Thánh. Có những điều chúng ta không hiểu biết cũng được, nhưng không thể không hiểu biết Kinh Thánh.

Môi-se khuyên: “Vậy, các ngươi phải giữ làm theo các mạng lịnh và luật lệ này; vì ấy là sự khôn ngoan và sự thông sáng của các ngươi trước mặt các dân tộc; họ nghe nói về các luật lệ này, sẽ nói rằng: Dân này là một dân khôn ngoan và thông sáng không hai!” (Phục truyền 4:6). Kinh nghiệm lời khuyên đó, Đa-vít nói: “Các điều răn Chúa làm cho tôi khôn ngoan hơn kẻ thù nghịch tôi, vì các điều ấy ở cùng tôi luôn luôn. Tôi có trí hiểu hơn hết thảy các kẻ dạy tôi, vì tôi suy gẫm các chứng cớ Chúa. Tôi thông hiểu hơn kẻ già cả, vì có gìn giữ các giềng mối Chúa” (Thi Thiên 119:98-100).

Ngược lại: “Tư tưởng ngu dại là tội lỗi” (Châm ngôn 24:9). Người Hy-lạp và La-mã được xem là khôn ngoan lắm về nhiều phương diện, song vì không biết Chúa và Lời Ngài nên Kinh Thánh chép: “Họ tự xưng là khôn ngoan mà trở nên điên dại, họ đã đổi vinh hiển của Đức Chúa Trời không hề hư nát, lấy hình tượng của loài người hay hư nát, hoặc của điểu, thú, côn trùng” (Rô-ma 1:22-23).

Không hiểu biết Kinh Thánh là một thiệt thòi lớn lao, còn đọc, nghiên cứu để hiểu biết Kinh Thánh, rồi học thuộc lòng và làm theo Kinh Thánh là một phước hạnh vô kể.

I. PHẢI ĐỌC KINH THÁNH.

Chúng ta phải đọc qua một loạt từ trang đầu của sách Sáng Thế Ký cho đến trang cuối của sách Khải Huyền. Mỗi ngày đọc một đoạn hay một phân đoạn, nếu là một đoạn dài, và phải đọc một cách đều đặn để nhớ. Sau đó, chúng ta nên đọc theo lịch đọc Kinh Thánh được soạn theo một thứ tự khác. Phải đọc luôn như vậy trong đời mình như Chúa đã phán dặn Giô-suê: “Quyển sách luật pháp này chớ xa miệng ngươi, hãy suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong, vì như vậy ngươi mới được may mắn trong con đường mình và mới được phước” (Giô-suê 1:8). Mỗi ngày chén cơm không xa miệng của chúng ta, thì Lời Chúa cũng vậy. Miệng đọc chưa đủ, lòng phải suy gẫm để biết đúng ý nghĩa của lời đó. Suy gẫm cũng chưa đủ, mà phải học thuộc lòng. Học thuộc lòng chưa đủ mà phải cẩn thận làm theo những điều mình đã đọc, đã suy gẫm, đã học thuộc lòng. Có như vậy, chúng ta mới thịnh vượng và thành công trong mọi đường lối mình (Thi Thiên 1:1-3).

Có người cứ cầu nguyện, song không đọc Kinh Thánh. Nếu không đọc Kinh Thánh thì không biết cách nào để cầu nguyện, không biết điều gì để cầu nguyện, nên lời cầu nguyện không được Chúa nhậm. Cầu nguyện là chúng ta nói với Chúa, còn đọc Kinh Thánh là Chúa nói với chúng ta. Chúng ta nghe Chúa nói còn quan trọng hơn chúng ta nói với Chúa. Nếu chúng ta không nghe Chúa nói, thì Chúa cũng không thể nghe chúng ta nói đâu. Đọc Kinh Thánh cũng quan trọng như cầu nguyện và hơn nữa.

II. PHẢI NGHIÊN CỨU KINH THÁNH.

1. Không ai có thể hiểu Kinh Thánh nếu chỉ đọc qua một lần.

Muốn hiểu Kinh Thánh một cách đúng và sâu, chúng ta phải đọc nhiều lần, mỗi lần hiểu thêm một ít. Tấn sĩ Tống Thượng Tiết đã bị bỏ vào dưỡng trí viện 193 ngày. Trong thời gian đó ông đã đọc suốt Kinh Thánh 40 lần. Ông đã đào thật sâu để khai thác kho tàng vô giá là Kinh Thánh.

2. Toàn bộ Kinh Thánh có sự hòa hợp trọn vẹn, giải nghĩa cho nhau.

Cựu Ước đã dự ngôn những điều sẽ xảy ra trong Tân Ước, Tân Ước ứng nghiệm những điều đã dự ngôn trong Cựu Ước. Cựu Ước nói rất nhiều về đền thờ, thầy tế lễ và các con sinh. Chúng ta cũng không thể hiểu được ý nghĩa của mỗi người, mỗi vật đó cho đến chừng chúng ta đọc Tân Ước. Đọc Tân Ước chúng ta không hiểu tại sao Chúa Jêsus phải giáng sinh, chịu khổ, chịu chết và sống lại cho đến chừng chúng ta đọc Cựu Ước về chương trình cứu rỗi vĩ đại đời đời của Đức Chúa Trời. Vì thế, Tân Ước luôn luôn trưng dẫn Cựu Ước để chứng minh. Ví dụ: Chúng ta không thể hiểu sách Giu-đe, nếu không đọc Cựu Ước. Ngược lại, chúng ta không thể hiểu Thi Thiên 22 và Ê-sai 53 nếu không đọc Tân Ước.

3. Phải đọc đúng cách để hiểu Kinh Thánh.

Nếu chỉ đọc một câu Kinh Thánh, lắm khi chúng ta không hiểu được đúng ý nghĩa của nó, mà phải đọc thượng hạ văn, tức là cả đoạn, hoặc cả sách đó nữa. Ví dụ: Nếu chúng ta chỉ đọc Ma-thi-ơ 16:18, chúng ta sẽ hiểu sai ý nghĩa hoặc chúng ta đọc câu 23 cũng vậy. Chỉ đọc hai câu đó chúng ta sẽ thấy ý nghĩa mâu thuẫn nhau. Câu 18 nói Phi-e-rơ là nền tảng của Hội Thánh, còn câu 23 nói Phi-e-rơ là quỉ Sa-tan. Song nếu chúng ta đọc từ câu 13 đến 28 sẽ không hiểu như vậy. Muốn hiểu đúng cả đoạn ấy, chúng ta cần phải tham khảo với những đoạn khác trong Kinh Thánh.

Muốn hiểu ý nghĩa sâu nhiệm của một câu Kinh Thánh, chúng ta phải so sánh với các câu khác tương tự. Ví dụ: Giăng 3:16 mô tả tình thương của Chúa đối với thế gian. Muốn hiểu một cách sâu xa tình thương đó, chúng ta phải so sánh với Giăng 10:11; Rô-ma 5:6-8; 8:31-39; IGiăng 3:1; 4:9-10; Ê-phê-sô 2:4-5 v.v… Chúng ta còn phải nghiên cứu mỗi chữ trong đó như: Yêu thương, ban Con Một của Ngài, ai tin, không bị hư mất, sự sống đời đời. Càng đào sâu, chúng ta càng gặp nhiều của báu.

III. PHẢI HỌC THUỘC LÒNG KINH THÁNH.

1. Thuộc lòng các câu gốc trong Kinh Thánh.

Học thuộc các câu gốc trong Kinh Thánh càng nhiều càng tốt. Đừng để đến khi có cần mới mở Kinh Thánh ra mà tìm một câu; song lúc nào cũng sẵn sàng để trả lời mọi kẻ hỏi về đức tin của chúng ta (I Phi-e-rơ 3:15); lúc nào cũng sẵn sàng trả lời với kẻ cám dỗ như Chúa Jêsus đã làm (Ma-thi-ơ 4:10). Phải tích trữ lời Chúa trong lòng mình (Thi Thiên 19:7-10).

2. Thuộc lòng các truyện tích trong Kinh Thánh.

Các truyện tích đó dạy dỗ chúng ta cách phải sống xứng đáng, khích lệ những điều đáng theo, cảnh cáo những điều đáng trách. Ngoài ra, chúng ta nên thuộc lòng 10 điều răn, bài cầu nguyện chung và mục lục Kinh Thánh.

IV. PHẢI LÀM THEO KINH THÁNH.

Học lời Chúa mà không làm theo thì như cây vả có lá mà không có trái, cứ làm mà không học lời Chúa như xe lửa chạy ngoài đường sắt. Còn học lời Chúa để làm theo thì giống như cây vả có trái, giống như xe lửa chạy trong đường sắt, sự sống thuộc linh của người đó sẽ vững vàng và lớn lên cách đều đặn. Có nhiều cơn phục hưng mau tàn tắt như bếp lửa cần cháy mãi mà không thêm củi. Muốn giữ cơn phục hưng được lâu dài phải cứ học Kinh Thánh và làm theo Kinh Thánh.

“Hãy làm theo lời, chớ lấy nghe làm đủ mà lừa dối mình” (Gia-cơ 1:22). Dân Y-sơ-ra-ên thích nghe Lời Chúa mà không làm theo, nên kết quả phải bị Chúa phạt 70 năm lưu đày (Ê-xê-chi-ên 33:30-33). Tổ phụ của họ cũng đã nghe Lời Chúa rồi cứng lòng chống lại, nên bị lang thang 40 năm trong đồng vắng mà một số lớn không được vào Ca-na-an (Hê-bơ-rơ 3:7-10). Chúa Jêsus đã ví sánh người nghe Lời Chúa và làm theo giống như xây nhà trên đá, còn người nghe Lời Chúa mà không làm theo giống như người xây nhà trên cát. Đến khi có mưa gió, bão bùng thì hai ngôi nhà còn mất khác nhau.

Hãy cầu nguyện mỗi khi đọc, học, nghiên cứu Kinh Thánh để Chúa mở trí cho chúng ta hiểu được Lời Ngài và giúp chúng ta làm theo (Lu-ca 24:45; Phi-líp 4:13).

CÂU HỎI

1. Môi-se đã khuyên dân Y-sơ-ra-ên thế nào?

2. Đa-vít đã kinh nghiệm ra sao?

3. Không biết Lời Chúa thì bị thiệt hại như thế nào?

4. Muốn hiểu biết Kinh Thánh thì phải đọc như thế nào?

5. Tại sao chúng ta phải đọc cả Cựu Ước và Tân Ước?

6. Muốn hiểu đúng ý nghĩa một câu Kinh Thánh, chúng ta phải đọc Kinh Thánh như thế nào?

7. Muốn hiểu cách sâu nhiệm chúng ta phải làm thế nào?

8. Tại sao phải học thuộc lòng các câu Kinh Thánh và truyện tích Kinh Thánh?

9. Tại sao dân Y-sơ-ra-ên bị Chúa phạt? Kể ra hai trường hợp.

10. Nghe Lời Chúa mà làm theo với nghe Lời Chúa mà không làm theo khác nhau thế nào?

BÀI 4. SỰ SÁNG TẠO SỰ SÁNG VÀ KHOẢNG KHÔNG

KINH THÁNH: Sáng Thế Ký 1:1-8; Giăng 1:1-14.

CÂU GỐC: “Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài” (Giăng 1:3).

MỤC ĐÍCH: Ba Ngôi Đức Chúa Trời cùng sáng tạo muôn vật. Chúng ta phải hết lòng kính yêu Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh.

ĐỌC KINH THÁNH HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ tích cực trong sự sáng tạo

(Cô-lô-se 1:16-17).

TH:

Đức Chúa Trời, Đấng tạo hóa vũ trụ

(Sáng 1:1; Nê-hê-mi 19:6).

TB:

Đức Chúa Trời, Đấng sáng tạo sự sáng

(Sáng 1:1-8).

TT:

Muôn vật được dựng nên bởi Chúa Jêsus

(I Cô 9:6; Êph 3:9).

TN:

Đấng Christ là cội rễ và cuối cùng

(Khải 1:8; 22:13).

TS:

Đấng Christ sáng tạo thế gian

(Giăng 1:1-4).

TB:

Chúa sáng tạo và bảo tồn

(Cô-lô-se 1:12-20; Hê 1:2-3).

Trời đất rất lớn lao và đẹp đẽ quá sức tưởng tượng của chúng ta. Trong muôn vật còn có sự sống mãnh liệt để sinh tồn, có trật tự hẳn hoi để điều hòa và bao hàm sự mầu nhiệm không sao dò xét hết được. Tất cả mọi sự đó đều do Chúa chúng ta là Đức Chúa Trời Ba Ngôi đã dựng nên, đã bảo tồn và chăm sóc. Hôm nay chúng ta học về Chúa dựng nên sự sáng và khoảng không.

I. ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ ĐẤNG SÁNG TẠO.

“Ban đầu, Đức Chúa Trời dựng nên trời đất” (Sáng 1:1). Chẳng hề có một vật nào hoặc nhỏ, hoặc lớn, tự nhiên mà có, song đã được Đức Chúa Trời dựng nên từ ban đầu. Chúa là căn nguyên của muôn vật.

Muốn may một chiếc áo phải có vải, muốn có vải phải có người dệt, muốn dệt phải có chỉ, muốn có chỉ phải có bông vải, muốn có bông vải phải có hột giống. Không ai có thể làm ra hột giống, cũng không ai có thể làm ra đất. Hột giống và đất do Chúa làm nên, để khi hột giống gieo xuống đất thì mọc lên cây có bông để làm vải. Mọi sự khác cũng tương tự như vậy.

Dầu trời đất đã có từ mấy tỉ năm thì cũng có lúc bắt đầu, là khi Đức Chúa Trời dựng nên. “Ôi! chỉ một mình Chúa là Đức Giê-hô-va có một không hai, Chúa đã dựng nên các từng trời, cùng toàn cơ binh của nó, đất và các vật trên nó, biển và muôn vật dưới nó; Chúa bảo tồn những vật ấy, và cơ binh của các từng trời đều thờ lạy Chúa” (Nê-hê-mi 9:6).

Không những dựng nên, “Chúa bảo tồn loài người và súc vật” (Thi 36:6). Không những bảo tồn mà Chúa cũng chăm sóc một cách chu đáo. “Ngài làm cỏ đâm lên cho súc vật, cây cối để dùng cho loài người, và khiến thực vật sanh ra từ nơi đất. Con mắt muôn vật đều ngữa trông Chúa, Chúa ban cho chúng đồ ăn tùy theo thì. Chúa sè tay ra, làm cho thỏa nguyện mọi loài sống” (Thi 104:14; 145:15-16).

Không những dựng nên, bảo tồn và chăm sóc, Chúa còn cai trị trời đất, muôn vật và loài người. “Đức Gêhôva sẽ cai trị đời đời. Ớ Si-ôn, Đức Chúa Trời ngươi làm Vua đến muôn đời! Halêlugia!” (Thi 146:10).

Tạ ơn Chúa đã dựng nên chúng ta giống như hình tượng của Ngài, chứ không giống như cỏ cây, súc vật. Chúng ta có thể xác kỳ diệu, có linh hồn cao quí nên được quản trị muôn vật do Chúa dựng nên. Chúa chăm sóc chúng ta một cách chu đáo, dự bị cho chúng ta đầy đủ mọi thức ăn, vật dụng, thậm chí Ngài cũng dựng nên hoa lá đẹp đẽ, cảnh trí hữu tình để chúng ta thưởng ngoạn. Không những vậy thôi, Ngài còn cai trị mỗi bước của đời sống chúng ta để chúng ta lúc nào cũng hạnh phúc. Chúng ta phải dâng đời mình để Chúa làm Vua cai trị. Một đời sống như vậy mới nếm được hạnh phúc trong hiện tại, tương lai và cho đến đời đời. “Nước nào có Giê-hô-va làm Đức Chúa Trời mình, dân tộc nào được Ngài chọn làm cơ nghiệp mình, có phước thay!” (Thi 33:12).

II. NGÀY THỨ NHẤT: ĐỨC CHÚA TRỜI DỰNG NÊN SỰ SÁNG (c.2-5).

Bấy giờ, vũ trụ chìm đắm trong tăm tối nên nhu cầu khẩn cấp là sự sáng. “Thần của Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước”. Đó là ngôi thứ ba bắt đầu công tác. “Đức Chúa Trời phán rằng”, đó là ngôi thứ hai tích cực tham gia, vì Ngài là Ngôi Lời. “Phải có sự sáng, thì có sự sáng. Vì Ngài phán, thì việc liền có; Ngài biểu, thì vật bèn đứng vững bền” (Sáng 1:3; Thi 33:9). “Bởi đức tin, chúng ta biết rằng thế gian đã làm nên bởi lời của Đức Chúa Trời, đến nỗi những vật bày ra đó đều chẳng phải từ vật thấy được mà đến” (Hê-bơ-rơ 11:3)

“Đức Chúa Trời thấy sáng là tốt lành” (Sáng 1:4). Hoang vu và tăm tối là cảnh tượng rất hãi hùng, song sáng láng và trật tự thì đẹp đẽ, vui vẻ. Ánh sáng ban sự sống. Nếu không có ánh sáng thì cây cỏ, súc vật, loài người không thể sống được. Ánh sáng ban vẻ đẹp. Nhờ ánh sáng mà chúng ta thấy đồng cỏ xanh, cụm mây trắng, hoa lá muôn màu, kim cương óng ánh.

Trước khi gặp Chúa là mặt trời công bình, là sự sáng của thế gian, đời sống chúng ta như quả đất vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực, thật là hoang vu, hỗn độn! Vì vậy, chúng ta đã lầm lạc, sợ hãi và tin nhảm, tin càn, thờ lạy cả “hình tượng của loài người hay hư nát, hoặc của điểu, thú, côn trùng” (Rô-ma 1:23). Nhưng từ khi gặp Chúa, chúng ta thấy được đâu là chánh, đâu là tà, đâu là chân lý và ngụy biện. Cũng từ đó, đời sống chúng ta đẹp đẽ, vui vẻ và hạnh phúc.

“Đức Chúa Trời… bèn phân sáng ra cùng tối”. Chúa không diệt tối tăm, song phân rẽ sáng với tối, để làm ra ngày và đêm, hầu giúp chúng ta có thì giờ làm việc cũng có thì giờ nghỉ ngơi. Kinh Thánh chép: “Anh em đều là con của sự sáng và con của ban ngày. Chúng ta không phải thuộc về ban đêm, cũng không thuộc về sự mờ tối” (I Tê 5:5). “Ngài đã giải thoát chúng ta khỏi quyền của sự tối tăm, làm cho chúng ta dời qua nước của Con rất yêu dấu Ngài” (Cô-lô-se 1:13). “Vả, lúc trước anh em đang còn tối tăm, nhưng bây giờ đã nên người sáng láng trong Chúa. Hãy bước đi như các con sáng láng; vì trái của sự sáng láng ở tại mọi điều nhân từ, công bình và thành thật. Hãy xét điều chi vừa lòng Chúa, và chớ dự vào công việc vô ích của sự tối tăm, thà quở trách chúng nó thì hơn” (Ê-phê-sô 5:8-11). “…Giữ lấy đạo sự sống, chiếu sáng như đuốc trong thế gian” (Phi-líp 2:15).

III. NGÀY THỨ HAI: ĐỨC CHÚA TRỜI DỰNG NÊN KHOẢNG KHÔNG (c.6-8).

Chúa phán: “Phải, có một khoảng không ở giữa nước đặng phân rẽ nước cách với nước”. Khoảng không giống như một tấm vải lớn, một bức màn rộng trải dài ra bao trùm quả đất. “Chúa trải bắc cực ra trên vùng trống, treo trái đất trong khoảng không không” (Gióp 26:7). “Ông có thể trải bầu trời ra với Đức Chúa Trời chăng? Nó vốn vững chắc như một tấm kính đúc” (Gióp 37:18). “Chúa lấy vực sâu bao phủ đất như bằng cái áo, nước thì cao hơn các núi” (Thi 104:6). “Chúa đã xây cung đền Ngài trong các từng trời, đã lập vòng khung Ngài trên đất. Ngài kêu gọi nước biển đổ ra trên mặt đất. Danh Ngài là Đức Giê-hô-va” (A-mốt 9:6).

Chúa làm nên khoảng không để phân rẽ nước trên mây và nước dưới biển. Chúa dùng sức nóng của mặt trời, biến nước biển thành hơi, bay lên tụ lại thành mây, rồi đổ nó ra trên mặt đất, làm cho cây cỏ, mùa màng tươi tốt.

“Đức Chúa Trời đặt tên khoảng không là trời”. Bầu trời oai nghi, lộng lẫy biết bao! Chỉ khoảng thấp từ đất lên mây gọi là bầu khí quyển, chúng ta cũng đã thấy công việc Chúa làm thật diệu kỳ! Nhờ khoảng không đó mà có mưa, gió, tuyết, sương. Nhờ khoảng không đó mà ánh sáng mới chiếu vào làm cho mọi vật đẹp đẽ và ấm áp. Nhờ khoảng không đó mà mọi loài thực vật và động vật mới sống được, Chúa lo liệu cho chúng ta chu đáo là dường nào!

Nguyện đời sống chúng ta đẹp như bầu trời: Sức mạnh là vẻ đẹp của thân thể, sự thánh khiết là vẻ đẹp của linh hồn. Nguyện bầu trời thuộc linh của chúng ta luôn luôn tươi sáng, không một áng mây mù, để mối tương giao giữa chúng ta với Chúa không hề bị gián đoạn.

Thân thể chúng ta là một vũ trụ thu hẹp. Chúa đã làm mọi sự trong cõi thiên nhiên, Ngài cũng làm mọi sự trong thân thể và linh hồn chúng ta để trở nên đền thờ thánh của Ngài.

CÂU HỎI

1. Đức Chúa Trời dựng nên trời đất từ bao giờ?

2. Sau khi dựng nên, Chúa còn làm gì nữa?

3. Chúa dựng nên loài người giống như ai?

4. Ngày thứ nhất, Chúa dựng nên gì?

5. Tại sao Chúa dựng nên sự sáng trước?

6. Khi chưa tin Chúa, đời sống chúng ta giống như gì?

7. Chúa phân rẽ sự sáng với sự tối để làm gì? Việc đó có ý nghĩa thuộc linh thế nào?

8. Ngày thứ hai, Chúa dựng nên bầu trời để làm gì?

9. Tại sao trên trời có nước mưa luôn mỗi năm?

10. Đời sống chúng ta giống như gì?

BÀI 5. SỰ SÁNG TẠO QUẢ ĐẤT, MẶT TRỜI, MẶT TRĂNG VÀ CÁC NGÔI SAO

KINH THÁNH: Sáng thế ký 1:9-19.

CÂU GỐC: “Đức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán cùng chúng rằng: Ta là sự sáng của thế gian, người nào theo Ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống” (Giăng 8:12).

MỤC ĐÍCH: Chứng tỏ rằng Chúa Jêsus là sự sáng của thế gian.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ là sự sáng của thế gian

(Giăng 12:46).

TH:

Đa-vít viết về sự sáng tạo

(Thi thiên 104:1-4).

TB:

Vinh quang trong cuộc sáng tạo của Đức Chúa Trời

(Thi thiên 19).

TT:

Đức Chúa Trời của sự sáng

(Thi thiên 8).

TN:

Chúa Jêsus, sự sáng của sự sáng tạo

(Giăng 1:1-9).

TS:

Ánh sáng của thế gian được hứa ban

(Ês 9:2; Lu 1:78-79).

TB:

Chúa Jêsus, sự sáng của thế gian

(Giăng 12:46; II Cô 4:6).

Chúng ta đã học về ngày thứ nhất Chúa dựng nên sự sáng, ngày thứ hai Chúa dựng nên bầu trời. Hôm nay chúng ta học về ngày thứ ba Chúa dựng nên quả đất; ngày thứ tư Chúa dựng nên mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao.

I. NGÀY THỨ BA: ĐỨC CHÚA TRỜI DỰNG NÊN QUẢ ĐẤT (c.9-13).

Bấy giờ, nước tràn ngập mặt đất như một cơn lụt lớn. Nếu để vậy thì không loài nào sống được, vì thế Chúa đã ra lệnh: “Những nước ở dưới trời phải tụ lại một nơi và phải có chỗ khô cạn bày ra, thì có như vậy”. Một trật tự hẳn hoi hiển hiện: Đất và biển. Chúa thấy điều đó là tốt lành.

Nước là nhu cầu quan trọng của mọi loài sống. Nước nặng hơn không khí 800 lần. Song khi sức nóng của mặt trời làm cho nước biển bốc thành hơi, thì nó lại nhẹ hơn không khí. Nước biển bốc hơi bỏ muối lại, bằng không khi mưa xuống, cây cối sẽ chết hết.

Khi mặt trời chiếu ánh sáng xuống biển, cộng với sức mạnh của những cơn gió, hàng vạn tấn nước bốc lên không trung dưới dạng hơi. Khi hơi nước ấy bay lên thành mây thì nhờ khí lạnh làm cho đông lại để chờ lúc đổ xuống thành mưa.

Chúa hỏi: “Ai đã lấy lòng bàn tay mà lường biển, lấy gang tay mà đo các từng trời? Ai đã lấy đấu mà đong bụi đất? Ai đã dùng cân mà cân núi và dùng thăng bằng mà cân gò?” (Ê-sai 40:12). Chính Chúa chúng ta đã lường biển, đo trời, đong bụi, cân núi nên Ngài đã dựng nên địa cầu gồm 29% đất và 71% nước. Nếu người nào được quyền làm nên đất và nước, người đó chắc sẽ làm đất nhiều hơn số lượng hiện có. Ngày nay, các khoa học gia đồng rằng tỷ lệ đất và nước hiện có trên mặt địa cầu là rất đúng, nếu khác hơn thì không loài nào trên đất sống được, vì không đủ nước.

Khoa học cũng cho chúng ta biết rằng kích thước của quả đất như hiện có là rất thích hợp cho sự sống của chúng ta. Nếu quả đất nhỏ hơn hoặc lớn hơn thì không một sinh vật nào tồn tại được. Theo Bách Khoa tự điển Anh, đường kính của quả đất khoảng 8.000 dặm. Nếu quả đất lớn hơn, có đường kính 9.000 dặm, nó sẽ bị lụt; còn nếu nhỏ hơn, có đường kính 7.200 dặm thì sẽ bị lạnh cóng. Tóm lại, kích thước của quả đất nếu chỉ lớn hơn hoặc nhỏ hơn 10%, thì sự sống sẽ bị tiêu diệt ngay.

Khi lạnh, chúng ta muốn gần lửa, khi nóng chúng ta muốn có quạt. Đó là chúng ta muốn sống trong một nhiệt độ trung bình, không nóng quá, không lạnh quá. Vì thế Chúa đặt mặt trời cách xa quả đất 93 triệu dặm để ban cho chúng ta nhiệt độ đó. Vì Chúa dựng nên quả đất để con người ở nên Ngài đã chuẩn bị mọi sự.

Nếu mặt đất khô khan chỉ có đá như những dãy núi hoặc chỉ có cát như những sa mạc thì con người không thể sống. Vì thế Chúa bảo quả đất phải sanh rau, cỏ, cây. Rau, cỏ có hột giống, cây có trái, trái có hột tùy theo loại. Ta thường hỏi hột giống có trước hay cỏ cây có trước? Trứng gà có trước hay con gà có trước? Theo cách Chúa đã dựng nên: Rau, cỏ, cây có trước, rồi do đó có hạt giống sau. Con gà có trước rồi sanh ra quả trứng gà (Sáng 1:11-12; 2:19).

Trên quả đất có vô số thứ rau, cỏ, cây trái. Không một người nào có thể ăn đủ mọi thứ rau, cỏ, cây trái. Mọi thứ đó có nhiều mùi vị, nhiều màu sắc, nhiều hình dáng. Trước khi chúng ta được sanh ra, Chúa biết hết mọi nhu cầu của chúng ta nên Ngài đã sắm sẵn cả. Vậy mỗi chúng ta có thể nói: “Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi, tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì” (Thi Thiên 23:1).

II. NGÀY THỨ TƯ: ĐỨC CHÚA TRỜI DỰNG NÊN MẶT TRỜI, MẶT TRĂNG VÀ CÁC NGÔI SAO.

Để phân biệt sáng tối, ngày và đêm, và thời tiết, Chúa dựng nên các vì sáng lớn rồi đặt trên khoảng không. Bấy giờ có mùa nóng và mùa lạnh, mùa mưa và mùa nắng, mùa gieo và mùa gặt.

Mặt trời lớn hơn quả đất một triệu ba trăm ngàn lần. Có những ngôi sao còn lớn hơn mặt trời hàng triệu lần nữa. Bầu trời có hàng tỷ tỷ ngôi sao không ai có thể đếm được. Chúa hứa ban cho dòng dõi Áp-ra-ham đông như các ngôi sao trên trời (Sáng 15:5). Kế đó, Chúa còn so sánh dòng dõi của ông như cát bờ biển (Sáng 22:17). Sao trên trời và cát bờ biển là vô số không ai có thể đếm được.

Các ngôi sao nhiều như vậy mà cũng lớn quá sức tưởng tượng của chúng ta. Có ngôi sao đường kính 240 triệu dặm. Không những lớn như vậy mà giữa ngôi sao này với ngôi sao kia còn cách nhau rất xa. Mặt trời cách xa quả đất 93 triệu dặm đã là xa quá rồi, nhưng sao Pluto cách xa mặt trời 7 tỷ 350 triệu dặm. Vì xa quá nên người ta phải đo khoảng cách đó bằng tốc độ của ánh sáng. Mỗi giây ánh sáng đi 300 ngàn cây số. Song có những ngôi sao cách nhau từ 30 đến 40 ngàn năm ánh sáng. Trước không gian vô cùng tận, khả năng hiểu biết của con người bị chìm mất.

Bây giờ, chúng ta dò xem Kinh Thánh để biết Chúa muốn dùng mọi sự đó dạy gì cho chúng ta. Cảm bởi Thánh Linh, Đa-vít viết: “Vì hễ các từng trời cao hơn đất bao nhiêu, thì sự nhân từ Ngài càng lớn cho kẻ nào kính sợ Ngài bấy nhiêu” (Thi Thiên 103:11). Đa-vít muốn nói rằng không gian vô cùng tận như vậy mà tình thương, sự nhân từ của Chúa còn cao lớn hơn.

Chúa phán: “Ý tưởng Ta chẳng phải ý tưởng các ngươi, đường lối các ngươi chẳng phải đường lối Ta. Vì các từng trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối Ta cao hơn đường lối các ngươi, ý tưởng Ta cao hơn ý tưởng các ngươi cũng bấy nhiêu” (Ê-sai 55:8-9). Chúa muốn nói rằng ý tưởng của chúng ta thấp kém biết bao! Đường lối chúng ta vụng về biết bao! Song đường lối và ý tưởng của Chúa bao giờ cũng nhằm đem lại lợi ích cho chúng ta, dầu chúng ta không hiểu biết đường lối và ý tưởng của Ngài.

“Ngài đếm số các vì sao, gọi từng tên hết thảy các vì ấy” (Thi Thiên 147:4). “Hãy ngước mắt lên cao mà xem: Ai đã tạo những sự này? Ấy là Đấng khiến các cơ binh ra theo số nó, và đặt tên hết thảy, chẳng một vật nào thiếu, vì sức mạnh Ngài lớn lắm và quyền năng Ngài rất cao” (Ê-sai 40:26). Ngài đã đếm các vì sao trên trời, Ngài cũng đếm các hột cát nơi bờ biển. Ngài cũng đếm những sợi tóc trên đầu chúng ta và đếm dân số trên thế giới. Ngài biết tên của mỗi vì sao thì Ngài cũng biết tên của mỗi chúng ta. Ngài biết địa vị, biết sức khỏe, biết nhu cầu, biết tình trạng gia đình, biết tình trạng thuộc linh của chúng ta hơn người mẹ biết các con của mình. Ngài biết như vậy để thương yêu, chăm sóc chúng ta.

Vậy, thử hỏi nhu cầu của chúng ta bao nhiêu mà Chúa không thể cung cấp? Sự nguy hiểm của chúng ta đến mức nào mà chúng ta sợ Chúa không thể giải cứu? Tất cả mọi sự đó là nhỏ mọn quá cho Ngài. Chúa hiểu biết mọi sự đó và cũng dự bị mọi sự đó cho chúng ta từ khi dựng nên trời đất và muôn vật. Chúng ta hãy hết lòng tin cậy và phó thác đời sống mình cho Chúa, triệt để vâng phục Ngài, hầu Ngài có thể thực hiện mọi việc thật tốt lành trong chúng ta như Ngài đã làm trong vũ trụ.

CÂU HỎI

1. Trong ngày thứ nhất và thứ hai, Chúa đã dựng nên những gì?

2. Chúa dựng nên những gì trong ngày thứ ba và thứ tư?

3. Chúa đã làm gì để địa cầu có đất và biển?

4. Vì sao nước chiếm đến 71 phần trăm diện tích mặt địa cầu?

5. Vì sao chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời đã ban cho địa cầu một độ lớn thích hợp?

6. Trong ngày thứ ba, Chúa ban cho con người những thứ gì để làm lương thực?

7. Chúa dựng nên mặt trời, mặt trăng để làm gì?

8. Chúa dùng sự bao la của bầu trời để dạy chúng ta điều gì?

9. Kinh Thánh chép: “Ngài đếm các vì sao, gọi từng tên hết thảy các vì ấy”. Điều này dạy chúng ta những gì?

10. Chúa chúng ta kỳ diệu như vậy, chúng ta phải sống thế nào để đẹp ý Chúa và tôn vinh Ngài?

BÀI 6. SỰ SÁNG TẠO MUÔNG THÚ VÀ LOÀI NGƯỜI

KINH THÁNH: Sáng thế ký 1:20-31.

CÂU GỐC: “Đức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình Ta và theo tượng Ta” (Sáng Thế Ký 1:26).

MỤC ĐÍCH: Trình bày Đức Chúa Trời đã dựng nên loài người giống như Ngài và hà hơi sống của chính Ngài trên con người để ban cho họ sự sống.

ĐỌC KINH THÁNH HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ ban sự sống

(Giăng 10:10).

TH:

Đức Chúa Trời thuật lại sự sáng tạo cho Môi-se

(Sáng 1:20-31; 2:1-7).

TB:

Gióp tin điều đó

(Gióp 12:7-10; 33:4).

TT:

Đa-vít tin điều đó

(Thi thiên 8 và 100).

TN:

Các tiên tri tin điều đó

(Ê-sai 45:12; Giê-rê-mi 51:15-19).

TS:

Các môn đồ tin điều đó

(Giăng 1:1-4).

TB:

Phao-lô tin điều đó

(Công 17:24-31; ICôr 8:6).

Hôm nay chúng ta tiếp tục học về công cuộc sáng tạo của Đức Chúa Trời trong hai ngày cuối cùng là ngày thứ năm và ngày thứ sáu.

I. NGÀY THỨ NĂM: ĐỨC CHÚA TRỜI DỰNG NÊN CÁ VÀ CHIM (c.20-23).

1. Chúa dựng nên các sinh vật sống dưới nước.

Ngài dựng nên vô số loại cá vừa đẹp đẽ, vừa lạ lùng, loại ở ngoài sâu, loại ở trong cạn, loại rất lớn như cá voi, cá mập, cá sấu, loại rất nhỏ như tôm, tép, loại ở biển, loại ở sông. Chúa truyền lịnh cho chúng phải sanh sản thêm nhiều. Cá là một thức ăn rất ngon của loài người.

2. Chúa dựng nên các loại chim bay trên khoảng không.

Theo Bách Khoa Tự Điển Anh ngữ, thì có từ 10.000 đến 12.000 loại chim. Tác giả quyển “Loài Chim Và Loài Ong” đã viết: “Xương của chim là một cơ cấu chất xốp như bọt biển, chứa đầy không khí khi chúng thở. Có nhiều lỗ hổng trong bộ xương của chim vẫn liên lạc với buồng phổi của chúng. Nhưng bộ xương đó không vì thế mà bị yếu đi, bởi vì những khúc xương nhẹ và rỗng của chim vốn được củng cố bằng những cái sườn rất giống với những kỹ thuật cơ khí tân tiến”.

Một con chim thật ra là một phi cơ sống động. Nó cũng sử dụng phần lớn cùng một thứ trang bị cơ giới, như đôi cánh với tác dụng của hai cánh quạt, phần trang bị để định hướng, cả đến những đường khía để hở cho không khí thoát đi trong những cái đập cánh để bay lên hay đáp xuống.

Bất cứ một nhà điểu loại học nào cũng có thể nói rằng cánh chim vốn được chế tạo một cách công phu và tinh vi. Nó có khả năng tự điều chỉnh, dường như được điều khiển bằng một máy điều chỉnh điện tử hay một máy điện toán biết phản ứng chỉ trong một phần ngàn giây đồng hồ vậy.

Chim là những sinh vật di chuyển nhanh nhất trên địa cầu của chúng ta. Chim ưng có thể phóng vào con mồi của nó tới tốc độ 180 dặm một giờ mà vẫn hoàn toàn điều khiển được tốc lực. Chim phụng hoàng Phi châu có thể tấn công với tốc độ trung bình 100 dặm một giờ rồi dừng hẳn lại bằng cách xòe cánh và đuôi ra để thắng lại trong một khoảng cách 6 mét.

a. Mắt của chim.

Khi một con chim bắt mồi, đôi mắt của nó thấy rõ mục tiêu từ xa. Một mí mắt thứ ba có thể đưa đẩy, tới lui trên tròng mắt như cái quạt lau nước trên kính gió xe hơi, giữ cho mắt khỏi bị bụi hoặc các vật khác bám vào.

b. Mỏ của chim.

Mỗi loại chim có mỏ thích ứng với các nhu cầu thực phẩm của chúng. Loại chim ăn sò ốc có chiếc mỏ thật cứng có thể mổ vỡ các vỏ sò. Diều hâu, cú mèo, phụng hoàng có mỏ quặm để xé con mồi ra từng mảnh. Loại chim ăn xác chết như kên kên cũng có mỏ quặm nhưng lại mềm hơn, vì xác chết dễ xé. Loại chim ăn sâu bọ, côn trùng trong các bộng cây đều có mỏ dài và thẳng để đục khoét. Loại ngỗng và vịt có mỏ như cái muỗng, thích ứng cho việc sục sạo tìm thức ăn dưới đáy các ao hồ.

c. Cách chim làm tổ.

Chim giòng giọc dùng những sợi lấy ra từ lá cây và làm tổ. Nó dùng hàng ngàn cử động của chiếc mỏ như cái thoi dệt để luồn qua, thắt nút, đan đủ kiểu. Tổ của chúng là một công trình tinh xảo đến nỗi có thể đem treo trên một nhánh cây lâu năm mà các vật liệu không hề sút.. Loại én làm tổ bằng cách nén nước miếng của chúng trong các hốc đá. Nước miếng có keo đó được chế tạo trong miệng chúng.

d. Khả năng viễn du của chim.

Chim có thể di chuyển trên những lộ trình rất xa dù chưa đi qua lần nào và không đem theo thức ăn, địa bàn hay bản đồ chi cả. Có một loại sáo vàng bay từ Canada xuống Nam Mỹ mà không hề ngưng cánh. Có một giống sẻ nhỏ mỗi năm đều du hành từ Phi châu đến Băng Đảo (Iceland) theo một lộ trình nhất định. Một giống chim nhỏ xíu làm tổ tại Canada rồi bay trở về Brazil (Nam Mỹ), cách xa 4.000 dặm.

Ai dựng nên các loài chim kỳ điệu đó? Chúa Jêsus phán: “Hãy xem loài chim trời: Chẳng có gieo, gặt, cũng chẳng có thâu trữ vào kho tàng, mà Cha các ngươi trên trời nuôi nó. Các ngươi há chẳng phải là quý trọng hơn loài chim sao??? Hai con chim sẻ há chẳng từng bị bán một đồng tiền sao? Và ví không theo ý muốn của Cha các ngươi, thì chẳng hề môt con nào rơi xuống đất. Tóc trên đầu các ngươi cũng đã đếm hết rồi. Vậy, đừng sợ chi hết, vì các ngươi quý trọng hơn nhiều con chim sẻ” (Ma-thi-ơ 6:26; 10:29-31).

II. NGÀY THỨ SÁU: ĐỨC CHÚA TRỜI DỰNG NÊN SÚC VẬT VÀ LOÀI NGƯỜI (c.24-31).

1. Súc vật.

Súc vật gồm có nhiều loại: Như trâu, bò, rắn, rùa, voi, cọp… Truyện tích sáng tạo lặp lại 10 lần các chữ “tùy theo loại”. Cây cỏ sanh ra tùy theo loại, chim cá sanh ra tùy theo loại, gia súc, côn trùng, thú rừng sanh ra tùy theo loại.

2. Loài người.

Chúa dựng nên loài người đặc biệt hơn cách Ngài dựng nên cây cỏ, cá, chim, muông thú trên đất. Ba Ngôi Đức Chúa Trời đã thảo luận và quyết định dựng nên loài người như hình Ngài và theo tượng Ngài, tức là giống như Ngài trong sự công bình và thánh khiết để được giao thông cùng Ngài (Ê-phê-sô 4:24). Đức Chúa Trời không thể giao thông với bất cứ loài nào ngoài ra loài người. Vì vậy, loài người là tuyệt điểm và là vương miện trong công tác sáng tạo của Ngài.

Chúa đã dựng nên loài người không những để họ giao thông với Ngài, mà cũng để giao phó cho họ một trách nhiệm đặc biệt là quản trị muôn vật mà Ngài vừa làm nên. Loài người có một địa vị cao quý, được phú bẩm những khả năng và đặc tánh diệu kỳ mà không có loài nào sánh kịp. Vì thế, khi loài người sa ngã, sấp mình thờ lạy điểu, thú, côn trùng hoặc hình tượng vô tri bằng gỗ, đá, bạc, vàng là tự làm nhục mình và làm nhục Đấng Tạo Hóa mình.

Chúa lấy đất nắn nên hình người, hà sinh khí vào lỗ mũi thì người trở nên một loài sanh linh (Sáng 2:7). Nếu con chim do Chúa phán ra mà nó còn kỳ diệu như ta biết đó, phương chi con người do Chúa nắn nên và hà sanh khí vào lỗ mũi thì thân thể chúng ta còn kỳ diệu là dường nào! Thân thể chúng ta là một vũ trụ thu nhỏ, chứa đựng vô số kỳ quan. Chắc Đức Chúa Trời đã dự bị Ngôi Thứ Hai sẽ lấy hình người hiện ra trong trần gian, nên Ngài đã dựng nên con người tuyệt đẹp. Chúa Jêsus vốn có một thân thể như chúng ta, song vô tội và đã được biến hóa sau khi sống lại rồi về trời. Một ngày không xa, Chúa chúng ta sẽ trở lại, khi ấy thân thể của chúng ta được sống lại, được biến hóa như thân thể của Chúa (Phi-líp 3:20-21). Chúng ta phải nức lòng cảm tạ Chúa về thân thể của mình (IGiăng 3:2).

Vậy, đừng bao giờ xem thường thân thể này mà hủy hoại nó trong tội lỗi. Phao-lô khuyên: “Anh em há chẳng biết thân thể mình là chi thể của Đấng Christ sao? Hãy tránh sự dâm dục (gian dâm). Mặc dầu người ta phạm tội gì, tội ấy còn ngoài thân thể, song nếu buông mình vào sự gian dâm thì phạm đến chính thân thể mình. Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em…sao?” (ICôr 6:15,18-20).

Chúa dựng nên người nam và người nữ (A-đam và Eva). Chúa thiết lập hôn nhân cho họ, ban phước cho họ và muốn họ sống chung thủy trong hôn nhân: “Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất… Vả, hơi sống của Đức Chúa Trời dầu có dư dật, chỉ làm nên một người mà thôi. Nhưng vì sao chỉ làm nên một người? Ấy là vì tìm một dòng dõi thánh. Vậy, các ngươi khá cẩn thận trong tâm thần mình, chớ đãi cách phỉnh dối với vợ mình lấy lúc tuổi trẻ” (Sáng 2:18-24, Ma-la-chi 2:15).

CÂU HỎI

1. Chúa dựng nên vô số loài cá để làm gì?

2. Loài chim có những đặc điểm nào?

3. Chúa dựng nên loài chim để dạy dỗ chúng ta điều gì?

4. Tại sao truyện tích sáng tạo lặp lại 10 lần chữ “tùy theo loại”?

5. Cách Chúa dựng nên loài người có gì đặc biệt hơn các loài vật khác?

6. Chúa dựng nên loài người như hình Ngài và theo tượng Ngài, điều đó có nghĩa gì?

7. Vì sao loài người thờ lạy hình tượng là tự làm nhục mình và làm nhục Đấng Tạo Hóa?

8. Tại sao chúng ta không nên xem thường thân thể mình?

9. Tại sao Chúa dựng nên một nam và một nữ?

BÀI 7. TỘI LỖI ĐẦU TIÊN

KINH THÁNH: Sáng thế ký 2:8-17; 3:1-6.

CÂU GỐC: “Vì tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta” (Rô-ma 6:23).

MỤC ĐÍCH: Trình bày rằng tội lỗi phát xuất từ hành động bất tuân và hậu quả của tội lỗi thật đáng ghê sợ.

ĐỌC KINH THÁNH HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ ban sự sống đời đời

(Giăng 10:28).

TH:

Tội lỗi của A-đam và Ê-va

(Sáng 2:8-17; 3:1-6).

TB:

Phước hạnh bị mất

(Thi 16:11; 65:4; Châm 10:22).

TT:

Sa-tan là căn nguyên của tội lỗi

(Ês 14:12-14; Êx 28:13-19).

TN:

Hậu quả của tội lỗi

(Ê-sai 48:22; Ga-la-ti 6:7).

TS:

Hành phạt dành cho tội lỗi

(Ê-xê-chi-ên 18:4; Rô-ma 5:12).

TB:

Phương thuốc chữa trị tội lỗi

(IGiăng 1:1-9; II Cô 5:19).

Trước đây một thế kỷ, người ta cho rằng tội lỗi là do thất học. Nếu mọi người đều được học hành, mạnh khỏe, cơm no, áo ấm, thì tội lỗi không còn nữa.

Kinh nghiệm cho chúng ta thấy rằng, ngày nay người ta văn minh, sống đầy đủ tiện nghi, thuốc men dồi dào, đã lên được cung trăng và sắp lên Hỏa tinh, song đi đôi với các việc đó, tội lỗi cứ gia tăng, lòng người càng bại hoại. Sau hai trận thế giới đại chiến (1914-1918 và 1939-1945) người ta đang sợ trận thế giới đại chiến thứ ba.

Thiết tưởng không có gì rõ ràng hơn là sự hiện diện của tội lỗi. Dưới nhiều hình thức khác nhau, tội lỗi lan tràn khắp chốn, ở trong lòng mọi người. Nếu người ta ở được trên cung trăng, thì cung trăng cũng sẽ đầy dẫy tội lỗi như tại trần gian này vậy.

Hôm nay chúng ta học về căn nguyên của tội lỗi và sự xâm nhập của tội lỗi vào trong thế gian.

I. CĂN NGUYÊN CỦA TỘI LỖI.

Tội lỗi là một sự mầu nhiệm (IITê 2:7). Hơn nữa, tội lỗi không bắt đầu dưới đất mà bắt đầu ở trên trời, xảy ra giữa các nhân vật quan trọng là thiên sứ (II Phi-e-rơ 2:4).

Thiên sứ là những nhân vật có thân vị, có thể chất vô hình, nhưng họ cũng có thể hiện ra cho chúng ta thấy được (Dân 22:23; I Sử 21:20; Công 12:7-10).

Thiên sứ có quyền năng (Ê-sai 37:36; Thi Thiên 103:20; II Phi-e-rơ 2:11; II Tê 1:7).

Thiên sứ là sứ giả của Chúa, được Ngài sai thi hành công tác (ICác 19:5-7; Lu-ca 1:11-20,26-38; 2:9-12).

Thiên sứ được xem là trọn vẹn (Ê-xê-chi-ên 28:11-15). Trọn vẹn đây không có nghĩa là không thể phạm tội mà chỉ có nghĩa là chưa hề phạm tội, song có tự do, có trách nhiệm, thì có khả năng phạm tội.

Tham muốn và kiêu căng phát sinh trong thiên sứ (Ê-sai 14:12-15). Dầu thiên sứ chưa hành động, song đã có âm mưu, quyết đem mình lên bằng Đức Chúa Trời. Năm lần nó nói: “Ta sẽ”. Thấy rõ như vậy, Đức Chúa Trời liền đuổi vị thiên sứ đó khỏi thiên đàng và nó kéo một số thiên sứ theo mình (Giu-đe 6). Từ đó, vị thiên sứ này trở thành ma quỉ với cái tên là Sa-tan (Gióp 1:2, Xa-cha-ri 3:1; Ma-thi-ơ 4:10; Công 5:3; Khải 12:9; 20:2-3,7). Sa-tan có nghĩa là kẻ thù vì nó luôn luôn thù nghịch với Đức Chúa Trời và Hội Thánh Ngài. Sa-tan là tội phạm thứ nhất trong vũ trụ, còn A-đam là tội phạm thứ nhất trong loài người (IGiăng 3:8). Tội lỗi vào trong vũ trụ bởi một thiên sứ, tội lỗi vào trong thế gian bởi A-đam (Rô-ma 5:12).

Kinh Thánh dùng nhiều từ để mô tả tội lỗi như: Thất bại, sai lầm, ngu dại, gian ác, quá phạm, bất pháp, bất công, vô tín. Tội lỗi không những là một hành động mà cũng là một thái độ. Đức Chúa Trời thấy thái độ, còn con người chỉ thấy hành động. Thái độ là gốc rễ, còn hành động là bông trái. Thái độ đi trước, hành động theo sau.

II. TỘI LỖI CỦA A-ĐAM VÀ Ê-VA.

Chắc chắn Chúa yêu quý ông bà này lắm, nên Ngài đã lập một cảnh vườn tuyệt đẹp, rồi đặt ông bà ở đó. Vườn này được gọi là vườn Ê-đen, có nghĩa là vui thích. Trong vườn có đủ loại cây đẹp mắt và trái thì ăn ngon. Trong số các cây đó có hai cây mọc ở giữa vườn, một là cây sự sống, hai là cây biết điều thiện và điều ác.

Để bảo đảm cho vườn tươi tốt luôn, Chúa đã chuẩn bị bốn con sông tưới nó là Bisôn, Ghihôn, Hiđêke và Ơphơrát. Không có gì sung sướng bằng được ở trong một khu vườn như vậy, Chúa lo liệu cho loài người thật chu đáo. Trước khi dựng nên loài người, Chúa đã dựng nên trời, đất, cỏ, cây, chim, cá, súc vật, côn trùng, thú rừng, cuối cùng, Ngài lập cho họ một lạc viên.

Trong Ê-đen, A-đam và Ê-va chỉ trồng và giữ vườn. Đó không phải là một công việc cực nhọc, bèn là một công việc để tiêu khiển, thể thao. Đồng thời Đức Chúa Trời ban cho một mạng lịnh: “Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn; nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn, chắc sẽ chết” (2:16-17). Tự do thật là tự do có giới hạn, tự do trong trật tự chứ không phải tự do phóng túng. Người dân được tự do đi đường, song phải đi bên tay phải, phải dừng lại khi đèn đỏ, chớ không phải bừa bãi lung tung.

Chúa cho loài người được tự do ăn bất cứ một hoa quả nào trong vườn, vì có đủ hết. Song chỉ hạn chế một cây là cây biết điều thiện và điều ác. Đây không phải là một lời ngăm dọa hay một lời thách đố, bèn là một cấm lịnh rất nghiêm trọng, nếu bất tuân chắc sẽ chết. A-đam và Ê-va có tinh thần đạo đức, có tri thức đầy đủ, hiểu rõ quyền lợi và trách nhiệm của mình: Chúa muốn họ vâng lời.

Chúng ta thấy rõ mối tương giao mật thiết giữa Đức Chúa Trời và loài người, hai bên trò chuyện với nhau. Họ nghe được tiếng Chúa, hiểu được ý Ngài đối với họ. Cuộc sống hạnh phúc nhất của loài người lúc bấy giờ là được tương giao với Đấng dựng nên mình bởi tình thương vô hạn của Ngài.

Từ khi bị đuổi khỏi thiên đàng, Sa-tan thù ghét Đức Chúa Trời lắm, cố tìm mọi cách để phá hủy chương trình của Ngài. Nó đến với Ê-va và không hiện nguyên hình là một con quỉ, song mượn con rắn vì rắn tinh khôn hơn hết trong mọi loài vật (Ma-thi-ơ 10:16). Nếu Ê-va cẩn thận, bà có thể nhận diện được Sa-tan ngay. Vì không phải loài vật biết nói, nhưng rắn nói được là một hình tượng kỳ quái. Rất tiếc Ê-va không sử dụng khả năng để biết rõ mà cứ nghe con rắn nói.

Rắn đặt một câu hỏi với Ê-va: “Mà chi! Đức Chúa Trời há có phán dặn các ngươi không được phép ăn trái các cây trong vườn sao?” Nó dùng câu hỏi để gieo sự nghi ngờ, hoang mang vào lòng Ê-va. Nó muốn nói: “Đức Chúa Trời thật có phán dặn như vậy sao? Có lẽ bà đã hiểu sai hoặc quên rồi. Còn nếu thật Đức Chúa Trời có phán dặn như thế, thì Ngài không thương yêu bà”.

Gây hoang mang cho loài người, khiến họ nghi ngờ mạng lịnh của Chúa cùng tình thương của Ngài là công tác chuyên môn của ma quỉ. Hãy coi chừng khi nó mang lốt chiên hay thiên sứ, giả ân giả nghĩa như con rắn, hãy nhìn thẳng vào mặt nó mà trả lời: Hỡi Sa-tan, hãy lui ra!

Bị nhiễm độc, Ê-va bắt đầu nghi ngờ tình thương và mạng lịnh của Chúa nên bà thêm và bớt Lời của Ngài. Chúa bảo: “Chớ hề ăn đến”, bà thêm “cũng chẳng nên đá động đến”. Chúa bảo: “Một mai ngươi ăn, chắc sẽ chết”, bà bớt “e khi hai ngươi phải chết chăng”.

Hoài nghi sinh ra cay đắng (Hê-bơ-rơ 12:15), cay đắng dám thêm bớt Lời Chúa để được thích hiệp với ý mình (Ma-thi-ơ 5:18-19). Hoài nghi Lời Chúa và lòng nhân từ của Ngài là xúc phạm địa vị tôn nghiêm của Chúa, là phạm tội rất nặng.

Thấy Ê-va núng thế, lảo đảo như người bị thương, con rắn tấn công. Nó quả quyết: “Hai người chẳng chết đâu, nhưng Đức Chúa Trời biết rằng, hễ ngày nào hai ngươi ăn trái cây đó, mắt mình mở ra, sẽ như Đức Chúa Trời (các thần), biết điều thiện và điều ác”.

Ma quỉ dám cho Đức Chúa Trời nói dối, Ngài ích kỷ nên đã cấm ông bà như vậy. “Nó vốn là kẻ nói dối và là cha của sự nói dối” (Giăng 8:44). Nó muốn hủy phá đức tin của chúng ta đối với Chúa và Lời của Ngài.

Ê-va mừng quá, nhìn chòng chọc trái cấm, thấy bộ ăn ngon, đẹp mắt, lại mở trí khôn. Lòng tham lên đến tột độ, không còn giữ mình được, bà hái trái cấm ăn ngon lành.

Trước tình thương của Chúa mà công khai chống nghịch Ngài, bất tuân mạng lệnh Ngài là một tội rất nặng.

“Ma quỉ thương người, Đức Chúa Trời ghét người, ma quỉ giúp người, Đức Chúa Trời hại người, ma quỉ nói thật, Đức Chúa Trời nói dối”, đó chỉ là lý luận của kẻ phản bội, của thế gian, của xác thịt. Ma quỉ, các quỉ sứ nó và những kẻ theo nó sẽ phải ở nơi hồ lửa để chịu khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời vẫn còn là nhẹ quá đối với tội ác tày trời của họ.

CÂU HỎI

1. Trước đây một thế kỷ, người ta nghĩ thế nào về tội lỗi?

2. Bây giờ, chúng ta thấy thế nào về tội lỗi?

3. Ai gây nên tội lỗi đầu tiên?

4. Thiên sứ là ai?

5. Vị thiên sứ chống nghịch Chúa đã phạm tội như thế nào?

6. A-đam và Ê-va được Chúa yêu như thế nào?

7. Ma quỉ đã đến với Ê-va bằng hình thức nào?

8. Câu hỏi của ma quỉ có mục đích gì?

9. Tại sao Ê-va thêm bớt Lời Chúa?

10. Ma quỉ cho Đức Chúa Trời là Đấng thế nào?

BÀI 8. LỜI HỨA ĐẦU TIÊN VỀ MỘT CỨU CHÚA

KINH THÁNH: Sáng Thế Ký 3:1-24.

CÂU GỐC: “Ta sẽ làm cho mày cùng người nữ, dòng dõi mày cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mày, còn mày sẽ cắn gót chân người” (Sáng thế ký 3:15).

MỤC ĐÍCH: Cho biết rằng vì tội lỗi đầu tiên của A-đam nên hết thảy chúng ta đã trở thành tội nhân, và nhờ Chúa Jêsus Christ chúng ta được hòa lại với Đức Chúa Trời.

ĐỌC KINH THÁNH HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ là Cứu Chúa của chúng ta

(Ê-phê-sô 1:7).

TH:

Lời hứa về một Cứu Chúa

(Sáng 3:1-24).

TB:

Sa-tan làm cho con người sa đọa

(IICôr 4:4; 2:2-3).

TT:

Sa-tan bị trừng phạt

(Khải 12:7-12; 20:1-5).

TN:

Giá của sự cứu chuộc

(Ê-sai 53; Giăng 3:16).

TS:

Những kẻ tin được tôn vinh trong Đấng Christ

(Êph 2:1-9; Côl 1).

TB:

Kẻ tin được sự sống đời đời

(Khải 21:1-4; 22:1-5).

Đức Chúa Trời nhân từ biết bao! Sau khi A-đam và Ê-va phạm tội, Chúa cứ theo luật công bình mà quở trách, sửa trị, song đồng thời Ngài cũng chuẩn bị sự cứu rỗi cho ông bà và dòng dõi của họ.

I. LÝ DO CON NGƯỜI CẦN MỘT CỨU CHÚA.

Vì hậu quả của tội lỗi thật khủng khiếp quá sức tưởng tượng của chúng ta.

1. A-đam và Ê-va mất vinh quang của Chúa (c.7).

“Vả, A-đam và vợ cả hai đều trần truồng, mà chẳng hổ thẹn” (Sáng 2:25). Khi được dựng nên, Chúa mặc cho ông bà vinh quang của sự vô tội, hồn nhiên như con trẻ nên dầu trần truồng mà chẳng hổ thẹn. Khi đã phạm tội, mắt ông bà mở ra, biết mình trần truồng và hổ thẹn. Trước kia ông bà chỉ biết điều thiện, bây giờ “biết điều thiện và điều ác” (3:5). Chính điều ác làm cho ông bà hổ thẹn. Tội lỗi cướp mất và hủy diệt vẻ đẹp thánh khiết của con người. Không có gì đáng hổ thẹn bằng phạm tội. Khi đã phạm tội thì mất danh dự, mất thể thống, mất vinh hiển và trở nên trần truồng trước mặt Chúa. Cố gắng lắm cũng chỉ lấy lá vả đóng khố che thân.

2. A-đam và Ê-va mất sự tương giao với Chúa (c.8).

Phước hạnh lớn nhất của họ trước đó là được tương giao mật thiết với Chúa như cha với con. Song sau khi phạm tội, ông bà nghe Chúa đến thăm thì thay vì vui mừng, họ lại sợ hãi; thay vì tiếp đón Chúa, lại trốn tránh Ngài. Mất sự thông công với Chúa như địa cầu mất mặt trời, như thân người mất trái tim.

Chúa phán: “Một mai ngươi ăn, chắc sẽ chết” (2:17). Đó là sự chết thuộc linh tức là bị phân rẽ khỏi Chúa là nguồn của sự sống, của hạnh phúc. Tiếp theo là sự chết thuộc thể tức là thân thể bị phân rẽ khỏi linh hồn. Sáng Thế Ký có 8 lần lặp lại chữ “rồi qua đời”. “Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều đã phạm tội” (Rô-ma 5:12). Đó là cả sự chết thuộc linh lẫn thuộc thể.

3.A-đam và Ê-va bị Chúa thẩm vấn (c.9-13).

a.Chúa kêu A-đam:”Ngươi ở đâu?” (c.9-10).

A-đam trốn tránh. Chúa kêu, A-đam đáp trong run sợ: “Vì tôi lõa lồ”.

b.Chúa hỏi A-đam: “Ai chỉ cho ngươi biết mình lõa lồ?” (c.11).

Dầu Chúa đã biết hết mọi sự, song Ngài muốn A-đam xưng hết tội lỗi của mình ra, Chúa không bỏ ông, song tìm và cứu ông.

c. A-đam chối quanh (c.12).

Ông đổ lỗi cho Ê-va. Ông cũng gián tiếp đổ lỗi cho Đức Chúa Trời đã để một người đàn bà bên cạnh cám dỗ nên ông đã phạm tội.

d. Chúa hỏi Ê-va: “Tại sao ngươi lại làm điều đó?” (c.13).

Bà cũng chối quanh, đổ lỗi cho con rắn. Bà cũng muốn nói rằng chính con rắn mà Chúa đã dựng nên đã cám dỗ bà.

Tội lỗi không những làm cho con người mất hết danh dự, thể thống, vinh hiển mà đồng thời cũng mất hết nhân cách và trở nên sợ hãi, trốn tránh, hèn nhát, đổ lỗi, chối quanh, nhất là dám đổ lỗi cho Đức Chúa Trời. Ngày nay, loài người là dòng dõi của A-đam và Ê-va nên cũng nói năng và hành động như tổ phụ mình. Tuy nhiên, không phải nhờ đó mà con người thoát khỏi tội đâu.

4. A-đam và Ê-va bị Chúa kết án.

a. Ê-va chịu ba sự hình phạt (c.16).

(1) Phụ nữ tay yếu chân mềm, thân hình mảnh khảnh nên dễ mắc bệnh và đau đớn.

(2) Bị đau đớn trong cơn thai nghén và sanh đẻ.

(3) Mọi ước vọng của phụ nữ hướng về chồng nên bị chồng cai trị.

b. A-đam chịu ba sự hình phạt (c.17-19).

(1) Phải chịu khó nhọc lắm mới có vật đất sanh ra mà ăn.

(2) Người phạm tội, đất bị rủa sả lây nên thay vì sanh rau cỏ, cây trái, đất lại sinh ra gai gốc, cỏ dại.

(3) Đang khi làm, mồ hôi đổ đã đành mà đang khi ăn, mồ hôi cũng cứ đổ ra và cứ chịu khổ như vậy cho đến chết.

c. Ông bà bị đuổi ra khỏi vườn Ê-đen (c.22-24).

Vì đã phạm tội, loài người không xứng đáng ở trong vườn Ê-đen, ăn trái cây của sự sống mà phải bị đuổi ra khỏi đó để cày cấy. Hơn nữa, Chúa đặt tại cửa vườn các thần chêrubin, cấm loài người đến cây sự sống.

Khung cảnh hạnh phúc trong vườn Ê-đen không còn nữa! Con người mất vui vẻ, bình an, tự do; chỉ còn lại cay đắng, phiền muộn đau đớn triền miên trong kiếp sống.

Các hình phạt đó làm cho ông bà và cả dòng dõi nhớ luôn rằng ma quỉ xảo trá là dường nào! Mạng lịnh của Chúa nghiêm trọng là dường nào! “Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ và thành thực, ban ơn đến ngàn đời, xá điều gian ác, tội trọng, và tội lỗi; nhưng chẳng kể kẻ có tội là vô tội, và nhân tội tổ phụ phạt đến con cháu trải ba bốn đời” (Xuất 34:6-7).

II. NỘI DUNG LỜI HỨA VỀ MỘT CỨU CHÚA (c.14-15).

1. Chúa phạt con rắn (c.14).

Con rắn đã làm công cụ cho ma quỉ đến cám dỗ Ê-va, nên án nó rất nặng là bị rủa sả trong vòng các loài súc vật. Rắn là con vật gớm ghiếc (Lê 11:41-42). Vẻ đẹp của rắn là vẻ đẹp đáng sợ, bày tỏ sự quỉ quyệt của nó. Con rắn không những phải bò bằng bụng mà còn phải liếm bụi đất cả đời (Mi-chê 7:17). Cả hai hành động đó nói lên nó là hạng súc vật hèn hạ hơn hết. Rắn là cây gươm trong tay kẻ ác, bây giờ cây gươm phải bị bẻ gãy và ném đi. Nhìn con rắn, chúng ta được một bài học là đừng làm công cụ cho ma quỉ.

2. Chúa ban lời hứa cho dòng dõi người nữ (c.15).

Qua con rắn, Chúa nói với ma quỉ: Ma quỉ cám dỗ người nữ nên dòng dõi người nữ nghịch thù cùng dòng dõi ma quỉ. Có một người sẽ là dòng dõi của người nữ. Người sẽ giày đạp ma quỉ như giày đạp đầu con rắn, và rắn cắn gót chân người. Đây là một lời hứa trước nhất về Đấng Cứu Thế sẽ ra từ dòng dõi người nữ và được ứng nghiệm trong Chúa Jêsus (Ê-sai 7:14; 9:5). Chỉ có Ngài là dòng dõi người nữ và chính Ngài là Đấng Cứu Thế đã giày đạp Sa-tan dưới chân khi Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá và sống lại (Hê-bơ-rơ 2:14-15). Ngài sẽ còn giày đạp Sa-tan dưới chân của chúng ta (Rô-ma 15:20).

III. TƯỢNG TRƯNG THỨ NHẤT VỀ CỨU CHÚA (c.20-21).

A-đam và Ê-va chắc đã vất vả lắm vì phải đóng khố bằng lá vả, nhọc nhằn mà chẳng được lâu dài, sự trần truồng lại lộ ra. Chúa động lòng thương xót, lấy da thú kết thành áo dài và mặc cho ông bà. Da thú đã chắc chắn, lại được Chúa làm thành áo dài, thì đẹp đẽ hơn khố bằng lá vả biết bao.

Qua việc đó, Chúa dạy cho A-đam, Ê-va một bài học. Trên phương diện đạo đức, sự cố gắng tối đa của ông bà chỉ như chiếc áo bằng lá vả trước mặt Đức Chúa Trời, hay như một chiếc áo bẩn (Ê-sai 64:6). Muốn có chiếc áo bằng da thú, vừa chắc chắn vừa đẹp đẽ, một con thú phải chịu giết, huyết nó đổ ra đền tội cho ông bà. Một Cứu Chúa vô tội sẽ chịu chết như vậy để đền tội cho ông bà và dòng dõi nối theo. Do đó ông bà đã dạy lại cho Ca-in và A-bên về sự dâng của lễ bằng chiên con.

Ngày nay chúng ta không còn dâng của lễ bằng chiên con làm tượng trưng cho Cứu Chúa, vì Ngài đã đến trần gian, đã chịu chết trên thập tự giá như cái chết của một chiên con để chuộc tội cho chúng ta. Ai tin Ngài sẽ được tha thứ, tức là không còn trần truồng, cũng không còn mặc một chiếc áo dơ bằng lá vả, mà được mặc lấy áo công bình của Chúa Jêsus ban, như áo cưới của chàng rể và cô dâu vậy (Ê-sai 61:10).

CÂU HỎI

1. Sau khi phạm tội, A-đam và Ê-va bị mất những gì?

2. Chúa thi hành bản án: “Một mai ngươi ăn, chắc sẽ chết” như thế nào?

3. Trong cuộc thẩm vấn, A-đam trả lời thế nào với Chúa?

4. Trong cuộc thẩm vấn, Ê-va trả lời thế nào với Chúa?

5. Ba hình phạt Ê-va phải chịu là gì?

6. Ba hình phạt A-đam phải chịu là gì?

7. Hình phạt chung của ông bà là gì?

8. Chúa phạt con rắn thế nào?

9. Đức Chúa Trời hứa thế nào về một Cứu Chúa?

10. Vì sao ngày nay chúng ta không còn dâng của lễ bằng chiên cho Đức Chúa Trời?

BÀI 9. CA-IN VÀ A-BÊN

KINH THÁNH: Sáng Thế Ký 4:1-16.

CÂU GỐC: “Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi” (Giăng 1:29).

MỤC ĐÍCH: Trình bày tội lỗi đã gia tăng và bành trướng như thế nào và Đức Chúa Trời đã sai Con Một của Ngài giáng thế chịu chết đền tội mà chiên con của A-bên đã làm tượng trưng cho.

ĐỌC KINH THÁNH HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ là Chiên Con của Đức Chúa Trời

(Giăng 1:29).

TH:

A-bên bị Ca-in ghét

(IGiăng 3:11-16).

TB:

A-bên bị Ca-in giết

(Sáng 4:1-16).

TT:

Tín đồ bị thế gian ghét

(Ma-thi-ơ 5:11-12; Giăng 15:20-21; 17:14).

TN:

Sự giải thoát nhờ huyết

(Xuất 12:1-13).

TS:

Sự cứu chuộc nhờ Chiên Con của Đức Chúa Trời

(Hê-bơ-rơ 10:11-14).

TB:

Sự cứu chuộc bởi ân điển

(Rô-ma 3:22-27; Ê-phê-sô 2:8-10).

Tội lỗi đã vào trong A-đam và Ê-va làm bại hoại bản tính vô tội và hồn nhiên của ông bà. Ông bà sinh con cái, họ hưởng thụ bản tính bại hoại đó. Vì vậy Ca-in đã giết A-bên.

I. CA-IN VÀ A-BÊN DÂNG TẾ LỄ (c.1-7).

Lần thứ nhất Ê-va thọ thai và sanh một trai. Bà rất vui mừng tạ ơn Chúa, vì hi vọng con trai đó sẽ giày đạp đầu con rắn. Song khi thấy tính tình bại hoại của Ca-in, bà thất vọng, nên khi sanh A-bên, bà không nói gì cả. Khi lớn lên, A-bên chăn chiên còn Ca-in làm ruộng.

Chúa đã dạy A-đam, A-đam đã dạy các con mình phải dâng tế lễ bằng huyết để được Chúa đẹp lòng và tha tội cho. Song khi đến kỳ dâng tế lễ, Ca-in dâng thổ sản, còn A-bên dâng chiên đầu lòng cùng mỡ nó. Chúa nhậm lễ vật của A-bên và ban phước cho người. Ngài không nhậm lễ vật của Ca-in và cũng không ban phước cho người. A-bên đã tin đến Đấng Cứu Thế sẽ chịu chết đền tội cho mình mà chiên con làm tượng trưng, còn Ca-in thì không (Hê-bơ-rơ 11:4). Ca-in là người đầu tiên đề xướng một tôn giáo nhờ sức riêng mình chớ không nhờ Đấng Cứu Thế. A-bên làm mọi sự với tấm lòng, Ca-in làm mọi sự với bàn tay. Vì vậy, A-bên vui vẻ và bình an, còn Ca-in giận căm gan. Với thái độ đó, lòng ông như một quả bom sắp nổ.

Chúa hỏi Ca-in: “Cớ sao ngươi giận?” Giận như vậy có chính đáng không? Chúa giận mới phải chứ! Vì ông đã không vâng lời Ngài. Chúa hỏi thêm: “Cớ sao nét mặt gằm xuống?” Gằm mặt xuống là không còn muốn thấy ai, không còn muốn nghe ai, xem mọi người là kẻ thù. Chúa hỏi tiếp: “Nếu ngươi làm lành, há chẳng ngước mặt lên sao?” Nếu ngươi thật muốn dâng cho ta một tế lễ được ta đẹp lòng nhậm lấy, ban phước cho ngươi, chỉ cần ngước mặt lên. Thiết tưởng nếu Ca-in ngước mặt lên sẽ thấy Chúa sắm sẵn một con chiên để ông làm tế lễ cho Ngài như Áp-ra-ham vậy (Sáng 22:13). Chúa cảnh cáo: “Còn nếu ngươi chẳng làm lành, thì tội lỗi rình đợi trước cửa, thèm ngươi lắm”. Tội lỗi được Chúa hình dung như một con ác thú thèm mồi đang rình mò trước cửa. Nếu Ca-in không vâng lời thì nguy cơ không thể tránh. Chúa tiếp: “Nhưng ngươi phải quản trị nó”. Trong khi còn có cơ hội, phải tránh xa tội lỗi, nhờ vâng lời Chúa mà đắc thắng nó.

Tiếc thay! Ca-in quá cứng lòng, cứ căm giận và gằm mặt xuống, chẳng buồn đáp một lời với Chúa. Ôi, Chúa nhân từ, thương xót, khoan nhân biết bao! Song lòng người thật gian ác. Chúa muốn cứu rỗi, con người muốn tự sát (Ê-xê-chi-ên 33:11).

II. CA-IN GIẾT A-BÊN (c.8).

Ca-in nói chuyện cùng em mình, như không có gì xảy ra hết. Song trong lòng đã mưu giết em. Có lẽ Ca-in rủ em ra đồng vì một việc gì đó, rồi đang khi A-bên không ngờ. Ca-in tấn công chớp nhoáng và giết chết em mình. Ghê thay lòng ganh tị, bực tức, báo thù! Tâm lòng đó quên tình cốt nhục, làm mờ lý trí, giết chết lương tâm, chỉ muốn được đã giận. Tội lỗi đã lan tràn và phát triển mau lẹ một cách khủng khiếp.

III. CHÚA THẨM VẤN CA-IN (c.9).

Chúa thẩm vấn để mở đường cho Ca-in ăn năn: “A-bên, em ngươi ở đâu?” Câu hỏi gợi lên tình huynh đệ, nhắc cho Ca-in nhớ rằng người mà ông đã nỡ lòng giết chết đó là em mình. Đáng lẽ Ca-in bật khóc dầm dề, nhưng ông lại cứng cỏi, gắt gỏng, hỏi ngược lại Chúa để phủ nhận cuộc thẩm vấn: “Tôi là người giữ em tôi sao?” Ông muốn nói rằng ông không có trách nhiệm, không hay biết gì cả.

Tội lỗi đã vào đời sống thì tình nghĩa vợ chồng bị sứt mẻ, A-đam tố cáo vợ là Ê-va. Tội lỗi đã vào gia đình thì cốt nhục tương tàn, Ca-in giết em là A-bên. Hãy coi chừng tội lỗi, dầu một tội xem như rất tầm thường là ganh tị, ganh tị với kẻ được phước hơn mình, với kẻ được trọng dụng hơn mình, với kẻ làm em mà lại tốt hơn mình. Phạm tội rất dễ, song ăn năn khó vô cùng. Tội lỗi làm cho lòng người cứng cỏi đến độ chai lì, không còn tình nghĩa tự nhiên, không còn lòng thương xót, giết người đã là một tội nặng, song giết em mình còn nặng hơn biết bao! Nhẫn tâm đến độ giết em mình thì có thể giết bất cứ ai.

IV. HẬU QUẢ CỦA VIỆC CA-IN GIẾT CHẾT A-BÊN (c.10-16).

Dầu lòng Ca-in cứng như đá, lạnh như tiền, cũng không chối tội được, vì Chúa biết hết mọi sự.

Câu 10: Người mang hình ảnh của Chúa, nên giết người là phạm đến Chúa. Sự sống của người rất quý, sự sống đó ở trong máu, nên làm đổ máu là phá hủy sự sống. Chính máu oan đó kêu thấu đến Chúa. Không những trực tiếp giết người vô cớ là tội, song vô tình bỏ mặc cho người chết cũng là tội, và Chúa đòi máu họ nơi tay chúng ta (Ê-xê-chi-ên 3:18; 33:6). Kẻ ác xem mạng người quá rẻ, Đức Chúa Trời xem mạng người rất đắt (Thi Thiên 116:15). Chúa phải can thiệp, vì Ngài là Đấng báo thù huyết (Thi Thiên 9:12).

Câu 11-12: Đất bị ô uế vì hút máu của A-bên, nên đất rủa sả Ca-in, không chịu sanh hoa lợi cho ông nữa, mặc dầu ông cố gắng canh tác. Nếu chúng ta làm ác và bị rủa sả thì công trình vĩ đại của chúng ta, sự tận tâm, tận lực của chúng ta sẽ hoàn toàn bị sụp đổ như “dã tràng xe cát biển đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì”. Bàn tay đẫm máu là bàn tay bị rủa sả, bàn tay đó đặt đến đâu gây sự rủa sả đến đó (Ê-sai 1:15; 59:3).

Ca-in phải lưu lạc và trốn tránh trên mặt đất, không tìm được chỗ dung thân, phải lang thang, rày đây mai đó. Vì ai muốn làm bạn với một kẻ tàn nhẫn giết em mình? Ông sợ mọi người và trốn tránh mọi người.

Câu 13-14: Bấy giờ, Ca-in không còn bướng bỉnh mà nói lời vô lễ với Chúa như trước, song kêu la vì sợ hãi: “Sự hình phạt tôi nặng quá, mang không nổi”. Rất tiếc, ông không thấy tội lỗi ông nặng quá, mà chỉ thấy sự hình phạt ông nặng quá. Tâm lý của tội nhân thường không ghê gớm tội lỗi mình đã phạm, mà chỉ sợ hãi hình phạt mình phải mang. Nếu phạm tội mà không bị hình phạt thì người ta sẽ dốc đổ lòng gian ác của mình như nước lũ. Khi trong xứ có luật pháp bảo đảm, ai cũng nói mình không gian dâm, không cướp của, không giết người. Song khi có loạn lạc mà kẻ ác không bị pháp luật trừng trị thì người ta tha hồ hãm hiếp, cướp của giết người.

Ngoài ra, khi Ca-in bị đuổi khỏi vùng đất có thể cày cấy để đến một nơi khô cằn nào đó thì ông cũng chưa được an thân, vì ông sợ có người gặp ông sẽ giết ông đi. Một con người đã hành động tàn bạo, bất công, bây giờ sợ người ta cũng hành động tàn bạo bất công đối với mình, nên gặp ai cũng sợ, lúc nào cũng sợ, nơi nào cũng sợ (Châm 13:15). Bấy giờ con cái do A-đam sanh ra đông đúc lần, bởi ông sống đến 930 tuổi.

Câu 15-16. Dầu Ca-in phạm tội nặng dường ấy, Chúa rất nhân từ, không muốn ông chết ngay, song muốn cho ông có dịp ăn năn, vì thế Chúa đã đánh dấu trên Ca-in và truyền lịnh để ai gặp Ca-in thì không giết. Ông được sống an ổn ở xứ Nót. Ngày nay người ta cũng phạm tội như Ca-in và hơn nữa, song Ngài vẫn cho họ còn sống để chờ đợi họ ăn năn, nếu không ăn năn, chắc chắn sẽ bị hình phạt (Lu-ca 13:1-5).

Về sau, Kinh Thánh thường nhắc lại Ca-in để cảnh cáo chúng ta (IGiăng 3:12; Giu-đe 11), và nhắc lại A-bên để khích lệ chúng ta (Hê-bơ-rơ 11:4). Đời sống tin cậy và vâng lời là đời sống đáng theo, đời sống vô tín và bất tuân là đời sống đáng tránh. Chỉ có tin đến Cứu Chúa là Chiên Con của Đức Chúa Trời chịu chết, chúng ta mới được cứu rỗi.

CÂU HỎI

1. Tại sao A-bên dâng tế lễ bằng chiên con?

2. Tại sao Ca-in dâng tế lễ bằng thổ sản?

3. Tại sao Chúa nhận tế lễ của người này mà không nhận tế lễ của người kia?

4. Thái độ của Ca-in thế nào?

5. Chúa hỏi Ca-in luôn ba câu hỏi để làm gì?

6. Ca-in giết A-bên trong trường hợp nào?

7. Chúa thẩm vấn Ca-in như thế nào?

8. Ca-in giết em vì lý do gì?

9. Chúa kết án Ca-in thế nào?

10. Chúa nhân từ đã làm gì cho Ca-in?

BÀI 10. NÔ-Ê ĐÓNG TÀU

KINH THÁNH: Sáng Thế Ký đoạn 6 và đoạn 7.

CÂU GỐC: “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy, không bị hư mất mà được sự sống đời đời” (Giăng 3:16).

MỤC ĐÍCH: Chứng tỏ rằng trong Đấng Christ có sự an toàn duy nhất cho chúng ta. Nếu chúng ta vâng lời Chúa như Nô-ê, thì chúng ta sẽ không bị hư mất mà được sự sống đời đời.

ĐỌC KINH THÁNH HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ là nơi an toàn

(Giăng 10:29).

TH:

Tội lỗi đem lại sự đoán phạt

(Sáng 6:25-7:5; Mat 24:37-42).

TB:

Sự vâng phục đem lại hạnh phúc

(Sáng 6:9,22; Khải 22:14).

TT:

Đức tin đem lại an toàn

(Châm 29:25; Hê-bơ-rơ 11:6-7).

TN:

Nghe mà không làm

(Lu-ca 6:47-48; Rô-ma 2:13).

TS:

Công việc lành tôn vinh Chúa (

Ma-thi-ơ 5:16; I Phi-e-rơ 2:12).

TB:

Sự chế giễu đem đến sự hư mất

(II Phi-e-rơ 3:3-7).

Tội lỗi làm cho loài người bại hoại (Sáng 6:1-7). Nô-ê là dòng dõi của Sết. Dòng dõi đó được gọi là “các con trai của Đức Chúa Trời”. Còn “con gái loài người tốt đẹp” là dòng dõi Ca-in. Đến đời Nô-ê, cả hai dòng dõi công bình và gian ác pha lẫn với nhau vì nhan sắc của người nữ. Về sau Sam-sôn cũng làm như vậy: “Xin cha hãy cưới nàng đó cho con, vì nó đẹp mắt con” (Các quan xét 14:3). Pha lẫn những gì thuộc về Đức Chúa Trời với những gì thuộc về thế gian là phá hủy sự thánh khiết, làm cho bại hoại cực điểm…

Vì vậy, “Đức Giê-hô-va thấy sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều, và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn”. Ngài rất buồn. Không có gì làm cho Chúa buồn bằng khi thấy con cái Ngài phạm tội. Bấy giờ, Ngài phải hành động một cách thích đáng là báo ứng cho mỗi người tùy việc họ làm bằng cách là rửa sạch thế gian bằng một cơn đại hồng thủy mà thời hạn là 120 năm nữa.

I. NÔ-Ê LÀ NGƯỜI CÔNG BÌNH (6:8-10).

“Nhưng Nô-ê được ơn trước mặt Đức Giê-hô-va”. Dầu thế gian đã hoàn toàn bại hoại, nhưng Nô-ê không giống như họ, mà ngược lại, ông sống đẹp lòng Chúa.

Nô-ê là một người công bình và trọn vẹn trong thời đại mình. Ông được kể là công bình vì cớ lòng tin cậy và vâng lời Chúa giữa một thế giới vô tín và bất tuân (Hê-bơ-rơ 11:7-8). Ông được kể là người trọn vẹn vì đồng đi với Chúa chứ không đồng đi với những người đồng thời với mình (Sáng 17:1). Đức tin của Nô-ê làm cho ông trở nên con người can đảm phi thường. Ông và gia đình vỏn vẹn tám người, dám đi với Đức Chúa Trời giữa một thế giới lìa bỏ Ngài mà theo con đường riêng của họ. Cả gia đình Nô-ê đều được cứu. Trong một thế giới mà ai nấy chỉ lo ăn uống, cưới gả, Nô-ê giữ được các con mình trong đường đạo đức là việc hy hữu. Không phải ông dùng uy quyền của kẻ làm cha để bắt buộc con cái mình phải ăn ở cách xứng đáng, song đời sống đức tin mạnh mẽ của ông đến Đức Chúa Trời đã có ảnh hưởng sâu xa trên con cái của ông, thậm chí họ muốn sống như ông. Đây là một người tin, cả nhà được cứu (Công vụ 16:31), nhưng không có nghĩa cha tin là con đương nhiên được cứu đâu, mà ảnh hưởng của người tin khiến cho cả nhà chịu cảm động cũng tin để được cứu. Các bậc phụ huynh nghĩ thế nào về ảnh hưởng của mình trên gia đình?

II. NÔ-Ê ĐÓNG TÀU THEO SỰ CHỈ DẪN CỦA CHÚA (6:11-22).

Vì cớ sự bại hoại của loài người đã đến cực điểm, nên Đức Chúa Trời đã quyết định hủy diệt loài người và mọi loài xác thịt có hơi thở trên mặt đất bằng cơn đại hồng thủy. Mọi loài đã được dựng nên vì loài người, nên khi hủy diệt loài người thì Ngài cũng hủy diệt luôn mọi loài.

Để cứu gia đình Nô-ê và một số súc vật lưu giống, Đức Chúa Trời đã bảo Nô-ê đóng một chiếc tàu, trét chai cả trong lẫn ngoài. Đây không phải là một chiếc tàu, kỳ thật là một cái thúng to lớn, hay là một cái nhà nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Tàu dài 137m16, ngang 22m86, cao 13m71. Tàu có ba tầng, một cửa sổ bên trên và một cửa bên hông để ra vào.

Ngay trong đời Ca-in, loài người đã biết chăn nuôi súc vật, biết đánh đàn thổi sáo, biết rèn các loại khí giới bằng đồng, bằng sắt. Đến đời Nô-ê, ông biết đóng một chiếc tàu lớn mà ngày nay người ta phải công nhận là tàu có sức trọng tải khá cao và chịu được sóng gió.

Suốt thời gian 120 năm, gia đình ông tập trung của cải, thì giờ, sức lực vào một công việc là đóng tàu và giảng đạo. Công tác đó không được ai hoan nghinh hay hưởng ứng mà hết thảy đều cho ông là người điên cuồng, mê tín. Chắc có nhiều người đã hỏi ông: Tại sao không đóng tàu nơi bờ biển mà lại trên đất liền, rồi làm sao đẩy xuống nước cho được? Chắc ông đã giải thích cho họ về chương trình của Đức Chúa Trời là sẽ hủy diệt thế giới bằng một cơn đại hồng thủy, và ông tha thiết khuyên nài họ hiệp tác với ông trong việc đóng tàu. Chắc họ đã bỉu môi, lắc đầu, rùn vai và không tiếc lời công kích, chế nhạo ông. Nhưng Nô-ê cứ làm một việc là đóng tàu, cứ nói một điều là nước lụt. Ông nói thế nào, ông làm thế ấy, nếu không tin lời ông nói, hãy tin vào việc ông làm. Nô-ê là con người đạo đức, trí thức, nhận định phải trái, lập trường vững chải. Người như thế đáng gọi là con cái, là vĩ nhân của Đức Chúa Trời chí cao.

III. NÔ-Ê VÀ GIA ĐÌNH ĐƯỢC GIẢI CỨU BỞI CON TÀU (7:1-24).

Chúa phán cùng Nô-ê: “Ngươi và cả nhà ngươi hãy vào tàu”. Thật là một mạng lịnh khẩn cấp và quan trọng. Tuân hành thì sống, bất tuân thì chết. Muốn được cứu khỏi cơn nước lụt con người chỉ có một con đường là vào tàu. Hôm nay thử hỏi: Ông đã vào tàu chưa? Bà đã vào tàu chưa? Các con ông bà đang ở đâu? Ai chưa vào tàu, hãy mau vào, còn sót ai, hãy kêu họ vào. Rất tiếc, nhiều gia đình chưa trọn vẹn, song các bậc phụ huynh vẫn hững hờ, bỏ mặc cho ai đi đường nấy. Hãy mau mau vào tàu cứu rỗi Jêsus!

“Vì còn bảy ngày nữa”, chỉ bảy ngày thôi. Nô-ê và cả gia đình bận rộn suốt ngày, nào lo thức ăn cho người và cho các loài súc vật trong tàu, nào là đem vào tàu các loài súc vật, có đực có cái, có trống có mái, mỗi loài một cặp, mỗi loài thanh sạch bảy cặp. Tất cả các loài ấy, Nô-ê không cần đi tìm đây đó, vì Chúa đã chỉ thị cho chúng nó đến cùng ông (7:9). Thời gian rất ngắn ngủi, công việc rất quan trọng, Nô-ê và gia đình đã tận tâm tận lực thực hiện trọn vẹn “mọi điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn mình” (6:22; 7:5,9). Nô-ê nghe rõ tiếng Chúa, biết rõ ý Ngài, tin cậy hoàn toàn, vâng lời trọn vẹn.

Chúng ta làm gì trong những ngày cuối cùng của thời đại ân điển? Đem cả nhà về cùng Chúa vẫn chưa đủ, chúng ta hãy đem nhiều người khác nữa. Ngày Chúa đã gần lắm rồi mà vô số người còn đang bơ vơ, lạc lõng. Như Nô-ê, chúng ta hãy tập trung nỗ lực, thì giờ, của cải vào công tác truyền giảng Tin Lành. Đó là công tác quan trọng hơn cả. Chúng ta hãy bận rộn suốt ngày, suốt tháng, suốt năm về công tác này. Cứu được một người từ địa ngục đến thiên đàng thì dầu bận rộn, tốn kém đến đâu cũng không hối tiếc.

Sau khi Nô-ê và cả gia đình đã vào tàu cùng các loài súc vật với đầy đủ lương thực nhằm năm Nô-ê 600 tuổi, thì Đức Chúa Trời đóng cửa tàu lại (7:16). Cơn hủy diệt khủng khiếp, không tiền khoáng hậu bắt đầu. Mưa đổ xuống như trút luôn 40 ngày đêm, ngập đồng ruộng, ngập nhà cửa, ngập đồi núi, các ngọn núi cao nhất đều ngập 15 thước, ngập trọn 150 ngày. Mọi người không ngờ chi hết và bị cuốn mất trong dòng nước lũ. Toàn bộ sinh vật có hơi thở trong lỗ mũi đều chết, trừ ra loài cá. Đang khi nước mỗi lúc mỗi lên cao thì nâng hỏng chiếc tàu lên. Nô-ê với cả gia đình và mọi loài súc vật trong tàu đều bình an vô sự. Ở trong tàu, con chuột cũng được cứu như con voi, ở ngoài tàu con voi cũng chết như con chuột. Thiết tưởng trong cơn mưa, chắc có nhiều người đến gỏ cửa tàu xin Nô-ê mở cửa cho họ. Song Nô-ê đâu có làm chi được, ngoài ra nói: Trễ quá!

Bao nhiêu công trình đã bị hủy diệt, bao nhiêu người mong sống cũng không còn cơ hội. Đó là việc đã qua. Còn việc sẽ đến là bao nhiêu công trình đều để dành cho lửa (II Phi-e-rơ 3:7,10-11).

Nguyện Chúa thức tỉnh và khích lệ mỗi chúng ta.

CÂU HỎI

1. Lý do đưa nhân loại đến sự bại hoại cực điểm là gì?

2. Giữa thế giới bại hoại đó, Nô-ê là người thế nào?

3. Nô-ê làm thế nào giữ được các con khỏi thế giới bại hoại đó?

4. Khi Chúa định hủy diệt thế giới, thì Ngài bảo Nô-ê làm gì?

5. Hãy mô tả hình dáng và kích thước chiếc tàu?

6. Khi đã đóng tàu xong, Chúa bảo Nô-ê làm gì?

7. Trong bảy ngày, Nô-ê và gia đình đã làm gì? Và làm cách nào?

8. Hãy mô tả sự khủng khiếp của nước lụt.

9. Ngày nay, chúng ta muốn được cứu phải làm gì?

10. Chúng ta phải làm gì để mỗi người đều được vào tàu cứu rỗi Jêsus?

BÀI 11. ĐỨC CHÚA TRỜI BAN LỜI HỨA SAU CƠN LỤT

KINH THÁNH: Sáng Thế Ký 8:1-9:17.

CÂU GỐC: “Lời hứa mà chính Ngài đã hứa cùng chúng ta, ấy là sự sống đời đời” (IGiăng 2:25).

MỤC ĐÍCH: Giúp chúng ta hiểu và tin những lời hứa quý báu của Chúa.

ĐỌC KINH THÁNH HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ tôn trọng các lời hứa của Ngài

(Hê-bơ-rơ 13:8).

TH:

Lời hứa về cái mống của Đức Chúa Trời

(Sáng 8:20-9:17).

TB:

Lời hứa về sự đắc thắng

(Rô-ma 6:14; Giu-đe 24).

TT:

Lời hứa về sự bình an

(Thi 91:3-4; Giăng 10:28).

TN:

Lời hứa về phước hạnh

(Ma-thi-ơ 6:1-4; Phi-líp 4:6-7).

TS:

Lời hứa về sự nhậm lời cầu xin

(Ma-thi-ơ 7:7-8; Giăng 4:6-7).

TB:

Lời hứa về sự tái lâm

(Giăng 14:1-6).

Chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời đứng phía sau mọi biến cố xảy ra trên đất, cánh tay vô hình của Ngài điều khiển tất cả. Ngài điều khiển cơn lụt và mọi loài sống có hơi thở đều chết. Song Ngài bảo vệ chiếc tàu của Nô-ê để ban bình an trọn vẹn cho gia đình ông và các loài súc vật trong đó. Bấy giờ, Ngài nhớ lại Nô-ê, liền khiến nước lụt dừng lại và từ từ hạ xuống. Đó là một hành động vừa nhân từ vừa quyền năng, chứng tỏ Ngài có chìa khóa của trời và đất (7:11; 8:2). Chiếc tàu của Nô-ê đã tấp trên núi Ararát.

Trước hết Nô-ê mở cửa sổ trên tàu, nhưng không thấy rõ tình hình bên ngoài, ông liền thả một con quạ ra như một thám tử để dò la tin tức, song quạ mê mồi là những xác chết đầy khắp đó đây, nên nó không trở về với Nô-ê. Ông bèn thả một con bồ câu ra, song tính bồ câu khác hơn quạ, nó không tìm được chỗ đặt chân, lại gớm xác chết nên vội vàng trở về với Nô-ê. Ông biết xác người còn nhiều. Sau đó bảy ngày, Nô-ê lại thả bồ câu ra, đến chiều, nó trở về với ông, trong mỏ tha một lá ô-li-ve tươi. Nô-ê biết nước đã hạ nhiều, cây ô-li-ve bắt đầu nhô lên. Sau đó bảy ngày nữa, Nô-ê lại thả bồ câu ra, song lần này bồ câu không trở về. Nô-ê biết đất đã khô, các loài chim mong được ra khỏi tàu để bay đi đây đó.

Vậy nước lụt đã bao phủ mặt đất trọn một trăm năm mươi ngày, Nô-ê cùng với gia đình và các loài súc vật đã ở trong tàu từ ngày 17 tháng 2 năm 600 đến ngày 27 tháng 2 năm 601 đời Nô-ê (Sáng 7:11; 8:13-14).

I. ĐIỀU KIỆN TIẾP NHẬN LỜI HỨA (8:15-22).

1. Vâng lời Đức Chúa Trời.

Hơn một năm ở trong tàu, chắc Nô-ê kiên nhẫn chờ đợi ngày ra khỏi đó. Vì khi vào tàu, Chúa không cho biết khi nào thì ông được ra. Dầu vậy, ông không dám Vượt Qua mạng lịnh của Chúa mà hành động hoặc sớm hay muộn. Ông chỉ vào tàu khi Chúa bảo, ông chỉ ra khỏi tàu khi Chúa phán dặn. Ông vâng theo mạng lịnh của Chúa một cách tuyệt đối. Ông là người đồng đi cùng Đức Chúa Trời, thành tâm kính sợ Ngài, làm y lời Ngài đã phán dặn. Bởi sự vâng lời đó mà ông đã nhận được lời hứa của Đức Chúa Trời.

Khi chúng ta tin cậy Chúa và vâng lời Ngài như Nô-ê, thì đời sống chúng ta chắc chắn được phước. Chúa Jêsus đã học tập vâng lời trọn vẹn ngay trong nỗi khổ mà Ngài đã chịu, nên Ngài đã trở nên căn nguyên của sự cứu rỗi đời đời cho mọi kẻ vâng lời Ngài (Hê-bơ-rơ 5:8-9).

2. Thờ phượng Đức Chúa Trời.

Trước một tai nạn không tiền khoáng hậu mà Nô-ê và cả gia đình đều được bảo vệ an toàn, nên ông cảm kích tình thương kỳ diệu của Chúa. Nhìn cảnh hoang tàn của cơn đại hồng thủy, Nô-ê vừa rùng mình khiếp đảm, vừa vui mừng khôn xiết, chỉ còn biết cúi đầu thờ lạy với lòng thành của kẻ được sống sót trong muôn vật. Để bày tỏ tấm lòng cảm tạ sâu xa đó, Nô-ê lập một bàn thờ và dâng tế lễ lên Ngài bằng các con thú tinh sạch. Ông chưa dám nghĩ việc xây nhà, lập vườn, song nghĩ đến Đấng đã cứu mình. Ông thờ phượng Chúa trước hết và bởi hành động đó, ông được Chúa ban cho lời hứa quý báu (Ma-thi-ơ 6:33).

Ngày nay, chúng ta cũng chỉ là những tội nhân đáng chết đời đời trong hỏa ngục như những tội nhân trong đời Nô-ê, song Đức Chúa Trời đã nhờ Con Ngài thi hành công tác cứu chuộc trên thập tự giá như chiếc tàu Nô-ê cứu chuộc chúng ta. Số người được cứu so với số người bị hư mất là quá ít, song chúng ta được dự phần trong số ít đó như Nô-ê, thì chúng ta có vui mừng không? Chúng ta có cảm kích tình thương của Chúa đã hi sinh vì mình không? Chúng ta có bày tỏ lòng biết ơn sâu xa mà dâng mình cho Ngài không? (Rô-ma 12:1-2).

Chúng ta không thể làm gì để báo đáp cho cân xứng lòng nhân từ của Chúa. Ôi, xin đừng quên ơn Ngài!

II. NỘI DUNG LỜI HỨA (9:1-17).

Tay của Chúa đã làm thương tích, rồi tay của Chúa chữa lành. Khi phạm tội, Chúa rủa sả, khi ăn năn, Chúa ban phước. Sau cơn lụt Chúa ban những lời hứa rất quý, rất lớn.

1. Mùa màng, thời tiết vẫn còn nguyên (8:22).

Đức Chúa Trời vui nhận tế lễ của Nô-ê dâng lên Ngài. Để an ủi Nô-ê và dòng dõi của họ, Chúa hứa giữ nguyên vẹn mùa màng và thời tiết. Vì tai nạn khủng khiếp của cơn lụt làm cho ai nấy đều cảm thấy mọi sự đã sụp đổ, không còn gì như trước nữa, nên Chúa phải xác nhận để họ được vững lòng và vui sống.

2. Hãy sinh sản và thêm nhiều (9:1-2).

Vì loài người đã bị hủy diệt, nên kẻ sống sót đâm ra hoang mang, không biết Chúa còn muốn loài người đầy dẫy trên mặt đất như trước không (Sáng 1:28), nên Chúa đã ban phước cho Nô-ê và các con trai người và lặp lại mạng lịnh của Ngài là: “Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất và quản trị muôn vật”.

3. Được phép ăn thịt loài thú (9:3-7).

Cây trái, rau cỏ làm thức ăn đã đành mà loài thú cũng được dành làm thức ăn cho loài người. Loài thú được Đức Chúa Trời dựng nên vì loài người, cũng như cha mẹ sắm sẵn của cải cho con cái.

Song Chúa cấm ăn huyết của các loài thú. Chúa đã dạy cho A-đam và các con của ông dâng cho Ngài tế lễ bằng huyết. Nô-ê cũng đã dâng cho Ngài một tế lễ như vậy. Chúa cấm ăn huyết là để ai nấy ý thức giá trị chuộc tội của huyết. Huyết của các con sinh làm tượng trưng cho huyết Chúa Jêsus đổ ra vì nhân loại (Hê-bơ-rơ 9:12-14). Cấm lịnh ấy chấm dứt khi Chúa Jêsus đã chết trên thật tự giá và sống lại.

4. Chẳng bao giờ có nước lụt như đời Nô-ê nữa (9:8-17).

Nô-ê và các con ông có thể bị ám ảnh bởi cơn lụt vừa qua mà lúc nào cũng nơm nớp lo sợ về một cơn lụt sẽ đến, vì vậy Chúa đã ban một lời hứa, lập một giao ước với họ là: “Các loài xác thịt chẳng bao giờ lại bị nước lụt hủy diệt và cũng chẳng có nước lụt để hủy diệt nữa”.

Để bảo đảm cho giao ước đó, tức là làm cho loài người không còn sống trong sợ hãi mà được an ninh, Chúa đặt mống của Ngài trên các từng mây. Mỗi khi thấy mống đó, chúng ta biết rằng Chúa chẳng bao giờ hủy diệt thế gian bằng một cơn đại hồng thủy như đời Nô-ê, mà chỉ có những cơn lụt nhỏ từng địa phương để cảnh cáo loài người về việc ác của họ. Thật vậy, từ đời con cháu Nô-ê cho đến nay, không có cơn đại hồng thủy thứ hai, vì Chúa thành tín đời đời.

Qua các lời hứa của Chúa, chúng ta biết được sự nhân từ, thương xót của Ngài quá lớn lao đối với loài người (xin đọc Ca thương 3:22-23,32-33).

Đời xưa có cái mống, ngày nay không có dấu hiệu nào chứng minh một cách mạnh mẽ về tình thương vô đối, tuyệt vời của Chúa bằng dấu hiệu thập tự giá. Sứ đồ Giăng đã nói: “Này, sự yêu thương ở tại đây: Ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đã

yêu chúng ta và sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội chúng ta” (IGiăng 4:10). Hãy nhìn xem thập tự giá để thấy rõ ràng tình thương của Chúa đối với mình. Hơn nữa, mỗi lần dự tiệc thánh, Chúa muốn nhắc cho chúng ta giao ước mà Ngài lập với chúng ta và được đóng ấn bằng chính huyết của Ngài (Ma-thi-ơ 26:28; ICôr 11:25).

Đại hồng thủy đời Nô-ê là câu chuyện thật, được Kinh Thánh ghi chép đầy đủ, được khảo cổ học chứng minh qua các cuộc đào bới của họ. Chúa Jêsus đã xác nhận sự thật đó (Ma-thi-ơ 24:37-39), sứ đồ Phi-e-rơ cũng vậy (I Phi-e-rơ 3:20; II Phi-e-rơ 2:5).

Đời xưa, ở một xứ kia, có một người sống đạo đức chứ không bê tha như bao nhiêu người khác. Một người bạn bảo: “Mọi người đều gian ác, thì một mình anh đạo đức cũng chẳng thấm vào đâu”. Ông đáp: “Ông cha có mười con, nếu chín người bất hiếu, thì một người còn lại phải chí hiếu để bù cho chín người kia, hầu an ủi cha già!”

Nguyện chúng ta như Nô-ê giữa cõi đời tối tăm và gian ác này để luôn luôn đẹp lòng Chúa.

CÂU HỎI

1. Tại sao con quạ khi được thả ra lại không trở về với Nô-ê?

2. Tại sao bồ câu trở về với Nô-ê lần thứ nhất và lần thứ hai, nhưng không trở về lần thứ ba?

3. Nô-ê và gia đình ở trong tàu bao lâu?

4. Điều gì chứng tỏ Nô-ê vâng lời Chúa trọn vẹn?

5. Để tỏ lòng biết ơn Chúa cứu mình, Nô-ê làm gì?

6. Để an ủi Nô-ê và dòng dõi ông, Chúa đã ban những lời hứa nào?

7. Tại sao Chúa cấm ăn huyết?

8. Dấu hiệu nào bảo đảm sẽ không có nước lụt hủy diệt thế gian nữa?

9. Ngày nay, dấu hiệu nào chứng minh tình thương của Đức Chúa Trời đối với chúng ta?

10. Tại sao chúng ta biết truyện tích đại hồng thủy đời Nô-ê là thật?

BÀI 12. HAI ĐƯỜNG LỐI

KINH THÁNH: Sáng Thế Ký 11:1-9.

CÂU GỐC: “Có một con đường coi dường như chánh đáng cho loài người, nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết” (Châm 14:12).

MỤC ĐÍCH: Chứng tỏ sự không vâng lời Đức Chúa Trời đem lại hình phạt và sự vâng lời đem lại phước hạnh.

ĐỌC KINH THÁNH HẰNG NGÀY

CN:

Đường lối của Đấng Christ

(Giăng 14:6).

TH:

Sự bội nghịch cùng Đức Chúa Trời

(Sáng 11:1-9).

TB:

Sự toàn tri của Đức Chúa Trời

(Sáng 11:5-6; Thi thiên 139).

TT:

Sự hình phạt từ Đức Chúa Trời

(Sáng 11:7-9).

TN:

Phước hạnh nhờ sự vâng lời

(Phục 28:1-14).

TS:

Bị rủa sả vì không vâng lời

(Phục 28:15-19).

TB:

Thuốc chữa trị sự không vâng lời

(Ê-sai 53; Rô-ma 6:2-3).

Qua các bài học vừa rồi, chúng ta hẳn đã ý thức là sự vâng lời chiếm giữ một địa vị rất quan trọng trong đời sống của chúng ta. Vâng lời là nền tảng của sự giao thông với Đức Chúa Trời. Ngài đòi hỏi chúng ta phải vâng lời cách triệt để. Điều này không có nghĩa là Chúa độc tài, song vì Ngài biết hết mọi sự sẽ xảy ra trong tương lai, nên Ngài muốn chúng ta vâng lời để Ngài có thể làm mọi sự hầu đem đến cho chúng ta hạnh phước. Nô-ê và cả gia đình ông đều được cứu, và Chúa dùng ông để cứu các loài súc vật, chỉ vì ông vâng lời Chúa trọn vẹn. Vô số người hư mất chung quanh ông chỉ vì không vâng lời Chúa.

I. ĐƯỜNG LỐI CỦA LOÀI NGƯỜI ĐƯA ĐẾN SỰ RỦA SẢ.

1. ĐƯỜNG LỐI CỦA LOÀI NGƯỜI ĐƯA ĐẾN THẢM HỌA (c.1-4).

Đường lối của loài người là bất tuân. Sau khi ra khỏi tàu, ba con trai của Nô-ê bắt đầu sanh sản. Do ba người con đó mà có loài người cho đến ngày nay. Từ lúc A-đam cho đến bấy giờ, người ta chỉ có một thứ dân, cùng nói một thứ tiếng nên họ hiểu nhau rất dễ dàng. Họ đi tìm một nơi trù phú để lập nghiệp. Cuối cùng họ tìm được đồng bằng Si-nê-a, tại đó họ biết hầm gạch và dùng chai để xây cất. Đây là quyết định của họ: “Nào! Chúng ta hãy xây một cái thành và dựng lên một cái tháp, chót cao đến tận trời, ta hãy làm cho rạng danh, e khi phải tản lạc khắp trên mặt đất”.

Nhiều lần họ lặp lại chữ “chúng ta”, như chúng ta xây, chúng ta làm mà không hề nói đến Đức Chúa Trời. Họ loại bỏ Chúa ra khỏi chương trình, ra khỏi đời sống của họ, vì họ tưởng không cần đến Ngài, bàn tay và khối óc của họ có thể làm được mọi sự. Họ không biết rằng “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Chính Ngài đã phán: “Ngoài ta, các ngươi chẳng làm chi được” (Giăng 15:5), tức là con người không thể làm điều gì ích lợi và phước hạnh thật sự cho mình được. Nếu chúng ta cố gắng làm được thì chỉ mang họa vào mình như một đứa trẻ cãi cha mà trèo cây thì có ngày gãy tay, lội sông thì có ngày chết đuối. Chúng ta phải đặt chương trình của mình vào tay Chúa (Gia-cơ 4:13-15).

Không cần nhờ cậy Chúa, họ quyết định xây một cái tháp chót cao tận trời, họ muốn làm cho mình được rạng danh để trở nên trung tâm của quả đất. Họ không biết có Chúa mà chỉ biết có mình. Kiêu ngạo thật là nguy hiểm. Năm 605 T.C., Nê-bu-cát-nết-sa lên ngôi vua Ba-by-lôn. Ông rất giàu có, oai quyền nên cũng rất kiêu ngạo. Đang khi khoe khoang như dưới mắt mình không còn có ai, thình lình ông mắc bệnh điên, tưởng mình đã hóa ra con bò (Lycanthropie), nên ông bỏ ngôi vua chạy ra đồng ăn cỏ như bò suốt bảy năm (Đa-ni-ên 4:28-33). “Sự kiêu ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau, và tánh tự cao đi trước sự sa ngã” (Châm 16:18). “Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (I Phi-e-rơ 5:5).

Con cháu của Nô-ê quyết định tập trung lại một chỗ để khỏi tản mát khắp trên mặt đất. Họ làm như vậy để chống lại mạng lịnh của Chúa: “Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy trên mặt đất” (9:1). Chống lại mạng linh của Chúa là một hành động kém khôn ngoan, nó không đem lại phước hạnh cho mình mà chỉ có chuốc lấy tai họa. Song bản tánh bại hoại của loài người thường thích chống đối, chống đối cả Đấng tạo nên mình.

2. ĐƯỜNG LỐI CỦA LOÀI NGƯỜI ĐƯA ĐẾN HỖN LOẠN (c.5-9).

Đường lối của loài người đưa đến sự hỗn loạn. Khi loài người chỉ có một dân tộc, một thứ tiếng, thì cũng có một tư tưởng, một quan niệm, nên rất dễ cảm thông và đồng lòng hiệp ý cùng nhau. Song khi loài người hỗn loạn về tiếng nói, thì không thể hợp tác cùng nhau. Chúa có vô số đường lối khác nhau để phá hủy công việc gian ác của loài người một cách dễ dàng. Ngài không cần nước, không cần lửa, cũng chẳng cần sấm sét, nhưng thình lình mỗi người nói một thứ tiếng khác nhau, không ai hiểu ai. Thế là ai nấy bực tức, hổ thẹn, mỗi người đi mỗi nơi để sống. Kết quả là mọi người nói bằng hàng ngàn thứ tiếng và thổ ngữ khác nhau. Đó là một sự rủa sả mà cho đến ngày nay không ai có thể thống nhất tiếng nói của loài người.

Ban đầu Đức Chúa Trời tự khải thị cho loài người qua vũ trụ, lương tâm, và lịch sử. Lần lần loài người sa sút, thay vì thờ Đấng dựng nên vũ trụ, thì thờ vật, thờ người, thờ cả điểu, thú, côn trùng. Mặc dầu ai nấy đều biết Đức Chúa Trời mà không làm sáng danh Ngài và cũng không tạ ơn Ngài. Càng xa cách Đức Chúa Trời, loài người càng tối tăm và lầm lạc trong tư tưởng và quan niệm của mình.

* Người Hy Lạp nói: Người, hãy tự biết,

* Người La Mã nói: Người, hãy tự điều khiển,

* Người Trung Hoa nói: Người, hãy tự cải thiện,

* Người Bàlamôn giáo nói: Người, hãy tự hòa lẫn vào vạn vật.

* Người Hồi giáo nói: Người, hãy tự khuất phục.

* Nhưng Đấng Christ nói: “Ngoài ta, các ngươi chẳng làm chi được”.

* Còn trong Ngài, Cơ Đốc Nhân nói: “Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi” (Phi-líp 4:13)

Ngày nay, loài người vẫn cố gắng xây tháp Ba-bên, song không ai thành công vì không ai hiểu ai. Ông nói gà, bà nói vịt; kẻ nói hòa bình, người gây chiến tranh.

II. ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẤNG CHRIST ĐEM ĐẾN PHƯỚC HẠNH.

Đường lối của Đấng Christ không như đường lối của loài người. Đường lối loài người là chống đối Đức Chúa Trời, còn đường lối của Đấng Christ là “đem mọi dân ngoại đến sự vâng phục của đức tin vì danh Ngài” (Rô-ma 1:5; 15:18; 16:26). Bởi sự vâng phục đó, vô luận thuộc dân tộc nào, loài người đều có chung một Thánh Linh ngự trị trong lòng mình nên có thể cảm thông với nhau. Trong ngày Lễ Ngũ Tuần, có khoảng 15 dân tộc khác nhau họp lại tại Giê-ru-sa-lem, song họ đã nghe và hiểu được lời giảng của các sứ đồ về những sự cao trọng của Đức Chúa Trời (Công vụ 2:5-13). Đó là hình ảnh của một Hội Thánh gồm muôn dân trên thế giới sẽ một lòng, một ý, một tiếng nói mà cảm tạ và ca ngợi Chúa. Hội Thánh đó được sứ đồ Giăng mô tả như sau: “Sự ấy đoạn, tôi nhìn xem, thấy vô số người, không ai đếm được, bởi mọi nước, mọi chi phái, mọi dân tộc, mọi tiếng mà ra; chúng đứng trước ngôi và trước Chiên Con, mặc áo dài trắng, tay cầm nhành chà là, cất tiếng lớn kêu rằng: “Sự cứu rỗi thuộc về Đức Chúa Trời ta, là Đấng ngự trên ngôi, và thuộc về Chiên Con” (Khải huyền 7:9-10). Những người này cũng được ở trong một thành, không phải như thành và tháp Ba-bên, bèn là một thành có nền vững chắc mà Đức Chúa Trời đã xây cất và sáng lập (Hê-bơ-rơ 11:10). Đó là trời mới đất mới, là thành thánh, là Giê-ru-sa-lem từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống, rực rỡ vinh hiển của Đức Chúa Trời. Sự chói sáng của thành ấy giống như một viên bửu thạch, như bích ngọc trong suốt. Vẻ đẹp tuyệt vời của thành ấy không phải là thành toàn bằng ngọc mà là sự hiện diện của Chúa Ba Ngôi tại đó, và ai nấy sẽ cùng Chúa trị vì cho đến đời đời (Khải 21:22).

Hãy ra khỏi Ba-bên, cũng gọi là Ba-by-lôn (Khải 18:4). Hãy vào Giê-ru-sa-lem. Hãy từ bỏ đường lối của loài người mà bước sang đường lối của Đấng Christ, và chính Ngài là con đường. “Vì có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người, nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết”.

CÂU HỎI

1. Qua các bài học, chúng ta phải ý thức điều gì là quan trọng hơn cả?

2. Đường lối của loài người trong việc xây tháp Ba-bên là gì?

3. Tại sao sự kiêu ngạo đi trước thì sự bại hoại theo sau?

4. Đức Chúa Trời có độc tài khi Ngài đòi hỏi chúng ta phải triệt để vâng lời Ngài không?

5. Sự chống đối Đức Chúa Trời đưa đến kết quả gì?

6. Tại sao Chúa làm hỗn loạn tiếng nói của loài người?

7. Điều gì xảy ra khi tiếng nói trở nên lộn xộn?

8. Đường lối của Đấng Christ là gì?

9. Hội Thánh của Đấng Christ gồm có bao nhiêu thứ tiếng nói và bao nhiêu dân tộc?

10. Thành Ba-by-lôn và tháp Ba-bên khác hơn thành thánh Giê-ru-sa-lem thế nào?

BÀI 13. ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ THẾ GIỚI CỦA NGÀI

KINH THÁNH: Sáng Thế Ký 1; 4; 6:9 và 11.

CÂU GỐC: “Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài” (Giăng 1:3).

MỤC ĐÍCH: Nhấn mạnh các lẽ thật đã dạy trong ba tháng vừa qua (từ bài 1 đến bài 12).

I. BÀI 1: ĐẤNG CHRIST TRONG SUỐT KINH THÁNH (Lu-ca 24:27,44-47).

Toàn bộ Cựu Ước từ Ngũ Kinh của Môi-se đến các sách lịch sử, các sách văn thơ, các sách tiên tri đều dự ngôn về Đấng Cứu Thế giáng sinh, chịu chết, sống lại để cứu vớt nhân loại. Đó là chương trình vĩ đại của Đức Chúa Trời.

1. Cựu Ước: Sự cứu rỗi được chuẩn bị.

2. Bốn Sách Tin Lành: Sự cứu rỗi được thực hiện.

3. Công Vụ Các Sứ Đồ: Sự cứu rỗi được truyền giảng.

4. Các thơ tín: Sự cứu rỗi được giải thích.

5. Sách Khải huyền: Sự cứu rỗi được trọn vẹn.

II. BÀI 2: KINH THÁNH, LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (Ê-sai 30:8; II Ti-mô-thê 3:16).

Kinh Thánh có 66 quyển: Cựu Ước có 39 quyển và Tân Ước có 27 quyển. Cựu Ước được chép bằng chữ Hy-bá-lai, Tân Ước bằng chữ Hy-lạp. Cựu Ước chép xong 400 năm TC, và được dịch ra chữ Hy-lạp năm 200 TC, Tân Ước chép xong 100 năm SC. Ban đầu người ta đọc Kinh Thánh bằng chữ Hy-bá-lai hay Hy-lạp, sau Kinh Thánh được dịch ra hàng ngàn thứ tiếng, nên ai nấy được đọc Kinh Thánh bằng tiếng mẹ đẻ của mình.

Lời Đức Chúa Trời trường tồn và không bao giờ sai lầm. Kinh Thánh là tài sản quý giá hơn hết của loài người, là bức thơ mà Đức Chúa Trời gởi cho mỗi cá nhân chúng ta.

III. BÀI 3: CƠ ĐỐC NHÂN VỚI KINH THÁNH (Lu-ca 24:44-48; Phi-líp 4:13).

Đành rằng chúng ta có Kinh Thánh trong tay bằng tiếng mẹ đẻ, song chúng ta cũng không được phước nếu không hiểu. Vậy, phải đọc, suy gẫm và nghiên cứu Kinh Thánh. Đồng thời phải học thuộc lòng Kinh Thánh và xin Chúa dạy dỗ, nhắc lại những điều mình đã học. Tuy nhiên, điều trước hết và sau cùng là làm theo Kinh Thánh (Giô-suê 1:8).

IV. BÀI 4: SỰ SÁNG TẠO SỰ SÁNG VÀ KHOẢNG KHÔNG (Sáng Thế Ký 1:1-8; Giăng 1:1-14).

Chúng ta đã học về Lời Đức Chúa Trời, bây giờ chúng ta bắt đầu học về việc của Ngài trong thế gian.

Từ cõi hư vô, nghĩa là không có gì hết, Đức Chúa Trời toàn năng đã dựng nên trời, đất, muôn vật và loài người trong sáu ngày. Ngày thứ nhất, Chúa dựng nên sự sáng và Ngài thấy là tốt lành. Ngày thứ hai, Chúa dựng nên khoảng không cũng gọi là bầu trời. Bầu trời thật là lộng lẫy. Mọi sự đó bày tỏ quyền năng và ân điển của Chúa.

V. BÀI 5: SỰ SÁNG TẠO QUẢ ĐẤT, MẶT TRỜI, MẶT TRĂNG VÀ CÁC NGÔI SAO (Sáng Thế Ký 1:9-19).

Ngày thứ ba, Chúa dựng nên đất khô, tức là khiến nước tụ lại một nơi thành biển. Trên đất khô đó, Chúa ra lịnh cho nó phải sanh rau cỏ và cây trái đủ loại. Rau cỏ và cây trái làm cho mặt đất tốt đẹp và ích lợi vô cùng. Mấy ngàn năm qua, loài người vẫn thụ hưởng mà không hết.

Ngày thứ tư, Chúa dựng nên mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao để phân định ngày đêm, thời tiết, mùa nóng, mùa lạnh, mùa nắng, mùa mưa, mùa gieo, mùa gặt.

VI. BÀI 6: SỰ SÁNG TẠO MUÔNG THÚ VÀ LOÀI NGƯỜI (Sáng 1:20-31).

Ngày thứ năm, Chúa dựng nên cá chim đủ loại, mọi loài đều đẹp đẽ và ích lợi. Ngày thứ sáu, Chúa dựng nên súc vật và côn trùng.

Sau hết, Chúa dựng nên loài người: Một nam và một nữ theo hình và tượng Ngài để quản trị mọi loài, mọi vật mà Ngài đã dựng nên. Ngài ban phước cho loài người và bảo: “Hãy sanh sản thêm nhiều và làm cho đầy dẫy đất”. Chúa sắm sẵn mọi vật cho loài người, vì Chúa thấy loài người quý hơn hết. Chỉ một mình Chúa đáng cho loài người tôn thờ và phục vụ (Ma-thi-ơ 4:10).

VII. BÀI 7: TỘI LỖI ĐẦU TIÊN (Sáng Thế Ký 2:8-17;3:1-6).

A-đam và Ê-va đã sống vô cùng hạnh phúc trong vườn Ê-đen, kẻ thù là ma quỉ ganh tị, xui ông bà phạm tội. Tội lỗi đầu tiên là không vâng lời. Ông bà không vâng lời Chúa vì nghi ngờ tình thương của Ngài. Ông bà vâng lời ma quỉ vì tưởng nó thương mình. Tin chó sói thương yêu chiên con còn dễ hơn tin ma quỉ thương yêu loài người. Song xưa nay loài người đã sa vào sự lừa gạt của ma quỉ. Ngay như chúng ta là con cái Chúa còn mắc mưu của nó mà chưa dám hoàn toàn tin cậy và vâng lời Chúa. Chính vì đó, chúng ta chưa được hưởng ơn phước Chúa dành cho mình.

VIII. BÀI 8: LỜI HỨA ĐẦU TIÊN VỀ MỘT CỨU CHÚA (Sáng 3:1-24).

Ngay khi A-đam và Ê-va phạm tội, không vâng lời Chúa mà ăn trái cấm thì kết quả không phải như ma quỉ nói mà đúng như Chúa đã phán: Ông bà sợ hãi, hổ thẹn, đổ tội cho người khác, song không tránh khỏi sự hình phạt. Tuy nhiên, Chúa thương xót, ban lời hứa về một Đấng Cứu Thế sẽ giày đạp đầu kẻ thù là ma quỉ để giải phóng nhân loại. Cứu Chúa đó được mô tả như con chiên chịu giết để lấy da kết thành áo dài cho A-đam và Ê-va. Chúa Jêsus là con chiên đó, đã bị giết từ buổi sáng thế (Khải 13:8), hầu cho hễ ai tin nhận Ngài thì được cứu rỗi.

IX. BÀI 9: CA-IN VÀ A-BÊN (Sáng Thế Ký 4:1-16).

Đức Chúa Trời đã dạy A-đam về sự dâng tế lễ, A-đam đã dạy lại hai con mình là Ca-in và A-bên. Song đến kỳ dâng tế lễ, A-bên vâng lời, còn Ca-in thì không. Tế lễ của A-bên được Chúa nhậm và ban phước cho. Ca-in giận dữ, Đức Chúa Trời cảnh cáo, song Ca-in không thức tỉnh để ăn năn. Cuối cùng, Ca-in giết A-bên. Ca-in bị hình phạt. Luôn luôn kẻ ác ghét người công bình và giết đi (IGiăng 3:12). Tội lỗi thật ghê gớm và đáng sợ. Nếu đã phạm tội mà không ăn năn sẽ phạm tội thêm, tội chồng trên tội và sự hình phạt chồng trên sự hình phạt (Rô-ma 2:4-5).

X. BÀI 10: NÔ-Ê ĐÓNG TÀU (Sáng Thế Ký 6,7).

Loài người càng thêm nhiều bao nhiêu thì càng gian ác bấy nhiêu. Gian ác đến mức độ Đức Chúa Trời phải quyết định tận diệt họ và các loài súc vật bởi một cơn nước lụt. Song Nô-ê là người công bình, kính sợ Chúa, đồng đi với Ngài chứ không đi với người đồng thời. Con và dâu của ông bà cũng vậy. Chúa bảo họ đóng một chiếc tàu lớn để cứu cả nhà mình và các loài súc vật.

Sau 120 năm, chiếc tàu đã đóng xong mà không ai tin cậy Chúa và vâng lời Ngài như Nô-ê và gia đình ông. Cuối cùng, chỉ có tám người trong gia đình Nô-ê và một số súc vật vào tàu nên được cứu, còn bao nhiêu người khác cùng với súc vật ở ngoài tàu đều bị nước lụt cuốn đi hết.

Chúng ta hãy vào tàu cứu rỗi của Chúa Jêsus (Sáng Thế Ký 7:1; Công vụ 16:31).

XI. BÀI 11: ĐỨC CHÚA TRỜI BAN LỜI HỨA SAU CƠN LỤT (Sáng Thế Ký 8:1-9:17).

Nô-ê đã vâng lời Đức Chúa Trời mà vào tàu, rồi cũng vâng lời Đức Chúa Trời mà ra khỏi tàu. Ông dâng tế lễ cảm tạ Chúa. Song tai họa khủng khiếp đã qua còn ám ảnh tâm hồn của họ nên ai nấy nơm nớp lo sợ về một cơn đại hồng thủy như thế sẽ xảy ra. Chúa bèn hứa với họ sẽ không bao giờ có như vậy nữa. Để bảo đảm điều đó, Chúa đặt một cái mống trên mây, để khi thấy mống đó, nhân loại vững lòng.

Ngày nay, thập tự giá là dấu hiệu bảo đảm nhất về sự cứu rỗi cho con người thoát khỏi địa ngục mà vào thiên đàng. Hiện nay chẳng có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Chúa Jêsus (Rô-ma 8:1).

XII. BÀI 12: HAI ĐƯỜNG LỐI (Sáng Thế Ký 11:1-9).

Nhân loại thừa hưởng di sản của tổ phụ nên vẫn vô tín và bất tuân. Họ tập trung lại một nơi, quyết định xây một thành và một tháp để được rạng danh và chống lại mạng lịnh của Chúa. Kết quả là Chúa làm lộn xộn tiếng nói của họ, không còn ai hiểu ai, để phá hủy công việc gian ác của họ. Vì vậy, nhân loại đã tản lạc khắp trên mặt đất và nói hàng ngàn thứ tiếng khác nhau.

Chúa Jêsus hoàn toàn vâng phục Đức Chúa Cha nên đường lối của Ngài đã đem nhân loại đến sự hiệp một trong Thánh Linh, qua đó ai nấy đều có thể cảm thông nhau.

Nhìn tổng quát từ Bài 1 đến Bài 12, chúng ta thấy rõ Đức Chúa Trời là Đấng Toàn Năng, Toàn Ái, còn loài người càng ngày càng gian ác. Dầu vậy, Đức Chúa Trời vẫn yêu thương, muốn mọi người ăn năn, tin nhận Cứu Chúa Jêsus để được tha thứ. Tin cậy và vâng lời Chúa luôn luôn được phước (Hê-bơ-rơ 5:7-9). Vô tín và bất tuân thì luôn luôn chuốc họa vào mình (Hê-bơ-rơ 3:18-19).

CÂU HỎI

– Xin mỗi lớp một học viên thuật lại lẽ thật quan trọng và sự dạy dỗ của mỗi bài.

BÀI 14. ÁP-RAM, BẠN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

KINH THÁNH: Sáng Thế Ký 12:1-9.

CÂU GỐC: “Ví thử các ngươi làm theo điều ta dạy, thì các ngươi là bạn hữu ta” (Giăng 15:14).

MỤC ĐÍCH: Trình bày Áp-ram được kể là bạn hữu của Đức Chúa Trời nhờ ông tin cậy và vâng lời Ngài. Nếu chúng ta tin cậy và vâng lời Chúa Jêsus, chúng ta sẽ thành bạn hữu của Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ là bạn hữu chúng ta

(Giăng 15:13-15).

TH:

Sự kêu gọi Áp-ram

(Sáng 12:1-9).

TB:

Sự vâng lời của Áp-ram

(Hê-bơ-rơ 11:8-10).

TT:

Sự vâng phục của Si-môn Phi-e-rơ

(Lu-ca 5:1-8).

TN:

Sự vâng phục của quân đội Giô-suê

(Giô 6:1-5; 12-20).

TS:

Sự vâng phục của quân đội Ghê-đê-ôn

(Quan 7:1-8; 15-20).

TB:

Sư vâng phục của Ê-sai

(Ê-sai 6:1-8).

Có bạn là vui rồi, có bạn xứng đáng lại vui hơn, có bạn hữu là Đức Chúa Trời lại càng vui hơn biết mấy. Môi-se được Đức Chúa Trời chuyện trò thân mật như với một bạn hữu của Ngài (Xuất 33:11). Áp-ram được Đức Chúa Trời gọi là bạn hữu của Ngài (Ê-sai 41:8,11; II Sử 20:7; Gia-cơ 2:23). Chúa Jêsus gọi các môn đồ là bạn hữu của Ngài (Giăng 15:15).

Làm sao để được kết bạn với Đức Chúa Trời? Chúa Thánh Linh phán: “Đức Giê-hô-va kết bạn thiết cùng người kính sợ Ngài…” (Thi Thiên 25:14). Chúa Jêsus phán: “Ví thử các ngươi làm theo điều ta dạy thì các ngươi là bạn hữu ta” (Giăng 15:14). Vậy, kính sợ Chúa, làm theo điều Chúa dạy thì được làm bạn hữu của Ngài. Áp-ram là người đó.

I. ÁP-RAM KẾT BẠN VỚI CHÚA NHỜ VÂNG LỜI NGÀI (c.1-6).

Sau khi bị lộn xộn về ngôn ngữ, loài người bỏ việc xây tháp Ba-bên tại xứ Si-nê-a và tản mác đi nhiều nơi khác, một số người đến định cư tại thành phố U-rơ, xứ Canh-đê. Trong thời Áp-ram, thành phố U-rơ rất lớn rộng và phồn thịnh. Công trình vĩ đại của Canh-đê là những tháp khổng lồ như Kim tự tháp của Ai-cập. Nhưng mọi người trong thành phố U-rơ cũng như cả xứ Canh-đê đều lìa bỏ Đức Chúa Trời mà thờ thần tượng.

Giữa dòng dõi bội nghịch và gian ác đó, Đức Chúa Trời tìm thấy một người Ngài có thể chọn cho chương trình vĩ đại của Ngài. Đó là Áp-ram. Chúa bèn hiện ra với Áp-ram, bảo ông lìa khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha ông để đi đến xứ Ngài chỉ cho. Chúa hứa ban cho ông bảy phước lành:

1. Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn.

2. Ta sẽ ban phước cho ngươi.

3. Ta sẽ làm nổi danh ngươi.

4. Ngươi sẽ thành một nguồn phước.

5. Ta sẽ chúc phước cho ai chúc phước ngươi.

6. Ta sẽ rủa sả ai rủa sả ngươi.

7. Các chi tộc thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước.

“Rồi Áp-ram đi, theo như lời của Đức Giê-hô-va đã phán dạy”. Cuộc hành trình dài 730 dặm bằng lạc đà thật là vất vả. Song Áp-ram ngoan ngoãn ra đi, bất chấp mọi gian nguy, không tiếc rẻ U-rơ hoa lệ, sẵn sàng chịu bắt bớ, mắng nhiếc, khinh chê của bà con, bè bạn. Những con người quan trọng thường có một đời sống không dễ dàng.

Áp-ram hoàn toàn tin cậy mỗi một lời hứa của Chúa, biết rằng điều chi Chúa đã hứa thì Ngài sẽ làm thành. Vì hoàn toàn tin cậy nên ông cũng hoàn toàn vâng lời. Vì vậy, không có một lời hứa nào của Chúa đối với Áp-ram mà không thành hiện thực.

Trong Tân Ước, Chúa Jêsus đã hứa ban cho chúng ta tám phước lành:

1. Kẻ khó khăn được Nước Trời.

2. Kẻ than khóc sẽ được an ủi.

3. Kẻ nhu mì sẽ được đất.

4. Kẻ đói khát sự công bình sẽ được no nê.

5. Kẻ hay thương xót sẽ được thương xót.

6. Kẻ có lòng trong sạch sẽ thấy Đức Chúa Trời.

7. Kẻ làm cho người hòa thuận sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời.

8. Kẻ chịu bắt bớ vì sự công bình sẽ được Nước Thiên đàng.

Chúng ta sẽ hưởng trọn tám phước lành đó khi nào chúng ta vì cớ Chúa mà vui chịu mắng nhiếc, bắt bớ, vu oan để theo Ngài như Áp-ram (Ma-thi-ơ 5:1-12).

II. KẾT BẠN VỚI CHÚA, ÁP-RAM ĐƯỢC NHẬN THÊM LỜI HỨA (c.7).

Vì cớ Áp-ram tin cậy và vâng lời Chúa nên Ngài thêm cho ông một phước lành nữa là: “Ta sẽ ban cho dòng dõi ngươi đất này”, tức là cả xứ Ca-na-an. Dầu bấy giờ Áp-ram chưa có con, song Chúa sẽ làm cho ông thành một dân lớn, rồi Ngài còn hứa cho dân đó một xứ làm cơ nghiệp. Không những Chúa lo cho Áp-ram mà còn lo cho dòng dõi ông ngàn đời sau nữa (Xuất 29:6).

Những lời hứa trên đây được Chúa xác nhận và tái xác nhận với Áp-ram, lại còn giải thích cho rõ ràng hơn. Dòng dõi Áp-ram sẽ đông như sao trên trời, như cát bãi biển, như bụi đất (Sáng 13:16; 15:5; 22:17). Áp-ram sẽ làm tổ phụ của nhiều dân tộc (Sáng 17:4-6). Áp-ram trở nên một dân lớn, các dân tộc trên thế gian sẽ nhờ dòng dõi ông mà được phước (Sáng 18:18; 22:18). Cả xứ Ca-na-an được ban cho dòng dõi của Áp-ram (Sáng 13:14-15,17; 15:18; 17:8).

Các lời hứa này còn lặp lại với Y-sác (Sáng 26:4), với Gia-cốp (Sáng 28:13-14; 35:12; 46:3; 48:4), tất cả vì sự tin cậy và vâng lời của Áp-ram.

Phước Chúa sẽ thêm mãi cho ai dám tin cậy và vâng lời Ngài. Không những cho người đó mà cho dòng dõi của người đó ngàn đời sau nữa. Vì tin cậy và vâng lời Chúa là tôn vinh Ngài, còn vô tín và bất tuân là sỉ nhục Ngài. Chúa phán với Giô-suê và cả dân Y-sơ-ra-ên: “Phàm nơi nào bàn chân các ngươi đạp đến, thì Ta ban cho các ngươi” (Giô-suê 1:3; Phục 11:24). Tiến nhanh, họ được nhiều, tiến chậm, họ được ít, không tiến, họ không được gì cả. Phước lành của Chúa như dòng sông vô tận, dùng chén mà chứa, chén đầy; dùng thùng mà chứa, thùng đầy; dùng chum mà chứa, chum đầy; nhiều bao nhiêu, lớn bao nhiêu cũng đầy cả.

III. KẾT BẠN VỚI CHÚA, ÁP-RAM ĐƯỢC NHẬN CƠ NGHIỆP (c.7b-9).

Khi được Chúa ban thêm lời hứa về xứ Ca-na-an sẽ dành làm cơ nghiệp cho dòng dõi ông, thì Áp-ram lập một bàn thờ cho Ngài. Hành động đó nói lên ông hoàn toàn tin cậy Ngài. Ông lập bàn thờ để dâng tế lễ cảm tạ và cầu khẩn danh Chúa. Sau khi Lót chọn cánh đồng tốt nhất và lìa Áp-ram, Chúa liền hiện ra với ông và xác nhận xứ Ca-na-an sẽ thuộc dòng dõi ông đời đời, không ai có quyền chiếm đoạt. Nghe vậy Áp-ram lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va (Sáng 13:14-18). Lúc nào, ở đâu thì việc đầu tiên của Áp-ram là lập một bàn thờ cho Chúa. Ông muốn giữ mối thông công mật thiết với Chúa, lắng nghe tiếng phán của Ngài để cứ tin cậy và vâng lời Ngài.

Nguyện Chúa ban cho con cái Ngài, bất cứ họ đến đâu, trôi dạt tận phương trời nào thì việc đầu tiên của họ là giữ vững niềm tin, lập tại đó sự thờ phượng Ngài. Khi họ hành động như vậy, Chúa sẽ thực hiện mọi lời hứa của Ngài đối với họ như đối với Áp-ram.

Nô-ê và gia đình ông không chết chung với kẻ vô tín, với người đương thời là “bởi đức tin, Nô-ê được Chúa mách bảo cho về những việc chưa thấy, và người thành tâm kính sợ đóng một chiếc tàu để cứu nhà mình…” (Hê-bơ-rơ 11:7). Áp-ram, Y-sác, Gia-cốp đã được các lời hứa quý báu và lớn lao của Chúa cũng chỉ nhờ đức tin và vâng lời trong suốt cuộc đời của họ. Dầu hết thảy những người đó đều chết trong đức tin, chưa nhận lãnh những điều Chúa hứa cho mình, vì họ yêu mến một quê hương tốt hơn là quê hương trên trời, nhưng phước lành tốt hơn là phước trên trời, nên Đức Chúa Trời không hổ thẹn mà xưng mình là Đức Chúa Trời của họ, hơn nữa là bạn hữu của họ (Hê-bơ-rơ 11:8-16).

Chắc chắn các bạn rất ước ao được kết bạn với Đức Chúa Trời. Hãy hết lòng tin cậy và vâng lời Ngài. Bạn hữu của Vua cao cả, của chủ tể trời và đất sẽ không thiếu một phước lành nào. Sư tử tơ còn có khi thiếu ăn và đói, song bạn hữu của Đức Chúa Trời sẽ không thiếu thốn gì (Thi Thiên 34:9-10).

CÂU HỎI

1. Ai là người được Chúa kể là bạn hữu của Ngài?

2. Vì sao Áp-ram được Chúa kể là bạn hữu của Ngài?

3. Làm thế nào để trở thành bạn hữu của Chúa Jêsus?

4. Chúa hứa với Áp-ram những phước lành nào?

5. Áp-ram có thái độ nào đối với sự kêu gọi của Chúa?

6. Khi Áp-ram đến Ca-na-an, Chúa còn hứa ban cho ông điều chi nữa?

7. Mỗi khi được Chúa ban cho lời hứa thì Áp-ram làm gì?

8. Áp-ram muốn gì khi ông lập bàn thờ cho Chúa?

9. Trong Tân Ước, Chúa Jêsus hứa ban cho chúng ta những phước lành nào?

10. Bài học hôm nay dạy chúng ta điều gì?

BÀI 15. SỰ LỰA CHỌN CỦA ÁP-RAM VÀ LÓT

KINH THÁNH: Sáng Thế Ký 13:1-18.

CÂU GỐC: “Ngày nay hãy chọn ai mà mình muốn phục sự… nhưng ta và nhà ta sẽ phục sự Đức Giê-hô-va” (Giô-suê 24:15).

MỤC ĐÍCH: Bày tỏ Lót đã lựa chọn sai lầm vì tính ích kỷ của mình, khuyên học viên đừng ích kỷ trong việc lựa chọn.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Hãy lựa chọn Đấng Christ

(Giăng 1:12; 14:15).

TH:

Sự lựa chọn sai lầm của Lót

(Sáng 13:1-8).

TB:

Sự lựa chọn sai lầm của A-can

(Giô-suê 7:1-11).

TT:

Tầm quan trọng của sự lựa chọn đúng

(Phục 30:15-20).

TN:

Sự lựa chọn đúng của Giô-suê

(Giô-suê 24:14-24).

TS:

Sự lựa chọn đúng của Phi-e-rơ

(Giăng 6:66-69).

TB:

Sự lựa chọn đúng của Ru-tơ

(Ru-tơ 1:1-18).

Con người có quyền tự do lựa chọn và phải chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình. Sự lựa chọn bày tỏ tâm tình của mỗi người tốt hoặc xấu, đưa đến kết quả lợi hoặc hại. Người đạo đức chân chính lựa chọn theo đức tin, người ích kỷ tham lam lựa chọn theo mắt thấy. Áp-ram và Lót là hai con người đó.

I. HOÀN CẢNH ĐƯA ĐẾN SỰ LỰA CHỌN (c.1-7).

Khi từ Ê-díp-tô trở về Ca-na-an, Áp-ram và Lót đều giàu có về chiên, bò, tôi trai, tớ gái, vàng và bạc. Vùng đó không đủ chỗ cho hai người ở chung nhau được, vì không đủ cỏ cho các bầy vật của họ. Điều đó dẫn đến sự tranh giành đồng cỏ giữa bọn chăn chiên của Áp-ram và bọn chăn chiên của Lót.

Nan đề đó đã kéo dài một thời gian mà chưa giải quyết được nên đưa đến sự chia rẽ và hai bên phải lựa chọn. Điều này chẳng có gì lạ. Nếu vì nhu cầu hoặc vì cá tính mà hai bên không thể sống chung, thì có thể sống riêng để được bình an. Vấn đề quan trọng là sự lựa chọn.

II. SỰ LỰA CHỌN CỦA ÁP-RAM (c.8-9).

Lót cứ yên lặng bỏ mặc cho bọn chăn chiên của hai bên cãi lẫy, tranh giành nhau. Có lẽ ông nghĩ rằng nếu có gì xảy ra thì Áp-ram chịu trách nhiệm vì ông là người lớn. Còn Áp-ram thì không chịu được vì bên cạnh có người Ca-na-an và người Phêrêsít đang dòm ngó, nghe trộm để phê bình. Một bên chỉ nghĩ đến quyền lợi của mình, một bên chỉ nghĩ đến vinh hiển của Chúa.

Vì vậy, Áp-ram đã mời Lót đến phân trần: “Lót ơi, chúng ta là bà con (bác cháu), ta xin ngươi cùng ta chẳng nên cãi lẫy nhau, và bọn chăn chiên ta và bọn chăn chiên ngươi chẳng nên tranh giành nhau nữa. Vì chúng ta đang sống giữa người Ca-na-an và người Phêrêsít. Họ nghĩ thế nào về chúng ta là bác cháu mà cũng là người thờ phượng Đức Giê-hô-va?” Rồi Áp-ram đề nghị: “Toàn xứ há chẳng ở trước mặt ngươi sao? Vậy hãy lìa khỏi ta, nếu ngươi lấy bên tả, ta sẽ qua bên hữu, nếu ngươi lấy bên hữu, ta sẽ qua bên tả”. Áp-ram có quyền lựa chọn trước, song ông nhường cho Lót và nhận phần Lót chê và bỏ lại.

Áp-ram là bác đã dẫn Lót theo mình. Lót được giàu có là nhờ Áp-ram, đáng lẽ Áp-ram lấy quyền của kẻ cả, của kẻ làm ơn mà chọn phần tốt nhất, phần còn lại để cho Lót. Song bởi đức tin, Áp-ram phó cả quyền lợi của mình vào tay Chúa. Ông không tranh giành cũng chẳng lựa chọn.

Sammuel Morris (Hoàng tử Phi Châu) qua Mỹ học thần đạo. Ban giám đốc hỏi: Trong các phòng của nhà trường, anh chọn phòng nào cho mình? Anh đáp: Phòng nào mà ai nấy chê, xin để cho tôi. Ban giám đốc ngạc nhiên, nhìn nhau nói: Từ khi lập trường, chưa có sinh viên nào nói như vậy. Ai nấy đều chọn phòng tốt nhất cho mình.

Trước mặt Chúa và trước mặt đồng bào, chúng ta không nên cãi lẫy, tranh giành với nhau, song hãy bởi đức tin mà đặt quyền lợi và danh dự của mình trong tay Chúa. Nếu quyền lợi và danh dự của Chúa còn, thì quyền lợi và danh dự của chúng ta cũng còn. Chúa sẽ lựa chọn và giữ gìn tất cả những gì chúng ta cần và đáng được.

III. SỰ LỰA CHỌN CỦA LÓT (c.10-13).

Nghe bác mình nói vậy, đáng lẽ Lót cung kính cảm tạ lòng tốt của bác, thành thật không dám nhận lời đề nghị đó và xin bác chọn trước, phần còn lại để cho mình. Nhưng Lót không phải là người nghĩ như vậy, mà có lẽ ông chờ đợi giờ phút này: Ông chấp nhận ngay đề nghị của Áp-ram. “Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê”.

“Lót liền ngước mắt lên”. Nếu ngước mắt lên mà đứng một chỗ thấp cũng không thấy xa được. Ông phải lên một chỗ cao như đồi núi, lại còn bắc thang, trèo cây để thấy thật xa, thật rõ. Nhờ đó, Lót thấy bên kia sông Giô-đanh và về hướng đông, khắp cánh đồng bằng đều có nước tưới, có đồng cỏ như vườn Ê-đen mà ông đã từng nghe, như xứ Ê-díp-tô mà ông đã từng thấy. Lót thích ý quá nên chọn lấy cho mình phần đất đó, rồi đem gia đình và tài sản qua. Ban đầu còn xa, lần lần gia đình ông đến gần và chung sống với dân Sô-đôm. “Vả, dân Sô-đôm là độc ác và kẻ phạm tội trọng cùng Đức Giê-hô-va”.

Lót là con người không lựa chọn bởi đức tin mà lựa chọn bởi mắt thấy. Ông không biết rằng, “những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời không cùng vậy” (IICôr 4:18). Ông là tín đồ, cũng theo Chúa, song không thích đời sống thánh khiết mà thích đời sống xa hoa, không gớm ghiếc tội lỗi để tránh xa, lại chấp nhận tội lỗi để đến gần. Một con cái Đức Chúa Trời mà làm bạn với kẻ phạm tội nghịch cùng Cha mình là điều rất phi lý. Lót làm như vậy không phải để hướng dẫn người Sô-đôm về với Chúa, song để hòa mình với người Sô-đôm trong nếp sống gian ác của họ.

Bao nhiêu lần, chúng ta đã ngước mắt lên, mở rộng nhãn quan để tìm và chọn cho mình một cánh đồng phì nhiêu nhất, bất chấp điều đó có đẹp lòng Chúa hay không. Thế là chúng ta đã chấp nhận tư tưởng và hành động của Lót.

Chúng ta không lạ gì hành động ích kỷ của Lót. Suốt những ngày theo Chúa, chúng ta thấy không lần nào Lót lập bàn thờ để cầu khẩn danh Chúa, chỉ thấy một mình Áp-ram làm việc đó (Sáng 12:7-8; 13:4,8). Vì không gần gũi để tương giao với Chúa nên ông gần gũi và tương giao với thế gian. Người tín đồ mà không trước hết tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, không tha thiết một quê hương tốt hơn là quê hương trên trời, lại yêu thế gian và các vật ở thế gian thì là tín đồ xác thịt, tín đồ con đỏ (ICôr 3:1-3).

IV. KẾT QUẢ SỰ LỰA CHỌN CỦA ÁP-RAM (c.14-18).

Sau khi Lót chọn phần đất tốt nhất rồi lìa khỏi Áp-ram để qua đó, Đức Chúa Trời liền hiện ra với Áp-ram để an ủi ông, cho biết rằng ông không mất gì cả. Chúa bảo ông ngước mắt lên xem, không phải một hướng như Lót, bèn là cả bốn hướng Bắc, Nam, Đông, Tây. Hết thảy nơi nào ông thấy đều thuộc về ông và dòng dõi ông đời đời, nghĩa là không ai cướp lấy được. Chúa đã lựa chọn xứ Ca-na-an cho ông trước khi ông đến đó, Chúa đã gìn giữ xứ cho ông và dòng dõi của ông, Chúa sẽ cho dòng dõi của ông đông như bụi trên đất, không ai có thể đếm được.

Thiết tưởng Áp-ram vui mừng vô cùng vì được Chúa hiện ra với mình. Phần thưởng lớn nhất cho ông không phải là tài sản vật chất mà là chính mình Chúa, vì sự lựa chọn của ông đẹp lòng Ngài, tôn vinh Ngài. Dầu Chúa bảo ông ngước mắt lên để xem, song ông sấp mình xuống để thờ phượng Ngài, tỏ ra ông hoàn toàn tin cậy Ngài. Vì vậy, ông lập một bàn thờ để dâng tế lễ và cầu khẩn danh Ngài. Đang khi Lót xa Đức Chúa Trời để đến gần thế gian thì Áp-ram xa thế gian để đến gần Đức Chúa Trời.

Năm 1682, Mục sư Alexander Peden thuật lại chuyện một quả phụ, khi chồng bà bị giết, bọn lính đến nhà bà, nói rằng họ sẽ lấy tất cả những gì bà có. Bà nói: “Không can hệ chi đến tôi. Tôi sẽ không thiếu thốn bất luận khi nào Đức Chúa Trời còn trên trời”. Đó là một tín đồ thật. Dầu mất mọi sự mà còn Đức Chúa Trời là đủ.

CÂU HỎI

1. Tại sao có sự tranh giành giữa bọn chăn chiên của Áp-ram và bọn chăn chiên của Lót?

2. Do nghĩ đến điều gì mà Áp-ram đề nghị Lót phải phân rẽ với mình?

3. Áp-ram lựa chọn phần nào?

4. Lót lựa chọn phần nào? Ông dựa trên điều gì để lựa chọn?

5. Cách lựa chọn của hai ông khác nhau thế nào?

6. Vì sao Lót đã hành động ích kỷ như vậy?

7. Sau khi Lót lìa khỏi Áp-ram thì có gì xảy ra cho Áp-ram?

8. Chúa hiện ra cho Áp-ram để làm gì?

9. Áp-ram không nhướng mắt lên như Lót mà làm gì?

10. Áp-ram xa ai và gần ai?

BÀI 16. ÁP-RAM GIẢI CỨU LÓT

KINH THÁNH: Sáng Thế Ký 14:1-24.

CÂU GỐC: “Vả, Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài xuống thế gian, chẳng phải để đoán xét thế gian đâu, nhưng hầu cho thế gian nhờ Con ấy mà được cứu” (Giăng 3:17).

MỤC ĐÍCH: Chứng tỏ chúng ta phải nhờ Chúa Jêsus giải cứu khỏi phu tù của Sa-tan cũng như Lót phải nhờ Áp-ram giải cứu khỏi tay Kết-rô Lao-me.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ cứu chúng ta

(I Ti-mô-thê 1:15).

TH:

Áp-ram cứu Lót

(Sáng 14:1-24)

TB:

Người con trai hoang đàng trở về

(Lu-ca 15:11-24).

TT:

Chúng ta phải khiêm nhường

(Phi-líp 2:1-16).

TN:

Chúng ta phải nhơn đức

(Cô-lô-se 3:1-15).

TS:

Chúng ta phải thức tỉnh

(Ê-phê-sô 4:24-31).

TB:

Chúng ta phải nhân ái

(ICôr 13).

Lót đã từ bỏ thành U-rơ, xứ Canh-đê, lại rơi vào thành Sô-đôm còn tệ hơn. Thân thể của Lót đã ra khỏi U-rơ, song sự yêu mến thế gian chưa bao giờ ra khỏi lòng của Lót. Nó cứ còn ở đó và chờ cơ hội để bộc lộ bằng hành động. Mặc dầu Lót có thể viện lẽ rằng tại sự tranh giành giữa hai bọn chăn chiên mới đưa đến việc ông dời trại qua Sô-đôm, kỳ thật việc đó chỉ là cơ hội bày tỏ thực trạng thuộc linh của ông. Cũng trong một hoàn cảnh mà hai bên có hai thái độ và hai con đường khác nhau. Lót qua Sô-đôm, song Áp-ram chẳng bao giờ nghĩ đến nơi đó. Đê-ma theo Chúa, phục vụ Ngài với Phao-lô, song trong lòng còn ham mê thế gian, chỉ chờ cơ hội. Vì thế, ngay khi Phao-lô ngồi tù tại La-mã, Đê-ma lìa bỏ Phao-lô, tìm đường khác để đi (II Ti-mô-thê 4:10).

I. LÓT BỊ GIẶC BẮT (c.1-12).

Đây là trận chiến đầu tiên được chép trong Kinh Thánh. Kết-rô Lao-me và ba vua đồng minh đem đại quân chinh phục các lân bang nhược tiểu. Thừa thắng xông lên, họ đánh luôn năm vua khác, trong đó có vua Sô-đôm và vua Gô-mô-rơ. Kết-rô Lao-me chiến thắng dễ dàng, cướp hết tài sản và lương thực của Sô-đôm và Gô-mô-rơ, bắt luôn Lót và lấy cả tài sản của ông mà đem đi.

Đó là hậu quả đầu tiên của việc Lót dời qua Sô-đôm. Nên nhớ rằng khi ra khỏi sự bảo vệ của Chúa toàn ái, toàn năng mà bước đi theo ý mình thì chẳng bao giờ bình an đâu. “Thế gian với tư dục nó đều qua đi”. Hãy nghe lời Chúa gọi: “Hỡi dân ta, hãy ra khỏi Ba-by-lôn, kẻo các ngươi dự phần tội lỗi với nó, cũng chịu những tai nạn như nó nữa chăng” (Khải 18:4).

II. CHIẾN TRẬN GIẢI CỨU LÓT.

Có một người trốn thoát chạy đến báo tin cho Áp-ram. Áp-ram không lạnh lùng vì cố chấp mà bỏ mặc Lót với số phận khốn nạn đó. Ông không nói: Đáng đời! Gieo gì gặt nấy. Trái lại, khi nghe tin cháu mình bị giặc bắt, Áp-ram chiêu tập 318 gia nhân đã được huấn luyện đầy đủ để đuổi theo quân giặc. Làm việc nầy, Áp-ram không có tham vọng chiến thắng để cướp của, hầu trở nên giàu có, song chỉ có mục đích cứu Lót. Động cơ duy nhất thúc đẩy ông là tình thương.

Áp-ram là con người rất can đảm. Dầu có ba bạn láng giềng là Mamrê, Ếchcôn và Ane hiệp tác, thì tất cả chỉ là những nông phu, mục đồng, làm sao đương nổi với đạo quân thiện chiến của bốn vua vừa chiến thắng khải hoàn? Thế mà Áp-ram vẫn không sợ. Không phải ngồi nhà để chỉ huy, mà chính ông cũng ra trận. Con cái Chúa không phải là những kẻ hèn nhát, bèn là những kẻ can đảm. Không phải liều lĩnh làm càn, bèn là hành động bởi đức tin và tình thương. “Bằng hữu thương mến nhau luôn luôn, và anh em sanh ra để giúp đỡ trong lúc hoạn nạn” (Châm 17:17).

Sau khi chiến thắng hoàn toàn, quân chiến bại chạy trốn hết, nên đạo quân của Kết-rô Lao-me và ba vua đồng minh không đề phòng chi cả. Họ tản mác nhiều nơi để ăn uống và nghỉ ngơi. Chúa cho Áp-ram biết được điều đó, ông liền đuổi theo quân giặc trên con đường 160 cây số. Ban đêm, thừa lúc ai nấy ăn no ngủ say, Áp-ram và các gia nhân của ông xông vào quân giặc một cách chớp nhoáng. Bị tấn công bất ngờ, đạo quân của Kết-rô Lao-me chỉ có nước chạy trối chết để thoát thân. Áp-ram còn đánh đuổi họ cho đến Hôba, phía tả Đa-mách, mà chính ông không bị tổn thất nào.

Áp-ram lấy lại hết thảy người và vật đã bị giặc cướp, trong đó có gia đình của Lót và mọi vật của ông. Có người cho rằng lấy làm khó mà tha thứ cho anh em hơn là tha thứ người ngoài. Song chúng ta nên tha thứ cho cả hai và làm ơn cho cả hai. Áp-ram không những giải cứu Lót mà cũng giải cứu dân thành Sô-đôm. “Đương lúc có dịp tiện, hãy làm điều thiện cho mọi người, nhất là cho anh em chúng ta trong đức tin” (Ga-la-ti 6:10).

Lót bị liên can vào cuộc chiến vì đã dời trại mình đến Sô-đôm. Áp-ram đứng riêng nên có dịp giải cứu Lót và người Sô-đôm. Hòa mình với thế gian là chung số phận với họ, song lìa khỏi thế gian mới giải cứu họ được. Phao-lô làm nghề may trại để giảng đạo, chứ không làm nghề giảng đạo để may trại. Mục đích của ông là giảng đạo chứ không phải may trại. Chúng ta làm ăn để phục vụ Chúa, chứ không phải lấy cớ Chúa để làm ăn.

III. TINH THẦN CAO THƯỢNG CỦA ÁP-RAM (c.17-24).

Tinh thần cao thượng của Áp-ram đã biểu lộ khi thương yêu cháu mình, bất chấp lỗi lầm và sẵn sàng đánh tan quân giặc, giải cứu Lót. Tinh thần cao thượng của Áp-ram còn biểu lộ trong cách xử sự của ông đối với vua Sô-đôm.

Được tin Áp-ram chiến thắng trở về, vua Sô-đôm đã ra tận xe để đón rước Áp-ram, vì Áp-ram là vị anh hùng và là ân nhân của Sô-đôm. Bấy lâu họ chỉ biết Lót, bây giờ họ mới biết Áp-ram. Họ thấy Áp-ram không phải tầm thường như Lót, song là một con người đáng tôn trọng.

Không những được vua Sô-đôm đón tiếp, Áp-ram còn được Mên-chi-xê-đéc, Thầy tế lễ của Đức Chúa Trời chí cao, vua của Salem đón rước. Vua đem bánh và rượu đến cho Áp-ram bổ sức, đồng thời cũng nhân danh Đức Chúa Trời chí cao là Đấng dựng nên trời đất mà chúc phước cho Áp-ram, tỏ ra Áp-ram là công cụ trong tay của Chúa. Áp-ram đem tất cả phần mười của giặc mà mình đã đoạt được dâng cho Thầy tế lễ của Đức Chúa Trời. Ông muốn nói lên lòng biết ơn Đức Chúa Trời, Ngài đã dùng ông chiến thắng Kết-rô Lao-me và các vua đồng minh của ông ấy. Đây là lần thứ nhất Kinh Thánh chép về loài người dâng phần mười cho Đức Chúa Trời.

Vua Sô-đôm yêu cầu Áp-ram giữ lại tất cả chiến lợi phẩm trong chiến trận, chỉ giao dân chúng cho vua mà thôi. Nhưng Áp-ram đã long trọng đưa tay lên trước mặt Đức Chúa Trời chí cao, Chúa tể của trời đất mà thề rằng, ông không nhận bất cứ vật gì của vua Sô-đôm, dầu một sợi chỉ cũng không. Áp-ram muốn bịt miệng vua Sô-đôm, không muốn về sau ông ấy nói rằng nhờ mình mà Áp-ram trở nên giàu có và Áp-ram thành ra người đánh giặc mướn cho ông.

Lực lượng quân sự của Kết-rô Lao-me cũng như sự cám dỗ của vua Sô-đôm cả hai đều đáng sợ, một bên là sư tử còn một bên là rắn. Đối với Áp-ram, sự chúc phước của Mên-chi-xê-đéc là quý báu hơn tài sản của vua Sô-đôm. Được Đức Chúa Trời chí cao, Chúa tể của trời đất ban phước thì tất cả tài sản của vua Sô-đôm có nghĩa lý gì đâu! Áp-ram không muốn được bất cứ điều chi của thế gian mà chỉ muốn cứu Lót khỏi tinh thần ham mến thế gian.

Chúng ta ngạc nhiên vì Áp-ram có một trình độ cao thượng và có một suy nghĩ sâu xa chín chắn như vậy. Ông không tốt nghiệp trường nào thời bấy giờ, ngoài trường của Chúa. Chính Ngài dạy dỗ dẫn dắt ông trong mọi tư tưởng, ngôn ngữ, hành động.

Đời sống của Áp-ram như lời Chúa sau đây: “Nhưng con đường người công bình giống như sự sáng chiếu rạng, càng sáng thêm lên cho đến giữa trưa” (Châm 4:18). Cầu Chúa giải cứu chúng ta khỏi Sa-tan như Ngài đã giải cứu Lót khỏi Kết-rô Lao-me.

CÂU HỎI

1. Hậu quả đầu tiên do việc lựa chọn sai lầm của Lót là gì?

2. Áp-ram làm gì khi nghe tin Lót bị giặc bắt?

3. Động cơ nào thúc đẩy Áp-ram hành động như trên?

4. Tinh thần cao thượng của Áp-ram đối với Lót được biểu lộ trong những việc gì?

5. Những ai đã ra đón Áp-ram khi ông chiến thắng trở về?

6. Việc vua Mên-chi-xê-đéc nhân danh Đức Giê-hô-va chúc phước cho Áp-ram tỏ ra điều gì?

7. Vì sao Áp-ram đem tất cả phần mười dâng cho Mên-chi-xê-đéc?

8. Áp-ram có thái độ nào đối với tất cả tài vật ông chiếm được khi chiến thắng Kết-rô Lao-me và đồng minh của vua ấy?

9. Do đâu Áp-ram có tinh thần cao thượng, sự suy nghĩ sâu xa, chín chắn như vậy?

10. Con đường của người công bình sẽ như thế nào?

BÀI 17. CÁC VỊ KHÁCH TỪ TRỜI

KINH THÁNH: Sáng Thế Ký 18:1-22.

CÂU GỐC: “Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật ta nói cùng các ngươi, trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có Ta” (Giăng 8:58).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng hằng hữu và khuyên mọi người mời Ngài ngự vào đời sống của mình.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ hằng hữu

(Giăng 1:1-3).

TH:

Đức Chúa Trời phán cùng Áp-ram

(Sáng 15:1-18).

TB:

Đức Chúa Trời hiện đến với Áp-ram

(Sáng 17:1-8).

TT:

Áp-ram thành Áp-ra-ham

(Sáng 17:5-6).

TN:

Đức Chúa Trời thăm viếng Áp-ra-ham

(Sáng 18:1-6).

TS:

Áp-ra-ham sống bởi đức tin

(Sáng 18:14; Hê-bơ-rơ 11:8-12).

TB:

Chúng ta sống bởi đức tin

(Ma-thi-ơ 18:6; Mác 9:23).

Sau khi Áp-ram giải cứu Lót, Đức Chúa Trời hiện đến với ông để an ủi và hứa sẽ ban cho ông một con trai kế nghiệp. Do con trai đó, ông sẽ có một dòng dõi dông như sao trên trời. Áp-ram tin điều Chúa hứa, Ngài liền lập giao ước cùng ông và bảo rằng, dòng dõi ông sẽ ngụ trong một xứ lạ 400 năm. Sau đó, Ngài sẽ đem họ về Ca-na-an (Sáng 15).

Khi Áp-ram đã được 99 tuổi, Đức Chúa Trời lại hiện đến cùng ông và đổi tên ông từ Áp-ram ra Áp-ra-ham, vì Áp-ram có nghĩa là cha cao quí, còn Áp-ra-ham là cha của nhiều dân tộc. Vợ ông tên là Sa-rai được đổi lại thành Sa-ra, vì Sa-ra nghĩa là công chúa. Do nơi Sa-ra ông sẽ có một con trai. Nghe vậy, Áp-ra-ham cười thầm vì nghĩ rằng Sa-ra đã 90 tuổi, làm sao sanh con được. Vì thế Chúa bảo Áp-ra-ham, khi Sa-ra sanh con trai, hãy đặt tên là Y-sác, vì Y-sác nghĩa là cười (Sáng 17:19).

Từ khi Chúa hứa sẽ cho Áp-ra-ham và Sa-ra một con trai cho đến ngày Y-sác sanh ra là 25 năm, vì thế thỉnh thoảng Chúa hiện ra xác nhận lời hứa đó để nâng đỡ đức tin của ông bà.

I. CÁC VỊ KHÁCH TỪ TRỜI ĐẾN THĂM ÁP-RA-HAM (c.1-8).

Vào một buổi trưa trời quang mây tạnh, Áp-ra-ham đang ngồi nơi cửa trại, ông ngước mắt lên và thấy ba người đi đến. Đó là Đức Giê-hô-va với hai thiên sứ. Song Áp-ra-ham không biết, tưởng là ba vị khách quí từ đâu đến thăm mình. Do lòng hiếu khách, ông không đợi khách vào trại mà vội vàng từ cửa trại chạy ra. Để tỏ lòng tôn kính, Áp-ra-ham sấp mình xuống trước mặt khách và trân trọng mời khách vào trại để rửa chơn, nghỉ ngơi ăn uống, rồi sẽ dời gót lên đường. Sự mời mọc ân cần và khiêm tốn của Áp-ra-ham khiến khách không thể chối từ nên đã bảo ông: “Hãy cứ việc làm như ngươi đã nói”.

Tức thì, Áp-ra-ham vào trại, bảo Sa-ra lấy ba đấu bột lọc (18 lít) nhồi và làm bánh nhỏ. Ông chạy ra bầy, bắt một con bò ngon giao cho đầy tớ bảo mau mau nấu dọn. Rồi ông lấy mỡ sữa và sữa với bò con đã nấu xong mà dọn lên ngay trước mặt các vị khách quí, còn ông đứng hầu bên cạnh dưới cội cây khi khách ăn. Chắc chắn khách ăn ngon và no mà vẫn còn dư dật vì lòng rộng rãi của Áp-ra-ham.

Áp-ra-ham là con người bặt thiệp, lịch duyệt, tế nhị. Lối tiếp khách của ông thật là tuyệt đẹp. Về sau, tác giả thơ Hê-bơ-rơ nhắc lại câu chuyện nầy để khuyên: “Chớ quên sự tiếp khách, có khi kẻ làm điều đó tiếp đãi thiên sứ mà không biết” (13:2). Cũng câu chuyện ấy, Chúa Jêsus nhắc lại cho người Dothái: “Cha các ngươi là Áp-ra-ham đã nức lòng nhìn thấy ngày của Ta, người đã thấy rồi và mừng rỡ” (Giăng 8:56).

Đức Giê-hô-va và các thiên sứ đã không phải vì nhu cầu nhưng vì chấp nhận lòng tốt của Áp-ra-ham. Sau khi sống lại, Chúa Jêsus cũng đã ăn, chỉ vì muốn chứng minh cho các sứ đồ rằng Ngài thật đã sống lại. Bữa ăn là dấu hiệu của sự tiếp xúc thân hữu và mật thiết giữa bạn bè.

Chúng ta sống trong một thời đại văn minh hơn thời đại của Áp-ra-ham, song chúng ta phải học lối tiếp khách của ông. Kẻ nào thuộc về Chúa sẽ được Ngài dạy dỗ (Ê-sai 54:13; Giăng 6:45), và được Ngài ban “đủ mọi thứ khôn ngoan, thông sáng” (Ê-phê-sô 1:8).

Theo như Chúa Jêsus đã phán thì Áp-ra-ham nức lòng mừng rỡ khi tiếp rước Ngài. Chúa cũng đang đứng trước cửa lòng của chúng ta mà gõ, muốn vào thông công thân mật với chúng ta trong bữa ăn tối (Khải 3:20). Không phải chỉ tương giao thân mật một buổi, một ngày mà luôn luôn như Ngài đã phán: “Nếu ai yêu mến ta thì vâng giữ lời ta, Cha ta sẽ thương yêu người, chúng ta đều đến cùng người và ở trong người” (Giăng 14:23). Phước thay cho ai tiếp rước Chúa vào đời mình, không những làm khách mà còn làm chủ!

II. CÁC VỊ KHÁCH BAN LỜI HỨA CHO ÁP-RA-HAM (c.9-15).

Các khách hỏi Áp-ra-ham: “Sa-ra, vợ ngươi đâu?” Câu hỏi này tỏ ra vị khách biết rõ về gia đình của Áp-ra-ham, khách hỏi không phải để biết song chỉ gợi chuyện mà thôi. Áp-ra-ham thưa: “Nàng ở trong trại kia”. Một trong ba vị khách tiếp: “Trong độ một năm nữa, Ta sẽ trở lại đây với ngươi không sai, và chừng đó, Sa-ra vợ ngươi sẽ có một con trai”.

Thiết tưởng trễ lắm là đến đây, Áp-ra-ham đã biết một trong ba vị khách là Đức Giê-hô-va. Song chúng ta không thấy ông bối rối, sợ hãi trước mặt Ngài mà vẫn thân mật trò chuyện cùng Ngài. Được như vậy là vì Chúa đã nhiều lần hiện ra với ông, và ông đã quen biết Ngài. Lần này, dầu là bất ngờ, ông cũng đã tiếp rước Ngài một cách xứng đáng.

Bấy giờ, Áp-ra-ham đã 100 tuổi còn Sa-ra 90 tuổi. Theo luật thiên nhiên bà không thể sanh con được vì khả năng thọ thai và sanh sản không còn. Vì thế, khi lén nghe lời hứa của Chúa, Sa-ra cười thầm, cho đó là một việc hoàn toàn bất năng. Chúa phán với Áp-ra-ham: “Cớ sao Sa-ra cười??? Há có điều chi Đức Giê-hô-va làm không được chăng?” Rồi Chúa cam kết: “Đến kỳ đã định, trong một năm nữa, ta sẽ trở lại cùng ngươi và Sa-ra sẽ có một con trai”.

Chúa muốn Áp-ra-ham và Sa-ra tin rằng Ngài là Đấng toàn tri, hiểu biết, đọc được tư tưởng kín đáo trong lòng của bà cũng như của ông (17:17-19). Ngài cũng là Đấng toàn năng, làm những việc không ai làm được. Đức tin nơi Đức Chúa Trời là tin bất cứ điều chi Ngài đã hứa. Đức tin là tin điều mình chưa thấy, còn phần thưởng của đức tin là sẽ thấy điều mình đã tin. Hành động của đức tin là vui mừng, cảm tạ Chúa vì biết rằng điều chi Ngài đã hứa, Ngài cũng sẽ làm. Phao-lô mô tả đức tin của Áp-ra-ham là dầu hoàn cảnh ra sao, đức tin chẳng kém, chẳng lưỡng lự hoặc hồ nghi, nhưng càng mạnh mẽ trong đức tin. “Cho nên đức tin của người được kể là công bình” (Rô-ma 4:18-22).

III. CÁC VỊ KHÁCH BÀY TỎ CHO ÁP-RA-HAM SỐ PHẬN CỦA SÔĐÔM (c.16-22).

Sau khi ăn uống xong, Chúa và hai thiên sứ ra đi về hướng Sô-đôm. Áp-ra-ham rất lịch sự theo tiễn chân khách một quãng đường khá xa.

Tại đây chúng ta thấy rõ Đức Chúa Trời đối với Áp-ra-ham như một người đối với bạn hữu mình (Ê-sai 41:8; II Sử 20:7; Gia-cơ 2:23). Ngài không giấu chi với Áp-ra-ham mà muốn bày tỏ cho ông về số phận khủng khiếp của thành phố Sô-đôm, vì ba lý do:

1. Ông là bạn hữu của Ngài.

2. Ông là một nhân vật quan trọng. Từ ông sẽ ra một dân lớn và cường thạnh, cả thế gian sẽ nhờ ông mà được phước. Đời sống của ông sẽ ảnh hưởng mạnh trên một gia đình, một dân tộc và cả thế gian, nên ông cần biết trước biến cố này.

3. Áp-ra-ham đã tiếp rước Chúa, đã đứng trước mặt Ngài (c.8) và hiện đang đứng trước mặt Ngài (c.22). Với tư thế đó, Áp-ra-ham được Chúa bày tỏ ý định của Ngài cho ông. Với tư thế đó, Áp-ra-ham cầu thay cho Sô-đôm nên Lót được cứu. Về sau, với tư thế đó, Môi-se đã cầu thay cho dân Y-sơ-ra-ên nên họ được cứu (Xuất 32:30-35; Thi 106:23). Cũng với tư thế đó, Ê-li đã cầu thay cho dân Y-sơ-ra-ên và đem họ về với Chúa và mưa bắt đầu đổ tuôn sau ba năm sáu tháng hạn hán.

Chúng ta hãy cứ đứng trước mặt Chúa để cầu thay cho Hội Thánh, cho đồng bào, cho xứ sở.

CÂU HỎI

1. Sau khi Áp-ram giải cứu Lót thì Đức Chúa Trời hiện ra với ông để làm gì?

2. Tại sao Đức Chúa Trời lại cứ thỉnh thoảng hiện đến với Áp-ra-ham?

3. Ba vị khách đến thăm Áp-ra-ham là ai?

4. Áp-ra-ham tiếp khách thế nào?

5. Ba vị khách đó cần ăn hay không? Tại sao họ ăn?

6. Sự tiếp khách của Áp-ra-ham có những điều dạy dỗ nào cho chúng ta?

7. Tại sao Áp-ra-ham không sợ khi biết ba vị khách đó là Đức Chúa Trời với hai thiên sứ?

8. Chúa muốn Áp-ra-ham và Sa-ra tin Ngài là Đấng thế nào?

9. Tại sao Áp-ra-ham có dịp cầu thay cho Lót khỏi bị chết mất trong Sô-đôm?

10. Chúng ta phải làm gì để có thể cầu thay cho Hội Thánh, đồng bào và xứ sở?

BÀI 18. KẾT CUỘC ĐỜI SỐNG CỦA LÓT

KINH THÁNH: Sáng Thế Ký 19:1-38.

CÂU GỐC: “Vì tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta” (Rô-ma 6:23).

MỤC ĐÍCH: Giúp học viên nhận biết tội lỗi đem đến sự đoán phạt, nhưng sự sống đời đời được ban cho bởi Đức Chúa Trời qua Chúa Jêsus.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ cứu chúng ta khỏi công giá của tội

(Giăng 3:16).

TH:

Sự cầu thay của Áp-ra-ham

(Sáng 18:16-33).

TB:

Sự cầu thay của Môi-se

(Dân 14:1-21).

TT:

Sự cầu thay của Sa-mu-ên

(I Sam 7:1-12).

TN:

Sự cầu thay của Đa-vít

(II Sam24:10-25).

TS:

Sự cầu thay của Đa-ni-ên

(Đa-ni-ên 9:1-19).

TB:

Sự đoán phạt tội lỗi

(Rô-ma 6:23; IITê 1:7-10).

Khi hai thiên sứ đã đi, còn lại Đức Giê-hô-va và Áp-ra-ham đứng chầu trước mặt Ngài. Biết Chúa sẽ hủy diệt Sô-đôm và Gô-mô-rơ bằng lửa và diêm sinh, thì Áp-ra-ham nhớ đến Lót và gia đình đang sống tại đó, nên ông cầu thay cho họ. Áp-ra-ham xin Chúa tha cho hai thành phố nếu thấy ở trong có 50 người công bình. Chúa bằng lòng. Song Áp-ra-ham sợ không có đủ 50 người công bình, nên ông xin bớt còn 45, rồi 40, 30, 20, 10. Áp-ra-ham đã tính toán kỹ lưỡng: Ông bà Lót và hai con gái là bốn, hai chàng rể là sáu. Mấy năm sống tại đó chắc Lót đem ít nhất bốn người về với Chúa. Ông hy vọng Chúa tìm thấy trong Sô-đôm và Gô-mô-rơ có đủ mười người công bình, Ngài sẽ tha cho họ. Tiếc thay! Trong hai thành chẳng tìm được mười người công bình, vì suốt thời gian ở đó, Lót không dẫn dắt được ai về với Chúa cả, thậm chí hai rể của ông cũng không tin Ngài. Dầu vậy, nhờ sự cầu thay của Áp-ra-ham, Lót và hai con gái đã được cứu, không chết chung với mọi người trong thành.

I. LÓT MẤT SỰ BÌNH AN (c.1-11).

Sau khi lìa khỏi Áp-ra-ham, Lót đến ở trong các thành của đồng bằng và dời trại mình đến Sô-đôm (13:12), khi bị giặc bắt và được Áp-ra-ham giải thoát, Lót vẫn tiếp tục sống tại Sô-đôm (14:13-16). Bây giờ, chúng ta gặp ông “ngồi tại cửa thành” (19:1).

Đời xưa các cơ quan tư pháp và hành pháp đều đặt tại cửa thành, các cuộc hội họp trọng thể cũng tổ chức tại đó. Chúa Jêsus phán: “Các cửa âm phủ” (Ma-thi-ơ 16:18) là nói về các quyền lực của địa ngục tập trung lại. Lót ngồi tại cửa thành theo tư cách thị trưởng.

Theo phương diện thuộc thể, ta thấy Lót giàu có, danh vọng và quyền thế, nhưng về phương diện thuộc linh, ta thấy ông đã xa Chúa quá và gần thế gian quá. Ông đã tự an ủi rằng đến ở giữa dân Sô-đôm và Gô-mô-rơ để làm chứng về Chúa cho họ, nhưng kết quả là một con số không.

Tại sao? Dân Sô-đôm và Gô-mô-rơ thấy ông chỉ là một người ngoại bang đến đó lo cho chính mình được vinh thân phì gia, chứ không vì thương yêu họ. Họ nhìn ông bằng cặp mắt ganh tị, căm hờn.

Khi hai thiên sứ đến với Áp-ra-ham thì vui vẻ vào nhà ông mà ăn uống, chuyện trò; còn khi đến với Lót, thì hai thiên sứ từ chối vào nhà ông và muốn ở ngoài đường, Lót phải ân cần lắm, thì hai thiên sứ mới chịu vào nhà. Trong đêm đó, dân Sô-đôm muốn làm hại hai thiên sứ. Lót bằng lòng hy sinh hai con gái của mình cũng chưa vừa ý họ. Họ đoán xét Lót, coi ông chẳng ra chi. Hai thiên sứ bèn can thiệp để giải cứu ông. Danh, lợi, quyền không đem lại cho ông sự thỏa lòng mà chỉ có đau buồn và hổ nhục.

II. LÓT MẤT TÀI SẢN VÀ VỢ (c.12-16).

Hai thiên sứ bảo Lót đem hết thảy con cái ra khỏi Sô-đôm, vì Chúa sẽ hủy diệt thành này.

Lót đem việc ấy nói lại với hai chàng rể, song họ tưởng ông nói chơi (c.12-14).

Một sứ mạng đặc biệt trong một trường hợp khẩn cấp, có tác dụng sinh tử, nhưng sứ giả là một người do dự, không có tư cách xứng đáng với sứ mạng, nên kẻ nghe đã không tin mà còn cho đó là một lời nói đùa, một lời vô lý. Cha mẹ nguội lạnh, xác thịt, rất hiếm có con cái sốt sắng, thuộc linh. Mắt của con cái sáng hơn tai của họ. Con cái luôn luôn lưu ý đến những điều cha mẹ làm hơn là những điều cha mẹ nói. Nếu cha mẹ không có một đời sống tin kính, không gớm ghê tội lỗi, không xa lánh thế gian thì chẳng bao giờ hi vọng có con cái xứng đáng. Nếu cha mẹ có cảnh cáo con cái một cách nghiêm trọng về sự hình phạt của Chúa, họ sẽ bảo là ông bà nói giỡn thôi, làm gì có việc đó!

Trong một hoàn cảnh nguy kịch như vậy, tức là sự chết đã đến nơi mà sáng hôm sau, Lót còn chưa chỗi dậy. Hai thiên sứ phải đánh thức ông, bảo ông phải lập tức dẫn vợ con ra khỏi thành phố. Nhưng Lót lần lữa không muốn đi, đến nỗi hai thiên sứ phải nắm tay họ mà kéo ra ngoài (c.15-16).

Tại sao có tình trạng đó? Vì họ quá quyến luyến với nơi ăn chốn ở đầy đủ tiện nghi, với của cải dồi dào mà họ đã suốt đời tích trữ, bây giờ phải ra tay không. “Của cải ở đâu lòng cũng ở đó” (Ma-thi-ơ 6:21).

Khi ra khỏi thành, thiên sứ bảo: “Hãy chạy trốn cứu lấy mạng, đừng ngó lại sau và cũng đừng dừng bước lại nơi nào ngoài đồng bằng…” Nhưng vợ của Lót quay ngó lại đằng sau, nên hóa ra một tượng muối (c.17,26).

Tại sao? Cũng vì của cải. Nếp sống của Lót không ảnh hưởng tốt cho vợ ông trên bình diện thuộc linh. Thế gian ở trong bà và bà vẫn còn thuộc về thế gian. Bà phải ra đi một cách miễn cưỡng, một bước tới, mười bước lui. Dầu đã được thiên sứ báo, song bà vừa tiếc của vừa không tin thành Sô-đôm sẽ bị hủy diệt, nên bà đã dừng bước và ngó lại đằng sau. Vì vậy, dầu bà đã được cứu khỏi thành một tượng bằng than thì đã thành một tượng bằng muối, để cảnh cáo muôn đời về sau. Ngày nay, người nào sống trong gia đình tín đồ, mang danh tín đồ, mà chỉ lo việc đời này, thì “hãy nhớ lại vợ của Lót” (Lu-ca 17:32).

III. LÓT MẤT HẾT MỌI SỰ (c.27-38).

Sáng hôm sau, Áp-ra-ham dậy sớm, đi lên một nơi cao, ngó về hướng Sô-đôm và Gô-mô-rơ thấy từ dưới đất bay lên một luồng khói như khói của một lò lửa lớn, dầu cách xa 30 dặm.

Ngày nay các nhà địa chất học cho biết rằng xung quanh vùng Sô-đôm và Gô-mô-rơ có nhiều mỏ dầu, lại có nhiều nhựa chai là những thứ dễ bắt lửa. Do một cơn động đất, mỏ dầu đã bị sức ép nổ tung lên trời rồi rơi xuống thành một đám cháy khủng khiếp. Ngoài ra, trên các đồi núi phụ cận Sô-đôm đều phủ đầy muối cho thấy mỏ dầu nổ tung tạo nên một trận hỏa hoạn kinh hồn, tạo nên cơn gió lốc, cuốn theo muối từ Biển Chết, khiến cho bà Lót đang dừng bước và ngó lại sau bị muối bao bọc và trở thành một trụ muối.

Thế là Lót mất hết tài sản, mất vợ yêu quí, mất hai chàng rể. Lót đã lựa chọn giàu có thay vì đạo đức, lựa chọn theo mắt thấy thay vì đức tin. Lót đã sống xa Đức Chúa Trời mà gần thế gian, không biệt mình riêng ra cho Chúa mà lăn lộn với đời, sống như con người xác thịt thay vì thuộc linh.

Bây giờ, ông bị lương tâm cáo trách, tội lỗi giày vò làm cho đau đớn, nhưng ăn năn thì việc đã muộn. Để quên hết dĩ vãng gớm ghê và kinh hoàng đó, Lót uống rượu, uống thật nhiều đến nỗi say lúy túy. Đối với ông cũng như nhiều người ngày nay, rượu là linh dược để giải sầu. Nhân đó hai con gái của ông xui ông phạm tội loạn luân, lưu lại cho hậu thế một dòng dõi ô uế, mang lấy cái nhục muôn đời. Uống rượu không phải là một tội lớn, song chính điều đó là nguồn gốc sanh ra các tội tày đình khác. Rượu làm cho mình quên mọi sự, đồng thời nó cũng làm cho mọi người quên mình.

Chúa Jêsus đã chịu chết để cứu chúng ta khỏi tội. Bây giờ, chúng ta là dân thánh, dân được lựa chọn, dân của Đức Chúa Trời. Vậy, chúng ta hãy sống cho Chúa, sống bởi Chúa, sống xa lánh thế gian tội ác, là thế gian để dành cho lửa như Sô-đôm và Gô-mô-rơ ngày xưa.

CÂU HỎI

1. Khi biết thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ sắp bị hủy diệt, Áp-ra-ham đã làm gì?

2. Tại sao ông mặc cả với Chúa cho đến mười người công bình rồi thôi?

3. Khi hai thiên sứ đến Sô-đôm thì gặp Lót ở đâu? Ông đang làm gì ở đó?

4. Thiên sứ đến với Áp-ra-ham và đến với Lót khác nhau như thế nào?

5. Hai thiên sứ bảo Lót làm gì?

6. Hai chàng rể có thái độ gì khi nghe Lót báo tin Sô-đôm sẽ bị hủy diệt?

7. Tại sao Lót thức dậy trễ và do dự không muốn đi ra khỏi thành?

8. Tại sao bà Lót dừng bước và ngó lại sau?

9. Tại sao ông Lót say rượu?

10. Kết quả của việc Lót say rượu là gì?

BÀI 19. CON CỦA LỜI HỨA

KINH THÁNH: Sáng Thế Ký 21:1-8.

CÂU GỐC: “Vì tin chắc rằng điều chi Đức Chúa Trời đã hứa, Ngài cũng có quyền làm trọn được” (Rô-ma 4:21).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng không có gì khó quá cho Đức Chúa Trời. Ngài tôn trọng các lời hứa của Ngài đối với ai tin cậy và vâng lời Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ là thành tín

(Hê-bơ-rơ 10:25).

TH:

Sự sinh ra của con lời hứa

(Sáng 21:1-8).

TB:

Lời hứa không thay đổi của Đức Chúa Trời

(Hê-bơ-rơ 6:13-14).

TT:

Sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với Áp-ra-ham

(Rô 4:16-22; Hê 6:15).

TN:

Sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với Sa-lô-môn

(ICác 3:5-12; 8:56).

TS:

Sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với chúng ta

(Hê 6:11-20; 10:23).

TB:

Lời hứa về ĐTL được ứng nghiệm

(Giăng 14:16; Công 2:1-12).

“Chớ hề dối mình, Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu, vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy. Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát; song kẻ gieo cho Thánh Linh, sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời” (Ga-la-ti 6:7-8).

Theo luật bất di bất dịch đó, Lót gặt lấy điều mình đã gieo là đau đớn và sỉ nhục. Cũng theo luật đó, Áp-ra-ham gặt lấy điều mình đã gieo là vui mừng, thỏa mãn. Vì một đàng gieo cho xác thịt, một đàng gieo cho Thánh Linh.

I. ÁP-RA-HAM TRÔNG ĐỢI LỜI HỨA CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.

Chúa hứa sẽ cho ông bà một con và do con đó sẽ có một dòng dõi đông như sao trên trời không ai đếm được (Sáng 15:4-5). Lời hứa đó đã được lặp lại để nâng đỡ đức tin của Áp-ra-ham (Sáng 17:15-17). Lời hứa cũng được lặp lại để nâng đỡ đức tin của Sa-ra (Sáng 19:9-15). Bấy giờ, lời hứa đó được thực hiện.

Có bốn cách Đức Chúa Trời dựng nên con người:

1. Theo công lệ thiên nhiên, có nam có nữ: Mọi người.

2. Không cần môi giới nam nữ mà do Chúa trực tiếp dựng nên: A-đam.

3. Cần người nam mà không cần người nữ: Ê-va.

4. Ban thêm sức cho người không còn đủ sức để sanh đẻ: Sa-ra.

Áp-ra-ham chờ đợi rất lâu, có lúc ông bị cám dỗ mà phạm tội, vì tưởng Đức Chúa Trời không có thể thực hiện lời hứa của Ngài. Song không có gì khó khăn cho Chúa.

Thiếu tin cậy Chúa mà vội vàng hành động theo ý riêng, kết quả rất tai hại. Đó là trường hợp Áp-ra-ham lấy nàng Aga, sanh ra Ích-ma-ên. Ngay khi Aga vừa thọ thai đã gây nên sóng gió trong gia đình Áp-ra-ham (Sáng 16). Ngay khi Y-sác sanh ra, Ích-ma-ên và Aga đã bị đuổi khỏi nhà Áp-ra-ham. Vì không có nhà nào rộng đủ cho hai vợ ở. Một vợ thì nhà hẹp đến đâu cũng vừa, hai vợ thì nhà rộng đến đâu cũng thiếu. Cho đến ngày nay, dòng dõi của Ích-ma-ên là dân Arập với dòng dõi của Y-sác là dân Dothái còn thù hằn nhau.

Trái lại, không một ai tin cậy Chúa, chờ đợi Ngài mà lại bị hổ thẹn vì thất vọng (Thi Thiên 25:3; 69:6). Những người biết Chúa, tin Chúa là những người chờ đợi Ngài: Đa-vít (Thi Thiên 25:5), Ê-sai (Ê-sai 8:17), Giê-rê-mi (Giê-rê-mi 14:22), Mi-chê (Mi-chê 7:7).

II. ĐỨC CHÚA TRỜI TÔN TRỌNG LỜI HỨA CỦA NGÀI (c.1-3).

“Đức Giê-hô-va đến viếng Sa-ra”, tức là can thiệp vào để làm thành lời hứa của Ngài cho bà. Dầu Áp-ra-ham đã 100 tuổi, Sa-ra 90 tuổi, song đối với Chúa, đó không phải là nan đề, miễn là Áp-ra-ham chờ đợi đúng kỳ Ngài đã định. Điều chi Ngài đã hứa thì Ngài làm, vì Ngài thành tín đời đời. Vì thế Sa-ra đã thọ thai và sanh một trai, được Áp-ra-ham đặt tên là Y-sác như Chúa đã bảo (Sáng 17:19).

Sa-ra đã sống son sẻ gần hết một đời cho đến chừng được Chúa thăm viếng. Khi năng lực dồi dào mà không được Chúa thăm viếng thì vẫn son sẻ. Khi năng lực suy giảm kiệt quệ mà được Chúa thăm viếng thì lại sanh sản. Về phương diện thuộc linh, nguyên tắc này lúc nào cũng chính xác. Chúng ta có thể hoạt động không ngừng mà vẫn không kết quả như gieo giống trong sa mạc. Trái lại, khi được Chúa thăm viếng thì sa mạc trở nên phì nhiêu và có kết quả. “Ấy chẳng phải bởi quyền thế, cũng chẳng phải bởi năng lực, bèn là bởi Thần Ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy” (Xa-cha-ri 4:6).

Trong Hội Thánh có nhiều đời sống son sẻ, dầu đã nhiều năm phục vụ. Đó là vì không được Ngài thăm viếng. Sự thăm viếng của Chúa là phước hạnh, quý báu vô cùng! “Đức Giê-hô-va đoái xem (thăm viếng) An-ne, nàng thọ thai sanh ba con trai và hai con gái” (I Sa-mu-ên 2:21). “Đức Giê-hô-va đã đoái xem (thăm viếng) dân Ngài và ban lương thực cho” (Ru-tơ 1:60). “Đức Giê-hô-va thăm viếng dân Y-sơ-ra-ên và thấy điều cực khổ của họ” (Xuất 4:31). Tất cả các cơn phục hưng của Hội Thánh trên thế giới đều được Chúa thăm viếng. Vô phước cho ai không biết lúc mình được Chúa thăm viếng như dân thành Giê-ru-sa-lem đời xưa (Lu-ca 19:41-44).

Chúa chúng ta có chương trình nhất định cho mỗi một việc, khi đúng kỳ, Ngài thực hiện (Sáng 18:14-15). Khi kỳ hạn đã trọn, Đức Chúa Trời sai Con Độc Sanh của Ngài giáng thế (Ga-la-ti 4:4), Đấng Christ đã theo kỳ hạn chịu chết vì kẻ có tội (Rô-ma 5:6), Đấng Christ đã về trời và đúng kỳ hạn, Ngài sẽ trở lại (Công 3:21). “Còn ít lâu, thật ít lâu nữa, thì Đấng đến sẽ đến, Ngài không chậm trễ đâu” (Hê-bơ-rơ 10:37). Nguyện Chúa mau đến thăm viếng dân Ngài, để trước giờ Chúa tái lâm sẽ có một cơn phục hưng rất lớn.

III. ÁP-RA-HAM VUI MỪNG TIẾP NHẬN LỜI HỨA (c.4-8).

Chắc gia đình của Áp-ra-ham chưa có lúc nào vui bằng lúc này. Mặc dầu giàu có, sống lâu mà không con cũng không thỏa lòng, nhất là Chúa đã hứa cho ông một con mà Sa-ra cứ son sẻ cho đến năm 90 tuổi là lúc người đàn bà không còn có thể sanh đẻ được nữa. Nhưng lời hứa của Chúa không hề thay đổi nên ông bà vui mừng không xiết kể. Không những mừng vì mình có con mà còn vui mừng vì Đấng mà mình kính mến, tôn thờ là Chúa tể trời đất, toàn ái, toàn năng, thành tín. Đức tin của ông bà tăng trưởng hơn bao giờ hết.

Khi có một lời hứa nhỏ, chúng ta nhận được rất mau thì không vui bằng một lời hứa rất lớn, phải chờ đợi rất lâu mới nhận được. Không có lời hứa nào lớn lao quí báu bằng lời hứa về sự tái lâm của Chúa Jêsus. Tất cả những ơn phước kỳ diệu nhất đều tập trung vào lời hứa ấy. Vì vậy, chúng ta phải chờ đợi lâu.

Một bà cụ nghèo khó, xách giỏ đi mua nho. Ông chủ vườn lấy giỏ của bà và bảo bà đứng tại cổng chờ ông vào hái nho cho bà. Bà cụ sốt ruột đứng chờ 15, 20 rồi 30 phút mà chưa thấy ông chủ vườn trở lại. Bà bắt đầu lằm bằm: Làm ăn gì mà chậm chạp quá? Hay là ông này đã lấy luôn cái giỏ rồi?

Mất 45 phút, ông chủ vườn mới mang giỏ nho ra. Bà cụ bực tức: Ông hái nho lâu quá! Chủ vườn ôn tồn đáp: “Bà cụ ơi, nếu tôi hái lâu hơn nữa, bà nên vui mừng vì tôi lựa những chùm nho tốt nhất cho bà. Đây, bà hãy xem”. Bà cụ hối tiếc, xin lỗi và cảm ơn ông chủ vườn rối rít.

Khi Y-sác thôi bú, Áp-ra-ham mở một đại tiệc vui mừng. Bữa tiệc ấy chắc đông khách lắm, vì Áp-ra-ham là một nhân vật quan trọng, nổi danh, là bậc anh hùng đã chiến thắng Kết-rô Lao-me và các vua đồng minh mà giải phóng hai vua Sô-đôm và Gô-mô-rơ. Trong dịp này Áp-ra-ham giới thiệu Y-sác để chứng minh Đức Giê-hô-va là Đấng quyền năng, nhân từ, thành tín có một không hai. Ít nhất trong bài diễn văn ngắn, Áp-ra-ham đã kêu gọi mọi người ăn năn lìa bỏ tà thần mà trở về cùng Chúa.

Khi Ma-thi-ơ tức Lê-vi được Chúa kêu gọi theo Ngài, ông liền mở tiệc trọng thể tại nhà mình để thết đãi Chúa và giới thiệu Ngài cho bà con, bạn hữu (Lu-ca 5:27-29).

Cũng như Áp-ra-ham và Ma-thi-ơ, chúng ta nên tìm dịp bày tỏ niềm vui, niềm tin của mình cho mọi người, chứng minh ân điển và quyền năng của Chúa cho họ với mục đích đưa họ về cùng Ngài.

CÂU HỎI

1. Lót và Áp-ra-ham gieo gì và đã gặt gì?

2. Đức Chúa Trời đã hứa gì với Áp-ra-ham?

3. Có mấy cách Chúa dựng nên con người?

4. Điều gì chứng minh Đức Chúa Trời thành tín?

5. Áp-ra-ham phải có thái độ nào đối với lời hứa của Chúa?

6. Trong các lời hứa của Chúa cho chúng ta thì lời hứa nào quí và lớn hơn hết?

7. Để hưởng được lời hứa quí và lớn, chúng ta phải làm gì?

8. Lúc nào là lúc vui hơn hết trong đời của ông bà Áp-ra-ham?

9. Trong khi vui mừng thì Áp-ra-ham đã làm gì?

10. Áp-ra-ham và Ma-thi-ơ mở tiệc lớn với mục đích gì?

BÀI 20. ÁP-RA-HAM DÂNG Y-SÁC LÀM CỦA LỄ

KINH THÁNH: Sáng Thế Ký 22:1-19.

CÂU GỐC: “Lòng Đức Chúa Trời yêu chúng ta đã bày tỏ ra trong điều này: Đức Chúa Trời đã sai Con Một Ngài đến thế gian, đặng chúng ta nhờ Con được sống” (IGiăng 4:9).

MỤC ĐÍCH: Trình bày rằng sự dâng Y-sác làm của lễ là hình ảnh hy sinh của Đấng Christ và Đức Chúa Trời thử chúng ta như Ngài đã thử Áp-ra-ham.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đức Chúa Trời phó con Ngài là Chúa Jêsus

(Giăng 3:15-18).

TH:

Đức Chúa Trời quy định của lễ

(Lê 17:11; Hê-bơ-rơ 9:22).

TB:

Sự dâng Y-sác là hình bóng về Đấng Christ

(Hê 10:5-10).

TT:

Của lễ lạc hiến

(Sáng 22:6-9; Giăng 10:17-18).

TN:

Đức Chúa Trời dự bị một chiên con

(IGiăng 29; Sáng 22:8-13).

TS:

Đấng Christ, người gánh tội

(Ê-sai 53:7-11).

TB:

Đấng Christ, người gánh tội

(II Cô 5:21; I Phi 2:22-24).

Áp-ra-ham đã trải qua nhiều bước thử thách.

1. Phải dẹp bỏ tà thần để thờ một mình Đức Chúa Trời.

2. Phải lìa bỏ quê hương, vòng bà con và nhà cha mình để theo Chúa.

3. Phải dẹp bỏ lòng ích kỷ để nhường cho Lót chọn phần tốt nhất.

4. Phải dâng con một mình để làm của lễ toàn thiêu cho Chúa.

Đây là bước thử thách lớn nhất, lên đến tuyệt điểm. Song cũng nhờ đó mà đức tin Áp-ra-ham tăng trưởng mạnh mẽ nhất và quí hơn vàng ròng. Không những Áp-ra-ham mà bất cứ ai là con cái Chúa đều bị thử thách, từ dân Y-sơ-ra-ên xưa cho đến Hội Thánh ngày nay (Xuất 15:25; 16:4; 20:70; Gia-cơ 1:2-3; I Phi-e-rơ 1:6-7; 4:12-13). Chúa không cần thử thách Lót, vì ai nấy đều biết ông quá rõ rồi.

I. CHÚA TRUYỀN LỊNH CHO ÁP-RA-HAM DÂNG Y-SÁC (c.1-2).

Khi Chúa gọi, Áp-ra-ham thưa ngay: “Có tôi đây”. Lúc nào ông cũng sẵn sàng chờ lệnh như người lính túc trực. Ông luôn luôn giữ mối tương giao với Chúa, sống trong sự hiện diện của Ngài.

Mạng lệnh của Chúa rất rõ ràng như nhấn mạnh từng lời, không còn nghi ngờ gì hết: “Hãy bắt đứa con một, đứa con ngươi yêu dấu, đứa con đó là Y-sác, đem đến xứ (miền) Mô-ri-a, nơi đó dâng đứa con làm của lễ thiêu, trên một hòn núi mà ta sẽ chỉ cho” (Sáng 22:2).

Đó là mạng lịnh khủng khiếp, mỗi lời như một nhát gươm đâm vào quả tim của Áp-ra-ham. Đối với ông, Y-sác là tất cả: Đứa con độc nhất, đứa con của lời hứa, đứa con hy vọng, đứa con yêu dấu. Phải, song chính đứa con như thế mới xứng đáng dâng lên làm của lễ toàn thiêu cho Đức Chúa Trời. Ngài không đòi ít hơn. Chúng ta không nên dâng cho Ngài “một của lễ thiêu chẳng tốn chi hết” (I Sử 21:24). Chúng ta phải “dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh đẹp lòng Đức Chúa Trời” (Rô-ma 12:1).

Áp-ra-ham đã tìm thấy nguồn an ủi, phước hạnh, hy vọng vô biên của ông không phải là Y-sác mà là Đức Chúa Trời. Y-sác chỉ là công cụ Chúa dùng để thực hiện lời hứa của Ngài. Vì vậy, nếu mất Y-sác mà còn Chúa là đủ; ngược lại, nếu còn Y-sác mà mất Chúa, tức là không đẹp lòng Ngài, thì Y-sác hoàn toàn vô dụng. Y-sác không phải là số một, Đức Chúa Trời mới là số một của Áp-ra-ham. Lấy làm vô lý mà xem quí tạo vật hơn Đấng Tạo Hóa. Đó là bí quyết của sự vâng lời trọn vẹn.

II. ÁP-RA-HAM VÂNG LỜI CHÚA DÂNG Y-SÁC LÀM CỦA LỄ (c.3-10).

1. Áp-ra-ham dậy sớm và chuẩn bị mọi sự (c.3).

Dậy sớm tỏ ra lòng sốt sắng, sẵn sàng vâng lời. Đa-vít cũng làm như vậy (Thi Thiên 119:60). Đức tin chỉ biết vâng lời. Áp-ra-ham ra lệnh cho hai đầy tớ thắng lừa, chất củi, đem lửa, rồi ông dẫn con mình là Y-sác và hai đầy tớ cùng đi. Áp-ra-ham không cho Sa-ra hay biết gì cả, sợ bà ngăn trở khiến công việc phải dỡ dang.

2. Áp-ra-ham để hai đầy tớ lại một nơi (c.4-6).

Khi gần đến chỗ dâng của lễ thiêu, Áp-ra-ham bảo hai đầy tớ ở lại một nơi với con lừa, chỉ có Y-sác đi với ông và hứa sẽ trở lại với họ. Ông không muốn đem hai đầy tớ theo, bởi vì họ không hiểu ý nghĩa sâu xa của cuộc thờ phượng nên có thể ngăn trở ông dâng Y-sác làm của lễ thiêu, vì tưởng ông đã lãng trí rồi. Áp-ra-ham nói với hai đầy tớ là ông và Y-sác đi đến chốn kia để thờ phượng. Lòng ông đối với Chúa trong lúc này vẫn êm dịu, ngọt ngào, tỏ ra kính mến Ngài như vốn có trước kia, chứ không chút gì thay đổi.

3. Áp-ra-ham trả lời cho Y-sác (c.7-8).

Y-sác đã 16 hay 17 tuổi, có sức vác đủ củi để thiêu một con sinh, nên cũng ý thức được nhu cầu một con chiên làm của lễ. Vậy, Y-sác hỏi Áp-ra-ham: “Cha ơi, củi đây, lửa đây, nhưng chiên con đâu để làm của lễ”. Áp-ra-ham đáp: “Con ơi, chính Đức Chúa Trời đã sắm sẵn lấy chiên con dùng làm của lễ thiêu”. Trong một hoàn cảnh như vậy, Áp-ra-ham vẫn bình tĩnh bày tỏ đức tin mãnh liệt của mình khi hứa với hai đầy tớ và trả lời cho Y-sác. Với hai đầy tớ, ông hứa rằng Y-sác với ông sẽ trở lại. Với Y-sác, ông trả lời rằng Đức Chúa Trời chịu trách nhiệm sắm sẵn chiên con cho họ.

Con đường ba ngày đi thật vất vả, song nó còn là con đường định mệnh đưa đến cảnh tan lòng nát dạ là con mình phải chết. Con đường xa phải đi mất ba ngày là một thử thách nặng cho Áp-ra-ham, vì trải qua một cơn chiến đấu kịch liệt và dai dẳng giữa lý trí và đức tin. Áp-ra-ham không hành động phản lý trí như nhắm mắt làm liều, song ông đã suy nghĩ kỹ càng. Theo lý trí, ông không thể có Y-sác, song ông đã có Y-sác là nhờ đức tin. Đức tin của ông không đặt trên hoàn cảnh mà trên Đức Chúa Trời toàn năng. Khi chưa có Y-sác mà Chúa đã cho có, bây giờ có Y-sác mà Y-sác chết đi, Chúa có quyền khiến nó sống lại (Hê-bơ-rơ 11:9). Lý trí phải nhường chỗ cho đức tin.

4. Áp-ra-ham dâng Y-sác trên bàn thờ (c.9-10).

Biết và tin như vậy rồi, Áp-ra-ham tiến từng bước một trên con đường vâng lời trọn vẹn, và đây là bước cuối cùng.

Áp-ra-ham lập một bàn thờ, chất củi lên, trói Y-sác và đặt trên đống củi của bàn thờ, tay cầm lấy dao để giết con mình. Thiết tưởng Áp-ra-ham không dùng bạo lực để trói con mình. Y-sác mạnh hơn Áp-ra-ham nên có thể kháng cự hoặc chạy trốn. Vì vậy, trước khi trói con mình, Áp-ra-ham đã giải thích mọi sự cho Y-sác để Y-sác cũng tin cậy và vâng lời Chúa hoàn toàn như mình. Kết quả Y-sác tình nguyện để cha mình trói lại. Được như vậy, không phải chỉ do bài giảng ngắn của Áp-ra-ham trong nửa giờ hoặc một giờ, song nhờ sự dạy dỗ của ông từ khi Y-sác còn nhỏ. Ngoài ra, nếp sống đức tin của Áp-ra-ham có ảnh hưởng mạnh trên Y-sác không phải chỉ một lần này, mà hằng ngày, suốt mười mấy năm qua. Áp-ra-ham với Y-sác thật là: “Cha nào con nấy”.

III. ĐỨC CHÚA TRỜI BAN CỦA LỄ THAY Y-SÁC (c.11-14).

Đức Chúa Trời đã can thiệp kịp thời để Áp-ra-ham không cần giết Y-sác. Không những Đức Chúa Trời biết mà cả thế gian đều biết Áp-ra-ham kính sợ Chúa đến nỗi không tiếc chính con một yêu dấu của mình. Ngài đã ban cho ông một sinh tế thay thế cho Y-sác. Đức tin phải chứng minh bằng việc làm. Đức tin có giá trị khi nào có việc làm cặp theo. Đức Chúa Trời đã mượn Áp-ra-ham trong việc này để giải thích tình thương của Ngài đối với thế gian khi ban Con Một của Ngài chịu chết vì họ (Ê-sai 53:10; Rô-ma 3:32).

Nhờ thử thách như vậy mà Áp-ra-ham biết Đức Giê-hô-va Dirê, tức là Đức Chúa Trời sắm sẵn. Không những biết Chúa bằng trí óc, trong lý thuyết, song Áp-ra-ham cũng biết Chúa qua kinh nghiệm bản thân của mình, để suốt đời không bao giờ nghi ngờ hoặc sợ hãi.

IV. PHƯỚC HẠNH SAU KHI DÂNG CỦA LỄ (c.15-19).

Đức Chúa Trời rất cảm động vì lòng kính sợ Ngài của Áp-ra-ham, nên hai lần Ngài nhắc lại việc ông không tiếc con một mình (c.12-16). Đức Chúa Trời hứa sẽ ban phước cho ông, thêm dòng dõi ông đông như sao trời, như cát biển. Lời hứa của Ngài là vô cùng chắc chắn (Hê-bơ-rơ 6:13-14).

Khi từ núi Mô-ri-a trở về, lòng của Áp-ra-ham và lòng của Y-sác nhẹ nhàng như bay bổng một niềm vui mới mẽ tràn ngập, một niềm vui họ chưa bao giờ biết. Thời gian bị thử thách rất ngắn, thời gian được hưởng phước rất dài.

CÂU HỎI

1. Xin kể lại những thử thách của Áp-ra-ham trên bước đường theo Chúa?

2. Chúa truyền lịnh cho ông phải làm gì?

3. Điều gì tỏ ra Áp-ra-ham sốt sắng vâng lời Chúa?

4. Tại sao Áp-ra-ham không cho Sa-ra hay biết?

5. Tại sao Áp-ra-ham để hai đầy tớ lại một nơi?

6. Điều nào chứng minh đức tin mạnh mẽ của Áp-ra-ham?

7. Tại sao chúng ta biết Áp-ra-ham cân nhắc kỹ lưỡng, chứ không phải làm liều?

8. Vì sao Y-sác không kháng cự hoặc chạy trốn mà để cha mình trói lại đặt trên bàn thờ?

9. Nhờ việc này Áp-ra-ham biết thêm Đức Chúa Trời là Đấng thế nào?

10. Chúng ta nghĩ thế nào về Áp-ra-ham và Y-sác khi từ núi Mô-ri-a trở về?

11. Bài học này dạy chúng ta phải dâng tế lễ nào cho Chúa?

BÀI 21. Y-SÁC YÊU RÊ-BE-CA.

KINH THÁNH: Sáng Thế Ký 24:1-67.

CÂU GỐC: “Chúng ta yêu, vì Chúa đã yêu chúng ta trước” (IGiăng 4:19).

MỤC ĐÍCH: Dạy về phần thưởng của đức tin đồng thời bày tỏ tình thương cao cả Chúa dành cho chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ yêu chúng ta

(Giăng 15:4-13).

TH:

Đức Chúa Trời hướng dẫn Ê-li-ê-se

(Sáng 24:1-60).

TB:

Đức Chúa Trời hướng dẫn Ghê-đê-ôn

(Quan xét 6:36-40).

TT:

Đấng Christ hướng dẫn các môn đồ Ngài

(Lu-ca 7:1-3).

TN:

Đức Chúa Trời hướng dẫn chúng ta

(Châm 5:6; Ê-sai 65:24).

TS:

Y-sác yêu Rê-be-ca

(Sáng 24:61-67).

TB:

Đấng Christ yêu Hội Thánh

(Ê-phê-sô 5:25-32; Khải 19:7).

Sau khi từ núi Mô-ri-a trở về, cuộc sống của gia đình Áp-ra-ham rất êm đềm. Thời gian trôi qua, Sa-ra đã 127 tuổi và bà qua đời. Áp-ra-ham chôn cất thi hài vợ mình một cách chu đáo.

Bây giờ Áp-ra-ham đã cao tuổi, nên việc ông phải lo là cưới vợ cho Y-sác. Áp-ra-ham bèn gọi Ê-li-ê-se, người đầy tớ trung thành và giao việc này cho người.

I. ÁP-RA-HAM NHỜ CHÚA ĐỂ TÌM VỢ CHO Y-SÁC (c.1-9).

Áp-ra-ham buộc Ê-li-ê-se nhân danh Đức Giê-hô-va là Chúa của trời và đất mà thề không cưới một thiếu nữ Ca-na-an làm vợ Y-sác, vì ông biết rằng dân Ca-na-an rất gian ác, đến nỗi Chúa sẽ ra lịnh tuyệt diệt họ. Không thể nào cưới một người vợ của dân tộc bị rủa sả để được phước và làm nguồn phước cho mọi người. Sự trái ngược như thế không thể nào xảy ra được. Đầy tớ của Áp-ra-ham phải trở về quê hương ông, tìm trong vòng bà con ông một thiếu nữ làm vợ Y-sác.

Thật là một cuộc hôn nhân hiếm có. Đáng lẽ trai gái phải gặp nhau, tìm hiểu nhau và sau khi tâm đầu ý hợp mới tiến đến hôn nhân. Đằng này họ chưa hề thấy nhau bao giờ mà chỉ có ông mai, đi đến một xứ xa tìm vợ cho một người, rồi dẫn về.

Biết được sự khó khăn đó, Ê-li-ê-se đề nghị cho Y-sác cùng đi với mình, bằng không thiếu nữ đó sẽ không chịu theo ông mà về Ca-na-an. Áp-ra-ham quả quyết: “Hãy cẩn thận đừng đem con ta về xứ đó”. Vì Chúa đã kêu gọi ông từ xứ đó ra đi, nên không thể nào cho con ông trở về xứ đó. Nhưng đối với Áp-ra-ham, việc có thể thành, vì “chính Ngài sẽ sai thiên sứ đi trước ngươi…” Dầu sao, “chớ đem con ta về xứ đó”. Ê-li-ê-se thề sẽ làm theo điều chủ mình đã dặn.

Áp-ra-ham hoàn toàn tin cậy và giao phó việc này cho Chúa chứ không cho Ê-li-ê-se. Chính Chúa toàn tri, toàn năng sẽ hướng dẫn, lo liệu mọi sự. Thiết tưởng trước đó Áp-ra-ham đã đem việc này ra bàn với Y-sác và được Y-sác đồng ý. Thà chọn con đường khó khăn của Chúa, rồi chúng ta nhờ Ngài giúp đỡ, hơn là chọn con đường của mình, thì dầu dễ nhưng sẽ thất bại chua cay, ân hận suốt đời. Bước đi trong ý Chúa là bước đi với Chúa, hơn là bước đi theo ý mình là bước đi một mình.

II. RÊ-BE-CA, NGƯỜI ĐƯỢC CHÚA CHỌN CHO Y-SÁC (c.10-28).

Ê-li-ê-se bắt yên cho mười lạc đà vì chở nhiều sính lễ quí giá, còn phải đón cô dâu và các nàng hầu cùng đi theo nữa.

Khi đến ngoài thành Cha-ran, Ê-li-ê-se cho các con lạc đà nằm nghỉ, còn ông cầu nguyện: “Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chủ tôi…” Khi cầu nguyện như vậy, không có nghĩa là ông chối Ngài không phải là Đức Chúa Trời của ông, song ông nhân danh chủ mình vì việc này là của Áp-ra-ham chứ không phải việc riêng của ông. Ông tha thiết nài xin Chúa làm ơn cho chủ mình mà cho ông gặp được người nữ mà Chúa đã chọn làm vợ Y-sác. Đó là một thiếu nữ lễ độ, nhã nhặn, đảm đang, tháo vát. Dấu hiệu là khi thiếu nữ đó đi ra xách nước, ông

sẽ xin uống một hớp, không những cô cho ông uống ngay mà còn xách nước cho mười con lạc đà của ông uống nữa. Lạc đà uống nước nhiều lắm, nên mười con uống phải xách nước nhiều lần mới đủ. Thế mà việc xảy ra đúng như lời Ê-li-ê-se xin. Rê-be-ca là thiếu nữ đó. Nàng không những là một người có dung nhan đẹp đẽ, mà tính tình cũng đẹp đẽ nữa. Nàng thật là một thiếu nữ tài đức, giá trị nàng trổi hơn châu ngọc.

Mừng rỡ quá, Ê-li-ê-se vội vàng lấy ra một vòng vàng nặng nửa siếc lơ và một đôi xuyến nặng 10 siếc lơ mà tặng cho Rê-be-ca. Mỗi siếc lơ nặng hơn 10 gờram. Ê-li-ê-se liền hỏi nàng là con ai và biết nàng có liên hệ gia tộc với Áp-ra-ham như ông đã dặn dò. Ê-li-ê-se hỏi thêm rằng nhà nàng có đủ chỗ cho ông qua đêm hay không. Rê-be-ca cho biết là có đủ hết. Ê-li-ê-se cúi đầu cảm tạ, ca ngợi sự thương xót và thành tín của Chúa đối với Áp-ra-ham, chính Ngài đã dẫn ông đến nơi người muốn, và cho ông gặp được người Ngài chọn.

Nếp sống đức tin của Áp-ra-ham chẳng những có ảnh hưởng sâu xa trên đời sống Y-sác, mà cũng ảnh hưởng trên đời sống của Ê-li-ê-se nữa. Có thể nói đức tin của Ê-li-ê-se là đức tin đã ở trong Áp-ra-ham, cũng như đức tin của Ti-mô-thê là đức tin đã ở trong bà và trong mẹ của ông (II Ti-mô-thê 1:5).

III. RÊ-BE-CA BẰNG LÒNG LÀM VỢ Y-SÁC (c.29-61).

Khi câu chuyện xảy ra, chắc có người về báo tin cho bà Bê-tu-ên, nên La-ban là anh của Rê-be-ca vội vàng chạy ra. Thấy vòng vàng và xuyến nơi tay em mình, cùng nghe thuật lại mọi việc, người liền đi đến bên Ê-li-ê-se mà lễ phép mời vào nhà. Gia đình Bê-tu-ên tiếp đãi Ê-li-ê-se và những người đi theo một cách ân cần, chu đáo. Nhưng Ê-li-ê-se nhất định không ngồi vào bàn ăn cho đến khi nói xong việc mình phải nói. La-ban đáp: “Hãy nói đi”.

Ê-li-ê-se bèn tự giới thiệu mình là đầy tớ của Áp-ra-ham, rồi thuật lại thể nào Đức Giê-hô-va đã ban cho chủ mình thịnh vượng lắm, có chiên, bò, lừa, lạc đà, bạc, vàng và tôi trai, tớ gái. Chủ ông khi trở về già sanh một con trai và giao hết gia tài cho con trai đó. Chủ bảo ông phải về nơi bà con của chủ mình tìm một người vợ cho con trai đó. Rồi Ê-li-ê-se cứ tiếp tục thuật lại hết mọi việc đã xảy ra khi ông đến Cha-ran gặp Rê-be-ca, đúng như lời người cầu xin với Đức Giê-hô-va. Cuối cùng, ông xin gia đình Bê-tu-ên cho biết ý kiến.

La-ban và Bê-tu-ên đáp: “Điều đó do Đức Giê-hô-va mà ra, chúng tôi đâu có phép nói được cùng ngươi rằng quấy hay phải”. Họ liền chỉ vào Rê-be-ca mà bảo Ê-li-ê-se: “Hãy dẫn nó đi để nó được làm vợ con trai của chủ ngươi theo như lời Đức Giê-hô-va phán định”.

Một lần nữa, Ê-li-ê-se mừng rỡ cảm tạ Chúa. Ông liền lấy nữ trang trao cho Rê-be-ca và dâng cho anh và mẹ nàng các vật quí giá. Kế đó, họ ngồi lại với nhau mà ăn uống, chuyện trò vui vẻ như một tiệc cưới.

Dầu mới đến từ xa, song sự vui vẻ đã làm cho Ê-li-ê-se quên cả mệt nhọc, nên sáng hôm sau ông muốn trở về ngay. Gia đình Rê-be-ca muốn cầm lại mười ngày. Nhưng khi hỏi Rê-be-ca muốn đi ngay về nhà chồng hay không thì nàng đáp: “Con muốn đi!” Thế là họ chúc phước cho nàng rồi để cho đi, có người vú đi theo nữa.

Rê-be-ca đã bước đi bởi đức tin đến Đức Giê-hô-va theo lời làm chứng của Ê-li-ê-se. Lời làm chứng rất nhiệt thành cũng như thái độ rất tận tâm của Ê-li-ê-se, nhất là đức tin lớn lao của ông đối với Đức Giê-hô-va có tác động truyền cảm mãnh liệt, làm cho Rê-be-ca hoàn toàn chấp nhận lời cầu hôn của ông mai Ê-li-ê-se mà không còn nghi ngờ, sợ hãi gì khi phải dấn thân vào một cuộc hôn nhân như vậy.

Trước hết, chúng ta nghĩ về Đức Thánh Linh đã làm chứng về Chúa Jêsus cho chúng ta, đến nỗi chúng ta chịu cảm động, sẵn sàng từ bỏ mọi sự để theo Ngài trên con đường xa lạ, song chẳng bao giờ sai lầm. Chúng ta cũng nghĩ về sự làm chứng của chúng ta cho Chúa Jêsus trước mặt mọi người. Phải biết rõ là để làm chứng kết quả, chúng ta phải làm chứng nhiệt thành, tận tâm khiến cho người nghe cảm nhận được mà sẵn sàng theo Chúa.

IV. Y-SÁC CƯỚI RÊ-BE-CA (c.62-67).

Một người vợ công, dung, ngôn, hạnh vẹn toàn như Rê-be-ca thật đáng yêu. Ngoài ra, mọi sự đều do Chúa sắp xếp, hướng dẫn mà nàng cũng sẵn sàng vâng phục Ngài nên càng đáng yêu hơn nữa. Thật, “nhà cửa và tài sản là cơ nghiệp của tổ phụ để lại; còn một người vợ khôn ngoan do nơi Đức Giê-hô-va mà đến” (Châm 19:14).

Y-sác cuới Rê-be-ca làm vợ và yêu thương nàng. Y-sác yêu Rê-be-ca là hình ảnh Chúa Jêsus yêu chúng ta vì chúng ta thuộc về Hội Thánh Ngài (Ê-phê-sô 5:25-32).

CÂU HỎI

1. Tại sao Áp-ra-ham phải lo cưới vợ cho Y-sác?

2. Ông giao việc này cho ai với những điều kiện gì?

3. Nhờ đâu Áp-ra-ham tin một việc khó khăn như vậy lại có thể đem lại kết quả?

4. Chúng ta thấy Ê-li-ê-se là người thế nào?

5. Nhờ đâu mà Ê-li-ê-se có một đời sống như vậy?

6. Tại sao Rê-be-ca dám bỏ quê hương, nhà cha mẹ mà đi theo Ê-li-ê-se về nhà chồng?

7. Rê-be-ca là một thiếu nữ thế nào?

8. Vì sao Rê-be-ca đáng được Y-sác yêu?

9. Chúng ta phải làm chứng thế nào cho đồng bào tin và sẵn sàng theo Chúa?

10. Tình yêu của Y-sác đối với Rê-be-ca là hình ảnh tình yêu của ai đối với ai?

BÀI 22. Y-SÁC – NGƯỜI GIẢNG HÒA

KINH THÁNH: Sáng Thế Ký 26:12-33.

CÂU GỐC: “Hãy tránh sự ác, và làm điều lành, hãy tìm kiếm sự hòa bình, và đeo đuổi sự ấy” (Thi Thiên 34:14).

MỤC ĐÍCH: Chứng tỏ Y-sác giống như cha, hy sinh quyền lợi vì cớ hòa bình. Thách thức chúng ta trở thành người giảng hòa và nhận thức rằng chỉ có Đấng Christ giúp chúng ta sống hòa thuận với nhau.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ ban hòa bình

(IITê 3:13).

TH:

Y-sác giảng hòa

(Sáng 26:1-33).

TB:

Abigain cầu hòa

(I Sam 25).

TT:

Đức Chúa Trời là Chúa của sự hòa bình

(Rô-ma 15:33).

TN:

Kẻ giảng hòa được gọi là con của Đức Chúa Trời

(Ma-thi-ơ 5:9).

TS:

Chúng ta phải giảng hòa

(Rô-ma 14:19; Hê-bơ-rơ 12:14).

TB:

Chúng ta không nên tranh giành

(Rô 12:15-21; IITê 2:22-24).

Y-sác và Rê-be-ca sống êm đềm với hai con là Ê-sau và Gia-cốp. Bấy giờ, trong xứ lại có cơn đói kém nữa như trong đời Áp-ra-ham. Y-sác định xuống Ê-díp-tô, song Đức Chúa Trời hiện ra với ông và ngăn trở ông xuống đó nên ông ở lại Ghêra, thuộc xứ Phi-li-tin. Ê-díp-tô rất xa, còn Phi-li-tin bên cạnh Ca-na-an.

Vì nàng Rê-be-ca đẹp, Y-sác sợ vì nàng mình sẽ bị giết, nên ông nói dối: Đó là em gái. Lại thêm một điều đáng tiếc vì Y-sác sợ điều không đáng sợ, sợ cách vô lý. Sợ hãi là một sự cám dỗ làm cho nhiều người chối Chúa như Y-sác chối vợ mình mà nói là em gái. Nếu Chúa không can thiệp, Y-sác có thể mất vợ. Tuy nhiên ông cũng bị vua Phi-li-tin quở trách vì tội nói dối.

I. Y-SÁC TÌM KIẾM SỰ GIẢNG HÒA (26:12-22).

Tại Ghêra, Y-sác chẳng những chăn nuôi mà còn trồng tỉa. Năm đó ông gặt được một trăm lần nhiều hơn. Y-sác trở nên một nhân vật quan trọng, vì có rất nhiều hoa quả, súc vật và tôi tớ.

Kiều ngụ ở xứ người mà giàu có hơn người thì không thể nào tránh khỏi lòng ganh tị của họ. Vì thế, những giếng mà Áp-ra-ham đã đào mấy mươi năm trước đều bị dân Phi-li-tin lấp lại hết. Họ muốn ngăn chặn mức phát triển và tiến bộ của Y-sác. Đồng thời vua Phi-li-tin ra lịnh trục xuất Y-sác khỏi xứ mình để lấy lại phần đất phì nhiêu mà Y-sác đã canh tác, cũng để tránh khỏi cái họa nổi loạn do thế lực của Y-sác có thể gây nên. Vậy Y-sác đã bỏ chỗ mình đang ở mà dời ra trũng Ghêra.

Vì nhu cầu của bầy vật rất nhiều. Y-sác phải cho đào mấy cái giếng của cha mình đã bị dân Phi-li-tin lấp lại và đặt tên như trước. Ông còn đào thêm giếng mới nơi trũng và gặp chỗ có mạch. Song bọn chăn chiên Phi-li-tin tranh giành giếng đó bảo là trong phạm vi xứ sở của họ. Y-sác lại đào giếng khác nhưng cũng bị tranh giành nữa. Ông bèn bỏ chỗ đó đi đào một giếng khác. Lần này họ không tranh giành, cãi lẫy với ông, nên ông nói rằng: “Bây giờ Đức Giê-hô-va đã để cho chúng ta được ở rộng rãi, và ta sẽ đặng thịnh vượng trong xứ” (22).

Y-sác không phải là người yếu thế, vì vua Phi-li-tin còn sợ ông. Y-sác cũng không phải là người nhu nhược, chịu khuất phục trước sự bất công. Song ông là người trầm tĩnh, khiêm tốn, ôn hòa đối với mọi người, không muốn tranh chấp những việc nhỏ mọn. Chúa cho ông bà và dòng dõi ông cả xứ Ca-na-an làm cơ nghiệp thì mấy cái giếng đó có nghĩa lý gì. Mất của cải đời này không đáng ngại bằng mất đạo đức. Ông muốn tỏ ra là người tin cậy Chúa, một người vĩ đại không phải vì giàu có, quyền thế mà vì đạo đức cao trọng.

Đây là bài học quí giá cho chúng ta. Cơ Đốc Nhân không phải là người hay tranh giành và cãi lẫy, song là người hòa nhã, hiền lành, lúc nào cũng sẵn sàng nhường nhịn và nhẫn nại một cách cao thượng. Vì “thà ở nơi xó nóc nhà, hơn là ở chung nhà với một người đàn bà hay tranh cạnh. Thà ở nơi vắng vẻ, hơn là ở với một người đàn bà hay tranh cạnh và nóng giận” (Châm 21:9,19). Một người đàn bà như vậy không còn ai có thể chung sống, phương chi là một người đàn ông. Trái lại, “phước cho những kẻ làm cho người hòa thuận vì sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời” (Ma-thi-ơ 5:9). “Nếu có thể được, hãy hết sức mình mà hòa thuận với mọi người” (Rô-ma 12:18).

II. Y-SÁC ĐƯỢC PHƯỚC SAU KHI GIẢNG HÒA (c.23-33).

1. Ông được Chúa thăm viếng (c.23-25).

Y-sác bỏ Ghêra dời về Bê-e-sê-ba thuộc địa phận Ca-na-an. Ngay đêm đó, Đức Giê-hô-va hiện ra với ông và nhắc lại lời Ngài đã hứa với Áp-ra-ham: “Chớ sợ chi, Ta ở cùng ngươi, sẽ ban phước cho ngươi và thêm dòng dõi ngươi”.

Chúa khen thưởng thái độ anh hùng đức tin của Y-sác. Bây giờ, được Chúa ở cùng, ông không mất chi hết, không sợ gì cả, vì Ngài sẽ ban phước cho ông.

Sống thịnh vượng vật chất tại Ghêra mà bị dòm ngó, ghen ghét, tranh giành, cãi lẫy, làm cho thần kinh lúc nào cũng căng thẳng thì không hạnh phúc bao nhiêu, nếu không muốn nói là không hạnh phúc gì cả. Song tại Bê-e-sê-ba, Y-sác được Chúa thăm viếng, trò chuyện, bảo đảm an ninh, thật là vô cùng sung sướng. Sống trong sự hiện diện của Chúa, tương giao mật thiết với Ngài là cảnh thiên đàng trên đất. Mất ơn phước thuộc thể mà được ơn phước thuộc linh thì không thiệt hại chi.

“Y-sác lập một bàn thờ cầu khẩn danh Chúa”. Suốt những năm sống tại Phi-li-tin, Y-sác không được Chúa thăm viếng, ông cũng không lập một bàn thờ nào để cầu khẩn Ngài. Bấy giờ, ông dâng của lễ cảm tạ, ca ngợi Chúa đã gìn giữ mình, dẫn dắt ông trong đoạn đường khó khăn đã qua, và đóng trại tại đó, tức là định cư vì đã tìm được một nơi bình an để sống. Phước hạnh không phải là nơi giàu có bèn là nơi Chúa đặt mình, nơi Chúa ở với mình.

2. Ông được kẻ thù cầu hòa với mình (c.26-33).

Bấy giờ, Abimêléc, vua Phi-li-tin, đi với các nhân vật quan trọng đến thăm Y-sác với ý định cầu hòa. Y-sác hỏi: Quí ông đã ghét tôi, xua đuổi tôi, sao còn đến với tôi? Họ đáp: Chúng tôi thấy rõ rằng Đức Giê-hô-va phù hộ ông, nên nghĩ rằng phải có một lời thề giữa chúng tôi với ông: Hai bên quyết không xâm phạm nhau.

Như vậy, trước đó họ có ý dùng đủ cách để làm hại Y-sác, bây giờ họ thấy Y-sác càng được thạnh vượng hơn, bình an hơn nên họ bắt đầu sợ Y-sác báo thù, mặc dầu Y-sác không bao giờ có ý đó. Họ không biết Đức Giê-hô-va là ai, song biết Y-sác thờ phượng Ngài, và họ thấy rõ Ngài phù hộ ông, ở với ông, nên họ không thể làm gì để hại ông được. Đó là lý do họ muốn cầu hòa với Y-sác.

Y-sác chấp nhận đề nghị của họ, thề sẽ chẳng bao giờ làm hại họ. Ông mở tiệc khoản đãi họ, rồi đưa họ về bình an.

Y-sác được xem là ngang hàng với vua Phi-li-tin, đến nỗi vua ấy kính nể ông mà cầu hòa với ông. Sức mạnh của ông là Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta sợ ma quỉ, ma quỉ sẽ làm cho chúng ta sợ nó, nếu chúng ta không sợ ma quỉ, ma quỉ sẽ sợ chúng ta. “Đức Giê-hô-va là ánh sáng và là sự cứu rỗi tôi: Tôi sẽ sợ ai? Đức Giê-hô-va là đồn lũy của mạng sống tôi: Tôi sẽ hãi hùng ai?” (Thi Thiên 27:1).

Cũng trong ngày đó, các đầy tớ của Y-sác trình cho ông là giếng của họ đào đã có nước. Chúa lo liệu mọi sự cho ông. Nhờ Chúa tốt hơn người biết bao!

Nguyện Chúa Jêsus là Chúa hòa bình ngự trị đời sống của mỗi chúng ta để ai nấy ăn ở hòa bình với mọi người chung quanh, hầu chứng tỏ cuộc đời đạo đức cao thượng của Cơ đốc nhân.

CÂU HỎI

1. Trong đời Y-sác, xứ Ca-na-an xảy ra điều gì?

2. Khi đến kiều ngụ tại Phi-li-tin? Y-sác phạm tội gì? Tại sao?

3. Chúa ban phước gì cho Y-sác?

4. Tại sao dân Phi-li-tin ganh tị?

5. Khi ganh tị thì họ làm gì cho Y-sác?

6. Y-sác có thái độ gì đối với người Phi-li-tin?

7. Y-sác được phước gì khi dời về Bê-e-sê-ba?

8. Cuộc sống của Y-sác tại Ghêra và tại Bê-e-sê-ba khác nhau thế nào?

9. Y-sác lập bàn thờ cầu khẩn Chúa có ý nghĩa gì?

10. Vua Phi-li-tin và đoàn tùy tùng đến cùng Y-sác để làm gì?

11. Bài học này dạy chúng ta điều gì?

BÀI 23. Ê-SAU BÁN QUYỀN TRƯỞNG NAM

KINH THÁNH: Sáng Thế Ký 25:19-34.

CÂU GỐC: “Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời” (Giăng 1:12).

MỤC ĐÍCH: Giúp chúng ta ý thức về quyền lợi lớn lao của mình trong Đấng Christ, cảnh cáo về sự lơ là đối với ơn cứu rỗi.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ ban cơ nghiệp cho chúng ta

(I Phi-e-rơ 1:3-5).

TH:

Ê-sau mất quyền trưởng nam

(Sáng 25:19-34; 27:1-46).

TB:

Ê-sau là gương cảnh cáo chúng ta

(Hê-bơ-rơ 12:14-17).

TT:

Cơ nghiệp nơi Đấng Christ

(I Cô 2:9-10; I Phi 1:3-5).

TN:

Sự đắc thắng của Đấng Christ

(Khải 21:7; 22:14).

TS:

Dấu hiệu của tính xác thịt

(Rô-ma 8:5-8; ICôr 3:1-3).

TB:

Trái của sự không vâng phục

(Ma-thi-ơ 7:19-27).

Khi Y-sác được 40 tuổi, ông cưới Rê-be-ca làm vợ. Sau khi chung sống 20 năm, Rê-be-ca thọ thai đôi sanh ra Ê-sau và Gia-cốp (Sáng 25:19-34). Hai con trai song sinh này có tính tình khác nhau: Ê-sau là một thợ săn giỏi, thích đồng ruộng và nếp sống tự do, Gia-cốp lại hiền hòa, cứ ở trong nhà. Y-sác yêu Ê-sau vì ông thích ăn thịt rừng do Ê-sau cung cấp; Rê-be-ca yêu Gia-cốp vì bà thích được phục vụ.

Dầu hai anh em song sinh, nhưng Ê-sau ra trước nên kể là trưởng nam. Quyền lợi của con trưởng nam là: (1). Được hai phần gia tài (Phục 21:17). (2). Được cha chúc phước trước khi người qua đời (Sáng 27:1-46).

I. Ê-SAU KHINH QUYỀN TRƯỞNG NAM.

Quyền lợi của con trưởng nam rất lớn, nhất là được cha nhân danh Chúa mà chúc phước cho. Song vì thiếu đức tin, Ê-sau xem điều đó không có giá trị, một hy vọng xa vời, không chắc chắn. Ông muốn sống cách thực tế, theo những gì mắt thấy được, tay rờ được. Vì thế, khi Gia-cốp xin mua quyền trưởng nam, thì Ê-sau đáp: “Anh gần qua đời, quyền trưởng nam để lại cho anh làm gì”. Đối với Ê-sau, hiện tại là cần, tương lai không đáng kể, vật chất là quí báu, thuộc linh là hư ảo, chết là hết.

Ê-sau là hình ảnh một tín đồ xác thịt, không biết giá trị của những sự thuộc linh, chỉ thấy vật chất mà thôi. Ngày nay, tín đồ xác thịt trong Hội Thánh cũng suy nghĩ, nói năng, hành động như Ê-sau. Họ xem thường quyền lợi lớn nhất mà mình có được là quyền lợi làm con cái Đức Chúa Trời. Sứ đồ Giăng đề cập đến quyền lợi đó trong sách Tin Lành của ông (Giăng 1:12), xác nhận trong thư tín của ông (IGiăng 3:1-2). Phao-lô nhấn mạnh quyền lợi đó trong các tác phẩm của ông (Rô-ma 8:16-17,21; Ga-la-ti 3:26; 4:6-7). Đó là những quyền lợi thiết thực, hợp pháp, lớn lao và đời đời. Khi vào nước Chúa, chúng ta mới hiểu đúng, mới hưởng hết quyền lợi đó. Khinh quyền trưởng nam như Ê-sau còn không đáng hối tiếc bằng khinh quyền làm con cái Đức Chúa Trời như chúng ta ngày nay, vì quyền trưởng nam của Ê-sau đâu đáng sánh với quyền làm con cái Đức Chúa Trời của chúng ta.

II. GIA-CỐP QUÍ QUYỀN TRƯỞNG NAM.

Gia-cốp không có quyền trưởng nam, vì ông là thứ nam. Song ông rất quí quyền đó, vì ông có đức tin đến từ lời hứa của Đức Chúa Trời mà Ngài đã dành cho dòng dõi của Áp-ra-ham, là tổ phụ của ông. Ông muốn hưởng được các lời hứa ấy. Trái với Ê-sau, Gia-cốp thấy vật chất là tạm thời, hư ảo, còn những thực tế vô hình, thuộc tâm linh tồn tại lâu dài. Ông không bước đi bởi mắt thấy như Ê-sau, mà bước đi bởi đức tin như Áp-ra-ham. Gia-cốp là hình ảnh của một tín đồ thuộc linh. Với tâm hồn đó, dầu Gia-cốp không mua, Ê-sau không bán, quyền trưởng nam cũng thuộc về Gia-cốp. “Bởi Đức Chúa Trời ban sự khôn ngoan, thông sáng và vui vẻ cho kẻ nào đẹp lòng Ngài; nhưng Ngài khiến cho kẻ có tội phải lao khổ mà thâu góp chất chứa để rồi ban cho người đẹp lòng Đức Chúa Trời” (Truyền đạo 12:26). Nếu chúng ta biết quí trọng điều gì thuộc về Chúa, Ngài sẽ dành điều đó cho chúng ta.

III. Ê-SAU BÁN QUYỀN TRƯỞNG NAM CHO GIA-CỐP.

Việc phải đến đã đến. Ngày nọ, Ê-sau đi săn không được chi. Khi trở về mệt mỏi và đói bụng, ông thấy Gia-cốp đang nấu canh. Canh đó rất thường, song khi quá đói Ê-sau xem là rất ngon, rất quí, nên xin Gia-cốp: “Em hãy cho anh ăn canh gì đỏ đó với”. Chỉ là canh đậu, song Ê-sau đã hoa mắt vì đói nên không nhận biết mà chỉ thấy một thứ canh đỏ thôi.

Cơ hội đã đến. Gia-cốp đáp: “Này, anh hãy bán quyền trưởng nam cho tôi đi!” Gia-cốp muốn được quyền trưởng nam. Ông nôn nao trong lòng, luôn luôn muốn bộc lộ niềm ao ước của mình. Đổi lại, Ê-sau cũng nôn nao trong lòng, muốn bộc lộ niềm vô vọng của mình, nên nhân cơ hội này, ông nói: “Anh gần thác, quyền trưởng nam để cho anh dùng làm gì?” Ê-sau muốn nói là quyền trưởng nam vô ích.

Quan niệm của tín đồ xác thịt và quan niệm của tín đồ thuộc linh tương phản nhau rõ rệt. Ê-sau quí báu vật chất, Gia-cốp khinh vật chất. Ê-sau khinh tinh thần, Gia-cốp quí tinh thần. Một bên thuộc về đất, một bên thuộc về trời, hai bên có hai xu hướng khác nhau: “Thật thế, kẻ sống theo xác thịt thì chăm những sự thuộc về xác thịt; còn kẻ sống theo Thánh Linh thì chăm những sự thuộc về Thánh Linh” (Rô-ma 8:5). Một bên chăm sự thấy được, một bên chăm sự không thấy được, một bên chăm sự tạm thời, một bên chăm sự đời đời (IICôr 4:18). Một bên tìm kiếm những sự dưới đất, một bên tìm kiếm những sự trên trời (Cô-lô-se 3:1,3).

Có câu chuyện ngụ ngôn về chim ưng và con cò. Ngày kia, chim ưng đáp xuống bên cạnh con cò đang mò ốc dưới khe. Chim ưng nói: “Anh cò ơi, tôi xin báo với anh, trên khung trời bao la xanh biếc kia có vô số điều đẹp đẽ, quí giá, nào mây bay, gió thổi, nào mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao tạo nên một khung cảnh rực rỡ, muôn màu muôn sắc không lời nào tả xiết. Vì vậy, tôi xin mời anh cùng tôi bay lên trên đó để thưởng thức một phen”. Nãy giờ, con cò vừa nghe, vừa cắm cổ mò ốc. Khi chim ưng dứt lời, con cò ngước cổ lên hỏi: “Chim ưng ơi, anh nói trên trời có đủ mọi thứ, xin hỏi anh trên đó có ốc không?” Chim ưng đáp: “Thật trên trời có đủ mọi thứ quí giá, đẹp đẽ, nhưng ốc thì tuyệt nhiên không có”. Con cò tiếp: “Nếu vậy, xin để cho tôi cứ ở đây mò ốc”.

Để được bảo đảm, vì sợ Ê-sau đổi ý, Gia-cốp bảo: Anh thề trước đi. Chẳng chút do dự, Ê-sau liền bán quyền trưởng nam của mình cho Gia-cốp. Không chỉ cho ăn canh, Gia-cốp còn cho Ê-sau ăn bánh nữa. “Ăn uống xong, người liền đứng dậy đi”, như lấy làm đắc ý, thỏa mãn lắm. Bấy giờ, nếu có người gặp Ê-sau và hỏi: “Hôm nay có gì mà xem anh vui vậy?” Chắc Ê-sau sẽ đáp: “Không vui sao được! Quyền trưởng nam của tôi kể như bỏ rồi thế mà tôi vừa bán được một giá đắt lắm”. – “Bao nhiêu vậy anh?” – “Cả một tô canh mà còn thêm mấy cái bánh nữa”. Than ôi! Ê-sau đã lầm, ông không bán quyền trưởng nam của mình đắt giá đâu. Xưa nay, “trừ ra trái cấm”, không hề có bữa ăn nào đắt giá bằng tô canh của Gia-cốp bán cho Ê-sau!

“Hãy coi chừng, trong anh em, chớ có ai gian dâm, cũng đừng có ai khinh lờn như Ê-sau, chỉ vì một món ăn mà bán quyền con trưởng. Thật vậy, anh em biết rằng đến sau người muốn cha mình chúc phước cho thì lại bị bỏ; vì dầu người khóc lóc cầu xin, cũng chẳng đổi được ý cha mình đã định rồi” (Hê-bơ-rơ 12:16-17). Tác giả tóm tắt Sáng 27 để cảnh cáo chúng ta con đường của Ê-sau, là con đường phàm tục, khinh lờn sự thánh khiết, không nhận thức giá trị của sự vật thuộc linh. Ê-sau là một người muốn bán tất cả miễn được đầy bụng mà thôi (Phi-líp 3:19).

Xưa nay, không phải chỉ có Ê-sau, song đã có lắm người bán quyền làm con cái Đức Chúa Trời bằng một chén rượu, một bữa ăn, một số tiền, một địa vị, một cuộc vui, thậm chí Giu-đa dám bán Chúa mình bằng 30 miếng bạc. Nên nhớ cả thế gian cũng không đổi được quyền làm con cái Đức Chúa Trời.

Khi bước vào thực tế, Ê-sau đã hồi tỉnh, song quá muộn, dầu có khóc lóc thiết tha cũng không được cha mình chúc phước, mà chỉ bị cha mình rủa sả; dòng dõi của ông không phải là dòng dõi được chọn, không hưởng được lời hứa của Đức Chúa Trời. Muôn đời còn hối tiếc! Hãy coi chừng!

CÂU HỎI

1. Tính tình của Ê-sau và Gia-cốp khác nhau thế nào?

2. Quyền lợi của con trưởng nam là gì?

3. Ê-sau nghĩ như thế nào mà khinh quyền trưởng nam?

4. Lời nào của ông nói lên là ông khinh quyền con trưởng?

5. Gia-cốp nghĩ thế nào mà quí quyền trưởng nam?

6. Vào cơ hội nào Gia-cốp xin mua quyền trưởng nam của Ê-sau?

7. Thái độ nào của Ê-sau cho ta biết rằng ông không tiếc rẻ quyền trưởng nam?

8. Quan niệm của tín đồ xác thịt với tín đồ thuộc linh khác nhau thế nào?

9. Khi biết được quyền lợi của con trưởng nam thì Ê-sau đã làm gì?

10. Ngày nay tín đồ thường bán quyền lợi con cái Đức Chúa Trời bằng gì? Giá bao nhiêu?

BÀI 24. GIẤC MƠ CỦA GIA-CỐP

KINH THÁNH: Sáng Thế Ký 27:41 – 28:22.

CÂU GỐC: “Và này, Ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế” (Ma-thi-ơ 28:20).

MỤC ĐÍCH: Dạy chúng ta rằng Đức Chúa Trời lúc nào cũng sẵn sàng ở gần để chăm sóc chúng ta. Chúng ta hãy tỏ lòng biết ơn Chúa và trả xong sự hứa nguyện của mình với Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ hằng ở với chúng ta

(Hê-bơ-rơ 13:5).

TH:

Chiếc thang bắc lên trời

(Sáng 28).

TB:

Chức vụ các thiên sứ

(Thi 91:11; Hê 1:14).

TT:

Đức Chúa Trời chúc phước cho kẻ dâng phần mười

(Ma-la-chi 3:10).

TN:

Đức Chúa Trời hiện diện khắp nơi

(Châm 15:3; Giê-rê-mi 23:24).

TS:

Đức Chúa Trời bảo vệ kẻ thuộc về Ngài

(Sáng 28:15; I Ti-mô-thê 1:12).

TB:

Đức Chúa Trời là Đấng thành tín

(Nhãca 3:23; Thi 36:5).

Sau khi Gia-cốp đồng mưu với mẹ cướp sự chúc phước của cha cho mình thì bị Ê-sau oán ghét, chỉ còn chờ khi Y-sác qua đời là giết Gia-cốp. Biết được ý định của Ê-sau, Rê-be-ca lo sợ cho sinh mạng của Gia-cốp lắm, nên bà gọi riêng Gia-cốp ra mà nói: “Vậy, bây giờ, hỡi con, hãy nghe lời mẹ, đứng dậy, chạy trốn qua nhà La-ban, cậu con, tại Cha-ran” (27:43).

Song khi Rê-be-ca nói với Y-sác thì bà rất khéo léo, không cho ông biết kế hoạch của mình: “Tôi đã chán, không muốn sống nữa, vì cớ mấy con gái họ Hếch (Hê-tít). Nếu Gia-cốp cưới một trong mấy con gái họ Hếch mà làm vợ… thôi, tôi còn sống mà chi!” (Sáng 27:46). Bà ám chỉ việc Ê-sau đã cưới hai vợ trong vòng con gái Ca-na-an và điều đó đã làm cho lòng ông bà cay đắng (Sáng 26:34-35).

Y-sác chỉ hiểu được ý của vợ mình là không muốn Gia-cốp cưới vợ người Ca-na-an và chính ông cũng đã không làm như vậy. Vì vậy, ông liền kêu Gia-cốp đến chúc phước cho và nói rằng: “Con chớ chọn một người vợ nào hết trong bọn con gái Ca-na-an. Hãy đứng dậy, đi qua xứ Pha-đan A-ram, tại nhà Bê-tu-ên, ông ngoại con và cưới tại đó một người vợ trong các con gái của La-ban là cậu con” (Sáng 28:2). Rồi Y-sác long trọng chúc phước cho Gia-cốp, đặt ông làm đầu dòng dõi lựa chọn của Đức Chúa Trời.

Nếu Gia-cốp không mua quyền trưởng nam của Ê-sau, quyền đó cũng thuộc về Gia-cốp. Nếu Gia-cốp không đồng mưu với mẹ gạt cha để cướp sự chúc phước của Ê-sau, thì sự chúc phước đó cũng thuộc về Gia-cốp. Bấy giờ, Y-sác biết rõ Gia-cốp là người được Chúa chọn. Đức Chúa Trời luôn tự xưng là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp mà không hề đề cập đến Ê-sau.

Thế là Gia-cốp qua Cha-ran để trốn Ê-sau mà Ê-sau không biết chi hết, Y-sác cũng vậy. Cả hai đều tưởng Gia-cốp qua đó để tìm vợ.

I. GIA-CỐP THẤY MỘT CHIẾC THANG BẮC LÊN TRỜI (10-12).

Từ Ca-na-an qua Cha-ran đường dài 640 cây số. Đi suốt một ngày, khi mặt trời đã lặn, hoàng hôn buông xuống, Gia-cốp dừng lại, tìm một hòn đá gối đầu, rồi nằm ngủ. Chắc ông cảm thấy buồn rầu, vì phước đâu chưa thấy mà họa đã đến rồi, ông phải vội lìa cha mẹ, nhà cửa, một mình thui thủi ra đi, cô đơn lạnh lùng. Gia-cốp cầu nguyện (Sáng 35:3). Khi ngủ say, ông chiêm bao thấy một chiếc thang bắc từ đất lên trời và có thiên sứ lên xuống trên thang đó.

Đời xưa, khi chưa có Kinh Thánh, Đức Chúa Trời thường dùng chiêm bao và dị tượng để bày tỏ đường lối của Ngài cho loài người (Dân 12:6). Chiếc thang là hình ảnh giao thông giữa trời và đất. Các thiên sứ lên xuống trên thang để đem lời cầu nguyện của người lên đến Đức Chúa Trời và đem ơn phước của Đức Chúa Trời xuống cho người (Đa-ni-ên 9:20-23; Hê-bơ-rơ 1:14). Qua chiêm bao đó, Chúa muốn nói cho Gia-cốp biết rằng ông không cô đơn, vì có Ngài chăm sóc ông, nghe lời cầu nguyện của ông, thấu hiểu tâm sự của ông. Chúa Jêsus đã ám chỉ Ngài là chiếc thang đó; trong Ngài, chúng ta được giao thông với Đức Chúa Trời và nhận được ân tứ cần thiết (Giăng 1:51).

II. GIA-CỐP THẤY ĐỨC CHÚA TRỜI HIỆN RA VỚI MÌNH (c.13).

Kinh Thánh chép Đức Chúa Trời đã hiện ra với Gia-cốp bảy lần.

Sáng 28:12-13; Sáng 31:3; 11-13; Sáng 32:1-2; Sáng 32:24-30; Sáng 35:1; Sáng 35:9-13; Sáng 46:1-4. Mỗi lần Chúa hiện ra với Gia-cốp là để ban một mạng lịnh hoặc nhắc lại các lời hứa, hoặc hứa thêm một điều gì khác. Mỗi lần là một đặc ân, một sự thăm viếng, một sự giải cứu, một sự khích lệ.

Ngày nay chúng ta có sự tương giao mật thiết với Chúa luôn, song cũng rất cần được sự thăm viếng đặc biệt của Ngài. Những sự thăm viếng đó đem lại hạnh phước cho đời sống cá nhân và sự phục hưng cho Hội Thánh. Vì thiếu sự thăm viếng của Chúa, nhiều đời sống như cây vả đưng (Lu-ca 13:6-9), hoặc như cây vả có lá mà không có trái (Mác 11:12-14). Vì thiếu sự thăm viếng của Chúa mà nhiều Hội Thánh như vườn nho mà chỉ sanh trái nho hoang (Ê-sai 5:1-7). Hoặc như xứ Y-sơ-ra-ên ba năm rưỡi không có sương và mưa (ICác 17:1). Chẳng phải Chúa không thăm viếng, song chúng ta không biết lúc mình được Chúa thăm viếng như dân thành Giê-ru-sa-lem xưa (Lu-ca 19:41-44).

III. ĐỨC CHÚA TRỜI HỨA CÙNG GIA-CỐP (c.14-15).

Đức Chúa Trời tự xưng Ngài là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham và của Y-sác, là Đấng đã hứa với họ. Bây giờ, Ngài cũng hứa với Gia-cốp như vậy. Cũng có một lời hứa đặc biệt cho Gia-cốp: “Này, Ta ở cùng ngươi, ngươi đi đâu, sẽ theo gìn giữ đó, và đem ngươi về xứ này; vì Ta không bao giờ bỏ ngươi cho đến khi Ta làm xong những điều Ta đã hứa cùng ngươi” (28:15).

Thử hỏi: Một người bất toàn như Gia-cốp, tại sao được Chúa ban phước như Áp-ra-ham và Y-sác? – Ân điển và quyền năng của Chúa có thể làm những điều không ai làm được. Ngài đã làm cho Sau-lơ, người bắt bớ Hội Thánh trở nên sứ đồ Phao-lô xuất sắc. Ngài đã biến Gia-cốp chiếm vị trở nên Y-sơ-ra-ên đầu phục. Dầu Gia-cốp có những lỗi lầm đáng trách, như gạt cha, cướp phước của anh, song ông có điều tốt là bám chặt vào Đức Chúa Trời để hưởng các lời hứa quí báu của Ngài. Vì thế, Chúa phán: “Ta yêu Gia-cốp” (Ma-la-chi 1:3; Rô-ma 9:13).

Kinh nghiệm của chúng ta không giống như Gia-cốp sao? Chúng ta còn ở trong Chúa cho đến ngày nay không phải tại chúng ta hoàn toàn, song tại sự nhân từ của Chúa. “Hỡi Đức Giê-hô-va, nếu Ngài cố chấp sự gian ác, thì Chúa ôi, ai sẽ còn sống? Nhưng Chúa có lòng tha thứ cho, để người ta kính sợ Chúa” (Thi Thiên 130:3-4). Tiêu chuẩn mà Chúa đặt cho mỗi chúng ta phải đạt đến là đức tin. Chúa bỏ Ê-sau, chọn Gia-cốp chỉ vì Ê-sau không có đức tin, còn Gia-cốp có. Tất cả ơn phước Chúa chỉ dành cho kẻ có lòng tin.

IV. GIA-CỐP HỨA NGUYỆN VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI (c.16-22).

Khi Gia-cốp thức giấc, ông rất ngạc nhiên nói: “Thật Đức Giê-hô-va hiện có nơi đây mà tôi không biết”. Ông tin Đức Chúa Trời vô sở bất tại, song không ngờ rằng Ngài có tại nơi cô quạnh này. Tại nhà cha mẹ, ông không biết Chúa rõ bằng tại đây. Vì qua hai biến cố lớn của đời sống, Gia-cốp không thấy mẹ cầu hỏi ý Chúa mà chỉ dùng sự khôn khéo của mình.

Chúng ta phải xác nhận niềm tin của mình về Đức Chúa Trời vô sở bất tại, vô sở bất tri, vô sở bất năng và sống đúng với niềm tin ấy. “Đức Giê-hô-va ở gần mọi người cầu khẩn Ngài, tức ở gần mọi người có lòng thành thật cầu khẩn Ngài” (Thi Thiên 145:18).

Chiêm bao cũng làm cho Gia-cốp run lên: “Chốn này đáng kinh khủng thay! Đây là đền của Đức Chúa Trời, là cửa của trời”. Gia-cốp thức tỉnh và có thái độ khác hơn trước. Ngoài ra nỗi sợ ông cũng có niềm vui là được ở trong nhà Đức Chúa Trời và được thấy cửa trời mở ra cho mình.

Gia-cốp dậy sớm, lập sự kỷ niệm và hứa với Chúa ba điều, nếu Ngài thương xót mà thực hiện lời hứa của Ngài đối với ông: 1/ Đức Giê-hô-va sẽ là Đức Chúa Trời tôi. 2/ Hòn đá dựng làm trụ sẽ là đền thờ cho Ngài. 3/ Tôi sẽ nộp một phần mười về mọi của cải Chúa cho. Hai lời hứa nguyện trước ông đã làm (Sáng 35:1-7; 14-150). Lời hứa nguyện sau Kinh Thánh không chép, song chắc ông cũng đã dâng.

Mỗi khi nằm trên giường đau yếu, hoạn nạn và được Chúa đỡ dậy, chúng ta đã hứa rất nhiều, song sau đó lại bỏ qua. Gia-cốp không có như vậy. Đa-vít tự quyết: “Tôi sẽ lấy gì báo đáp Đức Giê-hô-va về các ơn lành mà Ngài đã làm cho tôi?”, rồi hai lần ông nói: “Tôi sẽ trả xong các sự tôi hứa nguyện” (Thi Thiên 116:12,14,16).

CÂU HỎI

1. Hai lần Rê-be-ca bày mưu cho Gia-cốp làm gì?

2. Gia-cốp nằm chiêm bao thấy gì?

3. Chiếc thang và thiên sứ lên xuống trên đó có nghĩa gì?

4. Tại sao chúng ta cần được Chúa thăm viếng như Gia-cốp?

5. Một câu quan trọng mà Chúa đã hứa với Gia-cốp là gì?

6. Khi Gia-cốp thức giấc thì ông có thái độ nào và nói gì?

7. Vì sao chúng ta vừa sợ vừa vui mừng vì biết Chúa ở khắp mọi nơi?

8. Gia-cốp hứa nguyện gì với Chúa?

9. Xin cho biết Gia-cốp có trả sự hứa nguyện không?

10. Đa-vít đã quyết định thế nào trước sự nhân từ thương xót của Chúa? (Thi Thiên 116).

BÀI 25. GIA-CỐP GẶP CHÚA

KINH THÁNH: Sáng Thế Ký 23:1–33:16.

CÂU GỐC: “Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới, những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới” (IICôr 5:17).

MỤC ĐÍCH: Bày tỏ sự thành tín và nhẫn nại của Đức Chúa Trời. Ngài đã biến cải Gia-cốp trở thành Y-sơ-ra-ên và Ngài cũng biến cải chúng ta như vậy.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ biến cải chúng ta

(Ê-phê-sô 1:7).

TH:

Sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với Gia-cốp

(Sáng 3:24-33:20).

TB:

Sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với dân Y-sơ-ra-ên

(Phục 8:1-7).

TT:

Sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với Gióp

(Gióp 23:1-10).

TN:

Sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với Đa-vít

(Thi thiên 16).

TS:

Sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với chúng ta

(II Phi-e-rơ 1:1-8).

TB:

Sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với chúng ta

(Phi 1:6; Hê 13:20-21).

Gia-cốp ở với cậu là La-ban tại Cha-ran trong 20 năm. Gia-cốp có vợ, có con, rất giàu về súc vật và tôi tớ. Ông được nghe gia đình bên vợ phàn nàn rằng nhờ họ mà Gia-cốp trở nên giàu. Đồng thời Đức Chúa Trời phán với ông: “Hãy trở về xứ của tổ phụ ngươi, chốn bà con ngươi, Ta sẽ phù hộ ngươi” (Sáng 31:3). Vì thế, Gia-cốp quyết định trở về Ca-na-an.

I. LÝ DO GIA-CỐP CẦN ĐƯỢC GẶP CHÚA (32:1-21).

Ngại gia đình bên vợ ngăn trở nên Gia-cốp dẫn vợ con đi và đem theo hết thảy tài sản mà không cho La-ban hay biết chi cả. Khi biết được, La-ban tức giận lắm, hiệp với nhiều người đuổi theo Gia-cốp trong bảy ngày. Nhưng nhờ Đức Chúa Trời can thiệp nên khi gặp nhau, La-ban không làm gì hại Gia-cốp. Hai bên lập hòa ước bất khả xâm phạm. La-ban trở về nhà mình, còn Gia-cốp tiếp tục đi.

Qua một nỗi nguy, lại còn một nỗi nguy hơn. Muốn về Ca-na-an, Gia-cốp phải gặp Ê-sau, anh mình. Gia-cốp nhớ lại 20 năm trước, ông đã dối gạt cha, cướp sự chúc phước của cha cho mình, nên Ê-sau oán giận, muốn giết Gia-cốp để trả thù. Vì vậy, Gia-cốp phải trốn chạy qua nhà La-ban. Dầu đã 20 năm qua, nhưng Gia-cốp không biết cơn giận của anh đã nguôi hay chưa.

Trong hoàn cảnh đó, để làm nguôi cơn giận của anh, Gia-cốp nghĩ rằng phải ngoại giao mới được, tức là cống hiến tài sản của mình cho anh. Vậy ông lấy 200 dê cái, 20 dê đực, 200 chiên cái, 20 chiên đực, 30 lạc đà cái có con đương bú, 40 bò cái, 10 bò đực, 20 lừa cái và 10 lừa con. Số súc vật này chia ra làm ba bầy. Mỗi bầy do những đầy tớ dẫn dắt, bầy này cách xa bầy kia một khoảng. Gia-cốp dặn mỗi đầy tớ đứng sau ba bầy. Khi gặp Ê-sau, họ phải nói như vầy: “Này, Gia-cốp, kẻ tôi tớ Chúa, đương theo sau chúng tôi, vì người nghĩ thầm rằng: Mình đem lễ này dâng trước cho Ê-sau nguôi giận đã, rồi mình sẽ giáp mặt sau; có lẽ người sẽ tiếp mình một cách thuận hiệp đó” (32:20).

Nhưng các sứ giả của Gia-cốp đã trở về báo cáo: “Chúng tôi đã đi đến Ê-sau, anh của chủ; này, người đang đem 400 người đến rước chủ” (32:6). Nghe tin ấy! Gia-cốp rất sợ hãi và sầu não. Đi đón em mà sao đem 400 người theo? Thì ra! Ê-sau cũng nhớ lại mối thù xưa khiến Gia-cốp phải chạy trốn 20 năm. Phải chăng nó trở về đây để rửa hận. Thế là, Gia-cốp sợ Ê-sau, nhưng Ê-sau cũng sợ Gia-cốp. Hai bên nghi ngờ nhau, dầu là anh em ruột thịt. Tội lỗi xen vào gia đình đã gây chia rẽ giữa tình cốt nhục.

Gia-cốp liền nảy ra một ý là phân làm hai đoàn người và súc vật của mình, để nếu một phần bị đánh thì phần kia được thoát. Nhưng ông chẳng an lòng, vì không muốn một ai bị hại.

Trong lúc tiến thối lưỡng nan, gặp anh không xong, trở lại với ông gia không được, Gia-cốp liền đến cùng Đức Chúa Trời, thiết tha cầu nguyện (32:9-12). Ông nhắc lại mạng lịnh của Chúa bảo ông trở về Ca-na-an. Ông kể lại các ơn phước Chúa ban, khi ông ra đi, trong tay chỉ có một cây gậy, bây giờ trở về có hai đội quân này. Ông xin Chúa giải cứu ông và tất cả vợ con ông, vì Chúa đã hứa sẽ ban cho dòng dõi ông đông như cát biển.

Gia-cốp là con người mưu mô, thủ đoạn. Nhưng vì mưu mô thủ đoạn đó mà ở xứ mình không được, phải chạy đến xứ người, rồi ở xứ người không được phải chạy trở về; bây giờ về cũng không xong. Gia-cốp đã một lần lấy áo của anh mặc cho mình. Ông đã đổi áo, đổi chỗ, song chưa đổi lòng, nên chẳng có thể ở đâu, hoặc ở với ai cho được bình an. Kẻ thù của Gia-cốp không phải Ê-sau, cũng không phải là La-ban mà là chính mình Gia-cốp, “Kẻ thù lớn nhất của tôi là chính mình tôi”.

Martin Luther có kể câu chuyện ngụ ngôn như sau: “Ngày kia chim cú than thở với chim oanh: Anh tốt số quá, bất cứ ở đâu, hễ khi anh hót, ai cũng vui nghe. Còn tôi, hễ hót lên, ai nấy đều ném đá, đuổi tôi đi. Vậy, tôi quyết định không ở xứ này nữa và sẽ đi xứ khác. Chim oanh khuyên: Anh không cần đi xứ khác, chỉ cần đổi tiếng hót của anh. Khi tiếng của anh như tiếng của tôi thì ở đâu cũng được. Ngược lại, nếu anh cứ giữ tiếng hót đó thì bất cứ đến đâu người ta cũng đuổi anh đi”.

II. CƠ HỘI GIA-CỐP GẶP CHÚA (32:22-32).

Tội lỗi của Gia-cốp 20 năm trước vẫn còn nguyên, không trốn khỏi nó được. Kinh Thánh chép: “Phải biết rằng tội chắc sẽ đổ lại trên các ngươi” (Dân 32:23). Dẫu Gia-cốp đã đem một phần tài sản cống hiến cho Ê-sau, nhưng vẫn chưa ổn, Gia-cốp đã chia đoàn người của ông ra hai đội, cũng chưa an lòng. Gia-cốp đã thiết tha cầu nguyện, song cảm thấy vấn đề tội lỗi chưa được giải quyết. Vì vậy, ông cần được gặp Chúa một cách riêng tư. Người ta nghĩ thế nào về mình, hay mình tự nghĩ thế nào cũng không quan trọng. Điều quan trong là Đức Chúa Trời nghĩ thế nào về chúng ta. Để biết Chúa nghĩ thế nào về mình, Gia-cốp cho vợ con, tất cả tài sản qua bên kia rạch Giabốc, chỉ một mình ông ở lại.

“Có một người vật lộn với mình cho đến rạng đông”. Người đó muốn chiến thắng Gia-cốp, bắt ông phải hàng phục. Người đó là Đức Chúa Trời. Song Gia-cốp lúc nào cũng sẵn sàng chống cự chớ không chịu hàng phục, vì ông tưởng một kẻ thù nào đó của Ê-sau sai đến tấn công ông. Mãi cho đến rạng đông, người đó rờ vào xương hông Gia-cốp, xương hông liền bị trặc. Thế là Gia-cốp không còn chiến đấu được nữa và trời đã rạng đông, nên ông thấy người mà mình chống cự cả đêm không phải là kẻ thù mà là ân nhân. Vì thế khi người đó nói: “Trời đã rạng đông rồi, thôi để cho ta đi”; bấy giờ, Gia-cốp đổi ngay thái độ, phủ phục dưới chơn người mà thưa rằng: “Tôi chẳng cho người đi đâu, nếu người không ban phước cho tôi”.

Thay vì chống cự, Gia-cốp khẩn nài. Ông muốn nói rằng tôi khổ lắm rồi, tôi không thể sống nếu Chúa không ban phước cho tôi. Tôi sẽ chết, vợ con tôi cũng sẽ chết nếu Chúa không giải cứu tôi. Gia-cốp khóc lóc, khẩn nài để được hàng phục hầu được toàn thắng (Ô-sê 14:4-5).

Người đó hỏi: “Tên ngươi là chi?”. Người chấp nhận sẽ ban phước cho Gia-cốp, miễn là ông phải xưng tên. Tên của Gia-cốp bày tỏ tính tình và hành động của ông: “Gia-cốp” có nghĩa là kẻ chiếm vị, lừa dối, thủ đoạn. Vì muốn được phước, Gia-cốp sẵn sàng thưa: “Tên tôi là Gia-cốp”. Người đó bảo: “Tên ngươi sẽ chẳng là Gia-cốp nữa, nhưng tên là Y-sơ-ra-ên”. Xưng tội, được Chúa tha thứ, được Chúa đổi tên, tức là đổi tánh.

Bấy giờ, Gia-cốp vô cùng sung sướng la lên: “Tôi đã thấy Đức Chúa Trời đối mặt cùng tôi và linh hồn tôi được giải cứu”. Gia-cốp được giải cứu khỏi sự sống ích kỷ, mưu mô, thủ đoạn, tức là được giải cứu khỏi chính mình để bắt đầu cuộc đời hoàn toàn hàng phục mọi ý muốn của Đức Chúa Trời.

Biết bao đời sống đã mãi chống cự Đức Chúa Trời, mặc dầu Ngài đã phải vật lộn với chúng ta để bắt phục chúng ta. Chúng ta sẽ được phước khi nào chúng ta nắm được bí quyết duy nhất của đời sống là hoàn toàn đầu phục Chúa.

III. PHƯỚC HẠNH KHI GIA-CỐP GẶP CHÚA (33:1-16).

Gia-cốp đã gặp Chúa, hàng phục Ngài, được Ngài ban phước, thì bây giờ gặp lại anh mình để hòa lại với nhau là điều rất tự nhiên và dễ dàng. “Nhưng Ê-sau chạy đến trước mặt người (Gia-cốp), ôm choàng cổ mà hôn, rồi hai anh em đều khóc”. Đây là một bức tranh tuyệt đẹp. Bao nhiêu mưu mô, kế hoạch của Gia-cốp không đem đến kết quả. Song khi đã giải quyết vấn đề tội lỗi với Chúa, thì kết quả Vượt Quá điều ông ao ước.

Đức Chúa Trời thành tín đời đời, quyền năng vô hạn. Chúng ta hãy hết lòng tin cậy và vâng lời Ngài thì kết quả vô cùng phước hạnh.

CÂU HỎI

1. Tại sao Gia-cốp trở về Ca-na-an?

2. Gia-cốp ra đi mà không cho La-ban hay thì kết quả thế nào?

3. Tại sao Gia-cốp sợ phải gặp Ê-sau?

4. Gia-cốp đã làm gì để anh mình nguôi giận?

5. Khi nghe tin Ê-sau đem 400 người đi đón thì Gia-cốp đã làm gì?

6. Kẻ thù lớn nhất của Gia-cốp là ai?

7. Gia-cốp đã đổi áo, đổi chỗ, song phải cần đổi gì nữa mới được?

8. Chúa vật lộn với Gia-cốp có nghĩa gì?

9. Gia-cốp chống cự cả đêm với một người có nghĩa gì?

10. Tại sao ông phải xưng tên ra?

11. Sự đổi tên của Gia-cốp ra Y-sơ-ra-ên có nghĩa gì?

12. Sau khi Gia-cốp đã gặp Chúa, hàng phục Ngài và được Ngài ban phước, thì việc gặp lại Ê-sau kết quả ra sao?

BÀI 26. ĐỨC CHÚA TRỜI THÀNH TÍN

KINH THÁNH: Sáng Thế Ký 11:31-33:20.

CÂU GỐC: “Trời đất sẽ qua, nhưng lời Ta nói chẳng bao giờ qua đi” (Ma-thi-ơ 24:35).

MỤC ĐÍCH: Chứng tỏ Đức Chúa Trời là Đấng thành tín, Ngài luôn luôn tôn trọng lời hứa của Ngài.

Hôm nay chúng ta ôn lại các bài đã học trong Quý II, tức là các bài từ 14 đến 25 về sự thành tín của Đức Chúa Trời. Thành tín là thành thật, trung tín, không hề nói dối, luôn luôn giữ trọn các lời hứa, đúng như câu gốc chúng ta đang học.

I. ĐỨC CHÚA TRỜI THÀNH TÍN VỚI ÁP-RA-HAM (Sáng 12:1-3; 13:14-17; 15:1-21; 17:1-8).

Đức Chúa Trời đã hứa với Áp-ra-ham những điều rất quí, rất lớn mà phải có một thời gian dài mới thực hiện hết được. Vì vậy, Áp-ra-ham phải nhẫn nại chờ đợi.

1. “Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn”.

Khi Chúa hứa thì Áp-ra-ham chưa có con, phải 25 năm sau mới có. Song cho tới ngày nay là 4.000 năm sau, dân Dothái, là dòng dõi Áp-ra-ham, có khoảng 20 triệu. Dầu so với các dân tộc khác, họ không lớn về số lượng mà lớn về phẩm, tức là một dân tộc khôn ngoan mạnh mẽ, có giá trị trên thế giới. Nếu kể dòng dõi thuộc linh tức là con cháu đức tin thì đông như sao trời, như cát biển, không ai đếm được vì bao gồm cả Cơ đốc nhân trong mọi thời đại.

2. “Ta sẽ ban phước cho ngươi”.

Khi Chúa hứa thì Áp-ra-ham chưa có tài sản gì. Song sau đó không lâu thì ông trở nên giàu có (Sáng 13:1-2; 24:35). Không những có phước thuộc thể mà Áp-ra-ham cũng được phước thuộc linh là được xưng công bình bởi đức tin (Sáng 15:6), được Đức Chúa Trời kể là bạn hữu của Ngài (Sáng 18:17; II Sử 20:7; Ê-sai 41:8; Gia-cơ 2:23).

3. “Cũng làm nổi danh ngươi”.

Áp-ra-ham đã được nổi danh đang khi còn sống (Sáng 23:6). Trong Kinh Thánh có chừng 300 lần chép tên Áp-ra-ham. Từ đó đến nay, vô số người biết đến danh Áp-ra-ham và tôn trọng ông là một vĩ nhân.

4. “Và ngươi sẽ thành một nguồn phước”.

Đời sống của Áp-ra-ham đã đem lại phước hạnh cho mọi người xung quanh như giải phóng gia đình của Lót và dân thành Sô-đôm. Áp-ra-ham cũng cầu nguyện cho Lót, nhờ đó Lót thoát khỏi số phận khốn nạn như Sô-đôm và Gô-mô-rơ.

5. “Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi, và rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi”.

Dân Ê-díp-tô bị mười tai vạ khủng khiếp vì bạc đãi dân Y-sơ-ra-ên, và dân Ba-by-lôn cũng vậy. Trải qua các đời, hễ dân nào bạc đãi dân Y-sơ-ra-ên thì bị rủa sả, dân nào hậu đãi dân Y-sơ-ra-ên thì được ban phước.

6. “Và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước”.

Nhờ Áp-ra-ham và dòng dõi ông là dân Y-sơ-ra-ên mà thế giới có Kinh Thánh là sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Cũng nhờ Áp-ra-ham và dòng dõi ông mà thế giới có một có một Cứu Chúa mang hình thể người Dothái. Đó là những phước lớn nhất.

7. “Ta sẽ ban cho dòng dõi ngươi đất này” (Sáng 12:7).

Lời hứa này đã được thực hiện 400 năm sau đó, tức là lúc dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ê-díp-tô và chiếm hữu xứ Ca-na-an. Cho đến ngày nay, xứ đó còn ở trong tay Dothái với một tên mới là Palestine.

Như vậy, Đức Chúa Trời đã tôn trọng tất cả lời hứa của Ngài, thực hiện xong các lời hứa ấy cho Áp-ra-ham.

II. ĐỨC CHÚA TRỜI THÀNH TÍN VỚI Y-SÁC.

“Sau khi Áp-ra-ham qua đời, Đức Giê-hô-va ban phước cho Y-sác, con trai người” (Sáng 25:11). Đức Chúa Trời hứa với Y-sác như Ngài đã hứa với Áp-ra-ham và Ngài cũng đã thực hiện đầy đủ: “Ta sẽ ở cùng ngươi và ban phước cho ngươi. Vì Ta sẽ cho ngươi cùng dòng dõi ngươi các xứ này… Ta sẽ thêm dòng dõi ngươi nhiều như sao trên trời. Hết thảy dân thế gian đều nhờ dòng dõi ngươi mà được phước” (Sáng 26:1-5).

III. ĐỨC CHÚA TRỜI THÀNH TÍN VỚI GIA-CỐP (Sáng 28:13-15).

Tất cả những gì Chúa đã hứa cho Áp-ra-ham và Y-sác thì Ngài cũng hứa cho Gia-cốp. Ngoài ra, Ngài còn hứa với Gia-cốp những điều Ngài chưa từng hứa với Áp-ra-ham và Y-sác: “Này, Ta ở cùng ngươi, ngươi đi đâu, sẽ theo gìn giữ đó, và đem ngươi về xứ này; vì Ta không bao giờ bỏ ngươi cho đến khi Ta làm xong những điều Ta đã hứa cùng ngươi”.

Chúa đã ở với Gia-cốp suốt 20 năm tại nhà La-ban. Ngài ban cho Gia-cốp giàu có lớn. Xem số súc vật Gia-cốp tặng cho anh mình đủ thấy ông giàu có là dường nào. Ông có vợ, có con và do các con đó có 12 chi phái Y-sơ-ra-ên.

Dầu Gia-cốp có lỗi lầm vì yếu đuối nên bị Chúa sửa trị, nhưng Ngài rất nhẫn nại trong sự dạy dỗ, hướng dẫn, để cuối cùng giải cứu và biến cải Gia-cốp từ một con người chiếm vị, thủ đoạn, trở thành Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời.

Điều chi Đức Chúa Trời đã hứa, Ngài cũng đã làm và còn làm trọn vẹn. Chúa đã thành tín với Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp thì Ngài cũng thành tín với chúng ta. Trong Đấng Christ, chúng ta là kẻ đồng kế tự, là các chi thể đồng một thân, đều có phần chung về lời hứa (Ê-phê-sô 3:6). Không những các lời hứa trong Cựu Ước mà chúng ta là dòng dõi của Áp-ra-ham theo đức tin đều được hưởng, lại còn có những lời hứa trong Tân Ước mà Chúa Jêsus đã hứa với chúng ta qua lời cam kết: “Trời đất sẽ qua, nhưng lời ta nói chẳng bao giờ qua đi”.

Vậy, chúng ta hãy cảm tạ Chúa về các lời hứa rất quý, rất lớn của Ngài cho chúng ta trong Kinh Thánh. Xin Chúa cho chúng ta tin cậy và vâng lời Ngài như Áp-ra-ham và Y-sác. Nếu chưa được biến cải mà còn sống một đời yếu đuối, vấp phạm như Gia-cốp, thì bây giờ hãy hoàn toàn đầu phục Ngài như Gia-cốp để Ngài thực hiện lời hứa của Ngài cho chúng ta. Dầu khi chúng ta thất tín, Chúa vẫn thành tín. Khi chúng ta tin cậy, vâng lời thì mới hưởng được các lời hứa của Chúa. Nói cách khác, khi chúng ta tin cậy và vâng lời, Chúa mới thực hiện lời hứa của Ngài cho chúng ta.

CÂU HỎI

1. Tại sao những lời hứa của Chúa với Áp-ra-ham phải có một thời gian dài mới thực hiện được?

2. Xin mỗi người thuật lại một lời hứa của Chúa với Áp-ra-ham. Ngài đã thực hiện thế nào?

3. Chúa đã hứa những gì với Gia-cốp?

4. Chúa thực hiện thế nào về lời hứa của Ngài với Gia-cốp?

5. Tại sao chúng ta cũng hưởng được các lời hứa của Chúa với Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp?

6. Không những chúng ta được hưởng những lời hứa trong Cựu Ước mà chúng ta còn hưởng các lời hứa ở đâu nữa?

7. Muốn hưởng các lời hứa của Chúa, không những phải nhẫn nại đợi chờ mà còn phải thế nào nữa?

8. Đức Chúa Trời thực hiện lời hứa của Ngài cho ai?

BÀI 27. CÁC ANH GANH TỊ VỚI GIÔ-SÉP

KINH THÁNH: Sáng thế ký 37:1-36.

CÂU GỐC: “Ở đâu có những điều ghen tương tranh cạnh ấy, thì ở đó có sự lộn lạo và đủ mọi thứ ác” (Gia-cơ 3:16).

MỤC ĐÍCH: Bày tỏ hậu quả tai hại của sự ganh tị và Đấng Christ dạy chúng ta phải yêu kẻ khác như yêu chính mình.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ dạy chúng ta yêu thương nhau

(Ma-thi-ơ 22:39).

TH:

Sự ganh tị của các anh Giô-sép

(Sáng 37:1-36).

TB:

Sự ganh tị của Sau lơ

(I Sam 18:5-12).

TT:

Sự ganh tị của Ca-in

(Sáng thế ký 4:1-8).

TN:

Sự ganh tị của người anh cả

(Lu-ca 15:25-32).

TS:

Lời cảnh cáo về sự ganh tị

(IICôr 12:20; Ga-la-ti 5:26).

TB:

Mạng lịnh của tình yêu

(Giăng 13:34- 35; I Phi-e-rơ 4:8).

Ganh tị là một tật xấu đáng bỏ đi. Chúng ta nài xin Chúa tha thứ và cứu mình khỏi tái phạm, bằng không sẽ chịu đoán phạt nặng nề. Vì từ lòng ganh tị sẽ đưa đến những hành động tàn nhẫn. Chung quanh chúng ta luôn luôn có những kẻ hơn mình về phương diện này hay phương diện khác như tiền tài, tri thức, khả năng, đạo đức. Thà chúng ta ganh đua để bằng họ hơn là ganh tị để hại họ. Làm lợi cho họ cũng lợi cho mình, làm hại cho người cũng làm hại cho mình. “Thấy ai hơn ta, ta muốn cho ta bằng họ, thấy ai kém ta, ta muốn cho họ bằng ta”.

I. NGUYÊN NHÂN KHIẾN CÁC ANH GANH TỊ VỚI GIÔ-SÉP (c.1-11).

1. Giô-sép thuật lại cho cha những chuyện xấu của các anh (c.1-2).

Giô-sép thường giao thông thân mật với cha hơn các anh em nên chàng có cơ hội thuật lại những gì họ đã nói. Chắc Gia-cốp có quở trách các anh của Giô-sép nên họ không ưa chàng.

2. Giô-sép được cha yêu hơn các anh mình (c.4).

Gia-cốp yêu Giô-sép vì là con muộn mình, mặc dầu chưa phải là con út, Bên-gia-min mới là con út. Hơn nữa, Giô-sép là con của Ra-chên, mà Ra-chên là người vợ được Gia-cốp yêu quý hơn hết. Gia-cốp may cho Giô-sép một chiếc áo dài có nhiều sắc. Chiếc áo dài đó làm cho Giô-sép nổi bật giữa các anh mình. Vì vậy, lòng ganh tị của các anh đối với Giô-sép thêm lên, đến nỗi “chẳng có thể lấy lời tử tế nói cùng chàng được”.

3. Giô-sép thuật lại hai điềm chiêm bao của mình (c.5-11).

Giô-sép nằm chiêm bao. Sáng hôm sau, chàng mời các anh họp lại để nghe chàng thuật: “Chúng ta đang ở ngoài đồng bó lúa, này bó lúa của tôi đứng dựng lên, còn bó lúa của các anh đều đến ở chung quanh, sấp mình xuống trước bó lúa tôi”. Các anh giận lắm, hỏi lại: Vậy, mày sẽ làm vua sao? Mày sẽ cai trị chúng tao sao? Họ càng ghen ghét Giô-sép hơn.

Giô-sép lại nằm chiêm bao. Chàng thuật cho các anh và cũng cho cha nghe nữa. “Này mặt trời, mặt trăng và 11 ngôi sao đều sấp mình xuống trước mặt tôi”. Cha chàng quở và hỏi: “Có phải tao, mẹ và các anh mày đều phải đến sấp mình xuống trước mặt mày chăng?” Các anh lấy làm ghen ghét chàng, còn Gia-cốp thì ghi nhớ.

Qua các việc này, chúng ta đã thấy được tính tình của Giô-sép rất là hồn nhiên và chân thật, nghe sao nói lại vậy, thấy sao thuật lại vậy, không thêm không bớt, cũng không nghĩ đến hậu quả của nó. Tuổi 17 của con trai cũng đúng là tuổi vô tư lự. Chàng như không hề để ý đến sắc mặt giận dữ, lời nói cay đắng, câu hỏi tra vấn của các anh mình. Vì thế, khi cha bảo đi thăm các anh để biết họ có bình an không thì chàng đi ngay. Nếu chàng biết được lòng ganh tị của các anh đối với mình, chắc chàng đã không dám đi trên con đường dài 80 cây số để đến thăm các anh như vậy.

II. GANH TỊ KHIẾN CÁC ANH TRẢ THÙ GIÔ-SÉP (12-30).

Giô-sép thản nhiên vâng lời cha đi thăm các anh mình. Như thường lệ, chàng mặc chiếc áo dài có nhiều sắc. Khi còn xa, các anh đã nhận biết ngay đó là Giô-sép. Họ rất mừng không phải vì anh em gặp nhau mà vì cơ hội tốt đã đến, nên họ quyết định giết chàng. Bấy lâu, họ muốn hành động nhưng chưa có cơ hội. Họ nói với nhau: “Kìa, thằng nằm mộng!” để mỉa mai, chế nhạo Giô-sép. Họ tính toán rất kỹ càng và mau lẹ. Giết Giô-sép rồi quăng xuống hố để phi tang, báo cáo với cha rằng nó đã bị thú dữ xé thây.

Trước nhất, họ muốn trả thù Gia-cốp, thử xem ông còn yêu con muộn của mình được nữa chăng, và còn ai sẽ thuật lại cho ông các lời xấu xa mà họ đã nói. Kế đó, họ trả thù Giô-sép, thử xem các chiêm bao của chàng sẽ ra sao.

Nhờ Ru-bên can thiệp, nên Giô-sép khỏi chết, vì họ nhớ lại làm đổ máu như Ca-in làm đổ máu A-bên thì tiếng máu đó kêu thấu Đức Chúa Trời. Vì thế, khi Giô-sép vừa đến gần, các anh liền lột áo của chàng ra và bắt chàng quăng xuống hố. May thay, hố không có nước. Tuy nhiên, họ nghĩ rằng tại đó Giô-sép sẽ chết vì đói khát. Đoạn, họ ngồi lại ăn. Chắc lòng họ rất mừng, ăn rất ngon vì đã thành công trong việc phá hủy tình thương của cha đối với Giô-sép, nhất là phá hủy được các chiêm bao của Giô-sép.

Đang khi ăn, họ thấy một đoàn con buôn đi qua và sẽ xuống Ê-díp-tô. Giu-đa đề nghị với các anh em: Giết em mình thì có ích chi. Vả lại, nó là cốt nhục của chúng ta. Sao bằng bán nó cho đoàn con buôn kia còn có lợi hơn. Các anh em đều đồng ý. Thế là họ kéo Giô-sép lên khỏi hố và bán chàng với giá 20 miếng bạc.

Đáng thương cho Ru-bên! Sau khi đề nghị với các anh em đừng giết Giô-sép và được họ chấp nhận chỉ quăng chàng xuống hố, nên Ru-bên đi lo cho bầy chiên và định sẽ trở lại kéo Giô-sép lên rồi đem về cho cha. Song khi Ru-bên trở lại thì Giô-sép không còn ở đó. Ông bối rối tự hỏi: “Còn tôi, tôi sẽ đi đâu?” Ông là anh cả, đáng phải túc trực tại chỗ, theo dõi từng bước một sự việc sẽ xảy ra để kịp thời can thiệp. Nhưng ông lại vắng mặt trong giờ phút quan trọng đó, tức là bỏ lỡ cơ hội cứu em mình.

III. HẬU QUẢ CỦA LÒNG GANH TỊ (c. 31-37).

Ganh tị cắt đứt tình cốt nhục, anh giết em một cách quá dễ dàng. Sa-lô-môn so sánh: “Sự căm gan vốn hung dữ, còn cơn giận như nước tràn ra, nhưng ai đứng nổi trước sự ghen ghét?” (Châm 27:4). Căm gan, giận dữ là đáng sợ, song chưa đáng sợ bằng ghen ghét. Chính vì ghen ghét mà dân Dothái đã dám nộp Chúa Jêsus để bị đóng đinh (Ma-thi-ơ 27:18; Mác 15:10).

Các anh của Giô-sép bèn giết một con dê đực, nhúng áo chàng vào đó, rồi gởi về cho cha mình, cặp theo lời báo cáo: “Đây là vật dụng chúng tôi đã tìm được. Vậy xin cha coi, có phải áo của con trai cha chăng?” Gia-cốp biết ngay là áo của Giô-sép bèn ngã lăn ra kêu khóc thảm thiết: “Ấy là áo của con trai ta đó, một thú dữ đã cắn xé nó. Quả thật, Giô-sép đã bị phân thây rồi”.

Nếu Gia-cốp bình tĩnh mà quan sát kỹ càng, chắc ông đã khám phá ra rằng chiếc áo còn nguyên vẹn, chỉ nhúng trong huyết mà thôi. Nếu thú dữ xé thây, áo phải rách nát. Gia đình đông con lại đến bốn dòng con thì không thể nào tránh khỏi ghen ghét nhau. Gia-cốp cũng không theo dõi hành vi của các con mình mà cứ tưởng họ là tốt nhất. Ông không ngờ họ dám làm việc tày trời như vậy. Cha mẹ nên để ý đến nếp sống hằng ngày của con mình để kịp thời ngăn chặn việc ác của chúng.

Hết thảy con trai con gái của Gia-cốp đều hiệp lại an ủi ông. Thật là giả dối! Họ đã làm như kẻ thù bây giờ nói như bạn hữu, tay họ đã giết người bây giờ miệng họ lại khuyên lơn. Tuy nhiên họ bị lương tâm cáo trách dữ dội, lúc nào cũng bị ám ảnh về tội lỗi đó (Sáng 42:21-23). Song đã muộn quá rồi, và họ cũng không đủ can đảm thú tội cùng cha. Ganh tị không đem phước hạnh cho bất cứ ai mà chỉ đem đau đớn cho mọi người.

Tình yêu thắng ganh tị. “Lạy Chúa, xin cứu chúng con khỏi tật ganh tị và đổ tuôn vào trong chúng con tình yêu của Ngài để chúng con yêu thương nhau”.

CÂU HỎI

1. Ba điều gì đã gây cho các anh ganh tị với Giô-sép?

2. Trong ba điều đó, điều nào quan trọng hơn cả?

3. Qua ba điều đó chúng ta biết được tính tình của Giô-sép như thế nào?

4. Khi các anh thấy Giô-sép đến thăm mình thì họ định làm gì?

5. Ru-bên can thiệp với ý định gì?

6. Các anh của Giô-sép vui mừng vì được trả thù ai?

7. Các anh kéo Giô-sép lên khỏi hố để làm gì?

8. Các anh của Giô-sép đã làm gì để gạt cha của họ?

9. Khi thấy cha quá đau khổ thì họ đã làm gì?

10. Hậu quả của lòng ganh tị là gì?

11. Làm sao để thoát khỏi lòng ganh tị?

BÀI 28. ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VỚI GIÔ-SÉP

KINH THÁNH: Sáng Thế Ký 39-40.

CÂU GỐC: “Đức Chúa Trời phán: Ta sẽ chẳng lìa ngươi đâu, chẳng bỏ ngươi đâu” (Hê-bơ-rơ 13:5).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng Đức Chúa Trời ở với Giô-sép trong tù thế nào, thì Ngài cũng ở với chúng ta bất cứ nơi nào thể ấy.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ ở cùng chúng ta khắp mọi nơi

(Ma-thi-ơ 28:20).

TH:

Giô-sép là hình bóng của Đấng Christ

(Sáng 37-39).

TB:

Giô-sép và Chúa Jêsus, con yêu dấu của cha

(Ma 3:17; 17:5).

TT:

Cả hai bị bán lấy tiền

(Sáng 37:8; Lu-ca 6:11; Giăng 1:11).

TN:

Cả hai bị anh em ghen ghét

(Sáng 37:28; Ma-thi-ơ 26:14-15).

TS:

Cả hai chịu khổ vì tha nhân

(Sáng 39:1-10; Ê-sai 53).

TB:

Cả hai được Đức Chúa Trời tôn vinh

(Sáng 39:2,21,23; Lu-ca 22:43).

Khi các anh Giô-sép kéo chàng lên khỏi hố và bán cho đoàn con buôn Ích-ma-ên, thì chàng bị trói lại dẫn đi. Con đường từ Ca-na-an xuống Ê-díp-tô khá xa. Chắc tâm hồn Giô-sép xao xuyến, lo nỗi cha già nhớ nhung, thương tiếc con yêu dấu ra đi rồi mất biệt, lo nỗi mình không biết sẽ đi về đâu. Chàng thắc mắc về những gì đã thấy trong hai giấc chiêm bao mà bây giờ phải ra thế này. Tại sao Đức Chúa Trời vẫn vắng bóng im hơi mà không can thiệp? Tuy nhiên Giô-sép cứ hết lòng tin cậy Chúa.

I. ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VỚI GIÔ-SÉP TRONG NHÀ PHÔTIPHA (39:1-6).

Đến Ê-díp-tô, đoàn con buôn đem Giô-sép ra chợ nô lệ để bán. Đức Chúa Trời hướng dẫn Phô-ti-pha là quan thị vệ nhà vua ra mua Giô-sép đem về.

Từ khi Giô-sép vào nhà Phô-ti-pha thì Đức Giê-hô-va ban phước cho hết thảy mọi việc tay chàng làm, việc nào cũng thịnh vượng. Có lẽ Phô-ti-pha ngạc nhiên hỏi tại sao lại có kết quả lạ lùng như vậy và được Giô-sép làm chứng là nhờ có Đức Giê-hô-va ở cùng, nên Phô-ti-pha cũng nhận như thế (c.3). Đức Giê-hô-va không những hiện diện ở Ca-na-an, mà Ngài cũng hiện diện ở Ê-díp-tô và ở khắp mọi nơi, không những Ngài là chủ tể của bộ lạc Hê-bơ-rơ, mà cũng là chủ tể của toàn thể nhân loại. Kể từ đó, Giô-sép được Phô-ti-pha tin dùng, giao hết của cải, sự nghiệp của mình cho chàng cai quản. Và cũng từ đó, Đức Giê-hô-va vì cớ Giô-sép ban phước cho mọi vật trong nhà Phô-ti-pha.

Phước cho người nào có cộng tác viên là người Tin Lành. Voltaire theo chủ nghĩa vô thần, song đã nói: “Tôi không theo Tin Lành, nhưng người giữ muỗng nĩa của tôi phải là người Tin Lành!” Trước đây hơn 40 năm tại Trà Ôn, tỉnh Hậu Giang, có một vị đốc phủ rất giàu, ông nói: “Tôi không theo Tin Lành, nhưng người quản lý điền sản của tôi là người Tin Lành mới được”.

Phước cho xứ sở nào có những người dân Tin Lành. Khi Nê-bu-cát-nết-sa chinh phục các nước trên thế giới thời bấy giờ, trong đó có Y-sơ-ra-ên, thì bắt một số người Y-sơ-ra-ên qua Ba-by-lôn làm nô lệ (năm 586 TC). Nhờ Đức Chúa Trời ban cho sự khôn ngoan xuất chúng, nên Đa-ni-ên và ba bạn ông được Nê-bu-cát-nết-sa trọng dụng. Từ những tên phu tù, họ được cất nhắc làm quan đầu tỉnh của Ba-by-lôn và thượng thơ của Mê-đi Ba-tư. Vì Đa-ni-ên và ba bạn ông không những khôn ngoan xuất chúng mà cũng trung thành tột bực. Kinh Thánh dạy rằng: “Hễ làm việc gì, hãy hết lòng mà làm, như làm cho Chúa chớ không phải làm cho người ta” (Cô-lô-se 3:23).

II. ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VỚI GIÔ-SÉP KHI ÔNG BỊ CÁM DỖ (39:7-23).

Sự bắt bớ không đáng sợ bằng sự cám dỗ. Con sư tử gầm thét không đáng sợ bằng con rắn nói lời nhỏ nhẹ. Sam-sôn không chết trong tay hàng ngàn chiến sĩ Phi-li-tin, mà chết trong tay nàng Đa-li-la.

Vì vậy, ma quỉ đã dùng vợ của Phô-ti-pha làm mỹ nhân kế cám dỗ Giô-sép phạm tội gian dâm. Nếu Giô-sép thất bại, đời chàng đã bị chấm dứt ngay từ đó một cách sỉ nhục. Cảm tạ Chúa, trước mọi sự cám dỗ hiểm nghèo như vậy, chàng đã phản đối bằng một câu, ngàn năm không cũ, lúc nào cũng thích hợp cho người muốn sống cuộc đời đắc thắng vẻ vang: “Thế nào tôi dám làm điều đại ác dường ấy, mà phạm tội cùng Đức Chúa Trời sao?” Dầu bấy giờ luật pháp chưa được ban bố, nhưng luật pháp đã được ghi tạc vào lòng của kẻ kính sợ Chúa, nên Giô-sép cho gian dâm là một điều đại ác

(Lê-vi ký 20:10). Dầu không có cha mẹ anh chị em ở với Giô-sép, song chàng biết rất rõ ràng có Đức Chúa Trời đang ở với mình, nên chàng không dám phạm tội nghịch cùng Ngài. Theo quan niệm của Giô-sép, bị các anh ghen ghét không đáng sợ bằng phạm tội nghịch cùng Chúa, bị mọi người lìa bỏ không đáng sợ bằng bị Chúa lìa bỏ, bị mất mọi sự không đáng sợ bằng mất Chúa. Có lẽ căn cứ vào đời sống Giô-sép mà Sa-lô-môn đã khuyên: “Khá cẩn thận giữ tấm lòng của con hơn hết, vì các nguồn sự sống do nơi đó mà ra” (Châm 4:23). Nếu trong đời Giô-sép, gian dâm là đại ác, nếu trong đời Môi-se, gian dâm bị xử tử, thì trong đời này gian dâm sẽ bị Đức Chúa Trời đoán phạt (Hê-bơ-rơ 13:4). Phao-lô nghiêm nghị khuyên: “Hãy tránh sự gian dâm. Mọi tội người ta phạm còn ở ngoài thân thể, nhưng kẻ gian dâm thì phạm chính thân thể mình” (ICôr 6:18 BNC). Thân thể của chúng ta là đền thờ của Thánh Linh đang ngự. Vậy, gian dâm là một tội nặng dường nào!

Vì chống lại sự cám dỗ để giữ lòng trong sạch, Giô-sép bị vu oan, bị bôi nhọ một cách dễ sợ, đến nỗi ông phải ngồi tù nhiều năm. Khi bị bán làm nô lệ, Giô-sép mới 17 tuổi, nhưng khi ra khỏi tù thì đã 30 (41-46).

III. ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VỚI GIÔ-SÉP TRONG TÙ (40:1-23).

Trong tù, Đức Giê-hô-va phù hộ Giô-sép mà tỏ lòng nhân từ cùng chàng, làm cho chàng được ơn trước mặt chủ ngục. Chữ “phù hộ” trong câu 2-3 và 21 đều có nghĩa là “ở cùng”. Chúa đã ở cùng Giô-sép trong nhà Phô-ti-pha, thì Chúa cũng ở cùng chàng trong khám tù. Chúa đã ở cùng ba bạn Hê-bơ-rơ trong lò lửa hực, Chúa cũng ở cùng Đa-ni-ên trong hang sư tử. Chúa ở cùng Hội Thánh Ngài khắp mọi nơi cho đến cuối cùng. Vì vậy, Giô-sép đã thạnh vượng trong nhà Phô-ti-pha (c.2-3), cũng thạnh vượng trong khám tù (c.22-23). Điều này đúng như lời Chúa phán (Phục 9:29, Giô-suê 1:7).

Chúng ta không thể nhờ tri thức, kinh nghiệm mà biết được nơi nào bình an thịnh vượng, chỉ biết sẵn sàng đi bất cứ nơi nào Chúa muốn mình đi, để tại đó được Chúa ở cùng là đủ. Dân Y-sơ-ra-ên không thể biết nơi nào trong đồng vắng để đóng trại, mà tại đó mỗi sáng có mana rơi xuống đầy dẫy cho mình. Song họ chỉ làm một điều là cứ đi theo sự dẫn dắt của trụ mây và trụ lửa, thì bất luận nơi nào họ đóng trại đều có mana mưa xuống cho họ.

Có hai thượng quan của Pha-ra-ôn đã phạm tội cùng vua mình nên bị ngồi tù chung với Giô-sép. Một là quan dâng rượu, hai là quan dâng bánh cho vua.

Một đêm nọ, hai quan này thấy chiêm bao, mà không biết ý nghĩa ra sao. Họ rất buồn vì nghĩ rằng trong khám tù này không có ai đủ khả năng để bàn chiêm bao. Thấy vẻ u sầu trên nét mặt họ, Giô-sép ân cần hỏi như muốn giúp họ: “Ngày nay sao hai quan có nét mặt âu sầu như vậy?” Hai quan đáp rằng đêm qua họ đã thấy mỗi người một chiêm bao mà không có ai bàn hộ. Giô-sép mau mắn thưa rằng sự bàn chiêm bao là do Đức Chúa Trời, xin hai quan thuật cho ông nghe. Thiết tưởng khi Chúa cho hai quan thấy chiêm bao thì đồng thời Ngài cũng cho Giô-sép thấy ý nghĩa của nó, hoặc khi họ đang thuật, Giô-sép cầu nguyện thầm với Chúa như trường hợp của Nê-hê-mi (12:1-5).

Hai chiêm bao của hai quan khác nhau, nên ý nghĩa cũng khác nhau. Khi nghe họ thuật xong, Giô-sép nói ý nghĩa của mỗi chiêm bao mà sự ứng nghiệm của nó sẽ chỉ xảy ra trong vòng ba ngày. Quả thật, hai ngày sau, quan tửu chánh được phục chức, quan thượng thiện bị xử tử y như Giô-sép đã bàn.

Từ đây mở đường cho bước vinh quang của Giô-sép để từ một tên nô lệ đến một vị tể tướng của nước Ê-díp-tô. Đó là lý do Giô-sép phải được rèn qua các cuộc thử nghiệm như bị ghen ghét, bắt bớ, cám dỗ, vu oan, tù tội, để xứng đáng với chức vụ Chúa dành cho.

Theo con mắt xác thịt, chúng ta thấy đây chỉ là công việc của người. Song theo con mắt đức tin, chúng ta thấy phía sau sân khấu đó có cánh tay vô hình và quyền năng vô cùng của Đức Chúa Trời điều khiển để hoàn thành mục đích của Ngài trên đời sống Giô-sép. “Cơn giận của loài người hẳn sẽ ngợi khen Chúa, còn sự giận dư lại Chúa sẽ ngăn trở” (Thi Thiên 76:10).

CÂU HỎI

1. Vì sao mọi công việc của Giô-sép làm đều được thạnh vượng?

2. Vì cớ ai mà gia đình của Phô-ti-pha được Đức Giê-hô-va ban phước?

3. Vì sao Đa-ni-ên và ba bạn của ông được Nê-bu-cát-nết-sa trọng dụng?

4. Kinh Thánh dạy chúng ta thế nào về tinh thần làm việc?

5. Giô-sép đã trả lời thế nào để chống lại sự cám dỗ của vợ Phô-ti-pha?

6. Giá mà Giô-sép phải trả để cứ sống trong sạch mà chống lại sự cám dỗ là gì?

7. Nhờ đâu mà Giô-sép biết được ý nghĩa điềm chiêm bao của hai vị quan?

8. Các thử thách đã mang những ích lợi nào cho đời sống Giô-sép?

BÀI 29. GIÔ-SÉP ĐƯỢC LẬP LÀM TỂ TƯỚNG

KINH THÁNH: Sáng Thế Ký 41-43.

CÂU GỐC: “Chẳng phải các anh sai tôi đến đây đâu, ấy là Đức Chúa Trời, Ngài dường đặt tôi làm cha Pha-ra-ôn” (Sáng Thế Ký 45:8).

MỤC ĐÍCH: Giải thích rằng Giô-sép được cất nhắc làm tể tướng vì chàng đã phục tùng Đức Chúa Trời và trung tín trong mọi công tác.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ có tể trị đời sống anh em không?

(Phil 2:9-11).

TH:

Khiêm nhường

(Sáng 41:16; Phil 2:7-8).

TB:

Tôn vinh

(Sáng 41:40-41; Phi-líp 2:9-10).

TT:

Khôn ngoan

(Sáng 41:33-46;39:46-49; I Cô 1:24; Côl 2:3).

TN:

Quyền năng

(Sáng 41:40-43; Ma-thi-ơ 28:18).

TS:

Yêu thương

(Sáng 42:24; 43:30; Ga-la-ti 2:20).

TB:

Cứu chuộc

(Sáng 41:55-57; Công 4:12).

Khi quan tửu chánh được phục chức và quan thương thiện bị xử tử đúng như lời bàn chiêm bao của Giô-sép thì hai năm sau, Pha-ra-ôn nằm chiêm bao hai lần trong một đêm. Hai chiêm bao này mở đường cho Giô-sép lên chức tể tướng nước Ê-díp-tô (Ai-cập).

I. CƠ HỘI ĐƯA GIÔ-SÉP LÊN LÀM TỂ TƯỚNG (41).

Chiêm bao thứ nhất mà Pha-ra-ôn thấy là bảy con bò mập tốt đang ăn cỏ. Kế đó có bảy con bò ốm, xấu theo sau. Bảy con bò ốm xấu nuốt bảy con bò mập tốt. Chiêm bao thứ nhì là bảy gié lúa chắc tốt. Kế đó có bảy gié lúa lép. Bảy gié lúa lép nuốt bảy gié lúa tốt.

Sáng hôm sau, tâm thần Pha-ra-ôn bối rối, ông lập tức đòi các pháp sư, thuật sĩ Ê-díp-tô đến giải thích, song chẳng ai biết ý nghĩa của hai chiêm bao đó là gì. Việc của Chúa thì chỉ có đầy tớ Ngài mới biết được mà thôi. Bấy giờ quan tửu chánh mới nhớ lại lúc mình đã phạm lỗi với Pha-ra-ôn và bị cầm trong ngục chung với quan thượng thiện. Hai ông đã thấy hai chiêm bao. Giô-sép đã bàn và việc xảy ra đúng như vậy. Ông bèn kể lể tự sự cho Pha-ra-ôn nghe. Pha-ra-ôn lập tức truyền lịnh cho Giô-sép ra khỏi ngục, cạo mặt, thay áo lễ vào chầu vua. Pha-ra-ôn phán với Giô-sép: “Trẫm nghe rằng khi người ta thuật chiêm bao lại cho ngươi thì ngươi bàn được”. Rồi ông liền thuật lại chiêm bao mà ông đã thấy đêm trước.

Giô-sép tâu: “Đó chẳng phải tôi, nhưng ấy là Đức Chúa Trời…” (c.16). Ông tiếp: “Đức Chúa Trời mách cho bệ hạ biết trước những việc Ngài sẽ làm” (c.25). Ông xác nhận: “Đức Chúa Trời có cho bệ hạ thấy những việc Ngài sẽ làm” (c.28). “Nếu điềm chiêm bao đến hai lần cho bệ hạ, ấy bởi Đức Chúa Trời đã quyết định điều đó rồi và Ngài mau mau lo làm cho thành vậy” (c.32).

Cơ hội đó, Giô-sép có thể tự đắc, tự kiêu, song ông muốn giữ thái độ khiêm nhường thành thật, qui vinh hiển về một mình Chúa. Ông biết rằng Đức Chúa Trời đóng vai chủ động trong mọi việc. Chiêm bao của ông, chiêm bao của quan tửu chánh và quan thượng thiện, chiêm bao của Pha-ra-ôn đều do Chúa mà đến. Ngài có chương trình cho mọi việc, và đang điều khiển mọi việc để thực hiện chương trình đó.

Giô-sép giải nghĩa chiêm bao của Pha-ra-ôn rằng bảy con bò mập và bảy gié lúa chắc là bảy năm được mùa, rồi bảy con bò ốm và bảy gié lúa lép là bảy năm mất mùa. Bảy con bò ốm nuốt bảy con bò mập, bảy gié lúa lép nuốt bảy gié lúa chắc là bảy năm mất mùa sẽ làm tiêu mất bảy năm được mùa và nhân dân sẽ bị đói kém.

Không những giải thích hai chiêm bao của Pha-ra-ôn một cách rõ ràng, Giô-sép còn đưa ra một kế hoạch tuyệt diệu là trong bảy năm được mùa dư dật phải thu hoạch và tích trữ đầy đủ để bảo đảm cho bảy năm mất mùa sau đó. Ông đề nghị vua nên chọn ngay một người thông minh, trí huệ lập lên làm đầu trong nước để thi hành ngay kế hoạch này.

Lời bàn về kế hoạch của Giô-sép được Pha-ra-ôn và quần thần chấp nhận và hưởng ứng. Pha-ra-ôn nói với quần thần rằng, họ không thể tìm được một người như Giô-sép, rồi nói với Giô-sép: “Chẳng có ai thông minh, trí huệ bằng ngươi. Vậy, ngươi sẽ lên cai trị nhà trẫm, hết thảy dân sự của trẫm đều vâng theo lời ngươi. Trẫm lớn hơn ngươi chỉ vì ngự ngôi vua mà thôi”. Pha-ra-ôn liền cởi chiếc nhẫn khỏi tay mình đeo vào tay Giô-sép, truyền mặc cho người áo vải gai mịn, đeo vòng vàng vào cổ, mời người ngồi lên xe sau xe vua, có người đi trước hô lên: “Hãy quỳ xuống!” Pha-ra-ôn còn tỏ lòng biết ơn Giô-sép: “Ta là Pha-ra-ôn, nhưng nếu chẳng có ngươi thì trong cả xứ Ê-díp-tô không có ai đưa tay giơ chân lên được”.

Đối với Giô-sép, đây là việc không ngờ, xảy ra Vượt Quá lời cầu xin và trí tưởng tượng của chàng. Một tên nô lệ, một người ngoại quốc đang ở tù, chỉ mong được tự do là phước lắm rồi. Song đó là điều Chúa đã làm và Ngài đã làm đúng như chương trình đã hoạch định. Khi Chúa làm thì không ai ngăn trở được, các núi cũng trở nên đồng bằng.

Thế là Giô-sép được lập làm tể tướng nước Ê-díp-tô, trọn quyền thi hành đúng kế hoạch mà ông đã đưa ra để cứu nhân dân khỏi nạn đói kém. Song mục đích của việc này là Đức Chúa Trời thực hiện hai chiêm bao mà Ngài đã cho Giô-sép thấy và đưa gia đình Gia-cốp xuống kiều ngụ tại Ê-díp-tô để ứng nghiệm lời Ngài đã báo trước với Áp-ra-ham (Sáng 15:13-14).

Thật đúng như lời Chúa đã mách bảo cho Pha-ra-ôn. Trong thời đó, Ê-díp-tô là vựa lúa của các nước chung quanh. Sông Nilơ dài 6.500 cây số (Cửu long dài 4.200 cây số), tưới khắp xứ, đem màu mỡ cho ruộng nương. Song khi Đức Chúa Trời hành động thì bao nhiêu cố gắng và kinh nghiệm của người Ê-díp-tô cũng bị mất mùa một cách thê thảm trong bảy năm liền. Khắp các xứ khác cũng đã bị đói nên đâu đâu đều đổ về Ê-díp-tô mua lúa nơi Giô-sép bán.

II. TỂ TƯỚNG GIÔ-SÉP GẶP CÁC ANH EM (42,43).

Gia đình đông đúc của Gia-cốp thiếu lúa ăn nên ông sai mười con trai xuống Ê-díp-tô mua lúa. Phương tiện chuyên chở là lừa.

Khi đến nơi, các anh Giô-sép sấp mình trước mặt chàng để xin mua lúa. Giô-sép nhìn biết họ, song họ không nhìn biết Giô-sép, vì anh em xa nhau đã hơn 13 năm. Khi bị các anh bán đi, Giô-sép là một thanh niên 17, bây giờ là tể tướng của Ê-díp-tô với tuổi 30, mặc áo vải gai mịn, đeo vòng vàng nơi cổ, mang nhẩn của Pha-ra-ôn trong tay. Có ai ngờ được “thằng nằm mộng” bây giờ là quan tể tướng của một cường quốc.

Để thử các anh, Giô-sép xem họ như kẻ xa lạ, dọa nạt họ là thám tử để họ khai ra tất cả gia cảnh thân thuộc của mình. Khi đã biết cha già còn sống, em mình là Bên-gia-min mạnh khỏe, thì Giô-sép bắt Si-mê-ôn ở lại làm con tin, còn bao nhiêu cho về với điều kiện lần sau trở xuống phải đem Bên-gia-min theo.

Chẳng bao lâu sau, lúa mua tại Ê-díp-tô đã hết nên Gia-cốp sai các con đi mua thêm. Họ xin đem Bên-gia-min theo mới mua lúa được, Gia-cốp kể lể: Bay làm mất Giô-sép, Si-mê-ôn, rồi còn muốn làm mất Bên-gia-min nữa sao? Nếu Bên-gia-min mất nữa, bay làm cho cha già phải chết!

Tầm mắt chúng ta rất gần, trí não chúng ta rất hẹp, thấy không

xa, hiểu không rộng nên cũng giống như Gia-cốp, ông đã than: “Các nông nỗi này đều đổ lại cho tao hết!” Kỳ thật, ông không mất gì cả. Giô-sép còn, Si-mê-ôn còn, Bên-gia-min sẽ gặp anh. Khi rất buồn là gần đến lúc rất vui.

Cuối cùng, Gia-cốp phải cho Bên-gia-min đi, vì nghĩ rằng thà mất thêm một con hơn là cả nhà bị chết đói (43:14).

Đi xuống Ê-díp-tô lần này, các anh em được Giô-sép biệt đãi. Nào là Si-mê-ôn được tha ra, các anh em được ăn chung trong nhà Giô-sép. Ai nấy bỡ ngỡ, sững sờ nhìn nhau không biết tại sao. Giô-sép bảo lấy các món ăn của mình đem cho các anh, song về phần Bên-gia-min thì được năm lần nhiều hơn các anh. Giô-sép muốn thử các anh để biết họ còn có lòng ganh tị hay không.

Mỗi lần gặp anh em, Giô-sép khóc (42:24; 43:30; 45:2). Dầu họ đã lỗi lầm, song ông vẫn thương yêu, tha thứ. Đó là thái độ xứng đáng của một người được Chúa trọng dụng để ban phước cho nhiều người. Giô-sép có thái độ đó vì ông biết mọi việc này do Chúa làm, và Chúa làm do Chúa thương!

CÂU HỎI

1. Hai chiêm bao của Pha-ra-ôn như thế nào?

2. Tại sao quan tửu chánh giới thiệu Giô-sép với Pha-ra-ôn?

3. Tại sao các pháp sư, thuật sĩ không giải nghĩa chiêm bao được, mà Giô-sép giải nghĩa được?

4. Giô-sép cho biết chiêm bao đến từ đâu?

5. Giô-sép giải nghĩa thế nào về hai chiêm bao đó?

6. Giô-sép đưa ra kế hoạch gì?

7. Pha-ra-ôn lập Giô-sép làm chức gì?

8. Tại sao các anh gặp Giô-sép mà không biết?

9. Tại sao Giô-sép buộc các anh đem Bên-gia-min xuống?

10. Tại sao Giô-sép khóc và biệt đãi các anh em?

BÀI 30. GIÔ-SÉP THA THỨ CÁC ANH

KINH THÁNH: Sáng Thế Ký 44,45,50.

CÂU GỐC: “Hãy ở với nhau cách nhân từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy” (Ê-phê-sô 4:32).

MỤC ĐÍCH: Cho thấy tình yêu cao cả của Đấng Christ đã được bày tỏ do sự tha thứ của Ngài đối với tội lỗi chúng ta nên chúng ta phải tha thứ lẫn nhau.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ tha thứ chúng ta

(Cô-lô-se 3:13).

TH:

Giô-sép yêu thương các anh

(Sáng 45:1-5).

TB:

Giô-sép giúp đỡ các anh

(Sáng 45:6-11).

TT:

Giô-sép tha thứ các anh

(Sáng 45:15).

TN:

Đấng Christ tha thứ kẻ thù của Ngài

(Lu-ca:23:33-34).

TS:

Chúng ta phải yêu thương kẻ thù

(Lu-ca 6:27-36).

TB:

Chúng ta phải tha thứ lẫn nhau

(Ê-phê-sô 4:30-32).

Sau cơn mưa, trời tạnh ráo. “Hết khi bĩ cực đến hồi thái lai”. Lúc này Giô-sép đường đường trên ngôi tể tướng Ê-díp-tô và các anh đang cần đến ông. Thế là Giô-sép có một cơ hội tốt để báo thù, song ông hoàn toàn tha thứ.

I. GIÔ-SÉP NHẬN BIẾT CÁC ANH ĐÃ ĐƯỢC ĐỔI MỚI.

Trước kia, các anh của Giô-sép nói gạt cha là Giô-sép đã bị thú dữ xé thây, làm cho cha vật vã trên giường, khóc than đứa con yêu dấu. Bây giờ Giu-đa cam kết dẫn Bên-gia-min về: “Nếu không dẫn em về, không để em trước mắt cha, thì con đây sẽ cam tội cùng cha mãi mãi” (43:9).

Trước kia, họ ganh tị Giô-sép khi thấy chàng được cha yêu, cho mặc áo đẹp hơn họ. Bây giờ họ cũng thấy Bên-gia-min được thức ăn năm lần hơn họ, song họ không còn ganh tị nữa. Dầu vậy Giô-sép muốn thử họ lần cuối cùng để biết rõ hơn.

Sau khi các anh em ăn uống xong, Giô-sép truyền lịnh cho quản gia đổ lúa đầy ắp các bao của mỗi người rồi để tiền của họ vào đó, song để cái chén quý giá bằng bạc của Giô-sép vào bao của Bên-gia-min. Thế là ai nấy vui vẻ ra về, không hay biết chi cả.

Đi được một đoạn đường, quản gia của Giô-sép đuổi theo bắt lại, bảo là có người ăn cắp chén bạc của chủ mình. Các anh cam kết không có ai làm vậy, vạn nhất nếu có ai, kẻ ấy phải chết, còn họ sẽ làm tôi mọi. Khi quản gia lục soát từ bao anh cả cho đến bao em út thì bắt gặp chén bạc trong bao của Bên-gia-min. Vì vậy, tất cả phải trở lại để trả lời với Giô-sép.

Họ biết rằng trong việc này mình hoàn toàn vô tội, nhưng không hiểu tại sao, vì có bằng cớ rõ ràng, tình ngay lý gian. Giu-đa thay cho tất cả anh em không một lời tự bào chữa mà nhận hết lỗi về mình và sẵn sàng làm tôi mọi cho quan tể tướng. Trong đó ông có nêu một câu: “Đức Chúa Trời đã thấy rõ điều gian ác của tôi tớ Chúa rồi” (44:16). Tâm trí của Giu-đa bị ám ảnh về việc ác mà các anh đã phạm với Đức Chúa Trời khi làm hại Giô-sép (42:21-22). “Quả thật, kẻ gian ác chẳng hề khỏi bị phạt” (Châm 11:21). “Phải biết rằng tội chắc sẽ đổ lại trên các ngươi” (Dân 32:23). “Chớ hề dối mình, Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu, vì ai gieo giống chi lại gặt giống ấy” (Ga-la-ti 6:7). “Cái cối của Đức Chúa Trời xay rất chậm, song rất nhuyễn”.

Song Giô-sép đáp: “Người đã bị bắt được chén nơi tay sẽ làm tôi mọi ta, còn các ngươi hãy trở về nhà cha mình bình yên” (44:17). Nếu không yêu cha, không yêu em là Bên-gia-min, các anh cứ thản nhiên ra về, mặc cho cha già đau khổ, mặc cho em dại bị làm nô lệ, vì cho rằng tội ai làm nấy chịu. Song Giu-đa sẵn sàng hy sinh vì cha, vì em.

Chúng ta hãy nghe bài cầu thay của Giu-đa (44:18-34). Với thái độ lễ phép, lời lẽ nhã nhặn, ông tự sự mọi tình tiết về gia cảnh của mình cho quan tể tướng, rồi kết thúc: “Bây giờ, xin cho kẻ tôi tớ chúa ở tôi mọi thế cho đứa trẻ, đặng nó theo trở lên cùng các anh mình. Vì nếu đứa trẻ không theo về, làm sao tôi dám về cùng cha tôi? Ôi, tôi nỡ nào thấy điều tai họa của cha tôi ư!”.

Thật là một bài cầu thay cao thượng, đẹp đẽ, thâm trầm biết bao! Vì vậy, Giô-sép không thể nào còn cầm lòng, chặt dạ được nữa mà phải tuôn tràn ra nỗi cảm xúc của lòng mình. Ông khóc lớn lên cách nức nở, khóc vì quá vui mừng. Ước gì lời cầu thay của Giu-đa cho em mình cũng là lời cầu thay của chúng ta cho mọi người kể cả đồng bào của mình nữa, để họ được cứu.

II. GIÔ-SÉP AN ỦI CÁC ANH.

“Tôi là Giô-sép…Tôi là Giô-sép, em mà các anh đã bán đặng bị dẫn qua xứ Ê-díp-tô. Bây giờ, đừng sầu não và cũng đừng tiếc chi về điều các anh đã bán tôi đặng bị dẫn đến xứ này; vì để giữ gìn sự sống các anh, nên Đức Chúa Trời đã sai tôi đến đây trước các anh” (44:3-5).

Trước vị tể tướng Ê-díp-tô mà họ là người có lỗi, đủ làm cho họ sợ hãi rồi; bây giờ vị tể tướng đó lại là Giô-sép, em mình, người mà họ đã nhẫn tâm toan mưu giết và bán để lấy 20 miếng bạc, thì họ lại càng khủng khiếp dường nào! Biết vậy, Giô-sép hết lòng an ủi các anh, không qui lỗi cho họ, mà giải thích rằng Đức Chúa Trời đã điều khiển mọi sự khiến tất cả hiệp lại làm ích cho họ, mặc dầu họ đã hành động cách gian ác. Để các anh em không còn bối rối sầu não mà được vui vẻ, nhẹ nhàng, biết rằng mình đã tha thứ họ, Giô-sép ôm cổ Bên-gia-min và các anh mà khóc. Thiết tưởng không có bức tranh nào tốt đẹp hơn. “Kìa anh em ăn ở hòa thuận nhau thật tốt đẹp thay” (Thi Thiên 133:1).

Gia-cốp rất mừng khi thấy các con trở về bình an, không những có Bên-gia-min mà cũng có Si-mê-ôn nữa. Ngoài ra, họ lại báo cáo là Giô-sép còn sống, đang làm tể tướng Ê-díp-tô. Ban đầu Gia-cốp không tin, vì cho là việc không thể có, quá sức tưởng tượng. Nhưng khi các con chỉ xe cộ của Giô-sép cho đem về để rước gia đình thì tâm thần Gia-cốp tỉnh lại, nói rằng: Thôi, đủ rồi; con trai ta còn sống, ta sẽ đi thăm nó trước khi ta qua đời.

III. GIÔ-SÉP ĐOÀN TỤ CÙNG GIA ĐÌNH.

Khi Giô-sép gặp cha mình, thì ôm choàng lấy người và khóc một hồi lâu, vì không nói được, cũng không có lời nào đủ để nói lên sự cảm xúc trong lòng. Gia-cốp nói: “Chớ chi cho cha chết bây giờ đi, vì cha đã thấy được mặt con, và biết con vẫn còn sống!” (46:29-30).

Gia-cốp vui sống bên cạnh các con, các cháu mình tại Ê-díp-tô trong 17 năm. Gia-cốp nói cùng Giô-sép: “Trước cha tưởng chẳng còn thấy được mặt con, nhưng bây giờ Đức Chúa Trời lại làm cho cha thấy được đến dòng dõi của con” (48:11). Khi ôn lại những ngày qua, Gia-cốp nức lòng cảm tạ Chúa, vì Ngài đã làm cho ông những việc lớn quá sức tưởng tượng. Gia-cốp an giấc cùng tổ phụ mình, hưởng thọ 147 tuổi.

Sau khi Gia-cốp qua đời, các anh Giô-sép sợ ông nhớ lại lỗi lầm của họ mà báo thù. Họ bèn đến sấp mình trước ông để tỏ lòng ăn năn và xin tha thứ. Giô-sép khóc, nói rằng: “Các anh đừng sợ chi, vì tôi há thay mặt Đức Chúa Trời sao? Các anh toan hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời lại toan làm điều ích cho tôi. Đoạn, Giô-sép an ủi các anh và lấy lời êm dịu mà nói cùng họ” (50:15-21).

Trước đó, các anh chưa bày tỏ lòng ăn năn và xin tha thứ, nên họ cứ bị cáo trách và luôn sợ hãi. Bây giờ, phải giải quyết một lần đủ cả. Nhân tiện, chúng ta hãy tưởng tượng nỗi khủng khiếp của những kẻ đã chối bỏ Chúa Jêsus và đóng đinh Ngài như Giu-đa Íchcariốt và dân Dothái. Khi Chúa trở lại, họ sẽ thấy Ngài trên ngôi vinh hiển, vinh hiển muôn triệu lần hơn Giô-sép (Khải 1:7). Bấy giờ, họ sẽ nói với núi và đá lớn rằng: “Hãy rơi xuống chận trên chúng tôi, đặng tránh khỏi mặt của Đấng ngự trên ngôi và khỏi cơn giận của Chiên Con! Vì ngày thạnh nộ lớn của Ngài đã đến, còn ai đứng nổi” (Khải 6:16-17). Vậy chúng ta hãy cầu thay cho mọi người kịp thời ăn năn để được Chúa tha thứ.

Chúa đã tha thứ chúng ta, Ngài cũng muốn chúng ta tha thứ nhau. Tha thứ nhau là điều đẹp lòng Chúa và Kinh Thánh luôn luôn nói đến. Nếu không tha thứ nhau, Chúa cũng không tha thứ chúng ta và lời cầu nguyện của chúng ta không bao giờ được Chúa nhậm (Mác 11:25).

CÂU HỎI

1. Sau mười ba năm làm nô lệ, ngồi tù, Giô-sép đã trở nên thế nào?

2. Làm sao Giô-sép biết lòng của các anh không còn ganh tị như trước?

3. Đại ý lời cầu thay của Giu-đa là gì?

4. Điều gì khiến cho Giô-sép cảm động hơn hết?

5. Giô-sép thố lộ tâm tình với các anh thế nào?

6. Thái độ của các anh ra sao?

7. Điều gì tỏ ra Giô-sép sẵn sàng tha thứ?

8. Khi cha con Gia-cốp và Giô-sép gặp nhau thì họ đã làm gì, nói gì?

9. Trước khi chết, Gia-cốp đã nói gì với Giô-sép để tỏ lòng biết ơn Chúa?

10. Các anh Giô-sép đã làm gì để tỏ lòng ăn năn và xin tha thứ?

11. Chúng ta phải tha thứ nhau đến mức nào? (Ê-phê-sô 4:32; Cô-lô-se 3:13).

BÀI 31. GIÓP GẶP HOẠN NẠN

KINH THÁNH: Gióp 1:1-2:13.

CÂU GỐC: “Người sẽ kêu cầu Ta, Ta sẽ đáp lời người. Trong sự gian truân, Ta sẽ ở cùng người, giải cứu người và tôn vinh người” (Thi Thiên 91:15).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng Cơ đốc nhân có thể tin cậy Đức Chúa Trời trong cơn hoạn nạn, vì biết rằng Ngài có một chương trình cần phải thực hiện cho đời sống mình.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ ở cùng chúng ta trong cơn hoạn nạn

(Giăng 16:33).

TH:

Tai nạn của Gióp

(Gióp 1:1-2:13).

TB:

Tai nạn của người mù

(Giăng 9:1-25).

TT:

Bệnh hoạn và sự chết của La-xa-rơ

(Giăng 11:1-28).

TN:

Sự sống lại của La-xa-rơ

(Giăng 11:29-44).

TS:

Lợi ích của sự hoạn nạn

(Thi thiên 119:67-71).

TB:

Hoạn nạn vì Đấng Christ

(I Phi-e-rơ 4:12-17).

Gióp sống trong thời các tộc trưởng như Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp. (1). Ông không giàu có bằng vàng bạc mà bằng các súc vật (1:3; 42:12). (2). Ông làm thầy tế lễ của gia đình, tức là ông sống trước khi có luật pháp Môi-se (1:5; 42:8). (3). Ông sống 140 năm là tuổi của các tộc trưởng (42:16).

Từ xưa đến nay, nguyên nhân của sự hoạn nạn thật khó hiểu. Người đời thường cho là một huyền nhiệm. Vì không những kẻ gian ác xấu xa bị hoạn nạn, mà người công bình đạo đức cũng bị hoạn nạn và còn nhiều hơn.

Mỗi khi gặp hoạn nạn, chúng ta thường nhìn xem nó bằng cặp mắt xác thịt, chỉ thấy toàn là đau đớn nên buồn bã và ngã lòng. Song nếu chúng ta cũng nhìn xem nó bằng cặp mắt đức tin thì sẽ thấy phía sau sự đau đớn là một kế hoạch kỳ diệu của Chúa đối với mình. Xin Chúa cứu chúng ta khỏi cái nhìn lệch lạc Và phiến diện.

I. GIÓP MẤT TÀI VẬT VÀ CON CÁI.

Gióp là một người rất giàu có, song cũng rất kính sợ Chúa, rất thương yêu người. Ông là một người tốt vào bậc nhất thời bấy giờ. Vì thế, Chúa lấy làm hãnh diện mà khoe về Gióp với Sa-tan. Sa-tan được biệt danh là kẻ kiện cáo, nên khi nghe vậy, nó phản đối ngay. Nó muốn nói rằng: Làm sao mà Gióp không kính sợ Chúa được khi Chúa ban cho ông đủ mọi sự, ông chỉ là kẻ làm thuê thôi? Nếu bây giờ Chúa cất hết mọi sự của ông đi, ông sẽ bỏ Chúa lập tức.

Đối với Sa-tan, không có ai tốt cả. Để bịt miệng Sa-tan, Chúa cho phép nó đụng đến mọi sự của Gióp, trừ ra thân thể ông.

Thế là một cảnh tượng như trời long đất lở xảy ra cho Gióp. Một đầy tớ hốt hoảng từ ngoài đồng chạy về báo rằng: Dân Sê-ba xông vào cướp hết bò, lừa, giết các đầy tớ, chỉ một mình tôi thoát được về báo cho ông.

Tiếp theo, một đầy tớ khác hớt hơ hớt hãi chạy về báo rằng lửa từ trời đổ xuống, thiêu hủy hết bầy chiên và các đầy tớ, chỉ một mình tôi thoát được về báo cho ông. Kế đó, một đầy tớ nữa vội vã chạy về báo rằng: Dân Canh-đê xông vào cướp tất cả lạc đà, giết các đầy tớ, chỉ một mình tôi thoát được về báo cho ông. Người đầy tớ thứ tư cũng tức tốc chạy về báo rằng: Các con ông đang ăn uống tại nhà anh cả họ thì một trận cuồng phong thổi qua làm sập nhà, tất cả đều chết, chỉ một mình tôi thoát được về báo cho ông.

Gióp sửng sốt rụng rời, vì chỉ trong một ngày mà con chết, của hết. Nếu không tin cậy Chúa thì ông đã quẫn trí, điên cuồng. Nếu không yêu mến Chúa và vâng phục Ngài, ông đã buông lời vô lễ với Ngài. Nhưng vì hết lòng tin cậy Chúa, hết lòng yêu mến Ngài, hết lòng vâng phục Ngài, Gióp đã sấp mình xuống đất mà thờ lạy, thưa với Chúa rằng: “Tôi trần truồng lọt khỏi lòng mẹ, và tôi cũng trần truồng mà về; Đức Giê-hô-va đã ban cho, Đức Giê-hô-va lại cất đi; đáng ngợi khen danh Đức Giê-hô-va!” Trong mọi sự Gióp không phạm tội và chẳng nói phạm thượng cùng Đức Giê-hô-va.

Trước mặt Chúa, Gióp bày tỏ tinh thần và thái độ phục tùng trọn vẹn với lời đẹp đẽ vô song. Sở dĩ Gióp có tinh thần, thái độ và lời lẽ như vậy, vì ông nhận định rằng mọi sự ông có đều do Chúa cho, nên Ngài có quyền lấy lại. Việc đã xảy ra cho ông không phải là do rủi ro, song là việc được Chúa cho phép, mặc dầu ông chưa biết kế hoạch của Chúa ra sao. Hoàn cảnh đã thay đổi quá đột ngột, làm cho ông như người từ trời rơi xuống đất, song lòng ông đối với Chúa vẫn không thay đổi, vì biết rằng lòng Chúa đối với ông cũng vậy.

II. GIÓP BỊ UNG NHỌT.

Sự việc đã xảy ra như thế mà Sa-tan vẫn chưa ngậm miệng. Nó không muốn ai được Chúa khen là đã sống cuộc đời tôn vinh Chúa, đẹp lòng Ngài. Nó nhìn mọi người bằng cặp mắt xấu xa của nó, nó đánh giá mọi người bằng tấm lòng gian ác của nó.

Một ngày nọ, Sa-tan lại đến trước mặt Chúa. Lần này chẳng những Chúa lấy làm hãnh diện mà khoe về Gióp là con người trọn vẹn mà còn cứ đứng vững trong sự trọn vẹn của mình, mặc dầu đã bị thiệt hại nặng nề. Sa-tan tiếp tục phản đối. Nó muốn nói rằng lấy của che thân, không ai lấy thân che của. Mất của còn thân thì đủ rồi. Nếu bây giờ, Chúa đụng đến thân thể của Gióp, ông sẽ bỏ Chúa lập tức. Để bịt miệng Sa-tan, Chúa cho phép nó đụng đến thân ông, trừ ra mạng sống của ông.

Thế là thân thể của Gióp bắt đầu bị một thứ ung nhọt lở loét từ đầu chí chân, nơi nào cũng có. Da ông thành đen rồi rơi ra khỏi mình ông, thịt thì nứt nẻ và chảy mủ, bao phủ giòi tửa. Ông phải ngồi trên một đống tro và dùng mẻ sành gãi mình. Tôi trai tớ gái trong nhà xa lánh ông, gọi mà không đến, sai mà chẳng đi. Ngay cả vợ ông cũng gớm ghiếc ông vì mùi hôi hám (7:5; 19:15-17; 30:30).

Bà Gióp không chịu nổi sự thử thách kinh hoàng đó. Trong lúc quá ngã lòng, bà giận hoảng, không còn giữ được bình tĩnh nên nói với ông bằng một giọng rất xẵng mà trước kia bà chưa bao giờ nói: “Này, ông còn đứng vững trong sự trọn vẹn của mình sao? Hãy phỉ báng Đức Chúa Trời, rồi chết đi!”

Dầu đến nỗi đó, Gióp vẫn bình tĩnh trả lời với vợ: “Sự phước mà tay Đức Chúa Trời ban cho chúng ta, chúng ta lãnh lấy, còn sự họa mà tay Ngài giáng trên chúng ta, lại chẳng lãnh lấy sao?” Trong mọi việc đó, Gióp không phạm tội bởi môi miệng mình.

Ba bạn của Gióp nghe ông gặp hoạn nạn, liền từ xa đến thăm ông. Song, khi đến nơi, họ không nhận biết ông được. Họ ngồi xuống đất bên cạnh ông bảy ngày đêm mà chẳng nói được một lời, vì thấy sự đau đớn của ông quá sức tưởng tượng của họ.

Đành rằng chúng ta phải tận tâm yêu mến Chúa, tin cậy Chúa, vâng lời Chúa, song không phải chỉ trong một thời gian, một giai đoạn mà phải luôn luôn cho đến cuối cùng. Phải yêu thương cho đến cùng (Giăng 13:1), trung tín cho đến chết (Khải 2:10), vâng phục cho đến chết (Phi-lê-môn 2:8).

Tại Pháp, có một bà góa tin kính sống với ba con. Chẳng may trong thành phố họ ở xảy ra bệnh dịch nên một trong các con của bà về với Chúa. Hội Thánh họp lại an ủi bà và đưa thi hài em ra phần mộ. Ai nấy thiết tha xin Chúa giữ gìn hai con còn lại của bà. Nhưng tuần kế đó, con thứ hai của bà về với Chúa. Hội Thánh cũng làm như vậy. Ai nấy cầu nguyện xin Chúa giữ gìn đứa con cuối của bà. Vì chồng đã chết, các con là cơ nghiệp mà bà xem như ngọc, như ngà. Nếu đứa con cuối cùng mất nữa, bà có thể chết cả xác lẫn hồn. Nhưng tuần sau, đứa con cuối cùng của bà cũng về với Chúa. Cả Hội Thánh sửng sốt, đến dự tang lễ của em mà không ai còn có lời nào an ủi bà được, vì sự đau đớn của bà quá sức tưởng tượng của họ. Mọi người đi sau đám tang mà im phăng phắc, lắng nghe tiếng nức nở của mẹ khóc con. Thình lình bầu không khí ấy bị phá tan mà vang lên tiếng cầu xin của bà góa qua hàng nước mắt: “Dầu Chúa giết con, con cũng còn nhờ cậy nơi Ngài”. Tức thì, không ai nói với ai, mọi người hòa nhau trong tiếng hát: “HA-LÊ-LU-GIA”.

Sa-tan và bè lũ đang reo hò phải khóc, phải cúi đầu, ngậm miệng, phải chạy trốn, vì hổ thẹn.

CÂU HỎI

1. Đức Chúa Trời khoe ông Gióp là người thế nào?

2. Sa-tan cho ông Gióp là người thế nào?

3. Đức Chúa Trời cho phép Sa-tan làm gì đối với Gióp?

4. Kết quả Gióp là người thế nào?

5. Lần thứ hai, Sa-tan giải thích trường hợp của Gióp thế nào?

6. Đức Chúa Trời lại cho phép Sa-tan làm gì đối với Gióp?

7. Cuối cùng Sa-tan phải ngậm miệng vì cớ nào?

8. Tại sao Gióp gặp hoạn nạn?

9. Gióp có thái độ nào khi gặp hoạn nạn?

10. Chúng ta phải nhìn hoạn nạn bằng cặp mắt nào?

BÀI 32. KẾT CUỘC HOẠN NẠN CỦA GIÓP

KINH THÁNH: Gióp 43:1-17.

CÂU GỐC: “Nhưng Chúa biết con đường tôi đi, khi Ngài đã thử rèn tôi, tôi sẽ ra như vàng” (Gióp 23:10).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng Đức Chúa Trời rất hài lòng về sự trung tín của Gióp và Ngài đã ban thưởng cho ông.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ đắc thắng Sa-tan

(I Cô 15:54-57).

TH:

Đức Chúa Trời đáp lời Gióp qua công việc Ngài trong vũ trụ

(Gióp 38:1-38).

TB:

Đức Chúa Trời đáp lời Gióp qua các loài vật

(Gióp 39:1-38).

TT:

Đức Chúa Trời đáp lời Gióp qua các loài vật

(Gióp 40:1-28).

TN:

Sự yếu đuối của con người

(Gióp 41:1-25).

TS:

Gióp ăn năn

(Gióp 42:1-6).

TB:

Gióp được ban thưởng

(Gióp 42:7-17).

Qua đời sống của Giô-sép và Gióp, chúng ta thấy một trong những nguyên nhân của hoạn nạn. Giô-sép chịu hoạn nạn để Đức Chúa Trời đưa ông lên địa vị mà Ngài muốn ông đạt đến là tể tướng Ê-díp-tô, hầu hoàn thành kế hoạch của Ngài. Gióp cũng chịu hoạn nạn để Đức Chúa Trời được vinh hiển và Sa-tan phải ngậm miệng vì hết đường kiện cáo.

Các bạn của Gióp là Ê-li-pha, Binh-đát và Sô-pha. Ê-li-pha theo thần bí thuyết, Binh-đát theo truyền thống thuyết, Sô-pha theo giáo điều chủ nghĩa. Mỗi người theo quan niệm riêng của mình mà phê bình sự hoạn nạn của Gióp. Nhưng kết cuộc sự hoạn nạn của Gióp khác hơn họ dự đoán vì nguyên nhân của nó không như họ nghĩ.

I. QUA HOẠN NẠN, GIÓP BIẾT CHÚA HƠN.

Trong hoạn nạn Gióp không mất niềm tin và hy vọng nơi Chúa, trái lại ông đã tập trung tư tưởng về Ngài. Vì vậy, Chúa đã mặc khải cho ông những điều kỳ diệu mà con người tự nhiên không thể nào biết được.

1. Gióp biết Cứu Chúa mình vẫn sống (19:25-27).

Dầu bấy giờ Chúa Jêsus chưa giáng sinh, song bởi đức tin, ông biết Ngài là Chiên Con bị giết từ buổi sáng thế, nhưng Ngài sẽ sống lại và sống đời đời, đến cuối cùng Ngài sẽ đứng trên đất là lúc Ngài ngồi trên Tòa án trắng đoán xét nhân loại. Chừng đó, Gióp cũng đã sống lại trong chính xác thịt mình, và mắt ông sẽ thấy Ngài (IGiăng 3:2).

2. Gióp biết Chúa thử rèn ông để được tốt hơn (23:10).

Chúa biết hết đường lối ông, tức là mọi nhu cầu của ông. Vì vậy, Ngài đã cho hoạn nạn liên tiếp xảy đến với mục đích rèn luyện ông, để làm cho ông đã tốt lại tốt hơn như vàng. Biết như thế, ông quyết định: “Chân tôi bén theo bước Chúa; tôi giữ theo đường Ngài, chẳng hề sai lệch. Tôi chẳng hề lìa bỏ các điều răn của môi Ngài, vẫn vâng theo lời của miệng Ngài hơn là ý muốn của lòng tôi” (23:11-12).

3. Gióp biết quyền năng kỳ diệu của Chúa trong vũ trụ (26:7).

Trong thời xa xưa đó, nhân loại chưa biết quả đất như thế nào, có từ đâu. Kẻ nói quả đất tự nhiên mà có, người nói con rắn bảy đầu làm nên. Song Gióp nói rằng: Không chỉ Đức Chúa Trời tạo thành quả đất mà còn cả vũ trụ nữa. Người ta nói đất bằng phẳng như mặt bàn, Gióp bảo: “Chúa treo quả đất trong khoảng không không”. Thật là kỳ diệu! Người ta không thể treo một lồng chim, một sợi tóc trong khoảng không không được, còn Chúa treo cả quả đất như thế! Gióp cũng muốn nói quả đất không phải bằng phẳng như mặt bàn mà tròn. Đó là điều khoa học mới khám phá được sau này.

Nhờ biết Cứu Chúa mình vẫn sống, biết đường lối tốt đẹp nhất của Chúa đối với mình, biết quyền năng vô cùng lạ lùng của Ngài trong vũ trụ, Gióp đã vững vàng cho đến cuối cùng, thậm chí có thể nói rằng: “Dầu Chúa giết tôi, tôi vẫn còn nhờ cậy nơi Ngài” (13:15). Muốn biết Chúa một cách uyên thâm, muốn kinh nghiệm quyền năng kỳ diệu và ân điển phong phú của Ngài, không cách nào hơn là chịu rèn luyện trong hoạn nạn. Chúng ta học được nhiều nhất trong lò lửa thử thách, chúng ta được phước nhiều nhất cũng tại đó (I Phi-e-rơ 1:6-7; 4:12-13).

II. QUA HOẠN NẠN, GIÓP BIẾT MÌNH HƠN.

Trong hoạn nạn, Gióp thắc mắc lắm. Chung quanh ông, biết bao kẻ gian ác được bình an vô sự cho đến chết, song ông là người không chỗ trách được trước mặt Chúa lại gặp hoạn nạn liên tiếp và khủng khiếp. Thêm vào đó, các bạn của ông được một chỗ đứng để tấn công như vũ bão, rằng ông là người gian ác nên bị Chúa phạt như vậy. Biết mình không phải thế, nhưng không tự biện hộ được, ông chỉ kêu la và ước ao ba điều: Đừng được sinh ra, hoặc chết khi còn nhỏ, hoặc chết ngay bây giờ (3:3-26). Ông đã cầu xin nhiều điều, nhưng không được Chúa nhậm.

Cuối cùng, Chúa hỏi Gióp về vũ trụ và các luật lệ thiên nhiên trong đó (đoạn 38). Chúa hỏi ông về các loài vật Ngài đã dựng nên như chim bay trên trời, thú đi trên đất (đoạn 39). Chúa cũng hỏi ông về các loài sống dưới nước như con trâu nước, con sấu (đoạn 40 và 41).

Chúa không trực tiếp trả lời những câu hỏi của Gióp, song Ngài hỏi lại ông. Các câu hỏi của Chúa đã trả lời cho Gióp. Nếu những công việc của Chúa sờ sờ trước mặt Gióp mà ông không hiểu được, thì tại sao ông muốn hiểu chính mình Chúa và đường lối của Ngài.

1. Gióp nhận mình không ra gì (39:36-38).

Ông không có chi, ông không biết chi để đáp lại với Chúa, ông để tay lên miệng, tức là từ đây cẩn thận mỗi khi nói, hoặc im lặng là tốt hơn. Ông đã nói một lần và ông không dám đáp lại, vì biết là sai lầm, nên có thể nói lần này là đủ. Trước mặt các bạn, ông đã nói rất nhiều, song trước mặt Chúa, ông chẳng dám nói chi.

2. Gióp nhận mình rất dốt nát (42:1-4).

Ông nhận Chúa làm mọi sự, vì Ngài biết mọi sự. Chẳng có gì khó cho Ngài và không có ai ngăn trở Ngài được. Nhưng ông là con người không hiểu biết gì, ngay điều mình nói cũng không tự hiểu biết, nên ông xin Chúa dạy dỗ ông.

3. Gióp nhận mình rất gớm ghê (42:5-6).

Trước đó ông hiểu biết Chúa qua người khác nói lại. Người nói lại có khi không đúng, tai nghe có khi không rõ, không bằng bây giờ mắt ông thấy Ngài, dầu không phải là mắt trần, vì không ai thấy Chúa mà còn sống được. Tuy nhiên, qua một hình ảnh nào đó, mắt Gióp đã thấy Chúa, tai Gióp đã nghe Ngài. Vì vậy, ông nói: “Tôi lấy làm gớm ghê tôi và ăn năn trong tro bụi”.

Khi đối diện với Chúa khác hơn khi đối diện với người. Khi đối diện với người, Gióp cho mình hiểu biết hơn các bạn, Gióp cho mình hoàn toàn vô tội. Nhưng khi đối diện với Chúa, ông thấy mình không hiểu gì hết, không xứng đáng gì hết, mà chỉ thấy mình rất gớm ghê. Khi ở giữa mọi người, Ê-sai thấy mình không có chi đáng trách, nhưng khi đối diện với Chúa ba lần thánh, thì ông la lên: “Khốn nạn cho tôi! Xong đời tôi rồi! Vì tôi là người có môi dơ dáy, ở giữa một dân có môi dơ dáy!” (Ê-sai 6:1-5).

Chúa không muốn chúng ta sống theo tiêu chuẩn của những người xung quanh mà phải sống theo tiêu chuẩn của Chúa đặt trước mặt mình. Cây thập tự nặng nhất mỗi chúng ta vác là tự cảm biết mình thiếu thốn, yếu đuối, mà lúc nào cũng muốn đầy đủ, mạnh mẽ. Chúng ta hãy vui mừng nếu Chúa cho phép chúng ta bị ném vào lò lửa hực hay hang sư tử, vì chính lúc đó ma quỉ bị bịt miệng, Đức Chúa Trời được tôn vinh.

III. SAU HOẠN NẠN, GIÓP ĐƯỢC CHÚA BAN THƯỞNG (42:7-17).

1. Gióp cầu thay cho bạn hữu để họ được Chúa tha thứ (c.7-9).

Gióp được tôn trọng hơn bao giờ hết giữa những kẻ hiểu lầm, công kích và khinh bỉ ông.

2. Gióp được Chúa ban cho bằng hai khi trước (c.10-17).

Qua cơn hoạn nạn, Gióp được Chúa ban phước dư dật, thậm chí hoàn toàn bình phục, tài sản bằng hai. Trước ông có 7000 chiên, bây giờ có 14.000 chiên. Trước ông có 3.000 lạc đà, bây giờ có 6.000 con. Trước ông có 500 đôi bò, bây giờ có 1000 đôi bò. Trước ông có 500 lừa cái, bây giờ có 1000 con. Trừ ra trước ông có bảy trai ba gái, bây giờ cũng vậy. Song cũng được kể là bằng hai, vì bảy trai ba gái kia đang ở với Chúa (Gia-cơ 5:11). Gióp được liệt ngang hàng với Nô-ê và Đa-ni-ên (Ê-xê-chi-ên 14:14).

Điều quan trọng hơn hết là đời sống của Gióp được ghi chép thành sách trong Kinh Thánh, làm nguồn phước cho vô số người trải qua mọi thời đại. Sách Gióp chứa đựng một chân lý cao siêu, giải thích nguyên nhân của sự đau khổ. Chúng ta há không ước ao sống một đời như Gióp sao?

CÂU HỎI

1. Gióp sống trong thời đại nào? Bằng cớ nào chứng minh điều đó?

2. Qua hoạn nạn, Gióp biết Cứu Chúa ông là Đấng thế nào?

3. Qua hoạn nạn, Gióp biết gì về đường lối của Chúa đối với ông?

4. Qua hoạn nạn, Gióp biết quả đất chúng ta đang sống là thế nào?

5. Được gặp Chúa, Gióp biết tri thức của mình đến đâu?

6. Được gặp Chúa, Gióp biết lòng của ông thế nào?

7. Chúa muốn chúng ta sống theo tiêu chuẩn nào?

8. Hai điều Chúa ban thưởng cho Gióp là gì?

9. Tại sao Chúa ban cho ông súc vật bằng hai mà con cái không bằng hai?

10. Sự chết của con vật và con người khác nhau thế nào?

BÀI 33. EM BÉ MÔI-SE

KINH THÁNH: Xuất Ê-díp-tô ký đoạn 1 và 2.

CÂU GỐC: “Nầy Ta ở cùng ngươi, ngươi đi đâu sẽ theo gìn giữ đó” (Sáng thế ký 28:15).

MỤC ĐÍCH: Trình bày Môi-se được cứu khỏi chết để giải phóng dân Y-sơ-ra-ên khỏi vòng nô lệ. Nhắc cho nhau rằng Đức Chúa Trời sẽ gìn giữ chúng ta luôn để thi hành đường lối của Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ gìn giữ chúng ta

(I Ti-mô-thê 1:1-12).

TH:

Môi-se được cứu

(Xuất 1-2).

TB:

Đức Chúa Trời dùng những vật yếu ớt

(I Cô 1:23-31).

TT:

Đức Chúa Trời bảo vệ người của Ngài

(Công 12:5-11).

TN:

Đức Chúa Trời chọn tôi tớ Ngài

(Công 9:10-16).

TS:

Đức Chúa Trời đào tạo tôi tớ Ngài

(Công 7:22; Lu-ca 4:14).

TB:

Chúng ta cũng phải tự đào tạo

(I Ti-mô-thê 2:15).

Chúng ta đã học về các vĩ nhân trong sách Sáng thế ký như Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp, Giô-sép. Chúng ta cũng đã học về Gióp. Bây giờ chúng ta học về Môi-se.

Đức Chúa Trời đã chuẩn bị Môi-se cho kế hoạch giải phóng dân Y-sơ-ra-ên khỏi Ê-díp-tô rồi đưa họ về Ca-na-an là nơi Ngài đã hứa ban cho họ từ đời tổ phụ họ (Sáng 12:7; 13:14-15; 15:13-14,18; 26:3; 28:13). Chính Chúa điều khiển mọi sự xảy ra để thực hiện kế hoạch của Ngài, mặc dầu có nhiều trở ngại do ma quỉ gây nên.

I. HOÀN CẢNH KHI MÔI-SE RA ĐỜI (Xuất 1:1-22).

Từ lúc gia đình Gia-cốp gần 70 người từ Ca-na-an xuống Ê-díp-tô cho đến khi lìa khỏi đó mà trở về Ca-na-an là 400 năm. Trong thời gian đó, con cháu Gia-cốp, cũng gọi là Y-sơ-ra-ên, sanh sôi, nẩy nở và mạnh mẽ lạ thường. Cũng trong thời đó, Giô-sép và các anh em người đều qua đời, trong xứ Ê-díp-tô lại có một vua mới lên ngôi không hề quen biết với Giô-sép. Khi thấy dân Y-sơ-ra-ên ngày càng thêm đông đảo và mạnh mẽ thì Pha-ra-ôn, tức là hoàng đế Ê-díp-tô đem lòng lo ngại, nghĩ rằng một ngày kia khi trong nước có chiến tranh thì đám người này sẽ đánh lại mình và ra khỏi xứ. Vua Ê-díp-tô cũng biết dân Y-sơ-ra-ên từ Ca-na-an xuống và họ muốn trở về Ca-na-an, nên vua sợ mất đi một số nô lệ rất siêng năng, cần cù, tài trí hơn cả người Ê-díp-tô.

Pha-ra-ôn liền dùng biện pháp thứ nhất là bắt dân Y-sơ-ra-ên làm việc một cách khó nhọc để giảm bớt mức sanh sản của họ và làm cho họ bị yếu dần.

Đồng thời, sự làm việc đầu tắt mặt tối sẽ khiến cho tâm trí của họ không có thì giờ mà nghĩ gì về Đất Hứa nữa. Không ngờ, kết quả ngược lại. “Những người Ê-díp-tô càng bắt làm khó nhọc chừng nào, dân Y-sơ-ra-ên càng thêm nhiều lên và tràn ra chừng nấy” (1:12). Cũng trong một hoàn cảnh đó, các giáo phụ của Hội Thánh đã nói: “Huyết của những kẻ tuận đạo là hột giống của Tin Lành”.

Biện pháp thứ nhất đã thất bại. Pha-ra-ôn dùng biện pháp thứ nhì là bảo riêng với các bà mẹ Y-sơ-ra-ên, mỗi khi rước thai cho sản phụ người Y-sơ-ra-ên, hễ thấy con trai thì giết đi, chỉ để con gái được sống, rồi nói rằng đã chết từ trong bụng mẹ, hay vừa ra đời đã tắt hơi (Gióp 3:11). Vì Pha-ra-ôn đã thấy con gái Y-sơ-ra-ên không chịu kết hôn với con trai Ê-díp-tô, nên biện pháp này sẽ làm cho dân Y-sơ-ra-ên tuyệt chủng và số còn lại sẽ đương nhiên trở thành dân Ê-díp-tô. Nhưng các bà mụ kính sợ Đức Chúa Trời không chịu vâng phục nhà cầm quyền trong việc làm tàn nhẫn và giả dối như vậy. Các bà đã cầu nguyện cho các sản phụ Y-sơ-ra-ên sanh con thật mau trước khi các bà đến.

Biện pháp thứ nhì cũng thất bại. Pha-ra-ôn tức giận, dùng biện pháp mạnh là truyền lịnh cho cả dân mình mà rằng: “Phàm con trai của dân Hê-bơ-rơ mới sanh, hãy liệng xuống sông, còn con gái thì để cho sống”. Đây là biện pháp mà Pha-ra-ôn chắc chắn rằng thành công, dầu là một biện pháp tàn nhẫn một cách trắng trợn. Dân Y-sơ-ra-ên bị đưa vào đường cùng, một ngõ cụt mà chính lúc đó, Môi-se được sanh ra.

II. MÔI-SE ĐƯỢC CỨU (Xuất 2:1-9).

Cha mẹ Môi-se sanh một gái là Miriam và hai trai là A-rôn và Môi-se (Xuất 6:20; Dân 26:59). Cả ba con đều là người quan trọng trong dân Y-sơ-ra-ên. Miriam là nữ tiên tri (Xuất 15:20), A-rôn là thầy tế lễ thượng phẩm, Môi-se là lãnh tụ.

Dầu Giô-sép đã chết, không còn ai bênh vực cho dân Y-sơ-ra-ên, song Đức Chúa Trời vẫn sống. Giô-sép chỉ là một công cụ trong tay của Chúa mà thôi, chính mình Ngài mới là Đấng bênh vực và giải cứu dân Y-sơ-ra-ên. Vì vậy, tại đây có ba lực lượng.

1. Lực lượng của Sa-tan muốn giết Môi-se để phá hủy kế hoạch của Đức Chúa Trời.

2. Lực lượng của Đức Chúa Trời sẵn sàng thi thố để cứu Môi-se.

3. Lực lượng của đức tin mà cha mẹ Môi-se đem ra áp dụng để cứu con mình.

Đành rằng Đức Chúa Trời có thừa quyền để cứu, song phép lạ được tỏ ra chỉ khi nào có người dám hành động bởi đức tin. Khi cha mẹ sanh Môi-se, thấy là một con trai đẹp đẽ. Dầu trong hoàn cảnh thất vọng, ông bà vẫn tin cậy Chúa và hy vọng con mình sẽ phục vụ Chúa, nếu nó được sống, nên ông bà không sợ mạng lịnh của vua, đem con mình giấu đi trong ba tháng. Không thể giấu lâu hơn nữa vì đứa trẻ mỗi ngày một lớn, bà bèn nảy ra một ý là lấy chiếc rương mây, trét chai kỹ lưỡng, đặt con mình vào đó, đem để trong một đám sậy dựa bờ sông là nơi công chúa Pha-ra-ôn thường xuống tắm, rồi cắt Miriam rình xem để biết mọi sự xảy ra. Công chúa thấy rương mây bèn sai nữ tì vớt lên, mở rương ra biết ngay là một bé trai người Y-sơ-ra-ên. Dầu mạng lịnh của Pha-ra-ôn là phải ném em bé xuống sông, nhưng công chúa động lòng thương xót, muốn nuôi nó làm con. Chị của Môi-se vội vàng chạy đến: “Thưa công chúa, tôi phải đi tìm một người vú Y-sơ-ra-ên cho đứa bé bú chớ?” Tức thì Miriam trở về kêu mẹ mình. Thế là mẹ nuôi con theo tư cách của người vú được công chúa trả lương. Từ đó, Môi-se sống công khai, đường hoàng là con trai của công chúa Pha-ra-ôn.

Pha-ra-ôn có đầy đủ thế lực, mưu mô, đã áp dụng biện pháp cứng rắn hơn để đối phó dân Y-sơ-ra-ên. Song khi Đức Chúa Trời toàn năng can thiệp vào thì biện pháp của ông thành ra vô hiệu. Ngược lại, kẻ mà ông định giết ngay khi ra đời, lại là kẻ ngang nhiên sống trong cung điện của ông. Ngày nay, chúng ta có thể bị đánh ngã bởi những hoàn cảnh khó khăn quanh mình, nếu chúng ta chỉ thấy hành động tàn nhẫn và giả dối của ma quỷ mà không thấy cánh tay nhân từ và quyền năng của Chúa đang cai trị trên mọi lĩnh vực. Chúng ta phải đồng thinh kêu lên rằng: “Cơn giận loài người hẳn sẽ ngợi khen Chúa; còn sự giận dư lại, Chúa sẽ ngăn trở” (Thi Thiên 76:10).

III. MÔI-SE ĐƯỢC ĐÀO TẠO (Xuất 2:10-25).

Chúng ta không biết đúng khi bà mẹ đem Môi-se vào cho công chúa là lúc ông bao nhiêu tuổi. Song nếu sau thời kỳ nuôi vú chắc không hơn 5 hay 6 tuổi. Kể từ đó, Môi-se được nuôi dạy trong cung điện Pha-ra-ôn. Suốt thời thơ ấu và niên thiếu, Môi-se được học hỏi văn minh Ai-cập. Nhờ đó, ông trở nên một sứ giả lỗi lạc, chép Ngũ kinh là bộ sách quý giá vô ngần. Nhưng đối với Đức Chúa Trời, Môi-se được đào tạo 40 năm trong cung điện Pha-ra-ôn chưa đủ, ông phải được đào tạo 40 năm nữa trong đồng vắng Ma-đi-an. Giải phóng dân Y-sơ-ra-ên khỏi Ê-díp-tô và dẫn dắt họ vào Ca-na-an là một công việc vĩ đại, nên Đức Chúa Trời cần có con người vĩ đại. Muốn có con người vĩ đại đó, Chúa phải mất 40 năm đào tạo là thời gian rất dài, song rất cần.

Đành rằng cha mẹ nào cũng yêu con, xem con mình là tốt đẹp, muốn con mình được cứu, song không phải cha mẹ nào cũng có đức tin. Nếu cha mẹ Môi-se không có đức tin, ông đã chết ngay khi mới ra đời. Cha mẹ có đức tin mới cứu được con mình để chúng nó phục vụ Chúa, tôn vinh Ngài. Chúng ta không biết bà Giôkêbết khéo đào tạo con mình đến mức độ nào mà chỉ trong vòng mấy năm đã ảnh hưởng trên suốt cuộc đời của Môi-se. Hành động đức tin của cha mẹ có ấn tượng mạnh mẽ trên con cái đến nỗi cả vinh hoa, phú quí của Ê-díp-tô cũng không bôi xóa được. Mẹ của Môi-se mới là người đặc biệt được Chúa trọng dụng trước nhất trong chương trình đào tạo Môi-se. Cha mẹ của Môi-se không sợ chiếu mạng của vua, Môi-se cũng không sợ vua giận (Hê-bơ-rơ 11:23-27). Mẹ nào con nấy, cha nào con nấy.

Chúa Jêsus phán: “Này, Ta thường ở cùng ngươi luôn cho đến tận thế!”

CÂU HỎI

1. Gia đình Gia-cốp xuống Ê-díp-tô bao nhiêu người? Ở tại đó bao lâu?

2. Tại sao Pha-ra-ôn sợ dân Y-sơ-ra-ên khi thấy họ ngày càng đông đảo và mạnh mẽ?

3. Pha-ra-ôn đã dùng ba biện pháp nào?

4. Xin cắt nghĩa mỗi biện pháp và lý do thất bại?

5. Môi-se được cứu cách nào?

6. Không những khỏi chết mà Môi-se còn được gì nữa?

7. Đức Chúa Trời đã đào tạo Môi-se bao nhiêu năm?

8. Trong 80 năm Môi-se được đào tạo ở đâu? Bởi ai?

9. Trên phương diện con người, ai là người có công lớn nhất trong việc đào tạo Môi-se?

10. Trong bài học này, chúng ta thấy Đức Chúa Trời đã làm gì cho dân Ngài?

BÀI 34. ĐỨC CHÚA TRỜI KÊU GỌI MÔI-SE

KINH THÁNH: Xuất Ê-díp-tô ký 3:1-15.

CÂU GỐC: “Đức Chúa Jêsus phán: Cha đã sai Ta thể nào, Ta cũng sai các ngươi thể ấy” (Giăng 20:21).

MỤC ĐÍCH: Cho mỗi chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời đã dành một công tác đặc biệt cho Môi-se và Ngài cũng có một chương trình cho mỗi chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ kêu gọi chúng ta phục vụ

(Mác 16:15-20).

TH:

Chúa kêu gọi Môi-se

(Xuất 3:1-15).

TB:

Chúa kêu gọi Ê-sai

(Ê-sai 6:1-8).

TT:

Chúa kêu gọi Phao-lô

(Công 9:1-16).

TN:

Chúa kêu gọi Phi-e-rơ và Anh-rê

(Ma-thi-ơ 4:18-20).

TS:

Chúa kêu gọi chúng ta

(Ma-thi-ơ 28:18-20).

TB:

Chúa giúp đỡ chúng ta

(Mác 16:15; Công 1:8; Phi-líp 4:13).

Môi-se được đào tạo mấy năm đầu trong nhà cha mẹ, kế đó ông được đào tạo 40 năm trong cung điện Pha-ra-ôn, cuối cùng ông được đào tạo 40 năm trong đồng vắng Ma-đi-an. Thời gian 40 năm xa cách mọi người, chắc Môi-se đã học được nhiều điều, không do cha mẹ dạy, không do giáo sư Ai-cập dạy, mà do chính mình Chúa dạy. Bốn mươi năm trong cung điện Pha-ra-ôn cho Môi-se có khả năng làm một quan lớn, một ông vua, nhưng không thể làm một đầy tớ Đức Chúa Trời. Muốn phục vụ Chúa, ông phải tốt nghiệp trong “đồng vắng”. 80 năm được đào tạo để dự bị cho 40 năm được phục vụ. Mặc dầu có những người được kêu gọi ngay từ nhỏ như Sa-mu-ên, Giê-rê-mi, Ti-mô-thê, song có những người phải chờ đợi một thời gian dài. Chúa Jêsus phải chờ đợi 30 năm để phục vụ 3 năm.

Môi-se đã từ địa vị con trai của công chúa Pha-ra-ôn, sống trong cung điện nhà vua, thu nhận văn minh Ai-cập, trở nên một kẻ chăn chiên trong đồng vắng. Cách Chúa dùng thật đặc biệt, không giống như cách loài người thường dùng (II Sa-mu-ên 7:19). Đây là một bài rất khó học mà Phao-lô cũng đã học (Ga-la-ti 1:17-18). Chẳng những ông đã tốt nghiệp trường đồng vắng mà còn “trở nên giống như rác rến của thế gian, cặn bã của loài người cho đến ngày nay” (I Cô 4:13). Nhờ đã học được bài đó nên Môi-se được Chúa kêu gọi.

I. CÁCH THỨC ĐỨC CHÚA TRỜI KÊU GỌI MÔI-SE (3:1-6).

Môi-se đang chăn chiên trong đồng vắng, gần núi Hô-rếp. Trong đồng vắng thường có những bụi gai khô, nếu có một chút lửa ném vào, nó phát cháy ngay và sau vài phút, ngọn lửa lần lần hạ và tàn. Thình lình, Môi-se thấy một bụi gai cháy nhưng không tàn. Môi-se lấy làm ngạc nhiên liền tẻ bước lại xem.

Đức Chúa Trời từ trong ngọn lửa kêu lên: “Môi-se! Môi-se!” Người thưa: “Có tôi đây!” Chúa phán: “Hãy cởi giày ngươi ra vì chỗ ngươi đương đứng là đất thánh!” Khi Môi-se đã cởi giày, Chúa tiếp: “Ta là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác và Đức Chúa Trời của Gia-cốp”. Môi-se che mặt lại, không dám nhìn thấy Đức Chúa Trời.

Qua dị tượng đó, Chúa muốn dạy Môi-se hai điều.

1. Không có gì tiêu diệt được dân sự của Đức Chúa Trời.

Sau 40 năm chăn chiên trong đồng vắng, Môi-se băn khoăn cho số phận dân Y-sơ-ra-ên, chắc đã bị tận diệt dưới chế độ tàn ác của Pha-ra-ôn. Nhưng Chúa nói với ông rằng như bụi gai cháy mà không hề tàn vì có Ngài ở giữa nó, thì dân Y-sơ-ra-ên dầu bị cơn bắt bớ như đang trong cơn lửa hừng, cũng không hề bị diệt vì có Ngài ở giữa họ. Đây không phải chỉ là bài học cho Môi-se về dân Y-sơ-ra-ên trong xứ Ê-díp-tô, mà cũng là bài học cho mọi người về Hội Thánh của Chúa tại khắp mọi nơi, trải qua mọi thời đại. Dầu Hội Thánh bị bắt bớ như lửa hừng, thì sự bắt bớ không tiêu diệt được Hội Thánh, vì có Đức Chúa Trời ở giữa họ và ở trong họ (Ê-sai 63:9). Lò lửa hực nóng gấp bảy lần lúc bình thường của Nê-bu-cát-nết-sa đã không thiêu hủy được ba bạn Đa-ni-ên, vì có Đức Chúa Trời ở đó với họ, thậm chí tóc của họ không cháy sém, áo xống của họ không có mùi lửa (Đa-ni-ên 3:27).

2. Đức Chúa Trời thành tín sẽ thực hiện lời hứa của Ngài.

Chúa tự xưng là Đức Chúa Trời của tổ phụ ông tức Đức Chúa Trời của giao ước, Đức Chúa Trời của lời hứa và là Đức Chúa Trời thành tín giữ lời hứa của Ngài. Chúa đã lập giao ước với tổ phụ dân Y-sơ-ra-ên, hứa rằng Ngài sẽ giải phóng họ ra khỏi xứ Ê-díp-tô và đưa họ vào Ca-na-an để nhận lấy cơ nghiệp. Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, của Y-sác, của Gia-cốp cũng là Đức Chúa Trời của chúng ta, vì chúng ta là dòng dõi của Áp-ra-ham bởi đức tin (Ga-la-ti 3:7). Những gì Đức Chúa Trời đã hứa cho dòng dõi Áp-ra-ham cũng hứa cho chúng ta (Ga-la-ti 3:29; Ê-phê-sô 3:6).

Hai điều trên đây làm cho Môi-se rất phấn khởi, đem ông từ thất vọng đến hy vọng. Chúng ta hôm nay cũng vậy.

II. NỘI DUNG LỜI KÊU GỌI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI CHO MÔI-SE.

1. Đức Chúa Trời giao trọng trách cho Môi-se (3:7-10).

Hai lần, Chúa gọi dân Y-sơ-ra-ên là dân Ngài (c.7,10). Chúa phán: “Ta đã thấy rõ ràng sự cực khổ của dân Ta… Ta có nghe thấu tiếng kêu rên của nó… Phải, Ta biết được nỗi đau đớn của nó. Ta ngự xuống để cứu dân này”.

Những lời này an ủi Môi-se biết bao! Rồi khi ông chia xẻ lại cho dân Y-sơ-ra-ên, họ cũng được khích lệ dường nào! Đức Chúa Trời không phải như thần tượng vô tri, câm, đui, điếc, song Ngài nói, Ngài thấy, Ngài nghe, Ngài biết, Ngài làm, Ngài cảm thông với họ trong mọi hoàn cảnh. Họ đau đớn bao nhiêu, Ngài cũng đau đớn bấy nhiêu. Chúng ta há không sung sướng mà có một Cha như vậy sao?

Chúa sai Môi-se: “Vậy, bây giờ hãy lại đây, đặng Ta sai ngươi đi đến Pha-ra-ôn để dắt dân Ta là Y-sơ-ra-ên, ra khỏi xứ Ê-díp-tô”. Bốn mươi năm trước Môi-se đã tự ý giải phóng đồng bào mình, nhưng hoàn toàn thất bại nên phải chạy trốn (2:11-15). Bây giờ thì khác, ông được Chúa kêu gọi và sai đi làm việc đó. Ai tự lập làm lãnh tụ, tự mình ra đi, đều nếm sự thất bại chua cay, song ai chờ đợi Chúa kêu gọi và sai đi đều thành công mỹ mãn.

2. Đức Chúa Trời bảo đảm với Môi-se (3:11-15).

Sau 40 năm trong đồng vắng, Môi-se đã trở nên khiêm nhường chứ không còn bướng bỉnh như trước, nên ông đã thưa với Chúa:

a. Tôi là ai mà dám đi đến Pha-ra-ôn?

Trước kia, Môi-se thấy mình có tri thức, có khả năng, có đầy đủ điều kiện để giải phóng đồng bào mình. Bây giờ cũng một trách nhiệm đó, cũng con người này, lại còn già dặn hơn, song ông thấy mình không có chi, không ra chi, không xứng đáng để đảm đương một trách nhiệm quá lớn lao và cao trọng như vậy. Bông lúa lép lúc nào cũng ngất nghểu như trên mình chẳng có ai. Còn bông lúa chắc mỗi lúc mỗi cúi xuống cho đến khi ngã rạp trên đất, vì hột nào cũng đầy quá. Môi-se phải biến mất để Đức Chúa Trời làm mọi sự. Môi-se chỉ là công cụ, Đức Chúa Trời mới là Đấng giải phóng dân Y-sơ-ra-ên.

Chúa hứa: “Ta sẽ ở cùng ngươi”. Lời hứa này đủ quá cho Môi-se. Ông yếu đuối, Chúa mạnh mẽ, ông ngu dại, Chúa khôn ngoan, ông không có chi, Chúa có mọi sự, ông là con số không (0), Chúa là con số một (1); đứng với Chúa; đứng sau Chúa, ông có giá trị đầy đủ để phục vụ và thành công. Chúng ta phải trở nên cái chậu bằng đất trống không, để Chúa làm đầy nó.

b. Tên Ngài là chi?

Dầu Chúa đã tự khải thị qua ngọn lửa, đã tự xưng là Đức Chúa Trời của tổ phụ ông, Môi-se vẫn còn thắc mắc là khi ông thuật lại, dân Y-sơ-ra-ên sẽ hỏi: Tên Ngài là chi?

c. Đức Chúa Trời là ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU.

Không có ai như Ngài, vì hết thảy đều là thọ tạo, có lúc được sanh ra và có lúc phải chết. Chỉ một mình Ngài có từ trước vô cùng, không có lúc bắt đầu, không tùy thuộc ai cả. Chỉ một mình Ngài hằng sống, lúc nào cũng có, đã có, hiện có, còn có mãi mãi, không hề thay đổi. Trước mặt Chúa không có quá khứ, không có tương lai, mà chỉ có hiện tại, một hiện tại đời đời. Đó là Đấng kêu gọi, sai khiến và ở với Môi-se để bảo đảm cho ông sẽ thành công trong trọng trách Ngài đã giao phó.

Học qua bài này, mỗi chúng ta phải tự hỏi: Đức Chúa Trời có kêu gọi tôi vào chức vụ này không? Ngài có ở với tôi hay không? Tôi có cảm thấy luôn luôn thỏa nguyện hay không? Trên thực tế, có mục sư, truyền đạo, tín hữu đã phục vụ Chúa mà lúc nào cũng cay đắng, thở than bất mãn như ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU không kêu gọi, không sai đi, không ở cùng mình trong chức vụ? Chúng ta nên xét mình qua lời khuyên của Phi-e-rơ: “Vậy, hỡi anh em, hãy chú ý cho chắc chắn về sự Chúa kêu gọi và lựa chọn mình, làm điều đó, anh em sẽ không hề vấp ngã” (II Phi-e-rơ 1:11).

CÂU HỎI

1. Muốn đủ tư cách phục vụ Chúa, Môi-se phải tốt nghiệp trường nào? Ai dạy ông?

2. Chúa hiện ra với Môi-se tại đâu?

3. Dị tượng của Chúa dạy Môi-se hai điều gì?

4. Chúa bày tỏ Ngài có mối tương quan với dân Y-sơ-ra-ên thế nào?

5. Chúa kêu gọi Môi-se và bảo ông làm gì?

6. Môi-se lúc đó với Môi-se 40 năm trước khác nhau thế nào?

7. Tại sao Môi-se không dám đến Pha-ra-ôn?

8. Chúa hứa gì với Môi-se?

9. Đấng TỰ HỮU HẰNG HỮU có nghĩa gì?

10. Làm sao ta biết chắc mình được Chúa kêu gọi và sai đi vào chức vụ nào đó?

BÀI 35. ĐỨC CHÚA TRỜI GIÁNG CHÍN TAI VẠ

KINH THÁNH: Xuất Ê-díp-tô ký 7-10.

CÂU GỐC: “Đức Giê-hô-va phán như vầy: Vì việc này ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va” (Xuất 7:17).

MỤC ĐÍCH: Tạo ấn tượng cho tín hữu về quyền năng của Đức Chúa Trời đã thi thố qua các phép lạ để bày tỏ Ngài là Chúa.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ có đầy đủ quyền năng

(Ma-thi-ơ 18:28).

TH:

Pha-ra-ôn khinh thị Đức Chúa Trời

(Xuất 5).

TB:

Tai vạ huyết

(Xuất 7).

TT:

Tai vạ ếch nhái và ruồi muỗi

(Xuất 8).

TN:

Tai vạ súc vật bị dịch

(Xuất 9:1-7).

TS:

Tai vạ ghẻ chốc và mưa đá

(Xuất 9:8-10-29).

TB:

Sự đoán phạt những kẻ nhạo báng

(II Phi-e-rơ đoạn 3).

Sau khi được Chúa kêu gọi, sai khiến và hứa sẽ ở cùng, Môi-se liền trở về Ê-díp-tô hiệp với anh là A-rôn, triệu tập các trưởng lão Y-sơ-ra-ên và thuật cho họ nghe mọi điều đã xảy ra.

Kế đó, hai người đến tâu với Pha-ra-ôn: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên có phán như vầy: “Hãy cho dân ta đi đặng nó giữ một lễ cho ta tại đồng vắng”. Pha-ra-ôn đáp: “Giê-hô-va là ai mà trẫm phải vâng lời người, để cho dân Y-sơ-ra-ên đi? Trẫm chẳng biết Giê-hô-va nào hết, cũng chẳng cho dân Y-sơ-ra-ên đi nữa”.

Phản ứng mạnh của Pha-ra-ôn là bắt dân Y-sơ-ra-ên làm cực nhọc gấp hai khi trước để họ không còn nghĩ gì đến việc ra đi khỏi xứ Ê-díp-tô nữa. Kinh Thánh chép bảy lần Đức Chúa Trời làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng (Xuất 4:21; 7:3; 9:12; 10:1; 10:20; 10:27; 11:10). Kinh Thánh cũng chép bảy lần Pha-ra-ôn tự cứng lòng (Xuất 7:13; 7:22; 8:15; 8:19; 8:32; 9:7; 9:34).

Thế thì, Pha-ra-ôn vốn cứng cỏi, chống đối, bất tuân, nên càng bị sửa phạt lại càng cứng cỏi. Ánh sáng và sức nóng của mặt trời không hề thay đổi, song khi mặt trời chiếu trên sáp thì sáp càng mềm, còn khi chiếu trên đất sét, thì đất sét càng cứng. Hai kết quả khác nhau là tại bản chất của hai vật đó. Bản chất của Pha-ra-ôn giống như đất sét.

Đức Chúa Trời có mục đích của Ngài khi giáng chín tai vạ trên Ê-díp-tô.

I. CÁC TAI VẠ BÀY TỎ ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ CHÂN THẦN DUY NHẤT.

Các thần mà Ê-díp-tô thờ lạy là thần sông, thần ếch nhái, thần bò, thần muỗi, thần cá sấu, nhất là thần mặt trời. Chín tai vạ này làm cho dân Ê-díp-tô không còn tin cậy nơi các thần của họ nữa. Từ hoàng đế ngồi trên ngôi cho đến con đòi xay cối đều thấy tai vạ ngày càng khủng khiếp đổ trên mình, mà xưa nay chưa từng có.

TAI VẠ I (7:14-24): Tất cả sông, rạch, ao, hồ, các loại bình chứa, hễ nơi nào có nước đều biến thành huyết. Bấy giờ, người Ê-díp-tô thấy thần của họ vô quyền. Tai vạ này kéo dài bảy ngày.

TAI VẠ 2 (8:1-15): Ếch nhái tràn ngập khắp cung điện, phòng ngủ, nhà bếp, lò bánh, trên mình người… Pha-ra-ôn hứa phóng thích dân Y-sơ-ra-ên, song khi tai vạ qua đi thì cứng lòng và đổi ý.

TAI VẠ 3 (8:16-19): Bụi biến thành muỗi, đốt vào người và súc vật làm cho ai nấy khổ sở. Song Pha-ra-ôn vẫn cứng lòng, không chịu phóng thích dân Y-sơ-ra-ên.

TAI VẠ 4 (8:20-24): Ruồi mòng nhiều vô số, đậu vào cung vua, nhà dân, thân người khắp trên đất, làm thiệt hại lớn lao. Song vùng Gôsen là chỗ ở của dân Y-sơ-ra-ên thì không có như vậy.

TAI VẠ 5 (9:1-7): Súc vật của Ê-díp-tô đều chết vì bịnh dịch, song súc vật của dân Y-sơ-ra-ên tại Gôsen thì chẳng chết một con nào. Dầu vậy, Pha-ra-ôn vẫn cứng lòng không chịu phóng thích dân Y-sơ-ra-ên.

TAI VẠ 6 (9:8-12): Tất cả dân Ê-díp-tô đều bị ghẻ chốc cương mủ làm cho đau đớn lắm, cả các thuật sĩ của họ cũng không thoát khỏi.

Song Pha-ra-ôn vẫn một mực cứng lòng.

TAI VẠ 7 (9:13-26): Một trận mưa đá lớn xưa nay chưa từng có, làm hại người, súc vật và mùa màng vô kể. Song trong vùng dân Y-sơ-ra-ên ở thì bình an. Dầu vậy, khi tai vạ qua đi thì Pha-ra-ôn lại cứng lòng.

TAI VẠ 8 (10:12-20): Cào cào tràn ngập khắp xứ, cắn phá rau cỏ, cây cối, làm hại đồng ruộng, không để lại chút gì. Song sau đó, Phaaôn vẫn cứng lòng, không chịu phóng thích dân Y-sơ-ra-ên.

TAI VẠ 9 (10:21-29): Cả xứ đều tối tăm, sự tối tăm dày đặc đến nỗi người ta rờ đụng được. Suốt ba ngày trọn, không ai thấy ai, không ai dám rời khỏi chỗ mình. Song trong vùng người Y-sơ-ra-ên ở thì có ánh sáng.

Qua các tai vạ ấy, Đức Chúa Trời muốn dạy cho dân Ê-díp-tô và mọi vật trên đất rằng ngoài Ngài ra không có thần nào hết, chỉ là hữu danh vô thực mà thôi.

II. CÁC TAI VẠ BUỘC PHA-RA-ÔN PHÓNG THÍCH DÂN Y-SƠ-RA-ÊN.

Cặp theo các tai vạ có bảy lần Đức Chúa Trời truyền cho Pha-ra-ôn: “Hãy tha cho dân Ta đi, để chúng nó hầu việc Ta” (Xuất 5:1; 7:16; 8:1; 8:20; 9:1; 9:13; 10:3). Song Pha-ra-ôn không những cứng lòng mà còn thủ đoạn. Bốn lần ông đề nghị với Môi-se và A-rôn.

1. “Hãy đi dâng tế lễ cho Đức Chúa Trời các ngươi trong xứ” (8:25).

Nếu dâng tế lễ cho Đức Chúa Trời trong xứ Ê-díp-tô tức là dân Y-sơ-ra-ên còn sống trong phạm vi quyền hạn của Pha-ra-ôn, còn ở dưới ách nô lệ tàn ác của ông. Ngày nay, ma quỉ cũng muốn chúng ta cứ thờ phượng Chúa, song cũng cứ tiếp tục làm nô lệ cho nó, tức là sống trong tội lỗi. Chúng ta nên biết rằng không ai có thể thờ phượng Chúa thật sự nếu chưa được giải phóng khỏi tay của ma quỉ. Kinh Thánh chép: “Ngài đã giải thoát chúng ta khỏi quyền của sự tối tăm, làm cho chúng ta dời qua nước của Con yêu dấu Ngài, trong Con đó chúng ta có sự cứu chuộc là sự tha tội” (Cô-lô-se 1:13-14).

2. “Ta sẽ tha các ngươi đi dâng tế lễ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, ở nơi đồng vắng, nhưng đừng đi xa hơn” (8:28).

Không thể giữ dân Y-sơ-ra-ên trong xứ Ê-díp-tô mà phải cho họ vào đồng vắng, Pha-ra-ôn dặn họ không đi xa hơn ba ngày đường. Vì ông hy vọng sẽ đuổi theo bắt họ lại. Ngoài ra, sẽ có lúc dân Y-sơ-ra-ên muốn trở lại Ê-díp-tô. Vì vậy, khi ra khỏi Ê-díp-tô, Đức Chúa Trời có thể dẫn họ đi con đường rất gần, nhất là không qua Biển Đỏ, thì Chúa lại dẫn họ đi con đường rất xa, phải qua Biển Đỏ, để Pha-ra-ôn không thể đuổi theo mà họ cũng không thể trở lại Ê-díp-tô.

Một số người, dầu đã được cứu, song cứ yếu đuối, tại vì chưa dứt khoát lìa xa thế gian. Muối từ nước mà ra, song muối phải xa nước, nếu gần, muối sẽ bị hòa tan trong nước. Phao-lô đã long trọng tuyên bố: “Còn như tôi, tôi hẳn chẳng khoe mình, trừ ra khoe về thập tự giá của Chúa Jêsus Christ chúng ta, bởi thập tự giá ấy, thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh, và tôi đối với thế gian cũng vậy” (Ga-la-ti 6:14).

3. “Chỉ các ngươi là đàn ông, phải đi hầu việc Đức Giê-hô-va” (10:11).

Pha-ra-ôn thấy không thể giữ dân Y-sơ-ra-ên ở gần mà họ phải đi xa, thì ông giữ vợ con họ ở lại. Vì nếu vợ con họ ở lại thì sớm hay muộn, họ sẽ trở về với vợ con. Có người tin Chúa mà không muốn vợ con cùng tin với mình, bảo rằng vợ con phải ở lại thờ phượng tổ tiên. Người đó có lẽ không thật lòng tin Chúa, dầu thật lòng cũng rất yếu đuối, và chẳng bao lâu sẽ bỏ Chúa mà trở lại thế gian. Vì không hề có người nào được cứu rỗi mà không muốn vợ con cũng được cứu như mình.

4. “Hãy đi hầu việc Đức Giê-hô-va, con trẻ các ngươi đi theo nữa, chỉ bầy chiên và bò ở lại mà thôi” (10:24).

Pha-ra-ôn đã giành từng tấc đất. Trước hết là giữ dân Y-sơ-ra-ên trong xứ, kế đó là giữ họ ở gần, kế đó nữa là giữ một phần dân sự ở lại, bây giờ giữ tất cả tài sản. Vì ông biết rằng nếu dân Y-sơ-ra-ên ra đi mà không có tài sản, lấy chi dâng Chúa, lấy chi mà sống, nên dầu có đi một thời gian, rồi sẽ trở lại. Có những tín đồ, theo Chúa mà tài sản còn để lại trần gian nên họ không dâng gì cho Chúa, hoặc dâng rất ít. Có người đã trở lại, vì của cải ở đâu, lòng cũng ở đó.

Hãy nghe Môi-se và A-rôn trả lời cho Pha-ra-ôn: “Các bầy súc vật sẽ theo chúng tôi nữa, không còn để lại một móng chân nào, vì chúng tôi sẽ dùng các con thú đó mà hầu việc Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi” (10:26). Họ ra khỏi xứ, họ đi xa, đem theo cả nam phụ lão ấu, với hết thảy tài sản của họ.

Đức Chúa Trời đã giáng chín tai vạ cho Pha-ra-ôn để buộc ông phải phóng thích dân Y-sơ-ra-ên cách hoàn toàn, và dân Y-sơ-ra-ên phải biết quyền lợi của mình là như vậy, đừng đòi ít hơn. Sự cứu rỗi của Chúa hoàn toàn giải phóng chúng ta khỏi tội lỗi, thế gian, xác thịt, ma quỉ, để được tự do phục vụ Chúa một cách thánh khiết và công bình trọn đời mình, không sợ hãi gì hết (Lu-ca 1:74-75).

CÂU HỎI

1. Hãy giải thích tại sao Chúa làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng rồi giáng tai vạ trên ông ấy?

2.

Các thần của dân Ê-díp-tô là gì?

3. Chúa giáng chín tai vạ có tương quan gì đến các thần của Ê-díp-tô?

4. Chúa nói cho Pha-ra-ôn biết Ngài giáng tai vạ để buộc ông làm gì?

5. Tại sao Pha-ra-ôn đề nghị dân Y-sơ-ra-ên thờ Đức Chúa Trời trong xứ?

6. Tại sao Pha-ra-ôn đề nghị dân Y-sơ-ra-ên đừng đi xa?

7. Tại sao Pha-ra-ôn đề nghị dân Y-sơ-ra-ên để vợ con ở lại?

8. Tại sao Pha-ra-ôn đề nghị dân Y-sơ-ra-ên đề tài sản ở lại?

9. Trong các bài học trước, ai là người đã theo Chúa mà vẫn còn sống lẫn lộn với thế gian?

10. Chúng ta phải chứa của cải ở đâu?

11. Sự cứu rỗi trọn vẹn có nghĩa gì?

BÀI 36. ĐÊM VƯỢT QUA

KINH THÁNH: Xuất Ê-díp-tô ký 11-12.

CÂU GỐC: “Vì Đấng Christ là Con Sinh lễ Vượt Qua của chúng ta, đã bị giết rồi” (ICôr 5:7).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng chỉ bởi huyết chiên con mà người Y-sơ-ra-ên tránh khỏi sự đoán phạt. Đấng Christ đã trở thành Chiên Con lễ Vượt Qua của chúng ta khi Ngài chịu chết vì chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ là con sinh lễ Vượt Qua của chúng ta

(I Cô 5:7-8).

TH:

Chiên con hình bóng về Đấng Christ

(Xuất 12:1-15).

TB:

Chiên con không vết

(Xuất 12:5, I Phi-e-rơ 1:18-19).

TT:

Sự cứu chuộc bởi huyết

(Xuất 12:7-13; Hê-bơ-rơ 9:12-14).

TN:

Kỷ niệm về sự đổ huyết

(Xuất 12:14-19).

TS:

Xương không gãy

(Xuất 12:46; Giăng 19:36).

TB:

Ý nghĩa của con đầu lòng

(Xuất 13:2-3; Cô-lô-se 1:15).

Sau chín tai vạ, Pha-ra-ôn vẫn cứng lòng không chịu phóng thích dân Y-sơ-ra-ên. Ông còn đuổi Môi-se ra và hăm dọa: “Hãy lui ra khỏi ta cho rảnh! Khá giữ mình đừng thấy mặt ta nữa, vì ngày nào ngươi thấy mặt ta thì sẽ chết!”

Chúa bảo Môi-se rằng Ngài sẽ giáng tai vạ thứ mười là tai vạ nặng hơn hết để buộc Pha-ra-ôn phải phóng thích dân Y-sơ-ra-ên. Tai vạ đó là con trưởng nam của toàn dân Ê-díp-tô từ vua chí dân phải chết, luôn cả con đực đầu lòng của bầy súc vật. Để khỏi bị vạ lây, mỗi nhà của người Y-sơ-ra-ên phải giết một chiên con, lấy huyết nó bôi trên hai cột cửa, còn thịt thì quay trên lửa và ăn với bánh không men và rau đắng. Đêm đó, Chúa sẽ Vượt Qua mọi nhà có bôi huyết, song sẽ hủy diệt con đầu lòng của người và súc vật nhà nào không có bôi huyết.

I. ĐÊM VƯỢT QUA ĐỐI VỚI NGƯỜI Ê-DÍP-TÔ.

Người Ê-díp-tô không hay biết chi hết cho đến nửa đêm. Thình lình, hoàng tử trong cung vua la lên một tiếng lớn rồi chết, con trưởng nam của mỗi nhà và con đực đầu lòng của mỗi bầy đều chết như vậy. Giữa đêm tăm tối mịt mù, song đâu đâu, nhà nào trong cả xứ Ê-díp-tô đều có người và súc vật chết. Tiếng kêu khóc thảm thiết và hãi hùng vang lên cả một vùng trời rộng lớn.

Ngay khi đó, Pha-ra-ôn đòi Môi-se và A-rôn đến bảo: “Hai ngươi và cả dân Y-sơ-ra-ên hãy ra đi khỏi xứ Ê-díp-tô, cũng hãy dẫn chiên và bò theo”. Người Ê-díp-tô sợ hãi quá, thôi thúc người Y-sơ-ra-ên mau mau ra khỏi xứ và sẵn sàng cho họ bất cứ những gì họ xin như các vật bằng bạc, bằng vàng và áo xống.

Đối với người Ê-díp-tô, đêm Vượt Qua là đêm kinh tâm tán đởm, khóc lóc đắng cay, vì là một đêm tai vạ xưa nay chưa hề có mà sau này cũng không hề có nữa. Đó là kết quả của lòng cứng cỏi, chống cự Đức Chúa Trời. Vì Ngài có thể đánh hạ và chà nát chúng ta thành bụi dưới chân Ngài.

II. ĐÊM VƯỢT QUA ĐỐI VỚI NGƯỜI Y-SƠ-RA-ÊN.

Đối với người Y-sơ-ra-ên, đêm Vượt Qua là một đêm bình an, thậm chí con chó cũng không sủa (11:7). Được bình an lạ lùng giữa cảnh hãi hùng là bởi nhà họ có huyết của chiên con bôi trên hai cột cửa và mày cửa. Thiên sứ Vượt Qua nhà nào có bôi huyết và không làm hại chi cả (12:12-13). Sự đòi hỏi của Chúa là huyết chuộc tội (Hê-bơ-rơ 9:22).

Đối với dân Y-sơ-ra-ên, đêm Vượt Qua là một đêm đáng kỷ niệm, nhắc lại cho con cháu muôn đời về sau (12:14,24-27). Đó là đêm họ được hoàn toàn giải phóng sau hàng trăm năm làm nô lệ. Đó là đêm vinh hiển, phước hạnh, đêm mà họ ra đi với đầu ngước lên, không hổ thẹn, không sợ hãi.

Ngoài ra, đêm Vượt Qua là đêm họ bắt đầu một kỷ niệm thanh bình, một cuộc sống mới (12:1-3). Tháng đó là tháng Giêng của dân Y-sơ-ra-ên. Những sự cũ đã qua đi, này mọi sự đều trở nên mới. Ngày họ ra đi là chấm dứt cuộc đời nô lệ, khổ cực, để bắt đầu cuộc đời tự do, hạnh phúc.

III. ĐÊM VƯỢT QUA ĐỐI VỚI CHÚNG TA.

1. Chúa Jêsus là Chiên Con Lễ Vượt Qua của chúng ta (ICôr 5:7).

Nhờ sự đổ huyết đền tội của Chúa trên thập tự giá, chúng ta được tha thứ, được hòa lại với Đức Chúa Trời và hưởng sự bình an trọn vẹn như dân Y-sơ-ra-ên trong nhà có bôi huyết của chiên con. Kinh Thánh chép: “Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ” (Rô-ma 8:1).

2. Đêm Vượt Qua của chúng ta.

Đó là đêm chúng ta quì gối, cúi đầu ăn năn tội, tin nhận huyết báu của Chúa Jêsus đền tội cho mình, là đêm chúng ta vượt khỏi sự chết mà qua sự sống (Giăng 5:24). Đó là đêm hoặc ngày đáng ghi nhớ hơn hết trong đời mình, vì là đêm chấm dứt cuộc đời nô lệ nhuốc nhơ mà bắt đầu cuộc đời tự do vinh hiển. “Nếu ai ở trong Đấng Christ thì nấy là người dựng nên mới, những sự cũ đã qua đi, này mọi sự đều trở nên mới” (IICôr 5:17).

3. Đêm Vượt Qua là đêm thông công.

Dân Y-sơ-ra-ên không những nhờ huyết của chiên con mà được bình an, song cũng nhờ thịt chiên con quay trên lửa mà được thông công với nhau trong bữa ăn đặc biệt đó. Chúng ta cũng nhờ huyết Chúa Jêsus đổ ra mà được cứu chuộc (I Phi-e-rơ 1:18-19), song cũng nhờ thân thể tan nát của Ngài mà được thông công với nhau (ICôr 10:16-17), vì trước mặt Chúa, chỉ có một Chiên Con và một hội chúng (12:5-6).

4. Đêm Vượt Qua nhắc nhớ về sự gớm ghê của tội lỗi.

Bánh mì không men thì không nở, nên cứng lắm và rất khó ăn, cũng gọi là “Bánh hoạn nạn” (Phục 16:3), lại phải ăn với rau đắng. Mỗi lần dự lễ, họ ăn như vậy để nhắc lại cuộc đời khổ cực đắng cay tại Ê-díp-tô. Đối với chúng ta, khi còn sống trong thế gian, làm nô lệ cho tội lỗi và ma quỉ, chẳng khác nào ăn bánh không men và rau đắng. Mỗi lần nhắc lại là mỗi lần gớm ghê cuộc đời quá khứ và thêm lòng cảm tạ Chúa đã cứu mình, đồng thời được khích lệ tiến bước trên linh trình (Thi Thiên 40:23).

Ngoài ra, men ở đây chỉ về tội lỗi, nên men không được dâng chung trong các của lễ. Khi dự lễ, dân Y-sơ-ra-ên bị cấm ăn bánh có men, ai ăn sẽ bị trục xuất khỏi hội chúng. Trong suốt bảy ngày dự lễ đều không có men trong nhà, tức là phải dọn cho sạch. Chúng ta được cứu để sống thánh khiết (ICôr 5:6-8).

5. Lễ Vượt Qua nhắc chúng ta phải sẵn sàng theo Chúa.

Dân Y-sơ-ra-ên phải ăn lễ Vượt Qua trong đêm một cách hối hả, với tư thế sẵn sàng ra đi khỏi xứ Ê-díp-tô bất cứ lúc nào, nên họ phải cột dây lưng, chân mang giày, tay cầm gậy. Chúng ta cũng vậy, thế gian không phải là quê hương, nên ai nấy phải sẵn sàng ra đi theo sự dẫn dắt của Chúa đến một quê hương ở trên trời. Tiếng gọi của Chúa vẫn còn vang dội: “Hãy ra khỏi giữa chúng nó, hãy phân rẽ ra khỏi chúng nó, đừng đá động đến đồ ô uế, thì ta sẽ tiếp nhận các ngươi” (IICôr 6:17).

6. Lễ Vượt Qua nhắc chúng ta sống thánh khiết trọn vẹn.

Số bảy chỉ về sự trọn vẹn, như mỗi tuần có bảy ngày, mỗi bảy năm có năm Sabát, mỗi bảy lần bảy năm tức là 49 năm thì có năm hân hỉ (Lê 25:1-13). Chúa muốn dạy dân Y-sơ-ra-ên và chúng ta rằng đã bắt đầu cuộc sống thánh khiết thì phải tiếp tục cuộc sống đó cho đến cuối cùng của đời mình (Lu-ca 1:74-75).

7. Người có phép dự lễ Vượt Qua (12:43-45).

Trong đêm đó, người Y-sơ-ra-ên không được ra khỏi nhà có bôi huyết cho đến sáng mai (12:22). Gia trưởng phải xem xét lại để biết có ai chưa vào nhà, vì sự an toàn chỉ dành cho kẻ ở trong nhà. Ngày nay, cha mẹ phải lo cho sự an toàn của con cái là hướng dẫn chúng nó đến cùng Chúa yêu thương (Khải 1:6).

Người ngoại bang không được phép dự lễ Vượt Qua. Người tôi mọi trong nhà hoặc khách ngoại bang muốn dự lễ Vượt Qua thì người nam phải cắt bì như người Y-sơ-ra-ên. Sự cứu rỗi dành cho nhân loại, song không phải nhân loại đương nhiên được cứu rỗi mà phải ăn năn, tin nhận Cứu Chúa Jêsus để được trở nên con cái Đức Chúa Trời.

Trong đêm lễ Vượt Qua của dân Y-sơ-ra-ên tại xứ Ê-díp-tô có ghi lại câu chuyện này.

Trời đã tối, cả nhà ăn uống xong, con trưởng nam trong gia đình hỏi cha: Cha ơi, cửa nhà mình đã được bôi huyết chiên con chưa? Cha đáp: Con ơi, cha đã bảo đầy tớ làm rồi, con hãy an lòng lên giường ngủ đi. Con tiếp: Cha ơi, con sợ lắm, nếu đầy tớ quên bôi huyết thì con sẽ chết ngay đêm nay. Xin cha dẫn con ra xem, để khi con thấy huyết bôi trên cửa thì con mới an lòng.

Cha không nỡ để con lo sợ, nên lấy đèn dẫn con ra trước cửa.

– Cha ôi, đầy tớ đã quên bôi huyết.

Cha hoảng hốt, vội vàng chạy vào nhà thì chậu huyết chiên con còn đó. Cha lấy chùm kinh giới nhúng vào huyết bôi lên cửa. Bấy giờ, con trưởng nam mới an lòng đi ngủ. “Vì huyết bôi trên nhà các ngươi ở sẽ dùng làm dấu hiệu, khi Ta hành hại xứ Ê-díp-tô, thấy huyết đó sẽ Vượt Qua, chẳng có tai nạn hủy diệt các ngươi” (12:13).

Nếu có thể được, xin kết thúc bài học bằng Thánh ca 184.

CÂU HỎI

1. Tai vạ thứ mười Chúa giáng trên dân Ê-díp-tô là gì?

2. Đêm Vượt Qua đối với dân Ê-díp-tô là thế nào? Và tại sao?

3. Đêm Vượt Qua đối với dân Y-sơ-ra-ên là thế nào và tại sao?

4. Chiên Con lễ Vượt Qua của chúng ta là ai và tại sao?

5. Đêm Vượt Qua của chúng ta là đêm nào?

6. Tại sao dân Y-sơ-ra-ên phải ăn thịt chiên với bánh không men và rau đắng trong đêm Vượt Qua?

7. Tại sao Chúa không cho dâng men chung với các của lễ?

8. Dân Y-sơ-ra-ên phải giữ lễ Vượt Qua luôn bảy ngày có nghĩa gì?

9. Tại sao họ phải ăn lễ một cách hối hả?

10. Ai là người có đủ tư cách dự lễ Vượt Qua?

11. Xin hãy trả lời với Chúa: Nhà của quý vị đã được bôi huyết chưa? Lòng của quý vị đã được phiếu trắng bởi huyết chưa?

BÀI 37. DÂN Y-SƠ-RA-ÊN ĐƯỢC GIẢI PHÓNG

KINH THÁNH: Xuất Ê-díp-tô ký 14:1-31.

CÂU GỐC: “Chúa sẽ giải thoát ta khỏi mọi điều ác và cứu vớt ta vào trong nước trên trời của Ngài. Nguyền xin sự vinh hiển về nơi Ngài muôn đời không cùng! Amen” (II Ti-mô-thê 4:18).

MỤC ĐÍCH: Bày tỏ Đức Chúa Trời đã giải phóng dân sự Ngài khỏi tay Pha-ra-ôn khi họ vâng phục Ngài, và Đấng Christ cũng giải phóng chúng ta như vậy.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ giải thoát chúng ta

(II Ti-mô-thê 4:18).

TH:

Đức Chúa Trời dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên

(Xuất 1:4).

TB:

Hoàn cảnh dẫn dắt Sau-lơ

(I Sam 9:1-17).

TT:

Thiên sứ dẫn dắt Ghê-đê-ôn

(Quan xét 6:36-40).

TN:

Thiên sứ dẫn dắt Phi-e-rơ

(Công 12:1-11).

TS:

Phao-lô được dẫn dắt bởi khải tượng

(Công 16:6-10).

TB:

Đức Thánh Linh dẫn dắt tín đồ

(Công 13:14; Rô-ma 8:14).

Vừa khi Pha-ra-ôn thông báo cho Môi-se rằng ông bằng lòng để cho dân Y-sơ-ra-ên ra đi khỏi Ê-díp-tô thì Môi-se truyền lịnh cho các trưởng lão. Vì mọi người đều sẵn sàng, nên khi có lịnh, các bà mẹ bế con, các ông cha dẫn bầy vật, các cậu trai giúp đỡ cha, các cô gái giúp đỡ mẹ. Muôn người như một, người mang gánh, kẻ mang bao. Vì muốn dân Y-sơ-ra-ên mau ra khỏi xứ mình, nên dân Ê-díp-tô sẵn sàng cho bất cứ vật gì dân Y-sơ-ra-ên xin, như tiền tài, nữ trang, quần áo. Dân Y-sơ-ra-ên trở nên giàu có (Thi Thiên 105:37-38).

I. DÂN Y-SƠ-RA-ÊN RA KHỎI Ê-DÍP-TÔ (14:1-20).

Dân Y-sơ-ra-ên rất sung sướng được ra khỏi Ê-díp-tô, bỏ nó lại sau lưng một lần đủ cả. Họ hăng hái lên đường, say sưa trong niềm vui chưa từng có, vì Đức Chúa Trời đã làm việc lớn cho họ Vượt Quá điều họ trông mong. Họ vừa đi, vừa cảm tạ Chúa không ngớt.

Trên con đường xa lạ mà họ chưa từng đi, Chúa dẫn dắt họ ban ngày bằng trụ mây, ban đêm bằng trụ lửa để có thể đi cả ngày lẫn đêm. Trụ mây và trụ lửa không bao giờ xa cách họ mà cùng đi với họ, vì đó là sự hiện diện của Chúa để bảo đảm an ninh cho họ (Xuất 13:20-22).

Số người từ Ê-díp-tô ra đi là 600.000 tráng niên, nếu tính cả đàn bà và con trẻ nữa phải hơn hai triệu. Lại có vô số người ngoại bang nhân cơ hội dân Y-sơ-ra-ên được giải phóng, họ chạy theo, và cũng có chiên, bò rất nhiều. Đó là người Ê-díp-tô, hoặc nô lệ, hoặc kiều dân (12:37-38). Số này về sau gọi là dân tạp (Dân 11:4). Lãnh đạo một số người như vậy qua con đường dài từ Ê-díp-tô đến Ca-na-an không phải là việc dễ, song Môi-se rất vững lòng vì chính Đức Chúa Trời mới là Đấng giải phóng dân Y-sơ-ra-ên và lãnh đạo họ, bởi không hề có ai đủ khả năng chăn nuôi, cung cấp mọi nhu cầu cho một số gần hai triệu người suốt mấy mươi năm trong đồng vắng. Ngoài ra, còn phải bảo vệ họ khỏi thú dữ, rắn độc, trộm cướp, bệnh tật. Mọi sự đó, một mình Chúa lo hết (Nê-hê-mi 9:21).

Chúng ta biết Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên cũng là Đức Chúa Trời của chúng ta. Họ được Chúa chọn, chúng ta cũng vậy (I Phi-e-rơ 2:9). Chúa không bao giờ thay đổi. Đức tính, quyền năng của Ngài đời đời vẫn y nguyên. Chúa đối với dân Y-sơ-ra-ên thể nào, Ngài cũng đối với chúng ta thể ấy. Tại sao chúng ta vẫn băn khoăn lo sợ đêm ngày mà không biết Chúa đang ở với mình? Tại sao chúng ta không thể tin cậy mà xin Chúa chăm sóc, giữ gìn mình suốt cuộc đời?

Sau mấy ngày đi đường vất vả đến một nơi gọi là Phihahirốt, gần Biển Đỏ, họ được Chúa cho phép dừng lại nghỉ ngơi, ai nấy được an ủi nhiều. Ngày nọ, thình lình họ thấy từ xa cát bụi mịt trời, không biết là việc gì. Sau một hồi, họ nhận ra rằng đạo quân hùng dũng của Ê-díp-tô đang đuổi theo để bắt họ lại làm nô lệ.

Trên đường theo Chúa, chúng ta cũng như dân Y-sơ-ra-ên luôn bị ma quỉ đuổi theo bắt lại. Nó rất tiếc những tên nô lệ đã từng sống dưới bạo lực của nó. Vì chưa kinh nghiệm quyền năng vô cùng của Chúa, chúng ta thường quá lo sợ.

Trước hoàn cảnh đó, dân Y-sơ-ra-ên kinh khủng, rụng rời vì không có sức kháng cự, không có đường chạy trốn, trước là Biển Đỏ, hai bên là đồi cao, sau lưng là kẻ thù. Họ vừa kêu van cùng Chúa, vừa oán trách Môi-se: “Xứ Ê-díp-tô chẳng có mộ phần sao? …Người dẫn chúng tôi ra khỏi Ê-díp-tô làm chi? …Thà phục dịch họ còn hơn phải chết…” (14:10-12). Trong khi bối rối, họ nói những lời vô lễ, lấy ơn làm oán. Họ chỉ thấy cảnh nguy mà không thấy Chúa, họ quên rằng Chúa đã giáng mười tai vạ để buộc Pha-ra-ôn phải phóng thích họ.

Chúng ta thường chọn cửa rộng và đường lớn, song Chúa thường đưa chúng ta vào cửa hẹp và đường chật. Chúng ta thích lướt trên mặt hồ phẳng lặng, song Chúa thì muốn chúng ta lướt trên một mặt biển nổi sóng. Chúng ta thích an nhàn, song Chúa dẫn chúng ta vào thử thách, hoạn nạn, vì cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, phong ba, cuồng loạn, thử thách, hoạn nạn cho chúng ta kinh nghiệm quyền năng vô cùng của Chúa. “Có người đi xuống tàu trong biển, và làm việc nơi nước cả, kẻ ấy thấy công việc của Đức Giê-hô-va, xem phép lạ Ngài trong nước sâu” (Thi Thiên 107:23-24). Thà ở trong lò lửa hực mà có Chúa hơn là bất cứ nơi nào mà không có Ngài.

Đức Chúa Trời đã dắt dân Y-sơ-ra-ên trong ngõ bí, đường cùng, để cho họ có cơ hội tốt nhất thấy được phép lạ lớn hơn là phép lạ được giải cứu khỏi xứ Ê-díp-tô. Dầu Chúa có thể rẽ Biển Đỏ cho họ qua trước khi đạo quân Ê-díp-tô đến, song Ngài không làm, vì Ngài muốn giải cứu họ vào phút chót, đồng thời đưa đạo quân Ê-díp-tô xuống Biển Đỏ, vì Pha-ra-ôn cố tình tiêu diệt dân Y-sơ-ra-ên. Sau-lơ quyết định giết Đa-vít, song cuối cùng Sau-lơ bị giết, còn Đa-vít lên ngôi vua. Giê-sa-bên thề giết cho được Ê-li, song cuối cùng Giê-sa-bên bị ngựa giày đạp dưới chân, còn Ê-li được cất lên trời.

Chúa phán với dân Y-sơ-ra-ên: “Chớ sợ chi, hãy ở đó, rồi ngày nay xem sự giải cứu Đức Giê-hô-va sẽ làm cho các ngươi… Đức Giê-hô-va sẽ chiến cự cho, còn các ngươi cứ yên lặng” (14:13-14).

Đó là hành động của đức tin để tôn vinh Chúa, sự thất vọng của chúng ta là dịp tiện của Đức Chúa Trời. Những cái “tại sao” của chúng ta hôm nay sẽ là những lời Halêlugia của chúng ta ngày mai (Thi Thiên 37:7). Đây không phải là chiến trận giữa Pha-ra-ôn với dân Y-sơ-ra-ên mà giữa Pha-ra-ôn với Đức Chúa Trời hằng sống. Ngài đứng giữa dân Y-sơ-ra-ên với kẻ thù của họ. Thiên sứ đi trước dân Y-sơ-ra-ên, bây giờ trở lại sau, trụ mây cũng vậy, làm cho đạo quân Ê-díp-tô không hề đụng đến dân Y-sơ-ra-ên: Vì muốn đụng đến dân Y-sơ-ra-ên, trước nhất phải đụng đến Đức Chúa Trời.

Thế thì, trong cơn thử thách, chúng ta không làm gì cả sao? Không làm chi cả. Không ai cầm chiếc đèn dầu đi đường lúc giữa trưa, vì hoàn toàn vô ích. Nhưng có một việc đặc biệt chúng ta phải làm. Xin nghe Chúa phán với dân Y-sơ-ra-ên: “Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên cứ đi” (15). Trong hoàn cảnh của dân Y-sơ-ra-ên, họ không thể làm chi được, song bởi đức tin, họ sẵn sàng tiến bước, kể như sự giải cứu đã xong, bây giờ chỉ còn lên đường, mặc dầu Biển Đỏ chắn ngang. Lúc nào chúng ta cũng phải sẵn sàng tiến bước, rồi Chúa sẽ mở đường, và mở đường ngang qua biển.

II. DÂN Y-SƠ-RA-ÊN VƯỢT BIỂN ĐỎ (14:21-31).

1. Biển Đỏ rẽ ra cho dân Y-sơ-ra-ên.

Khi Môi-se vâng lịnh Chúa, cầm gậy trong tay đưa lên về hướng Biển Đỏ, thì một trận gió Đông thổi mạnh, đùa nước lại hai bên, mở một con đường khô ngang qua biển. Dân Y-sơ-ra-ên đi một cách bình an giữa hai bức tường bằng nước (Ê-sai 51:10).

2. Biển Đỏ chôn vùi đạo quân Ê-díp-tô.

Như trụ mây ban ánh sáng cho dân Y-sơ-ra-ên và làm tối tăm cho đạo quân Ê-díp-tô, thì qua Biển Đỏ là con đường đức tin, kẻ vô tín không thể đi con đường đó. Thập tự giá là đá góc nhà cho kẻ tin, song là đá vấp ngã cho kẻ không tin. “Bởi đức tin, dân Y-sơ-ra-ên Vượt Qua Biển Đỏ như đi trên đất khô, còn người Ê-díp-tô thử đi qua, bị nuốt mất tại đó” (Hê-bơ-rơ 11:29). Bấy giờ, đức tin của dân Y-sơ-ra-ên lên rất cao, toàn dân nam nữ hát múa tôn vinh Đức Chúa Trời. Một lần nữa, chúng ta thấy rằng khí giới mà người ta chế ra để nghịch lại dân sự của Chúa đều không được may mắn (Ê-sai 54:17). Một lần đủ cả, Biển Đỏ sẽ không bao giờ rẽ ra cho dân Y-sơ-ra-ên trở lại Ê-díp-tô đâu! Thập tự giá cũng phân rẽ chúng ta với thế gian và đời sống cũ như vậy (Ga-la-ti 6:14).

CÂU HỎI

1. Dân Y-sơ-ra-ên lìa khỏi Ê-díp-tô với thái độ nào?

2. Con số nam phụ lão ấu chừng bao nhiêu?

3. Ai dắt dẫn họ và dắt dẫn bằng cách nào?

4. Tại sao đạo quân Ê-díp-tô đuổi theo dân Y-sơ-ra-ên?

5. Thấy đạo quân Ê-díp-tô thì dân Y-sơ-ra-ên làm gì?

6. Tại sao Chúa đặt dân sự Ngài trong cảnh nguy khó như vậy?

7. Chúa bảo họ làm gì?

8. Đây là chiến trận giữa ai với ai?

9. Đối với Y-sơ-ra-ên, Biển Đỏ là gì cho họ?

10. Đối với đạo quân Ê-díp-tô, Biển Đỏ là gì cho họ?

11. Tại sao chúng ta biết rằng Biển Đỏ sẽ không bao giờ rẽ nữa để cho dân Y-sơ-ra-ên trở lại Ê-díp-tô?

12. Biển Đỏ là gì cho chúng ta ngày nay?

BÀI 38. CHÚA NUÔI DÂN SỰ

KINH THÁNH: Xuất Ê-díp-tô ký 16:1-36.

CÂU GỐC: “Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là bánh của sự sống, ai đến cùng Ta chẳng hề đói, và ai tin Ta chẳng hề khát” (Giăng 6:35).

MỤC ĐÍCH: Trình bày thể nào Đức Chúa Trời đã thỏa mãn các nhu cầu của dân Ngài và Đấng Christ là bánh từ trời cũng thỏa mãn nhu cầu của chúng ta như vậy.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ là bánh sự sống

(Giăng 6:47-51).

TH:

Bánh từ trời

(Xuất 16:1-36).

TB:

Sự dự bị của Chúa cho Ê-li

(ICác 17:1-6).

TT:

Sự chăm sóc của Cha trên trời

(Ma-thi-ơ 6:24-34).

TN:

Sự dự bị qua kẻ khác

(Công 4:32-37).

TS:

Sự dự bị lạ lùng

(Ma-thi-ơ 17:24-27; Lu-ca 9:1-17).

TB:

Sự dự bị qua Đấng Christ

(Ma-thi-ơ 28:20; Phi-líp 4:19).

Khi đã qua Biển Đỏ, dân Y-sơ-ra-ên vào đồng vắng. Bấy giờ, họ không còn sợ kẻ thù làm hại, mà sợ chết đói, chết khát. Sau ba ngày đường, nước trong các bầu da đã hết. Họ tìm nước và gặp một chỗ có nước, song đắng quá, dầu khát đến đâu cũng không uống được. Trong lúc dân sự kêu la, oán trách Môi-se, ông cứ cầu nguyện. Đức Chúa Trời chỉ cho Môi-se một cây gỗ, ông lấy liệng xuống nước, nước bèn hóa ra ngọt. Kế đó họ đến Ê-lim, nơi có 12 suối nước và 70 cây chà là, rồi đóng trại tại đó. Họ đã có nước uống, bây giờ cần thức ăn.

I. CHÚA NUÔI DÂN SỰ BẰNG CHIM CÚT (1-13).

Từ Ê-lim ra đi, dân Y-sơ-ra-ên lại oán trách Môi-se và A-rôn rằng, thà chết no tại Ê-díp-tô còn hơn chết đói tại đồng vắng.

Chúa liền hứa cho họ cả thịt lẫn bánh.

Điều đáng buồn là dân Y-sơ-ra-ên cứ oán trách. Họ tưởng họ chỉ oán trách Môi-se và A-rôn, song tất cả sự oán trách đổ lại Đức Chúa Trời. Vì Môi-se và A-rôn chỉ là đầy tớ vâng theo lệnh Ngài (c.7-8). Không cần oán trách, Chúa vẫn nuôi họ như thường vì Ngài không bỏ họ. Sự oán trách không làm được gì, song làm đau lòng Chúa và họ mất phước. Đối với chúng ta cũng vậy, Chúa đã dùng nhiều lần, nhiều cách, nhiều lời giải thích, hứa chắc sẽ lo liệu cho chúng ta đủ mọi nhu cầu, song chúng ta vẫn băn khoăn, sợ hãi, vì không tin. Chúng ta nên biết rằng không tin là một tội nặng, vì sỉ nhục Chúa, còn tin là phước lớn tôn vinh Ngài.

Có khó gì đâu, muôn vật ở trong tay Chúa, chúng phục tùng Ngài trọn vẹn, nên Ngài chỉ cần ra lệnh. Chiều hôm đó, chim cút bay lên phủ trên trại quân (c.13). Ai muốn bao nhiêu cũng có.

Tại một làng kia của Nhật bản, có một gia đình tín đồ quanh năm sống nhờ hoa lợi của một vườn táo. Ngày nọ, anh thấy sâu đang ăn các trái táo xanh. Thế là tất cả mọi người trong nhà ra vườn bắt sâu. Nhưng sâu vẫn không bớt đi chút nào. Tối lại, gia đình lễ bái, ai nấy cầu nguyện thiết tha, xin Chúa giải cứu và giữ mùa màng của họ. Sáng hôm sau, họ ngạc nhiên thấy một đàn chim lạ đang ăn sâu. Suốt ba ngày liền, đàn chim ăn sâu cho đến hết rồi bay đi mất.

II. CHÚA NUÔI DÂN SỰ BẰNG MANA (14-36).

Trong đồng vắng, hầu hết là cát đá, họ không tìm đâu ra nước uống, thức ăn. Chỉ còn một con đường là hướng về Đức Chúa Trời mà cầu xin. Tất cả mọi nhu yếu phẩm của họ đều đến từ trời. Hằng ngày Chúa mưa ma na xuống cho họ.

1. Cách ăn mana (Dân 11:7-8).

Ma-na là tiếng của người Y-sơ-ra-ên có nghĩa là “cái gì đó?”. Lần thứ nhứt họ thấy Ma-na thì hỏi cái gì đó, rồi đặt luôn tên của vật ấy là “MANA”.

Ma-na hình như hột ngò, sắc như trân châu, mùi như bánh ngọt pha mật ong. Khi lượm về không thể ăn ngay được mà phải xay thành bột, rồi làm bánh, nấu, nướng hoặc hấp, ăn rất ngon, rất bổ. Chúa Jêsus bảo Ngài thật là Ma-na từ trời xuống, là bánh của sự sống (Giăng 6:47-51). Để trở thành bánh của sự sống cho chúng ta, Ngài không những từ trời giáng thế, nhưng phải chịu đau đớn, sỉ nhục, chết trên thập tự giá và sống lại, tức là giống như Ma-na trở thành thức ăn cho dân Y-sơ-ra-ên vậy.

Lời của Đức Chúa Trời cũng được gọi là Ma-na (Phục 8:3). Muốn ăn Ma-na phải dụng công xay, nấu, nướng cho chín. Kinh Thánh là Lời Chúa, không phải hễ đọc là hiểu ngay như lời của con người, mà phải dụng công suy gẫm, nghiên cứu, học hỏi, tìm tòi. Vì vậy mà có vô số sách giải nghĩa Kinh Thánh: Giải nghĩa từng sách, từng đoạn, từng câu, từng chữ. Nhiều người đọc Kinh Thánh mà không thấy hay ho, không có mùi vị gì cả. Điều đó rất giống như người Y-sơ-ra-ên đã lượm Ma-na lên rồi bỏ ngay vào miệng mà ăn, thì cũng không ngon lành chi hết. Song nếu đem Ma-na về, dụng công xay giã rồi làm bánh thì tuyệt. Lời Chúa cũng vậy, không có gì ngon miệng hơn (Thi Thiên 119:103; 19:10).

Trong loài vật ăn cỏ, loài nào có móng rẽ ra và nhơi là thanh sạch, ăn thịt được (Lê-vi 11:1-8). Chúa muốn dạy chúng ta: 1/ Phải phân rẽ với thế gian, phải phân biệt Lời Chúa với lời người. 2/ Phải suy gẫm lời Chúa ngày đêm mới cảm thấy ngon lành và bổ dưỡng (Giô-suê 1:8; Thi Thiên 1:2; 63:6).

2. Cách lượm mana.

a. Lượm đủ ăn mỗi ngày và đừng để dư lại ngày sau (16-20).

Ma-na đầy dẫy, ai ăn hết bao nhiêu cũng có và có như vậy mỗi ngày, nên không cần lượm dư và để lại ngày mai. Một vài người thấy ngày hôm nay có nhiều Ma-na, sợ ngày mai sẽ không có nên lượm dư để dành. Nhưng sáng mai, Ma-na cũ hư hết, phải lượm Ma-na mới. Đối với chúng ta, mỗi ngày đều cần ơn phước mới. Chúng ta không thể nào nhờ ơn phước của ngày qua để sống ngày nay, hoặc ơn phước của ngày nay để sống ngày mai. Ngày nào đủ cho ngày ấy. Có người cứ khoe ơn phước của nhiều năm trước, nhưng hôm nay thì không có gì cả nên rất nghèo nàn đói khát.

b. Lượm vào lúc sáng sớm (21).

Phải lượm Ma-na kịp thời vào lúc sáng sớm. Khi nắng nóng thì nó tan ra. Nếu có ai thức dậy trễ, ngày đó phải đói. Nếu chúng ta muốn sống một ngày no đủ hạnh phúc, phải gặp Chúa trước hết, suy gẫm lời Ngài trước hết. Sự sống thuộc linh của một số tín đồ rất bạc phước vì thiếu dinh dưỡng, bởi không lấy thì giờ thứ nhất của mỗi ngày để thưa với Chúa (cầu nguyện) và nghe Chúa phán (đọc Kinh Thánh).

3. Thái độ của dân Y-sơ-ra-ên đối với Ma-na.

a. Họ chán mana (Dân 11:4-6).

Ngoài dân Y-sơ-ra-ên 40 năm trong đồng vắng, thì nhân loại trải qua muôn đời không ai được ăn Ma-na. Đó là đặc ân Chúa dành cho họ thôi. Nhưng dân Y-sơ-ra-ên lại không biết như vậy mà đòi trở lại Ê-díp-tô để được ăn đủ thứ, còn tại đó chỉ có Ma-na. Linh trình của chúng ta ngày nay như dân Y-sơ-ra-ên qua đồng vắng, chúng ta được nuôi mình bằng Chúa Jêsus là Lời thành xác thịt, bằng Kinh Thánh, là Lời thành văn. Đó là đặc ân vô giá cho con cái Ngài. Song có người vô ý thức đã nói: Mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm, cả đời chỉ có Kinh Thánh. Không nghe giảng gì khác hơn Kinh Thánh, chán quá!

b. Họ giày đạp Ma-na (Dân 21:5).

Người Y-sơ-ra-ên ghê tởm Ma-na, cho là thức ăn không xứng đáng, không giá trị gì. Họ vừa nói, vừa giày đạp Ma-na, dầu họ chưa làm song thái độ họ là như vậy. Ma-na từ trời rơi xuống đất, họ có thể cúi xuống lượm đem về mà ăn, song cũng có thể giày đạp dưới chân vì chán. Nếu chúng ta chán chê, ghê tởm Chúa Jêsus và Lời của Ngài đến mức đó thì không có tội nào lớn hơn, không còn tế lễ nào chuộc được nữa, chỉ còn chờ đợi sự đoán phạt của lửa hừng mà thôi! (Hê-bơ-rơ 10:28-29).

Cảm tạ Chúa, không phải hết thảy người Y-sơ-ra-ên đều như thế. Ngày nay vô số người yêu mến Chúa, yêu mến Lời Ngài, muốn học hỏi để tin cậy và làm theo. Lắm người “chẳng phải đói về bánh, cũng chẳng phải khát về nước, bèn là về nghe Lời của Đức Giê-hô-va” (A-mốt 8:11). Đúng như Phi-e-rơ đã thưa với Chúa Jêsus: “Lạy Chúa, chúng tôi sẽ theo ai? Chúa có Lời của sự sống đời đời” (Giăng 6:68).

Chúa nuôi dân Ngài thời xưa, Chúa nuôi Hội Thánh Ngài ngày nay. Chúa không bao giờ thay đổi, mặc dầu thời thế đổi thay. Hãy thành kính cảm tạ Ngài, tin cậy và vâng lời Ngài, thì lúc nào, nơi nào chúng ta có thể hát (Thi Thiên 23).

CÂU HỎI

1. Nhu cầu thiết yếu của dân Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng là gì?

2. Khi gặp nước đắng thì dân Y-sơ-ra-ên làm gì? Còn Môi-se làm gì?

3. Khi cần ăn thịt thì dân Y-sơ-ra-ên làm gì? Còn Chúa làm gì?

4. Ma-na có nghĩa gì? Ma-na giống như gì?

5. Ma-na chỉ về ai?

6. Làm sao để Ma-na trở thành thức ăn ngon và bổ?

7. Chúng ta phải ăn nuốt Lời Chúa cách nào?

8. Hãy kể những cách lượm Ma-na và ứng dụng sự dạy dỗ?

9. Hãy kể lại thái độ của dân Y-sơ-ra-ên đối với mana?

10. Chúng ta phải có thái độ nào đối với Chúa và Lời của Ngài?

BÀI 39. CHÚA ĐÀO TẠO CÁC CẤP LÃNH ĐẠO

KINH THÁNH: Sáng thế ký 37 – Xuất Ê-díp-tô ký 16; Gióp 1;2;42.

CÂU GỐC: “Phàm trong các việc làm của con, khá nhận biết Ngài, thì Ngài sẽ chỉ dẫn các nẻo của con” (Châm ngôn 3:6).

MỤC ĐÍCH: Chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời có kế hoạch cho mỗi đời sống tín đồ và Ngài dẫn dắt họ như Ngài đã dẫn dắt Giô-sép, Gióp và Môi-se.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Giô-sép bị ganh ghét và bị hại

(Sáng 37).

TH:

Giô-sép làm nô lệ và bị vu khống

(Sáng 39).

TB:

Giô-sép bàn chiêm bao và được cất nhắc

(Sáng 41 và 41).

TT:

Giô-sép tha thứ các anh

(Sáng 45:1-15).

TN:

Môi se được sanh ra và được cứu

(Xuất 1 – 2).

TS:

Môi-se được kêu gọi và sai đi

(Xuất 3).

TB:

Môi-se thi hành chức vụ và được kết quả

(Xuất 5:16).

ÔN LẠI CÁC BÀI HỌC TRƯỚC.

Sau 3 tháng, chúng ta đã học từ bài 27 tới bài 38 về đời sống của hai nhân vật quan trọng là Giô-sép và Môi-se, những nhà lãnh đạo của Đức Chúa Trời. Hôm nay chúng ta ôn lại bằng những câu hỏi và ứng dụng sự dạy dỗ cho mỗi người.

* Giô-sép.

1. Tại sao các anh ganh tị với Giô-sép?

2. Giô-sép nằm chiêm bao thấy gì? Ý nghĩa của hai chiêm bao ấy là gì?

3. Các anh của Giô-sép đã làm gì đối với ông?

4. Những gì đã xảy ra cho Giô-sép tại Ê-díp-tô?

5. Làm sao Giô-sép thoát khỏi tù?

6. Pha-ra-ôn đã ban chức tước gì cho Giô-sép?

7. Giô-sép đã trở thành vị cứu tinh cho dân Ê-díp-tô như thế nào?

8. Các chiêm bao của Giô-sép đã được ứng nghiệm như thế nào?

9. Khi Gia-cốp gặp con là Giô-sép thì đã làm gì? Và nói gì?

10. Câu hay nhất của Giô-sép trả lời cho các anh là câu nào?

* MÔI-SE.

1. Môi-se được sanh ra trong hoàn cảnh nào?

2. Đức Chúa Trời đã dùng cách nào để cứu Môi-se?

3. Đức Chúa Trời đã cứu Môi-se để làm gì?

4. Khi Môi-se còn bé được đào tạo bởi ai? Ở đâu?

5. Khi Môi-se lớn lên được đào tạo bởi ai? Ở đâu?

6. Đức Chúa Trời gọi Môi-se bằng cách nào?

7. Đức Chúa Trời dùng Môi-se giáng những tai vạ gì trên dân Ê-díp-tô?

8. Các tai vạ đó có mục đích gì?

9. Kinh Thánh dạy thế nào về đức tin của cha mẹ Môi-se? Và của chính Môi-se?

10. Câu hay nhất Môi-se đã nói với Pha-ra-ôn là câu nào?

11. Phép lạ lớn nhất trong việc giải phóng dân Y-sơ-ra-ên khỏi tay người Ê-díp-tô là phép lạ nào?

12. Đại ý bài ca của Môi-se sau khi qua Biển Đỏ là gì?

* CÁC CÂU HỎI CHUNG.

1. Qua các bài học đó, các bạn có hiểu biết Chúa hơn trước không? Hiểu biết hơn thế nào? Xin có vài lời làm chứng.

2. Qua các bài học vừa rồi, các bạn được thêm lòng tin cậy quyền năng và ân điển của Chúa như thế nào? Xin có vài lời làm chứng.

3. Qua các bài học đó, các bạn có biết rằng Đức Chúa Trời có đường lối tốt nhất cho đời mình, mặc dầu đôi khi phải vì Danh Chúa mà chịu bắt bớ không? Xin vài lời làm chứng.

4. Qua các bài học đó, các bạn có bằng lòng để Đức Chúa Trời dẫn dắt mình, đào tạo mình nên người phục vụ Ngài không? Các bạn có quyết định gì?

5. Qua các bài học đó, các bạn có biết rằng mình đã nhờ huyết Chúa Jêsus mà được giải phóng khỏi quyền lực của thế gian, ma quỉ, tội lỗi như dân Y-sơ-ra-ên được giải phóng khỏi Ê-díp-tô không? Bằng cớ nào chứng minh điều đó?

6. Qua các bài học đó, các bạn có thể tin rằng Đức Chúa Trời có thể lo liệu cho mình mọi nhu cầu trong một hoàn cảnh khó khăn hơn hết không? Ai có kinh nghiệm này, xin có lời làm chứng.

8. Qua các bài học đó, các bạn có thấy thích thú mà học Lời Chúa không? Có sẵn sàng chia xẻ và khích lệ người khác học Lời Chúa không? Xin cho ít lời làm chứng.

BÀI 40. CHÚA GIÚP ĐỠ DÂN NGÀI

KINH THÁNH: Xuất Ê-díp-tô ký 17:1-16.

CÂU GỐC: “Song tạ ơn Đức Chúa Trời, Ngài làm cho chúng tôi được thắng trong Đấng Christ luôn luôn” (IICôr 2:14).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng Đức Chúa Trời chăm sóc dân sự Ngài và ban cho họ đắc thắng kẻ thù mình.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ là thủ lãnh của chúng ta

(Hê-bơ-rơ 2:10).

TH:

Hòn đá bị đập vỡ

(Xuất 17:1-7).

TB:

Đấng Christ là vầng đá thuộc linh

(ICôr 10:4).

TT:

Đấng Christ bị tan vỡ vì chúng ta

(Ê-sai 53:3-10).

TN:

Dân Y-sơ-ra-ên thắng dân A-ma-léc

(Xuất 17:8-16).

TS:

Đấng Christ lãnh đạo chúng ta

(Cô-lô-se 2:1-15).

TB:

Đấng Christ là sự đắc thắng của chúng ta

(II Cô 2:14; Phi 4:13).

Chúa giải phóng dân sự của Ngài khỏi ách nô lệ, làm nước đắng ra ngọt cho họ uống, đem thịt và mưa bánh cho họ ăn, dùng trụ mây che họ khỏi nắng ban ngày, dùng trụ lửa soi họ khỏi tối ban đêm, đồng thời trụ mây và trụ lửa dẫn dắt họ an toàn trên con đường họ chưa từng đi.

Chúa còn giúp đỡ họ nhiều hơn nữa, giúp đỡ họ luôn luôn cho đến khi đưa họ vào tận Ca-na-an đượm sữa và mật. Đó cũng là cách Chúa giúp đỡ chúng ta ngày nay.

I. CHÚA KHIẾN HÒN ĐÁ TUÔN RA NƯỚC CHO DÂN NGÀI (c.1-7).

Dân Y-sơ-ra-ên đi từng trạm một từ Ê-lim đến đồng vắng Sin và đóng trại tại Rê-phi-đim theo lịnh của Chúa. Đồng vắng khô khan, hoang liêu nên dân sự mau khát nước, và họ thiếu nước. Thay vì cầu nguyện với Chúa, họ phàn nàn với Môi-se và kêu la:

“Hãy cho chúng tôi uống nước”. Họ hỏi: “Sao người khiến chúng tôi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, hầu cho chúng tôi, con và các bầy súc vật phải chịu chết khát thế này?” Thiếu chút nữa họ ném đá Môi-se.

Lòng vô tín thật đáng sợ! Biết bao phép lạ Chúa đã làm ra cho họ. Sự hiện diện của Ngài qua trụ mây, trụ lửa còn đó, thế mà dân sự vẫn không tin và muốn nổi loạn để đòi trở lại Ê-díp-tô! Ngày nay, nếu chúng ta không tin cậy Chúa thì mỗi chút chúng ta cũng phàn nàn như họ. Sự phàn nàn tỏ ra trong thái độ giận dữ, một hành động gian ác và những lời nói vô lễ rất khó chịu. Gia đình nào có một đứa con luôn phàn nàn thì gia đình ấy buồn lắm. Hội Thánh nào dầu chỉ có một tín đồ hay phàn nàn thì cũng buồn như vậy. Phao-lô khuyên: “Chớ lo phiền chi hết, nhưng trong mọi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin và sự tạ ơn mà trình các sự cầu xin của mình cho Đức Chúa Trời” (Phi-líp 4:6).

Trong cuộc hành trình qua đồng vắng 40 năm, một câu hỏi mà dân Y-sơ-ra-ên cứ lặp lại: “Chúng tôi lấy chi uống? Ai sẽ cho chúng tôi ăn thịt? Chúng tôi sẽ chết?” (Xuất 15:24; 16:3; 17:2-3; Dân 11:4; 20:3).

Ngày nay chúng ta cũng hỏi như vậy: “Chúng ta sẽ ăn gì? Uống gì? Mặc gì?” (Ma-thi-ơ 6:31). Chúng ta cứ băn khoăn lo nghĩ về nhu cầu vật chất, đang khi Chúa chúng ta biết rõ rồi. Hãy tìm kiếm Chúa, sống đẹp lòng Chúa, thì mọi nhu cầu sẽ được đầy đủ.

Để cho dân Y-sơ-ra-ên có nước uống, Đức Chúa Trời bảo Môi-se cầm gậy trong tay, đi với các trưởng lão đến Hô-rếp. Núi Hô-rếp tức là núi Si-na-i. Môi-se phải dùng gậy đập hòn đá tại đó, sẽ có nước chảy ra cho dân sự uống. Khi Môi-se vâng lời Chúa thì lạ thay, từ trong hòn đá tuôn ra một dòng nước mà dân Y-sơ-ra-ên muốn bao nhiêu cũng có. Hòn đá bị đập tượng trưng cho Chúa Jêsus bị Đức Chúa Trời đánh và đập và làm cho khốn khổ, để từ nơi Ngài tuôn ra dòng sông ân điển cho nhân loại (ICôr 10:4). Nếu hòn đá không bị đập, dân Y-sơ-ra-ên có thể cứ nhìn hòn đá đó mà chết khát. Nếu Chúa Jêsus không chịu chết trên thập tự giá, chúng ta tuyệt vọng đời đời. Chỉ có sự chết của Ngài mới đem đến cho chúng ta sự thỏa mãn. Chúa phán: “Ai tin Ta chẳng hề khát… kẻ nào tin Ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình” (Giăng 6:35; 37-38).

Môi-se liền đặt tên chỗ đó là Masa và Mêriba, nghĩa là ướm thử và cãi lộn. Thật là một kỷ niệm đau buồn! Dân Y-sơ-ra-ên đã cãi lộn với ông để thử xem có Đức Giê-hô-va ở giữa họ chăng. Lòng vô tín đã làm cho họ không thấy, không nghe, không hiểu, không nhận được những gì Chúa đã làm cho họ mà cứ nghi ngờ. Chúa dùng điều đó cảnh cáo chúng ta: “Ngày nay, nếu các ngươi nghe tiếng Ngài thì chớ cứng lòng như lúc nổi loạn, là ngày thử Chúa trong đồng vắng, là nơi tổ phụ các ngươi thấy công việc Ta làm trong bốn mươi năm, mà còn thử để dò xét Ta!” (Hê-bơ-rơ 3:7-10).

II. CHÚA CHIẾN THẮNG A-MA-LÉC CHO DÂN NGÀI (c.8-16).

Dân A-ma-léc là hậu tự của Ê-sau (Sáng 36:12), dân Y-sơ-ra-ên là hậu tự của Gia-cốp. Người thuộc xác thịt với người thuộc linh không bao giờ hòa hợp nhau được mà luôn luôn thù nghịch nhau. Ma quỉ đã dùng quyền lực thế gian cố giữ dân Y-sơ-ra-ên trong cảnh nô lệ, bây giờ nó dùng dân A-ma-léc ngăn trở dân Y-sơ-ra-ên đến Ca-na-an. Ma quỉ cố dùng quyền lực thế gian để giữ chúng ta trong tội lỗi, bây giờ nó dùng quyền lực của xác thịt ngăn trở chúng ta trên linh trình. Chúng ta phải chiến đấu với xác thịt như dân Y-sơ-ra-ên chiến đấu với dân A-ma-léc.

Môi-se bảo Giô-suê chọn các chiến sĩ để ra chiến đấu với dân A-ma-léc, còn ông sẽ lên đầu nỗng, đứng đó cầm gậy Đức Chúa Trời trong tay. Đòn cân chiến thắng nghiêng về phía nào không tùy thuộc vào chiến sĩ phía đó mạnh hay yếu, nhiều hay ít, mà tùy thuộc vào cánh tay của Môi-se trên đầu nỗng. Hễ khi Môi-se giơ tay lên thì dân Y-sơ-ra-ên thắng hơn, còn khi Môi-se xụi tay xuống thì dân A-ma-léc thắng hơn. Giơ tay lên chỉ về sự cầu nguyện (Ê-sai 1:15; I Ti-mô-thê 2:8). Sự cầu thay của Môi-se ở hậu phương nắm quyền quyết định chứ không phải đạo quân của Giô-suê ở tiền tuyến. Nói cách khác, đạo quân tiền tuyến nhờ sự cầu thay của người ở hậu phương mà được toàn thắng. Xem thế thì biết sự cầu thay quan trọng là dường nào! Cho đến bao giờ chúng ta mới lường hết năng lực của sự cầu nguyện, nhất là sự cầu thay!

Để nắm vững phần đắc thắng, A-rôn và Hurơ lấy đá kê cho Môi-se ngồi, rồi ở hai bên đỡ tay người lên luôn cho đến khi chiến trận chấm dứt. Đành rằng cầu nguyện một mình là rất tốt, song cũng dễ mệt mỏi, sờn lòng, nên nếu được 2-3 người hiệp nhau cầu nguyện thì tốt hơn. Chúa Jêsus đã phán: “Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, nếu hai người trong các ngươi thuận nhau ở dưới đất mà cầu xin không cứ việc chi, thì Cha Ta ở trên trời sẽ cho họ” (Ma-thi-ơ 18:19). Khi Chúa Jêsus vào vườn Ghết-sê-ma-nê lần cuối cùng, Ngài cũng đem theo ba môn đồ thân tín là Phi-e-rơ, Giăng và Gia-cơ để hiệp nhau cầu nguyện. Nhưng môn đồ của Chúa đã ngủ nên họ không đủ sức đương đầu với sự thử thách.

Môi-se lập một bàn thờ để cảm tạ, tôn vinh Chúa đã giúp đỡ dân Ngài chiến thắng kẻ thù. Đồng thời ông dâng mình cho Chúa cách mới

hơn về ơn phước mới Ngài vừa ban. Ông đặt tên bàn thờ đó là “Đức Giê-hô-va cờ xí tôi”, tức là sự vinh hiển tôi, là niềm vui tôi, là thủ lãnh tối cao của đời tôi cũng như của dân Ngài (Xuất 14:14; Giô 5:14).

Ngày nay, mỗi lần được ơn phước mới, chúng ta nên lập một bàn thờ mới tức là dâng mình cho Chúa một cách mới hơn để phục vụ Ngài cách trọn vẹn hơn. Thập tự giá của Chúa Jêsus là ngọn cờ của chúng ta, là niềm vinh hiển, vui mừng, phấn khởi mà chúng ta phải xổ nó ra (Thi Thiên 60:4). Cuốn cờ là dấu hiệu của chiến bại, xổ cờ là dấu hiệu của chiến thắng. Thập tự giá là dấu hiệu của sự toàn thắng. Vì từ buổi sáng thế, Đức Chúa Trời đã định Con Độc sanh của Ngài phải chịu chết trên thập tự giá để chiến thắng ma quỉ, tội lỗi, thế gian, xác thịt hầu cứu rỗi nhân loại. Trên thập tự giá, Chúa Jêsus phán “XONG RỒI”. Thập tự giá là quyền năng và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời (ICôr 1:24). Thập tự giá là địa điểm duy nhất mà nhờ đó loài người được hòa lại với nhau và hòa lại với Đức Chúa Trời (Ê-phê-sô 2:16; Cô-lô-se 1:20). Đức Chúa Trời đã tha thứ hết mọi tội chúng ta và xóa bỏ, loại ra, triệt hạ tờ khế, giới mạng, thế lực nghịch với chúng ta, dùng thập tự giá chiến thắng tất cả và nộp ra tỏ tường giữa thiên hạ (Cô-lô-se 2:14-15). Dưới bóng cờ thập tự, chúng ta là những chiến sĩ. Hãy xổ cờ thập tự ra, giương cao lên, truyền giảng Tin Lành cứu rỗi khắp nơi cho mọi người.

Chúa giúp đỡ dân Ngài mọi sự. Không có gì đáng làm cho chúng ta mà Chúa không làm. Trái lại, Ngài đã làm quá điều chúng ta trông mong, ban cho chúng ta những điều chúng ta không đáng được. Chúa có thể hỏi: Có điều chi đáng làm cho các ngươi mà Ta không làm chăng? (Ê-sai 5:4). Nguyện Chúa giữ gìn môi miệng và lòng dạ chúng ta không phàn nàn mà cứ vui mừng, cảm tạ, ca ngợi sự chăm sóc trọn vẹn của Ngài. Nguyện Chúa dùng chúng ta giương cao ngọn cờ thập tự của Ngài, là dấu hiệu của quyền năng để chiến thắng kẻ thù, là dấu hiệu của tình yêu để chinh phục tội nhân.

CÂU HỎI

1. Xin nhắc lại những điều Chúa giúp đỡ dân Y-sơ-ra-ên từ khi ra khỏi Ê-díp-tô?

2. Khi thiếu nước tại Rê-phi-đim, dân Y-sơ-ra-ên đã làm gì?

3. Trong 40 năm qua đồng vắng, dân Y-sơ-ra-ên thường lặp lại câu nào?

4. Chúa làm thế nào để có nước cho dân Y-sơ-ra-ên?

5. Hòn đá bị đập chỉ về ai? Có nghĩa gì?

6. Tại sao dân A-ma-léc khiêu chiến với dân Y-sơ-ra-ên?

7. Khi đạo quân Y-sơ-ra-ên ra trận thì Môi-se làm gì?

8. Điều gì quyết định trong chiến trận với A-ma-léc?

9. Môi-se lập một bàn thờ có nghĩa gì?

10. Ngọn cờ của chúng ta hôm nay là gì?

11. Đức Chúa Trời đã dùng thập tự giá làm gì cho chúng ta?

12. Chúng ta phải cuốn cờ và phàn nàn hay xổ cờ mà ca hát?

BÀI 41. ĐỨC CHÚA TRỜI BAN MƯỜI ĐIỀU RĂN

KINH THÁNH: Xuất Ê-díp-tô ký 20:1-17.

CÂU GỐC: “Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi” (Ma-thi-ơ 22:37).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng các điều răn của Đức Chúa Trời là tiêu chuẩn đạo đức cho hành vi của chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG HẰNG NGÀY

CN:

Chúng ta phải yêu mến Đấng Christ

(Ma-thi-ơ 22:35-40).

TH:

Sự kêu gọi của Đức Chúa Trời

(Xuất 19:1-13).

TB:

Sự chuẩn bị của dân Y-sơ-ra-ên

(Xuất 19:14-25).

TT:

Bốn điều răn đầu tiên

(Xuất 20:1-11).

TN:

Một Đức Chúa Trời

(Thi 86:10; Ê-sai 43:10-11).

TS:

Sự thờ phượng chân thật

(Thi 95:6; 96:9; Ma-thi-ơ 4:10).

TB:

Danh của Đức Chúa Trời

(Thi 111:9; Ê-sai 12:4).

Mục đích của Đức Chúa Trời ban mười điều răn là để bày tỏ sự thánh khiết của Ngài. Dân Y-sơ-ra-ên phải ý thức rằng Đức Giê-hô-va mà họ tôn thờ, phục vụ là Đấng chí thánh và Ngài đòi hỏi họ phải thánh khiết trong mọi cách ăn ở mình (Xuất 19:5-6).

Trong hai ngày, dân Y-sơ-ra-ên phải chuẩn bị đầy đủ như tắm rửa, giặt giũ áo quần, giữ gìn sạch sẽ. Qua ngày thứ ba, ai nấy phải đứng chầu chung quanh núi Si-na-i để nghinh tiếp Chúa mà không được phép đụng đến núi. Ai vi phạm sẽ bị xử tử. Sáng hôm đó, sấm nổ rền trời, chớp nhoáng sáng lòe, mây bay mịt mịt, tiếng kèn vang dội, khói tỏa khắp nơi, cả núi rúng động cách kịch liệt. Đức Chúa Trời giáng lâm trên đỉnh núi, trực tiếp truyền mười điều răn cho dân Y-sơ-ra-ên.Trước cảnh tượng hãi hùng đó, dân Y-sơ-ra-ên run rẩy quá, đứng rất xa. Họ xin Môi-se nói lại cho họ, song xin Chúa đừng phán cùng họ kẻo họ phải chết. Môi-se an ủi: “Đừng sợ chi, vì Đức Chúa Trời giáng lâm đặng thử các ngươi, hầu cho sự kính sợ Ngài ở trước mặt các ngươi, cho các ngươi không phạm tội” (Xuất 20:20).

Ngày nay, mỗi chúng ta phải ý thức rằng Đức Chúa Trời là Đấng ba lần: Thánh thay! Thánh thay! Thánh thay! (Ê-sai 6:1-4). Ai nấy hãy nhớ lại lời Chúa phán: “Hãy nên thánh vì Ta là thánh” (Lê-vi ký 11:44; 19:2; 20:7; I Phi-e-rơ 1:16). Đó là tiêu chuẩn đạo đức của chúng ta.

Trước khi truyền mười điều răn, Chúa phán với dân Y-sơ-ra-ên: “Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, đã rút ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, là nhà nô lệ”. Chúa muốn nhắc nhở, nhấn mạnh để họ biết rằng Ngài đã yêu họ, giải phóng họ, rồi dẫn dắt, giữ gìn, cung cấp cho họ mọi nhu cầu. Nếu họ yêu mến Ngài và vâng lời Ngài, Chúa cứ ban phước cho họ luôn. Sứ đồ Giăng cũng nhắc nhở chúng ta: “Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta…” (Khải 1:6).

Đó là cớ khích lệ chúng ta hoàn toàn vâng phục Chúa. Chúng ta học bốn điều răn đầu là bổn phận chúng ta đối với Chúa.

I. ĐIỀU RĂN THỨ NHẤT: CHỈ THỜ MỘT MÌNH ĐỨC CHÚA TRỜI (c.3).

Thờ phượng là sấp mình xuống. Thờ phượng ai là sấp mình xuống dưới chân người đó. Ngoài Đức Chúa Trời, không ai xứng đáng cho chúng ta sấp mình xuống. Chỉ một mình Đức Chúa Trời xứng đáng cho chúng ta thờ phượng.

Người Ê-díp-tô (Ai-cập) thờ mặt trời, sông Nilơ, và các con thú như bò, mèo, khỉ, cá sấu. Vì thế, khi Đức Chúa Trời giáng 10 tai vạ để phạt người Ê-díp-tô là nhắm vào các thần của họ như khiến sông Nilơ biến thành huyết, cá đều chết, nước hôi thối, các tai vạ khác làm cho ếch, nhái, ruồi mòng đều chết, súc vật bị dịch lệ, cả xứ bị tối tăm. Chúa muốn nói rằng các thần của Ê-díp-tô không phải là thần.

Khi dân Y-sơ-ra-ên vào xứ Ca-na-an thì được lịnh phá hủy tất cả thần tượng của các dân tộc tại đó (Xuất 23:24,32; 34:12-13). Nhưng dân Y-sơ-ra-ên không vâng lời Chúa cách trọn vẹn nên về sau, mỗi lần Chúa sửa phạt họ đều do tội thờ các thần khác (Quan xét 2:1-3; 11-13). Đức Chúa Trời luôn luôn cảnh cáo họ về tội ấy rằng: “Ấy chính Ta, chính Ta là Đức Giê-hô-va, ngoài Ta không có Cứu Chúa nào khác… Hỡi các ngươi hết thảy ở các nơi đầu cùng đất, hãy nhìn xem ta và được cứu! Vì Ta là Đức Chúa Trời, chẳng có Chúa nào khác” (Ê-sai 43:11; 45:22).

Phi-e-rơ đã can ngăn Cọt-nây thờ lạy ông (Công 10:25-26), Phao-lô can ngăn người thành Lít-trơ thờ lạy ông (Công 14:15), thiên sứ can ngăn Giăng thờ lạy mình (Khải 22:8-9). Phao-lô cũng khuyên các Hội Thánh: “Xưa kia, anh em chẳng biết Đức Chúa Trời chi hết, thì làm tôi các thần vốn không phải là thần… Chúng ta biết thần tượng trong thế gian thật là hư không, chỉ có một Đức Chúa Trời, chứ không có thần nào khác” (Ga-la-ti 4:8; ICôr 8:4). Chúa Jêsus bảo: “Ngươi phải thờ phượng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi, và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi” (Ma-thi-ơ 4:10).

II. ĐIỀU RĂN THỨ HAI: CÁCH THỜ PHƯỢNG CHÚA (c.4-6).

Đức Chúa Trời nghiêm cấm làm bất cứ một hình tượng nào, dầu nói là hình tượng của Chúa, rồi để trước mặt mà thờ phượng. Chúa cảnh cáo người Y-sơ-ra-ên: “Vậy, các ngươi khá cẩn thận giữ lấy linh hồn mình cho lắm, vì các ngươi không có thấy một hình trạng nào trong ngày Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, từ nơi giữa lửa phán cùng các ngươi tại Hô-rếp” (Phục 4:15). Tác giả Thi Thiên cho thần tượng là câm, đui, điếc, vô tri, bất động (Thi Thiên 135,115). Tiên tri Ê-sai chế nhạo thần tượng, và lên án các thợ làm thần tượng và những kẻ thờ thần tượng đều giống như nó (Ê-sai 2:8, 18-21; 40:18-20; 44:12-20; 46:5-7; Giê-rê-mi 10:3-5). Đức Chúa Trời kể tội thờ thần tượng là tà dâm thuộc linh (Giê 3:8-9, Êxê 23:37). Tại núi Si-na-i, dân Y-sơ-ra-ên thờ con bò vàng mà 3.000 người phải chết (Xuất 32:28). Tại Sitim, dân Y-sơ-ra-ên thờ Ba-anh Phêô mà 24.000 người phải chết (Dân 25:1-9). Cũng vì tội thờ lạy thần tượng mà dân Y-sơ-ra-ên bị lưu đày 70 năm (II vua 17:7-18).

III. ĐIỀU RĂN THỨ BA: PHẢI TÔN TRỌNG DANH CHÚA (c.7).

Chúa giải thích thêm: “Các ngươi chớ nhân danh Ta mà thề dối, vì ngươi làm ô danh của Đức Chúa Trời mình. Ta là Đức Giê-hô-va” (Lê 19:12). Khi nam nữ đứng trước Hội Thánh, nhân danh Ngài mà thề nguyện trọn đời sẽ yêu nhau thì họ phải giữ trọn lời hứa. Nếu ai bội ước là phạm tội lấy danh Chúa mà làm chơi. Khi cha mẹ đem con mình mà dâng cho Chúa, là nhân danh Ngài mà thề nguyện sẽ nuôi dạy, nêu gương cho con cái trở nên người tốt. Nếu ai bội ước là phạm tội lấy danh Chúa làm chơi. Khi một người chịu Báp-têm là nhân danh Chúa mà thề nguyện, kể mình là đồng chết và đồng chôn với Chúa về tội lỗi, và đồng sống lại với Ngài trong đời mới (Rô 6:11). Nếu ai bội ước là lấy danh Chúa làm chơi. Khi một người dự tiệc thánh là lập giao ước với Chúa, thề nguyện trọn đời nhớ đến Ngài, rao sự chết của Chúa cho đến lúc Ngài đến (Xuất 24:8; ICôr 11:25). Nếu ai bội ước là lấy danh Chúa làm chơi, thề dối, làm ô danh Ngài.

Chúng ta hãy tôn trọng danh Chúa mà làm trọn những lời thề nguyện trước mặt Ngài (Phục 23:21).

IV. ĐIỀU RĂN THỨ TƯ: PHẢI GIỮ NGÀY NGHỈ (c.8-11).

Mỗi tuần lễ bảy ngày, phải dành một ngày để thờ phượng Chúa. Người Y-sơ-ra-ên giữ ngày thứ bảy là ngày nghỉ, còn Hội Thánh Chúa giữ ngày thứ nhất làm ngày nghỉ.

Mười điều răn trong Cựu Ước, thì chín điều có lặp lại trong Tân Ước để xác nhận ngoại trừ điều thứ tư. Chúa Jêsus sống lại ngày thứ nhất (Ma-thi-ơ 28:1; Mác 16:1; Lu 24:1; Giăng 20:1). Chúa Jêsus hiện ra với các môn đồ ba lần nhằm ngày thứ nhất (Giăng 20:19,26; Lu 24:13-15). Thánh Linh giáng lâm ngày thứ nhất (Công 2:1). Chúa cứu 3.000 người và lập Hội Thánh đầu tiên vào ngày thứ nhất (Công 2:12,41). Phao-lô dự tiệc thánh và giảng dạy ngày thứ nhất (Công 20:7). Phao-lô khuyên Hội Thánh dâng tiền vào ngày thứ nhất (ICôr 16:1-2). Giăng thấy dị tượng và chép sách Khải huyền vào ngày thứ nhất, cũng gọi là ngày của Chúa (Khải 1:10). Hội Thánh đã bắt đầu giữ ngày thứ nhất của tuần lễ để họp lại thờ phượng Chúa.

Việc thờ phượng Chúa được thực hiện vào ngày thứ nhất ngay từ thời các sứ đồ. Vả lại, không ai giữ nổi ngày thứ bảy theo luật pháp của Môi-se. Ngày đó, ai ra ngoài lượm củi hoặc nổi lửa nấu ăn trong nhà đều bị xử tử (Xuất 31:12-17; 35:1-3; Dân 15:32-36). Chúng ta không làm nô lệ cho thì giờ, song sử dụng thì giờ của một ngày trong tuần vào việc tôn thờ Chúa (Ga-la-ti 4:9-11; Cô-lô-se 2:16-17).

Bốn điều răn này được tóm tắt trong câu gốc hôm nay. Nếu chúng ta hết lòng, hết sức, hết ý kính mến Chúa thì sẽ tôn thờ một mình Ngài, tôn thờ bằng tâm thần và lẽ thật, tôn thờ danh cao cả của Ngài, dùng ít nhất là một ngày trong mỗi tuần để họp nhau lại tôn thờ Ngài.

CÂU HỎI

1. Mục đích Chúa ban mười điều răn là gì?

2. Điều răn thứ nhất dạy gì?

3. Thờ phượng có nghĩa gì?

4. Tại sao Chúa ra lịnh cho dân Y-sơ-ra-ên hủy phá tất cả thần tượng trong xứ Ca-na-an?

5. Tại sao Chúa cấm người ta làm hình tượng để thờ lạy?

6. Chúa đối xử với tội thờ hình tượng thế nào?

7. Hình tượng mà tín đồ thờ lạy là gì?

8. Trong trường hợp nào chúng ta lấy danh Chúa làm chơi?

9. Tại sao chúng ta giữ ngày thứ nhất (Chúa nhật) thành ngày nghỉ trong tuần lễ?

10. Muốn giữ trọn 4 điều răn này thì phải làm gì?

Bài 42. ĐỨC CHÚA TRỜI BAN MƯỜI ĐIỀU RĂN (Tiếp theo)

KINH THÁNH: Xuất Ê-díp-tô ký 20:12-17.

CÂU GỐC: “Còn điều răn thứ hai đây, cũng như vậy: Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình” (Ma-thi-ơ 22:39).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng các điều răn của Đức Chúa Trời là tiêu chuẩn đạo đức của chúng ta và Đấng Christ dạy chúng ta phải yêu nhau.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chúng ta phải yêu mến tha nhân

(Giăng 15:12-17).

TH:

Sáu điều răn cuối cùng

(Xuất 20:12-21).

TB:

Sự giải thích về các điều răn

(Ma-thi-ơ 5:21-24; 27-28).

TT:

Tình yêu làm trọn luật pháp

(Rô-ma 13:8-14).

TN:

Hai điều răn quan trọng

(Ma-thi-ơ 22:36-40).

TS:

Đoạn Kinh Thánh của tình yêu

(ICôr 13).

TB:

Tình yêu đối với Đức Chúa Trời và đối với nhau

(IGiăng 4:7-21).

Chúng ta đã học bốn điều răn đầu về bổn phận đối với Chúa. Bây giờ chúng ta học sáu điều răn cuối về bổn phận đối với nhau. Để làm trọn bổn phận đối với Chúa, chúng ta phải hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa. Để làm trọn bổn phận đối với nhau, chúng ta phải yêu kẻ lân cận như mình. Tình yêu thương làm trọn luật pháp. “Nhưng trái của Thánh Linh ấy là lòng yêu thương, vui mừng, bình an… không có luật pháp nào cấm các sự đó” (Ga-la-ti 5:22-23).

I. ĐIỀU RĂN THỨ NĂM: HÃY HIẾU KÍNH CHA MẸ (c.12).

Trong bổn phận đối với người thì hiếu kính cha mẹ là trước hết nên Tân Ước là gọi là điều răn thứ nhất (Ê-phê-sô 6:1-3). Chúa Jêsus đã lên án người Pha-ri-si là giả hình vì họ không hiếu kính cha mẹ mà tưởng rằng phục vụ Chúa là đủ (Ma-thi-ơ 15:1-9). Chúa Jêsus là một người con hiếu kính. Trong 30 năm, Ngài đã phục tùng Giô-sép và Ma-ri (Lu-ca 5:21). Họ chỉ là con người, gia đình nghèo, con cái đông, song Ngài luôn hiếu kính cha mẹ. Trên thập tự giá, Chúa vẫn nhớ đến bà Ma-ri và gởi gắm bà cho Giăng phụng dưỡng (Giăng 19:26-27).

Luật pháp Môi-se xử tử những đứa con bất hiếu (Xuất 21:17; Lê 20:9). Cham là con của Nô-ê, bị rủa sả vì không tôn kính cha, còn Sem và Giaphết được chúc phước vì kính nể cha mình (Sáng 9:20-27). Áp-sa-lôm muốn chiếm vị cha nên đã chiêu tập binh mã đánh lại cha mình. Các chiến sĩ của Đa-vít chiến đấu với Áp-sa-lôm, Đa-vít ra lịnh: “Hãy vì ta khoan dung cho Áp-sa-lôm trai trẻ”. Khi nghe tin Áp-sa-lôm chết, Đa-vít vừa đi vừa khóc: “Ôi, Áp-sa-lôm con trai ta! Con trai ta! Con trai ta! Ước chi chính ta chết thế cho con! Ôi, Áp-sa-lôm con trai ta! Con trai ta! Con trai ta!” (II Sa-mu-ên 18:33). Cha yêu con như vậy mà con bất hiếu, thật đáng bị phạt.

II. ĐIỀU RĂN THỨ SÁU: CHỚ GIẾT NGƯỜI (c.13).

Thế nào là giết người?

1. Chúa Jêsus giải thích (Ma-thi-ơ 5:21-22).

Ai giận anh em mình thì đáng bị xử tử như tội giết người, vì giận ai là muốn người đó chết mà không dám giết người, sợ bị tù, nếu không thì đã giết. Vì thế, Phao-lô khuyên: “Chớ căm giận cho đến khi mặt trời lặn…” (Ê-phê-sô 4:26-27).

Ai mắng anh em mình là đồ ngu, đồ điên thì đáng bị hình phạt như giết người. Vì khinh anh em mình như vậy chẳng khác cầm dao giết họ. Phao-lô khuyên: “Hãy lấy lẽ kính nhường nhau”, tức tôn trọng nhau (Rô-ma 12:10).

2. Sứ đồ Giăng giải thích.

“Ai ghét anh em mình là kẻ giết người” (IGiăng 3:15). Từ ghét người đến giết người không bao xa. Ca-in giết em mình chỉ vì ghét em.

Không giết người chưa đủ, mà phải cứu người. Không làm hại người chưa đủ mà phải làm lợi cho người. Đừng trễ nải, đừng mệt nhọc mà làm lành cho mọi người để đem họ đến cùng Chúa. Nếu không cứu người là giết người (Ê-xê-chi-ên 3:16-19).

III. ĐIỀU RĂN THỨ BẢY: CHỚ TÀ DÂM (c.14).

1. Tà dâm liên hệ đến hôn nhân gia đình.

Hôn nhân có từ trong vườn Ê-đen, trước khi loài người sa ngã. Tình nghĩa vợ chồng có trước tình nghĩa cha – con, anh – em, vua – tôi. Tà dâm phá hủy hôn nhân là phá hủy gia đình và xã hội. Vì vậy, mọi người phải kính trọng hôn nhân, tức là tránh gian dâm và ngoại tình (Hê-bơ-rơ 13:4).

2. Tà dâm là một tội nặng.

Tà dâm phá hoại thân thể và linh hồn. Nó làm cho con người mất hết danh dự, nhân cách. Sam-sôn không chết trong tay quân đội Phi-li-tin mà chết trong tay thiếu nữ Đa-li-la. Đa-vít không bị hại gì khi chiến đấu với Gô-li-át mà bị hại vô kể vì phạm tội tà dâm với vợ Uri. Hậu quả của tà dâm gây đau đớn cho mình và cho con cái. Những cuộc hôn nhân bất pháp với những đứa con ngoại tình thật khốn nạn (Lu-ca 16:18).

3. Thái độ của Cơ Đốc nhân đối với tội tà dâm.

Hãy nghe Chúa Jêsus dạy (Ma-thi-ơ 5:27-30). Chưa hành động mà đã nghĩ tới cũng đáng tội rồi. Phải đối với tội tà dâm một cách rất nghiêm, triệt để bài trừ bất cứ một điều gì có thể đưa mình đến sự cám dỗ mà phạm tội. Tà dâm chẳng khác nào thờ hình tượng (Ê-phê-sô 5:5; Cô-lô-se 3:5). Tà dâm làm ô uế chi thể của Chúa (ICôr 6:15-18). Chúng ta phải nói như Giô-sép: “Thế nào tôi dám làm điều đại ác dường ấy mà phạm tội cùng Đức Chúa Trời sao?” (Sáng 39:9b). Nếu ai đã phạm tội thì hãy đội tro, mặc bao, kiêng ăn, đau thương thống hối nài xin Chúa tha thứ. Hãy giữ tư tưởng, ngôn ngữ, hành động trong sự tinh khiết trọn vẹn vì thân thể mình là đền thờ của Thánh Linh ngự trị.

IV. ĐIỀU RĂN THỨ TÁM: CHỚ TRỘM CẮP (c.15).

1. Trộm cắp trong gia đình.

Con cái trong nhà trộm cắp thức ăn, tiền bạc của cha mẹ cũng là tội. Điều quan trọng không phải là vật trộm cắp, mà tinh thần trộm cắp. A-đam và Ê-va chỉ ăn một trái cây, song lại trộm cắp trái Chúa cấm, nên phạm tội nặng.

2. Trộm cắp ngoài xã hội.

Người làm công trộm cắp thì giờ, tiền bạc, vật dụng của chủ. Người đi xe lửa không mua vé, nói sụt tuổi để mua phân nửa giá vé, người bán vé xe buýt không bán vé cho bạn mình. Đó đều là những hình thức trộm cắp.

3. Trộm cắp trong giao dịch, mua bán.

Người bán mà cân non, đo thiếu, gian lận là trộm cắp (Châm 11:1; 20:23; Ô-sê 12:8; Mi-chê 6:10-11). Người ta có thể nhờ đó mà làm giàu, song như đa đa ấp trứng không phải là trứng của nó (Giê-rê-mi 17:11). Phao-lô khuyên: “Kẻ vốn hay trộm cắp, đừng trộm cắp nữa” (Ê-phê-sô 4:28). Con ong cho mật, con bò cho sữa, con heo cho thịt. Chúng ta lẽ nào không cho một thứ gì sao?

V. ĐIỀU RĂN THỨ CHÍN: CHỚ LÀM CHỨNG DỐI (c.16).

1. Đừng nói dối nhau.

Khi A-na-nia và Sa-phi-ra nói dối thì bị Phi-e-rơ hỏi: “Sao quỉ Sa-tan đã đầy dẫy lòng ngươi?” (Công vụ 5:3). Sa-tan vốn là kẻ nói dối và là cha của sự nói dối (Giăng 8:44). Ai nói dối là tự nhận mình là con cái của nó.

2. Đừng vu khống ai.

Giê-sa-bên đã dựng nên những chứng dối để giết Na-bốt, rồi đoạt vườn nho của người (ICác 21). Dân Dothái đã lập những nhân chứng vu khống Chúa Jêsus là xui dân làm loạn, cấm nộp thuế cho Sêsa, là tay gian ác, để giết Ngài (Lu-ca 23:2; Giăng 18:30). Xưa nay kẻ làm chứng dối đã làm mất danh dự, đã giết chết biết bao người. Phao-lô khuyên “Phải chừa sự nói dối”.

VI. ĐIỀU RĂN THỨ MƯỜI: CHỚ THAM LAM (c.17).

“Tham lam chẳng khác nào thờ hình tượng” (Cô-lô-se 3:5). Tham lam là kẻ bất hiếu, là kẻ giết người, là kẻ tà dâm, là kẻ trộm cắp, là kẻ làm chứng dối. Không có gì kẻ tham lam không dám làm. Khi một người được cứu là được cứu khỏi tham lam.

Người Dothái hỏi: Ai là kẻ lân cận tôi? Chúa Jêsus đáp bằng câu chuyện người Sa-ma-ri nhân lành. Có một người từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô, bị bọn cướp lột trần, rồi đánh cho gần chết. Một thầy tế lễ đi ngang qua thấy nạn nhân thì đi luôn, người Lê-vi cũng vậy. Chỉ có người Sa-ma-ri dừng lại, lấy dầu và rượu rịt vết thương, đỡ nạn nhân lên con vật mình, đưa đến nhà quán, dặn rằng: “Hãy săn sóc người này, nếu tốn bao nhiêu tôi sẽ trả”. Thế mà bọn cướp nói: “Bất luận những gì của anh là của tôi, tôi lấy hết”. Thầy tế lễ và người Lê-vi nói: “Bất luận những gì của tôi là của tôi, tôi giữ, anh chết mặc anh”. Người Sa-ma-ri nói: “Dầu và rượu của tôi, nhưng cũng là của anh, tôi xức cho anh, con vật của tôi song cũng là của anh, mời anh lên cỡi, tiền bạc của tôi nhưng cũng là của anh, tôi bằng lòng trả hết mọi chi phí cho đến khi anh được lành”. Vậy, người Sa-ma-ri là người lân cận của kẻ bị cướp. Nếu yêu cha mẹ, chúng ta hiếu kính; nếu yêu người, chúng ta không giết ai, không tà dâm, không trộm cắp, không làm chứng dối, không tham lam. Sự yêu thương làm trọn luật pháp!

CÂU HỎI

1. Trong sáu điều răn cuối, điều nào lớn hơn hết?

2. Hãy kể lại câu chuyện những đứa con bất hiếu và những đứa con hiếu kính được ghi trong Kinh Thánh?

3. Chúa giải thích thế nào là giết người?

4. Sứ đồ Giăng giải thích thế nào là giết người?

5. Tại sao tà dâm là một tội nặng?

6. Ta phải đối phó với tội tà dâm thế nào?

7. Thế nào là trộm cắp?

8. Hãy kể những trường hợp nói dối, giết người?

9. Tham lam giống như tội gì?

10. Làm sao để thắng các tội vừa kể trên?

11. Hãy phân tích câu chuyện người Sa-ma-ri nhân lành?

12. Chúng ta là lân cận của ai?

BÀI 43. THÁI ĐỘ CỦA DÂN Y-SƠ-RA-ÊN ĐỐI VỚI THẦN TƯỢNG

KINH THÁNH: Xuất Ê-díp-tô ký 32:1-35.

CÂU GỐC: “Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng nó rằng: Hỡi quỉ Sa-tan, Hãy lui ra! Vì có lời chép rằng: Ngươi phải thờ phượng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi, và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi” (Ma-thi-ơ 4:10).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng bất cứ lúc nào, nơi nào, tín đồ phải thờ lạy một mình Đức Chúa Trời mà thôi.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chúng ta phải tôn Đấng Christ lên hàng đầu

(Phi 2:10-11).

TH:

Sự thờ lạy hình tượng của dân Y-sơ-ra-ên

(Xuất 32:1-35).

TB:

Sự cần yếu phải sẵn sàng

(Ma-thi-ơ 24:42-51).

TT:

Lời báo trước về việc gây cho kẻ khác vấp phạm

(Mat 18:6-10).

TN:

Sự cần yếu phải làm gương tốt

(Rô-ma 14:17-21).

TS:

Sự cần yếu phải làm gương tốt

(I Ti-mô-thê 4:12-16).

TB:

Sự cần yếu phải làm theo ý Chúa

(IGiăng 2:15-17).

Đức Chúa Trời gọi Môi-se lên núi. Trước khi đi, Môi-se nói với các trưởng lão: “Hãy đợi chúng tôi tại đây cho đến chừng nào chúng tôi trở về cùng các ngươi. Này, A-rôn và Hurơ ở lại cùng các ngươi, ai có việc chi hãy hỏi hai người đó” (Xuất 24:14). Thế là Môi-se đã sắp đặt, dặn dò mọi người, mọi việc. Kế đó, Môi-se vào giữa đám mây, lên núi, ở tại đó 40 ngày và 40 đêm.

Nhưng khi dân Y-sơ-ra-ên thấy Môi-se ở trên núi chậm xuống, liền đến nói với A-rôn rằng: “Nào! Hãy làm các thần đi trước chúng tôi, vì về phần Môi-se này là người đã dẫn chúng tôi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, chúng tôi chẳng biết điều chi đã xảy đến cho người rồi”. Môi-se đại diện cho dân Y-sơ-ra-ên đến với Đức Chúa Trời phải là niềm vui của họ, nhưng ngược lại, họ rủa sả ông, kể như ông không còn, và họ muốn có thần khác dẫn dắt họ.

Xưa nay, khi người ta nói rằng: “Chủ ta đến chậm”, thì sanh ra nhiều cám dỗ hiểm nguy như hung bạo, say sưa, ham mê thế gian, lo lắng đời này (Ma-thi-ơ 24:48-52; Lu-ca 21:34). Nên nhớ rằng: “Chúa không chậm trễ như mấy người kia tưởng đâu…” (II Phi-e-rơ 3:9). Ngài chắc sẽ trở lại như Môi-se trở lại.

Trước sự bội đạo và thái độ của dân Y-sơ-ra-ên đối với thần tượng như thế, chúng ta xem xét thái độ của những người có trách nhiệm đối với thần tượng như thế nào.

I. THÁI ĐỘ CỦA ARÔN ĐỐI VỚI THẦN TƯỢNG.

1. Trước mặt dân Y-sơ-ra-ên (32:1-6).

Rất tiếc, chúng ta không nghe A-rôn có lời nào khuyên lơn, quở trách sự sai lầm của dân sự, mà cũng không cầu nguyện để trình dâng việc này lên Chúa. Về sau có lời truyền khẩu của người Y-sơ-ra-ên rằng, chính Hurơ đã phản đối dân Y-sơ-ra-ên và bị họ ném đá chết, vì vậy từ đây không còn nhắc đến Hurơ nữa. Trước bạo hành đó, A-rôn không còn dám nói chi hơn là bảo họ lột vòng vàng nơi tai của vợ, con trai, con gái họ, rồi đem đến cho ông. Có lẽ ông nghĩ rằng, họ không chịu làm vì tiếc của, nhưng họ đã làm ngay. A-rôn dùng các vật ấy đúc một bò con vàng, đặt trước tượng đó một bàn thờ và tuyên bố: “Sáng mai sẽ có lễ tôn trọng Đức Giê-hô-va”. Đó là hình ảnh đã từng thấy tại Ê-díp-tô. Sáng hôm sau, dân sự dậy sớm, dâng tế lễ, ăn uống vui chơi.

2. Trước mặt Môi-se (32:21-24).

Môi-se hỏi A-rôn: “Dân này làm chi anh mà anh xui cho chúng phạm tội nặng dường ấy?” Thiết tưởng, đối với người có trách nhiệm, đây là một câu hỏi có ý quở trách nặng nề. Dầu hoàn cảnh ra sao, xui cho anh em mình phạm tội là điều đáng trách lắm. Một phút mềm lòng đã gây tai hại vô kể. Câu trả lời của A-rôn vừa đổ lỗi cho dân sự, vừa chữa chối một cách gắng gượng. Chúng ta thấy rõ sự gian ác của dân Y-sơ-ra-ên và sự yếu đuối của người hướng dẫn họ. A-rôn không được kêu gọi làm một người hướng dẫn như Môi-se.

II. THÁI ĐỘ CỦA MÔI-SE ĐỐI VỚI THẦN TƯỢNG.

1. Trước mặt dân Y-sơ-ra-ên (32:15-20).

Khi từ trên núi xuống, tay cầm hai bảng chứng, thấy dân Y-sơ-ra-ên nhảy múa xung quanh bò con vàng, Môi-se nổi giận, ném hai bảng đá bể nát. Trước hành động xúc phạm Đức Chúa Trời cách trắng trợn như vậy, Môi-se không thể nào chịu được. Ông lấy bò con vàng, đốt trong lửa, nghiền cho đến thành bụi, rải trên mặt nước, buộc dân Y-sơ-ra-ên phải uống. Ông muốn dân sự biết rằng thần tượng của họ hoàn toàn vô dụng như bụi tro. Ông buộc họ phải uống cái kết quả xấu hổ mà họ đã làm ra. Môi-se đã hành động một cách can đảm, song không thấy dân sự dám ném đá ông như ném đá Hurơ, hoặc dùng áp lực với ông như họ đã dùng với A-rôn, vì họ biết Môi-se là người thế nào đối với họ rồi.

Chúng ta không thể nào thản nhiên, lạnh lùng trước tội lỗi đã làm sỉ nhục Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus đã giận những kẻ ngoan cố, sai lầm, tham ô mà sửa trị họ (Mác 3:5; 10:14; Giăng 2:13-17). Martin Luther cũng không chịu được tà giáo xen vào Hội Thánh, nên phải liều mình đứng ra cải chánh giáo hội. Nguyện chúng ta có thể nói như Đa-vít: “Sự sốt sắng về đền Chúa tiêu nuốt tôi, sự sỉ nhục của kẻ sỉ nhục Chúa đã đổ trên tôi” (Thi Thiên 69:9).

2. Trước mặt Đức Chúa Trời.

Khi Chúa biết dân Y-sơ-ra-ên đã bại hoại, Ngài định tận diệt họ, để rồi từ Môi-se Ngài lập lên một dân khác.

a. Môi-se cầu thay cho dân sự (32:11-14).

Môi-se không vui chút nào khi nghe Chúa định hủy diệt dân Ngài, rồi do ông Ngài lập một dân khác. Vì thế, ông nài xin Chúa nhận dân Y-sơ-ra-ên là dân Ngài mà chính Ngài đã giải phóng họ. Xin Chúa bỏ qua tai họa mà Ngài định giáng trên dân Ngài. Xin Chúa nhớ đến giao ước mà Ngài đã lập với Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp. Môi-se không căn cứ vào điều gì của dân Y-sơ-ra-ên, mà chỉ căn cứ vào sự nhân từ, thương xót, thành tín của Chúa để nài xin.

b. Môi-se cầu thay cho dân Y-sơ-ra-ên lần nữa (32:30-34).

Ông cho dân sự biết rằng họ đã phạm tội rất nặng. Song ông sẽ đến với Chúa mà cầu thay cho họ. Trước mặt Chúa, ông thưa: “Ôi! Dân sự này có phạm một tội trọng, làm cho mình các thần bằng vàng!” Ông không bào chữa tội đó, khiến nó nhẹ hơn, nhưng trước mặt mọi người cũng như trước mặt Chúa, ông thừa nhận là tội rất nặng, tội đáng chết, và ông xin Chúa tha thứ cho họ. Nếu Chúa giết họ, xin Ngài cũng giết ông luôn. Ông không có ý liều mạng với Chúa, song ông thương họ quá chừng. Nếu họ phải chết thì ông không còn muốn sống, vì ông đã bỏ cả châu báu xứ Ê-díp-tô, cùng họ chịu hà hiếp, ngược đãi để dẫn họ ra khỏi cảnh nô lệ mà vào đất hứa. Ông không muốn vào xứ Ca-na-an một mình.

Môi-se tỏ ra rất nghiêm đối với tội lỗi của dân sự, song rất thương yêu họ. Ông muốn đồng sống hoặc đồng chết với họ. Ông không kể đó là tội riêng của họ, song cũng là tội của ông, nên ông hòa mình với họ mà nài xin Chúa tha thứ. Đó là tâm tình của người lãnh đạo Hội Thánh, người phục vụ Chúa. Vì vậy, Đức Chúa Trời chịu cảm động, tha thứ cho dân Y-sơ-ra-ên và bảo Môi-se tiếp tục dẫn họ vào Ca-na-an.

III. THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI LÊVI ĐỐI VỚI THẦN TƯỢNG (32:25-29).

Môi-se thấy dân sự không còn sống trong trật tự, trong kỷ luật mà buông lung trong tội ác vì A-rôn đã không hướng dẫn họ. Không thể dung túng tội lỗi, bất cứ nó ở đâu, dưới hình thức nào, Môi-se liền đứng ra kêu gọi mọi người: “Ai thuộc về Đức Giê-hô-va, hãy đến cùng ta đây!” Hết thảy người Lê-vi đến cùng ông. Ông nhân danh Chúa bảo họ đeo gươm vào mình và giết một cách không thương tiếc những người buông lung. Trong ngày đó có chừng ba ngàn người chết.

Ai cũng phải buồn vì có người chết. Song đó là hậu quả hay là tiền công của tội lỗi. “Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu, vì ai gieo giống chi lại gặt giống ấy!” (Ga-la-ti 6:7). Phao-lô bảo: “Hãy trừ bỏ kẻ gian ác khỏi anh em” (ICôr 5:13). Dầu Chúa đã tha thứ khỏi bị tận diệt, khỏi bị hư mất, song không khỏi bị trừng trị cách nặng nề (II Sa 12:10-12).

Đối với tội lỗi, chúng ta phải thấy như Chúa thấy, phải có thái độ và hành động như Chúa có. Chúa yêu tội nhân, nhưng ghét tội lỗi. Khi dân Y-sơ-ra-ên vây quanh bò con vàng mà ăn uống, vui chơi, nhảy múa thì Môi-se nổi giận, tiêu diệt bò con vàng đó. Hôm nay chúng ta không thờ thần “Bò con” như dân Y-sơ-ra-ên xưa, song còn thờ thần “VÀNG” dưới nhiều hình thức như gian dâm, ô uế, tham lam.

Xin chúng ta đọc lại câu gốc Ma-thi-ơ 4:10.

CÂU HỎI

1. Hoàn cảnh nào đã xui cho dân Y-sơ-ra-ên thờ lạy hình tượng?

2. A-rôn có thái độ nào đối với tội lỗi của dân sự?

3. Môi-se đã quở trách dân Y-sơ-ra-ên về tội gì?

4. Khi thấy dân Y-sơ-ra-ên phạm tội, Môi-se có thái độ nào?

5. Hành động của Môi-se đối với bò con vàng dạy dân Y-sơ-ra-ên hai điều gì?

6. Tại sao ta biết rằng hành động của Môi-se không phải vì ông ghét họ?

7. Trong lời cầu thay của Môi-se, chúng ta thấy ông có tâm tình thế nào?

8. Kết quả của tội lỗi là gì?

9. Mỗi khi phạm tội và ăn năn, Chúa tha thứ khỏi hư mất, song ta phải chịu gì?

10. Chúng ta phải có thái độ nào đối với tội lỗi?

BÀI 44. MÔI-SE THỜ PHƯỢNG ĐỨC CHÚA TRỜI

KINH THÁNH: Xuất Ê-díp-tô ký 33:1-16.

CÂU GỐC: “Hãy tôn Đức Giê-hô-va vinh hiển xứng đáng cho danh Ngài; hãy mặc trang sức thánh mà thờ lạy Đức Giê-hô-va” (Thi Thiên 29:2).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng sự thờ phượng là một việc thánh khiết vì đó là sự tương giao với Đức Chúa Trời chí thánh.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Hãy thờ phượng Đấng Christ vì Ngài là Đức Chúa Trời

(Ma-thi-ơ 14:33).

TH:

Thờ phượng Đức Giê-hô-va

(Xuất 33:1-16).

TB:

Sự thánh khiết của việc thờ phượng

(Thi 29:1-2).

TT:

Sự thờ phượng bằng cầu nguyện

(I Sử 6:1-21).

TN:

Sự thờ phượng bằng thánh ca

(I Sử 16:23-30).

TS:

Sự thờ phượng bằng tạ ơn

(Cô-lô-se 1:12-19).

TB:

Thờ phượng Đấng Christ

(Cô-lô-se 1:27; Khải 3:20).

Sau khi phạm tội thờ hình tượng, dân Y-sơ-ra-ên bị Đức Chúa Trời lên án là một dân cứng cổ, nghĩa là bất tuân, bất trị, nên Ngài không đi với họ nữa. Nghe lời đó, dân sự buồn rầu, khóc lóc, cởi đồ trang sức ra để tỏ lòng ăn năn.

Chúng ta phải tự lột trần sự giàu sang, đẹp đẽ giả tạo như áo nhớp của mình để được Chúa mặc áo cứu rỗi và khoác áo choàng công bình cho (Ê-sai 61:10). “Hãy cảm biết sự khốn nạn mình, hãy đau thương, khóc lóc, hãy đổi cười ra khóc, đổi vui ra buồn. Hãy hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời, thì Ngài sẽ nhắc anh em lên” (Gia-cơ 4:9-10). Đó là chuẩn bị tấm lòng cho xứng đáng để thờ phượng Chúa một cách đẹp lòng Ngài.

I. NƠI THỜ PHƯỢNG ĐỨC CHÚA TRỜI.

Trại quân là nơi dân Y-sơ-ra-ên ở, song họ đã làm cho trại đó ra ô uế bởi tội lỗi, nên Chúa không còn ngự giữa họ, nên Môi-se dựng một trại khác, xa ngoài trại quân. Trại mà Môi-se vừa dựng lên gọi là hội mạc, tức là nơi gặp gỡ của Đức Chúa Trời với dân Ngài. “Phàm ai muốn cầu khẩn Đức Giê-hô-va thì đến hội mạc ở ngoài trại quân”. Việc này Môi-se muốn dạy dân sự hai điều:

1. Đức Chúa Trời là Đấng chí thánh.

Chúa gớm ghê, xa lánh tội lỗi như ánh sáng ghét bóng tối. Muốn thờ phượng Chúa,”mỗi người phải biết giữ thân mình cho thánh sạch và tôn trọng, chẳng bao giờ sa ngã vào tình dục, buông tuồng như người ngoại đạo…” (I Tê 4:4-5). Để được như vậy, chúng ta phải xa lánh những ai, những gì không đẹp lòng Chúa như sự gian ác, tội lỗi, Bêlian, kẻ chẳng tin và hình tượng tà thần. Chúa bảo: “Hãy ra khỏi giữa chúng nó, hãy phân rẽ khỏi chúng nó, đừng đá động đến đồ ô uế, thì Ta sẽ tiếp nhận các ngươi” (IICôr 6:17).

2. Hội mạc là một nơi con người có thể tương giao với Đức Chúa Trời.

Người Y-sơ-ra-ên nào nhận biết tội mình, muốn tự xét để ăn năn và tìm kiếm Chúa thì hãy vào nơi tĩnh mịch. Giăng Báp-tít đã vào đồng vắng để giảng cho những người có lòng khao khát như vậy (Ma-thi-ơ 3:1). Chúa Jêsus cũng dạy: “Khi ngươi cầu nguyện, hãy vào phòng riêng, đóng cửa lại rồi cầu nguyện cha ngươi ở nơi kín nhiệm đó, và Cha ngươi là Đấng thấy trong chỗ kín nhiệm, sẽ thưởng cho ngươi” (Ma-thi-ơ 6:6). Mỗi chúng ta nên tìm thì giờ ở riêng với Chúa tại một nơi tĩnh mịch để thờ phượng Ngài. Vì vậy, đôi khi Chúa đặt chúng ta trên giường bịnh cũng như Ngài đã đặt Ê-li dưới gốc cây, trong hang đá (ICác 19:4,9).

Vừa khi Môi-se vào đó, “thì trụ mây giáng xuống dừng tại cửa trại, và Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se”. Trụ mây là biểu hiện về sự hiện diện của Chúa. Được Chúa ngự đến và ở với là phước biết bao cho Môi-se.

Đối với chúng ta cũng vậy. Dầu số người họp lại đông đúc đến đâu, nơi họp lại đầy đủ tiện nghi đến đâu và sự tổ chức chu đáo đến đâu mà không có sự hiện diện của Chúa thì nguội lạnh, nặng nề, buồn bã, khô khan và hổ thẹn. Song dầu số người họp lại rất ít, nơi họp lại thiếu tiện nghi, sự tổ chức đơn giản mà có sự hiện diện của Chúa thì nơi đó rúng động, “ai nấy đều được đầy dẫy Thánh Linh, giảng đạo Đức Chúa Trời cách dạn dĩ” (Công 4:31).

Vậy, chỗ thờ phượng Chúa phải biệt lập khỏi tội lỗi, bất cứ tại phòng cao hay hiên cửa (Công 1:12-14; 5:12), trong rừng, trên núi hay bờ biển, “Vì hễ nơi nào có hai ba người nhân danh Ta nhóm nhau lại, thì Ta ở giữa họ” (Ma-thi-ơ 18:20). Chúa đã ở với ba thanh niên Hê-bơ-rơ trong lò lửa hực, đã ở với Đa-ni-ên trong hang sư tử, đã ở với Phao-lô và Si-la trong khám tù, đã ở với Ê-tiên trong giờ hấp hối. Nơi có Chúa ngự là nơi thờ phượng, dầu nơi đó là máng cỏ cũng vậy. Bất cứ nơi nào, chúng ta đều phải giữ cho lòng được thánh khiết, thái độ được trang nghiêm.

II. CÁCH THỜ PHƯỢNG ĐỨC CHÚA TRỜI.

1. Nói chuyện với Đức Chúa Trời.

“Đức Giê-hô-va đối diện phán cùng Môi-se như một người nói chuyện cùng bạn hữu mình” (c.11).

Thiết tưởng trong đời của Môi-se, không lúc nào ông cảm thấy sung sướng bằng lúc được nói chuyện với Chúa như với bạn hữu mình. Sau khi được ở với Chúa như vậy trong 40 ngày đêm, Môi-se xuống núi, “chẳng biết da mặt mình sáng rực bởi vì mình hầu chuyện Đức Giê-hô-va… Dân Y-sơ-ra-ên nhìn mặt Môi-se thấy da mặt người sáng rực…” (Xuất 34:29,35). Đó là vinh quang của Chúa chiếu trên ông. Môi-se được ở với Chúa 40 ngày đêm, Phao-lô được đem lên đến từng trời thứ ba, là đặc ân đã làm cho họ có đủ khả năng và tư cách thi hành trọng trách.

Mỗi lần đến với Chúa, không phải luôn luôn cầu xin mà trước hết là tương giao mật thiết với Ngài như con với Cha, như bạn hữu với nhau (Giăng 15:15). Sứ đồ Giăng cho sự tương giao với Chúa là điều làm cho mình được vui mừng trọn vẹn và đầy dẫy (IGiăng 1:3-4). Chúng ta hãy để mặt trần nhìn xem vinh quang của Chúa, chiêm ngưỡng vẻ đẹp thánh khiết, nhân từ tuyệt vời của Ngài. Vì “trước mặt Chúa có trọn sự khoái lạc, tại bên hữu Chúa có điều vui sướng vô cùng” (Thi Thiên 16:11). Hãy yên lặng đủ để nghe Chúa phán, tiếng đó dầu nhỏ nhẹ, song rất rõ ràng và cảm động (ICác 19:12-13).

2. Cầu xin với Đức Chúa Trời.

“Vậy, bây giờ, xin cho tôi biết đường của Chúa, để cho tôi biết Chúa và được ơn trước mặt Ngài” (c.13).

Môi-se muốn Chúa dắt dẫn mình trong đường lối Chúa, trong thánh ý Ngài. Cầu nguyện không có nghĩa là xin Chúa đi theo đường của chúng ta, làm theo ý của chúng ta, vì đường lối và ý tưởng của chúng ta đều xấu xa, bại hoại. Đường lối và ý tưởng của Chúa cao hơn đường lối và ý tưởng của chúng ta như trời cao hơn đất. Vì thế, cầu nguyện là từ chối đường lối mình, tìm kiếm đường lối Chúa để bước theo; là từ chối ý tưởng mình mà tìm kiếm ý tưởng Chúa để vâng phục.

Môi-se muốn Chúa cho ông biết Ngài. Ông đã biết Chúa nhiều từ khi gặp Ngài qua bụi gai cháy, mười tai vạ tại Ê-díp-tô, rẽ Biển Đỏ, vào đồng vắng cho đến ngày đó. Thế mà Môi-se vẫn khao khát muốn biết Chúa nhiều hơn. Vì biết Chúa ít quá nên chúng ta lạnh nhạt với Ngài, thờ phượng sai lầm, phục sự yếu đuối. Càng biết Chúa, chúng ta càng tin Ngài, càng yêu Ngài, càng muốn dâng mọi sự cho Ngài, đến độ không còn tiếc chi với Chúa hết. Phao-lô ước ao “cho tôi được biết Ngài” (Phi-líp 3:10). Phao-lô biết Chúa nhiều hơn chúng ta, kinh nghiệm ân điển và quyền năng của Chúa nhiều hơn chúng ta, nhưng ông vẫn muốn biết Chúa nhiều hơn, kinh nghiệm về ân điển và quyền năng của Chúa nhiều hơn. Vì vậy, không lạ gì mà Phao-lô cũng như Môi-se đều đã tận tụy, quên mình vì Chúa, vì người. Phi-e-rơ khuyên: “Hãy tấn tới trong ân điển và trong sự thông biết Chúa…” (II Phi-e-rơ 3:18).

Môi-se được Chúa nhậm lời cầu xin: “Chính mình Ta sẽ đi cùng ngươi, và Ta sẽ cho ngươi an nghỉ”. Phước biết bao cho Môi-se có Chúa cùng đi! Đó là được Ngài dẫn dắt, giữ gìn, chăm sóc, nên ông được an nghỉ. An nghỉ đây không có nghĩa là ở dưng, nhàn rỗi, vô trách nhiệm, nhưng làm việc một cách hết lòng, hết sức mà tâm thần cũng được an nghỉ, tức là không bối rối, không lo âu, không sợ hãi như gà mất mẹ. Người đến với Chúa cũng như người phục vụ Chúa được an nghỉ như thế.

Thờ phượng Chúa là lắng nghe tiếng Ngài, thưa chuyện với Ngài, chìm trong sự hiện diện của Ngài. Mỗi khi đến nhà thờ, chúng ta nên chuẩn bị lòng mình như chỗ đất tốt, cho hột giống tốt. Sau khi nghe tiếng Chúa thì đừng đứng dậy ra về nếu chưa hứa với Chúa điều mình được dạy dỗ, nghĩa là phải đáp lại tiếng phán của Ngài. Mỗi khi đến nhà thờ phải đem theo của lễ cảm tạ bằng lời ca ngợi, cũng bằng sự dâng hiến tiền bạc của cải như các bác sĩ đã làm. Thờ phượng Chúa như vậy, chúng ta sẽ cảm thấy đời mình sung sướng, không còn ước ao gì hơn là cứ được thờ phượng Ngài.

CÂU HỎI

1. Tại sao Chúa gọi dân Y-sơ-ra-ên là dân cứng cổ?

2. Dấu hiệu nào tỏ ra dân sự ăn năn? Điều đó có nghĩa gì?

3. Tại sao Môi-se dựng lên một trại khác gọi là hội mạc?

4. Việc dựng hội mạc dạy dân Y-sơ-ra-ên hai điều gì?

5. Bất cứ ở đâu, sự thờ phượng Chúa phải thế nào?

6. Điều sung sướng nhất cho đời sống Môi-se là gì?

7. Sau khi ở với Chúa 40 ngày đêm thì nét mặt Môi-se thế nào?

8. Môi-se xin Chúa hai điều gì?

9. Tại sao Môi-se xin Chúa cho ông biết Ngài?

10. Chúa nhậm lời Môi-se thế nào?

11. Được an nghỉ trong Chúa có ý nghĩa gì?

12. Mỗi khi đến nhà thờ chúng ta phải thế nào? Phải đem gì theo?

BÀI 45. DÂN Y-SƠ-RA-ÊN DÂNG LỄ VẬT CHO CHÚA

KINH THÁNH: Xuất Ê-díp-tô ký 35:4-36:7.

CÂU GỐC: “Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em” (Rô-ma 12:1).

MỤC ĐÍCH: Bày tỏ rằng, trong sự dâng hiến có sự vui mừng thật và chúng ta phải dâng chính mình chúng ta cũng như tiền bạc, của cải chúng ta cho Chúa.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Hãy dâng mình cho Đấng Christ

(IICôr 8:5).

TH:

Luật lệ và sự dâng hiến

(Xuất 35:4-19).

TB:

Sự dâng hiến cách vui lòng

(Xuất 35:20-35).

TT:

Sự dâng mình

(Rô-ma 12:1; IICôr 8:5).

TN:

Sự dâng lời ca ngợi

(Thi 50:14,23; Hê-bơ-rơ 13:15).

TS:

Sự dâng tiền bạc

(IICôr 8:1-4; 9:7-8).

TB:

Sự ban thưởng do dâng hiến

(Ma-la-chi 3:10; Châm 3:9-10).

Bài học trước có đề cập đến sự dâng hiến tiền bạc và của cải cho Chúa, vì đó là một phần trong sự thờ phượng. Không ai đã được cứu rỗi mà không muốn thờ phượng Chúa. Không có ai muốn thờ phượng Chúa mà không muốn dâng lễ vật cho Ngài với cả đời sống mình nữa. Ai đã dâng cho Chúa, càng muốn dâng nhiều hơn, vì biết đây là đặc ân Chúa ban cho mình. Không phải chúng ta bị dâng cho Chúa, mà được dâng cho Chúa.

I. ĐỨC CHÚA TRỜI BẢO DÂN Y-SƠ-RA-ÊN DÂNG LỄ VẬT (35:4-35).

Trong đời A-đam, Nô-ê, Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp, Gióp, mỗi người thờ phượng Chúa riêng với gia đình họ, chớ chưa bao giờ họ thờ phượng Chúa chung với người khác. Mỗi gia trưởng là thấy tế lễ của gia đình. Nhưng kể từ khi Môi-se nhận mạng lịnh tại núi Si-na-i, Chúa muốn có sự thờ phượng chung của toàn dân Y-sơ-ra-ên, chỉ có một thầy tế lễ cho cả nước. Đến đời Tân Ước, chỉ có Chúa Jêsus là thầy tế lễ thượng phẩm đời đời cho toàn thể nhân loại. Ngày nay, “tôi tin Hội Thánh phổ thông”, tức là Hội Thánh bao gồm hết thảy Cơ Đốc nhân trên thế giới, nên đừng ai nghĩ rằng tôi không cần đến nhà thờ họp chung với người khác mà ở tại nhà riêng cũng thờ phượng Chúa được. Kinh Thánh chép: “Còn Chúa là thánh, Ngài là Đấng ngự giữa sự khen ngợi của Y-sơ-ra-ên” (Thi Thiên 22:3). Chúa Jêsus phán: “Vì nơi nào có hai ba người, nhơn danh Ta nhóm nhau lại, thì Ta ở giữa họ” (Ma-thi-ơ 18:20).

Đức Chúa Trời phán với Môi-se về dân Y-sơ-ra-ên: “Họ sẽ làm cho Ta một đền thánh và Ta sẽ ở giữa họ” (Xuất 25:8). Chúa truyền cho dân Y-sơ-ra-ên một việc rất quan trọng không việc nào bằng, là làm cho Ngài một đền thánh. Không có việc nào phước hạnh cho dân Y-sơ-ra-ên bằng việc làm cho Chúa một đền thánh, vì tại đó Ngài ở giữa họ.

Đền thánh này là Đền Tạm, không đặt luôn một chỗ mà phải dời đi, vì dân Y-sơ-ra-ên phải di chuyển về đất hứa. Dầu là Đền Tạm thì vẫn là đền thánh của Đức Chúa Trời nên phải làm cho thật đẹp đẽ và quí giá, đúng theo kiểu mẫu Chúa đã dặn bảo Môi-se (Xuất 25:40; 26:30; 27:8). Chính dân Y-sơ-ra-ên phải dâng hiến mọi lễ vật cần thiết cho việc dựng đền tạm.

1. Các lễ vật dâng cho Đức Chúa Trời.

“Hãy lấy một lễ vật chi ở nhà các ngươi mà dâng cho Đức Giê-hô-va” (35:5). Mỗi người phải góp phần bằng cách dâng một vật gì mình có như: Vàng, bạc, đồng, chỉ đủ màu, vải gai mịn, lông dê, da chiên, da cá nược, gỗ si tim, dầu đốt, các thứ hương liệu, bích ngọc và các thứ ngọc khác. Khi ra đi khỏi xứ Ê-díp-tô, Chúa đã cảm động người Ê-díp-tô tặng người Y-sơ-ra-ên những vật bằng bạc, vàng và áo xống (Xuất 11:2; 12:35). Chúa đã chuẩn bị mọi nhu cầu cho dân Y-sơ-ra-ên để sử dụng vào việc Chúa trong lúc này.

2. Các công lao dâng cho Đức Chúa Trời.

Các tráng niên đốn gỗ si tim, các phụ nữ kéo chỉ, dệt vải, nhuộm màu. Đặc biệt là Bếtsalêên và Ôhôliáp được Chúa ban sự khôn ngoan để chạm trổ, điêu khắc trên gỗ, trên vàng, trên ngọc. Họ làm hòm giao ước, nắp thi ân, bàn để bánh trần thiết, bàn thờ xông hương, chân đèn bảy ngọn, dầu đốt, hương liệu, bàn thờ của lễ thiêu, bộ áo, mũ, bảng đeo ngực của thầy tế lễ. Chúa ban cho dân Y-sơ-ra-ên sức lực, khả năng, ân tứ để phục vụ Ngài.

II. CÁCH DÂN Y-SƠ-RA-ÊN DÂNG LỄ VẬT CHO ĐỨC CHÚA TRỜI.

1. Dâng cách tình nguyện.

“Mọi người có lòng cảm động, và mọi người có lòng thành đều đem lễ vật đến dâng cho Đức Giê-hô-va…”(Xuất 35:21,29).

Được Chúa giải phóng khỏi cảnh nô lệ, được Chúa tha thứ khỏi chết về tội thờ lạy hình tượng, lại còn được Chúa ở giữa, dân Y-sơ-ra-ên chịu cảm động, tình nguyện dâng lễ vật cho Ngài, dâng công lao phục vụ Ngài. Phục vụ với lòng biết ơn khác hơn phục vụ chỉ vì bổn phận.

2. Dâng cách rộng rãi.

Dựng đền tạm là một công việc vĩ đại, tốn kém rất nhiều. Hòm giao ước bằng gỗ si tim bọc vàng ròng, nắp thi ân toàn bằng vàng ròng, bàn bánh trần thiết bằng gỗ si tim bọc vàng ròng, dĩa, chén, ly, chậu trên bàn ấy toàn bằng vàng ròng, bàn thờ xông hương bằng gỗ si tim bọc vàng ròng, chân đèn bảy ngọn toàn bằng vàng ròng nặng một ta lâng, tức là hơn 30 ký. Bộ áo của thầy tế lễ thượng phẩm rất đẹp, trên mũ gắn hai viên ngọc, trên bảng đeo ngực gắn mười hai viên ngọc đủ loại.

Dầu nhu cầu để dựng đền tạm nhiều như thế, nhưng dân Y-sơ-ra-ên đã tình nguyện dâng một cách rộng rãi đến nỗi dư dật khiến cho Môi-se phải cho người đi rao từng trại quân rằng: “Bất kỳ người nam hay nữ, chớ làm công việc về lễ vật của nơi thánh nữa! Vậy họ cấm dân sự không cho đem đến vật chi nữa hết, vì đã đủ các vật liệu đặng làm hết thảy công việc, cho đến nỗi còn dư lại” (Xuất 36:6-7). Thế là có người muốn dâng mà chưa dâng kịp, có người muốn dâng thêm nữa mà không còn dịp tiện.

Vua Đa-vít cần sân đạp lúa của Otnan để dựng lên một bàn thờ và dâng của lễ cho Đức Giê-hô-va (I Sử 21:18-27). Trong hoàn cảnh đó, Otnan có thể từ chối, vì nhà nông chỉ có sân đạp lúa là quan trọng. Vả lại bấy giờ là mùa gặt, Otnan đang đạp lúa. Nếu bằng lòng nhường, vì công ích, Otnan có thể đặt một giá cao, Đa-vít cũng phải trả. Song Otnan thưa: (1) Xin vua hãy nhận lấy nó (sân đạp lúa), (2) tôi dâng bò cho vua làm của lễ thiêu, (3) cộ sân đạp lúa làm củi, (4) lúa miến làm của lễ chay, (5) tôi dâng hết cả.

Chắc Đa-vít rất ngạc nhiên, không ngờ trong dân mình có người như vậy. Chưa quyên mà đã dâng, không phải dâng ít, nhưng dâng rất nhiều, dâng đủ cho mọi nhu cầu, Otnan nắm lấy cơ hội tốt nhất, ngại rằng sẽ không có cơ hội khác.

Có ba cách người ta thường dâng lễ vật cho Chúa:

(1) Như đá bị đập bằng những nhát búa nẩy lửa, chỉ văng ra một vài miếng vỡ nho nhỏ. Quyên lắm, phải dâng vài đồng cách gắng gượng.

(2) Như nước trong bộng đá, hút nhẹ ra nước ít, hút mạnh ra nước nhiều. Quyên ít dâng ít, quyên nhiều dâng nhiều.

(3) Như mật trong tàng ong, sẵn sàng chảy ra, chỉ cần nghiêng qua thì có. Muốn dâng hiến và chỉ chờ cơ hội, Otnan là người đó. Phao-lô viết: “Đức Chúa Trời yêu kẻ thí của –dâng hiến- cách vui lòng” (IICôr 9:7).

III. DÂN Y-SƠ-RA-ÊN DÂNG ĐỜI SỐNG CHO ĐỨC CHÚA TRỜI.

Không những dâng của, dâng công một cách vui lòng, rộng rãi mà dân Y-sơ-ra-ên còn một điều đáng khen nữa là vâng lời trọn vẹn, có nghĩa là dâng mình cho Chúa. Vì vậy, nhiều lần Kinh Thánh ghi lại câu nầy: “Dân Y-sơ-ra-ên làm mọi công việc y như mạng lịnh của Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se” (Xuất 39:1,5,7,21,26,29,31-32,42). Môi-se xem xét cũng thấy y như vậy (39:43). Kinh Thánh cũng chép về Môi-se. “Môi-se làm y như mọi điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn mình” (40:16,19,21,23,25,27,29,32).

Chúa đã dặn dò tỉ mỉ, chỉ bảo từng ly từng tí, và được toàn dân Y-sơ-ra-ên vâng lời cách triệt để. Không có một việc nhỏ nào do ý của người mà hết thảy đều do ý Chúa.

Kết quả: “Áng mây bao phủ hội mạc và vinh hiển của Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền tạm” (40:34-35).

Đó là sự thành công của dân Y-sơ-ra-ên vì Chúa đẹp lòng mọi đàng.

CÂU HỎI

1. Người đã được cứu thì muốn làm gì cho Chúa?

2. Chúa bảo dân Y-sơ-ra-ên làm gì? Với mục đích gì?

3. Tại sao gọi là đền tạm?

4. Các lễ vật cần để dựng đền tạm là gì?

5. Các lễ vật đó do đâu mà dân Y-sơ-ra-ên có?

6. Ngoài dâng lễ vật, dân Y-sơ-ra-ên còn dâng gì nữa?

7. Họ đã dâng cho Chúa cách nào?

8. Thuật lại cách Otnan muốn dâng cho Chúa!

9. Người ta thường dâng lễ vật cho Chúa theo những cách nào?

10. Ngoài ra dâng của, dâng công, dân Y-sơ-ra-ên còn làm gì nữa? Kết quả thế nào?

11. Tín hữu đã dâng gì cho Chúa? Dâng cách nào?

BÀI 46. ĐỀN TẠM

KINH THÁNH: Xuất Ê-díp-tô Ký đoạn 25 và 27.

CÂU GỐC: “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta” (Giăng 1:14).

MỤC ĐÍCH: Bày tỏ rằng dân Y-sơ-ra-ên đã tuân theo mạng lịnh của Chúa trong việc dựng đền tạm. Đền tạm ám chỉ về Đấng Christ ngự trị trong đời sống chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ ngự giữa chúng ta

(Giăng 1:14).

TH:

Kiểu mẫu hòm bảng chứng

(Xuất 25:1-22).

TB:

Kiểu mẫu nắp thi ân và chân đèn

(Xuất 25:23-40).

TT:

Kiểu mẫu các vật dụng trong đền thờ

(I Sử 28:11-20).

TN:

Đấng Christ và kiểu mẫu thật

(Hê-bơ-rơ 9:23-24).

TS:

Đấng Christ và kiểu mẫu thật

(I Phi 2:18-25; Phi-líp 2:1-11).

TB:

Đời sống của chúng ta là một kiểu mẫu

(Ma-thi-ơ 5:13-16).

Đức Chúa Trời đã bảo dân Y-sơ-ra-ên dựng đền tạm để Ngài ở giữa họ, hầu cho họ được giao thông với Ngài. Tất cả các vật dùng trong đền tạm đều là tượng trưng về Chúa Jêsus, vì Ngài là “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt ở giữa chúng ta”.

Hôm nay chúng ta học về ý nghĩa tổng quát của đền tạm.

I. ĐỀN TẠM GIỮA DÂN Y-SƠ-RA-ÊN (Dân 2:1-34).

Theo cách đóng trại của dân Y-sơ-ra-ên, thì đền tạm cũng gọi là hội mạc luôn luôn đặt ngay chính giữa, rồi 12 chi phái đóng trại chung quanh theo thứ tự sau đây:

Hướng Đông có các chi phái Giu-đa, Y-sa-ca và Sa-bu-lôn. Hướng Nam có các chi phái, Ru-bên, Si-mê-ôn và Gát. Hướng Tây có các chi phái Ép-ra-im, Ma-na-se và Bên-gia-min. Hướng Bắc có các chi phái Đan, A-se và Nép-ta-li. Mỗi chi phái đóng trại dưới ngọn cờ của mình, đúng vị trí đã định. Như vậy Đức Chúa Trời luôn luôn ở giữa dân Y-sơ-ra-ên và họ rất sung sướng được Ngài ở giữa họ. Để giữ được mối tương giao phước hạnh đó, dân Y-sơ-ra-ên phải trừ khử bất cứ điều gì, người nào ô uế ra khỏi họ (Dân 5:1-4). Hãy nghe lời khuyên tha thiết của Chúa: “Ta sẽ lập chỗ Ta ở giữa các ngươi, tâm hồn Ta không hề ghê gớm các ngươi đâu. Ta sẽ đi giữa các ngươi, làm Đức Chúa Trời các ngươi và các ngươi sẽ làm dân ta” (Lê-vi ký 26:11-12).

Dân Y-sơ-ra-ên sung sướng bao nhiêu, chúng ta cũng sung sướng bấy nhiêu và hơn nữa vì hiện nay không những Đức Chúa Trời ở giữa chúng ta mà Ngài còn ở trong chúng ta (Giăng 14:20; Ê-phê-sô 3:17; Ga-la-ti 4:19). Hội Thánh là đền thờ của Đức Chúa Trời, cá nhân tín đồ là đền thờ của Đức Chúa Trời. Đó là nơi thánh khiết, tôn nghiêm và đáng sợ như đền tạm thời xưa và hơn nữa, vì bây giờ là đền thờ sống. Nếu có ai dám phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời, tức là gây chia rẽ trong Hội Thánh, làm ô uế bản thân, thì Đức Chúa Trời sẽ phá hủy họ (ICôr 3:16-17). Ôi, bị Đức Chúa Trời phá hủy sẽ là nguy hiểm dường nào! “Sự thánh khiết là xứng đáng cho nhà Ngài đến đời đời. Hãy mặc trang sức thánh mà thờ lạy Đức Giê-hô-va; hỡi cả trái đất, khá run sợ trước mặt Ngài” (Thi Thiên 93:5; 96:9).

Xem cách đóng trại của dân Y-sơ-ra-ên, chúng ta biết Đức Chúa Trời muốn dân Ngài sống trong trật tự và kỷ luật. Mỗi gia đình, mỗi chi phái có một vị trí đóng trại. Mỗi người có chỗ của mình phải đứng, có việc phải làm, không ai đụng chạm ai. Vì “Đức Chúa Trời chẳng phải là Chúa sự loạn lạc, bèn là Chúa sự hòa bình”. Ngài muốn “mọi sự đều nên làm cho phải phép và theo thứ tự” (ICôr 14:33,40). Hội Thánh là nơi Đức Chúa Trời ở giữa, cá nhân tín đồ là nơi Đức Chúa Trời ở trong, thì nếp sống hằng ngày của mỗi chúng ta phải luôn luôn có trật tự và kỷ luật.

II. ĐỀN TẠM CHỈ CÓ MỘT CỬA RA VÀO (Xuất 26:36; 27:16; 36:37; 40:28).

Hành lang bao trùm nơi chí thánh và nơi thánh. Chỉ có một cái cửa ra vào cho mỗi nơi. Muốn được gặp Chúa, dân Y-sơ-ra-ên phải vào đền tạm, họ phải qua một cái cửa, không có cửa nào khác. Từ nơi chí thánh, chỉ có một cửa ra nơi thánh; từ nơi thánh chỉ có một cửa ra hành lang, từ hành lang chỉ có một cửa ra ngoài. Từ ngoài chỉ có một cửa vào hành lang, từ hành lang chỉ có một cửa vào nơi thánh, từ nơi thánh chỉ có một cửa vào nơi chí thánh.

BẢN ĐỒ ĐỀN TẠM.

* Nơi chí thánh chỉ có Hòm giao ước.

* Nơi thánh có bàn thờ xông hương, bàn bánh trần thiết và chân đèn bảy ngọn.

Muốn được gặp Đức Chúa Trời để giao thông cùng Ngài, chúng ta phải qua một cửa cứu rỗi là Chúa Jêsus (Giăng 10:1,9; 14:6). Từ khi A-đam và Ê-va phạm tội, cả dòng dõi ông bà bị xa cách Đức Chúa Trời. Ai nấy đều biết có Chúa nên ra sức tìm Ngài, vì muốn được gặp Ngài. Nhân loại đã dùng đồng bóng, phù thủy, thông thiên học, thần bí thuyết, chiêu hồn thuật… để tìm đường lên trời. Kết quả, thay vì được giao thông với Đức Chúa Trời, người ta chỉ được giao thông với ma quỉ. Vì không ai có thể đến cùng Đức Chúa Trời để giao thông cùng Ngài ngoài ra một con đường, một cái cửa là Chúa Jêsus.

Sự chết của Chúa Jêsus là của lễ vãn hồi đem tội nhân về cùng Đức Chúa Trời. Sự chết của Chúa Jêsus là phương pháp duy nhất đem loài người hòa lại với Đức Chúa Trời. Vì vậy, thập tự giá của Chúa Jêsus là địa điểm duy nhất mà loài người được gặp Đức Chúa Trời (Rô-ma 3:24-25; IICôr 5:19; Ê-phê-sô 2:16).

III. ĐỀN TẠM LÀ HÌNH BÓNG VỀ CHÚA JÊSUS (Xuất 26:7-14).

Ngoại trừ hành lang, bên trong đền tạm bao gồm nơi thánh và nơi chí thánh rất là huy hoàng, lộng lẫy, vì tất cả các vật dụng đều toàn bằng vàng ròng hoặc gỗ sitim bọc vàng ròng. Có những tấm màn kết bằng vải gai mịn, màu tím, đỏ điều, đỏ sậm, thêu hình chêrubin cực xảo. Nhưng bên trên và bên ngoài của đền tạm là cửa nơi thánh và nơi chí thánh được phủ bằng ba lớp khác nhau.

(1) Những bức màn bằng lông dê.

(2) Trên những bức màn bằng lông dê, có những bức màn bằng da chiên đực nhuộm đỏ.

(3) Trên những bức màn bằng da chiên đực nhuộm đỏ, có những bức màn bằng da cá nược.

Những người từ bên ngoài nhìn vào đền tạm, chỉ thấy lông dê xù xì, da chiên khô khan, da cá nược xấu xí, không có gì hấp dẫn được. Những kẻ phàm phu tục tử lòng chưa được đổi mới, mắt chưa được mở ra chỉ thấy Chúa Jêsus như thấy bên ngoài của đền tạm. Ê-sai đã dự ngôn: “Người đã lớn lên trước mặt Ngài như một cái chồi, như cái rễ ra từ đất khô: Người chẳng có hình dung, chẳng có sự đẹp đẽ; khi chúng ta thấy người, không có sự tốt đẹp cho chúng ta ưa thích được” (Ê-sai 53:2). Những người Dothái vô tín thấy Chúa Jêsus chỉ là thợ mộc (Mác 6:3), một người vô học, một người Sa-ma-ri đáng khinh, một kẻ bị quỉ ám, một tay gian ác (Giăng 7:15; 8:48; 18:30).

Nhưng khi Na-tha-na-ên, một người Y-sơ-ra-ên thật, được gặp Chúa, ông nói: “Lạy thầy, thầy là Con Đức Chúa Trời, thầy là Vua Y-sơ-ra-ên” (Giăng 1:49). Khi Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng được mục kích sự vinh hiển của Chúa trên núi hóa hình, họ mô tả: “Mặt Ngài sáng lòa như mặt trời, áo Ngài trắng như ánh sáng” (Ma-thi-ơ 17:2). Khi Phao-lô gặp Chúa trên đường Đa-mách, ông “thấy ánh sáng từ trời giáng xuống, chói lói hơn mặt trời”. Không thể chịu nổi ánh sáng đó, ông phải té xuống đất và bị mù suốt ba ngày đêm (Công 9:1-9; 26:12-14). Về sau ông nói: “Tôi cũng coi hết thảy mọi sự như là sự lỗ, vì sự nhận biết Đức Chúa Jêsus Christ là quí hơn hết, Ngài là Chúa tôi, và tôi vì Ngài mà liều bỏ mọi điều lợi đó” (Phi-líp 3:8). Với con mắt xác thịt mà nhìn bên ngoài của thập tự giá, chúng ta chỉ thấy sự yếu đuối, thất bại, buồn bã, đớn đau. Song với con mắt đức tin mà nhìn bên trong của thập tự giá, chúng ta sẽ thấy quyền năng, vinh hiển, nhân từ, khôn ngoan, đắc thắng, hy vọng, vui mừng vô cùng.

Trải qua hai mươi thế kỷ, hàng triệu triệu người đã hết lòng theo Chúa trọn đời vì nhận biết Ngài là Cứu Chúa duy nhất, đẹp đẽ muôn đời.

CÂU HỎI

1. Mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên đóng trại cách nào?

2. Đền tạm luôn luôn được đặt ở đâu?

3. Hôm nay Đức Chúa Trời đang ở đâu?

4. Phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời có nghĩa gì?

5. Đền tạm có những phần nào?

6. Đền tạm có mấy cửa ra vào?

7. Cửa đền tạm chỉ về ai?

8. Bên trong và bên ngoài đền tạm được phủ bằng ba thứ gì?

9. Người Dothái vô tín thấy bên ngoài của Chúa Jêsus ra sao?

10. Bởi đức tin chúng ta sẽ thấy Chúa Jêsus thế nào?

BÀI 47. VẬT DỤNG CỦA ĐỀN TẠM

KINH THÁNH: Xuất Ê-díp-tô Ký 25:1-40.

CÂU GỐC: “Hãy cảm tạ mà vào các cửa Ngài, hãy ngợi khen mà vào hành lang Ngài. Khá cảm tạ Ngài, chúc tụng danh của Ngài” (Thi Thiên 100:4).

MỤC ĐÍCH: Bày tỏ mọi vật dụng trong đền tạm đều chỉ về Đấng Christ và tạo nên một niềm cung kính đối với thân vị, công việc của Ngài và kết quả của công việc ấy.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Một hình ảnh của Đấng Christ

(Hê-bơ-rơ 9:24).

TH:

Sinh tế trọn vẹn

(Xuất 38:1-7; Hê-bơ-rơ 10:1-12).

TB:

Đấng làm nên thánh

(Xuất 38:8; Giăng 15:3; 17:7).

TT:

Cái cửa

(Xuất 27:16; Giăng 10:9).

TN:

Bánh sự sống

(Xuất 25:23-30; Giăng 6:32-58).

TS:

Sự sáng của thế gian

(Xuất 25:31-40; Giăng 8:12; 12:46).

TB:

Đấng cầu thay

(Xuất 30:1-10; Hê-bơ-rơ 7:25).

Trong đền tạm có sáu vật dụng: Trong hành lang có bàn thờ bằng đồng và thùng nước bằng đồng. Trong nơi thánh có bàn bánh trần thiết, chân đèn bảy ngọn và bàn thờ xông hương. Trong nơi chí thánh chỉ có hòm giao ước. Trên hòm giao ước có một nắp thi ân.

Hành lang nằm trong phạm vi đền tạm, nhưng lộ thiên, còn nơi thánh và nơi chí thánh được bao phủ bởi những bức màn bằng lông dê, da chiên đực và da cá nược. Nơi thánh và nơi chí thánh được gọi là hội mạc. Hôm nay chúng ta học về các vật dụng trong đền tạm và ý nghĩa của các vật ấy.

I. NHỮNG VẬT DỤNG Ở NGOÀI HÀNH LANG.

1. Bàn thờ bằng đồng (Xuất 27:1-8; 38:1-7).

Bàn thờ làm bằng gỗ sitim bọc đồng, hình vuông, dài 5 thước (cuđê), ngang 5 thước, cao 3 thước. Phía trong của bàn thờ trống rỗng, bốn phía có bốn khoen để xỏ đòn vào khiêng. Đồ phụ tùng toàn bằng đồng. Trên bàn thờ là nơi dân Y-sơ-ra-ên dâng chiên, bò làm của lễ toàn thiêu cho Đức Chúa Trời, nên cũng gọi là bàn thờ của lễ thiêu.

Đồng chỉ về sự đoán xét. Con sinh tế dâng trên bàn thờ chỉ về Chúa Jêsus tình nguyện mang lấy tội lỗi của chúng ta và bị Đức Chúa Trời đoán xét tại thập tự giá. Cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đổ xuống trên Chúa Jêsus như lửa hừng thiêu đốt con sinh cho đến khi thành tro bụi. Nhìn đống tro tàn, người Y-sơ-ra-ên biết tội lỗi mình đã được giải quyết. Bàn thờ bằng đồng ngày xưa là thập tự giá của Chúa Jêsus ngày này. Chúng ta cũng nhìn Chúa Jêsus trên thập tự giá như vậy (Rô-ma 3:23-26; 8:1). Vì vậy, thập tự giá là địa điểm duy nhất mà tại đó, tội nhân có thể gặp được Đức Chúa Trời và thờ phượng Ngài (Cô-lô-se 1:20).

2. Thùng nước bằng đồng (Xuất 30:17-21; 38:8).

Qua khỏi bàn thờ bằng đồng đến thùng đựng nước. Thùng làm bằng những tấm gương soi của phụ nữ. Thùng có hai công dụng, trước nhất nhìn bên ngoài thùng để thấy mình dơ chỗ nào, sau đó, dùng nước bên trong mà rửa cho sạch trước khi vào hội mạc. Đó là việc hằng ngày của thầy tế lễ.

Muốn đến gần Đức Chúa Trời chí thánh, chúng ta phải được tha thứ mọi quá phạm, song hằng ngày còn phải có nếp sống thánh khiết (Giăng 13:10). Thùng đồng đựng nước chỉ về Kinh Thánh. Lời Chúa là gương soi để chúng ta thấy sự ô uế của mình (Gia-cơ 1:22-25). Lời Chúa cũng là nước nhờ đó chúng ta được rửa sạch (Giăng 15:3; Ê-phê-sô 5:26). Chúng ta là những thầy tế lễ của Đức Chúa Trời (I Phi-e-rơ 2:9; Khải 1:6), nên cũng cần được thánh khiết luôn luôn trong mọi hành vi của mình để có thể đến gần Chúa mà phục vụ Ngài. Muốn vậy, chúng ta phải đọc, học, suy gẫm, làm theo Lời Chúa (Giô-suê 1:8; Thi Thiên 119:9).

II. NHỮNG VẬT DỤNG TRONG NƠI THÁNH.

Qua khỏi thùng nước bằng đồng, các thầy tế lễ đã được sạch. Bây giờ, họ vào nơi thứ nhất của hội mạc là nơi thánh. Tại đây, họ không còn thấy đồng mà chỉ thấy vàng. Trong nơi thánh, về bên phải là:

1. Bàn bánh trần thiết (Xuất 25:23-30; 37:10-16).

Bàn làm bằng gỗ sitim bọc vàng ròng, dài hai thước, ngang một thước, cao một thước rưỡi, chung quanh chạy đường viền vàng, bốn góc có bốn khoen để xỏ đòn khiêng. Các phụ tùng đều bằng vàng ròng. Trên bàn luôn có bánh mới –thay mỗi tuần (Lê 24:5-9).

Bàn này chỉ về Chúa Jêsus. Gỗ sitim là nhân tánh của Ngài, vàng là thần tánh của Ngài. Ngài vừa là con người, vừa là Con Đức Chúa Trời, nên Ngài là Đấng Trung Bảo giữa trời và người (I Ti-mô-thê 2:5).

Bánh trần thiết cũng chỉ về Chúa Jêsus. Bột lọc là sự trọn vẹn của Ngài, nhũ hương là sự dâng mình của Ngài cho Đức Chúa Trời. Bánh trên bàn là thức ăn của thầy tế lễ, Chúa Jêsus là thức ăn của chúng ta (Giăng 6:51). Chúng ta được no nê thỏa mãn luôn luôn trong Chúa Jêsus, như các thầy tế lễ được ăn bánh trần thiết trong nơi thánh.

2. Chân đèn bảy ngọn (Xuất 25:31-40; 37:17-24).

Bên trái của nơi thánh là một chiếc đèn toàn bằng vàng ròng, có bảy nhánh thành bảy ngọn. Các phụ tùng đều bằng vàng ròng. Chiếc đèn này phải làm với một ta lâng vàng. Sự sáng duy nhất trong nơi thánh là chiếc đèn này. Các thầy tế lễ cần có bánh ăn và cũng cần có ánh sáng. Vì thế, đèn phải cháy luôn (Lê 24:1-4).

Chân đèn bảy ngọn chỉ về Chúa Jêsus. Ngài là sự sáng duy nhất của thế gian (Giăng 8:12; Khải 3:1). Nếu không nhờ Chúa, chúng ta đói khát, tối tăm, không biết đường nào phải đi, việc chi phải làm. Để được tương giao với Đức Chúa Trời, chúng ta phải bước đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng (IGiăng 1:7).

3. Bàn thờ xông hương (Xuất 30:1-10; 37:25-28).

Đi sâu vào trong có bàn thờ xông hương bằng gỗ sitim bọc vàng ròng trên mặt. Bàn thờ dài một thước, ngang một thước, cao hai thước, bốn góc có sừng ló ra, có bốn khoen để xỏ đòn vào khiêng. Trên bàn thờ đó, các thầy tế lễ xông hương buổi sáng và buổi tối cho Đức Chúa Trời. Phải xông bằng hương theo cách Chúa dạy để chế ra, chứ không được phép xông hương lạ (Lê 30:34-36).

Xông hương chỉ về sự cầu nguyện (Khải 5:8; 8:3-4). Bàn thờ xông hương chỉ về Chúa Jêsus đã chết và sống lại vì chúng ta và đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời để cầu thay cho chúng ta (Rô-ma 8:34; Hê-bơ-rơ 7:25; IGiăng 2:2). Bàn thờ xông hương đặt trước bức màn vào nơi chí thánh, có nghĩa Chúa Jêsus là Đấng duy nhất đang cầu thay cho chúng ta. Chúng ta cũng không thể nhân danh ai khác ngoài danh Chúa Jêsus mà cầu nguyện, vì làm vậy là dâng bằng hương lạ, bằng lửa lạ (Lê 10:1-11).

III. NHỮNG VẬT DỤNG TRONG NƠI CHÍ THÁNH.

Tại đây chỉ có hòm giao ước, cũng gọi là Hòm Bảng Chứng (Xuất 25:10-22; 37:1-9). Hòm Bảng Chứng làm bằng gỗ sitim bọc vàng ròng cả trong lẫn ngoài, dài hai thước rưỡi, ngang một thước rưỡi và cao một thước rưỡi, bốn góc có bốn khoen để xỏ đòn vào khiêng. Trong hòm đựng hai bảng đá chép mười điều răn, bình mana và cây gậy trổ hoa (Hê-bơ-rơ 9:4).

Trên hòm có nắp thi ân toàn bằng vàng ròng, làm theo kích thước của hòm. Trên nắp thi ân có hai tượng chêrubin. Đó là nơi Đức Chúa Trời gặp Môi-se để truyền các mạng lịnh cho ông.

Hòm giao ước chỉ về Chúa Jêsus, vì một mình Ngài giữ trọn mười điều răn của Đức Chúa Trời thay cho chúng ta cũng như thay cho dân Y-sơ-ra-ên. Nắp thi ân cũng chỉ về Chúa Jêsus, vì Ngài đã dâng mình chịu chết, chuộc tội để thi ân cho chúng ta (Rô-ma 3:24-25). Mỗi năm, thầy tế lễ thượng phẩm chỉ được vào đó một lần để rảy huyết sinh tế chuộc tội trên nắp thi ân. Hòm giao ước cũng chỉ về ngôi của Đức Chúa Trời được gọi là ngôi thi ân (Hê-bơ-rơ 4:16).

Chúa Jêsus đã từ ngôi của Ngài là thiên đàng xuống trần gian, xuống tận thập tự giá vì chúng ta, giống như Ngài từ hòm giao ước ra khỏi nơi chí thánh và nơi thánh, đến ngoài hành lang và tận bàn thờ bằng đồng là nơi con sinh chịu chết. Sau khi sống lại, Chúa Jêsus hướng dẫn tội nhân từ thập tự giá lên thiên đàng, như từ bàn thờ bằng đồng vào thùng nước bằng đồng, tức là đã được tha thứ và rửa sạch, vào nơi thánh, được nuôi mình bằng bánh trần thiết là Lời Chúa, được soi sáng bằng chiếc đèn vàng, được cầu nguyện qua bàn thờ xông hương là giao thông với Đức Chúa Trời tại hòm giao ước (Hê-bơ-rơ 10:9-22). Chúa Jêsus từ nơi chí thánh ra tận bàn thờ của lễ thiêu để đem chúng ta từ đó vào nơi chí thánh. Chúa Jêsus đã từ trời xuống để đem chúng ta từ đất lên trời qua con đường nhuộm huyết của Ngài. Cảm tạ Chúa (Ê-phê-sô 4:9-10).

CÂU HỎI

1. Xin kể lại thứ tự sáu vật dụng trong đền tạm?

2. Vật liệu và ý nghĩa của bàn thờ bằng đồng là gì?

3. Vật liệu và ý nghĩa của thùng nước bằng đồng là gì?

4. Tại sao bàn bánh trần thiết chỉ về Chúa Jêsus?

5. Tại sao chân đèn cũng chỉ về Chúa Jêsus?

6. Bàn thờ xông hương chỉ về ai? Tại sao?

7. Hòm giao ước chỉ về ai?

8. Nắp thi ân chỉ về ai? Vì sao?

9. Theo hình ảnh của đền tạm, Chúa Jêsus đi từ đâu đến đâu để cứu chúng ta?

10. Theo hình ảnh của đền tạm, chúng ta đi từ đâu đến đâu để gặp Đức Chúa Trời?

11. Trên con đường từ đất lên trời như từ bàn thờ bằng đồng đến ngôi thi ân, chúng ta thấy gì?

12. Chúng ta nghĩ thế nào về thân vị và công việc của Chúa Jêsus vì chúng ta?

BÀI 48. TRANG PHỤC CỦA THẦY TẾ LỄ THƯỢNG PHẨM

KINH THÁNH: Xuất Ê-díp-tô Ký 28:1-43.

CÂU GỐC: “Bởi đó Ngài có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy” (Hê-bơ-rơ 7:25).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng chức vụ của A-rôn trong đền tạm là hình bóng về chức vụ của Đấng Christ, thầy tế lễ thượng phẩm của chúng ta trên trời, và chính chúng ta cũng là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ, thầy tế lễ thượng phẩm của chúng ta

(Hê 9:11-12).

TH:

Áo xống của thầy tế lễ thượng phẩm A-rôn

(Xuất 28:1-43).

TB:

Đấng Christ, thầy tế lễ thượng phẩm trên trời

(Hê 4:14-15).

TT:

Đấng Christ, thầy tế lễ thượng phẩm đời đời

(Hê 5:1-10).

TN:

Đấng Christ, thầy tế lễ vô tội

(Hê-bơ-rơ 7:22-23).

TS:

Đấng Christ dâng chính huyết mình

(Hê 9:11-14;19-28).

TB:

Đấng Christ dâng của lễ đời đời

(Hê-bơ-rơ 10:11-22).

Đền tạm đã dựng xong. Bây giờ, cần có người phục vụ Đức Chúa Trời tại đó. Người phục vụ là các thầy tế lễ được Chúa lựa chọn, tức là A-rôn và các con ông, thuộc chi phái Lê-vi, theo luật cha truyền con nối.

Chúng ta biết rằng tất cả những gì thuộc về đền tạm “đều chỉ là bóng của các việc sẽ tới, còn hình thì ở trong Đấng Christ” (Cô-lô-se 2:17). Chúa Jêsus là đền thờ (Giăng 2:19), là thầy tế lễ đời đời (Hê-bơ-rơ 5:5-6; 7:17,21). A-rôn là con người bất toàn và chức vụ bất toàn của ông chỉ làm tượng trưng cho chức vụ toàn bích của Chúa chúng ta. Qua chức vụ thầy tế lễ thượng phẩm của A-rôn trong đền tạm, chúng ta biết được giá trị, hiệu lực và lợi ích của chức vụ tế lễ thượng phẩm theo ban Mên-chi-xê-đéc của Đấng Christ, không thuộc phạm vi dưới đất mà thuộc phạm vi trên trời.

Mỗi năm A-rôn được vào nơi chí thánh một lần, trên tay phải có chậu huyết của con sinh để làm lễ chuộc tội cho mình và cho dân sự (Hê-bơ-rơ 5:1-3). Song Chúa Jêsus đã vào nơi chí thánh trên trời một lần đủ cả, không dùng huyết của sinh tế mà dùng chính huyết Ngài để làm lễ chuộc tội cho chúng ta (Hê-bơ-rơ 7:27; 9:12,24).

Thầy tế lễ A-rôn vì phải chết, nên không thể giữ luôn chức vụ mà phải có người khác thay vào. Nhưng Chúa Jêsus hằng sống, nên giữ chức tế lễ không hề thay đổi cho đến đời đời (Hê-bơ-rơ 7:23-25).

Khi chức tế lễ của chi phái Lê-vi còn, thì đường vào nơi chí thánh chưa mở ra cho đến khi Chúa Jêsus vào nơi chí thánh trên trời, bức màn mới được cất đi (Hê-bơ-rơ 9:8; Ma-thi-ơ 7:21). Kể từ đó, đền tạm và đền thờ không còn nữa, vì không cần thiết. Bây giờ, chúng ta được tự do đến gần Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 10:19-22).

Hôm nay, chúng ta học về A-rôn được lập làm thầy tế lễ thượng phẩm qua bộ y phục tuyệt đẹp mặc vào người của ông. Bộ y phục đó gồm có bốn phần quan trọng: (1) Ê-phót. (2) Bảng đeo ngực. (3) U-rim, Thu-mim. (4) Thẻ bằng vàng.

I. Ê-PHÓT (Xuất 28:6-14).

Đó là phần trên của chiếc áo dài, nó che phủ vai và ngực của thầy tế lễ. Ê-phót làm bằng kim tuyến màu tím, đỏ điều, đỏ sậm, vải gai mịn và thêu tuyệt đẹp. Trên Ê-phót có hai đai vai ở hai bên, trên hai đai có gắn hai viên bích ngọc, trên mỗi viên bích ngọc khắc tên sáu chi phái Y-sơ-ra-ên. Như vậy, khi vào phục sự trong nơi thánh, thầy tế lễ thượng phẩm mang mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên trên vai mình và trình diện họ trước mặt Đức Chúa Trời. Vai là chỗ có sức mạnh để gánh vác, chịu đựng. Dân Y-sơ-ra-ên chưa vào nơi thánh, nhưng A-rôn đã vào và mang danh của họ vào đó.

Chúa Jêsus đã chết và sống lại, vào nơi chí thánh trên trời, mang theo danh của chúng ta trên vai Ngài, nên dầu chúng ta chưa lên trời, song đang được “đồng ngồi trong các nơi trên trời trong Đức Chúa Jêsus Christ” (Ê-phê-sô 2:6). Chính Ngài đã phán: “Bởi đó, ai xưng Ta ra trước mặt thiên hạ, thì Ta cũng sẽ xưng họ trước mặt Cha Ta ở trên trời; còn ai chối Ta trước mặt thiên hạ, thì Ta cũng sẽ chối họ trước mặt Cha Ta ở trên trời” (Ma-thi-ơ 10:32-33).

II. BẢNG ĐEO NGỰC (Xuất 28:15-29).

Bảng đeo ngực cũng làm bằng vật liệu như Ê-phót, hình vuông, mỗi bề một gang tay. Trên bảng đeo ngực gắn bốn hàng ngọc, mỗi hàng ba viên, trên mỗi viên khắc tên một chi phái Y-sơ-ra-ên. Dùng dây chuyền vàng cột bảng đeo ngực vào Ê-phót. Thế thì, khi nào A-rôn vào nơi thánh sẽ mang trên mình tên các con trai Y-sơ-ra-ên, để làm kỷ niệm trước mặt Đức Chúa Trời.

Chúa Jêsus là thầy tế lễ thượng phẩm của chúng ta, Ngài khắc tên chúng ta trên ngực Ngài, vào lòng Ngài, nghĩa là Ngài không bao giờ quên chúng ta, không bao giờ bỏ chúng ta, Ngài luôn luôn trình diện chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời và cầu thay cho chúng ta. Kinh Thánh chép: “Ngài sẽ chăn bầy mình như người chăn chiên; thâu các con chiên con vào cánh tay mình và ẵm vào lòng” (Ê-sai 40:11). Chúa phán: “Ta đã gánh vác các ngươi từ lúc mới sanh, bồng ẵm các ngươi từ trong lòng mẹ. Cho đến chừng các ngươi già cả, đầu râu tóc bạc, Ta cũng sẽ bồng ẵm các ngươi. Ta đã làm ra thì sẽ còn gánh vác các ngươi nữa. Ta sẽ bồng ẵm và giải cứu các ngươi” (Ê-sai 46:3-4). Chúa yêu chúng ta hơn yêu con trai độc nhất của mình, nên Ngài không bao giờ quên chúng ta được. Dầu núi dời, dầu đồi chuyển thì lòng nhân từ thương xót của Chúa đối với chúng ta vẫn y nguyên (Ê-sai 49:15; 54:10).

III. U-RIM VÀ THU-MIM (Xuất 28:30-35).

U-rim và Thu-mim là hai vật được mang ở phía trong bảng đeo ngực của thầy tế lễ thượng phẩm. U-rim và Thu-mim có nghĩa là quang minh và hoàn thiện, tức là sáng suốt, trọn vẹn, đáng tin cậy.

Y-sơ-ra-ên là một quốc gia theo chính thể thần quyền, Đức Chúa Trời là Vua của họ. Mọi nan đề, nghi vấn của quốc gia đều phải cầu hỏi ý muốn của Chúa qua U-rim và Thu-mim, như qua một hội đồng nội các.

Để biết chắc Đức Chúa Trời đã chọn Giô-suê thay thế Môi-se, thầy tế lễ Êlêasa đã cầu hỏi ý Chúa và được Ngài đáp lại qua U-rim (Dân 27:21). Khi Giô-suê qua đời, dân Y-sơ-ra-ên cầu hỏi Đức Giê-hô-va là nhờ U-rim và Thu-mim (Quan 1:1). Khi Sa-mu-ên muốn biết Đa-vít là người được Chúa chọn mà xức dầu cho; khi Sau-lơ cầu hỏi ý Chúa về việc đối phó với dân Phi-li-tin, khi Đa-vít muốn biết Chúa có dùng mình giải cứu địa phận Kêila hay không, thì hết thảy đều nhờ U-rim và Thu-mim (I Sa-mu-ên 10:22; 14:36-42; 23:9-12).

Từ khi đền thờ bị phá hủy, dân Y-sơ-ra-ên bị lưu đày, thì U-rim và Thu-mim không còn được Chúa dùng nữa, mà thay vào đó là các tiên tri được Thánh Linh cảm động bày tỏ cho dân sự ý muốn của Chúa đối với họ. Ngày nay, chúng ta có cả bộ Kinh Thánh trong tay, có Thánh Linh ngự trong lòng để hướng dẫn và giải đáp mọi nan đề của chúng ta.

IV. THẺ BẰNG VÀNG (Xuất 28:36-38).

Một thẻ bằng vàng ròng có khắc chữ: THÁNH CHO ĐỨC GIÊ-HÔ-VA được gắn vào mũ phía trước của thầy tế lễ thượng phẩm. Dầu dân Y-sơ-ra-ên có yếu đuối, lỗi lầm, song thầy tế lễ thượng phẩm, đại diện họ trước mặt Đức Chúa Trời luôn luôn thánh khiết, nên họ được đẹp lòng Ngài.

Chúng ta bối rối, lo âu về những yếu đuối lỗi lầm hằng ngày của mình, nhưng chúng ta được bình an vui vẻ khi nhìn vào thầy tế lễ thượng phẩm của chúng ta, là Đấng thánh khiết, vô tội, không ô uế, biệt khỏi kẻ có tội, được cất lên cao hơn các từng trời (Hê-bơ-rơ 7:26).

Vua Mô-áp muốn tiên tri Ba-la-am rủa sả dân Y-sơ-ra-ên vì những lỗi lầm của họ. Song Đức Chúa Trời không cho phép “vì Ngài chẳng xem tội ác nơi Gia-cốp và không thấy tà vạy trong dân Y-sơ-ra-ên” (Dân 23:21). Phao-lô thách thức: “Ai sẽ kiện kẻ lựa chọn của Đức Chúa Trời? Đức Chúa Trời là Đấng xưng công bình những kẻ ấy. Ai sẽ lên án họ ư? Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng đã chết và đã sống lại nữa. Ngài đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời, cầu nguyện thế cho chúng ta” (Rô-ma 8:33-34).

A-rôn và các con trai ông rất vui mừng vì được xức dầu, được mặc áo đẹp đẽ, vinh hiển để phục vụ Đức Chúa Trời trong đền thánh. Điều đó chỉ về Chúa Jêsus và Hội Thánh Ngài hôm nay. Chúng ta là những thầy tế lễ được Đức Chúa Trời mặc áo cứu rỗi, khoác áo công bình như chàng rể và cô dâu trong ngày lễ cưới (Ê-sai 61:10; Thi Thiên 132:9,16).

CÂU HỎI

1. Tất cả những gì thuộc đền tạm đều là bóng chỉ về ai?

2. Chức vụ bất toàn của A-rôn khác hơn chức vụ toàn bích của Chúa Jêsus ở những điểm nào?

3. Ê-phót của thầy tế lễ mang có ý nghĩa gì?

4. Bảng đeo ngực của thầy tế lễ có ý nghĩa gì?

5. Chúa Jêsus đang làm gì cho chúng ta trên trời?

6. Tại sao mọi việc dân Y-sơ-ra-ên đều phải cầu hỏi ý Chúa?

7. Họ cầu hỏi ý Chúa qua đường lối nào?

8. Ngày nay chúng ta làm sao biết được ý muốn của Chúa?

9. Thẻ bằng vàng thầy tế lễ mang trên mũ có ý nghĩa gì?

10. Chúng ta là thầy tế lễ thì bộ áo của chúng ta là gì?

BÀI 49. ĐỨC CHÚA TRỜI DẪN DẮT DÂN Y-SƠ-RA-ÊN

KINH THÁNH: Dân số ký đoạn 9,10.

CÂU GỐC: “Ngài phán: Các ngươi hãy theo Ta, Ta sẽ cho các ngươi nên tay đánh lưới người” (Ma-thi-ơ 4:19).

MỤC ĐÍCH: Nhắc nhở mỗi chúng ta rằng Chúa mời gọi chúng ta theo Ngài và phục vụ Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Lời mời của Đấng Christ

(Mác 1:16-20).

TH:

Trụ mây dẫn đường

(Dân 9:12-23; 10:11-12,34).

TB:

Lời mời của Môi-se

(Dân 10:29-32).

TT:

Cuộc hành trình của Áp-ra-ham

(Hê-bơ-rơ 11:8-16).

TN:

Hòm giao ước đi trước

(Dân 10:33-36).

TS:

Lời mời của Anh-rê

(Giăng 10:40-42).

TB:

Lời mời của Phi-líp

(Giăng 1:44-46).

Sau một năm ở tại đồng vắng Si-na-i để dân Y-sơ-ra-ên nhận luật pháp, xây dựng đền tạm, tu bộ dân sự, sắp đặt trật tự. Bấy giờ, Chúa truyền cho dân Y-sơ-ra-ên chuẩn bị ra đi hướng về đất hứa là Ca-na-an.

I. DÂN Y-SƠ-RA-ÊN ĐI TRONG SỰ DẪN DẮT CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.

1. Phải giữ lễ Vượt Qua trước khi ra đi (9:1-5).

Trước khi ra đi, Chúa bảo dân Y-sơ-ra-ên giữ lễ Vượt Qua. Lễ này kỷ niệm đêm cuối cùng của họ tại xứ Ê-díp-tô, được thiên sứ Vượt Qua nhà họ, chỉ làm hại các con đầu lòng của mọi nhà người Ê-díp-tô. Họ giữ lễ Vượt Qua ba lần tại ba nơi quan trọng: Tại Edíptô, tại đồng vắng, tại Ca-na-an. Nhờ con sinh lễ Vượt Qua trong Ê-díp-tô, họ được giải phóng khỏi cảnh nô lệ (Xuất 12). Nhờ con sinh lễ Vượt Qua trong đồng vắng, họ được bảo vệ suốt cuộc hành trình đến Ca-na-an (Dân 9). Nhờ con sinh lễ Vượt Qua tại Ghinhganh, họ chiến thắng kẻ thù và chiếm đất hứa (Giô-suê 5).

Chúa Jêsus là con sinh lễ Vượt Qua của chúng ta (ICôr 5:7). Ngài chịu chết trên thập tự giá đúng vào trước ngày lễ Vượt Qua của dân Y-sơ-ra-ên (Lu-ca 22:8-13; Giăng 19:14). Nhờ Chúa, chúng ta được giải phóng khỏi ách nô lệ của ma quỉ và thế gian. Nhờ Chúa, chúng ta được bảo vệ khỏi quyền lực của tội lỗi. Nhờ Chúa, chúng ta được đem vào nơi an nghỉ của Ca-na-an thuộc linh. Vì vậy, chúng ta phải kỷ niệm luôn về sự chết của Ngài (ICôr 11:23-29).

2. Đi theo trụ mây (9:15-23).

Trong đồng vắng, dân Y-sơ-ra-ên không biết đường nào để đi đến Ca-na-an. Họ phải nhờ Chúa dẫn dắt từng bước một. Chúa đã dẫn dắt họ bằng trụ mây. Khi nào trụ mây đang che phủ đền tạm cất lên, họ thu xếp mọi sự, nhổ trại, cột lại và sẵn sàng ra đi. Khi nào, nơi nào trụ mây dừng lại, họ đóng trại tại đó. Họ ở một chỗ lâu hay mau tùy lệnh Chúa ban qua trụ mây. Họ phải tuyệt đối vâng phục. Vì chỉ nơi nào Chúa hướng dẫn, thì Ngài ở đó với họ, nơi nào Ngài ở đó với họ, thì có đủ bánh ăn, nước uống, được bảo vệ an toàn.

Ngày nay Chúa không còn dẫn dắt chúng ta bằng trụ mây trên không, nhưng bằng Thánh Linh trong lòng chúng ta. “Vì anh em là con nên Đức Chúa Trời sai Thánh Linh của Con Ngài vào lòng chúng ta, kêu rằng: Aba! Cha!” (Ga-la-ti 4:6). “Vì hết thảy kẻ nào được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắt dẫn đều là con Đức Chúa Trời” (Rô-ma 8:14). Vậy chúng ta hãy lắng nghe tiếng của Thánh Linh và bước theo sự dẫn dắt của Ngài (Ga-la-ti 5:16,18). Nếu yên lặng và chăm chỉ, chúng ta sẽ nghe tiếng dịu dàng và rõ ràng của Chúa, biết được đường lối Ngài đối với mình. Thánh Linh đã dẫn dắt Phi-líp (Công 8:20,29,39). Thánh Linh đã dẫn dắt Phao-lô (Công 16:6-10). Không có đường nào tốt bằng đường Chúa dẫn dắt, không có chỗ nào tốt bằng chỗ Chúa ở với, không có việc nào tốt bằng việc Chúa đồng công!

3. Đi sau hòm giao ước (10:1-28,33,34).

Dân Y-sơ-ra-ên phải phân biệt khi nghe tiếng loa do các thầy tế lễ thổi lên, mỗi tiếng loa có một hiệu lệnh riêng, khi nghe, ai nấy phải sẵn sàng tuân lịnh. Dân Y-sơ-ra-ên phải sống trong trật tự và kỷ luật; vì đoàn thể của họ hơn một triệu người gồm cả nam phụ lão ấu, nếu không có trật tự và kỷ luật thì cuộc sống không bình an, đẹp đẽ.

Có người sống vô trật tự, vô kỷ luật, và cho rằng tại mình thích tự do. Song đó không phải là tự do, mà là bừa bãi, buông tuồng. Tự do trong trật tự và kỷ luật mới thật là tự do.

Bấy giờ, các chi phái Giu-đa, Y-sa-ca, Sa-bu-lôn ra đi theo ngọn cờ của mình; rồi các chi phái Ru-bên, Si-mê-ôn, Gát đi theo ngọn cờ của mình; kế các chi phái Ép-ra-im, Ma-na-se, Bên-gia-min ra đi theo ngọn cờ của mình; rốt lại, các chi phái Đan, A-se, Nép-ta-li cũng vậy. Con cháu Ghẹtsôn và con cháu Mêrari theo lịnh của các thầy tế lễ tháo gỡ các vật dụng của đền tạm và khiêng đi. Họ phải làm một cách cẩn thận, đúng theo thứ tự (Dân 4:24-33). Hòm giao ước chỉ về sự hiện diện của Chúa phải đi đầu. Chi phái Lê-vi thuộc dòng tế lễ phải đi sau hòm giao ước. Khi đóng trại, hòm giao ước ở với dân sự, nhưng khi ra đi, hòm giao ước đi trước dân sự. Cả hai vừa có tính cách giữ gìn sự tương giao mật thiết, vừa dọn đường cho họ. “Vậy, dân Y-sơ-ra-ên ra đi từ núi Đức Giê-hô-va, đi trong ba ngày đường; hòm giao ước của Đức Giê-hô-va đi trước trong lúc ba ngày đường này, đặng tìm cho dân một nơi an nghỉ” (10:33). Y-sơ-ra-ên là một dân cứng cổ, hay phàn nàn và cố chấp, song Chúa vẫn chăm sóc họ một cách chu đáo, tùy sự nhân từ của Ngài. Chúa lo cho họ bánh ăn, nước uống, chỗ ở, cuộc thờ phượng, tức là cả thể xác lẫn tâm linh. Đúng như Kinh Thánh chép: “Đức Giê-hô-va sẽ cứ dắt đưa ngươi, làm cho ngươi no lòng giữa nơi khô hạn lớn, làm cho cứng mạnh các xương ngươi, ngươi sẽ như vườn năng tưới, như nước suối chẳng hề khô vậy” (Ê-sai 58:11). Chúa Jêsus cũng đã phán: “Hãy theo Ta” (Ma-thi-ơ 4:19,21; 8:22; 9:9).

II. MÔI-SE TIN VÀO SỰ DẪN DẮT CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (10:29-36).

Khi Môi-se và dân Y-sơ-ra-ên bỏ Ê-díp-tô đến đồng vắng Si-na-i thì ông gia của Môi-se có dẫn vợ con ông đến thăm ông. Bấy giờ cũng có anh vợ Môi-se là Hô-báp ra đi nữa. Nhưng khi Môi-se và dân Y-sơ-ra-ên sắp đi khỏi đồng vắng Si-na-i thì Hô-báp không muốn đi theo dân Y-sơ-ra-ên mà muốn trở về xứ mình là Ma-đi-an. Môi-se khuyên mời Hô-báp cùng đi với ông đến xứ thánh và hứa sẽ đối đãi tử tế với Hô-báp.

Chúng ta thấy Môi-se bày tỏ niềm tin của mình là chắc chắn sẽ đến Ca-na-an đượm sữa và mật. Môi-se chia xẻ niềm tin đó với Hô-báp, mời mọc Hô-báp cùng đi với ông vào đất hứa để được dự phần phước hạnh. Nếu chúng ta không vững niềm tin về các phước hạnh lớn lao Chúa hứa cho mình, chúng ta không thể nào chia xẻ cho kẻ khác và mời gọi họ theo Chúa như mình. Ngược lại, chúng ta cũng không thể làm thinh, nếu mình thật có niềm tin đó và hưởng được phần nào rồi (Mác 1:45; 5:20; Lu-ca 9:40).

Hô-báp từ chối lời mời của Môi-se; “Tôi không đi đâu, nhưng tôi sẽ về xứ sở tôi là nơi bà con tôi”. Có lẽ Hô-báp nghĩ rằng đi đến Ca-na-an còn xa quá, đi về thì gần hơn, nên ông chọn con đường sau đó. Nhiều người cũng nghĩ rằng ơn phước Chúa hứa còn xa vời quá, sao bằng những gì hiện có gần đây mà mắt thấy, tay rờ, miệng ăn, lưỡi nếm. Nhưng họ không biết rằng “những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà những sự không thấy được là đời đời không cùng vậy” (IICôr 4:18).

Môi-se mời gọi cách tha thiết hơn, nói rằng nhu cầu của dân Y-sơ-ra-ên khi đi trong đồng vắng là anh, anh sẽ là người đắc dụng giữa vòng chúng tôi. Môi-se nói vậy không có nghĩa là ông nhờ Hô-báp dẫn dắt hơn là nhờ Chúa, hoặc nhờ Chúa không đủ mà phải nhờ Hô-báp nữa. Song ông muốn Hô-báp sẽ là một người phục vụ như bất cứ một người Y-sơ-ra-ên nào, nhưng điều trổi hơn là ông ấy có kinh nghiệm cuộc sống trong đồng vắng, vì ông đã ở gần đó. Môi-se không kể Hô-báp như người ngoại bang nhưng như người đã gia nhập vào dân Y-sơ-ra-ên để được dự phần đất hứa, nên ông có trách nhiệm phải phục vụ. Khi muốn thu phục ai cho công tác nào, chúng ta nên cho họ biết là cần có họ mới thỏa mãn nhu cầu đó.

Chúng ta biết Hô-báp đã bị Môi-se thu phục nên con cháu ông ấy về sau còn ở giữa dân Y-sơ-ra-ên (Quan xét 1:16; 4:11). Trên đường theo Chúa, mời gọi được người khác cùng theo, rồi thu phục được họ tham gia công tác của Hội Thánh là những điều quan trọng. Trong Hội Thánh có nhiều công tác khác nhau, cần có những người có khả năng khác nhau để thi hành. Người hướng dẫn phải nhìn thấy nhu cầu của Hội Thánh, cũng nhìn thấy khả năng của anh em mình và đặt họ đúng chỗ.

CÂU HỎI

1. Lễ Vượt Qua của dân Y-sơ-ra-ên kỷ niệm điều gì?

2. Lễ Tiệc Thánh của chúng ta ngày hôm nay kỷ niệm gì?

3. Trụ mây làm gì cho dân Y-sơ-ra-ên?

4. Ngày nay, Chúa đã dẫn dắt chúng ta bằng cách nào?

5. Tại sao khi đóng trại thì hòm giao ước ở giữa dân Y-sơ-ra-ên, còn khi ra đi thì hòm giao ước đi trước?

6. Hòm giao ước chỉ về ai?

7. Tại sao Môi-se mời Hô-báp cùng đi vào Ca-na-an?

8. Tại sao Hô-báp từ chối?

9. Môi-se đã dùng cách nào thu phục được Hô-báp?

10. Chúng ta có trách nhiệm gì đối với người khác?

BÀI 50. CÁC THÁM TỬ CỦA Y-SƠ-RA-ÊN

KINH THÁNH: Dân số ký 13,14.

CÂU GỐC: “Này, Đức Chúa Trời là sự cứu rỗi tôi, tôi sẽ tin cậy và không sợ hãi, vì Đức Giê-hô-va, chính Đức Giê-hô-va là sức mạnh của tôi, lời ca tụng của tôi, Ngài đã nên sự cứu rỗi tôi” (Ê-sai 12:2).

MỤC ĐÍCH: Chứng tỏ đức tin thật nơi Đức Chúa Trời khiến cho những sự khó khăn trở nên nhỏ bé, và Đấng Christ có thể ban cho chúng ta sự đắc thắng.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Hãy tin cậy Đấng Christ

(Giăng 14:13-14).

TH:

Phúc trình của thám tử

(Dân 13:17-33).

TB:

Nỗi sợ hãi dân khổng lồ

(Dân 13:28,31,33).

TT:

Chàng khổng lồ của sự vô tín

(Hê-bơ-rơ 3:7-19).

TN:

Chàng khổng lồ của sự sợ hãi

(Dân 14:1,3-4).

TS:

Chàng khổng lồ của sự tự tin

(Hê-bơ-rơ 4:1-11).

TB:

Chàng khổng lồ của sự bất mãn

(Dân 14:2,10).

Sau hai năm đi đường, dân Y-sơ-ra-ên đã đến Cađe Banêa, biên giới xứ Ca-na-an. Về sau, Môi-se đã thuật lại giai đoạn nầy: Ông bảo họ: “Kìa, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi phó xứ này cho ngươi; hãy đi lên, chiếm làm sản nghiệp, y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ ngươi đã phán cùng ngươi; chớ ái ngại, chớ kinh khủng. Các ngươi hết thảy bèn lại gần ta và nói rằng: “Hãy sai những người đi trước chúng tôi, đặng do thám xứ và chỉ bảo về đường sá nào chúng tôi phải lên, và các thành chúng tôi phải vào” (Phục 1:21-22).

Chúa thấy rõ lòng dân Y-sơ-ra-ên không nghe Chúa mà nghe người, không tin Chúa mà tin người. Chúa rất buồn, nhưng phải để họ gieo rồi họ sẽ gặt.

I. CÁC THÁM TỬ ĐƯỢC SAI ĐI (13:1-20).

Có 12 thám tử đại diện cho 12 chi phái được sai đi. Từ khi còn ở trong xứ Ê-díp-tô, Đức Chúa Trời đã hứa; “Ta ngự xuống đặng cứu dân này khỏi tay người Ê-díp-tô, dẫn từ xứ ấy lên đến một xứ kia đẹp đẽ và rộng rãi, đượm sữa và mật” (Xuất 3:8). Thế mà bây giờ, họ lại dặn dò 12 thám tử quan sát rồi sẽ cho biết xứ ra sao, dân sự mạnh hay yếu, ít hay nhiều, xứ đó thế nào, tốt hay xấu, đất đai ra sao, màu mỡ hay cằn cỗi, có cây cối hay không (Dân13:18-20). Họ muốn các thám tử xác nhận lại Chúa đã hứa có đúng hay không.

Kinh Thánh là quyển sách lời hứa chứa đựng vô số lời hứa rất quý, rất lớn của Chúa, không những cho tương lai mà cũng cho hiện tại để hàng ngày chúng ta được hưởng. Song cũng như dân Y-sơ-ra-ên, chúng ta không tin, xem như không thật, mà lại tin cậy người này, người khác. Chúng ta đã làm buồn Chúa biết bao! “Ấy vì thế mà Đức Chúa Trời cho chúng nó mắc phải sự lầm lạc, là sự khiến chúng nó tin điều giả dối” (IITê 2:11).

II. CÁC THÁM TỬ PHÚC TRÌNH (13:21-33).

1. Nội dung bản phúc trình.

Sau 40 ngày do thám xứ Ca-na-an, các thám tử trở về mang theo một chùm nho phải hai người khiêng, là bằng chứng xứ đó rất phì nhiêu, đúng như Chúa phán là “đượm sữa và mật”. Cùng đi một đường, cùng làm một việc, cùng ở trong một hoàn cảnh, nhưng 12 thám tử chia ra hai phe, có hai quan điểm tương phản rõ rệt.

– 10 người nói: “Chúng ta không đi lên cự dân này được, vì chúng nó mạnh hơn chúng ta” (13:31).

– 2 người nói: “Chúng ta hãy đi lên và chiếm xứ đi, vì chúng ta thắng hơn được” (13:30).

– 10 người nói: “Xứ mà chúng tôi đã đi khắp đặng do thám, là một xứ nuốt dân sự mình” (13:32).

– 2 người nói: “Vì dân đó sẽ là đồ nuôi chúng ta” (14:9b).

– 10 người nói: “Thành trì thật vững vàng và rất lớn” (13:28).

– 2 người nói: “Bóng che cho họ đã rút đi khỏi họ rồi, và Đức Giê-hô-va ở cùng ta. Chớ sợ chi” (14:9c).

– 10 người nói: “Chúng tôi có thấy kẻ cao lớn, tức là con cháu của Anác, thuộc về giống giềnh giàng, chúng tôi thấy mình khác nào con cào cào, và họ thấy chúng tôi cũng như vậy” (13:33).

– 2 người nói: “Chỉ các ngươi chớ dấy loạn cùng Đức Giê-hô-va và đừng sợ dân của xứ” (14:9a).

Phe này nhìn mọi người, mọi vật qua cặp kính vô tín, nên bi quan, sợ hãi, nản lòng. Phe kia nhìn mọi vật, mọi người qua cặp kính đức tin nên lạc quan, can đảm, vững lòng. Một phe quyết thoái, một phe quyết tiến. Lòng vô tín của 10 thám tử tự làm suy giảm tiềm lực và khả năng của mình, trở thành người tê liệt, đến nỗi chỉ thấy mình bằng con cào cào, và tưởng kẻ thù cũng thấy mình như vậy. Họ chỉ thấy sự khó khăn mà không thấy Chúa Toàn năng. Họ chỉ thấy phân nửa sự thật, nên lời làm chứng của họ bị lệch lạc, khiến cho mọi người hoang mang, sợ hãi.

Ca-lép và Giô-suê cũng thấy rõ thành trì kiên cố, đất đai phì nhiêu, dân sự đông đúc và giềnh giàng. Nhưng họ thấy Đức Chúa Trời trên hết mọi người và mọi vật. Họ thấy tất cả sự khó khăn, nhưng cũng thấy Chúa Toàn năng. Người có đức tin không phải là người đui mù không thấy sự thật trước mắt mình, cũng không phải là người thờ ơ, thế nào xong thôi, tới đâu hay đó. Người có đức tin là người nhìn nhận sự khó khăn, không trốn tránh sự khó khăn như đà điểu chui đầu vào đống cát để trốn kẻ săn, mà sẵn sàng giải quyết sự khó khăn bởi đức tin đến Đức Chúa Trời: “Đức Giê-hô-va ở cùng chúng ta. Chớ sợ chi!” (14:9).

2. Hậu quả của bản phúc trình (14:1-45).

a. Dân Y-sơ-ra-ên dấy loạn (14:1-4).

Họ đã chứng kiến 10 phép lạ tại Ê-díp-tô, Biển Đỏ rẽ ra, hòn đá phun nước, Ma-na từ trời rơi xuống, trụ lửa và trụ mây soi sáng và che phủ hằng ngày. Song bấy giờ đức tin của họ không còn. Chưa thấy người giềnh giàng, mới vừa nghe nói “ông kẹ đó”, họ đã kinh khủng, rụng rời, kêu la inh ỏi, khóc lóc cả đêm như chết đến nơi. Họ đòi trở lại Ê-díp-tô, đòi ném đá Môi-se và A-rôn.

b. Dân Y-sơ-ra-ên bị Chúa sửa phạt (14:10-39).

Đức Chúa Trời nổi thạnh nộ cùng dân Y-sơ-ra-ên, định hủy diệt họ, vì họ đã không tin Ngài, khinh dể Ngài. Môi-se xin Chúa tha tội chết cho họ, và được Chúa nhậm. Song Ngài phạt họ bằng cách không cho một người nào đã được tu bộ, tức là từ 20 tuổi trở lên được vào Ca-na-an. Chỉ có con trẻ mà họ nói rằng sẽ làm một miếng mồi, thì được vào đó. Dân sự phải tiếp tục lưu lạc trong đồng vắng đủ 40 năm thay cho 40 ngày do thám xứ Ca-na-an, cho đến chừng tất cả người lớn đều ngã chết. Như vậy, họ đã đến biên giới xứ Ca-na-an, mà vì không dám vào nên phải cứ lưu lạc 38 năm nữa. Họ đã phạm một tội rất nặng là không tin. Vì không tin, họ khinh dể Ngài, lằm bằm oán trách Ngài liên tiếp 10 lần (Xuất 5:21; 14:11; 15:24; 16:1-2; 17:2-3; 32:1; Dân 11:1; 11:4; 12:1; 14:2). Rồi 10 thám tử đã xui cho dân Y-sơ-ra-ên dấy loạn, phải bị tai vạ mà chết. Tác giả thơ Hê-bơ-rơ đã tóm tắt lý do đó bằng một câu đầy đủ: “Vả, chúng ta thấy những người ấy không thể vào đó được vì cớ không tin” (Hê-bơ-rơ 3:19).

Qua truyện tích trên đây, chúng ta rút ra các bài học.

– Trên đường theo Chúa, “chúng ta bước đi bởi đức tin, chớ chẳng phải bởi mắt thấy” (IICôr 5:7). Bởi đức tin, chúng ta tôn vinh Chúa, bởi mắt thấy, chúng ta sỉ nhục Ngài.

– Đừng nghe lời đe dọa, đồn đãi của ai mà mất hết niềm tin, dầu ma quỉ có gầm thét như sư tử, nó cũng chỉ rình mò xung quanh, tìm người nào có thể nuốt, và đó là người không tin (I Phi-e-rơ 5:8).

– Ca-na-an của dân Y-sơ-ra-ên là sự yên nghỉ của chúng ta trong Chúa Jêsus. Dân Y-sơ-ra-ên đã lang thang trong đồng vắng 40 năm chỉ vì không tin. Những thành trì kiên cố, những con người khổng lồ không có gì đáng sợ. Thành trì kiên cố không hơn Biển đỏ, những con người khổng lồ không hơn đạo binh của Ê-díp-tô, song Chúa đã triệt hạ tất cả. Nếu họ tin, các núi cũng trở nên đồng bằng. Chúng ta đã sống lang thang trong đồng vắng thuộc linh mà không được sự an nghỉ của tâm hồn trong Chúa Jêsus, cũng chỉ vì không tin. Bây giờ, “về phần chúng ta là kẻ đã tin thì vào sự yên nghỉ” (Hê-bơ-rơ 4:3).

– Đừng như 10 thám tử. Đừng thở ra giọng điệu bi quan làm tê liệt Hội Thánh của Chúa. Đừng đầu độc họ bằng lời vu khống, phóng đại. Hãy như Giô-suê và Ca-lép nhìn thẳng vào kẻ thù, và tuyên bố: “Đừng sợ dân của xứ, vì dân đó sẽ làm đồ nuôi chúng ta, bóng che chở họ đã rút đi khỏi họ rồi và Đức Giê-hô-va ở cùng chúng ta” (14:9).

– Không cần theo phe đông, đứng với Chúa là mạnh rồi.

– Không có tên khổng lồ nào ở gần hoặc xa ngăn chận được chúng ta trên đường theo Chúa, chỉ có những tên khổng lồ “ích kỷ, ganh tị”, nhất là tên khổng lồ “vô tín” ở trong chúng ta. Ai nấy phải la lên: “Tôi tin, xin Chúa giúp đỡ trong sự không tin của tôi” (Mác 9:24). “Xin thêm đức tin cho chúng tôi” (Lu-ca 17:5).

CÂU HỎI

1. Ai đề nghị sai các thám tử?

2. Tại sao họ muốn sai các thám tử?

3. Tại sao có 12 thám tử?

4. Bằng cớ nào chứng minh Ca-na-an đượm sữa và mật?

5. Các thám tử chia ra làm mấy phe? Tại sao lại chia ra như vậy?

6. Mỗi phe nói gì với dân chúng?

7. Kết quả sự phúc trình của các thám tử là gì?

8. Các thám tử không tin đã bị hại gì?

9. Xin tóm lược các sự dạy dỗ.

BÀI 51. ĐỨC CHÚA TRỜI CUNG CẤP NHU CẦU CHO DÂN NGÀI

KINH THÁNH: Thi thiên 78:12-29.

CÂU GỐC: “Đức Chúa Trời tôi sẽ làm cho đầy đủ mọi sự cần dùng của anh em y theo sự giàu có của Ngài ở nơi vinh hiển trong Đức Chúa Jêsus Christ” (Phi-líp 4:19).

MỤC ĐÍCH: Bày tỏ rằng Đức Chúa Trời đã cung cấp mọi nhu cầu cho dân Y-sơ-ra-ên thể nào thì Ngài cũng sẽ thỏa mãn mọi nhu cầu của chúng ta trong Đấng Christ thể ấy.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

Chúa Nhật:

Chúa cung cấp một lãnh tụ

Xuất 3.

Thứ Hai:

Chúa cung cấp một phương cách thoát nạn

Xuất 13.

Thứ Ba:

Chúa cung cấp thức ăn

Xuất 16.

Thứ Tư:

Chúa cung cấp nước uống

Xuất 17.

Thứ Năm:

Chúa cung cấp luật pháp

Xuất 20.

Thứ Sáu:

Chúa cung cấp một phương tiện thông công

Xuất 40.

Thứ Bảy:

Chúa cung cấp một chỗ ở

Dân 13.

Chúa Nhật:

Đức Chúa Trời dẫn dắt dân Ngài

Thi thiên 78.

Hôm nay chúng ta ôn lại thể nào Đức Chúa Trời đã cung cấp mọi nhu cầu thuộc thể lẫn thuộc linh cho dân Ngài. Cảm tạ Chúa, Ngài cũng đã và sẽ còn cung cấp cho chúng ta như vậy. Ngài dự liệu mọi sự từ trước khi chúng ta sinh ra cho đến khi chúng ta qua đời.

I. ĐỨC CHÚA TRỜI CUNG CẤP MỘT LÃNH TỤ.

Sau 400 năm kiều ngụ tại Ê-díp-tô, dân Y-sơ-ra-ên sinh sôi nẩy nở và trở nên rất cường thịnh, nhưng không có lãnh tụ, nên ai nấy rời rạc. Trước mặt Pha-ra-ôn, họ chỉ là một đám nô lệ. Khi phải giải phóng dân Y-sơ-ra-ên, Đức Chúa Trời liền kêu gọi một lãnh tụ mà Ngài đã chuẩn bị từ lâu, người đó là Môi-se. Bấy giờ, Môi-se đã được 80 tuổi, người được Chúa trang bị đầy đủ để thi hành một trách nhiệm quan trọng.

Sau khi được kêu gọi, Môi-se tập họp các trưởng lão của dân Y-sơ-ra-ên lại, thuật cho họ rằng Chúa đã nghe lời kêu cầu của họ, nên Ngài sẽ giải phóng họ khỏi xứ Ê-díp-tô để đưa họ đến tận Ca-na-an đượm sữa và mật. Thế là chương trình giải phóng dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu.

Để giải phóng chúng ta, Đức Chúa Trời đã cung cấp một lãnh tụ còn trổi hơn Môi-se vô cùng. Lãnh tụ đó là Đức Chúa Jêsus Christ, Ngài là cội rễ và cuối cùng của đức tin, nên chúng ta cũng phải cứ nhìn xem Ngài trên mọi bước đi như dân Y-sơ-ra-ên đã đối với Môi-se.

II. ĐỨC CHÚA TRỜI CUNG CẤP MỘT PHƯƠNG CÁCH THOÁT NẠN.

Khi đã ra khỏi Ê-díp-tô, Đức Chúa Trời dẫn dắt dân Ngài bằng trụ mây và trụ lửa để có thể đi luôn ngày và đêm về hướng Biển Đỏ. Bấy giờ, Pha-ra-ôn và quần thần của ông lấy làm hối tiếc vì đã cho dân Y-sơ-ra-ên đi, nên họ đem toàn quân lực đuổi theo để bắt lại. Thật vậy, dân Y-sơ-ra-ên kinh hoảng vì lâm vào ngõ bí đường cùng. Hơn một triệu người gồm cả nam, phụ, lão, ấu với bầy súc vật và mọi hành trang phải Vượt Qua Biển Đỏ. Nhưng thuyền bè chẳng có, cầu cống cũng không, dân Y-sơ-ra-ên kêu la tuyệt vọng.

Đức Chúa Trời đã dự liệu cho họ một phương tiện mà họ chưa bao giờ nghĩ đến. Phương tiện đó là Ngài rẽ nước ra hai bên thành hai tấm vách ngăn, mở một con đường khô cạn qua biển để dân Y-sơ-ra-ên đi. Đây là hai tấm vách bằng nước.

Khi quân đội của Pha-ra-ôn thấy vậy, họ cứ rượt theo dân Y-sơ-ra-ên bằng con đường đó. Nhưng người Y-sơ-ra-ên cuối cùng đã lên bờ bên kia biển mà quân đội của Pha-ra-ôn cũng đang lục tục theo sau, thì nước biển lấp lại, chôn vùi cả đạo binh hùng mạnh của Ê-díp-tô dưới biển. Con đường qua Biển Đỏ là sinh lộ của dân Y-sơ-ra-ên, lại là tử lộ của dân Ê-díp-tô. Vì phương tiện đặc biệc đó, Chúa chỉ cung cấp cho dân Ngài chứ không cho kẻ thù Ngài. “Bởi đức tin, dân Y-sơ-ra-ên Vượt Qua Biển Đỏ như đi trên đất khô, còn người Ê-díp-tô thử đi qua, bị nuốt mất tại đó” (Hê-bơ-rơ 11:29).

Ngày nay, nếu cần, Chúa cũng sẵn sàng cung cấp cho chúng ta phương tiện như vậy và những phương tiện tốt đẹp hơn, miễn là chúng ta đi theo sự dẫn dắt của Ngài. Chúa Jêsus phán: “Ngươi sẽ thấy việc lớn hơn việc đó” (Giăng 1:50).

III. ĐỨC CHÚA TRỜI CUNG CẤP THỨC ĂN.

Chúa biết dân Ngài cần có thức ăn, nên Ngài đã dự liệu phương pháp cung cấp cho họ đầy đủ. Phương pháp đó là mưa Ma-na cho họ. Hằng ngày, vào lúc sáng sớm, khi thức dậy, họ chỉ cần ra khỏi trại sẽ thấy trên mặt đất một lớp sương, dưới lớp sương đó, có những hột như hột ngò, sắc trắng như trân châu, mùi như bánh ngọt pha mật ong. Ai ăn hết bao nhiêu trong một ngày thì lượm đủ cho mình, ngày nào cũng vậy, trừ ngày thứ bảy, vì ngày thứ sáu sẽ lượm bằng hai. Đem về, dân Y-sơ-ra-ên xay hoặc giả thành bột rồi làm bánh mà ăn. Họ ăn bánh đó mỗi ngày trong suốt 40 năm liền, cho đến khi vào Ca-na-an (Xuất 16:35).

Chúa Jêsus phán: “Ta là bánh của sự sống; ai đến cùng ta chẳng hề đói, và ai tin Ta chẳng hề khát” (Giăng 6:35).

Chúa là Ma-na của linh hồn chúng ta. Có Ngài, chúng ta hoàn toàn thỏa mãn.

IV. ĐỨC CHÚA TRỜI CUNG CẤP NƯỚC UỐNG.

Đi trong Sa mạc, nước là nhu cầu thiết yếu hơn cả bánh. Thiếu nước rất mau chết, Chúa toàn tri đã dự liệu cho dân Ngài trong trường hợp đó. Khi họ cần nước thì Ngài bảo Môi-se cầm gậy đập hòn đá, nước sẽ tuôn tràn, ai muốn bao nhiêu tùy ý. Dầu nhu cầu của chúng ta có lớn đến đâu, đối với Chúa, vẫn là nhỏ quá. Ngài có thể xây hai bức tường bằng nước như bằng đá, Ngài có thể khiến hòn đá tuôn ra nước như một con sông, thì không còn gì khó cho Ngài nữa (Thi Thiên 78:15-16). Chúa Jêsus là hòn đá của chúng ta, Ngài tuôn tràn nước sống, tức là Thánh Linh cho chúng ta. Nhờ Ngài, chúng ta chẳng hề khát nữa (ICôr 10:4; Giăng 4:14; 7:37-39).

V. ĐỨC CHÚA TRỜI CUNG CẤP LUẬT PHÁP.

Dân Y-sơ-ra-ên thuộc về Chúa nên họ phải biết luật pháp của Ngài để sống trong an ninh và trật tự. Vì vậy, Chúa đã giáng lâm trên núi Si-na-i, ban 10 điều răn cho họ. Ngoài 10 điều răn, Chúa còn thêm những chi tiết để giải thích rất tỉ mỉ về bổn phận của cha mẹ và con cái đối với nhau, anh chị em, bà con họ hàng đối với nhau, chủ tớ đối với nhau. Luật pháp Chúa ban cho dân Y-sơ-ra-ên thật là công bình, chính đáng.

Luật pháp Chúa ban cho chúng ta từ đồi Gô-gô-tha còn trổi hơn luật pháp Ngài ban cho dân Y-sơ-ra-ên từ núi Si-na-i, vì là luật yêu thương. Điều răn của Đấng Christ được gọi là điều răn mới (Giăng 13:34; IGiăng 3:23).

VI. ĐỨC CHÚA TRỜI CUNG CẤP MỘT PHƯƠNG TIỆN THÔNG CÔNG.

Dầu dân Y-sơ-ra-ên đã được giải phóng khỏi cảnh nô lệ, được cung cấp đầy đủ bánh ăn, nước uống, luật pháp, song vẫn chưa thỏa mãn. Còn một nhu cầu trọng yếu hơn hết là sự thông công với Chúa. Vì vậy, Chúa bảo họ dựng một đền tạm để Ngài luôn luôn ở giữa họ. Các nghi lễ trong đền tạm cung cấp cho dân Y-sơ-ra-ên phương tiện được thông công với Chúa. Nhờ đó, cuộc sống của họ có ý nghĩa, có niềm tin, có hy vọng được thỏa mãn.

Ngày nay, Chúa không ở giữa chúng ta qua đền tạm, mà qua Con Độc Sanh của Ngài (Giăng 1:4). Không những Ngài ở giữa chúng ta, mà còn ở trong chúng ta (Giăng 14:20,23; 15:4-5).

VII. ĐỨC CHÚA TRỜI CUNG CẤP MỘT CHỖ Ở.

Chúa biết dân Ngài cần một chỗ ở. Không phải đến đây Ngài mới thấy nhu cầu đó, Ngài đã thấy khi họ chưa sanh ra, chưa thành một dân. Ngay khi Áp-ra-ham chưa có con, Chúa đã phán: “Ta sẽ ban cho dòng dõi ngươi đất này” (Sáng 12:7; 13:15). Chúa bảo trước rằng dòng dõi ông sẽ cư ngụ tại Ê-díp-tô 400 năm, sau đó sẽ đi nhận đất hứa (Sáng 15:13-14). Khi kỳ hạn đã đến, Ngài đưa dân Y-sơ-ra-ên vào Ca-na-an để an cư lập nghiệp như Ngài đã hứa với tổ phụ họ. Đáng lẽ họ đã vào đó sau hai năm đi đường, song họ đã mất thêm 38 năm nữa vì lòng vô tín của họ. Dầu vậy, cuối cùng dân Y-sơ-ra-ên đã vào Ca-na-an là nơi Chúa đã dự bị cho họ.

Về đời này, Đức Chúa Trời đã cho chúng ta yên nghỉ trong Chúa Jêsus, là Ca-na-an thuộc linh của chúng ta (Hê-bơ-rơ 4:4a). Về đời sau, Chúa cung cấp cho chúng ta một chỗ ở đời đời trên trời (Giăng 14:3).

Sự cung cấp của Chúa chu đáo biết bao! Đức Chúa Trời đã không tiếc với chúng ta Con Độc Sanh của Ngài, tức là Ngài không còn tiếc chi nữa cả. “Hết thảy của cha là của con”. Chúng ta phải nói như Phao-lô: “Đức Chúa Trời tôi sẽ làm cho đầy đủ mọi sự cầu dùng của anh em… trong Đức Chúa Jêsus Christ”.

CÂU HỎI

1. Chúa đã dành bao nhiêu năm để đào tạo một lãnh tụ cho dân Y-sơ-ra-ên?

2. Lãnh tụ duy nhất của Hội Thánh là ai?

3. Chúa dùng cách nào để đưa dân Y-sơ-ra-ên qua Biển Đỏ?

4. Chúa dùng cách nào để nuôi dân Y-sơ-ra-ên 40 năm trong đồng vắng?

5. Nước đâu cho dân Y-sơ-ra-ên uống khi họ khát?

6. Tại sao Chúa ban luật pháp cho dân Y-sơ-ra-ên?

7. Nhờ đâu mà dân Y-sơ-ra-ên được thông công với Đức Chúa Trời?

8. Hôm nay, chúng ta nhờ ai mà được thông công với Đức Chúa Trời?

9. Đức Chúa Trời đã dự bị cho dân Y-sơ-ra-ên một chỗ ở từ khi nào?

10. Chỗ ở của chúng ta trong đời này là đâu? Trong đời sau là đâu?

BÀI 52. ĐỨC CHÚA TRỜI DẪN DẮT DÂN NGÀI

KINH THÁNH: Thi thiên 78:32-72.

CÂU GỐC: “Ta sẽ dạy dỗ ngươi, chỉ cho ngươi con đường phải đi, mắt ta sẽ chăm chú ngươi mà khuyên dạy ngươi” (Thi Thiên 32:8).

MỤC ĐÍCH: Dạy chúng ta rằng Đức Chúa Trời luôn luôn dẫn dắt dân Ngài trải qua mọi thời đại.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

Thứ Hai:

Đức Chúa Trời dẫn dắt Apraham

Sáng 12.

Thứ Ba:

Đức Chúa Trời dẫn dắt Y-sác

Sáng 26.

Thứ Tư:

Đức Chúa Trời dẫn dắt Gia-cốp

Sáng 32.

Thứ Năm:

Đức Chúa Trời dẫn dắt Giô-sép

Sáng 45.

Thứ Sáu:

Đức Chúa Trời dẫn dắt Môi-se

Xuất 6:1-13.

Thứ Bảy:

Đức Chúa Trời dẫn dắt dân Ngài

Dân 9:15-23.

CN:

Chúa ban một lãnh tụ

(Xuất 3).

Hôm nay chúng ta ôn lại bài học trong năm qua, để cảm tạ Đức Chúa Trời đã dẫn dắt dân Ngài từng bước một. Không những Chúa đã dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên, Ngài cũng dẫn dắt mỗi chúng ta như vậy, mặc dầu hình thức có khác hơn.

I. ĐỨC CHÚA TRỜI DẪN DẮT ÁP-RA-HAM.

Chúa kêu gọi Áp-ra-ham ra khỏi thành phố U-rơ, xứ Canh-đê, tức là ra khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha ông mà đi đến một xứ Chúa chỉ cho, đó là xứ Ca-na-an. Chúa ban cho ông những lời hứa rất quý, rất lớn, nhất là dòng dõi ông sẽ đông như sao trời, như cát biển. Dầu khi Áp-ra-ham đã già, Sa-ra không còn có thể sinh con thì Chúa toàn năng và thành tín vẫn theo lời hứa của Ngài mà ban cho ông bà một trai là Y-sác.

Khi Y-sác đến tuổi lập gia đình, Áp-ra-ham dặn dò người quản gia trung tín, buộc người ấy phải thề rằng không cưới một cô gái nào trong dân Ca-na-an làm vợ Y-sác. Người ấy phải về quê hương của Áp-ra-ham, tìm trong vòng bà con ông một cô gái để làm vợ Y-sác. Ê-li-ê-se đã tin cậy, vâng lời Áp-ra-ham và thi hành một việc rất khó, nhưng kết quả hoàn toàn tốt đẹp.

Chúa thành tín đời đời về lời hứa của Ngài. Nếu ai tin cậy và vâng lời Chúa thì Ngài sẽ thực hiện mọi lời hứa đó mà dẫn dắt chúng ta “vào các lối công bình vì cớ danh Ngài” (Thi Thiên 23:3).

II. ĐỨC CHÚA TRỜI DẪN DẮT Y-SÁC.

Chúa cũng hứa cho Y-sác một dòng dõi đông như sao trên trời, và muôn dân thế gian sẽ nhờ dòng dõi ông mà được phước. Chúa sẽ ban xứ Ca-na-an cho dòng dõi ông làm cơ nghiệp.

Y-sác có hai con trai là Ê-sau và Gia-cốp. Dầu là con song sinh nhưng anh em không giống nhau. Ê-sau không có đức tin đến Chúa và lời hứa của Ngài, còn Gia-cốp thì có, nên dòng dõi của Apraham, Y-sác và Gia-cốp không phải là dòng dõi xác thịt, mà là dòng dõi đức tin (Rô-ma 9:6-8). Dầu Áp-ra-ham có hai con trai là Ích-ma-ên và Y-sác, Y-sác có hai con trai là Ê-sau và Gia-cốp, song Đức Chúa Trời chỉ thừa nhận Y-sác là con trai Áp-ra-ham, và Gia-cốp là con trai của Y-sác. Chúa luôn luôn tự xưng “Ta là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp”, mà Ngài không hề tự xưng là Đức Chúa Trời của Ích-ma-ên hay Ê-sau.

Con cái của đức tin mới là con cái của Đức Chúa Trời, và dòng dõi của đức tin mới là dòng dõi của Đấng Christ. Chỉ kẻ có đức tin mới hưởng được các lời hứa của Chúa. Nói cách khác, tất cả lời hứa của Chúa đều dành cho kẻ có đức tin.

III. ĐỨC CHÚA TRỜI DẪN DẮT GIA-CỐP.

Y-sác không đi ra xa khỏi xứ Ca-na-an, nhưng Gia-cốp phải đi xa, trở về quê hương của tổ phụ là xứ Mê-sô-bô-ta-mi. Dầu ở trong xứ hay đi ra khỏi xứ đó, tất cả đều được bàn tay Chúa dẫn dắt.

Gia-cốp có 12 con trai: Ru-bên, Si-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa, Y-sa-ca, Sa-bu-lôn, Đan, Nép-ta-li, Gát, A-se, Giô-sép và Bên-gia-min. Khi từ Mê-sô-bô-ta-mi trở về Ca-na-an, Gia-cốp đã được thiên sứ đổi tên thành Y-sơ-ra-ên. Chúa đã dẫn dắt Gia-cốp trên con đường dài đầy gai chông, vì Ngài đã hứa đưa ông đi và cũng đưa ông trở về. Chúa hứa với ông cũng như Ngài đã hứa với Áp-ra-ham và Y-sác, là ban cho dòng dõi ông đông như cát bụi trên mặt đất, và xứ Ca-na-an là cơ nghiệp của họ. Khi đã được 130 tuổi, lúc gặp được Giô-sép, Gia-cốp nói: “Trước cha tưởng chẳng còn thấy được mặt con, nhưng bây giờ Đức Chúa Trời đã làm cho cha thấy được dòng dõi con nữa”. Sau đó, ông tiếp: “Nầy, cha sẽ thác, nhưng Đức Chúa Trời sẽ phù hộ và đem các con trở về xứ của tổ phụ” (Sáng 48:11-21). Đó là sự dẫn dắt của Chúa.

IV. ĐỨC CHÚA TRỜI DẪN DẮT GIÔ-SÉP.

Giô-sép được cha yêu nên bị các anh ghen ghét. Giô-sép nằm chiêm bao và thuật lại nên bị các anh ghen ghét hơn. Giô-sép bị các anh quăng xuống hố, rồi được các anh kéo lên bán cho con buôn với giá 20 miếng bạc. Bọn con buôn đem Giô-sép qua Ê-díp-tô bán cho Phô-ti-pha làm nô lệ. Giô-sép bị vu khống, phải ngồi tù. Cuối cùng, Giô-sép được Pha-ra-ôn, tức hoàng đế Ê-díp-tô phong làm tể tướng. Do sự đói kém, các anh của Giô-sép từ Ca-na-an xuống mua lúa, nên gặp lại Giô-sép. Biết con mình còn sống và đang làm quan tại Ê-díp-tô, Gia-cốp đem cả gia đình xuống đó, theo mạng lịnh của Chúa. Vì lòng ganh ghét, các anh muốn cắt đứt tình thương của cha đối với Giô-sép, muốn phá hủy sự ứng nghiệm các chiêm bao mà Giô-sép đã thấy. Song Giô-sép được Chúa dẫn dắt, nên Ngài đã khiến tất cả mọi sự đó hiệp lại làm ích lợi cho ông và hoàn thành chương trình của Ngài đối với ông.

Bất cứ ai dám tin cậy và phó thác đường lối mình trong tay toàn năng, nhân từ của Chúa, “Ngài sẽ làm thành việc ấy. Ngài sẽ khiến công bình Ngài lộ ra như ánh sáng, và tỏ ra lý đoán người như chánh ngọ. Hãy yên tịnh trước mặt Đức Giê-hô-va và chờ đợi Ngài” (Thi Thiên 37:5-7).

V. ĐỨC CHÚA TRỜI DẪN DẮT DÂN Y-SƠ-RA-ÊN.

Bảy mươi người của gia đình Gia-cốp đã xuống Ê-díp-tô kiều ngụ. Sau 400 năm, con cháu Gia-cốp đã sinh sản cho đến hơn một triệu người. Họ đã trở thành một dân gọi là Y-sơ-ra-ên (Xuất 1:6-7).

Bấy giờ, Pha-ra-ôn của Ê-díp-tô cảm thấy lo sợ vì dân Y-sơ-ra-ên mỗi ngày một đông và mạnh nên quyết định ngăn chận sự phát triển của họ. Ông bắt dân Y-sơ-ra-ên làm lụng khó nhọc lắm, song dân số cứ gia tăng không ngừng. Cuối cùng ông ra lệnh, đàn bà Y-sơ-ra-ên sanh con gái thì để cho sống, còn con trai thì ném xuống sông. Dân Y-sơ-ra-ên chịu không thấu cảnh bất công, tàn ác ấy, nên họ kêu cầu cùng Đức Chúa Trời. Ngài đã nghe và can thiệp.

Đức Chúa Trời kêu gọi Môi-se và A-rôn, sai họ đến Pha-ra-ôn, yêu cầu vua phóng thích dân Y-sơ-ra-ên. Ban đầu, Pha-ra-ôn nhất định giữ dân Y-sơ-ra-ên lại, vì không thèm nhận biết Giê-hô-va là Đức Chúa Trời. Nhưng sau 10 tai vạ Chúa đổ xuống trên dân và xứ Ê-díp-tô, nhất là tai vạ hủy diệt các con đầu lòng của họ trong đêm lễ Vượt Qua, Pha-ra-ôn đã phóng thích dân Y-sơ-ra-ên. Họ đã ra khỏi xứ Ê-díp-tô, qua Biển Đỏ, vào đồng vắng và sau ba tháng đi đường, họ đến núi Si-na-i.

Bấy giờ, họ đã trở thành một dân tộc, một quốc gia. Đã là một quốc gia, phải có luật pháp, nên Đức Chúa Trời ban luật pháp cho họ. Họ theo chính thể thần quyền nên Đức Chúa Trời là vua của họ. Kế đó, Chúa tiếp tục dẫn dắt họ đi đến xứ Ca-na-an, ban ngày bằng trụ mây, ban đêm bằng trụ lửa, như Ngài đã hứa với họ cũng như tổ phụ họ.

Tất cả chúng ta vốn là những nô lệ của ma quỉ trong trần gian tối tăm, tội lỗi này, số phận đương nhiên của chúng ta là nô lệ suốt đời để cuối cùng sẽ đi vào hỏa ngục. Đang khi chúng ta tuyệt vọng, thì Đức Chúa Trời là Đấng giàu lòng thương xót, vì tình yêu lớn, Ngài đã ban Con Độc Sanh từ trời giáng thế chịu chết đền tội chúng ta như chiên con lễ Vượt Qua của dân Y-sơ-ra-ên (ICôr 5:7). Nhờ đó, chúng ta đã được giải phóng khỏi địa vị tội lỗi, khỏi quyền lực tội lỗi, khỏi vòng nô lệ mà được làm con cái, làm dân sự của Đức Chúa Trời, còn Ngài là Cha, là Vua của chúng ta. Hằng ngày, Chúa dẫn dắt chúng ta qua sự hiện diện của Thánh Linh trong lòng chúng ta và qua Lời của Ngài trong Kinh Thánh. Chúa luôn luôn dẫn dắt chúng ta đến đồng cỏ xanh tươi, mé nước bình tịnh. Phước thay cho người nào được Chúa dẫn dắt!

CÂU HỎI

1. Đức Chúa Trời gọi Áp-ra-ham từ đâu đến đâu?

2. Chúa hứa với Áp-ra-ham những điều gì?

3. Cho biết tên các con của Y-sác.

4. Tại sao Đức Chúa Trời không nhận Ngài là Đức Chúa Trời của Ích-ma-ên và Ê-sau?

5. Khi còn trẻ, Gia-cốp bỏ Ca-na-an đi đâu?

6. Lúc tuổi già, Gia-cốp bỏ Ca-na-an đi đâu?

7. Tại sao Giô-sép bị các anh ghen ghét?

8. Đức Chúa Trời đã tể trị mọi sự để thực hiện điều gì cho Giô-sép?

9. Gia đình Gia-cốp có bao nhiêu người? Dòng dõi ông kiều ngụ tại Ê-díp-tô bao nhiêu năm?

10. Đức Chúa Trời đã dùng cách nào để giải phóng dân Y-sơ-ra-ên?

11. Chúa đã dùng cách nào để dẫn dắt họ? Dẫn dắt họ từ đâu đến đâu?

12. Chúng ta phải làm sao để được Chúa dẫn dắt?

Lên đầu trang