(“Giê-ru”: nền, chỉ về Chúa lập vững, Thi 87:1; Ê-sai 14:32; chỉ về phần thuộc linh Hê-bơ-rơ 11:10. “Sa-lem” chỉ về bình yên).
Tên.– Tên rất cổ là Urusalim, vì rất lâu nước Giô-suê vào xứ Ca-na-an, có tìm được tên đó trong thơ mà quan trưởng nơi đó độ năm 1450 T.C., gởi cho vua Ai-cập là Amenophis IV, chúa mình. Trong Kinh Thánh cũng gọi Giê-ru-sa-lem là A-ri-ên, có nghĩa là “lò sưởi của Chúa”; Ê-xê-chi-ên 7:23 có “thành” là Giê-ru-sa-lem so với “đất”. Trong Ê-sai 48:2; 52:1; Nê-hê-mi 11:1; Ma-thi-ơ 4:5; 27:53 cũng gọi là “thành thánh”. Người Hồi giáo hay gọi là Beit el Makdis “nhà thánh”, hay là el Mukaddas, “thánh”, ngày nay người A-rạp gọi cách vắn tắt là el Kuds “nơi thánh tôn trọng”. Tên rất cổ trong Kinh Thánh là Sa-lem (Sáng 14:18). Còn có tên của người Giê-bu-sít đặt là Giê-bu (Giô-suê 15:8; Quan 19:10; xem Giê-bu).
Địa dư.– Thành Giê-ru-sa-lem ở gần chính giữa xứ thánh, và từ miền đó có nước sông chảy xuống làm hai ngả: Tây ra Địa-trung-hải, Đông vào sông Giô-đanh. Ê-xê-chi-ên 5:5 nói: “Ta đặt Giê-ru-sa-lem ở giữa các dân tộc và các nước bao chung quanh nó”, bởi đó có người tin Giê-ru-sa-lem ở chính giữa thế gian. Giê-ru-sa-lem cách xa Địa-trung-hải độ 48 cây số; từ sông Giô-đanh độ 28 cây số; từ Hếp-rôn phía Nam độ 30 cây số, và từ Sa-ma-ri phía Bắc độ 54 cây số. Giê-ru-sa-lem xây ở chỗ bằng phẳng trên chót núi phương Nam: là nơi ở của Đức Giê-hô-va, “Ngài ngó xuống từ nơi ở của Ngài, xem xét hết thảy người ở thế gian” (Thi 33:14); có “Vua cao hơn hết các vua trên đất” (Thi 89:27). Thành cao hơn mặt biển Địa-trung-hải: về phần Si-ôn cao độ 785 thước, về phần Mô-ri-a cao độ 750 thước. Giữa thành phố có trũng Tyropoeon, song ngày nay đã lấp nhiều rồi, có chỗ lấp tới 25 thước. Giới hạn chung quanh thành, phía Tây nam núi là trũng của con trai Hi-nôm (Giô-suê 15:8); phía Đông là trũng Xết-rôn, cũng gọi là “trũng Giô-sa-phát”, cả hai đều sâu và dốc độ 170 thước. Thành ở chỗ hai trũng ôm lại, nên hình thế khó rộng hơn được, trừ ra phía Bắc hơi dốc. Quanh thành, như có chép trong Thi 125:2, có núi cao hơn: về phía Đông có núi Ô-li-ve cao hơn độ 100 thước; phía Tây nam có núi, theo tên truyền khẩu là “Núi người đồng mưu ác”, cao hơn độ 50 thước, v.v…, vậy chỉ có thể thấy thành rõ từ phía Đông nam.
Theo sử gia Josèphe (Năm 37-95 S.C), chỗ đất phẳng của thành chia là 5 núi hoặc 5 khu:
Núi Tây nam là “Thành Thượng” và “Nơi chợ Thượng”; cũng gọi là “Đồn lũy Đa-vít”. Từ thế kỷ thứ IV S.C., núi nầy cũng gọi là “Núi Si-ôn”, và trên đó, ngày nay có “Tháp Đa-vít”, xây trên hai đền của hai tháp lớn của Hê-rốt. Ngày nay có những người Arméniens ở khu nầy.
Khu Tây bắc là “Khu Bắc của thành”. Dầu trong Tân Cựu Ước, dường như không có tên khác, nhưng có học giả nói là “Akra”. Ngày nay là một khu riêng cho người theo Cơ đốc giáo, và chính giữa có nhà thờ gọi là “Nhà thờ Mộ Thánh”.
Núi Đông bắc là “Bezetha” hoặc “Thành mới”, ngày nay không có đông dân cư mấy, là người Hồi giáo, trong Kinh Thánh thì không có tên gì.
Núi Trung đông là “Núi thứ ba”, là chỗ xưa xây cất Đền thờ (IISử-ký 3:1), và trước vốn là “sân đạp lúa của A-rau-na, người Giê-bu-sít” (IISa-mu-ên 24:16). Có người nói đó là núi Mô-ri-a mà Áp-ra-ham dâng con mình là Y-sác (Sáng 22:2).
Núi Đông nam mà Josèphe gọi là “Akra” và “Thành Hạ”; song mặc dầu, người ta có khi gọi núi nầy là “Thành Đa-vít”, “Si-ôn” và “Ophel”. Ngày nay khu nầy riêng cho người Giu-đa ở.
Sử gia Josèphe mô tả các vách thành như sau nầy:
Vách thành thứ nhứt.– Khi Đa-vít chiếm lấy đồn lũy Giê-bu, thì cho xây tường chung quanh thành (IISa-mu-ên 5:9; ISử-ký 11:8). Sa-lô-môn và các vua sau cũng thêm và sửa lại, đến nỗi tường bắt đầu nơi tháp Hippicus, qua gần cửa Jaffa (hiện nay), phía Tây (IISử-ký 26:9), gần trũng Hi-nôm phía Nam (Giê-rê-mi 19:2), gần ao Si-lô-ê gần vườn vua (IICác-vua 25:4), gồm cả Ophel (IISử-ký 27:3; 33:14), và phía Bắc tới nơi phía Đông đền thờ (IICác-vua 14:13; IISử-ký 33:14; Giê-rê-mi 31:38). Tường nầy được gọi là tường Đa-vít và Sa-lô-môn.
Vách thành thứ hai.– Tường nầy bắt đầu từ cửa Gennath (vườn), trong tường cũ, có lẽ gần tháp Hippicus, và đi vòng qua khu Bắc của thành, gồm cả trũng lớn Tyropoeon, dẫn đến cửa Đa-mách, và cứ chạy tiếp về phía Nam tới đồn lũy Antonia. Hướng vách thành thứ hai nầy cũng là một với hướng các vách thành ngày nay, và ít nhứt có một vài phần tường xây trên tường phần Bắc ở phía Tây của khu Haram (Ophel). Vách tường nầy được gọi là tường Ê-xê-chia.
Vách thành thứ ba.– Vua Hê-rốt c-ríp-ba, năm 42 S.C., xây thành nầy vì có ý muốn làm cho thành ăn rộng ra các ngoại ô về phía Bắc. Tường thành bắt đầu từ tháp Hippicus, và tới đến tháp Psephinus cho đến đối ngang với dinh thự hoàng hậu Hélène; kế đến qua những lăng tẩm các vua, trở về phía Nam đến ruộng Thợ Nện, tới thành cũ ở Kít-sôn. Tường nầy dài độ 6 cây số, và được gọi là tường c-ríp-ba.
Tên các cửa thành.– Nê-hê-mi độ 445 năm T.C. tu bổ các vách thành bị phá bởi Nê-bu-cát-nết-sa (Nê-hê-mi 2:13,15; 4:2,7; 6:15), thì chép tên các cửa như sau nầy: Vách thành đó bắt đầu từ cửa Chiên (3:1) gần ao Bê-tết-đa (Giăng 5:2), ở đó ngày nay gọi là cửa thánh Ê-tiên, đi từ Đông bắc có cửa Cá (3:3 và Sô-phô-ni 1:10), sau đến cửa Cũ phía Tây (3:6), cứ đi qua vách rộng (3:8), tháp lò (3:11), sau tới cửa Trũng (3:13; so 2:13,15), ở góc phía Tây nam (3:13), sau đến cửa Phân mặt Nam (3:13,14), kế đó đến cửa Giếng, gần ao Si-lô-ê trong vườn vua góc Đông nam (3:15), cho đến cái thang từ thành Đa-vít trở xuống (3:15), cứ đi ngược phía Bắc đến cửa Nước (3:26), qua các mộ địa nhà Đa-vít, qua nhà các dõng sĩ (3:16), sau qua các kho chứa binh khí góc tường nhà thầy tế lễ thượng phẩm Ê-li-a-síp (3:20), cứ đi nữa đến cửa Ngựa (3:28), phía Đông, hướng về trũng Kít-sôn phía Bắc, cứ đi đến cửa Đông (3:29) và cửa Mi-phơ-cát, có lẽ là cửa về Đền thờ dâng của lễ thiêu chuộc tội (3:21), và cuối cùng về cửa Chiên.
Còn hai cửa Nê-hê-mi không có chép trong đoạn 3; đó là cửa Góc ở góc Tây bắc (IICác-vua 14:13; IISử-ký 26:9; so Xa-cha-ri 14:10; và Giê-rê-mi 31:38); và cửa Ép-ra-im ở phía Bắc của thành (Nê-hê-mi 8:16; 12:39), có lẽ cũng gọi là cửa Bên-gia-min (Giê-rê-mi 38:7; Xa-cha-ri 14:10), và sau dân bị làm phu tù trở về xây lại tường thì gọi là cửa Đa-mách. Cũng có chép mấy cửa nữa: cửa Giô-suê (IICác-vua 23:8); cửa giữa hai vách thành (IICác-vua 25:4), cửa Suối (Nê-hê-mi 12:37), cửa Ngục (Nê-hê-mi 12:39); cửa Gốm (Giê-rê-mi 19:2); cửa thứ nhứt (Xa-cha-ri 14:10).
Các ao các bể.– Như nhiều thành xây trên núi, Giê-ru-sa-lem khó đủ nước dùng luôn. Ở ngoài thành phía Đông, ở đáy phần trên của trũng Kít-rôn, có nguồn từ khe hòn đá phun lên nhiều nước. Chắc vào thời rất cổ, người ta ăn ở trong các hang đá tự đục ra bên Tây trũng đó, cần phải nhờ nước chảy xuống trũng để sống. Chừng 2.000 năm T.C., người ta cố sức xây tường bằng đá để làm ao sâu đựng nhiều nước luôn. Từ khi đó, người ta đục đường hầm trong núi bên Tây ao đó để dẫn nước vào núi Đông nam “Ophel”, vậy người trong thành có thể dùng được. Ngày nay vẫn còn hai thứ đường hầm: Một bởi người Ca-na-an làm, nhờ đường hầm đó Đa-vít phái Giô-áp với lính mình bí mật đi lên đánh người Ghê-bu-sít trong đồn lũy trên núi (ISử-ký 11:6); và một đường hầm khác gọi là đường hầm Si-lô-ê, ấy chắc là vua Ê-xê-chia làm sau mấy thế kỷ như chép trong IICác-vua 20:20, “Ê-xê-chia xây hồ chứa nước, và kênh dẫn nước vào trong thành”. Ngoài hai đường hầm dẫn nước đó, còn có rất ít là hai đường hầm nữa.
Những nơi có hồ và ao trong thành Giê-ru-sa-lem là quan hệ. Phần nhiều phải nhờ các đường hầm nói trên mới có nước. Ngoài vách thành về phía Tây là những hồ Trên và hồ Dưới từ Ghi-hôn: hồ trên gần núi Si-ôn, hồ dưới gần phía Tây bắc đường đi Jaffa. Đến chỗ hai trũng Hi-nôm và Giô-sa-phát gặp nhau thì gọi là Ên-Rô-ghên, tức là giếng của Gióp ở giữa vườn vua. Nội trong tường thành, ngay phía Bắc Si-ôn, trước có hồ Ê-xê-chia. Ở dưới Đền thờ (theo sách Apocryphe, Ecclus. 1:3) có một cái ao lớn chắc cũng nhờ một đường hầm mà có nước. “Hồ vua” ở góc Nam núi Mô-ri-a, có sự lạ là nước lên xuống, người ta tưởng là nhờ ao dưới Đền thờ. Từ cống lớn dưới đất đó, người ta tưởng nước chảy qua hòn đá đã đục dẫn nước đến ao Si-lô-ê. Theo truyền khẩu có lẽ ao Bê-tết-đa ở phía Bắc núi Mô-ri-a, ngày nay gọi là Birket Israil. Có người nói Giê-ru-sa-lem như một cái tổ ong, vì có những hang đá tự nhiên hay là những hóc đá đục để làm những bể đựng nước, mộ bia, và để lấy đá.
Vườn, phố, nhà.– Ngày xưa, ngoài thành phía Đông nam có vườn vua Đa-vít và Sa-lô-môn, dường như ở chỗ hai trũng Kít-rôn và Hi-nôm gặp nhau (Nê-hê-mi 3:15). Phía Đông có núi Ô-li-ve, vườn Ghết-sê-ma-nê ở dưới chơn núi đó. Phía Bắc, vốn có nhiều vườn hoa và cây ăn quả. Song năm 70 S.C., hoàng tử Tít phá hết để chiếm lấy thành. Ta biết xưa có cửa Gennath (nghĩa: vườn) để đến các vườn đó. Về các đường phố trong thành xưa chỉ có chép một ít: IISử-ký 29:4 chép nơi phố phía Đông; 32:6 chép phố bên cửa thành; Nê-hê-mi 8:1,3 chép phố ở cửa Nước; E-xơ-ra 10:9 chép phố ở đàng trước đền, và Nê-hê-mi 8:16 chép nơi phố của cửa Ép-ra-im. Chắc tiếng “nơi” đó chỉ về những khoảng đất trống trong các cửa thành để người ta họp lại được. Song có đường phố có tên thật như Giê-rê-mi 37:21 chép phố hàng bánh. Về nhà không có nói là kiểu nào, chỉ biết mái nhà bằng phẳng vì chép người ta trèo lên được.
Dân cư.– Dầu Giê-ru-sa-lem là kinh đô xứ Pha-lê-tin và là thành phố rất danh tiếng trên thế giới, nhưng so sánh với dân cư một thành phố lớn ngày nay thì không mấy. Có người tin trong hai vách tường thứ nhứt và thứ hai thì có độ 750.000 thước vuông, và tường thứ ba thì có 1.500.000 thước vuông. Vậy cộng cả là độ 2.250.000 thước vuông. Nếu tính số dân cư thành cũ, 1 người 50 thước thì có 15.000 người, hay 30 thước mỗi người là 25.000 người. Và trong thành mới, một người ở 100 thước thì được thêm lên 15.000 người nữa. Vậy số dân cư Giê-ru-sa-lem trong những ngày rất thịnh vượng thì dân số là 30.000 người đến 45.000 người, song chắc không hơn 50.000 người. Lại tính lúc có những ngày lễ thì có thêm 30.000 người nữa cả thảy được 60.000 hay 80.000 người. Song phải nhớ theo sử gia Tacite số dân là 600.000 người và theo Josèphe là 1.200.000 người. Lúc hoàng tử Tít chiếm lấy thành (70 năm S.C.), người ta tính số dân được bấy nhiêu. Có người tính năm 1930 S.C., dân số chừng 65.000, quá nửa là người Giu-đa, vẫn thêm luôn, và đứng đầu về thương mãi.
Ngày nay, các nhà cửa và đài kỷ niệm rất hay cho người du lịch vì có ba vách tường, đền Hồi giáo nơi xưa có Đền thờ, tháp vua tên là Hippicus, Phasaelus, Psephinus và Mariamne, cầu bắc qua trũng Tyropoeon; đồn lũy Baris hay Antonia, Ophel và mộ địa các vua. Từ 1858 S.C., ở phía Tây bắc thành cũ có thêm ngoại ô rộng và ở đó có nhiều nhà thờ và nhà chung của Cơ đốc giáo. Có đường cái đi tới hải cảng Jaffa, Bết-lê-hem, Hếp-rôn và Giê-ri-cô, lại có đường xe lửa đi Jaffa và sang nước Ai-cập.
Lịch sử.– Nay chia lịch sử thành làm sáu bậc mà thuật như dưới:
Người thượng cổ xây dựng thành Giê-ru-sa-lem và thời đại xây cất thành, nay không thể khảo cứu được, vì đời đã lâu, việc đã chìm đắm vào vực thời gian rồi. Sáng 14:18 chép rằng Mên-chi-xê-đéc, làm vua Sa-lem. Thi 76:2 chép Đền Tạm Ngài ở Sa-lem. Sa-lem dường tức là Giê-ru-sa-lem vậy. Khi người Y-sơ-ra-ên vào xứ Ca-na-an, Giê-ru-sa-lem vẫn là một cái thành lớn đã có hiệu vua rồi (Giô-suê 10:5). Kịp khi chín chi phái chia đất, thành Giê-ru-sa-lem thuộc về chi phái Bên-gia-min. Song thành vẫn do người Giê-bu-sít ở trước chiếm giữ, chớ người Bên-gia-min chưa lấy được; nên lại gọi là Giê-bu (Giô-suê 18:28; Quan 1:21). Về sau người Giu-đa đánh lấy thành Giê-ru-sa-lem: giết dân, đốt thành. Ấy là lần thứ nhứt trong 17 lần kể đến khi dân La-mã vây thành (70 S.C.). Song thành vẫn thuộc về người Giê-bu-sít, chớ người Giu-đa cũng chưa chiếm được (Giô-suê 15:63; Quan 1:8; 19:11, coi thêm Giê-bu).
Thuật về đời Đa-vít và Sa-lô-môn trị vì.– Vua Đa-vít đem quân đánh thành Giê-ru-sa-lem, người Giê-bu-sít cậy có vách thành bền vững, bèn chê rằng hạng người đui què cũng đủ đuổi được vua, vua quyết không vào thành được. Đa-vít dùng cách tháo nước vào thành mà chiếm lấy thành; nên đặt tên lại cho thành là thành Đa-vít. Từ tháp Mi-lô trở vào trong, vua xây vách thành tứ vi (IISa-mu-ên 5:6,9; ISử-ký 11:6). Về sau vua rước hòm giao ước đến Si-hôn và dâng của lễ (IISa-mu-ên 6:). Vua lại mua sân đạp lúa của A-rau-na để xây bàn thờ (IISa-mu-ên 24:16-25) tức là cái nền của Đền thờ sau nầy vậy.
Đến khi Đa-vít băng, Sa-lô-môn lên trị vì, mới xây Đền thờ và cung vua (ICác-vua 6:; 7:). Lại xây tháp Mi-lô để làm bình phong che đỡ (ICác-vua 9:15). Song Đền thờ và cung vua đều ở ngoài thành Đa-vít; nên phải xây vách thành khác và thường phải tu bổ thêm.
Thuật về thời đại của người Y-sơ-ra-ên chia nước.– Từ sau khi mười chi phái chia ra thành nước, thành Giê-ru-sa-lem trở nên kinh đô của Giu-đa, nhiều lần bị vua nước khác xâm lấn và đánh phá (ICác-vua 14:25; IISử-ký 21:16,17; 24:23; 25:23). Dầu các vua Ô-xia, Ê-xê-chi-ên và Ma-na-se có xây tháp, đào hào, đắp vách để ngăn ngừa quân địch (IISử-ký 26:9,10,15; 32:2,4,5; 33:14); song cuối cùng cũng bị nước Ba-by-lôn đánh hãm: cướp của báu, bắt dân chúng, chỉ để dân nghèo sót lại thôi (IICác-vua 24:; 25:).
Thuật về thời đại của người Giu-đa trở về nước cũ.– Năm 538 T.C., người Giu-đa về từ Ba-by-lôn, xây lại thành Giê-ru-sa-lem, không khác gì trước. (Về việc nầy, xin coi thêm hai sách E-xơ-ra và Nê-hê-mi). Khi xây nhằm năm 444 T.C., chưa đầy hai tháng thì xong (Nê-hê-mi 6:15). Đến năm 332 T.C., thành thuộc về vua Alexandre le Grand ở Ma-xê-đoan. Khi vua Alexandre le Grand băng thì Ptolémée, vua Ai-cập, nhằm ngày Sa bát, đánh cướp lấy thành. Đến năm 172 T.C., người Sy-ri đuổi người Ai-cập mà cướp lấy. Năm 168 T.C., người Sy-ri, là Antiochus Épiphane, ngược đãi người Giu-đa, đổi tên Đền thờ làm miễu, thờ hình tượng, dâng heo làm của lễ, đến nỗi gợi lòng công phẫn của người Giu-đa. Thế rồi có người tên là Judas Macchabée, đem dân chúng nổi lên chống lại, xua đuổi người Sy-ri. Đến năm 165 T.C., Đền thờ lại thuộc về người Giu-đa. Qua hai năm sau, thành Giê-ru-sa-lem lại bị người Sy-ri đánh hãm. Đến năm 139 T.C. Simon Macchabée lên ngôi lại đuổi hết thảy người Sy-ri. Năm 63 T.C., họ Macchabée đánh lẫn nhau. Vua La-mã là Pompée bèn đánh hãm thành Giê-ru-sa-lem, hủy phá vách thành, truất bỏ Macchabée. Từ đó, thành Giê-ru-sa-lem thuộc về nước La-mã, nước nầy bèn đặt quân canh giữ. Năm 47 T.C. La-mã phong Antipater làm vua chư hầu ở Giê-ru-sa-lem.
Thuật về thời đại Giu-đa thuộc La-mã.– Khi Hê-rốt đại đế, con của Antipater, lên trị vì, vinh quang thành Giê-ru-sa-lem lại lớn hơn trong đời vua Sa-lô-môn. Hê-rốt đại đế xây cung điện rất nhiều trong có cung vua mới, rạp hát lớn, ba sở hộ vệ to; lại sửa sang xây dựng Đền thờ mới một cách đặc biệt. Năm 45 S.C., c-ríp-ba I làm vua chư hầu xây riêng một thành kiên cố ở phía Bắc thành cũ. Khi con ông là c-ríp-ba II làm vua chư hầu lên trị vì (Công 25:; 26:), thì việc làm nhà ở bốn phía Đền thờ đã xong. Năm 66 S.C, người Giu-đa dấy lên nghịch cùng La-mã; La-mã bèn đem quân đến đánh dẹp. Năm 70 S.C., thành Giê-ru-sa-lem bị quân La-mã vây ròng rã 143 ngày: thành và Đền thờ đều bị hủy hết! Người Giu-đa phải tản lạc ra khắp các nước. Sau đó hơn 60 năm, không còn một dân cư nào ở lại trong thành trừ ra một đội quân lính La-mã đóng giữ. Năm 136 S.C., La-mã lại xây một thành lên trên thành Giê-ru-sa-lem cũ, đổi tên là AElia Capitolina. Họ xây một cái miếu thờ thần Giu-bi-tê lên trên nền cũ Đền thờ xưa, và cấm người Giu-đa không được vào thành đó. Mãi đến năm 333 S.C., La-mã mới cho phép người Giu-đa mỗi năm được một lần vào khóc suốt một ngày ở nền cũ Đền thờ. Năm 312 S.C., vua La-mã, là Constantin, thờ phượng Chúa Jêsus, lập đạo Ngài làm quốc giáo. Từ đó mới hằng có tín đồ Đấng Christ tới thăm viếng Giê-ru-sa-lem, xem chỗ Chúa Jêsus chịu nạn. Vua Constantin cũng xây ở đó một cái nhà thờ đồ sộ, đẹp đẽ lắm. Năm 614 S.C., vua Phe-rơ-sơ phá hết nhà thờ của đạo Chúa Jêsus. Năm 637 S.C. Giáo chủ đạo Hồi hồi, tên là Omar. Đánh hãm được thành Giê-ru-sa-lem.
Thuật về thời đại đạo Hồi hồi chiếm cứ thành Giê-ru-sa-lem.– Sau khi chiếm thành Giê-ru-sa-lem, người đạo Hồi hồi liền đổi Đền thờ làm chùa Thanh chơn, cấm người Giu-đa và người theo Chúa Jêsus bước chơn vào chỗ đó. Sau, họ lại bắt bớ tín đồ Đấng Christ nữa. Vậy nên, ở châu Âu, phàm những người nào theo đạo Đấng Christ đều tổ chức dội quân Thập tự để đi đánh người đạo Hồi hồi. Năm 1099 S.C., Thập tự quân mới vào được thành Giê-ru-sa-lem. Đến năm 1187, vua Ai-cập, là Saladin, lại chiếm giữ thành Giê-ru-sa-lem. Năm 1299 S.C., nước Ai-cập đem thành Giê-ru-sa-lem biếu nước Đức; người đạo Đấng Christ mới có thể trở về đó được. Đến năm 1244 S.C., giống Thát-đát giết hết người ở thành Giê-ru-sa-lem; người Đức không có cách nào để cứu chữa; thành đó lại thuộc về xứ Ai-cập. Năm 1517 S.C., nước Thổ-nhĩ-kỳ và nước Ai-cập đánh nhau: Ai-cập thua vỡ. Từ đó thành Giê-ru-sa-lem bèn là vật sở hữu của Thổ-nhĩ-kỳ. Năm 1917, quan tướng Allenby, nước Anh, chiếm lấy thành và từ đó thành ở dưới quyền hội Vạn quốc. Từ đó trở đi, người Giu-đa từ bốn phương thế gian trở về, song tùy theo tiên tri Kinh Thánh, chưa nhận biết Đấng Christ thật là Đấng Mê-si của mình.
Phần thuộc linh.– Giê-ru-sa-lem là thành trái ngược với Ba-by-lôn. Vì cớ bội đạo Chúa. “Thành trung nghĩa” trở nên “Mẹ kẻ tà dâm” (Ê-sai 1:21; Khải 17:5). Trong thời kỳ Tin lành, thành Giê-ru-sa-lem vì cớ chỉ chịu vâng phục luật pháp theo văn tự; và bỏ Đấng Christ là Đấng làm trọn Luật pháp đó, thì trở nên tôi mọi. Trái lại, thành “Giê-ru-sa-lem ở nên cao là tự do, và ấy là mẹ chúng ta” (Ga-la-ti 4:26), Giê-ru-sa-lem mới đó là nơi trung tâm thế giới thuộc linh, cũng như thành Giê-ru-sa-lem xưa là nơi trung tâm của giáo Giu-đa. Ngày nay Giê-ru-sa-lem mới là Hội Thánh hay là nơi Đấng Christ trị vì, cuối cùng sẽ thành Giê-ru-sa-lem từ trên trời, “là Giê-ru-sa-lem mới từ trên trời, bởi Đức Chúa Trời ta mà xuống” (Khải 3:12). Nguyên văn Hy-lạp, chữ mới đó là Kaine, không phải Nea, nghĩa là mới khác nhau với thành Giê-ru-sa-lem cũ đã hư đi (Hê-bơ-rơ 8:13; 12:22). Cái nền thứ nhứt của Hội Thánh thuộc linh đã lập trong thành Giê-ru-sa-lem cũ (Giăng 12:15; IPhi 2:6). Hội Thánh thuộc linh nầy là của cầm chỉ về Giê-ru-sa-lem đời đời từ trên trời xuống để ở lại luôn luôn trong “trời mới, đất mới” (Khải 21:1,2).
Thành Giê-ru-sa-lem được vinh hiển của “Ngàn năm bình yên” (Giê-rê-mi 3:17,18; Xa-cha-ri 14:; Khải 20:), là kinh đô của các nước thế giới theo Đấng Christ, sẽ làm đại biểu dọn đường cho thành Giê-ru-sa-lem từ trên trời còn lại đời đời, và theo sau sự hủy diệt trái đất cũ nầy với bầu không khí nó (Hê-bơ-rơ 11:10; Khải 21:2-27). Sứ đồ Giăng trong sách Tin lành dùng tên Hy-lạp Hiérousolyma, song đến sách Khải Huyền thì vẫn dùng tên thánh bằng tiếng Hê-bơ-rơ là Hiérousaleem. Sứ đồ Phao-lô chỉ làm như thế khi nào phản đối với giáo Giu-đa (Ga-la-ti 4:26; Hê-bơ-rơ 12:20).
Dân của thành Giê-ru-sa-lem thánh hầu đến là Vợ mới của Chiên Con. Thành đó có hình một khối chỉ về Hội Thánh được chọn lựa cách đầy đủ. Trong một ngàn năm các thánh được chọn, đồng trị với Đấng Christ như vua kiêm chức thầy tế lễ trên thế gian, và trên dân Y-sơ-ra-ên cùng những nước trong xác thịt. Khi trái đất đã được đổi mới bằng lửa, thì mới đáng làm nơi ở cho các thánh đồ hay cho Giê-ru-sa-lem mới xuống để ở đó đời đời. Hiện nay, Đức Chúa Trời ngự trong đền thờ thuộc linh của Ngài là Hội Thánh (ICôr 3:17; 6:19); khi đó Hội Thánh sẽ ở trong Ngài như là đền thờ của mình (so Thi 114:2). Khi đó không có đền thờ thật nữa, vì đền thờ vinh hiển mà Ê-xê-chi-ên tả, sẽ có chính Đức Chúa Trời thay mặt (Khải 21:22).