A-léc-xan-tri

Thành nầy, hồi năm 332 T.C. do vua A-léc-xan-đơ xây đắp sau khi đánh thắng Ai-cập. Vì thấy bãi biển phía Bắc châu Phi, hai bên Đông Tây dài độ hơn 1.140 cây số, không có bến để tàu bè đậu, vua bèn chọn lấy một xóm, mở mang làm chỗ bến tàu. Rồi vua đắp đê cho ăn thông với hòn đảo Pharos, dài ngót hai cây số. Hai bên đê, tàu lớn có thể đậu được. Phàm các tàu buôn châu Âu, châu Á, châu Phi đều ghé đó. Hình dạng thành A-léc-xan-tri trông như cái cung, chu vi ước 30 cây số, trong có đường chữ thập đi lại thông đồng từ Đông sang Tây dài độ 9 cây số. Về phía Nam Bắc thì ngắn hơn. Sau khi A-léc-xan-đơ qua đời, trong nước chia ba, rẻ bảy. Khi Ptolémée I lên nối ngôi vua Ai-cập, thì lấy thành đó làm kinh đô. Ông xây cất nhiều cung điện, dinh thự rực rỡ, đền hải thần đồ sộ, rạp hát đẹp đẽ, lăng tẩm lớn lao và sân vận động rộng rãi, v… v… Ngoài ra, còn có ba công trình kiến trúc nổi tiếng nữa là:

Viện bác vật. — Trong bày các đồ mỹ thuật khéo léo tỉ mỉ, các món khoa học mới lạ, các thứ văn chương cao sâu. Lại dựng thêm mấy cái nhà trường, đón mời giáo sư có danh tiếng, chẳng những để cho người ta vào xem, mà lại hoan nghinh những ai đến nghe giảng nữa. Ấy gần giống như những trường đại học ngày nay.

Thư viện. — Do vua Ptolémée I sáng lập. Trong chứa những sách rất có giá trị: càng lâu năm càng chứa được nhiều. Những sách bằng da chiên tính được tới 700.000 cuốn. Khi Sê-sa (César) phá thành, các sách trong thư viện bị đốt cháy gần hết.

Hải đăng. — Do vua Ptolémée II xây dựng. Cây hải đăng nầy xây trong đảo nhỏ do một con đê dài đắp thông với thành. Nó có nhiều từng, từ chơn đến chót ước được 450 thước (134 thước hay 440 feet). Tượng đá trên cây đèn, bực thềm và bao lan (bao lơn hay balcony) đều làm bằng đá hoa chạm trổ. Nó là một trong bảy kỳ quan của thế giới. Năm 1303, nó bị đổ bể vì động đất. Đến nay, phàm các đèn biển đều theo kiểu đó mà làm đồ sộ ra.

Khi thành đó được thạnh vượng hơn hết, thì dân số được tăng lên từ 800.000 đến 1.000.000. Trừ thành La-mã ra, chỉ có thành nầy là giàu có, đông đảo và đẹp đẽ hơn hết. Dân cư phần nhiều từ các nước ngoài đến ở (trong đó có một phần tám là người Do-thái). Họ lấy tiếng Hy-lạp làm thứ tiếng thông dụng. Ấy vì từ khi Giê-ru-sa-lem thất bại, người Do-thái dời đến Ai-cập rất nhiều (Giê-rê-mi 42:14). Dung nạp họ, vua Ptolémée chia đất trong thành cho họ ở. Nhờ đó việc thương mại được thịnh vượng, kỹ nghệ cũng được phát đạt. Trong nước có lúa mì là món sản xuất lớn nhứt. Có tàu lớn đi lại trong Địa trung hải: Phao-lô đã hai lần đi tàu ở A-léc-xan-tri (Công 27:6; 28:11). Người Do-thái tự đặt quan lại để cai trị lấy. Họ giữ theo khuôn phép gia đình nước mình và nghi lễ thờ phượng Chúa. Họ xây nhà Hội rực rỡ, trang nghiêm, trong bày bảy mươi chiếc ghế đẹp đẽ có cẩn bửu thạch các màu. Đó tức là ngôi vị bảy mươi trưởng lão.

Năm 250-132 T. C., trong thành có một việc rất trọng yếu: Dịch Kinh Thánh Cựu Ước Hê-bơ-rơ ra tiếng Hy-lạp. Việc phiên dịch nầy bắt đầu từ thế kỷ thứ III T. C. mãi đến thế kỷ thứ II T. C. mới xong. Có người Do-thái cho bản dịch nầy là có ích lợi lớn lắm, còn kẻ khác trái lại cho thế là làm nhục vật thánh. Song từ khi người Hy-lạp tiếp nhận Kinh Thánh, họ truyền rộng ra đời, đến nay các Hội thánh phương đông đều tôn trọng bản Kinh Thánh tiếng Hy-lạp như viên ngọc dùng làm ấn tín.

Năm 45 T. C., thành nầy bị Sê-sa (César) đánh phá, bèn thuộc làm một tỉnh của La-mã. Triết học Hy-lạp có ảnh hưởng lớn đến tôn giáo người Do-thái. — Thành nầy lại là cái nguồn khoa học, có thể giúp cho học giả thế giới ngày càng tấn tới về học vấn và nghệ thuật, đến nỗi những người ở vài trăm năm sau cũng được nhờ ơn.

Phao-lô có đến thành đó truyền đạo hay không, nay không đủ chứng cớ mà nói được. Vì xứ đó đã có đạo Tin Lành từ trước rồi (Rô-ma 15:19-20). Chính A-bô-lô ở thành A-léc-xan-tri nầy là người sốt sắng theo đạo Chúa và “dạy kỹ càng” (nguyên văn: đúng) những điều về Đức Chúa Jêsus (Công 18:24-25). Cứ như lời một nhà làm sử ký nói, thì Mác là người thứ nhứt vào Ai-cập truyền đạo Đức Chúa Jêsus. Lối hai, ba trăm năm sau Chúa, thành đó là một chỗ lý tưởng phát đạt của người theo đạo Đấng Christ; và nhờ đó, đạo Ngài được sáng tỏ ra đời. Trong các thế kỷ đầu tiên của đạo Đạo Tin Lành, trong thành nầy đã có nhiều giáo sư trứ danh như Clément, Origène, v. v… Năm 641 S. C., người đạo Hồi đánh phá thành nầy.

Khoảng năm 700, người ta lập Caire làm kinh đô xứ Ai-cập, nên thành A-léc-xan-tri ngày càng sút kém, mà thành Caire thì ngày càng thạnh vượng. Hồi năm 1497, người ta tìm được một đường hàng hải mới đi vòng châu Phi đến Cap d’Espérance. Tàu buôn Âu, Mỹ theo đường đó mà đi lại, thành thử việc buôn bán ở thành A-léc-xan-tri kém sút ngàn trượng, rồi chỉ lèo tèo bằng một xóm nhỏ thôi. Từ khi Kênh Suez đào xong đến nay, thành đó trở nên một hải cảng phồn thạnh; số dân cư tăng đến 200.000.

Lên đầu trang