401. QUÉT NHÀ KHÔNG SẠCH
(hay đôi kính đeo mắt của bà không sạch)
Một cô gái nhỏ vâng lời bà nội bảo đi quét nhà, khi đã quét rồi, đến thưa với bà nội là mình đã quét nhà xong. Bà nội liền nói: “Có thật đã quét xong không? Để bà xem lại
đã!”. Thế rồi, bà cụ đứng dậy, đi xem khắp nhà. Sau khi đã xem xét, cụ trở lại nói với cô bé: “Nhà chưa sạch gì cả, chỗ nào cũng còn đầy bụi, hãy quét lại cho sạch đi!” Cô gái nhỏ vâng lời, liền đi quét lại. Lần này cô quét thật kỹ. Quét xong cô lại đến thưa với bà nội là mình đã quét nhà xong. Cũng như lần trước, sau khi đã xem xét, bà cụ nói với cô bé: “Nhà chưa sạch gì cả, chỗ nào cũng còn đầy bụi, hãy quét lại cho sạch đi!”. Cô gái nhỏ cũng lại vâng lời, đi quét lại. Nhưng sau khi đã quét sạch đến thưa với bà nội, thì bà nội lại đi xem xét, rồi cũng lại nói như những lần trước: “Nhà chưa sạch gì cả, chỗ nào cũng còn đầy bụi, hãy quét lại cho sạch đi!” Cuối cùng cô gái nhỏ phát giác ra rằng dôi kính đeo mắt của bà nội mình dính đầy bụi cát. Thì ra, chính vì thế mà
chỗ nào cụ cũng thấy đầy bụi cả.
“Hãy vứt cây đà khỏi mắt ngươi trước đã, thì mới thấy rõ mà lấy cái rác khỏi mắt anh em ngươi được” (Ma-thi-ơ 7:5).
402. NỀN MÓNG CÁI CẦU
(Hy Sinh)
Có một học sinh tài giỏi của trường đại học Oxford tình nguyện dâng mình cho Chúa làm người truyền giảng Tin Lành trong nội địa Phi Châu. Nhưng vừa đến đó được một năm thì anh đã mắc bệnh mà chết. Trong lúc lâm chung, anh nói với một vài người bạn có mặt bên anh lúc đó mà rằng: Tôi nghĩ việc truyền giáo cho Phi Châu, cũng như xây cất một cái cầu. Muốn cho cầu ấy đứng vững, phải có nhiều tảng đá lớn chôn vùi dưới đáy sông để làm nền móng cho nó. Nhưng ai là người chịu để mình bị chôn làm vầng đá mà không một ai thấy cả? Lạy Chúa, nếu Ngài muốn tôi làm vầng đá chôn vùi giữa lục địa lớn lao này, để người Phi Châu được nghe Tin Lành cứu rỗi, tôi cũng sẵn lòng!”
“Nếu hột lúa mì chẳng rơi xuống đất mà chết, thì cứ chỉ một mình, nhưng nếu chết đi thì kết quả nhiều” (Giăng 12:24).
403. BÍ QUYẾT SỬ DỤNG LỜI CHÚA
(Nói cho đúng)
Một trong những bí quyết quan trọng nhất về việc sử dụng lời của Đức Chúa Trời, là mỗi khi cần thuật lại lời Chúa thì phải thuật cho đúng. Sa-tan sẽ trở thành bất lực đối với con cái Đức Chúa Trời, khi có lời Chúa “ở trong miệng và trên môi” của họ. Chúa lúc nào cũng “tỉnh thức” để làm trọn những lời phán hứa của Ngài.
Thuở xưa, khi Chúa Jesus được đưa đến đồng vắng để chịu cám dỗ, Ngài đã đánh bại ma quỉ bằng cách trả lời nó với câu “có chép rằng”, trước khi thuật lại thật đúng cho nó nghe lời Chúa trong Kinh Thánh.
Khi Sa-tan thấy chúng ta biết rõ bí quyết về việc sử dụng lời Chúa, nó sẽ lánh xa chúng ta ngay, vì biết chắc nó sẽ thất bại. Nhưng chẳng khi nào nó muốn chúng ta biết rõ bí quyết ấy cả.
404. CÂU CHUYỆN VỀ ÔNG JIM
(Cách cầu nguyện)
Ở một Hội Thánh kia, ngày nào người ta cũng thấy có một người đàn ông đi vào nhà thờ. Người này, tuổi tác đã cao, ăn mặc đơn giản, chỉ vào nhà thờ vài phút rồi lại ra ngay. Mục sư của Hội Thánh rất lấy làm lạ, một hôm hỏi người ấy rằng:
-“Tôi thấy ngày nào ông cũng vào nhà thờ. Vậy, ông vào để làm gì thế?”
Người này trả lời:
-“Thưa Mục sư tôi vào để cầu nguyện.”
Mục sư lại hỏi:
-“Nhưng ông chỉ vào có vài phút, thì làm gì có đủ thì giờ mà cầu nguyện?”
Người này đáp:
-“Tôi già rồi, không thể cầu nguyện lâu được. Nhưng ngày nào cũng thế, cứ đúng 12 giờ trưa. Tôi đến trước mặt Chúa và thưa với Ngài rằng: Chúa ơi! Con là Jim đây! Nói xong, tôi yên lặng một chút rồi ra về. Đó chỉ là một lời cầu nguyện ngắn ngủi, nhưng Chúa chắc nghe tôi”.
Sau đó ít lâu, ông Jim bị thương và được đưa vào bệnh viện. Tại đây, sự hiện diện của ông đã khiến cho bầu không khí sầu khổ và đau thương của các bệnh nhân trong phòng ông ta thay đổi hẳn. Một cảnh trạng mới đầy an ủi và phước lạc hiện ra, khiến cô y tá phụ trách phòng ấy phải lấy làm lạ. Một hôm cô nói đùa với ông rằng:
-“Ông Jim ơi, có người nói ông phải chịu trách nhiệm về sự thay đổi bầu không khí trong phòng đấy!”
Ông Jim trả lời:
-“Nhưng có phải tôi làm nên đâu mà tôi chịu trách nhiệm? Chính vị khách đến thăm tôi hằng ngày làm nên đó chớ!”
Cô y tá ngạc nhiên hỏi:
-“Ông nói sao? Có người khách nào mỗi ngày đến thăm ông đâu?”
Ông Jim đáp:
-“Ồ, mỗi ngày, cứ đến 12 giờ trưa, Ngài đến bên cạnh giường tôi, khi tôi quì gối thưa với Ngài rằng: Chúa ơi! Con là Jim đây!”.
-WILLIAM AITKEN-
405. KINH THÁNH VỚI CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO
Thông điệp đầu tiên về sự giáng sanh của Chúa Jesus là một thông điệp truyền giáo – Lu-ca 2:10.
Lời cầu nguyện đầu tiên mà Chúa Jesus đã dạy cho các môn đồ Ngài là một lời cầu nguyện truyền giáo – Ma-thi-ơ 6:10.
Vị sứ đồ đầu tiên của Christ khi mới từ kẻ chết sống lại là một thông điệp truyền giáo - Giăng 20:17.
Vị sứ đồ đầu tiên, tức Anh-rê, đã trở thành nhà truyền giáo đầu tiên – Giăng 1:41.
Mệnh lệnh đầu tiên mà Christ đã truyền cho các môn đồ Ngài sau khi đã từ kẻ chết sống lại, là một mệnh lệnh truyền giáo – Giăng 20:21.
Bài giảng đầu tiên của sứ đồ là một bài truyền giáo – Công-vụ Các-sứ-đồ 2:14-39.
Lý luận đầu tiên mà Chúa Jesus nói về tình yêu Cơ đốc giáo là một lý luận truyền giáo – Giăng 13:35.
Sự đến thế gian lần thứ nhất của Christ, là đến để truyền giáo Lu-ca 5:13-26.
Sự đến thế gian lần thứ hai của Christ được thúc đẩy bởi công cuộc truyền giáo – Ma-thi-ơ 24:14.
Lời căn dặn cuối cùng của Christ cho các môn đồ Ngài, là một lời căn dặn truyền giáo – Ma-thi-ơ 28:19.
406. PHẦN THƯỞNG CỦA KẺ VÂNG LỜI CHÚA
Một ngày kia, nhà bố đạo trứ danh là Mục sư C.H. Spurgeon mở một cuộc bố đạo gồm ba nhà thờ lớn của Hội Thánh Baptist tại thành phố Bristol. Với cuộc bố đạo này, ông mong sẽ quyên được ba trăm Anh kim để sáng lập một viện mồ côi tại thủ đô London. Quả nhiên ông quyên được số tiền ấy. Nhưng sau khi đã quyên dược rồi, vào đêm sau cùng của cuộc bố đạo, ông nghe có tiếng nhỏ nhẹ của Chúa phán trong lòng ông rằng: “Hãy đem ba trăm Anh kim ấy quyên cho George Muller” (Ông này là chủ trì một cô nhi viện lớn ở Bristol, và là người chủ trương chỉ dùng lời cầu nguyện để xin Chúa ban cho mọi sự cần dùng chớ không quyên tiền ai cả). Vừa nghe tiếng phán ấy, ông Spurgeon đáp lại rằng: “Chúa ơi, cô nhi viện của con ở London cũng đương cần tiền lắm”. Nhưng tiếng ấy lại phán nữa rằng: “Hãy đem ba trăm Anh kim ấy quyên cho George Muller”. Lần này ông không phản đối nữa, nhưng nói: “Vâng, con sẽ quyên số tiền ấy cho George Muller”. Nói xong, ông liền đi ngủ.
Sáng hôm sau, ông Spurgeon đến thăm cô nhi viện của của ông George Muller. Đến nơi, thấy ông Muller đương quỳ gối cầu nguyện bên cạnh giường mình với cuốn Kinh Thánh đã mở. Ông Spurgeon bèn vỗ nhẹ vào vai của ông Muller mà rằng: “George ơi, Đức Chúa Trời bảo tôi đem ba trăm Anh kim đến cho anh đây này”. Ông Muller liền đáp: “Ồ, Spurgeon thân mến, đó chính là số tiền tôi đương cầu xin với Chúa đây!” Thế rồi cả hai đều vui mừng với nhau.
Khi trở về Lon don, vừa bước vào nhà, Mục sư Spurgeon thấy trên bàn giấy của mình có một bao thư. Mở ra thì đó là ba trăm Anh kim. Ông mừng rỡ và reo lên rằng: “Chúa đã trả lại cho tôi ba trăm Anh kim, lại còn cho thêm ba trăm si-linh tiền lời nữa (20 si-linh - shiling - là một bảng Anh).
407. BỔN PHẬN CỦA TÔI
(là phải sống)
Trong cuộc tư đàm với mấy người bạn thân, ông Hoai-phi tỏ vẻ bi quan về công cuộc truyền giáo, vì công tác này càng ngày càng thấy khó khăn hơn. Ông than thở và mong ước sớm trút bỏ được gánh nặng để về yên nghỉ trong Chúa. Những bạn có mặt trong buổi tư đàm đều thông cảm và tán đồng ý kiến của ông, chỉ duy ông Ten-nan không nghĩ như vậy. Ông Hoai-phi bèn đặt tay mình trên đầu gối của Ten-nan và hỏi: “Anh Ten-nan ơi, anh là bậc niên trượng giữa chúng ta, anh có cho rằng giờ phút sắp từ trần là giờ phút vui vẻ không?”.
Ten-nan đáp: “Tôi nghĩ hơi khác. Chết không phải là việc của tôi. Bổn phận của tôi là phải sống, ráng hết sức để sống lâu dài. Tôi phải cố gắng sống thật mỹ mãn, sống với hết lòng hết sức phụng sự Chúa, cho đến lúc nào Chúa thấy thích nghi thì Ngài gọi tôi về Thiên gia”.
“Đức Giê-hô-va sẽ gìn giữ ngươi khi ra khi vào, từ nay cho đến đời đời” (Thi-thiên 121:8).
408. ĐÃ TRỄ RỒI
(Thì giờ của Chúa)
Một buổi sáng kia có một người chạy đến phòng ông chủ ga xe lửa, ở một ngoại ô thành phố nọ, vừa thở vừa hỏi: “Thưa ông, chuyến xe 8 giờ 1 phút buổi sáng chạy lúc nào rồi?” Ông chủ ga liền đáp: “Chạy lúc 8 giờ 1 phút. Sao ông đã biết giờ xe chạy, mà còn hỏi?” Người này nói: “Theo đồng hồ của tôi, thì bây giờ mới 7 giờ 59 phút, theo chuông trong thành phố thì 7 giờ 57 phút; còn theo đồng hồ nhà ga của ông, thì bây giờ đã là 8 giờ 4 phút rồi. Như vậy tôi phải theo đồng hồ nào đây?” Ông chủ ga trả lời: “Ông muốn theo đồng hồ nào thì theo, nhưng điều chắc chắn là ông không thể đi chuyến xe 8 giờ 1 phút sáng nay, vì chuyến xe ấy đã chạy rồi”.
Nhiều người tưởng họ có thể theo thì giờ của họ để tìm kiếm Đức Chúa Trời. Nhưng phải biết rằng thì giờ của Đức Chúa Trời mới là thì giờ thật đúng. Thì giờ của Ngài là HIỆN TẠI. Quá nửa thì không kịp.
“Bởi cớ ấy phàm người nhơn đức đều cầu nguyện cùng Chúa trong khi có thể gặp Ngài” (Thi-thiên 32:6).
409. CHÚA CHẲNG PHỤ AI
(Ngày Chúa nhật)
Có hai người bạn, cùng là tín đồ Christ. Một người là công nhân bến tàu, còn người kia là chủ tiệm buôn bán. Người này nói với người kia rằng: “Anh nên nghỉ việc buôn bán ngày Chúa nhật, vì Chúa nhật là ngày của Chúa. Mọi người đều nghỉ việc ngày ấy, chỉ riêng anh mở cửa buôn bán như thường. Điều đó chắc không đẹp lòng Chúa đâu!” Tín đồ kia đáp: “Tôi rất muốn làm theo lời anh nói, nhưng không thể làm được, vì Chúa nhật lại là ngày mà tiệm của tôi đắt hàng hơn hết trong cả tuần”. Tín đồ công nhân lại nói: “Nhưng nếu anh thấy đó là việc nên làm, thì hãy cứ làm đi, Chúa hẳn không phụ anh đâu. Ngài sẽ ban cho anh mọi sự cần dùng, nếu anh quyết tâm sống đẹp đòng Chúa. Ấy cũng như Ngài bảo anh làm điều không thể làm vậy”. Tín đồ chủ tiệm suy nghĩ một lát rồi chịu cảm động; liền quyết định giao phó mọi sự trong tay Chúa, và nghỉ buôn bán ngày Chúa nhật.
Sáng thứ hai tuần sau, tín đồ công nhân kia gặp một chủ tàu. Người này xin anh giới thiệu cho mình một tiệm buôn có thể tín nhiệm được để mua hàng. Anh liền giới thiệu ngay đến người bạn của mình, là người vừa quyết định không buôn bán ngày Chúa nhật nữa. Điều không thể ngờ, là chủ tàu này đã mua nhiều hàng đến nỗi tín đồ chủ tiệm không có đủ để bán, phải đi lấy thêm ở nhiều tiệm khác.
Nhờ lượt buôn bán ấy, tín đồ chủ tiệm được nhìn nhận là thành thật và đáng tin cậy, nên vài hôm sau, một chủ tàu khác lại đến gặp tín đồ công nhân kia để xin giới thiệu cho mình tín đồ chủ tiệm buôn bán ấy nữa. Lần này số hàng mà chủ tiệm bán ra còn nhiều gấp hai lần trước.
Như thế là, sau khi đã quyết định nghỉ việc buôn bán ngày Chúa nhật, chỉ trong một tuần, tín đồ chủ tiệm đã bán được hai chuyến hàng to. Điều đó càng khiến cho anh có thêm đức tin, và giữ vững quyết tâm không buôn bán ngày Chúa nhật. Ấy thật Chúa chẳng phụ những kẻ có lòng kính mến Ngài.
“Đức Chúa Trời có thể khiến cho mọi ân huệ được dư dật trên anh em, hầu cho anh em đầy đủ trong mọi sự luôn luôn, có thể làm mọi việc lành cách dư dật” (IICô-rinh-tô 9:8).
410. GIEO SỰ TRANH CẠNH
Một chuyện nhỏ mọn cũng đủ để Sa-tan làm bùng nổ sự xung đột giữa con cái trong nhà Chúa. Nó chỉ nghỉ ngơi sau khi đã gieo được bất hòa.
Tại sao lại có chữ “gieo”? Vì chữ ấy bao hàm ý nghĩa về hạt giống, về sự mọc lên, và về sự chín mùi. Nhiều hạt giống nhỏ có thể đem lại một mùa gặt lớn.
Biết bao hy vọng bị tiêu tan và công trình sụp đổ, chỉ vì những hạt giống nhỏ của sự bất hòa gây nên.
“Có sáu điều Đức Giê-hô-va ghét và bảy điều Ngài lấy làm gớm ghiếc:
“Con mắt kiêu ngạo, lưỡi dối trá, tay đổ huyết vô tội;
“Lòng toan những mưu ác, chân vội vàng chạy đến sự dữ,
“Kẻ làm chứng gian và nói điều dối, cùng kẻ gieo sự tranh cạnh trong vòng anh em”. (Châm-ngôn 6:16-19)
-La voix dans le désert-
411. ĐÃ MẤT LẠI ĐƯỢC
(Kinh Thánh)
Trước đây, tại bắc bộ Mễ-tây-cơ, có một thời kỳ rất khan hiếm Kinh Thánh. Có một người cho con trai mình một cuốn Kinh Thánh và nói với nó rằng: “Con ơi! cha cho con cuốn sách này, là sách quý nhất trong những sách mà cha đã có. Con hãy đọc cho kỹ, vì trong sách ấy có nhiều sự dạy dỗ cao quý”. Sau đó ít lâu, người cha qua đời. Đứa con hằng ngày dò xem Kinh Thánh và lấy làm thích thú lắm. Một hôm, nó đem Kinh Thánh đến trường, nhưng vì trường của nó là một trường La-mã công giáo, giáo sư trông thấy liền quở trách mà rằng: “Sách này không phải là sách nên đọc. Em muốn đem sự lộn xộn đến trường hay sao?” Nói xong, giáo sư tịch thu cuốn Kinh Thánh ấy, nó khóc lóc xin lại cũng không được.
Thời gian qua, em nhỏ ấy lớn lên trong sự xa vắng lời Chúa. Một hôm, tiếng hát của một bài thánh ca từ xa vọng lại, khiến y lần tới một phòng giảng Tin Lành. “Tại đây, lúc y bước vào, là lúc ông truyền đạo đang đọc trước hội chúng một đoạn trong Kinh Thánh. Vừa nghe qua, y liền nói với ông truyền đạo rằng: “Ông ơi, cuốn sách mà ông đương đọc đó là sách của Cha tôi cho tôi, nên thật là của tôi”. Nói như thế, vì y không biết có nhiều cuốn Kinh Thánh chớ không phải chỉ có một cuốn của y. Ông truyền đạo lấy làm khó hiểu, bèn hỏi y rằng: “Anh nói gì vậy?” Y đáp: “Cuốn sách ông đang đọc đó là sách của cha tôi cho tôi, tôi có thể chứng minh được.” Nói xong, y đọc cho ông truyền đạo nghe nhiều câu Kinh Thánh mà y đã thuộc lòng từ khi còn nhỏ. Ông truyền đạo bật cười nhưng cảm thương một người có lòng thành thật mến yêu Kinh Thánh bèn lấy biếu ngay cho y một cuốn mới.
Được Kinh Thánh đem về, y say mê đọc và nhận được nhiều sự dạy dỗ quý báu trong lời Chúa. Cách đó không lâu, y được biến cải, trở nên tín đồ được tái sanh, và hết sức hoạt động về việc truyền bá Tin Lành cho đồng bào mình.
“Thầy tế lễ thượng phẩm Hinh-kia nói với thơ ký Sa-phan rằng: Tôi đã tìm được quyển Luật pháp trong đền thờ Đức Giê-hô-va”.
(IICác-vua 22:8).
412. THẾ NÀO LÀ HY VỌNG?
(Theo ý Chúa)
Một bà đã có tuổi đi từ Buffalo đến thăm con gái tại Cleveland trên một chiếc tàu chở khách. Khi tàu dương chạy giữa biển thì bão tố xảy đến, ai nấy đều hoảng hốt, lo sợ, riêng bà có tuổi ấy tỏ vẻ bình tĩnh chỉ ngồi cúi đầu cầu nguyện thôi. Sau khi trận bão qua rồi nhiều người đến hỏi vì sao bà bình tĩnh được trong cơn nguy biến như vậy. Bà đáp: “Tôi có hai con gái, một đứa đã qua đời về ở với Chúa trên Thiên thượng, còn một đứa hiện ở Cleveland. Trong cơn bão tố tôi không biết mình sắp được gặp con nào. Nếu phải qua đời tôi sẽ gặp đứa ở Thiên thượng, còn nếu bình yên vô sự tới Cleveland, thì tôi sẽ gặp đứa đương ở đó. Cả hai đều là con yêu dấu của tôi, dù gặp con nào lòng tôi cũng vui mừng, sung sướng cả. Vì vậy, trong cơn nguy biến, tôi chỉ chờ đợi mà không lo sợ chút nào.
-Wesleyan Methodist-
413. HƯỚNG VỀ MẶT TRỜI
(Sợ cái bóng của mình)
A-léc-san-đơ là một cậu bé thông minh. Một hôm cha cậu mua phải một con ngựa khó tính. Con ngựa này không ai dạy nổi, dù là những người rất chuyên môn về ngựa cũng phải chịu. Thế mà, đối với A-léc-san-đơ, việc đối phó với con ngựa ấy không có gì khó cả.
Có người hỏi cậu về bí quyết cậu đã dùng để khắc phục con ngựa khó tính ấy, thì cậu trả lời: “Chẳng có gì lạ. Tôi đã xét kỹ và thấy con ngựa này rất sợ cái bóng của nó. Vì vậy, chỉ cần quay nó hướng về mặt trời để nó đừng thấy cái bóng của nó mà thôi.”
Nhiều khi chúng ta vì bóng của đời người mà sợ hãi. Nhưng nếu để mặt hướng về mặt trời công nghĩa là Chúa Jesus Christ, thì bóng tối sẽ không còn, và sự sợ hãi cũng tiêu tan.
Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời là mặt trời và là cái khiên; Đức Giê-hô-va sẽ ban ơn điển và vinh hiển”.
(Thi-thiên 84:11)
414. TẤT CẢ ĐỀU DO CHÚA LÀM
(Ta cậy đức tin tiếp nhận)
Nhà giải kinh trứ danh Charles O.Trumbell từng nói: “Công tác của Đức Chúa Trời là xưng nghĩa, làm cho nên thánh và khiến được vinh diệu. Xưng nghĩa là việc quá khứ; khi chúng ta tin nhận Jesus làm Cứu Chúa, chúng ta cũng liền được xưng nghĩa ngay. Được vinh diệu là việc tương lai khi Chúa Jesus tái lâm và cất chúng ta lên, thì chúng ta sẽ được vinh diệu. Ở giữa sự xưng nghĩa và được vinh diệu là sự nên thánh. Cả ba công tác ấy đều do Đức Chúa Trời làm. Công tác của Đức Chúa Trời bao giờ cũng hoàn toàn, chỉ chúng ta có chịu bởi đức tin tiếp nhận hay không mà thôi.
Chúng ta không thể bởi sức mình mà thăng thiên để ở cùng Chúa, nhưng phải nhờ Ngài cất lên mới được. Về tội ác, chúng ta không thể bởi sự vùng vẫy của mình mà thắng được đâu. Những điều ấy đều hoàn toàn do Chúa mà nên cả. Nếu tưởng mình có thể tự vùng vẫy để đắc thắng tội ác, thì cũng tưởng mình có thể nhờ sức riêng mà thăng thiên, hay nhờ công đức mình mà xưng nghĩa. Nghĩ như thế là sai lầm”.
“Chúa Giê-hô-va, là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, có phán như vầy: Các người sẽ được cứu rỗi, là tại trở lại và yên nghỉ; các ngươi sẽ được sức mạnh, là tại yên lặng và trông cậy.”
(Ê-sai 30:15)
415. MỘT CƠN ÁC MỘNG
(Có phải là những người mù không?)
Có một người tín đồ, lúc nào cũng cảm thấy đời sống của mình là vô vị, nên thường ao ước được về Thiên đường cho vui. Một hôm người nằm chiêm bao, thấy mình được lên trời. Tại đó, có một thiên sứ dẫn người lên trên một cái tháp. Từ đỉnh tháp nhìn xuống người thấy một đám người rất đông, đương lần mò đi trên một con đường dốc, hết sức nguy hiểm. Người bèn hỏi thiên sứ rằng: “Đó có phải là những người mù không? Tại sao họ lại rờ rẫm một cách nguy hiểm như vậy?” Thiên sứ đáp: “Những người ấy đều ở ngoài ơn cứu chuộc của Chúa Jesus. Trong thế gian, họ không khác gì kẻ mù, lần mò trong bóng tối, đối diện với sự hư mất mà không biết. Họ rất cần tín đồ Christ dẫn dắt trở lại con đường bình an. Nhưng hễ ai đã tin Chúa mà không nỗ lực giúp họ thì họ sẽ vì không thấy đường mà rơi vào vực thẳm”. Thiên sứ vừa nói đến đó thì người liền thức giấc, mới biết chỉ là chiêm bao. Từ đó người hết sức truyền bá Tin Lành cứu rỗi cho đồng bào mình, không còn cảm thấy cuộc đời vô vị như trước nữa.
416. CHÚNG TÔI MUỐN JESUS THẤY
Một thanh niên kia mới tốt nghiệp ở Thần học viện ra, và được mời làm Mục sư cho một chi hội nọ. Tín đồ trong chi hội ấy là những người ái mộ chân lý, nhưng lại rất nghiêm khắc đối với Mục sư. Thanh niên này, trong những tháng đầu của chức vụ, hết sức vận dụng trí thức cao sâu mà mình đã học được ở Thần học viện đứng trên tòa giảng, giảng như chuông kêu, với những bài tràng giang đại hải, đầy những lời thêu hoa dệt gấm. Các giáo hữu, tuy cũng phục người có khẩu tài, nhưng cảm thấy tâm linh khô khan, không được điều gí ích lợi cả. Mục sư trẻ không biết như vậy, nên vẫn tỏ ra đắc chí về sự giảng dạy của mình.
Một hôm, có một tín hữu viết mấy chữ vào mảnh giấy nhỏ để trên tòa giảng rằng: “Chúng tôi muốn thấy Jesus”. Mục sư trẻ đọc mấy chữ đó, cảm thấy như bị nước lạnh dội vào lưng. Từ đó trở đi, người quyết định dẹp sang những điều đã học và biết, để hạ mình xuống trước mặt Chúa, cầu xin Nhài ban cho điệp tín và linh ân. Từ đó về sau, những điều người giảng đều từ tâm khảm phát ra cả. Các tín hữu trống nhờ vậy mà được phước, nên cách đó ít lâu, trên tòa giảng lại có mấy chữ viết trên mảnh giấy nhỏ rằng: “Môn đồ thấy Chúa Jesus thì vui mừng lắm”.
“Vì tôi đã quyết định rằng, ở giữa anh em tôi chẳng biết sự gì khác ngoài Jesus Christ chịu đóng đinh trên thập tự giá.”
(ICô-rinh-tô 2:2)
417. TỐT HƠN TRƯỚC
Một thiếu phụ người Ấn-độ, sau khi đã được nghe giảng và đọc Kinh Thánh nhiều lần, liền quyết định tin nhận Jesus làm Cứu Chúa. Sau khi đã trở nên tín đồ Christ, nàng bị chồng bắt bớ tàn nhẫn. Một hôm có một giáo sĩ hỏi thiếu phụ rằng: “Tôi nghe nói bà thường bị bắt bớ trong gia đình. Vậy bà đã làm những gì mỗi khi bị bắt bớ?” Thiếu phụ trả lời: “Mỗi khi chồng tôi tỏ vẻ bực tức, thì tôi dọn cho chàng những món ăn ngon hơn ngày thường; lúc chàng phiền trách về nhà cửa, thì tôi quét dọn sạch sẽ hơn lúc thường; còn khi chàng nóng giận, thì tôi lại dùng lời dịu ngọt hơn mà nói năng với chàng. Làm như thế để chàng thấy rằng, nhờ trở nên tín đồ Christ, mà tôi đã trở thành vợ hiền và mẹ tốt, hơn lúc trước”.
Kết quả, chồng thiếu phụ này, dù chống cự được với sự giảng dạy của giáo sĩ, cũng không thể chống cự được với bài giảng sống động của đời sống vợ mình. Vì vậy, sau đó không lâu, người chồng cũng đã tin nhận Jesus là Cứu Chúa.
-Evangelical Visitor-
418. SAO LẠI CÓ THẾ?
Ông Sê-đôn, tôi tớ của Đức Chúa Trời là người có danh vọng. Một hôm, trong lúc ông đi xe lửa, có người đến hỏi ông rằng: “Nếu Đức Chúa Trời là Đấng nhân từ, tại sao lại có thể cho người ta vào địa ngục?”
Ông Sê-đôn nói: “Tôi cũng xin hỏi ông một điều: Nếu Đức Chúa Trời là Đấng công nghĩa tại sao lại có thể cho tội nhân vào Thiên đàng?”
Bạn ơi, vì Đức Chúa Trời là Đấng công nghĩa, nên Ngài không thể coi thường sự xét đoán tội nhân được. Mặc dù Ngài là Đấng từ ái, song không thể vì từ ái mà bỏ qua sự công nghĩa của Ngài. Nếu bạn muốn được cứu, thì cần thiết là phải nhờ cậy cứu ân mà Ngài đã dự bị cho bạn trong Chúa Jesus.
“Vì tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng ân tứ của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Christ Jesus”
(La-mã 6:23)
419. NGƯ PHỦ VỚI NÔNG PHU
Ông Hơ-ni-sôn, nhà truyền đạo trứ danh của nước Na-uy là một nông phu, cày ruộng cho cha mình. Khi Đức Chúa Trời triệu dụng ông, thì nước Na-uy ở trong thời kỳ đen tối. Cha mẹ ông thấy ông quyết tâm đi hầu việc Chúa thì rất lấy làm lo ngại vì cho rằng con mình chỉ là một nông phu ít học, khó có thể đi truyền đạo thánh của Đức Chúa Trời. Nhưng quan niệm của ông thì lại khác. Ông nói với cha mẹ rằng: “Thuở xưa, há chẳng từng có mấy ngư phủ chưa thọ giáo dục, mà vẫn truyền được đạo thánh sao? Nếu nông phu không bằng ngư phủ, thì ít ra cũng biết gieo giống của Thiên quốc”. Quả thật, đức tin ấy gieo vào lòng người, đã đem đến một mùa gặt lớn cho nước Na-uy.
Lịch sử Hội Thánh của Nước Na-uy có chép: “Trong thời kỳ đen tối nhất của nước Na-uy, sở dĩ chân lý được truyền giảng và bảo tồn, là do những tín đồ bình thường trong giáo hội”.
“Họ vốn là tay đánh cá”
(Ma-thi-ơ 4:18)
420. TIN TỨC RẤT TỐT
Có một tên trộm cắp đã vào một nhà thờ lấy trộm nhiều đồ vật, kể cả cái thùng đựng tiền dâng, trong đó có một số tiền khá lớn. Sáng hôm sau, Mục sư của Hội Thánh ấy viết và dán trước cửa nhà thờ một tờ yết thị như sau: “Người nào đã lấy cắp đồ vật của nhà thờ, thì xin đến gặp ngay Mục sư của bổn hội, sẽ có tin tức rất tốt”.
Một ký giả báo chí, sau khi đọc yết thị này; liền đến gặp Mục sư để hỏi xem tin tức rất tốt ấy là gì, hầu lấy tài liệu đăng trên báo. Mục sư đáp: “Người nào giấu tội lỗi mình thì không được may mắn, nhưng ai xưng nó ra và lìa bỏ nó sẽ được thương xót.” “Còn nếu chúng ta nhận tội mình, thì Đức Chúa Trời là thành tín, công nghĩa, ắt sẽ tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi sự bất nghĩa”.
Tôi sẽ xưng tội ác tôi ra.Tôi buồn rầu vì tội lỗi của tôi”.
(Thi-thiên 38:18)
421. NHU CẦU
Một sáng Chúa nhật, có một Mục sư đứng trên tòa giảng khuyên hội chúng dâng tiền, để công tác nhà Chúa khỏi bị thiếu thốn. Trong lúc ông đang thành khẩn nói với hội chúng, thì một thuộc viên của hội thánh ấy đứng lên chất vấn mà rằng: “Thưa Mục sư, ông vẫn thường nói cứu ân của Chúa đã được ban không cho loài người. Cứu ân ấy giống như không khí chúng ta hô hấp, hoặc nước chúng ta thường uống. Vậy tại sao lúc nào ông cũng bắt chúng tôi quyên tiền”.
Vừa nghe xong; Mục sư nghiêm nghị nhìn thẳng vào tín hữu ấy và đáp: “Bạn ơi; bạn nói rất phải, cứu ân của Chúa là điều đã được ban không cho chúng ta. Cứu ân ấy
thực chẳng khác nào không khí chúng ta hô hấp hay nước chúng ta thường uống. Nhưng nến bạn muốn cho nước chảy đến tận nhà bếp của bạn, thì không thể không cần đến ống dẫn nước. Nếu không chịu bỏ tiền trả giá cho công tác trang bị thì làm sao nước có thể chảy đến tận nhà bếp của bạn được?”.
“Kẻ nào thọ giáo trong đạo, phải lấy mọi vật cần dùng mà cung cấp cho người dạy dỗ”.
422. NHỊP NHÀNG
Một buổi sáng kia, có một tôi tớ của Đức Chúa Trời đi vào một nhà thờ lớn để cầu nguyện và suy nghĩ về lời của Chúa - Tại đây có một tòa phong cầm vĩ đại.
Vừa ngồi được một lát, thì người nghe có tiếng từ phong cầm ấy phát ra; ban đầu chỉ một tiếng, rồi tới một câu và cuối cùng là cả một bản nhạc êm dịu.
Tôi tớ của Đức Chúa Trời liền đứng dậy, đi đến tòa phong cầm ấy để xem tiếng phát ra bằng cách nào, thì thấy có một người thợ đang ngồi sửa âm điệu ở trong đó – Người bèn hỏi người thợ ấy rằng: “Tòa phong cầm đã lớn lại có nhiều cầm tử (phím) thế này, thì ông làm sao có thể sửa cho nhịp nhàng được?” - Người thợ đáp: “Trước hết, tôi phải bắt đầu từ điệu “C” ở giữa và sửa cho thật đúng, sau mới sửa đến các cầm tử khác và khiến những cầm tử ấy nhịp nhàng với nó”.
Điều này đã dạy cho người của Đức Chúa Trời một bí quyết thuộc linh - Ấy là hãy để Đấng Christ làm trung tâm của sự sống mình, rồi khiến mọi điều khác nhịp nhàng với Ngài - Như vậy đời sống của chúng ta sẽ được vui vẻ và bình an. Còn về mặt đoàn thể nếu có Đấng Christ làm trung tâm khiến ai ai cũng điều hòa hợp với Ngài, thì đoàn thể sẽ trở thành một khối chặt chẽ và tốt đẹp.
“Hầu cho trong mọi sự Ngài đứng đầu hàng”
(Cô-lô-se 1:18)
423. ĐÓ LÀ LÝ DO
Có một bà mẹ dắt con nhỏ của mình đi vào một tiệm tạp hóa mua đồ nhật dụng. Chủ tiệm trông thấy em nhỏ, thì liền chỉ cho em một giỏ đựng trái dâu trước mặt và bảo em hãy lấy mà ăn. Nhưng em nhỏ tỏ ý ngần ngại. Ông chủ tiệm hỏi: “Em có thích ăn trái dâu không?” Em nhỏ trả lời: “Thưa ông, có!” Vừa nghe em nhỏ nói như vậy ông chủ tiệm liền dùng tay bốc một nắm lớn trái dâu và đưa vào hai bàn tay nhỏ của em bé.
Khi ở tiệm tạp hóa ra bà mẹ mới hỏi con rằng: “Tại sao lúc nãy con không tự lấy trái dâu, mà lại để ông chủ tiệm lấy cho?” Em nhỏ đáp: “Vì bàn tay của ông ấy lớn hơn bàn tay của con nhiều”.
Độc giả thân mến! Chúng ta có thể rút ra từ câu chuyện trên đây một bài học quí: Người tín đồ không cần phải mưu toan cho mình, cũng khổng cần phải vì mình mà tranh giành với kẻ khác, nhưng cứ lấy đức tin trông đợi Đức Giê-hô-va. Những gì Ngài dự bị cho chúng ta cũng đều tốt hơn những gì chúng ta tự lo sắm lấy cho mình.
“Hãy phó thác đường lối mình cho Đức Giê-hô-va và nhờ cậy Ngài, thì Ngài sẽ làm thành việc ấy”
(Thi-thiên 37:5)
424. LẬT ĐỔ KIM TỰ THÁP
Có một công ty chuyên làm công tác dỡ nhà. Để khoe khoang và quảng cáo, công ty này thường nêu khẩu hiệu: “Chúng tôi có thể lật đổ kim tự tháp”.
Kim tự tháp - kiến trúc phi thường của nước Ai-cập - là vật không dễ gì phá vỡ. Vì vậy, nói rằng có thể lật đổ kim tự tháp, là nói có thể làm nên những việc phi thường. Nhưng dù có thể làm được những việc phi thường như thế đi nữa, thử hỏi họ có thể xây dựng nỗi một kim tự tháp hay không?
Giá trị của nhân sinh không ở chỗ phá vỡ, mà ở chỗ xây dựng. Một kẻ khờ dại có thể chỉ trong vài phút, dùng một quả bom, phá vỡ cả mấy nhịp cầu mà nhiều kiến trúc sư đã phải dày công nghiên cứu và xây dựng. Một em bé ba tuổi có thể chỉ dùng một con dao nhỏ, rạch nát cả một tác phẩm nghệ thuật mà nhà nghệ sĩ phải mất nhiều năm mới tạo thành.
Bạn đọc thân mến! Bạn hữu của chúng ta cũng có thể chỉ trong một đêm, phá hoại hết phẩm cách mà chúng ta xây dựng suốt đời. Nhưng Đấng Christ là hy vọng duy nhất. Chỉ Ngài mới cứu được chúng ta khỏi sa vào lưới tội một lần nữa.
“Đấng có thể gìn giữ anh em khỏi vấp phạm và khiến anh em đứng trước mặt vinh hiển mình cách vui mừng; không có chỗ trách được”.
(Giu-đe 24)
425. THẾ NÀO LÀ ĐƯỢC CỨU
Có một người đa đen hết lòng tin nhận Jesus làm Cứu Chúa. Một hôm, trong khi anh ta đương vác một bao khoai to từ đồng ruộng về nhà thì giữa đường, anh gặp một người bạn chưa tin Chúa. Người này là người đã được anh nhiều lần nói chuyện về ơn cứu chuộc của Chúa, nhưng cũng là người thường được gọi là “kẻ mê đạo”. Khi hai người vừa gặp nhau, người bạn trêu chọc tín đồ da đen mà rằng: “Làm sao anh biết anh đã được cứu?” Người da đen cố ý chạy thêm mấy bước, rồi để bao khoai tụt xuống phía sau mình; và nói: “Tôi cũng hỏi anh, làm sao tôi biết bao khoai của tôi đã rớt xuống trong khi tôi không ngó lại đằng sau?” Người bạn ấy đáp: “Đó là lẽ đương nhiên, vì gánh nặng trên vai đã rớt, lẽ nào anh lại không biết được?”
Người tín đồ da đen gật đầu cho là phải mà rằng: “Gánh nặng đã rớt thì lẽ tự nhiên có thể biết được. Trước khi tin Chúa, tôi cũng có một gánh nặng trong lòng. Nhiều việc tôi làm đã đem lại đau khổ, và lương tâm không bình an. Nhưng nay gánh nặng ấy không còn nữa. Tôi đã tìm được sự vui thỏa và bình an từ khi tin nhận Jesus làm Cứu Chúa!”
Chúa Jesus phán: “Hỡi hết thảy những kẻ đương đau khổ và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được nghỉ ngơi.”
(Ma-thi-ơ 11:28)
426. JESUS HÔM NAY THẾ NÀO?
Trước đây, khi Ấn-độ còn thuộc quyền cai trị của nước Anh, có rất nhiều lính Anh trên đất Ấn. Nhưng nhiều người trong bọn họ không tin Chúa Jesus. Trái lại, tuy Ấn-độ không phải là một quốc gia theo Cơ đốc giáo, nhưng trong dân chúng Ấn lại có nhiều người tín đồ chân thành.
Một hôm, có một tín đồ Christ người Ấn-độ đi qua dinh trại của quân Anh. Nhiều lính Anh trong trại này biết người đó là tín đồ Christ sốt sắng, nên chê cười và giễu cợt rằng: “Ê, Jesus của anh hôm nay thế nào?” Tín đồ Ấn ngừng bước lại và đáp: “Các anh là binh sĩ của Anh quốc, một quốc gia theo Cơ đốc giáo. Tin Lành cứu rỗi của Chúa Jesus đã được truyền giảng cho các anh từ lâu. Còn chúng tôi là người sinh trưởng tại một quốc gia thờ tà thần và ngưu tượng, nay nhờ Kinh Thánh đến từ nước Anh mà nhìn biết và tin nhận Jesus làm Cứu Chúa. Điều đó chẳng khiến các anh phải quan tâm sao?” Nói xong, người lấy trong túi ra một cuốn Kinh Thánh rồi giơ cao lên mà rằng: “Cuốn sách này nói rõ Jesus hôm nay thế nào: Ngài hôm qua, ngày nay, và cho đến đời đời không hề thay đổi!”
“Ta là Giê-hô-va, Ta không hề thay đổi”
(Ma-la-chi 3:6)
427. HUYẾT LÀM SAO RỬA SẠCH TỘI ĐƯỢC?
Có một nhà truyền đạo đứng giảng trong một cuộc bố đạo lộ thiên. Nói đến Thập tự giá, ông cả quyết rằng huyết báu của Chúa Jesus, Con Đức Chúa Trời, có thể rửa sạch tội lỗi chúng ta được. Nghe như vậy, một thính giả ngỗ nghịch cất tiếng hỏi nhà truyền đạo rằng: “Huyết làm sao mà rửa sạch tội được?” Nhà truyền đạo đáp: “Tôi cũng hỏi anh, nước làm sao mà đã khát được?” Người ngỗ nghịch ấy trả lời: “Tôi không biết tại sao nước có thể làm cho đã khát, nhưng tôi biết nước có thể làm đã khát được”. Nhà truyền đạo liền nói: “Thế thì, tôi cũng không biết tại sao huyết có thể rửa sạch tội lỗi, nhưng tôi biết huyết báu của Chúa Jesus có thể rửa sạch tôi được”.
“Vả, theo luật pháp thì hầu hết mọi vật đều nhờ huyết mà được sạch, ngoài sự đổ huyết thì không có sự tha thứ”.
(Hê-bơ-rơ 9:22)
428. ĐỨC TIN LỚN
Ông George Muller là người bởi đức tin mà lập cô nhi viện. Ấy là điều ai cũng biết cả. Rất nhiều người nói ông là người có đức tin lớn. Điều đó thật không sai. Nhưng còn có một điều chúng ta nên biết, ấy là đức tin của những người đã vì yêu mến Chúa mà dâng tiền giúp cho cô nhi viện của ông Muller.
Có một lần, một thiếu phụ nghèo khó, chuyên may vá để sống qua ngày, đã đem một số tiền lớn, là một trăm bảng Anh, đến giúp cho cô nhi viện của ông. Lúc đầu ông Muller không dám nhận, vì thấy số tiền quá lớn đối với thiếu phụ nghèo khó ấy. Nhưng bà này nói: “Chúa Jesus đã vì tôi mà chảy đến giọt máu cuối cùng, tôi há không nên đem hết của cải mình có mà dâng cho Ngài hay sao?” Bấy giờ ông Muller mới thấy sự dâng tiền của bà là do lòng kính mến Chúa, nên đã nhận lấy mà rằng: “Chị ơi, đức tin của chị thật là lớn lắm!”
“Ban cho thì có phước hơn là nhận lãnh”
(Công-vụ Các-sứ-đồ 20:35)
429. GIÁO HUẤN BẰNG CON CHIM
Có một hôm, ông Martin Luther rất đỗi buồn phiền và chán nản. Trong cơn thử thách, ông thấy có con chim nhỏ đặt đầu vào cánh ngủ trên cành cây, sau khi đã hát xong bài ca buổi chiều. Thấy thế, ông liền tự mình dạy mình rằng: “Con chim nhỏ kia đã ăn xong bữa tối và bây giờ đương ngủ. Lòng nó thật là mãn túc, không hề lo lắng cho ngày mai. Ấy chẳng khác nào Đa-vít ở dưới bóng của Đấng Toàn năng vậy. Nó ngủ yên sung sướng trên cành cây, để Đức Chúa Trời hoàn toàn săn sóc và an bài cho nó”.
“Đức Giê-hô-va là Đấng gìn giữ ngươi.
Đức Giê-hô-va là bóng che ở bên hữu ngươi”.
(Thi-thiên 121:5)
430. TRỄ QUÁ
Có một con chim ưng đi kiếm mồi vào một buổi chiều đông giá lạnh. Nó từ trên cao nhìn xuống, thấy một con thỏ trắng trên một đám tuyết nổi giữa dòng sông chảy xuống thác Niagara. Vì đám tuyết đã dứt liên lạc với bờ, nên con thỏ không có đường nào chạy trốn. Chim ưng liền từ từ hạ cánh, dùng hai chân với móng nhọn của nó, vồ chặt lấy con thỏ và ăn thịt. Trong khi đám tuyết cứ theo dòng nước trôi xuôi, thì chim ưng vẫn đứng yên để ăn. Đến khi hoa nước của thác tung lên như đám mây mù bao trùm xung quanh, nó mới vỗ cánh bay lên nhưng không được. Trời lạnh đã khiến cho hai chân của nó dính chặt với tuyết đến nỗi không sao nhấc lên nỗi. Dù ráng hết sức và vùng vẫy đề tự cứu mình cũng vô ích, chỉ trong giây phút thác nước đã lôi cuốn nó mất tích.
Ngày nay, có nhiều người đã nghe Tin Lành của Chúa nhưng không chịu tin ngay. Họ cũng có thể vì quá lưu luyến với đời mà bị vấn vương đến không sao thoát ra được. Tới phút lâm chung, họ vẫn bị việc đời nắm giữ, đến nỗi cuối cùng phải hư mất.
“Tôi lật đật, không chậm trễ,
Mà gìn giữ các điều răn Chúa”.
(Thi-thiên 119:60)
431. THẦY BÓI KHÔNG GIỎI
Một vị Mục sư Tin Lành đi trên đường phố, gặp một thầy bói ngồi bên đường. Vì không biết đó là Mục sư, thầy bói vồn vã mời Mục sư dừng lại để thầy xem cho một quẻ. Mục sư mỉm cười nói với thầy bói rằng: “Ông thử bói xem tôi là con của ai, và sẽ còn sống đến bao giờ. Nếu đoán biết được, ông mới thật là thầy bói giỏi”. Nghe xong thầy bói ngó chăm Mục sư hồi lâu không trả lời được. Thấy vậy Mục sư nói tiếp: “Nếu ông không thể bói để biết được, thì tôi sẽ nói cho ông nghe: Tôi là con của Thượng Đế và sẽ sống đời đời”. Nói xong, Mục sư mỉm cười ra đi, để thầy bói nhìn theo và suy gẫm điều Mục sư đã nói.
“Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền bính trở nên con cái Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ tin đến danh Ngài”.
(Giăng 1:12)
“Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con độc sanh của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy, không bị hư mất mà được sự sống đời đời”.
(Giăng 3:16)
432. GIẤU TỘI
Có một thiếu phụ đem quần áo ra sông để giặt, nhưng vì sợ người ta thấy quần áo của mình quá bẩn nên không dám giặt kỹ, chỉ nhúng đi nhúng lại trong nước, rồi đem về mà phơi thôi. Vì vậy quần áo không có cái nào sạch cả.
Ngày nay, nhiều người cũng làm như thế trước mặt Chúa. Vì sợ Chúa thấy tội lỗi của mình quá ô uế, nên họ không dám xưng từng tội một với Ngài, chỉ trình bày một cách tổng quát và nói: “Lạy Chúa; lạy Chúa con là kẻ có tội, xin Ngài hãy tha thứ cho con!” Như thế là đã cố tình giấu diếm những lỗi lầm như trộm cắp, nói dối, ghen ghét, căm hờn v.v... khiến Chúa không thể rộng rãi ban ơn được.
“Hỡi bá tánh, khá nhờ cậy nơi Ngài luôn luôn.
Hãy dốc đổ sự lòng mình ra tại trước mặt Ngài”
(Thi-thiên 62:8)
433. GIẢNG ĐẠO KHÔNG MỆT
Có một thanh niên đứng giảng đạo trên vỉa hè ở Hoa-thịnh-đốn. Vì chưa được cảnh sát cho phép mà đã ngang nhiên hoạt dộng, nên thanh niên này bị bắt vì vi phạm và bị giải tòa. Quan tòa phán quyết phạt y hai mươi lăm đồng, hoặc phải ở tù mười ngày. Thanh niên bằng lòng ở tù hơn là phạt tiền, nên thưa với quan tòa rằng: “Cảm ơn quan, nguyện Chúa ban phước cho quan! Tôi xin vui lòng vào tù, vì có lẽ trong đó đương có nhiều người cần nghe Tin Lành lắm”.
Ba ngày sau, quan tòa được báo cáo rằng người thanh niên ấy đã mở một cuộc phấn hưng bố đạo rất kết quả. Nhưng câu gốc mà anh đã dùng trong cuộc bố đạo này, lại là một câu châm biếm và mỉa mai quan tòa.
Quan tòa liền gọi anh đến và nói: “Tôi không muốn anh ở trong khám nữa, muốn tha anh về. Nhưng có một điều tôi phải hỏi anh. Người ta có nói với tôi rằng anh đã lấy điều tôi phán quyết về sự vi pháp của anh làm đề tài để giảng cho các phạm nhân, có phải không?”.
Người thanh niên đáp: “Thưa quan, phải! Câu Kinh văn mà tôi dẫn dụng trong lúc giảng đạo, là một câu mà tất cả can phạm đều ưa thích, nên họ cứ xin tôi đọc đi đọc lại nhiều lần”.
Quan tòa nói: “Tôi cũng biết Kinh Thánh và đã từng đọc Kinh Thánh từ khi còn nhỏ, nhưng không biết câu nào trong đó lại miêu tả rõ sự phán quyết của tôi. Vậy anh có thể nói câu ấy là câu nào không?”
Thanh niên đáp: “Đó là câu 10, chương thứ 2 của sách Khải-thị. Câu ấy chép: Ngươi chớ sợ điều mình sắp chịu khổ. Này ma quỉ sắp quăng mấy kẻ trong các ngươi vào ngục, hầu thử thách các ngươi. Các ngươi sẽ bị hoạn nạn mười ngày”.
Quan tòa nói theo: “Các ngươi sẽ bị hoạn nạn 10 ngày!” Nhưng nghĩ một lát, quan tòa mỉm cười và bảo thanh niên ấy: “Tôi cho phép anh về nhà”.
“Hãy giảng đạo, chuyên trì bất luận gặp thời hay không gặp thời”.
(II Ti-mô-thê 4:2)
434. BÀN TAY CỦA CHÚA JESUS
Trong khi còn ở thế gian, Chúa Jesus thường dùng tay Ngài để cung cấp những sự nhu yếu cho nhiều người. Ngài đã dùng tay để bẻ bánh cho năm ngàn người ăn; Ngài đã dùng tay để bôi đất vào mắt người mù, khiến người thấy được; Ngài đã dùng tay để rờ kẻ phung, khiến bệnh phung được chữa lành; Ngài đã dùng tay để đỡ cô gái chết dậy, khiến cô lại sống. Tôi tin rằng khi chúng ta thấy Chúa Jesus, chúng ta sẽ rất yêu mến bàn tay của Ngài, vì chính đôi tay ấy đã bị đóng đinh vào thập tự giá vì tội lỗi của chúng ta.
Thuở xưa, sau khi đã từ kẻ chết sống lại, Chúa Jesus cũng từng phán với Thô-ma là người đa nghi rằng: “Hãy xem tay ta”. Rồi đây, sẽ có một ngày chúng ta được xem bàn tay của Chúa.
Có một thiếu phụ, mẹ của một cô gái, diện mạo rất đẹp đẽ nhưng lại có đôi tay khó coi. Một hôm, vì muốn biết nguyên nhân vì sao đôi tay của mẹ mình lại xấu như vậy, cô hỏi: “Mẹ ơi, đôi tay của mẹ không tương xứng với diện mạo của mẹ chút nào. Mẹ có bộ mặt rất đẹp, nhưng đôi tay thì lại khó coi. Tại sao như thế hở mẹ?” Bà mẹ đáp: “Con yêu dấu của mẹ ơi, khi con còn nhỏ, chưa biết nói cũng chưa biết đi, nhà của chúng ta bị cháy. Lúc ấy, mẹ ở dưới nhà, còn con thì nằm trong một cái nôi trên lầu. Trong khi lửa cháy tứ tung, mẹ phải mạo hiểm xông lên lầu để ẵm con chạy xuống. Nhờ sự vùa giúp của Đức Chúa Trời, mẹ đã cứu được con từ trong khói lửa ra nơi an toàn. Nhưng khi vừa tới lầu dưới thì đôi tay của mẹ đã bị lửa thiêu. Vì vậy mà đôi tay của mẹ ngày nay mới khó coi như vậy”.
Nghe xong, cô gái liền chảy nước mắt, ôm chặt lấy mẹ mà rằng: “Mẹ ơi, mẹ biết rằng con yêu mẹ. Con đã yêu bộ mặt, đôi mắt với cả thân hình của mẹ. Nhưng từ nay trở đi con sẽ yêu đôi tay của mẹ hơn”.
Chúa Jesus đã từ thiên thượng giáng sinh vào trần gian để cứu chúng ta là kẻ có tội. Vì bị đóng đinh vào thập tự giá mà đôi tay từ ái của Ngài đã vĩnh viễn mang theo vết đinh. Đôi tay đó – mà rồi đây hẳn chúng ta sẽ thấy được – là bằng chứng về sự yêu thương lớn lao của Ngài.
435. DƯ MỘT CHÚT CÒN HƠN THIẾU
Có một người, hễ làm điều gì hay trả gì cho ai, cũng muốn làm sao cho dư một chút. Chủ trương của người là “thà dư một chút còn hơn thiếu”. Có người hỏi tại sao lại làm như vậy thì người đáp: “Tôi chỉ có một cuộc đời và chỉ ở thế gian có một lần. Nếu làm gì hay trả gì cho ai mà còn thiếu, thì sau khi đã đi rồi, làm sao tôi có thể trở lại để đền bù chỗ thiếu cho người ta? Vì vậy thà dư một chút còn hơn thiếu”.
Kinh Thánh bảo: “Đừng mắc nợ ai chi hết.” (La-mã 18:3)
436. NÀNG KHÔNG CHỊU
Trong cuộc thế chiến thứ hai, khi không lực Đức Quốc Xã tấn công thủ đô Luân-đôn, có một tòa nhà bị bom bốc cháy. Ngọn lửa bùng lên dữ dội và lan rộng khắp nơi. Nhân viên cứu hỏa kéo đến cứu chữa. Trong khi đó, người ta nhìn thấy một người đàn bà đứng ở cửa sổ trên một lầu cao. Một nhân viên trong đội cứu hỏa liền khẩn cấp dựng lên một cái thang, rồi anh dũng leo đến tận chỗ người đàn bà đang đứng và giơ tay định đỡ người ấy lên vai mình để cứu người thoát hiểm. Nhưng người đàn bà ấy không chịu và chạy vào phía trong. Sau mấy lần giơ tay không được đáp ứng, đội viên cứu hỏa bất đắc dĩ phải xuống thang để cứu người khác vì còn hàng trăm người đang chờ mong được thoát hiểm. Khi đã xuống tới mặt đất, đội viên phát khóc với đội trưởng của mình rằng: “Tôi muốn cứu nhưng nàng không chịu!”
Bạn ơi, nếu sau này bạn phải hư mất đời đời, thì ấy chẳng phải là không có cứu ân cho bạn đâu, nhưng là tại bạn đã chối bỏ Chúa Jesus Christ và không chịu nhận Ngài làm cứu Chúa của mình. Bạn đã cố tình bỏ rơi hy vọng duy nhất để được cứu.
“Thánh Linh và tân phụ cùng nói: Hãy đến! Kẻ nghe hãy nói: Hãy đến! Ai khát cũng hãy đến. Kẻ nào muốn, hãy nhận lấy nước sự sống nhưng không” (Khải-thị 22:17).
437. THỬ HỎI VIỆC GÌ ĐÃ XẢY RA
Đêm đã khuya, chuông điện thoại bỗng réo vang trong văn phòng một trường Kinh Thánh nọ. Nhân viên có nhiệm vụ thức canh hôm ấy vừa cầm máy lên nghe, thì có tiếng đầu dây bên kia nói rằng: “Tôi là một binh sĩ hiện ở nhà ga Pensylvania và đương trên đường về nhà. Tôi vừa có dịp làm chứng về Chúa cho một thanh niên tuyệt vọng. Người này đang gặp sự đau khổ đến nỗi sắp tự sát. Tôi rất sung sướng vì đã thuyết phục được anh ta quăng lưỡi dao cạo mà anh định dùng để cắt cổ họng mình. Người thanh niên ấy vừa từ giã tôi ra về với cuốn Tin Lành Giăng cầm trong tay. Anh ta đã xin tôi cầu nguyện cho, cũng cho tôi biết là người thứ ba đã nói về Christ cho anh ta trong tuần này. Xin hãy cầu nguyện cho người thanh niên ấy thật được Chúa cứu”.
Thử hỏi việc gì đã xảy ra, nếu con cái Chúa không nói về ơn cứu chuộc Ngài cho kẻ khác?
“Hãy đi khiến muôn dân trở nên môn đồ ta” (Ma-thi-ơ 28:19).
-The Prophetic word-
438. KHÔNG CÓ ĐIỀU GÌ CẦN CĂN DẶN CẢ
Trong một cuộc đụng độ ác liệt với địch quân, một binh sĩ bị thương nặng và được đem đến một trạm cứu thương nơi tiền tuyến. Tại đây binh sĩ này, một tín đồ Christ, được một bác sĩ, cũng là một tín đồ Christ, săn sóc cho. Vì vết thương quá nặng cần phải giải phẫu ngay tại chỗ, bác sĩ nói với người bị thương rằng: “Tôi phải giải phẫu ngay cho anh, nhưng cũng cần cho anh biết là hi vọng cứu anh thoát khỏi hiểm nghèo rất ít. Vậy, ngay bây giờ, anh có điều gì cần phải căn dặn trước khi giải phẫu không?” Binh sĩ nói: “Không, tôi không có điều gì cần căn dặn cả. Xin bác sĩ cứ làm việc ngay đi. Nếu qua khỏi được thì mẹ tôi sẽ đón mừng; bằng không, Chúa Jesus là Đấng tôi hằng yêu mến, tin cậy và tôn thờ sẽ đón mừng tôi ở bên kia sự chết”.
-Evangelistic Illustrations-
439. ĐỨC CHÚA TRỜI HÁ CHẲNG NGHE TIẾNG MÁ DỐC ĐỔ HŨ BỘT MÌ SAO?
Tại Tô Cách Lan có một quả phụ nghèo và đông con. Mặc dù hết sức cần kiệm, bà cũng không thể làm sao thoát được cảnh nghèo túng.
Một hôm, tiền bạc đã hết, lương thực cũng chẳng còn, chỉ còn trong hũ bột một nắm bột mì mà thôi. Đó chẳng khác nào tình cảnh của bà quả phụ ở Sa-rép-ta thuở xưa trong thời Cựu Ước vậy. Trong khi phải dốc đổ tất cả số bột còn lại trong hũ để làm một ít đồ ăn cho các con nhỏ đỡ đói bà không thể cầm được giọt lệ chảy xuống từ hai mắt mình. Thấy thế, một trong những đứa con còn nhỏ của bà liền nói: “Má ơi! Đức Chúa Trời há lại chẳng nghe thấy tiếng má dốc đổ hũ bột mì sao?” Nghe như vậy, đức tin của bà tức thì tăng lên, bà bừng tỉnh và nói: “Phải, Đức Chúa Trời biết lắm! Mặc dù tất cả mọi sự đều đã hết, nhưng Chúa vẫn còn, Ngài đã nói Ngài sẽ cung cấp mọi sự nhu cầu cho chúng ta”.
Quả thật, từ đó về sau, mặc dù sống trong cảnh nghèo nàn và đông con, bà vẫn được Đức Chúa Trời cung cấp mọi sự nhu cầu bằng nhiều cách vô cùng kỳ lạ.
“Tôi ngước mắt lên trên núi: Sự tiếp trợ tôi đến từ đâu? Sự tiếp trợ tôi đến từ Đức Giê-hô-va là Đấng dựng nên trời và đất”. (Thi-thiên 121:1,2)
440. NẾU CHỈ VÌ MỘT TRĂM VẠN ĐỒNG
Có một ký giả đi du lịch tại Ấn-độ, tới thăm một bệnh viện của người phung do một hội truyền giáo đảm trách. Tại đây các nhà truyền giáo thâu nhận người phung mỗi ngày và chùi rửa các vết thương của họ. Sau khi đã quan sát công việc hàng ngày của các giáo sĩ, ký giả ấy nói: “Dù có ai trả tôi một trăm vạn đồng mỗi ngày, tôi cũng chẳng làm công tác này cả”.
Nhự vậy, thử hỏi: Vì gì mà các giáo sĩ lại tận tâm làm công tác ấy?
“Vì tình thương yêu của Đấng Christ khích lệ lòng chúng tôi”.
(IICô-rinh-tô 5:14)
441. LỜI ĐÁP CỦA SINH VIÊN
Trong giờ thi tại một thần học viện, giáo sư ra cho các sinh viên hai câu hỏi để giải luận, một là về ma quỉ, hai là về Thánh Linh.
Trong các sinh viên dự thi có một người dùng hết thì giờ mình có để viết về Thánh Linh. Đến lúc nộp bài, anh ta viết dưới câu hỏi về ma quỉ rằng: “Không có thì giờ!”.
Dùng tất cả thì giờ cho Thánh Linh, không để một chút thì giờ nào cho ma quỉ, đó là bí quyết đắc thắng của người Christ.
“Chớ nhường chỗ cho ma quỉ”.
(Ê-phê-sô 4:27)
442. TIẾNG ĐÃ NGHE QUEN
Một học giả về côn trùng học đi dạo chơi với một người bạn thương gia trên con đường đất bên ngoài kinh thành. Bỗng dưng nhà côn trùng học dừng bước lại, tiến đến một
bụi cây, như muốn tìm kiếm vật gì trong đó. Nhà thương gia nhìn theo, nhưng không biết ông bạn của mình muốn kiếm gì. Một lát, nhà côn trùng học tìm thấy một con trùng nhỏ giống như con dế, và đưa cho bạn mình xem. Ông nói: “Tôi nghe tiếng nó kêu, nên mới dừng lại để tìm nó đấy!” Ông bạn thương gia rất lấy làm lạ, vì tiếng của loại côn trùng này rất nhỏ nhẹ, chính mình chẳng nghe thấy gì cả, thế mà nhà côn trùng học lại nghe dược.
Một lát sau, khi họ đã vào quá ngoại ô, tới chỗ náo nhiệt của thành phố, ông bạn thương gia bỗng dừng bước lại và cúi xuống nhặt lấy một đồng bạc nhỏ mà chiếc giày của nhà côn trùng học đụng vào. Còn nhà côn trùng học cứ đi mà chẳng nghe thấy gì cả.
Chuyện này cho thấy, lỗ tai của chúng ta cũng cần phải được huấn luyện. Đã nghe quen tiếng gì thì đối với tiếng ấy tai của chúng ta rất dễ nhận biết. Nếu đã nghe quen tiếng của thế gian, chúng ta sẽ không nghe được tiếng kêu về Chúa đến.
“Chúa Jesus phán rằng: “Ai có tai hãy lắng nghe các điều của Thánh Linh phán cùng Hội Thánh”.
(Khải-huyền 2:29)
443. MỌI SỰ ĐỀU TỐT
Ông Thi-Bá-Phúc là một luật sư. Một hôm, trong khi ông đương ở tại văn phòng, có người đến báo tin cho ông biết: Bốn người con gái của ông đã té xuống nước và chết chìm, còn bà vợ của ông vì quá xúc động mà ngã ra bất tỉnh. Bác sĩ nói, dù có cứu sống được, sau này cũng trở thành phế nhân mà thôi. Vừa nghe xong ông Thi-Bá-Phúc chẳng nói năng một lời nảo cả, điềm nhiên đi đến bàn giấy, ngồi xuống viết mấy câu rằng:
“Hoặc bình an như nước chảy xuôi dòng,
“Hoặc buồn bực như sóng đào đảo lộn;
“Bất cứ tao phùng thế nào, ta cũng nói:
“Mọi sự đều tốt! Phải, mọi sự đều tốt!
Từ lúc ấy, ông dâng trọn đời sống mình cho Chúa để hầu việc Ngài.
“Chúa khiến người ta cỡi trên đầu chúng tôi: chúng tôi đi qua lửa, qua nước, nhưng Chúa chẳng đem chúng tôi ra nơi giàu có”.
-Theo T.K.B. Hoa ngữ-
444. KHÁT KHAO NƯỚC SỐNG
Có một thiếu nữ quyết tâm tin nhận Jesus làm Cứu Chúa. Cha mẹ của nàng là người không có đạo, đã dùng đủ mọi cách để bắt buộc nàng phải từ bỏ đức tin. Cha nàng nói: “Con gái mà sốt sắng về tôn giáo là điều trái ngược với thiên nhiên”. Nhưng nàng đáp lại rằng: “Thưa cha, tin Chúa Jesus không phải là sốt sắng về tôn giáo, cũng chẳng phải là trái ngược với thiên nhiên, nhưng là siêu việt thiên nhiên, vì chỉ Đức Chúa Trời làm nên vũ trụ diệu kỳ và chỉ Jesus mới là Cứu Chúa đáng cho lòng con kính mến và tin cậy. Con sẽ chẳng khi nào lìa bỏ Ngài đâu”.
Sau đó không lâu cha nàng lại nói: “Con gái ta ơi! Ta tưởng đức tin của con làm chính đáng, vì con vốn có tính lười biếng, nhưng nay lại có thể dậy sớm để cầu nguyện và đọc Kinh Thánh mỗi ngày. Như vậy, hẳn có sự gì kỳ diệu đã khích động và phấn khởi lòng con, nhất là từ khi theo Chúa tới nay, những sự biến đổi trong con đều tốt cả. Ta cầu xin cho con tìm được ánh sáng của chân lý!”
“Đức Chúa Trời ôi! Linh hồn tôi mơ ước Chúa, như con nai cái thèm khát khe nước”
(Thi-thiên 42:1)
445. HIẾN DÂNG VÀ DÂNG CHÍNH THÂN MÌNH
Một buổi sáng Chúa nhật tại một Hội Thánh nọ, có buổi nhóm đặc biệt dành cho công cuộc truyền giáo ở hải ngoại. Tín đồ từ các nơi đến nhóm rất đông để nghe điệp tín (message) do một nhà truyền đạo trứ danh tới giảng. Sau giờ giảng có sự kêu gọi tín đồ hiến dâng dùng tiền bạc cho công cuộc đối ngoại bố đạo. Các chấp sự của Hội Thánh đem mâm đến trước người dâng để nhận tiền. Sau khi đã lấy xong tiền dâng rồi, trong khi các chấp sự sắp sửa rút lui khỏi hội chúng, thì có một em nhỏ độ mười ba tuổi đi lên. Em này đã chịu cảm động mạnh mẽ trong khi nghe giảng, nhưng trong túi không có tiền. Em đến trước một vị chấp sự cầm mâm và xin vị này để mâm xuống đất. Mặc dù không hiểu ý định của em, vị chấp sự ấy cũng cứ làm theo điều em bảo làm. Bấy giờ em nhỏ bước vào đứng giữa mâm và cúi đầu khẩn nguyện cùng Đức Chúa Trời rằng: “Chúa ơi! Con không có tiền để dâng cho công cuộc truyền giáo hôm nay, nhưng con xin hứa nguyện dâng chính thân con cho Ngài dùng vào công cuộc truyền giáo!” Từ đó trở đi, em giữ tấm lòng dâng mình không thay đổi. Về sau, quả nhiên em trở thành một giáo sĩ.
446. VỀ SAU SẼ HIỂU
Một bà mẹ kia có một đứa con gái duy nhất, chẳng may đứa con ấy lại qua đời, khiến bà mẹ đau khổ không sao an ủi được. Một hôm, Mục sư của Hội Thánh đến thăm, bà nhỏ nhẹ hỏi Mục sư rằng: “Mục sư ơi! Tại sao Đức Chúa Trời lại cất con gái yêu dấu và độc nhất của tôi đi?” Mục sư im lặng không biết nói làm sao cả.
Chúng ta không nên trách vì sao bà từ mẫu này lại hỏi như thế, nhưng nên nhớ rằng chính Chúa Jesus Christ cũng đã hỏi Thiên Phụ: “Đức Chúa Trời ôi! Đức Chúa Trời ôi! sao Ngài...?”
Jesus đáp rằng: “Điều ta làm hiện nay ngươi chẳng hiểu, nhưng về sau sẽ hiểu”.
(Giăng 13:7)
447. CÒN CÓ SAO TRỜI
Có hai khách bộ hành giữa đường gặp mưa to gió lớn, phải vào trong hang núi trú ẩn. Sau khi mưa gió đã ngớt, hai người mới từ trong hang núi bước ra, thì thấy nước ngập bốn bề, cây cối ngã rạp, không còn thấy rõ phương hướng nào cả. Những tấm đá chỉ địa phương cũng đã biến mất, trời lại tối dần, hai người rất đỗi lo lắng. Một trong hai người ấy ngồi xuống than thở mà rằng: “Thôi, có lẽ chúng ta phải chết mất, còn biết làm sao bây giờ đây?” Song người kia nói: “Thật cái gì cũng chẳng còn, nhưng ban đêm có sao sáng. Tôi có thể nhờ ống kính viễn vọng của tôi mang theo mà đoán biết chúng ta hiện đang ở đâu, và tìm được phương hướng đằng trước”.
Ngày nay, cảnh vật của thế giới cũng đương biến đổi mau lẹ nhưng sao trời vẫn còn chiếu sáng. Chúng ta có thể theo đó mà tìm được lối an toàn.
“Đức Chúa Trời tôi ôi! Linh hồn tôi bị sờn ngã trong mình tôi, nên... tôi nhớ đến Chúa”.
(Thi-thiên 42:6)
448. NHỮNG SỢI TÓC BẠC ĐẦU TIÊN
(Đối với tôi) Thi-thiên 71:18
Tôi không hiểu đối với người khác, những sợi tóc bạc đầu tiên của tuổi già có đem lại ý nghĩa gì không, chứ đối với riêng tôi, những sợi tóc ấy thật là quan trọng. Lần đầu tiên, khi mái tóc trên đầu khởi sự bạc, tôi cứ tưởng đó là những sợi tóc sâu. Nhưng rồi, những sợi tóc tưởng là sâu ấy, càng ngày càng thêm nhiều, cho đến một hôm, người thợ hớt tóc nói với tôi rằng: “Một phần năm tóc trên đầu của ông đã bạc!” Ồ thế ra cái già đã đến với tôi qua những sợi tóc trắng đầu tiên ấy, và đời tôi đã nghiêng bóng về chiều! Tôi bâng khuâng suy nghĩ đến những điều gì sẽ phải xảy đến trong ngày mai, và giật mình khi ý nghĩ đến trong lòng là mình sẽ qua đời, sẽ gặp Chúa trong sự vinh hiển, sẽ chịu thẩm phán về mọi việc mình đã làm trong đời này...
Từ đó trở đi, những sợi tóc bạc ấy như có một thứ tiếng nói thầm lặng mà chỉ lòng tôi nghe rõ. Chúng cảnh cáo về mọi sự gắn bó với đời này,và khuyên hãy quyết tâm sống một nếp sống trong sạch và cao trọng cho danh Chúa.
Nhiều hôm, sau khi vừa thấy lại những sợi tóc bạc ấy qua tấm gương soi, với những ý nghĩ vụt đến trong lòng, tôi quì gối xuống nơi phòng riêng và cầu nguyện: “Lạy Chúa! Xin Ngài hãy tha hết cho con mọi điều lầm lỗi, và giúp con sống cách nào để được thỏa lòng khi gặp mặt Chúa ở ngày mai!”
449. XIN ĐỪNG HỎI NỮA
Mục sư Hà Đĩnh nói chuyện với một thanh niên tín đồ muốn được sai đi truyền giáo ở ngoại quốc. Mục sư hỏi: “Anh có nghĩ đến việc ra đi xa nhà xa nước, cách biệt với những người thân yêu trong gia đình lâu ngày không?” Thanh niên tín đồ đáp: “Tôi đã có nghĩ đến những điều đó, nhưng không lấy làm lo ngại”. Mục sư lại hỏi: “Anh có nghĩ rằng nơi mà anh đi đến, là chỗ lạ nước lạ non, không có bà con bạn hữu, nhưng lại có nhiều kẻ thù không?” Thanh niên tín đồ đáp: “Tôi đã có nghĩ đến điều đó, nhưng không lấy làm lo ngại”. Mục sư lại hỏi nữa: “Anh có nghĩ rằng, sau khi đã lìa xa bổn quốc, anh sẽ mất hết quyền lợi của một công dân trong nước, và ở nơi xa lạ ấy, anh sẽ làm mồi cho các thứ bệnh như sốt rét, ngã nước, kiết lỵ, v.v... mà không có thầy thuốc giỏi để chữa lành không?” Thanh niên tín đồ đáp: “Tất cả những điều đó, tôi đều đã nghĩ đến cả, nhưng không lấy làm lo ngại. Tôi chỉ có một đời sống dâng cho Chúa. Nếu có một nghìn đời sống tôi cũng quyết định dâng hết cho Ngài. Xin đừng hỏi nữa nhưng hãy sai tôi!”
“Tôi nghe có tiếng Chúa phán rằng: Ta sẽ sai ai đi? Ai sẽ đi cho chúng tôi? Tôi thưa rằng: có tôi đây; xin hãy sai tôi!”
(Ê-sai 6:8).
450. KINH THÁNH VỚI
KẺ ÁC
“Mặt Đức Giê-hô-va nghịch cùng kẻ làm ác” (Thi-thiên 34:16).
“Những kẻ làm ác sẽ bị diệt” (Thi-thiên 37:9).
“Kẻ ác lập mưu nghịch người công bình, và nghiến răng cùng người” (Thi-thiên 37:12).
“Chúa sẽ chê cười nó, vì thấy ngày phạt nó hầu đến” (Thi-thiên 37:13).
“Kẻ ác đã rút gươm và giương cung mình, đặng đánh đổ người khốn cùng và kẻ thiếu thốn, đặng giết người đi theo sự ngay thẳng. Gươm chúng nó sẽ đâm vào lòng chúng nó” (Thi-thiên 37:14).
“Cánh tay sẽ bị gãy” (Thi-thiên 37:17).
“Kẻ ác mượn mà không trả lại” (Thi-thiên 37:21).
“Kẻ ác rình rập người công bình, và tìm giết người” (Thi-thiên 37:32).
“Kẻ ác sai lầm từ trong tử cung. Chúng nó nói dối lầm lạc từ khi mới lọt lòng mẹ” (Thi-thiên 58:3)
NGƯỜI THIỆN
“Mắt Đức Giê-hô-va đoái xem người công bình” (Thi-thiên 34:15).
“Người hiền từ sẽ nhận được đất làm cơ nghiệp” (Thi-thiên 37:11).
“Đức Giê-hô-va biết số ngày kẻ trọn vẹn, cơ nghiệp người sẽ còn đến đời đời. Trong thì xấu xa, họ không bị hổ thẹn; trong ngày đói kém họ được no nê” (Thi-thiên 37:18-19).
“Đức Giê-hô-va nâng đỡ người công bình” (Thi-thiên 37:17).
“Người công bình làm ơn và ban cho” (Thi-thiên 37:21).
“Người công bình sẽ vui vẻ nơi Đức Giê-hô-va, và nương náu mình nơi Ngài” (Thi-thiên 64:10).
“Miệng người công bình xưng điều khôn ngoan, và lưỡi người nói sự chánh trực” (Thi-thiên 37:30).
Trước tôi trẻ, rày đã già
Nhưng chẳng hề thấy người công bình bị bỏ,
Hay là dòng dõi người đi ăn mày.
(Thi-thiên 37:25)
451. ĐƯỢC LÒNG CHÚA HƠN
Có một người chăn nuôi sinh súc cho người khác, khi luận về việc hầu việc Chúa đã nói như sau:
“Nhiều người lầm tưởng phụng sự Chúa Jesus, là phải đứng từ tối đến sáng trước mặt Ngài, mà kêu gào cho đến kiệt sức rằng: “A-lê-lu-gia, ngợi khen Chúa, cảm tạ Ngài. v.v... Như thế mới là phụng sự Chúa”.
Như vậy, nếu tôi đây là người chăn thuê sinh súc cho kẻ khác, cứ đứng cả ngày trước mặt một ông chủ của tôi để nói thế này, thế kia, nhưng lại chểnh mảng trong việc chăm nom, nuôi dưỡng bầy bò, bầy chiên của ông, thì thử hỏi ông chủ ấy sẽ nghĩ thế nào về tôi? Chắc ông ấy sẽ chẳng tín nhiệm giao phó bầy bò, bầy chiên của ông để tôi chăn dắt nữa.
Trái lại, nếu tôi chịu khó thắt lưng lại, dẫn dắt bầy bò, bầy chiên đến đồng cỏ xanh tươi và mé nước bình tịnh, chăm nom thật tử tế, cho chúng ăn uống no đủ; đồng thời, chính tôi cũng luôn luôn tỉnh thức, không để cho chúng bị muôn sói vồ xé, hoặc mất vào tay kẻ trộm, thì với lòng trung thành trong công tác như thế, tôi há chẳng được lòng của chủ nhân hơn sao?”.
Phải lắm, người Christ cần có lòng cảm tạ và ngợi khen trước mặt Chúa, nhưng sự ngợi khen chân thật bao giờ cũng phải đi đôi với công tác phụng sự chân thành.
Ngươi có thương yêu ta hơn những kẻ này chăng?... hãy nuôi chiên con ta.
(Giăng 21:15)
452. CHẲNG PHẢI BỀ NGOÀI
Ông Millet, nhà đại danh họa nước Pháp, nói: “Bí quyết của nghệ thuật chân chính trong nghề vẽ, là vẽ được những điều không thấy được”.
Một hôm, sau khi vừa vẽ xong một bức họa, ông mời một bạn họa sĩ đến xem. Bức họa của ông là một nẻo hẹp trong xóm vắng, có hoa dại vàng và hoa bốn giờ mọc hai bên đường. Chờ người ngắm xem một lát rồi ông hỏi: “Anh nghĩ thế nào về bức họa này?” Họa sĩ đáp: “Tôi không biết đã thấy gì, nhưng trong bức họa có tiếng hót của họa mi”.
Điều người tin kính Chúa cần được nghe và thấy khi đến nhà thờ, không phải là cảnh trang trí uy nghiêm của tòa giảng, cũng không phải là các bản thánh ca du dương, hoặc bài giảng hùng hồn, nhưng chính bản thân của Christ, Nguyên thủ Hội Thánh.
453. BA CÁI GỐI
Có một nữ tín đồ nghèo, vừa mù lại vừa mắc phải một thứ bệnh khó chữa, phải nằm lâu trên giường bệnh.
Một hôm, Mục sư của Hội Thánh đến thăm và nói với bà rằng: “Tôi thấy sự đau khổ của bà thật là phi thường”.
Bà đáp: “Ít lâu trước đây, có một Mục sư nói với tôi rằng ông ta có đi thăm một người sắp qua đời, và hỏi người ấy: “Bây giờ bạn thấy trong mình ra sao? Người sắp qua đời đáp: “Tôi hiện đang yên nghỉ trên ba cái gối: Cái thứ nhất là sự toàn năng của Đức Chúa Trời, cái thứ hai là sự toàn trí của Đức Chúa Trời, và cái thứ ba là sự toàn ái của Đức Chúa Trời. Về phần tôi hôm nay cũng vậy, nên rất an tâm và không lo lắng gì cả”.
“Ân điển của Ta đủ cho ngươi rồi, vì quyền năng của Ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối” (IICô-rinh-tô 12:9).
454. TỐI NAY CON VẪN ĂN CÁ
Tại Hương Cảng, có một gia đình đánh cá người Trung Hoa. Tất cả mọi người trong gia đình này đều thờ ngẫu tượng, ngoại trừ một cô gái nhỏ. Cô gái này thường đến nhà thờ học Trường Chúa Nhật và đã tin nhận Cứu Chúa Jesus.
Một hôm, cả nhà lên núi để cúng sơn thần. Họ chuẩn bị thịt gà, thịt heo và nhiều món ăn khác để đem đi cúng. Cúng xong, tất cả những món ấy sẽ được đem về gia đình ăn bữa chiều. Cha mẹ nói với cô gái nhỏ rằng, nếu cô chịu đi cúng sơn thần, thì lúc về sẽ được ăn cơm với thịt gà, thịt quay. Vì gia đình này là một gia đình chài lưới, quanh năm chỉ ăn cá, nên bữa cơm nào có thịt quay, thịt gà, thì ấy là bữa cơm rất đặc biệt. Tuy nhiên, vì không muốn bỏ Chúa đi thờ tà thần, nên cô quyết tâm không ăn đồ cúng. Cô tả lời cha mẹ rằng: “Không, tối nay con vẫn ăn cá!”
“Đành lựa chọn thà đồng chịu ngược đãi với dân Đức Chúa Trời còn hơn là tạm hưởng sự vui sướng của tội lỗi” (Hê-bơ-rơ 11:25).
455. HOA VÀ MẶT TRỜI
Có một tín đồ cùng bạn dạo chơi trong vườn hoa, giữa lúc hoa đương nở đẹp. Người bạn tín đồ hỏi rằng: “Anh thường nói với tôi về Chúa Jesus. Vậy với anh có quan hệ thế nào?” Tín đồ dừng bước lại, chỉ vào một đóa hồng tươi thắm mà rằng: “Mặt trời có quan hệ với hoa kia thế nào, thì Chúa Jesus cũng quan hệ với linh hồn tôi như thế”.
“Christ là sự sống của tôi” (Phi-líp 1:21).
456. MỘT BẰNG MỘT NGÀN
“Bạn có thể đếm những quả táo trên cây táo, nhưng không thể đếm những cây táo trong quả táo”.
Có một nhà truyền đạo tỏ vẻ buồn rầu khi kiểm điểm thành quả công tác của mình trong một năm. Trong cả năm, nhà truyền đạo này chỉ đem được có một người trở về cùng Chúa. Có người hỏi: “Vậy thì, kẻ đã qui Chúa ấy tên là gì?” Nhà truyền đạo đáp: “Đó chỉ là một em nhỏ làm vườn tên Mô-pha-rô-bốc”.
Nhưng sau khi đã lớn khôn trong Chúa, Mô-pha-rô-bốc trở nên người truyền giáo cho Nam Phi-châu, và đã dẫn dắt cho vô số linh hồn đến cùng Chúa. Như vậy, một người cũng bằng một ngàn người.
Trên cây chỉ có một quả táo, nhưng quả táo ấy chứa đựng biết bao cây táo vị lai!
“Kết quả của người công bình giống như cây sự sống; Người khôn ngoan có tài được linh hồn người ta”
(Châm-ngôn 11:30).
457. KHIẾN KẺ KHÁC ĐƯỢC PHƯỚC
Đức Giê-hô-va phán cùng Áp-ra-ham rằng: “Ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước” (Sáng-thế Ký 12:2).
“Thành một nguồn phước”, là khiến kẻ khác được phước. Nhưng trên đời, nhiều người chỉ mưu cầu hạnh phước cho mình, chỉ muốn cả danh và lợi đều thuộc về mình, thậm chí còn xây dựng cả hạnh phước của mình trên sự đau khổ của kẻ khác.
Bạn có muốn được Đức Chúa Trời ban phước cho bạn không? Hãy chú ý đến câu này: “Ngươi cũng phải khiến kẻ khác được phước!”
458. ỐNG HÚT NƯỚC
Một gia đình kia tiếp một quí khách trong nhà. Sau một thời gian, người khách này rời gia đình ấy để đi xa. Trước khi ra đi, vì muốn biếu một món quà cho cậu bé mười tuổi trong gia đình này, nên ông ta đưa cho cậu một cuốn mục tập các mẫu bách hóa, và nói: “Tối nay cậu có thể xem cả cuốn sách này, rồi sáng mai sẽ cho tôi biết cậu thích món gì trong đó. Tôi sẽ mua cho cậu bất cứ thứ nào mà cậu lựa chọn”. Sáng hôm sau, cậu bé nói với vị quí khách ấy rằng: “Tôi muốn được 500 cái ống hút nước”.
Đáng tiếc thay cho cậu bé! Trong cuốn tập mục bách hóa, có biết bao loại hàng quí giá, tha hồ lựa chọn. Nhưng cậu đã chẳng chọn thứ nào đáng tiền, mà chỉ chọn lấy cho mình 500 cái ống hút nước, là vật không có giá trị gì cả!
Câu chuyện trên đây cho chúng ta cơ hội để suy nghĩ. Phải chăng chúng ta cũng như cậu bé này? Đức Chúa Trời đã đưa cho chúng ta một cuốn tập mục bách hóa là Kinh Thánh, trong ấy có biết bao lời hứa quí báu của Ngài nhưng khi cầu nguyện, chúng ta có xin Ngài ban cho những điều quí trọng thuộc linh, hay chỉ xin những điều tạm thời thuộc thể?
“Trước hết hãy lo tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công nghĩa của Ngài” (Ma-thi-ơ 6:33).
459. NGƯỜI NGA HỎI ĐƯỜNG ĐI
Ngày 29/5/1972 Tổng thống Richard Nixon đọc bài diễn văn 15 phút nói chuyện với người Nga tại Mạc-tư-khoa.
Trong bài diễn văn ấy, Tổng thống Nixon có kể chuyện một người Nga hỏi thăm đường như sau:
Có một người Nga đi qua một làng kia, ông biết rõ chỗ mình sẽ đến, nhưng không biết còn bao lâu nữa thì đến. Khi đương đi đường ông gặp một người tiều phu, ông hỏi người này, còn bao lâu nữa tới làng kia? Người tiều phu nhìn ông rồi đáp: “Tôi không biết!” Ông vội bước đi và tin chắc rằng người tiều phu kia biết. Bước đi được vài bước thì người tiều phu gọi với lại: “Này, ông ơi! Ông đi độ 15 phút nữa là ông tới.”
Ông hỏi tại sao khi nãy tôi hỏi ông nói ông không biết? Người tiều phu đáp: “Khi ông hỏi ông chưa hành động tôi không thấy bước đi của ông dài hay ngắn làm sao tôi có thể trả lời cho ông được.”
Như vậy, ta đi tới đích hay không, sớm hoặc muộn là do hành động của ta. Có thể nói thành công hay thất bại trong cuộc đời của ta là do việc làm (hành động) của ta.
460. BỬU VẬT VÔ GIÁ
Dưới dòng tít “Một ông thợ may vớ được “kho tàng” trị giá hàng chục vạn “đô-la”, nhật báo NGÔN LUẬN xuất bản tại Sài Gòn số 1032 ra ngày 23-6-1958 đã loan tin như sau:
“VIENNE. - Cách đây chừng 50 năm, một anh chàng thợ may ngụ ở Vienne có bắt được một quyển Thánh Kinh ấn loát vào năm 1603.
Năm nay người thợ may ấy đã 77 tuổi. Ông lão vẫn giữ được quyển sách ấy, nhưng đã coi đó là đồ bỏ đi và vứt vào một xó tủ. Ông ta cũng không bao giờ ngờ rằng nó là một quyển duy nhất viết toàn bằng chữ La-tinh còn lưu lại ở trên thế giới.
Ngày vừa qua, ông ta viết thư cho một người bà con bên Mỹ và có nói sơ qua về quyển sách ấy. Người này bèn hỏi một nhà chuyên môn sưu tầm sử liệu ở một đại đường thì được biết rằng, cuốn sách ấy rất có giá trị và bằng lòng mua với giá 100.000 đô-la.
Nhưng ông lão thợ may khi thấy rõ cái giá trị của cuốn sách đã nhất định đòi 200.000 đô-la mới bán. Số đô-la ấy tính theo giá thị trường tiền tệ Việt Nam xoàng ra cũng phải hơn 10 triệu bạc.
Thật là một món bở không thể tưởng tượng được.”
Khi đọc tin trên đây, tôi liên tưởng đến một số con cái Chúa đã đối xử với Kinh Thánh cũng như người thợ may này. Thay vì quí trọng và hằng đọc lời của Đức Chúa Trời, họ đã coi thường và vứt vào một xó, bất đắc dĩ lắm mới ôm theo mỗi khi đi đến nhà thờ. Các bạn có biết Kinh Thánh giá trị ngần nào chăng? Có thể lấy số tiền 200.000 Mỹ kim tức trên 10 triệu bạc Việt Nam để đánh giá cho Kinh Thánh chăng? Không, Kinh Thánh là một bửu vật vô giá, một của báu siêu phàm, vì chính là lời hằng sống của Đức Chúa Trời. Ông Bernard Barton, tác giả của bản Thánh ca số 152 đã luận về Kinh Thánh đại để như sau: “Kinh thánh là một ngọn đèn soi sáng đề rọi đường cho chân ta khỏi vấp ngã; là nguồn hạnh phước vô biên của thiên đàng; là con sông êm dịu chảy bên thiên lộ; là linh lương để nuôi dưỡng hồn ta; là bánh ma-na của thiên quốc; là tấm hải đồ thiên thượng, và là kim chỉ nam giúp ta có thể vượt biển trần để vào nước trời bình an vô sự”.
Thật vậy, “Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành” (IITi-mô-thê 3:16)
Hừng Đông
461. CON TRAI BỊ MẤT
Chương thứ 15 của sách Lu-ca có chép về ba thí dụ của Chúa Jesus. Ba thí dụ ấy là: Con chiên bị lạc, đồng bạc bị mất và con trai hoang đàng. Nếu đọc thật kỹ, chúng ta ắt thấy có sự dạy dỗ về đặc tánh của loài người chúng ta.
Trong hai thí dụ đầu, chúng ta thấy người chăn đã hy sinh mạng sống của mình để tìm cho kỳ được con chiên bị lạc; Người đờn bà cũng hết sức tìm kiếm cho đến khi thấy lại đồng bạc bị mất của mình. Nhưng về đứa con hoang đàng, thì chẳng có ai đi tìm nó cả. Chính nó phải tự tìm lấy đường về cho nó.
Ngày nay, có biết bao người ra sức khai sơn phá thạch để tìm cho kỳ được kim khí, hoặc lặn xuống biển sâu để mò kiếm của cải trong những chiếc tàu chìm. Nhưng con trai hay con gái của mình, tức những của cải quí báu hơn những điều ấy, thì lại cho chúng tự ý đi mãi trong đường diệt vong.
Evangelistic Illustrations.
462. CHUYỆN LẠ XẢY RA
(Mục sư cầu nguyện cho cướp)
Báo Chính Luận số 2499 ra ngày 30-6-1972 tại Sài Gòn. Thuật lại một chuyện ký (HT) như sau:
Chuyện lạ xảy ra bên Mỹ
Cướp vào nhà thờ vồ tiền
(Mục sư cầu nguyện cho kẻ cướp)
PONTIAC. – Một vụ cướp táo bạo lần đầu tiên xảy ra ngày trong nhà thờ khi đang hành lễ tại tỉnh Pontiac thuộc tiểu bang Michigan.
Buổi lễ do Mục sư Nesselroad đang cử hành thì có hai tên cướp trẻ tuổi khoảng chừng 20 tuổi đã lẻn vào nhà thờ bằng cửa hông, một tên trong bọn đã rút súng ra và bắn lên nóc nhà thờ, rồi la lớn: “Đây là vụ cướp thật, tất cả mọi người giữ nguyên vị trí và rút hết tiền ra khỏi túi”.
Một tên đứng ngay ở cửa ra vào để canh chừng những tín đồ, còn tên kia thì rút ra hai khẩu súng Roulo và bước lên khu hành lễ để tìm chiếc khay thu tiền.
Ông quản gia nhà thờ bị một tên dí khẩu súng ngay vào đầu và lột ví của ông ta ra, tên này lấy hết những tiền đã quyên được đi vào hành lang giữa nhà thờ thu hết tất cả tiền bạc mà các tín đồ đưa ra. Thu xong, tên ăn cướp này trở lại phía hành lễ leo lên bục của Mục sư và thu xếp tiền nong lại ngay cho thẳng.
Mục sư Nesselroad đã nhìn thẳng vào mắt tên cướp này và nói: “Con biết Chúa luôn luôn thương yêu con.” Tên ăn cướp dồn tiền vào túi rồi trả lời: “Thưa Mục sư, con hy vọng như vậy.” Lúc đó ông quản nhà thờ, quay lại phía tín đồ đang đứng và cầu nguyện: “Xin Thượng đế hãy giúp cho những đứa trẻ khốn khổ này nhận thức được cuộc đời tàn bạo của họ đi đến đâu”.
Lúc đó cả nhà thờ cùng cầu nguyện, một vài người nhìn thấy tên quái tặc kia có vẻ run rẩy. Cuối cùng tên cướp chỉa súng về phía ông quản gia nhà thờ rồi nhảy xuống, đồng thời tên này cũng ra lệnh không ai được đuổi theo chúng, tên đồng lõa cũng nối theo tên kia chạy vọt ra khỏi nhà thờ.
Cảnh sát đã đến làm biên bản nhưng Mục sư Nesselroad và những giáo chức đều không muốn truy nã kẻ cướp, ông quản gia nhà thờ nói: “Một vài người không chỉ cho chúng con đường đi đến nước Chúa”.
(HT)
463. ĐẼO GỌT NÊN HÌNH
Mục sư Billy Graham có thuật một chuyện như sau:
Tôi có một người bạn thiết, anh này là một người Christ “vững vàng không rúng động”, y như Kinh Thánh đã nói. Về anh, vợ con đều chết cả, tài sản bị tổn thất, địa vi cũng không còn, chỉ còn lại một đức tin thôi.
“Một hôm, anh đến gần một đám đông thợ đang xây dựng một nhà thờ lớn. Trong những người thợ này, có một người đang đẽo gọt một miếng đá nhôm làm nó trở thành một tam giác đứng. Nhìn kỹ hồi lâu, anh hỏi người thợ ấy rằng: “Ông đương làm gì thế?” Người thợ liền đáp: “Xin ông nhìn lên đỉnh cái tháp của nhà thờ thì thấy có một chỗ trống. Tôi đương đẽo gọt miếng đá này để đặt nó thích hợp với chỗ trống trên đó”.
“Anh bạn của tôi rời chỗ ấy ra đi, nước mắt tuôn tràn. Dường như Đức Chúa Trời đã nhân cơ hội ấy nói với anh rằng: “Ta đương đẽo gọt ngươi, để ngươi thích hợp với chỗ trống trên kia”. Ngài đã dùng người thợ để giải thích cho anh về lý do những sự khổ nạn anh đương chịu”.
“Cha của vạn linh vì ích lợi chúng ta mà sửa trị, để chúng ta được dự phần trong sự thánh khiết của Ngài”.
(Hê bơ rơ 12:10)
464. ĐỨNG CHƠI VỚI BẠN XẤU
Có một nông phu mang súng đi thăm đồng, đã nổ súng vào đàn chim quạ đương ăn những hạt giống mà người mới gieo. Sau tiếng nó, đàn chim đều bay đi hết, chỉ còn một con bị thương nằm lại. Nông phu đi đến chỗ con chim ấy, thì rất đỗi ngạc nhiên, vì nó không phải là quạ, mà chính là con anh vũ của mình. Con anh vũ này đã sổ lồng từ mấy hôm trước, nay đi xáo trộn với đàn quạ. Đạn súng đã làm cho nó bị thương nơi cánh. Nông phu bèn đưa tay từ ái, nâng đỡ nó lên và nói với nó rằng: “Anh vũ ơi, đây là kết quả của sự bạn bè với chim xấu của mày!” Nói xong, người để nó vào chỗ ấm trong áo mình và đem chữa trị.
Người thuộc về Chúa cần phải thận trọng trong sự chọn lựa bạn, chúng ta phải kính trọng mỗi người và yêu mến kẻ lân cận, nhưng nếu giao du thân mật với những người không biết Chúa, thì không thể tránh khỏi tai họa được.
“Anh em chớ mắc lừa, bạn bè xấu làm hư tánh nết tốt” (ICô-rinh-tô 15:33).
465. CHỈ LÀ MỘT TỘI NHÂN
Ông Khô-bơ-ních là nhà thiên văn học có tài. Chính ông là người đã phát hiện số mục của các tinh tú và tìm được định luật thiên nhiên của vũ trụ. Thế mà khi sắp qua đời, ông không thấy mình là người đã từng làm thay đổi quan niệm về tinh tú của những nhà khoa học, mà chỉ thấy mình là một tội nhân trước mặt Đức Chúa Trời thôi. Phía sau bia mộ của ông có khắc:
“Tôi không xin sự từ ái mà Phao-lô đã được
“Tôi không xin ân điển mà Phi-e-rơ đã nhận;
“Tôi chỉ xin sự tha thứ mà đứa trộm cướp được hưởng trên thập tự giá thôi.
“Lạy Chúa! Đây là lời cầu xin tha thiết của tôi ở trước mặt Ngài”.
Sứ đồ Phao-lô nói: “Đức Chúa Jesus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy; trong những kẻ có tội đó ta là đầu. Nhưng ta đã đội ơn thương xót”(ITi-mô-thê 1:15, 16).
466. CHIẾC GỐI TRONG KHÁM ĐƯỜNG
1. - Hồi ấy, trước đây một trăm bốn mươi lăm năm có hai vợ chồng một giáo sĩ vì cớ yêu mến Chúa và linh hồn đồng loại đã tình nguyện xa quê nhà êm ấm ở Mỹ quốc, vượt trùng dương qua tận nước Miến-điện xa xăm để rao truyền cho người Miến-điện về đạo Tin Lành cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ. Giáo sĩ ấy tên là tấn sĩ Adoniram Judson.
2. - Công việc trước nhất của giáo sĩ Judson là lo học tiếng Miến-điện; và sau đó đêm ngày ông tận tụy phiên dịch Kinh Thánh ra tiếng Miến để người Miến có thể đọc hiểu được đạo Chúa. Chữ Miến-điện là một thứ chữ ngoằn ngoèo rất khó học, như ta thấy câu gốc Giăng 3:16 trong hình này.
Bỗng một hôm, một đội lính Miến-điện xông vào nhà của giáo sĩ. Họ bắt ông, vu cáo cho ông tội gián điệp, và giam ông vào trong một khám đường chật hẹp, bẩn thỉu trải qua nhiều tháng trời.
2. - Thỉnh thoảng bà Judson được phép đem ít đồ ăn vào cho chồng trong khám. Bà cũng đem được vào cho ông một chiếc gối. Sống trong cảnh rất đau khổ và buồn bã, tấn sĩ Judson rất vui mừng nhận được chiếc gối của vợ mình đem vào. Tuy bị cùm trong khám, nhưng ông luôn luôn giữ chiếc gối bên cạnh mình, mãi đến khi ông cùng một bọn tù bị giải qua nơi khác, thì người cai tù ném chiếc gối của ông ra ngoài sân khám.
May thay, lúc ấy có một người tín đồ Miến-điện, tên là Mounging được phép vào khám để thăm giáo sĩ Judson, là bạn hữu của mình. Khi vào khám anh chẳng gặp giáo sĩ Judson đâu cả chỉ thấy chiếc gối của ông vứt ngoài sân khám, vải đã rách nát. Người tín đồ bèn lượm lấy chiếc gối ôm về giữ lấy để làm vật kỷ niệm vị thầy khả kính của mình.
3. - Mấy tháng sau giáo sĩ Adoniram Judson được tha. Ông gặp lại bà, và tất cả bạn hữu người Miến đều bình an, lòng ông rất vui mừng. Nhưng khi được tin Mounging có lượm được chiếc gối trong khám đường, vợ chồng giáo sĩ Judson lại càng vui mừng vô hạn. Họ cùng chụp lấy chiếc gối và xé tung ra. Té ra bên trong chiếc gối là bản dịch quyển Kinh Thánh Tân Ước ra tiếng Miến-điện vẫn còn nguyên vẹn, sẵn sàng đem in ra để Mounging và đồng bào mình có thể đọc lời Đức Chúa Trời bằng quốc ngữ của họ.
4. - Bản Kinh Thánh do tấn sĩ Adoniram Judson dịch ra tiếng Miến-điện vẫn còn lưu hành tại Miến-điện, và bản dịch Tân Ước đầu tiên của ông hiện nay còn được trưng bày trong Thánh thơ Công hội tại thành phố Nữu Ước.
467. VONG ƠN
(Uống nước phải nhớ nguồn)
Tờ báo Calgary Herald đã đưa ra vài bằng chứng về sự vong ơn của nhân loại.
Trạng sư Samuel Leibowitz, một luật sư lỗi lạc, đã cãi cho 78 người thoát khỏi ghế điện (tức án tử hình), thế mà không một ai đến cám ơn ông. Trạng sư Calarence Darrow đã cứu hai người khỏi ghế điện. Ông ta cho chúng tôi biết rằng, những người bà con giàu có đã mặc cả một cách cay nghiệt về số tiền thù lao ít ỏi. Ông Art King đã tìm việc cho 2.500 người cho chương trình phát thanh của ông gọi là “Trung tâm tìm việc trên đài phát thanh” (Job Center of the Air). Nhưng chỉ có 10 người gởi thơ cám ơn ông.
Rô-ma đoạn 1 chỉ cho ta thấy sự vong ơn của loài người. Đây sự bại hoại của họ đã được Thánh Phao-lô vạch ra như sau: “Họ đâu biết Đức Chúa Trời mà không làm sáng danh Ngài là Đức Chúa Trời và KHÔNG TẠ ƠN NGÀI NỮA”. Đó là dấu hiệu chỉ về những ngày sau rốt lúc bấy giờ loài người trở nên vong ơn bội nghĩa.
Loài người biết có một Đấng Tạo hóa, nhưng chỉ biết chứ không muốn nhìn nhận Ngài. Hàng ngày họ nhận biết bao ơn huệ của Ngài nhưng lại từ chối tạ ơn Ngài.
Hằng năm cứ đến dịp lễ Giáng sanh về là biết bao người lợi dụng để ăn chơi vui vẻ nhưng có mấy ai biết nói: “Tạ ơn Đức Chúa Trời về ban tứ lớn lao của Ngài!” Phải, ban tứ ấy chính là Jesus Christ, Đấng đã giáng sanh xuống thế gian tội lỗi, chịu đau khổ sỉ nhục và chết trên thập tự giá vì tội lỗi của mỗi chúng ta.
Vậy xin hỏi, năm nay, trong khi vui dự lễ Giáng sanh, bạn có tạ ơn Đức Chúa Trời về Cứu chúa đã giáng sanh không?
468. ANH-RÊ, NGƯỜI GIỚI THIỆU
Buổi sáng Chúa nhật, có người hỏi một Mục sư rằng: “Hôm nay ông giảng về đề mục gì?” Mục sư đáp: “Đề mục của tôi hôm nay là: Anh-rê “. - Nhưng Anh-rê có điều gì đáng cho người ta chú ý? – “Tôi thấy Anh-rê là người khả ái. Mặc dù không phải là nhân vật vĩ đại, nhưng chỗ khả ái của ông ấy là thường hay giới thiệu Chúa Jesus cho người ta. Trong Kinh Thánh, lần nào chép về Anh-rê cũng đều nói đến Anh-rê giới thiệu Chúa Jesus cho kẻ khác”.
“Trước hết, người gặp anh mình là Si-môn... bèn dẫn anh đến cùng Jesus”.
(Giăng 1:41-42)
469. BÌNH AN ĐẾN TRƯỚC THIỆN CHÍ
(Giáng sanh)
Cứ mỗi độ lễ kỷ niệm Cứu chúa Giáng sanh, là khắp cả thế giới Cơ đốc, từ miền bắc cực xa xôi lạnh lẽo kia đến rừng rậm Phi Châu trên lãnh thổ Ấn-độ cũng như toàn cõi Âu Châu, Úc Châu và Mỹ Châu, tất cả con cái của Đức Chúa Trời là những người đã được cứu chuộc bằng huyết báu của Đức Chúa Jesus Christ, đều đồng thanh hát lại khúc hát bất hủ của các thiên thần đã hợp xướng từ ngàn xưa:
“Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao,
Bình an dưới đất, thiện chí giữa loài người!”
(Dịch Lu-ca 2:14 theo bản tiếng Anh)
Từ ngày Cứu Chúa Giáng sanh đến nay, biết bao nghệ sĩ trứ danh, nào các nhà điêu khắc, các thi hào, văn sĩ nhạc sĩ đã cố gắng tô điểm thêm cho cái biến động thiên thượng không tiền khoáng hậu kia càng thêm phần tươi đẹp. Tuy nhiên không có một mỹ phẩm, một giai thoại, một tuyệt khúc hoặc một bức danh họa nào có thể đem so với bản thần ca của Lu-ca 2:14 “Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao, Bình an dưới đất, thiện chí giữa loài người!”
Khúc hát siêu phàm ấy đã vang dội trong tấm lòng khiêm tốn của các gã mục đồng xưa, khi họ đã nhìn xem Ấu Chúa, bèn “trở về, làm sáng danh và ngợi khen Đức Chúa Trời.” Khúc hát lạ lùng ấy hiện nay vẫn còn đang vang dội trong triệu triệu tâm hồn.
Theo thiển ý, dường như bài thần ca đêm Giáng sanh đầu tiên có ba sự dạy dỗ cho chúng ta là những Cơ đốc nhân hiện đại:
Trước nhất, nó nhắc cho ta nhớ rằng bởi Đức Chúa Jesus Christ, Đức Chúa Trời đã hoàn toàn hòa mình với nhân loại cùng với những nhu cầu của chúng ta. Con Ngài, tức là Cứu Chúa của chúng ta hoàn toàn là Con Người cũng như chính Con ấy hoàn toàn là con Đức Chúa Trời. Ngài đã nếm đủ mùi đau khổ - cũng như ta - đói lạnh, hiểu lầm, cô quạnh, đau đớn về thân thể, thậm chí chết.
Nhưng Jesus Christ giáng sanh để lập “bình an... và thiện chí”. Không phải bằng lời nói suông, mà bằng việc làm cụ thể. Bất cứ ai dầu nam hay nữ, lão đại hay nhi đồng, đã ăn năn tội lỗi, lấy đức tin nhờ Đức Chúa Jesus mà đến cùng Đức Chúa Trời, thì đều nhận được sự bình an trong linh hồn và tâm trí, một sự “bình an vượt quá mọi sự hiểu biết” của loài người.
Thật kể từ khi Jesus Christ giáng sanh để làm Cứu Chúa của chúng ta thì Đức Chúa Trời không còn là một Đấng “xa lạ” nữa.
Thứ hai, khúc hát của các thiên binh nhấn mạnh Đức Chúa Trời cần phải được sáng danh. Phải, Đấng ở trên các từng trời rất cao, đáng được tán mỹ và tôn thờ.
Loài người chúng ta chỉ là yếu đuối và bất lực. Ta không thể nào tự mình đạt đến được cái tuyệt điểm mà Đức Chúa Trời muốn cho con cái Ngài phải đạt tới. Ta chỉ có thể đạt đến điểm ấy là nhờ sự dắt dẫn và phù hộ của Đức Chúa Trời.
Một người không thể nào tốt lành hơn vị thần mà người thờ lạy. Một người cũng không thể nào tốt lành và hữu ích như mình đáng phải có, mãi cho đến khi người nhìn nhận
Đức Chúa Trời là Đấng Tối cao, và hết lòng hết sức bước theo ý chỉ của Ngài.
Đức Chúa Trời cần phải ngự ở trung tâm mọi sinh hoạt của chúng ta, nếu không thì mọi sự đều sẽ hỏng cả. Làm thế nào bánh xe kia có thể quay tròn được nếu cái trục của nó không ở ngay cạnh giữa? Đó chính là nguyên do thất bại của nhân loại hôm nay, vì họ không lấy Đức Chúa Trời làm trung tâm của cuộc đời mình.
Thứ ba, bài hát của đêm Noel đầu tiên dạy ta cách rõ ràng rằng không thể nào có bình an hoặc thiện chí giữa loài người nếu trước đó Đức Chúa Trời chưa được sáng danh.
Không phải do một sự tình cờ mà các thiên sứ đã hát: “Sáng danh Chúa” trước, rồi sau mới đến “bình an dưới đất, thiện chí giữa loài người”.
Đức Chúa Trời là nguồn duy nhất của Bình an và Thiện chí, cần phải được sáng danh giữa chúng ta, nhiên hậu mới có sự bình an với Ngài và thiện chí giữa loài người. Thế thì thiện chí là kết quả của sự bình an.
Khi nào người đã dâng sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời. Sự vinh hiển của một cuộc đời đầu phục và một tinh thần cung hiến mình cho Chúa, sự vinh hiển của ân tứ không thể
nói ra được về Con Ngài, là Cứu Chúa của chúng ta, chỉ lúc ấy người mới nhận được sự bình an của Đức Chúa Trời. Và sự bình an dồi dào sinh lực ở trung tâm cuộc sinh hoạt của người sẽ tự nhiên phát sanh ra thiện chí đối với đồng loại mình.
Hôm nay có bao nhiêu người muốn đảo lộn cái thứ tự này. Họ thường nói: “Anh cứ thử có thiện chí rồi sẽ có sự bình an, và đã được bình an thì tự khắc Đức Chúa Trời sẽ
được sáng danh”. Nhưng đó là một việc đại bất năng.
Bình an trên đất và thiện chí cho loài người đã được vững lập từ nghìn xưa, trong đêm giáng sanh đầu tiên. Chúng ta không cần phải đi tìm một phương thức nào khác Kinh
Thánh dạy chúng ta rằng “Ban đầu Đức Chúa Trời.” Thật vậy ta hãy dâng sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời trên các từng trời rất cao nhiên hậu sẽ có “bình an dưới đất và thiện chí giữa loài người”.
(Trích dịch báo The War Cry).
470. QUÍ BÁU HƠN VÀNG
(Biết Chúa)
Theo một truyện cổ tích, thì năm 1783, Don Juan Perez đã tìm thấy một mỏ vàng quí giá. Khi trở về đến thành phố mình, thì ông nửa sống nửa chết. Trong tay ông có những
cục vàng sống. Mỏ vàng ở đâu? Ông chỉ về phía đồng vắng, rồi tắt thở. Người ta tìm thấy tấm bản đồ thô sơ do một người da đen cho ông. Suốt mấy năm, họ cố tìm ra vị trí của mỏ vàng đã mất đó.
Ngày kia, Thomas Hardin, một người thợ mỏ, đến thăm viên tù trưởng Tiểu Hàn mà nói rằng:
-Người ta bảo tôi rằng ông biết vị trí của mỏ vàng đã mất, nếu ông chỉ cho tôi nơi tìm được nó, thì tôi sẽ tặng ông một nửa số vàng.
Tù trưởng mỉm cười vì nhận thấy anh ta quá hăm hở mong được vàng quí giá. Ông đáp:
-Anh đề nghị với tôi là dại dột lắm. Nếu tôi biết mỏ vàng ở đâu thì tôi sẽ giữ bí mật cho chính mình tôi chớ. Sao anh lại có thể cho tôi một nửa số của quí báu vốn thuộc về
tôi? Còn nếu tôi không biết mỏ vàng ở đâu, thì chắc anh không thể cho tôi chi hết.
Người thợ mỏ tức giận bỏ trại bước ra; nhưng tù trưởng Tiểu Hàn hỏi anh:
-Tại sao anh muốn có vàng? Anh là người mạnh khỏe và không nghèo. Hãy sung sướng vì Thiên phụ đã ban những ơn ấy cho anh.
Người thợ mỏ đáp:
-Nếu có vàng, tôi sẽ là người sung sướng nhất thế giới. Vàng sẽ cho tôi mọi điều mình muốn.
-Ngày mai chúng ta sẽ lên đường và có lẽ chúng ta sẽ tìm thấy mỏ vàng. Nếu tìm thấy, anh có thể giữ lấy tất cả số vàng, miễn là anh biết rằng vàng không thể mua được
hạnh phước.
Ngày hôm sau, hai người từ trại ra đi. Mỗi người cỡi một con ngựa, còn lương thực thì do hai con lừa chở. Trải ba ngày, họ qua đồng vắng mênh mông. Vì phải đem nước
trong bình nhỏ, nên họ phải đong rất dè dặt. Ban đêm, khi đi ngủ, họ cột mấy con vật vào cọc cẩn thận cho chúng khỏi chạy mất. Nhưng sang ngày thứ tư, khi họ thức dậy, thì ngựa và lừa đã biến mất. Người thợ mỏ hoảng sợ Anh than thở đắng cay:
-Không có nước và lương thực, chúng ta sẽ chết hết. Tôi biết đã đóng cọc rất sâu, rất vững. Ngựa và la không thể nào kéo lên được.
Tù trưởng Tiểu Hàn hỏi:
-Chúng ta sẽ cứ đi tìm mỏ vàng đã mất hay là quay về trại?
Thomas Hardin đáp:
-Nếu tìm được mỏ vàng, thì chúng ta cũng chết vì không có nước và lương thực. Chúng ta sẽ quay về trại, kiếm nước và lương thực khác, rồi lại lên đường.
Hết ngày đó người thợ mỏ vừa đói, vừa khát. Anh nói:
-Ước gì tôi có chút chi mà bỏ vào miệng, thì phước đức biết bao!
Viên tù trưởng da đen mở một cái túi bằng da vẫn đem theo, lấy ba miếng vàng sống nhỏ, trao cho người thợ mỏ mà rằng:
-Coi thử mấy cái này có làm cho anh được hạnh phước chăng? Anh không thể nào ăn hoặc uống vàng đâu.
Người thợ mỏ cười. Anh cầm lấy mấy miếng vàng sống, rồi trao trả người bạn ba đen, và nói:
-Tôi đoán rằng phần nhiều người cũng ngu dại như tôi vậy.
471. MA QUỈ CHỊU ĐỂ TA LÀM CHI
(và không muốn ta làm gì)
Ma quỉ sẽ để cho anh em không bao giờ bỏ sót một buổi nhóm họp cầu nguyện, một buổi thờ phượng Chúa sáng Chúa Nhật. Chắc nó cũng để anh em bắt tay một người chưa tin Chúa sau khi tan cuộc giảng; để anh em gởi cho một, hai bức thơ trong tuần lễ khuyên bạn hữu để ý đến Tin Lành. Thậm chí nó cũng để anh em diễn giảng về vấn đề tôn giáo nữa. Nó để anh em được in tên trong chương trình Hội đồng Linh tu, Bố đạo hoặc trên báo chí, miễn là anh em trừ ra mỗi điều này: Đối mặt với cá nhân và khiến họ quyết định tin nhận Đức Chúa Jesus Christ. Ma quỉ sẽ không bao giờ chịu để anh em quả quyết và dứt khoát dắt đem một linh hồn đến cùng Đức Chúa Jesus Christ.
Anh em đã từng làm việc ấy chưa?
-C M. Alexander-
472. ĐẮC THẮNG TRONG ĐAU KHỔ
(gương sáng)
Bác sĩ Tống Thượng Tiết sau bao năm tận tụy đi hầu việc Chúa rốt cuộc bị bịnh ung thư, và nằm hấp hối trong bệnh viện ở Bắc Kinh. Hễ khì nào bịnh hành ông quá dữ dội
đến nỗi ông không thể nằm trên giường được thì người ta đỡ ông lên khỏi giường, đặt ông vào trong một tấm “ra” thật lớn treo bốn chéo lên trần nhà để cho người ông được êm ái phần nào.
Trong lúc ấy tại Bắc Kinh cũng có một Mực sư Trung Hoa đang ở trong lò lửa thử thách. Vì cớ chiến cuộc Trung-Nhật, lâu nay ông đã phải lìa xa vợ hiền và gia đình yêu dấu; nhưng cuối cùng ông có hi vọng sớm được trùng phùng. Có tin cho hay rằng gia đình ông đã đáp tàu từ Thượng Hải, và ông vội vàng đi lên một hải cảng ở Hoa Bắc để đón gia đình. Nhưng, than ôi, vừa đến nơi thì ông được tin chiếc tàu chở vợ con ông đã bị chìm, và tất cả hành khách trên tàu đều tử nạn. Sự đau khổ của ông thật đã lên đến cực độ! Tất cả những người yêu hơn hết của ông đã ra người thiên cổ, ông lủi thủi quay về Bắc Kinh, lòng nặng nề tan vỡ.
Một hôm ông vào bệnh viện để thăm Bác sĩ Tống. Lúc ông vào là lúc Bác sĩ đang bị bịnh hành dữ dội, nhưng trong cơn hấp hối quá ư đau đớn, Bác sĩ Tống Thượng Tiết vẫn lắng nghe vị Mục sư tỏ nỗi niềm tâm sự. Nghe xong, Bác sĩ nhỏ nhẹ hỏi Mục sư rằng: “Bây giờ hai ta cùng hát một bài song ca nhé! Ông có thể hát được không?” Vị Mục sư ngơ ngác: “Ca hát ư? Giữa cảnh này mà còn hát nỗi gì? Một bài song ca! Mình làm sao hát bây giờ? Ừ, mà còn Bác sĩ Tống làm thế nào hát được?”
Trong lúc ấy thì Tống Bác sĩ trả lời cách bình tĩnh rằng: “Chúng ta có thể hát bài ca của Gióp. Ông cứ hát đoạn thứ nhất đi và tôi tôi sẽ hát đoạn thứ nhì!”
473. THẾ NÀO LÀ MỘT NGƯỜI CÓ ƠN?
(người có ơn)
Có một thanh niên đã được Đức Chúa Trời đại dụng lạ lùng ở Trung Đông, là một miền luôn luôn bị chiến tranh đe dọa. Trên báo “Hừng Đông” này, chúng tôi đã lược thuật chức vụ của Maurice Hanna ở giữa các sinh viên thuộc nhiều chủng tộc trong trường đại học Beyrouth và Bagdad. Cách đây ít ngày, tôi có đọc tin tức về các cuộc giảng của ông tại Khartoum, thuộc xứ Soudan, nhằm tháng 10-1957.
Một giáo sĩ viết rằng:
“Các nhà thờ, bệnh viện, trường công, trường của Hội Truyền giáo, câu lạc bộ và nhiều lớp học gởi thơ mời ông tới giảng. Khi ông giảng bài thứ nhất, có chừng 20 người
quyết định nhận ơn cứu rỗi hoặc dâng mình cho Chúa. Tổng cộng tất cả được hơn 300 người. Đối với xứ Soudan, là nơi có nhiều trở lực như ngôn ngữ, phong tục và cổ ruyền của mỗi chi phái thì con số 300 thật là khả quan, vì không một chi hội nào ở đó từng mời người nào đứng dậy tỏ ý quyết định theo Chúa.
“Có lẽ người ta hỏi rằng: “Chàng thanh niên này có chi mạnh mẽ như vậy? Lời giảng của chàng rất đơn sơ. Ai cũng có thể giảng như vậy. Maurice không hấp dẫn bằng những truyện tích khéo léo, hoặc thêu dệt lời giảng, hoặc dùng lời lẽ văn hoa như một lớp sơn. Vậy, quyền phép ở đâu? Chỉ có thể đáp rằng: ở Tin Lành đơn sơ mà ông đã giảng “chẳng phải bằng bài diễn thuyết khéo léo của sự khôn ngoan, nhưng tại sự tỏ ra Thánh Linh và quyền phép” (ICô-rinh-tô 2: 4), thêm vào đó có đời sống thiết tha cầu nguyện và nghiên cứu Kinh Thánh. Các bài giảng của ông Hanna thấm nhuần Kinh Thánh. Sau khi giảng một tuần lễ ở một chỗ nào, thì tuần sau, ông trở lại chỗ đó để dạy đạo cho những tín đồ mới (đồng thời ông cũng giảng Tin Lành ở một chỗ khác). Một cách rõ ràng, gãy gọn, dùng hết câu Kinh Thánh nọ đến câu Kinh Thánh kia, ông trình bày sự sống mới trong Đấng Christ và cách phát triển của sự sống ấy. Ở mỗi chỗ có đông người dự thính. Chiến dịch lên đến cực điểm khi mọi nhóm ở ba thị trấn tiếp giáp nhau đã hội họp tại một nhà thờ ba tối liền. Tối chót, có 36 người quyết định tin theo Đấng Christ, thật là kỳ lạ biết bao!”
Ông Hanna là nhân viên của đoàn “Navigators”, cũng như ông Warren Myers, Hiệu Trưởng Thánh Kinh Nghiên Cứu Học hiệu ở Sài Gòn (đã về Mỹ nghỉ, tháng 6-1957) đoàn “Navigators” nhấn mạnh vào sự học Kinh thánh thuộc lòng, sống đời cầu nguyện và hoàn toàn đầu phục Đức Chúa Trời. Đó là bí quyết “có ơn”. Nếu muốn “có ơn” anh em phải đầy dẫy Đức Thánh Linh và lời Đức Chúa Trời. Những ai trước kia “có ơn”, mà nay than thở rằng lòng mình nguội lạnh, khô khan, thì phải nhìn nhận rằng mình đã xao lãng những phương pháp được “ơn” tức là không nghiên cứu Kinh Thánh và không cầu nguyện”.
Lúc bước qua năm mới này, chúng ta hãy dâng cho Đức Chúa Trời một cơ hội, tức là khiêm cung xưng tội đã xao lãng những phương pháp ta được ơn mà Ngài đã dự bị cho ta và lập tức bắt đầu lời hứa của Chúa Trời trong trí và trong lòng mình. Đừng chịu để cho một thứ sách báo nào trong Hội Thánh, chẳng hạn như Thánh Kinh Báo, Hừng Đông, v.v... chiếm chỗ của Kinh Thánh. Các bạn khá nhớ trước những thứ sách báo ấy chỉ có tác dụng dức dấy đời thuộc linh của các bạn, nhưng duy Kinh Thánh có thể nuôi nấng và bồi bổ linh hồn các bạn mà thôi. Thế thì ngày nay, anh chị em hãy ghi tên vào Lớp Học Thuộc Câu Gốc và Lớp Nghiên Cứu Kinh Thánh của Thánh Kinh Nghiên Cứu Học Liệu. Hộp thư 94 Sài Gòn.
Hừng Đông
474. CON LỪA LÀM CHỨNG VỀ CHÚA
(tỏ mình ra)
Trên con đường mòn chật hẹp đầy sạn sỏi ở xứ Nigeria (thuộc Phi Châu), chú bé da đen Binh đang cỡi con lừa đi cách uể oải, vừa ngước mắt lên trời, vừa lẩm bẩm: “Chà mặt trời sắp lặn rồi, chưa biết tối nay mình ngủ ở nhà nào đây?” Binh đang chở một mớ hột “kola” của chủ giao đi bán để lấy tiền mua muối đem về dùng. Suốt ngày đi dưới mặt trời Phi Châu như nung như đốt nên cả người và vật đều mệt nhọc bơ phờ.
Binh nhìn lại con lừa thì thấy vì chở hai bọc hành lý quá nặng mà cái lưng con vật đã bị trầy trụa. Trên đầu Binh cũng có một bọc khăn đo. Ấy là quyển Kinh Thánh và quyển Thánh Ca cùng với một ít kẹo đậu phụng đem theo để ăn. Vốn là một tín đồ sốt sắng của Đức Chúa Jesus, cậu bé Phi Châu này rất yêu mến Chúa. Đi đâu cậu cũng đem theo Kinh Thánh và Thánh Ca để đọc và hát ngợi khen Chúa.
Qua khỏi đám rẫy, Binh biết sắp đến làng của thổ dân. Và thật cậu đang ở trước một căn nhà làm bằng đất trét bùn. Nhảy xuống lừa, cậu thả con vật đứng bên cạnh đường và bước vào sân thì thấy mấy người đàn bà đang làm việc bên hiên cửa. Cậu nói rất lễ phép rằng: “Mấy bà làm ơn cho tôi tạm nghỉ đây đêm nay có được không ạ?”
-“Không được!” họ trả lời cách xẳng xớm. “Nhà chật chội lắm, mà nói thật, chú có đi cả xóm này cũng vô ích vì không ai chứa chú đâu!”
-“Thôi,” một người khác tiếp, “ráng đi qua làng bên kia mà xin ngủ nhờ. Đây qua đó cũng không xa chi lắm”. Vừa nói, người đàn bà vừa lấy tay chỉ ngoài trời tối đen như mực.
Buồn bã và chán nản quá, cậu bé biết họ đã lầm mình là kẻ trộm cắp bất lương nên mới hất hủi như thế. Cậu cũng thừa biết cái chữ “không xa chi lắm” của xứ Nigeria này có thể là mười lăm cây số. Cậu lẩm bẩm: “Thôi thì ta ráng cỡi lừa qua cánh đồng bên kia rồi ngủ một đêm màn trời chiếu đất cho rồi!”
Cậu thúc lừa đi được một chặng thì đến một đống cỏ. Cậu nhảy xuống cho lừa ăn cỏ rồi gỡ hai bao hột kola bỏ xuống đất, đoạn cột dính các chân lừa vào nhau để nó không chạy đi đâu được. Xong, cậu tháo cái bọc trên đầu lấy ít kẹo ra ăn.
Thường thường tối nào cũng vậy, sau khi săn sóc xong cho lừa, cậu mở Kinh Thánh ra đọc trước khi trời sụp tối. Đôi khi trong người không mệt cho lắm, cậu cũng hát Thánh Ca; hát một vài bài mà cậu có học được ở Hội Thánh nhà. Nhưng hôm nay vì quá ư mệt nhọc nên cậu không đọc Kinh Thánh, mà cũng chẳng hát Thánh Ca. Lấy kẹo đậu phụng ra ăn, cậu vứt luôn cái gói bọc khăn đỏ xuống bên hai bó hột kola dưới đất.
Đang khi cậu Binh ngồi bệt dưới đất ăn kẹo đậu phụng, thì thình lình con lừa ngừng ăn cỏ. Nó há miệng lấy răng cắn chặt cái gói đỏ trong miệng, ngất đầu lên vung qua vung lại trước mặt chủ, cho đến khi quyển Kinh Thánh rớt tung ra. Rồi nó lại vung nữa và quyển Thánh Ca ở trong gói cũng rớt ra nốt. Cậu Binh ngồi nhìn con lừa hết sức ngạc nhiên. Trong khi ấy thì mấy người đàn bà cậu vừa gặp làm việc trong cánh đồng khi nãy cũng đi ngang qua. Họ đều trông thấy cử chỉ lạ lùng của con lừa, và cũng đứng lại để xem.
Tại xứ Nigeria còn vô số người chưa bao giờ thấy quyển Kinh Thánh và còn hàng ngàn làng chưa có nhà thờ. Khi ấy, mấy người đàn bà thấy quyển Kinh Thánh trong bao rớt ra, thì hỏi dồn cậu Binh rằng:
-“Cậu có phải là tín đồ của Đức Chúa Jesus không?”
-“Dạ phải” họ cùng reo lên cách vui vẻ. “Chúng tôi đây cũng là tín đồ của Đức Chúa Jesus! Trong làng chúng tôi có một cái nhà thờ nho nhỏ. Thôi, thế nào cậu cũng vào làng dùng bữa với chúng tôi và nghỉ lại đêm nay với chúng tôi”.
Khi được biết cậu Binh là một tín đồ của Đấng Christ, họ hằng tỏ thái độ vui vẻ thân thiện lạ lùng, khác hẳn với hồi nãy đầy nghi kị và hất hủi. Cố nhiên là cậu Binh đi theo với họ về nhà. Nghe tin một con cái Chúa đến, những người đàn ông trong làng cũng chạy lại, trò chuyện vui vẻ và vồn vã với cậu. Họ mời cậu giảng cho họ sau khi dùng cơm tối. Những đàn bà đem tới cho cậu một bát lớn cháo bắp, thứ bắp đặc biệt để cậu dùng, và khi cậu đòi trả tiền không ai chịu nhận cả.
Buổi tối ấy, sau khi cùng họ dùng bữa và nhóm thờ phượng Chúa xong, cậu Binh được họ trao cho một chiếc đệm rơm để ngủ. Nằm trên đệm êm ấm, Binh hồi tưởng lại những điều vừa xảy ra, và cậu tự nhủ thầm: “Chà, nếu con lừa không tung quyển Kinh Thánh ra thì dân làng này đâu có biết mình là tín đồ Đấng Christ, và chắc đêm nay phải ngủ cả đêm ngoài trời. Biết đâu lại không bị thú dữ hoặc rắn rít cắn mình, Thật Đức Chúa Trời đã dùng con lừa nhắc nhở mình đọc Kinh Thánh!”
Qua sáng hôm sau, Binh dậy đem thêm một đĩa bắp tới cho con lừa ăn, vì nó tự nhủ rằng: “Con lừa đã làm chứng về Chúa trong khi mình làm biếng không nói về Ngài”.
“Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi mà ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời” (Ma-thi-ơ 5:16).
(Trích dịch báo Black Gems for His Crown)
475. MỘT TẤM LÒNG THÀNH BỊ SAI LẠC
(đúng đường không)
Một tin vắn vừa cho biết có một người Tây Ban Nha đi lậu xuống một chiếc tàu của Mỹ tại bến Montivedio (xứ Uruguay thuộc Nam Mỹ) định đáp tàu về hướng Bắc Hoa-Kỳ. Nực cười thay, mặc dầu vì lữ khách thật tình muốn đi về hướng bắc, nhưng đến khi ông hay ra thì chiếc tàu đang trở mũi về hướng Nam, để chạy xuống bể Antarctic (phía nam).
Ôi, hôm nay có biết bao tội nhân như những người đi tàu lậu kia, đang đem hết lòng thành ẩn mình trong những chiếc tàu giáo hội này, giáo hội kia. Mặc dầu họ thành tâm mộ đạo nhưng tội nghiệp, số phận phũ phàng của họ là “đi xuống” một thế giới tối tăm và hư hoại. Đức Chúa Jesus phán rằng: “Ta Là đường đi, Lẽ thật và sự sống: chẳng bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha” (Giăng 14:6).
476. CHỈ HÁT CHO CHÚA
(một ca sĩ)
George Beverly Shea là một ca sĩ nổi danh ở Mỹ quốc. Anh là tín đồ của Chúa Jesus, và chỉ muốn dâng tài năng của mình để làm vinh hiển danh Chúa. Một hãng La-ve mời anh hát để cổ động cho hãng mình. Nhưng anh không chịu. Một hãng phim cũng mời anh hát, và nếu anh bằng lòng ký giao kèo hát cho họ, chẳng những anh được hưởng một số tiền lớn trên hai triệu đồng Việt Nam, mà tên tuổi anh còn vang lừng
thế giới. Nhưng anh nhất định từ khước.
Rồi anh được nhận hát cho các buổi phát thanh Tin Lành. Anh cầu xin Đức Chúa Trời dắt dẫn mình để làm vinh hiển danh Ngài. Sau mấy năm, anh được nhận phụ trách chương trình Thánh Ca của đài phát thanh Chicago, nhờ đó anh được nổi danh ở khắp nước Mỹ.
Anh là ca sĩ đơn thanh và là trưởng ban hát gồm có một ngàn năm trăm ca sĩ của nhà truyền đạo trứ danh Billy Graham.
Vì anh luôn luôn hát cho Đức Chúa Trời, nên George Beverly Shea hiện nay ở địa vị làm cho âm thanh của mình thấu tới hàng triệu người và tỏ cho họ biết Đấng Christ, hoặc trên đài phát thanh hoặc bằng chính bản thân mình.
Hỡi các bạn thanh niên, thiếu nữ, hãy dâng tài năng mình cho Đức Chúa Jesus đi, vì Ngài có phán rằng: “Nếu ai phục sự Ta, thì Cha Ta ắt tôn trọng người” (Giăng 12:26 B.N.C.)
477. CÂU ĐÁP LẠI CỦA MỘT THANH NIÊN
(thuộc Kinh thánh)
Một thanh niên đi tàu thủy, đang ngồi một mình trên sân tàu thì có hai ông thuận ý rằng một người trong số họ sẽ đến rủ cậu uống rượu. Ông này cất tiếng ngọt ngào mời
cậu uống một ly rượu. Cậu đáp:
-Tôi cám ơn ông, nhưng tôi không bao giờ uống vật chi làm cho say.
-Không hề chi, cậu ạ! Rượu này không làm hại cậu đâu. Mời cậu đến uống rượu với tôi.
Cậu lập tức trả lời:
-“Rượu khiến người ta nhạo báng, đồ uống say làm cho hỗn hào, phàm ai dùng nó quá độ, chẳng phải là khôn ngoan” (Châm-ngôn 20:1).
-Cậu không cần phải uống quá độ. Tôi không để cho cậu uống nhiều đâu. Uống ít thì không có hại chi, nhưng làm cho cậu tỉnh táo.
Cậu đáp:
-“Rốt lại, nó cắn như rắn, chích như rắn lục” (Châm-ngôn 23:32). Tôi dám chắc rằng không chơi với rắn lục thì khôn ngoan hơn.
Ông kia xảo quyệt nói thêm:
-Cậu ơi nếu cậu đến uống với tôi một ly rượu ngon nhất thì sẽ làm cho tôi vui lòng lắm.
-Kinh Thánh của tôi chép rằng: “Nếu tội nhân kiếm thế quyến dụ con, chớ khứng theo” (Châm-ngôn 1:10).
Đó là một đòn đánh cho kẻ cám dỗ choáng váng, nên ông chịu thua lui về với bạn mình.
Bạn hỏi:
-Sao? Anh có thành công không?
Đáp:
-Sự thật là thanh niên ấy đầy dẫy Kinh Thánh đến nỗi tôi không làm chi được hắn.
Các bạn có học thuộc lòng Kinh Thánh chăng? Với “gươm của Đức Thánh Linh” này, các bạn sẽ đánh bại được kẻ cám dỗ. Nếu không có “gươm” ấy các bạn chắc chắn sẽ
sa sút và thất bại.
478. TẠI SAO CÂY KHÔNG LỚN?
(cắt dây chưa)
Trong vườn của bạn tôi có một nhánh cây không lớn lên như mọi nhánh cây khác và không sanh hoa chi hết. Ngày kia ông xem xét nó cẩn thận, và nhận thấy rằng một sợi dây chỉ có sắt bịt quấn quanh nhánh cây từ mấy năm trước, khi ông mới mua cây, đã cưa nhánh đang khi nó lớn lên và ngăn cản nhựa từ rễ truyền lên nhánh ấy.
Ông bèn cắt bỏ dây chỉ đi, thì chẳng bao lâu, nhánh lớn lên và sanh hoa như mọi nhánh khác.
Sự sống bản ngã của chúng ta giống như dây chì quấn quanh nhánh cây. Dây chì của bản ngã tự tỏ ra bằng sự kiêu ngạo, ghen ghét, dễ giận hờn ích kỷ, nghi ngờ, biếng nhác, sợ sệt, vân vân, phải bị cắt bỏ hết, rồi Đức Chúa Trời mới có thể dùng chúng ta kết trái cho Ngài được vinh hiển. Chỉ có một cách cắt dây chì đó, là chết, - đồng chết với Đấng Christ. Chúng ta không thể cắt nó nhưng có thể bằng lòng để Đấng Christ cắt nó.
Một khi dây chì bị cắt, thì nhựa chắc chắn từ rễ cây truyền vào nhánh; cũng một thể ấy, một khi dây chì bản ngã bị cắt bởi quyền phép sự chết của Đấng Christ, thì sự sống Ngài chắc chắn tràn vào trong ta và qua ta để kết trái.
Người Mèo đeo một cái xích bằng bạc ở cổ; đó là dấu hiệu tỏ ra họ nhìn nhận mình làm tôi của Sa-tan. Điều thứ nhất mà họ làm khi quyết định tin Đấng Christ là mời giáo sĩ đến cầu nguyện, rồi cắt đứt cái xích ở cổ họ. Họ không dám tự mình làm việc ấy.
Sự sống bản ngã của tôi là cái xích mà Sa-tan dùng cột tôi vào nó. Nó biết rằng khi cái xích ấy bị bẻ gãy bởi sự chết về bản ngã, thì nó không cầm quyền gì trên tôi nữa. Vì cớ ấy rất ít tín đồ được tự do. Sa-tan lừa dối họ. Họ không nhận biết rằng đang khi không bằng lòng chết vì bản ngã thì họ đứng ở phía Sa-tan, - để chống nghịch Đức Chúa Trời, như vậy, họ là đồ dùng trong tay Sa-tan, - họ kết trái cho nó, chớ không phải cho Đức Chúa Trời. Sự sống của A-đam còn mạnh mẽ trong họ, và kết quả là những trái của xác thịt.
(Rô-ma 6:12-23; Ma-thi-ơ 12:30, 33-37; Ga-la-ti 5)
479. ĐANG THẮNG HÓA THUA
(ta thắng hay thua)
Chúa phán rằng: “Ta biết công việc ngươi”
-Không phải biết lập trường, tín điều, nhánh đạo, hoặc bạn hữu của ngươi, nhưng là biết công việc ngươi và chỉ công việc ngươi mà thôi.
Năm 1908, Dorando, nhà quán quân Ý-đại-lợi, chạy đua ở trường đua Marathon, ở thành Olympie. Anh chạy hơn người ngay sau mình tới hai vòng, và chỉ cách đích chừng 30 thước tây thì bỗng té xỉu. Anh lần lần tỉnh lại và đứng dậy trong khi dân chúng đông đảo vây quanh anh, la hét và thôi thúc. Nếu chỉ bò, anh cũng đã thắng cuộc dễ dàng.
Nhưng đang khi Dorando còn lảo đảo, thì một người ủng hộ nhiệt thành đã đặt bàn tay trên lưng anh, không phải để đẩy anh tới, nhưng để giữ anh đứng vững mà thôi, theo
lời tuyên bố của anh về sau, lập tức ban giám khảo giơ tay lên trời: Dorondo đã thua cuộc đua. Trong cuộc đua, chúng ta thắng hay là thua một mình; không một bàn tay nào được phép đặt vào lưng ta, trừ bàn tay của Đấng Christ.
D.M. Panton
480. ÍT MÀ LÀ NHIỀU
(hột giống sống)
Khi người ta yêu cầu các nông gia quyên một gié lúa vào công cuộc từ thiện, thì không một nông gia nào thấy cần phải từ chối. Nhưng ông Perry Hayden có trí tưởng tượng mạnh, nên không đem quyên gié lúa đó. Trái lại, ông đem nó gieo xuống ruộng mình (thuộc tiểu bang Michigan) và hứa sẽ quyên một phần mười huê lợi cho công cuộc từ thiện.
Việc xảy ra năm 1940, khi ông Henry Ford nêu lên kế hoạch quyên góp một phần mười lúa mì thâu hoạch được. Với lòng nhiệt thành ngày càng gia tăng, cứ mỗi mùa xuân nông gia Hayden (nay đã tạ thế) lại gieo phần mười lúa mì mà mình quyên góp. Đến năm thứ sáu, ông phải chia số lúa phần mười cho nhiều nông gia trong vùng, vì khi ấy phải gieo xuống gần 700 mẫu tây ruộng, và thâu hoạch được hàng bao nhiêu tấn lúa mì.
Do những khởi điểm nhỏ nhặt, các nông gia đã quyên góp được 100.000 Mỹ kim (hơn 7 triệu bạc Việt Nam) vào các công cuộc xã hội và từ thiện.
Helen L. Toner
481. BÍ QUYẾT ĐƯỢC ĐỨC TIN
(Đức tin đến)
Nếu cộng tất cả thì giờ tôi cầu xin Chúa ban đức tin cho, thì chắc cũng hàng tháng chứ không phải ít. Tôi tưởng tượng rằng một ngày kia, đức tin sẽ trút xuống trên tôi và đánh tôi như một tiếng sét. Nhưng đức tin dường như không thấy đến.
Một hôm tôi đọc Rô-ma đoạn 10, “đức tin đến bởi sự người ta nghe, mà người ta nghe, là khi lời của Đấng Christ được rao giảng”. Trước kia, tôi đã xếp Kinh Thánh lại và cầu nguyện xin Chúa ban đức tin cho, nhưng đức tin không đến. Bây giờ tôi lại mở Kinh Thánh ra mà bắt đầu suy gẫm và từ đó đức tin cứ lần lần lớn lên trong tôi.
D.L. Moody
482. QUYỂN KINH THÁNH CHỮ NHO
(quyển sách lạ)
Mỗi khi cầm quyển Kinh Thánh chữ nho ngoằn ngoèo kia, các bạn có biết đó là cả một công trình vĩ đại chăng? Hồi ấy, trước đây gần hai trăm năm, nước Tàu còn tuyệt đối bài ngoại. Họ cũng cấm không cho dạy chữ nho cho người nước ngoài. Thế mà giáo sĩ Robert Morrison, người Tô Cách Lan đã cố gắng học chữ nho, và trong suốt hai mươi năm trường, đã tận tụy dịch Kinh Thánh ra chữ nho. Ông lén lút học chữ nho ban đêm với một người Trung Hoa, và khi in Kinh Thánh chữ nho, ông đã thuê một người Tàu làm. Ban đầu người này mạo hiểm làm chỉ vì lợi (nếu chính phủ Trung Hoa biết được thì sẽ xử tử), nhưng sau lời Chúa đã biến đổi lòng anh ta, nên anh in giùm không lấy tiền vì cớ lòng anh yêu mến Chúa.
Trong Thánh thơ Công hội Anh quốc hiện có giữ một quyển Kinh Thánh chữ nho bị cắt bằng dao. Đó là kỷ niệm của một bậc nữ thánh đồ oanh liệt ở Trung Quốc. Nguyên hồi ấy bị loạn Thổ phỉ, tất cả Kinh Thánh đều bị hủy hoại. Có một bà già tin theo Đấng Christ. Bà đau đớn, buồn bã vì từ đây không còn có Kinh Thánh để đọc nữa. Bà mới bụng bảo dạ rằng: “Ta phải làm sao cứu vãn lại một phần nào của quyển Kinh Thánh cao quý này!” Bà bèn ngồi xuống chép lại toàn sách Tin Lành theo Thánh Ma-thi-ơ không sót một câu. Vì lâu nay bà hằng yêu mến Chúa và ham thích lời Ngài, nên bà học thuộc lòng từng chữ trong sách Tin Lành. Bà quyết định ít nữa cũng giữ lại một sách Tin Lành cho người thế gian xem ngõ hầu được sự cứu rỗi. Cao quý thay!
483. MỘT GIỌT NƯỚC THÔI!
(Kẻ dại)
Theo cách tính mới nhất của các nhà khoa học, thì trong một giọt nước cân nặng chừng 6% gram, có khoảng 6 ngàn tỷ tỷ (6.000.000.000.000.000.000.000) nguyên tử. Nếu cứ mỗi giây đồng hồ ta đếm được một nguyên tử, thì phải mất hơn 1.850 tỷ thế kỷ mới đếm hết các nguyên tử của một giọt nước!
Một giọt nước chứa chừng đó nguyên tử chỉ là một chấm nhỏ trong đại dương; cũng một thể ấy, số tỷ thế kỷ trong bài tính trên đây chỉ là một “giây” của thời gian vô cùng tận đang chờ đợi mỗi linh hồn. Vậy Đức Chúa Trời gọi người giàu kia chỉ toan tính cho đời này là “kẻ dại” (Lu-ca 12:20), thì chẳng lạ gì. Người hành khất trong đời này có đức tin đến Đấng Christ còn có hạnh phước vô cùng hơn người thạnh vượng mà tội lỗi chưa được tha thứ.
(Lu-ca 16:19-26)
Fred Bruff
484. VỊ ANH HÙNG CỠI NGỰA
(Không do sức người)
BỌN LƯU MANH đổ đi bắt người chúng định bắt. Người mà chúng nhất định giết là một người thấp nhỏ vẫn cỡi ngựa đi khắp nước Anh giảng đạo. Ông luận về thiên đàng, thì chúng cũng chẳng quan tâm chi; nhưng khi ông đả kích trọng tội và bọn sát nhân, thì chúng nhất quyết đưa ông xuống mồ mả. Chúng bàn mưu:
-Chúng ta sẽ bắt hắn trên một đường đồng quê hiu quạnh.
Chừng 20 tên rình đợi ông. Khi nhà truyền đạo phóng ngựa qua đó, chúng thình lình từ bụi rậm dọc đường xông ra. Một tên nắm hàm thiếc ngựa, một tên kéo nhà truyền đạo đi, còn tên thứ ba bắt đầu dùng chùy bổ ông. Nhiều tên khác cầm viên đá đánh ông.
Nhà truyền đạo thấp nhỏ không chống cự. Ông bị đánh ngã, nhưng đã quì gối được. Ông vòng tay, ngửa mặt lên trời mà cầu nguyện rằng:
-Lạy Cha, xin tha tội cho họ!
Thình lình tên trùm bọn phi pháp la hét bảo thôi. Bọn lưu manh cũng đã tấn công chậm hơn, vì hành động kỳ lạ của nạn nhân đã trị phục chúng, chớ nếu ông kháng cự, thì không thể có hiệu quả như vậy. Tên trùm ta hét:
-Đừng đánh ông ấy nữa.
Đoạn, hắn đặt tay lên đầu bầm nát, chảy máu của nhà truyền đạo, tỏ dấu hòa bình rồi trầm tĩnh nói rằng:
-Thưa ông, tôi xin lấy mạng sống đảm bảo cho ông. Không một người nào dám làm hại ông nữa.
Tên trùm bọn phi pháp chính là George Clifton, một tay đấu võ lấy giải và ăn cướp lừng danh thời đó. Võ lực không thể làm tan vỡ lòng anh, nhưng can đảm và lòng khiêm nhường của ông truyền đạo thấp nhỏ đã làm được việc ấy. Được biến cải bởi quyền phép cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ, Clifton trở thành một công dân kiểu mẫu; và suốt phần đời còn lại, ông đã giảng Tin Lành vinh hiển của Ngài trong những nhà giảng nhỏ ở khắp nước Anh.
Việc trên đây xảy ra khoảng 200 năm nay, khi “vị anh hùng của Đức Chúa Trời trên yên ngựa” đã đi trên 250.000 dặm trong 53 năm, qua bùn lầy nước đọng, qua giông tố và bão tuyết, để giảng Tin Lành khắp mọi nơi: Nào dưới gốc cây, nào bên đống chì ở cửa hầm mỏ, nào góc đường - bất cứ nơi nào có người đứng nghe.
Ông truyền đạo này chính là John Wesley, người sáng lập Hội Thánh Giám lý (Eglise Methodiste). Pho tự điển Encyclopedia Britanica có chép rằng: “Nước Anh đã được cứu khỏi chết vì hư xấu, bại hoại, say sưa, cờ bạc và đạo đức suy đồi, chính là nhờ Wesley đã sốt sắng rao giảng Tin Lành về Đấng Christ dâng mình chuộc tội, làm nên phương cứu rỗi và tẩy sạch linh hồn nhân loại”.
Trích báo “Power”
485. Ý TƯỞNG NGÀY LỄ NGŨ TUẦN
(Lễ Ngũ tuần)
Một năm một lần, lễ Ngũ tuần trở lại với chúng ta. Trong hầu khắp các chi hội, có một bài giảng về Đức Thánh Linh và dâng những lời cầu xin Ngài ngự trị trong lòng tín đồ và trong Hội Thánh. Nhưng sự thực thế nào? Quang cảnh lễ Ngũ Tuần đầu tiên có tái diễn giữa vòng ta chăng? – Không hoặc có, nhưng thu hẹp nhiều lắm.
Có lẽ chúng ta biết, nhưng lại hay quên rằng Đức Thánh Linh là Ngôi thứ Ba trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời, có đủ đặc tánh của một Thân vị. Chính Ngài ngày nay thực hiện kế hoạch cứu rỗi mà Đức Chúa Jesus Christ đã hoàn thành bởi sự chết và sự sống lại của Ngài. Chính Ngài làm cho người ta nhận lỗi, khuyên giục họ tin nhận Cứu Chúa, tái sanh họ, khiến họ nên thánh, và thi hành quyền phép toàn năng qua họ để có những kết quả hiển nhiên, phi thường như đương thời các Sứ đồ.
Nên nhớ điều này: Đức Thánh Linh chỉ hành động qua những “bình” trong sạch đã dốc hết bản ngã và hoàn toàn đầu phục Ngài vô điều kiện. Dầu ta trong sạch, đã dốc hết bản ngã và đầu phục Ngài tới 99 phần trăm, chỉ giữ lại một phần nho nhỏ, Ngài cũng chưa tỏ bày quyền phép trọn vẹn qua ta được. Ở tình trạng ấy, có thể có sự cảm động của Đức Thánh linh, nhưng phần nhiều là sức mạnh của bản ngã. Vì vậy lắm người trong Hội Thánh không được tái sanh hoặc sống một đời thiêng liêng thấp thỏi. Sự hoạt động hăng hái thiên nhiên chỉ đem lại kết quả kém cỏi, nhiều tội nhân tỏ ý ăn năn, tin nhận Cứu Chúa, nhưng không đứng vững được. Hơn nữa, biết bao nhiêu lời cầu nguyện không được Chúa nhậm, bệnh nhân không được chữa lành, và phần tài chánh thiếu hụt trông thấy.
Nào ai vui lòng đầu phục Đức Thánh Linh 100%? Chúng ta đã giơ tay, đã đứng dậy, đã khóc lóc, đã hứa nguyện, và cũng có khi đã đi đường đầu phục nữa. Nhưng quyền phép thiên thượng vẫn chưa phát tỏ trong ta và qua ta; hoặc có, cũng không mạnh mẽ.
Tại sao vậy? Tại sao trong thâm tâm ta vẫn thành thực và đau đớn nhìn nhận mình thất bại? Chính người đương cuộc có thể trả lời câu hỏi ấy. Vì còn một lầm lỗi chưa sửa chữa và đền bồi; còn một ý riêng chưa phó nộp vào Thập tự giá; còn một tội nhỏ dễ vấn vương linh hồn mình; còn một việc làm thương tổn, thiệt hại anh em mà chưa hạ mình xin tha thứ; còn chưa để đủ thì giờ cầu nguyện, chờ đợi Đức Thánh Linh giáng lâm, v.v...
Bây giờ mọi sự đã rõ ràng. Chúng ta sẽ làm chi? Cứ kỷ niệm ngày Đức Thánh Linh theo thường lệ rồi cứ sống lặng lẽ như những ngày qua chăng? Cứ thảo kế hoạch, lo tổ chức, làm công việc, mặc dầu trong lòng đã chán nản và chịu thua chăng? Không. Thơ Ê-phê-sô 5:14 chép rằng: “Người đương ngủ, hãy thức, hãy vùng dậy từ trong đám người chết, thì Đấng Christ sẽ chiếu sáng ngươi.” Bước thứ nhất đi tới cuộc phục hưng bởi Đức Thánh Linh là không chịu cứ ở địa vị thấp thỏi, hâm hẩm, thất bại nữa. Nhờ học Kinh Thánh và cầu nguyện nhiều hơn, ta sẽ thấy nhóm lên trong tâm hồn mình sự khao khát những ân tứ siêu nhiên, những khả năng vô cùng tận. Rồi ta sẽ nhất quyết đầu phục Đức Thánh Linh vô điều kiện để được chịu báp-têm bằng chính mình Ngài (Công-vụ Các-sứ-đồ 1:5).
Dầu có sự xúc động phi thường hay không, người chịu lễ báp-têm bằng Đức Thánh Linh cũng nhận thấy có Ngài ở với mình; người chung quanh cũng nhận thấy nhờ những kết quả hiển nhiên và siêu nhiên mà sức người không sao thực hiện được.
Nếu các bạn hầu việc Chúa và anh em tín hữu chưa từng trải qua một lễ Ngũ Tuần đặc biệt trong chính tâm linh mình, trong dịp kỷ niệm Ngài giáng lâm, hãy làm trọn các điều kiện để tìm cho được. Vì “ấy chẳng phải bởi quyền thế, cũng chẳng phải bởi năng lực, bèn là bởi Thần Ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy” (Xa-cha-ri 4:6).
486. MUỐI
“Các người là muối của đất” (Ma-thi-ơ 5:13)
- MUỐI DÙNG ĐỂ NÊM ĐỒ ĂN
Công dụng phổ thông nhất của muối là thêm hương vị vào các thức ăn. Thiếu muối thì dầu sơn hào hải vị cũng chẳng giá gì. Thật vậy, chúng ta là môn đồ của Đấng Christ cũng phải thêm vào đời sống của ta cũng như vào đời sống của kẻ khác chất mặn của những tư cách quảng đại, tinh thần chia ngọt xẻ bùi, cử chỉ hiền lành đạo đức yêu thương. Nhược bằng muối mất mặn đi thi còn dùng chi được nữa, “chỉ phải quăng ra ngoài bị người ta đạp dưới chân” (Ma-thi-ơ 5:13).
- MUỐI RẤT MAU TAN VÀO ĐỒ ĂN
Nếu bỏ một tí muối vào trong một ly nước thì chẳng mấy chốc muối tan rã, và ly nước sẽ mặn ngay. Cũng vậy, chúng ta là tín đồ của Đấng Christ cũng cần phải dùng ảnh
hưởng của mình để làm ích cho kẻ khác. Có bao giờ các bạn để ý rằng một người sung sướng có thể biến đổi không khí nặng nề của cả một nhóm người thất vọng buồn bã chăng? Khá nhớ rằng tình yêu thương và thái độ tử tế là hai điều không đắt giá bao nhiêu nhưng có ảnh hưởng sâu xa và mạnh mẽ vô cùng. Cũng như muối trong ly nước kia, lòng yêu thương rất dễ hòa mình với kẻ khác trong mọi sự đau khổ khó khăn, và biến những sự ấy thành vui vẻ nhẹ nhàng. “Hãy vui với kẻ vui, như vậy anh em sẽ làm trọn luật pháp của Đấng Christ” (Rô-ma 12:15; Ga-la-ti 6:2).
- MUỐI GIỮ CHO VẬT SỐNG KHỎI CHẾT
Cứ trung bình mỗi người ăn một năm hết bảy kí-lô muối; Nếu không có muối một con bồ câu chỉ có thể sống ba tháng và một con chó bốn tháng. Còn các loài mục súc sẽ chết nếu chỉ ăn cỏ xanh mà không có muối. Tất cả loài người và thú vật không thể sống nếu thiếu muối. Tín đồ Đấng Christ rất cần cho thế gian cũng như muối cần cho các loài sinh vật. Vậy chúng ta tự xét mình đã giúp ai tìm được Cứu Chúa sự sống chưa, hoặc đã đưa đường cho ai đến cùng Chúa Jesus để nhận được sự sống đời đời chưa?
- MUỐI CÓ NĂNG LỰC
Hột muối tuy bề ngoài có hình dáng xấu xí thế mà có một năng lực lạ thường. Nếu trong nước có thêm đủ số lượng muối có thể nâng các vật nổi lên. Một bằng chứng là tại biển Chết ở xứ Do-thái có chất muối bốn lần nhiều hơn ở các đại dương khác, nên có thể khiến cho một quả trứng nổi cách dễ dàng, hoặc có thể nâng trọng lượng của một con người, khiến người khỏi chết đuối. Muối nâng lên, khiến muốn có một năng lực nâng lên. Chúng ta là tín đồ Đấng Christ cũng phải có năng lực và tinh thần ấy. Khi ta trò chuyện với một ai, ta có sức nâng họ lên để đưa họ đến gần Chúa Jesus chăng? Lời nói của ta có đưa lại sự nâng đỡ anh em mình chăng? “Lời nói anh em phải có ân hậu theo luôn và phải nêm thêm muối” (ICô-rinh-tô 4:6).
Một vài hột nuối không có sức mạnh bao nhiêu nhưng càng nhiều hột hiệp lại thì năng lực lại càng nhiều. Lạ thay, khi Đức Chúa Jesus phán: “Các ngươi là muối của đất” thì
số tín đồ của Ngài chỉ có một nhóm yếu đuối, ít ỏi. Nhưng số ít ấy đã chung vai đấu cật, cậy ơn Chúa truyền bá Tin Lành từ Á sang Âu! Ôi, nếu ngày nay chúng ta biết đồng công cộng tác trong chức vụ, gạt bỏ mọi tị hiềm và thành kiến, đoàn kết nhau lại bằng tình yêu thương, thì chúng ta có thể làm bao nhiêu công việc vĩ đại cho Đức Chúa Trời.
- MUỐI LÀ TƯỢNG TRƯNG CỦA TINH THẦN THÂN HỮU VÀ HÒA HẢO.
Mác 9: 51 luận rằng: “Các ngươi phải có muối trong lòng mình, lại phải hòa thuận cùng nhau.” Đương thời Đức Chúa Jesus, hễ ăn muối của người nào tức là hòa hảo với
người ấy. Người Ả-rập hiện nay vẫn còn câu tục ngữ: “Có muối giữa hai ta!”, nghĩa là giữa hai người có một giao ước vĩnh viễn về sự giao hảo. Trước đây ít lâu khi những nhà đô vật Nhật Bản tranh hùng tại Luân-đôn, trên sân đô vật có trải muối để làm dấu hiệu tỏ ra rằng tuy họ đấu sức với nhau, nhưng vẫn giữ tinh thần thân hữu vả hòa hảo. Trong vòng chúng ta có lẽ đôi khi cũng có những ý kiến bất đồng nhưng nếu có muối của Chúa trong ta thì sự bất đồng ý kiến ấy vào không làm si sút tinh thần giao hảo và tinh thần anh em trong Chúa.
- MUỐI LÀ TƯỢNG TRƯNG CHO SỰ THÀNH TÍN.
Ngày xưa, giao ước của Đức Chúa Trời lập với dân Y-sơ-ra-ên được họ gọi là “sự giao ước bằng muối” (IISử-ký 13:5), từ liệu ấy có nghĩa Lời Đức Chúa Trời là vững chắc. Ngài luôn luôn là Đấng Thành tín. “Mỗi buổi sáng thì lại mới luôn. Sự thành tín của Chúa là lớn lắm.” (Ca-thương 3:23). Chúng ta cũng phải luôn luôn thành tín và chân thật đối với lời của mình. Ôi, ước chi tất cả chúng ta đều là muối có chất mặn thật thì sẽ không còn có những sự cãi lẫy, tranh cạnh và đố kỵ nhau giữa vòng tín đồ của Đấng Christ.
Nguyện Chúa giúp chúng ta có thể thực hiện hoàn toàn lời phán của Đức Chúa Jesus: “các ngươi là muối của đất.” A men.
- Bà Giáo sĩ Mitchell.
487. DÂN CHỦ
(Kinh Thánh cho chúng ta cách sống đống dân chủ)
Đề cập đến Kinh Thánh, một văn sĩ nổi tiếng, ông Quentin Reynolds nói: “Nếu tôi là một nhà độc tài thì quyển sách tôi đốt trước tiên phải là Kinh Thánh. Vì tôi thấy rằng tất cả ý niệm về dân chủ đều nằm trong đó. Dân chủ tiếng Hy-lạp là “Democracy” có nghĩa là do dân cai trị, nhưng ngày xưa khi sự vinh quang lên đến tột điểm, thành Athens vẫn không có tí gì dân chủ. Người Hy lạp cho chúng ta danh từ dân chủ, nhưng chỉ có Kinh Thánh cho chúng ta cách sống dân chủ”.
Halford E. Luccock (Christian Herald)
488. NHỮNG LỜI TIÊN TRI VỀ THÀNH GIÊ-RU-SA-LEM
(những lời tiên tri)
Đấng tiên tri Mi-chê dự ngôn về thành Giê-ru-sa-lem rằng: “Vậy nên, vì cớ các ngươi, Si-ôn sẽ bị cày như ruộng; Giê-ru-sa-lem sẽ trở nên đống đổ nát, và núi của nhà sẽ trở
nên như nơi cao trong rừng!” (Mi-chê 3:12).
Sau cuộc thế giới chiến tranh thứ nhất, khi cửa mở rộng cho dân Do thái hồi hương, thì Giê-ru-sa-lem gia tăng dân số và diện tích rất nhiều. Hàng ngàn, hàng vạn người Do-thái đổ về xứ sở và lập tức bắt đầu kiến thiết lại các đô thị, khai khẩn các vùng đất hoang. Nhà cửa, “bin-đinh” và công sở đồ sộ mọc lên khắp thung lũng Hi-nôm (xem Giô-suê 15:8) ở phía tây. Nhiều người Ả-rập cấp tiến cũng dự phần chương trình kiến thiết này: Họ xây cất nhà cửa xinh xắn ở phía bắc các vách thành, và cũng ở phía nam chạy qua thung lũng Hi-nôm.
Xưa kia, thung lũng Hi-nôm dùng làm cái hào thiên nhiên ở phía tây và phía nam còn thung lũng Xết-rôn (xem IICác-vua 23:12) cũng đúng như vậy ở phía đông. Đương thời Mi-chê nói tiên tri, thì khu vực Giê-ru-sa-lem có hai thung lũng này bao bọc. Sau khi thành bị Nê-bu-cát-nết-sa và nhiều quân xâm lăng lăng tiếp nhau phá huỷ, thì khu vực Giê-ru-sa-lem cũ thiên về phía bắc. Vậy, ngày nay, nam phần của khu vực, gọi là “thành Đa-vít,” có ít dân cư, nhà cửa; phần nhiều là đồng ruộng, đống đá già và đống đá non. Khi xây dựng lại Giê-ru-sa-lem, có một khoảng lớn bỏ trống giữa các vách
phía nam của “thành cũ” và thung lũng Hi-nôm; còn ngay phía nam thung lũng ấy thì kiến thiết một khu mới của thành Giê-ru-sa-lem đã mở rộng.
Kết quả cuộc chiến tranh (1948-1949) giữa người Ả-rập và người Do-thái là thành Giê-ru-sa-lem đã bị chia hai. Vương quốc Jordanie kiểm soát “Thành Cũ”, còn người Do-thái cai quản phần lớn khu vực trước kia gọi là “Thành Giê-ru-sa-lem mới.” Như vậy, Giê-ru-sa-lem ở dưới quyền cai trị của cả dân ngoại và dân Do-thái. Dầu Giê-ru-sa-lem đã được tuyên bố là thủ đô của tân quốc gia Do-thái, nhưng khu vực Giê-ru-sa-lem đương thời Kinh Thánh còn bị dân ngoại kiểm soát. Đó là một thực sự đầy ý nghĩa nếu xét theo lời Đấng Christ đã phán về số phận thành này: “Thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị dân ngoại giày đạp, cho đến chừng nào các kỳ dân ngoại được trọn” (Lu-ca 21:24b).
Tiên tri Mi-chê thấy xa hơn cuối cùng “các kỳ dân ngoại,” và mô tả tương lai vinh hiển của thành ấy rằng: “Xảy ra trong những ngày sau rốt, núi của nhà Đức Giê-hô-va sẽ lập lên trên chót các núi, và sẽ dược nhấc cao lên hơn các đồi. Các dân sẽ chạy về đó: và nhiều nước sẽ đi đến đó, mà rằng: “Hãy đến, chúng ta hãy lên núi của Đức Giê-hô-va, nơi nhà của Đức Chúa Trời Gia-cốp. Ngài sẽ dạy chúng ta về đường lối Ngài, và chúng ta đi trong các nẻo Ngài. Vì luật pháp sẽ ra từ Si-ôn, Lời của Đức Giê-hô-va từ Giê-ru-sa-lem” (Mi-chê 4:1, 2).
Không một thành phố nào trên thế giới đã nếm trải những cơn thử thách như Giê-ru-sa-lem. Ngày hoạn nạn của nó chưa hết. Dầu sự đau đớn có thể gia tăng tới tột bậc trong ngày đại nạn, nhưng đến cuối cùng chắc Giê-ru-sa-lem sẽ toàn thắng. Không thành phố nào trên thế giới có thể hi vọng một tương lai vinh hiển như các đấng tiên tri (mà Mi-chê là một) đã nói trước về Giê-ru-sa-lem: “Hãy cầu hòa bình cho Giê-ru-sa-lem; phàm kẻ nào yêu mến ngươi sẽ được thới thạnh” (Thi-thiên 122:6).
Mục sư Alvin Martin.
489. HÀI CỐT VÀ VÀNG, THỨ NÀO QUÝ?
(Cả hai đều vô dụng khi linh hồn lìa khỏi xác)
Như Chúa phán với người giàu có đã tích trữ đầy của cải cho mình rằng: “Chính đêm nay linh hồn ngươi sẽ bị đòi lại; vậy những của cải ngươi đã sắm sẵn sẽ thuộc về ai?” và “Vì sự sống của người ta không phải cốt tại của cải mình dư dật đâu!” Lu-ca 12:15 và 20.
Báo SÓNG THẦN số 250 ra ngày 1-7-1972 tại Sài Gòn. Nói về: HÀI CỐT VÀ VÀNG, trong một quan tài bằng đá lớn ở gần thủ đô Cairo TÌM THẤY 4 XÁC ƯỚP CỔ ĐẠI AI CẬP ĐEO MẶT NẠ VÀNG.
Một kho tàng đầy vàng khối chôn dấu ở Phi.
CAIRO AI CẬP. - Một nhà khảo cổ cho biết một xác ướp Ai-cập có từ 2.000 năm trước Thiên Chúa, vừa mới được khám phá mới đây cùng với Ba xác ướp khác đeo mặt nạ bằng vàng.
Ông Heshmat Messiha, chủ tịch phòng khảo cổ tuyên bố đây là lần đầu tiên người ta đào được 1 xác ướp Ai-cập lạ lùng. Hàm răng của người chết bị buộc chặt bằng những giây vải nhỏ và một cây gậy gỗ có chạm trổ đùng để chống đỡ xương sống.
Xác ướp trên là 1 xác phụ nữ, cùng với 3 xác ướp khác được tìm thấy trong một quan tài bằng đá lớn ở Fayoum, cách thủ dô Cairo hơn 64 cây số về hướng Tây.
Ngoài ra một cựu binh Nhật Bản cho biết ông đã được người Phi Luật Tân đề nghị cùng đi tìm và chia xẻ kho tàng giá trị, trị giá nhiều triệu Mỹ kim và ông ta cùng 6 binh sĩ Nhật khác đã chôn dấu ở phía Bắc thủ đô Manila (Phi Luật Tân) từ tháng Hai năm 1954.
Ông Yataro Imaizumi 40 tuổi nói rằng kho tàng bí mât trên gồm nhiều nén vàng và tiền đồng Pesos của Phi Luật Tân trị giá nhiều triệu Yen hoặc từ năm đến mười triệu Mỹ kim.
Ông Imaizumi cho biết ông cùng sáu binh sĩ Nhật khác thuộc phân đội chuyên chở bằng xe vận tải của quân đội Nhật Bản trong thời thế chiến thứ hai đã tìm thấy khoảng từ 50 đến 60 túi vải bố chứa đầy vàng khối và tiền đồng Pesos bị bỏ lại dọc theo một con đường 400 cây số ở phía bắc Manila, vì không biết chủ của kho tàng trên nên họ đành chôn dấu ngay tại dó.
490. MÙ TỪ THUỞ SANH RA MÀ LẠI THẤY ĐƯỢC
En Veronica Robertson, con gái lên 7 tuổi bị mù từ thuở sanh ra nhưng đã thình lình thấy được sau khi dự cuộc nhóm họp cầu nguyện dưới sự chủ tọa của Oral Roberts, nhà truyền đạo Mỹ đã viếng thăm miền Nam Phi năm ngoái.
Ngày hôm qua, tại nhà riêng ở trường Ontdekkon, thành phố Roodeport, bà Anna Robertson nói với tôi rằng:
-Việc lạ lùng quá đến nỗi tôi hầu như không thể tin là thật. Con Veronica bị mù từ khi mới sanh ra, nhưng tôi không nhận biết điều đó cho tới ngày nó tập đi và cứ đụng nhầm đồ nọ, vật kia. Tôi bèn dẫn nó đến cho nhiều Bác sĩ chuyên môn khám, thì sự lo sợ của tôi là đúng.
Nghe tin một bác sĩ trứ danh người Mỹ ghé thăm thị trấn Durban, bà Robertson bèn đưa Veronica tới cho ông coi. Lúc đó em được 18 tháng và giữ lại bệnh viện Addington một tuần lễ để xem xét. Hết thời gian ấy, Bác sĩ tuyên bố quả quyết rằng em bị mù tịt. Bà Robertson nói với tôi:
-Tôi thưa với bác sĩ rằng nếu còn hy vọng, thì vợ chồng tôi sẵn lòng bán hết mọi vật mình có để đem con ra nước ngoài chạy chữa, nhưng ông nói rằng chẳng có hy vọng gì hết.
Veronica lớn lên, tánh nhút nhát, hay cáu kỉnh và hễ nghe tiếng động thì sợ sệt. Em nhận biết mẹ vì ngửi mùi phấn trên mặt bà, nhận biết hai chị vì người nhỏ mang vớ (bít-tất) ngắn và người lớn mang vớ dài.
Năm ngoái khi bà tới thăm mục sư Oral Roberts, thì đó là phương pháp cuối cùng rồi. Ông bà cũng không “sùng đạo” lắm, nên ít có hy vọng ở kết quả.
Ngày hôm sau, cuộc nhóm họp cầu nguyện, Bà Robertson nhận thấy Veronica không còn dò đường quanh nhà và rờ tìm các đồ vật nữa.
Khi cha mẹ hỏi em, thì nhận thấy rằng em có thể phân biệt ánh sáng chói lói và gọi đúng những vật giơ ra gần mắt mình. Mấy ngày sau, khi đi ngang tủ kính một tiệm buôn, em chỉ vào một con búp-bê mà xin mẹ mua.
Bà Robertson nói:
-Tôi khóc nức nở vì biết Veronica thật đã thấy được.
Ngày hôm qua bà Robertson nói với tôi:
-Em cho rằng thế giới đẹp lắm. Khi em không thấy được, thì mọi vật dường như to lớn và cứng rắn; mỗi khi đụng phải vật gì thì em đau lắm. Em chỉ vào chiếc áo ni-lông màu xanh lơ, các màn cửa có hoa, và chiếc dương cầm nhỏ màu đỏ của em chơi mà nói rằng: “Trước kia tôi không biết là đẹp đẽ dường ấy”.
Nội trong tuần lễ ấy, tôi nói chuyện với một bác sĩ đã chữa cho Veronica, thì ông đáp rằng:
-Tật mù của em do một tình trạng từ lúc sanh ra, và không ai có thể nói tiên tri em sẽ thấy được.
Trích báo “Sun day times”.
491. CHILI
(Tinh thần chứng đạo)
Tinh thần chứng đạo của Hội thánh tại Chili, một nước Cộng Hòa ở Nam Mỹ, hiện đang lên rất cao. Dưới đây là lời của Mục sư Kenneth Strachan một vị giáo sĩ trứ danh ở Nam Mỹ: “Tôi được một mục sư của một chi hội ở Santiagio, thủ đô nước Chili, mời đến giảng cho cuộc nhóm tối thứ tư. Tôi đã chứng kiến một điều mà trọn đời tôi không thể nào quên được. Tối ấy, tôi đến khá sớm, và ngồi nói chuyện với ông Mục sư sở tại, một người chưa hề học Trường Kinh Thánh nào cả. Ông ta đang hỏi tôi có thể ghi tên học một lớp Thánh Kinh hàm thụ nào chăng. Chúng tôi đang trò chuyện, bỗng nghe tiếng hát Thánh Ca vang dậy ngoài đường phố. Thấy tôi ngạc nhiên, Mục sư bèn đứng dậy mời tôi ra xem. Tôi thấy ngoài đường từng đoàn chứng đạo lũ lượt kéo đến, mỗi đoàn có từ 50 đến 70 người cả nam lẫn nữ, có cả những thiếu phụ ẵm con dại trên tay. Ông Mục sư cho tôi biết rằng đó là các con cái Chúa ở khắp các phố trong thủ đô vừa mới đi làm chứng và tổ chức những cuộc bố đạo ngoại đường phố trở về. Chúng tôi cứ đứng xem cho đến khi tất cả độ 400 người hớn hở quỳ quanh tòa giảng, thiết tha cầu xin Chúa ban phước cho những hột giống vừa mới gieo ra. Ông Mục sư trao cho tôi một bản danh sách gồm có hàng mấy ngàn tín đồ. Họ chia ra làm 17 đoàn chứng đạo. MỖI đêm, 17 đoàn này phân tán ra khắp nơi trong thủ đô Santiago để giảng Tin Lành (thủ đô này dân số là 2.000.000 người). Thế là mỗi năm họ đi ra làm chứng 365 lần. Họ chỉ là những anh em công nhân tầm thường, nhưng mỗi buồi chiều, sau giờ tan sở, họ không về ăn cơm ngay, mà đi thẳng đến nơi đã định trước, rồi cùng nhau làm chứng và giảng đạo trong đường phố. Sau đó họ kéo về nhóm thờ phượng Chúa trong nhà thờ rồi mới về dùng bữa tối. Đêm ấy, tôi đến giảng thình lình, không có tuyên bố trước, nhưng có trên 2.500 giáo hữu đến nhóm tại trong một nhà thờ nhỏ ở thủ đô Santiago. Trong buổi nhóm Đức Chúa Trời đã nhắc tôi một câu gốc mà không bao giờ tôi có thể quên được: “Hãy biết rõ điều đó, hễ ai gieo ít thì gặt ít, ai gieo nhiều thì gặt nhiều” (IICô-rinh-tô 9:6).
Nguyện Đức Thánh Linh hành động mạnh mẽ trong Hội Thánh Tin Lành Việt Nam chúng ta để mọi con cái Chúa trở nên một chủng hội viên trung tín và sốt sắng, đến nỗi chúng ta có thể đồng thanh với tiên tri Giê-rê-mi mà nói rằng: “Nếu tôi nói: Tôi sẽ chẳng nói đến Ngài nữa; tôi sẽ chẳng nhơn danh Ngài mà nói nữa, thì trong lòng tôi như lửa đốt cháy, bọc kín trong xương tôi, và tôi mệt mỏi vì nín lặng, không chịu được nữa” (Giê-rê-mi 20:9).
492. CHIẾC MÁY CÀY BƯỚNG BỈNH
Một ông truyền đạo hầu việc Chúa giữa những người tị nạn chiến tranh ở nước Bỉ đã kể lại một chuyện kỳ lạ cho các nhân viên Hội Truyền Giáo Tin Lành Bỉ. Trong một buổi giảng của ông, một thanh niên Nga đã đứng dậy, thuật lại sự từng trải sau đây:
Ở nước Nga, tôi cũng thường làm việc tại một nông trường tập thể, và họ giao cho tôi phụ trách một chiếc máy cày. Dầu chính tôi biết rất ít về máy móc, chúng tôi nhận thấy những người khác lại chẳng biết chi hết. Vậy, tôi thấy khá yên tâm và làm cho máy chạy lại được.
Ngày kia, máy hỏng, và người cai kêu tôi đến. Anh ra lịnh:
-Này Iwan, sửa mau lên! Rất nhiều người bị ngăn trở không làm việc được đó.
Tôi hết sức sửa chữa, nhưng vô hiệu. Các công nhân khác đứng quanh tôi, vừa xem vừa nói thầm với nhau. Rốt lại, người cai giậm chân tiến đến phía tôi mà la hét lên rằng:
-Này Iwan, anh làm ngừng sự sản xuất của nông trường này. Anh làm hỏng cả cuộc thi đua của các bạn đồng sự. Đối với chúng tôi, đó là phá hoại. Nếu ngày mai, chiếc máy cày này không chạy, thì anh chỉ còn nước đi Tây-Bá Lợi-Á.
Tôi cố gắng lần chót, nhưng cũng chẳng thành công, và hy vọng của tôi tiêu tan khi trời tối. Không một ai ở nông trường có thể giúp tôi, và rõ ràng lắm, chẳng ai lo lắng số phận tôi sẽ ra sao.
Đêm đó, đang khi tôi trằn trọc trên giường, thì ý tưởng về Đức Chúa Trời vụt qua óc tôi như chớp nhoáng, mặc dầu tôi chưa bao giờ tin rằng thật có Ngài. Tôi cố tìm trong óc một bài cầu nguyện sẵn, bèn nhớ lại có người đã cầu nguyện “nhơn danh Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh”. Phải rồi, vậy là đủ. Đó là một phần lời cầu nguyện Đức Chúa Trời toàn năng, và chắc Ngài sẽ nhậm.
Tôi bèn quì xuống, hết linh hồn kêu xin rằng: “Nhơn danh Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh”. Tôi chỉ nói được chừng đó rồi tôi ngủ vùi vì quá mệt nhọc.
Chiêm bao rùng rợn về xứ Tây-Bá Lợi-Á làm cho đêm ấy trở thành một đêm khủng khiếp, nhưng rốt lại, tôi dường như lại thấy chiếc máy cày đứng sững trước mặt mình. Tôi chú ý đến một bộ phận đặc biệt, và tôi có ấn tượng sâu mạnh rằng nó là nguyên nhân của tất cả sự khó khăn. Lòng tôi cảm thấy bình an, nguôi dạ, và đến sáng tôi chạy ra xem xét bộ phận khả nghi. Chẳng bao lâu, chiếc máy lại chạy!
Từ ngày đó trở đi, tôi biết chắc có Đức Chúa Trời ở thiên đàng luôn luôn đáp lời cầu nguyện. Tối nay ông lại cho tôi nghe tin tức tốt lành về con Ngài là Đức Chúa Jesus Christ, đã chịu chết và sống lại để hoàn thành ơn cứu chuộc loài người. Tôi xin tiếp nhận mọi ơn phước mà Ngài đã tạo nên cho tôi trên cây Thập tự, và tôi sẵn lòng trở nên môn đồ của Đấng Christ.
Thường tình, khi bình an, thạnh vượng, ít ai tìm kiếm Đức Chúa Trời. Nhưng khi hoạn nạn xảy đến, người ta mới hướng tâm trí về phía Ngài, và nhiều khi Ngài cũng giải cứu họ, “vì Ngài khiến mọc trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác” (Mác 5:45).
Nhưng muốn được sự tha tội, sự sống đời đời và hạnh phước tối da, bạn phải tiếp nhận Con Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Jesus Christ làm Cứu Chúa độc nhất vô nhị của mình. Chỉ nhờ cậy sự chết và sự sống lại của Đức Chúa Jesus Christ, bạn mới trở thành con cái Đức Chúa Trời và được hưởng mọi phước lành do địa vị làm con đó; vì Ngài phán rằng: “Ta là Đường Đi, Lẽ thật và Sự Sống; chẳng bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha” (Giăng 14:5).
493. CÁ CHẲNG ĂN CÂU
(hay mồi không hợp tính)
Từ trung tuần tháng sáu dương lịch, vợ chồng tôi đến nghỉ mát tại vịnh Georgian Bay, trên hồ Huron, thuộc tỉnh Ontario, xứ Gia-nã-đại. Chúng tôi ngồi trên một chiếc ca-nô
máy, chạy chơi trên hồ, nhà tôi lái rất thạo. Nhà tôi cũng có đem theo cần câu, nhợ, mồi, để câu cá, nhưng có lẽ vì không gặp thời, nên câu mãi mà cá chẳng ăn câu. Miếng mồi nhà tôi mắc nơi lưỡi câu là một thứ mồi giả nhưng làm rất tinh vi có màu sắc lóng lánh trông rất đẹp mắt. Thế mà mỗi lần thả xuống tuy đàn cá xúm bu quanh và nhỉn xem nhưng rốt cuộc nó không chịu đớp lấy mồi.
Ngồi trên ca nô, tôi suy gẫm loài cá kia dường như khôn ngoan hơn loài người, vì lắm khi loài người chúng ta bởi hấp tấp đớp lấy miếng mồi của ma quỉ mà phải mắc câu của nó. Nhưng kỳ thay, ma quỉ không dùng luôn luôn một thứ mồi đâu. Có lẽ đối với một số người, ly rượu sùi bọt kia, căn phòng khiêu vũ tưng bừng nọ, hoặc nhà chiếu bóng tấp nập kia không thể kéo họ “ăn câu”. Sa-tan bèn xoay qua dùng thứ mồi khác: tinh thần phê phán, lòng tự ái, hơi thở lằm bằm, giận dữ, sự nói hành, v.v... Hẳn ta không quên kẻ thù của chúng ta là thiên hình vạn trạng; đôi khi nó là con sư tử rống, lắm lúc là con rắn quỷ quyệt, nhưng đôi hồi cũng lại khoác lốt thiên sứ sáng láng.
Nhưng có điều chúng ta đáng tạ ơn Đức Chúa Trời, là chúng ta được may mắn hơn loài cá. Cá kia, một khi đã ăn câu, thì, ôi thôi, không còn hy vọng thoát khỏi. Còn chúng ta,
đã sa vào lưới rập của ma quỉ, nếu biết ăn năn nhờ cậy Chúa thì vẫn có thể gỡ mình khỏi bẫy của nó. Kinh Thánh chép rằng: “Vả đầy tớ của Chúa... dùng cách nhu mì mà sửa dạy những kẻ chống nghịch, mong rằng Đức Chúa Trời ban cho họ sự ăn năn để thông biết lẽ thật, và họ tỉnh táo mà gỡ mình khỏi lưới rập của ma quỉ, vì đã bị nó bắt sống để làm theo ý nó” (IITi-mô-thê 2: 24-26).
Vả, ăn năn không phải chỉ có nghĩa là buồn bực về tội mình đã phạm, bèn là quyết định lìa bỏ con đường tội lỗi. Theo nguyên văn bằng tiếng Hy-lạp, động từ “ăn năn” là
“metanoia” có nghĩa là “đổi ý hướng”, hay “đổi chí hướng”. Trong Kinh Thánh Tân Ước thường dùng động từ ấy để chỉ về sự đổi ý hướng vốn chăm về tội lỗi lỗi, bản ngã mà quay về cùng Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Jesus có dùng một ví dụ để soi sáng cho ta dễ hiểu thế nào là ăn năn thật. Chúa phán: “Một người kia có hai con trai. Đến bảo đứa thứ nhất rằng: “Con ơi, hôm
nay hãy ra làm vườn nho”. Đứa ấy thưa rằng: “Tôi không muốn” nhưng sau hối hận đi.” (Ma-thi-ơ 21:28-29). Cậu con này ban đầu không muốn làm theo lời cha, nhưng sau đó đã ăn năn thật, nghĩa là đổi chí hướng của mình, và quyết định làm theo lời cha dạy.
Vậy hỡi những ai là người đang mắc câu của ma quỉ, đang bị lừa gạt vì miệng môi giả dối của Sa-tan, hãy kịp ăn năn tội mình, quyết định quay về thập tự giá, cầu xin ơn tha
thứ của con Đức Chúa Trời là JESUS CHRIST, Đấng đã vì tội lỗi chúng ta mà chịu chết. “Kẻ ác khá bỏ đường mình, người bất nghĩa khá bỏ các ý tưởng; hãy trở lại cùng Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ thương xót cho, hãy đến cùng Đức Chúa Trời chúng ta, vì Ngài tha thứ dồi dào” (Ê-sai 5:7).
Chúng ta khá nghe lời cảnh cáo nghiêm nghị của Đức Chúa Jesus rằng: “Song nếu các ngươi chẳng ăn năn, thì hết thảy các ngươi cũng sẽ bị hư mất thể ấy”. (Lu-ca 13:3).
Bà Giáo sĩ D.I. JEFFREY
494. CHUYỆN CON SƯ TỬ VÀ BẦY TRÂU
(Một bài học về đoàn kết)
Có một bầy trâu mười con sống chung nhau trên một ngọn đồi của một cánh rừng già hoang vắng. Chúng được nổi tiếng nhất là thương yêu nhau. Chúng yêu nhau một cách tha thiết lạ lùng. Mọi ngày chúng cùng nhau quây quần ăn chung một đám cỏ.
Cũng trên đỉnh đồi ấy có một con sư tử lảng vảng rình mò để tìm mồi. Nó biết nó thừa sức hạ sát bầy trâu ấy từng con một, nhưng nó sợ không dám tấn công đàn lúc cả mười
con trâu cùng đứng chung nhau trên một đám cỏ với hai mươi cái sừng to lớn và nhọn hoắc. Con sư tử nghĩ: “Phải chi một trong những chú trâu này đi lạc bầy, thì mình thịt liền và chén một bữa cho đã!”. Nghĩ như vậy nó kiên tâm rình rập bầy trâu suốt mấy tháng trường. Nó cứ quanh đi quẩn lại “phục kích” trong cánh rừng ấy nhưng chẳng bao giờ gặp một con trâu lẻ loi. Bầy trâu càng thương yêu nhau khắng khít với nhau, và cứ vui vẻ vây quanh nhau đứng nhá những ngọn cỏ ngon lành.
Tuy nhiên, một hôm có một con trâu dậy đi ăn sớm hơn những con kia. Và nó quen thói cứ làm như vậy trong nhiều ngày. Sau cùng, một trong những con trâu “anh chị” tố cáo nó rằng: “Tại sao mày lại dậy sớm hơn chúng tao để xơi cả những ngọn cỏ xanh tươi và non mướt hơn hết.”
“Nhưng mà”, con trâu kia đáp, “ấy là tại các anh dậy trễ! Nếu tôi dậy sớm thì có mắc mớ gì các anh đâu? Cỏ nào cũng vậy chớ”.
Cả bầy trâu gồm chín con trâu kia dầu cho là con trâu ấy đã lén lút giành phần ăn tốt hơn hết. Chúng bèn biểu quyết thà giải tán cái “ngưu hội” ấy và mạnh ai nấy chiếm một phần đất để kiếm ăn là hơn. Chẳng bao lâu, cả mười con trâu chia nhau hùng cứ mười đỉnh đồi.
Sư tử thấy vậy thật mừng hết lớn. Nó tự nhủ: “Đây là thời cơ mà mình mong đợi bấy lâu nay”. Nó cứ đón từng con trâu một, hạ sát một cách dễ dàng và mỗi lần như thế là được một bữa chén hả hê. Chỉ trong một thời gian ngắn cả mười con trâu to lớn kia đều lần lượt chui vào bụng con sư tử.
Hỡi các bạn thanh niên thân mến trong Chúa, hãy nghe đây lời Chúa cảnh cáo chúng ta rằng: “...kẻ thù nghịch anh em là ma quỉ, như sư tử rống, đi rình mò chung quanh anh
em, tìm kiếm người nào có thể nuốt được”.
495. CẬU BÉ GIỮ CHUỒNG NGỰA SÁNG LẬP TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Mới lên 10 tuổi, Neesima, cậu con trai Nhật Bản, đã phải làm việc như một tôi mọi. Cậu được tự do làm nhiều điều, nhưng nếu muốn đi khỏi nhà chủ, thì phải được chủ
cho phép. Như nhiều người Nhật khác hồi 1853, Neesima buộc phải làm tôi mọi vì cớ chế độ phong kiến đương thời ấy, cậu chẳng biết chi hết về Đức Chúa Trời chân thật và về Tin Lành của Đấng Christ. Từ 200 năm nay, người ngoại quốc không được phép vào nước Nhật và mọi ảnh hưởng ngoại lai bị ruồng ghét.
Phận sự của Neesima là giữ chuồng ngựa, nhưng thỉnh thoảng cậu cũng lẻn ra nhà thầy giáo để đọc sách. Có lần ông chủ bắt được và đánh đòn cậu. Ông hỏi cậu bằng một giọng chế giễu:
-Mày học để làm gì?
Neesima lớn tiếng:
-Vì một người không học thì có hơn gì con vật?
-Chà! Nhưng mày chỉ là một đứa giữ chuồng ngựa.
Dầu vậy, Neesima cứ tiếp tục học hỏi. Rồi cậu nghe một chuyện kinh lạ. Nhiều chiến hạm Mỹ do Đô Đốc Perry chỉ huy, đã xông vào các hải cảng Nhật và đòi phải mở cuộc thông thương giữa hai nước. Nhật Hoàng bất đắc dĩ phải ưng thuận.
Neesima sanh ra tọc mạch, muốn biết những người ở xa xôi kia. Cậu nhất định một ngày kia, sẽ vượt đại dương để thăm nước hùng mạnh ấy.
Năm 11 tuổi, Neesima bắt đầu nghi ngờ sự thờ lạy hình tượng và tổ tiên trong gia đình mình. Cậu thấy thợ lấy gỗ chạm trổ hình tượng, và cậu lý luận rằng một thần sống không thể có bộ dạng như vậy.
Ngày kia, lúc cả gia dình quì mọp lạy hình tượng thì Nessima cứ đứng thẳng, lòng cậu nặng nề, và cậu nói:
-Thưa cha, con không thể thờ cúng chung với cha nữa.
-Mày điên sao? Cha hỏi.
Neesima nhấn mạnh:
-Những hình tượng này không phải là chân thần. Nó chỉ là gỗ, đá. Tại sao người sống lại thờ lạy vật chết?
Ông già thở dài và lại tiếp tục thờ cúng. Neesima buồn rầu trong lòng, rón rén bước ra. Cậu không biết rằng một ngày kia, mình sẽ dẫn đưa cha về thờ lạy Đức Chúa Trời hằng sống và được thỏa mãn.
Chắc phải có một Đấng mà cậu có thể thờ lạy. Ước gì cậu có thể tìm thấy Ngài! Neesima cầu xin rằng: “Ôi! Nếu Ngài có mặt, xin hãy nhìn xem tôi. Nếu Ngài có tai, xin hãy nghe tôi!”.
Cậu cho rằng Đức Chúa Trời có liên quan với những người Mỹ xa lạ kia. Cậu nóng nảy ước ao đi Hakodate, là nơi các chiến hạm Mỹ thả neo. Cậu xin cha cho phép đi tới
đó nhưng chủ đánh cậu, không cho đi.
Suốt năm năm đằng đẵng, cậu cứ xin mãi, và rốt lại, ông chủ nhượng bộ vì bực mình quá. Nhưng khi tới Hakodate, cậu nhận thấy rằng mình phải biết tiếng Anh, thì mới tiếp xúc với các người ngoại quốc kia được. Chẳng bao lâu, số tiền nhỏ của cậu gần hết, và cậu tưởng mình đến phải quay về nhà.
Gần tới phút chót, cậu gặp một người đồng bào dạy cho vài tiếng Anh. Nhưng cậu còn phải đi Mỹ để tìm hiểu Đức Chúa Trời.
Neesima biết rằng thử lìa khỏi nước Nhật là nguy hiểm dường nào. Nếu nhà cầm quyền Nhật Bản bắt được, thì cậu bị tử hình. Nếu thoát khỏi mà đi được, thì không hy vọng trở về quê hương nữa. Nhưng có một cái gì trong lòng thúc đẩy cứ ra đi tìm kiếm Đức Chúa Trời.
Một người bạn ở hãng tàu đã sắp đặt cho cậu được nhận trên một chiếc tàu đi Trung Hoa. Giữa đêm tối mịt, cậu đi ra bờ biển, và có chiếc thuyền đưa cậu tới bến tàu, rồi cậu leo dây mà lên. Ông thuyền trưởng giấu cậu khỏi các viên cảnh binh Nhật lục soát tàu sáng hôm sau. Neesima nghe tiếng họ nói, nhưng họ vẫn không tìm thấy cậu.
Tại Thượng Hải, cậu may mắn tìm được việc làm trên chiếc tàu Mỹ chở hàng, tên là Wild Rover. Đang khi tàu cất hàng tại Hương Cảng, thì Neesima đi xem các tiệm buôn. Trong một tiệm sách, cậu nhận thấy quyển Tân Ước, giống như Kinh Thánh chữ nho mà cậu đã thấy mấy năm trước. Lòng cậu bồn chồn, nôn nả, nhưng cậu không có tiền.
Để mua quyển Tân Ước, cậu phải hy sinh một điều mà chỉ người Nhật mới biết là lớn lao dường nào. Cậu bán thanh kiếm samurai, tượng trưng cho lòng trung thành của mình đối với gia đình và tổ quốc. Cậu cầu nguyện rằng: “Ôi! Lạy Đức Chúa Trời, xin Ngài đừng để tôi hy sinh vô ích!”
Suốt một năm trên chiếc tàu chở hàng, cậu học mỗi chữ trong Tân Ước đến nỗi thuộc lòng gần hết.
Không một thủy thủ nào nói đến sự tin theo Đấng Christ nhưng họ đều thân thiện với Neesima. Để được thân mật và dễ kêu, họ đặt cho cậu biệt hiệu là: “Joe”.
Tới thành phố Boston, cậu bị thất vọng đắng cay. Cuộc nội chiến mới chấm dứt, và việc làm thật khó kiếm. Chẳng ai muốn mướn cậu vì cậu nói tiếng Anh ít quá. Sau mấy tuần lễ nghỉ phép, viên thuyền trưởng trở lại hải cảng, và thấy cậu hầu như tuyệt vọng.
Ông trình bày tình cảnh của Neesima với ông chủ tàu, và ông chủ muốn gặp cậu, Neesima kể cho ông chủ tàu nghe đã bao năm mình khát khao tìm kiếm Đức Chúa Trời và hiểu biết nước Mỹ. Ông chủ nói:
-Em ơi, em đã gần tới đích rồi. Tôi sẽ đem em về nhà và nhận em làm con.
Mồi miệng Neesima run lập cập. Cậu muốn nói, nhưng chẳng nói lên lời, vì cậu cảm kích ơn Đức Chúa Trời lớn quá. Cha nuôi đặt tên cậu là “Joseph Hardy Neesima”.
Bây giờ cậu được hiểu rõ Kinh Thánh, vì cha nuôi cậu là tín đồ Đấng Christ. Neesima học biết rằng Cứu Chúa mà cậu đọc truyện đó đã chịu chết vì cậu, đã chịu sự hình phạt mà cậu đáng phải chịu vì tội lỗi mình. Cậu đáp lời Đấng Christ mời đến cùng Ngài bởi đức tin và cậu tìm được sự bình an trong lòng mà mình đã suốt đời mong ước. Cậu cảm tạ Đức Chúa Trời và hứa nguyện một ngày kia, sẽ đem Tin Lành về xứ sở.
Neesima học hành chăm chỉ, giỏi giang; cậu đi trường đại học Amherst, rồi trường thần đạo để dự bị làm Mục sư. Đương khi ấy nhiều cuộc biến cải xảy ra tại Nhật.
Năm 1867, một Nhật Hoàng đảo lộn chính sách và quyết định “nhập cảng” lề lối tân thời của Âu Mỹ. Vua gởi một phái đoàn sang Mỹ và khi vấn đề ngôn ngữ bất đồng nêu lên, thì Neesima được cử làm thông ngôn.
Suốt mấy tháng Neesima cùng đi với phái đoàn khắp nước Mỹ và nhiều nước Âu Châu. Nhân viên phái đoàn nhận thấy khả năng của ông, bèn mời ông về giúp một tay kiến thiết nước Nhật. Khi họ sắp sửa về nước, thì phát ngôn nhân của phái đoàn nói rằng:
-Neesima, chúng tôi ước ao ông vui lòng phụng sự tổ quốc mà nhận chức cố vấn giáo dục của chính phủ Nhật.
Ông đáp:
-Nhưng tôi là một kẻ bị xã hội ruồng bỏ.
-Hết rồi, Nhật Hoàng đã ân xá ông.
Đây là một giờ phút trọng đại cho Neesima. Bây giờ ông được tự do trở về tổ quốc và sum họp với gia đình. Ông nói:
-Tôi xin cảm tạ các ông. Thật là một vinh dự lớn cho tôi. Tôi sẽ trở về Nhật, nhưng không phải để làm chính trị gia mà để làm đại sứ của Đức Chúa Jesus Christ.
Neesima tin rằng nước Nhật rất cần một trường đại học Tin Lành. Sau đó, ông trình bày dự án này với ban trị sự một hội truyền giáo. Họ bèn mời ông thuyết trình vấn đề ấy tại một đại hội đồng truyền giáo.
Ông để nhiều thì giờ soạn bài thuyết trình nhưng đến khi xúc động, ông đã quên hết. Ông bèn nói đến bao nhiêu triệu người Nhật đang thờ tà thần, nhưng có thể tiếp nhận Tin Lành nếu có chỗ huấn luyện các giáo sĩ bổn quốc. Hội chúng chịu cảm động sâu xa, và mọi người đứng dậy quyên dâng, tổng cộng được 5.000 Mỹ kim.
Với sự giúp đỡ này và lời hứa thêm nữa, Neesima có thể bắt tay mở trường đại học. ông xây trường tại Kyoto, là trung tâm của thần đạo (quốc giáo nước Nhật) và nguyên
là thủ đô nước Nhật. Sự chống đối và bắt bớ rất dữ dội, nhưng ông không bỏ dở công cuộc. Ông đặt tên trường là “Doshisha” nghĩa là: “Thân hữu vì một mục đích”.
Trường đại học Doshisha trở thành nơi ẩn náu cho các thanh niên bị đuổi khỏi gia đình vì đã xưng nhận Đấng Christ. Có một nhóm thanh niên đã đi 500 dặm để vào nơi ẩn
náu này.
Suốt mười lăm năm, Neesima gây dựng công cuộc này. Hàng ngàn người trở lại tin theo Đấng Christ, kể cả thân phụ ông. Nhưng nhu cầu lớn lao quá, nên ông hiến thân, không giữ lại chút gì.
Neesima đã kiệt sức giữa công vụ, và năm 1890, ông qua đời mới 47 tuổi. Ông vốn chỉ là một cậu con trai giữ chuồng ngựa, nhưng Đức Chúa Trời đã nghe lời cầu nguyện của ông và ban phước cho ông hơn cả các vị đế vương quí tộc.
-James H. Jauncey-
496. SỰ MẦU NHIỆM CỦA ĐIỆN TÍN
Một kỳ quan của thời kỳ hiện tại chính là máy điện tín sáng chế chừng một trăm năm nay. Điều lạ lùng hơn hết là hai dụng cụ nhỏ bé dầu cách nhau hàng ngàn dặm, mà có thể tương ứng. Dầu ở giữa có biển gầm thét hoặc núi non cao ngất, cũng chẳng hề chi. Không gì có thể ngăn cản hai dụng cụ này tương ứng trong khi chúng tương hợp.
Trong cõi thiêng liêng cũng thật có như vậy. Nếu tín đồ tương hợp với Đức Chúa Trời và ý chỉ Ngài, thì không chi ngăn trở sự cầu nguyện được. Khi lòng người tương hợp với lòng Chúa thì không có hoạn nạn nào lớn lao quá, không có sự cám dỗ nào kịch liệt quá không có vấn đề nào khó khăn quá đến nỗi lời cầu nguyện không bay thẳng đến Đức Chúa Trời được.
Tác giả thơ Hê-bơ-rơ nói rằng: “Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng (4:16).
497. NHỮNG NỖI KHÓ KHĂN
(ta phải thắng)
David Livingstone, vị giáo sĩ đã phó dâng đời sống để mở mang “lục địa đen” (Phi Châu) và để chữa lành “vết thương lở loét” của thế giới đó, đã kêu lên rằng: “Khó khăn! Khó khăn là gì? Chỉ là cái mà ta phải thắng!”
Charles Spurgeon tuyên bố rằng: “Nhiều người nhờ những nỗi khó khăn kinh khủng mà đống được cuộc đời vĩ đại. Vậy, tại sao chúng ta, là tín đồ Đấng Christ, lại để nỗi khó khăn kia đập tan mình? Hãy để nó đào tạo mình.
Một nhà báo nói rằng: “Có người làm lụng rất khó nhọc và lo để dành tiền hầu cho con cái họ khỏi phải đương đầu với những nỗi khó khăn đã tạo cho chúng nên người”.
Tấn sĩ Mayer nói rằng: “Nếu chúng ta chưa thử làm việc bất năng, thì không thể thử nghiệm các phương tiện vô biên của Đức Chúa Trời”.
Tấn sĩ J.H. Jowett nói: “Tôi rất thích tấm bia trên mộ người đàn bà ở miền New England, có đề mấy chữ: “Bà đã làm những việc mình không thể làm”.
498. BỐN CÂY
(Cây nào dễ nhổ)
Ngày kia, một giáo sư già đi chơi qua khu rừng, bên cạnh có cậu học trò cùng đi. Thình lình ông dừng chân, chỉ vào bốn cây gần đó. Cây thứ nhất mới ló lên khỏi mặt đất; cây
thứ hai đã đâm rễ khá sâu dưới đất; thứ ba là một cây nhỏ; và thứ tư là mộ cây đúng mức rồi. Thầy bảo trò:
-Hãy nhổ cây thứ nhất.
Chỉ dùng hai ngón tay, cậu cũng đã nhổ được dễ dàng.
-Bây giờ hãy nhổ cây thứ hai.
Cậu vâng theo, nhưng chẳng dễ như lần trước.
-Bây giờ tới cây thứ ba.
Cậu phải dùng hết sức lực của cả hai cánh tay, mới nhổ nó được.
-Bây giờ hãy cố gắng nhổ cây thứ tư.
Kia! Hai cánh tay cậu ôm lấy thân cây, cố sức lay, nhưng lá nó cũng chẳng rung rinh. Giáo sư bèn nghiêm trang dạy học trò rằng:
Con ơi, về các thói quen của chúng ta cũng vậy. Khi chúng còn non nớt, thì ta trừ bỏ dễ dàng; nhưng khi chúng già dặn rồi, thì chỉ có quyền phép của Đức Chúa Trời mới nhổ bật rễ chúng lên được.
499. CON MẮT CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
(thấy khắp mọi nơi)
Một hôm, nhà thiên văn Mitchell đang ngồi trước chiếc viễn vọng kính khổng lồ để quan sát những hiện tượng trong mặt trời. Vì ông nhắm về phía mặt trời mới mọc lên khỏi chân trời nên tầm ống kính đi qua một chiếc đồi cách đó hơn mười cây số. Trên đỉnh đồi cách đó không xa có trồng rất nhiều cây mận, và tại một cây có hai cậu bé đang ăn trộm mận. Một cậu thì đang leo lên cây, còn một cậu đứng bên dưới dớn dác nhìn trước nhìn sau để xem có ai nom thấy không. Rồi cậu bên dưới cười ra hiệu cho cậu trên cây biết không có ai trông thấy cả. Thế là cậu trên cây bứt mận nhét đầy hai túi quần. Cả hai cậu bé đều đinh ninh là không ai thấy hành vi vụng trộm của mình, nhưng chúng có ngờ đâu cách đó mười cây số, qua ống kính viễn vọng, nhà bác học Mitchell đang trông thấy chúng rõ từng cử chỉ một, dường như ông đang đứng dưới gốc cây với chúng vậy.
Các bạn yêu dấu, có khi nào các bạn làm một diều gì mà các bạn tưởng rằng không ai thấy chăng. Có lẽ việc các bạn làm điều đó cha mẹ không biết, thầy giáo không hay, Mục sư không rõ, nhưng, các bạn ơi, Kinh Thánh chép rằng: “Con mắt Đức Giê-hô-va ở khắp mọi nơi”. Chính Đức Chúa Trời phán rằng: “Mắt Ta chăm chỉ mọi đường lối chúng nó, không giấu khỏi trước mặt Ta được, tội lỗi chúng nó không khuất khỏi mặt Ta đâu” (Giê-rê-mi 16:17).
500. NGƯỜI MÙ VÀ CÂY ĐÈN LỒNG
Trong (Sa Thạch Văn Tuyển) Tác phẩm thế kỷ thứ XII của Nhật.
Có chép một câu chuyện đại khái như sau:
Một người mù đến thăm người bạn ban đêm, khi về người bạn tặng một cây đèn đồng để đi về.
Người mù nói: Tôi đâu cần đến đèn, vì đối với tôi đêm cũng như ngày, ngày cũng như đêm. Người bạn đáp: “Biết vậy, nhưng nếu bác không mang đèn theo người ta có thể đụng vào bác. Thôi cầm đèn mà đi có hơn không”. Người mù nghe nói phải - Cầm đèn ra về, nhưng mới đi được một khoảng thì đụng mạnh phải một người bộ hành.
Người mù làm ra vẻ ta đây, la lớn, Ê, đi đâu mà hấp tấp vậy, bộ không thấy đèn sao?
Người bộ hành cười và đáp: Đèn tắt từ bao giờ rồi ông ơi!