KHẢI HUYỀN
1. LỜI NÓI ĐẦU (Kh 1:1-8)
Như lời nói đầu của Phúc Âm Giăng đã được sử dụng như một phần dạo đầu cho sách, giới thiệu những chủ đề chính và đặt độc giả ở một vị trí mà có thể giúp họ hiểu được câu chuyện về Chúa Giê-xu, thì lời nói đầu của sách Khải Huyền cũng phục vụ cho một mục đích tương tự. Nó cũng trình bày các chủ đề chính và cung cấp một lợi điểm để người đọc có thể diễn giải cách đúng đắn khải tượng tiếp theo sau.
Sự mặc thị có thể liên quan đến một hành động được tiết lộ hay một sự vật không được che đậy vì thế ở đây sự mặc thị của Đức Chúa Giê-xu Christ có lẽ biểu thị quá trình Chúa bày tỏ những vấn đề của lịch sử, hay nó thể hiện chân lý được bày tỏ. Ý niệm thứ hai cần được ghi nhớ trước tiên, nhưng không loại trừ ý niệm đầu. Sự khải thị được Đức Chúa Trời ban cho Chúa Giê-xu, cũng như trong sách Phúc Âm, Đức Chúa Con chỉ nói những gì đến từ Đức Chúa Cha mà thôi (Gi 3:34 8:26). Việc sẽ có một thiên sứ làm trung gian là điều phù hợp với những khải tượng về các nhà tiên tri và các nhà viết sách khải thị (đối chiếu Exe 8:1-19 Da 10:21). Lời công bố Chúa Cứu Thế, Đức Chúa Trời và thiên sứ là nguồn gốc của sự khải thị đã mang lại một uy quyền phi thường cho công tác giáo huấn của sách. Tư tưởng này còn được nhấn mạnh hơn nữa trong câu 2: sách Khải Huyền là lời chứng của Giăng về lời Đức Chúa Trời và chứng cớ của Đức Chúa Giê-xu Christ, tức là sứ điệp đến từ Đức Chúa Trời và lời chứng đến từ Chúa Cứu Thế.
Lời chúc phước của câu 3 là lời chúc phước đầu tiên trong số bảy lời chúc phước có trong sách này (Kh 14:13 16:15 19:9 20:6 22:7,14). Nó công bố “phước hạnh” của người đọc sách Khải Huyền này cho hội chúng, và của những người vừa nghe vừa tiếp nhận sứ điệp ấy vào lòng. (Từ phước trong tiếng Hi Bá Lai có ngụ ý là “Ồ, phước hạnh!”)
Sách Khải Huyền được gởi cho bảy Hội Thánh ở xứ A-si (c.4). Về bản chất, sách là một bức thư được nhấn mạnh bằng lời cầu xin ơn phước được ban xuống cho các Hội Thánh (c.4-5). Đây là một lời cầu nguyện xin ân điển và sự bình an mà điều đầu là phước hạnh đặc trưng của kỷ nguyên mới và điều sau là phước hạnh thuộc về giao ước cũ cả hai điều này hợp thành sự cứu rỗi của vương quốc Đức Chúa Trời. Như phần lớn các yếu tố khác trong sách Khải Huyền, phước hạnh thuộc về Ba Ngôi Đức Chúa Trời, tuy có một bối cảnh phức tạp. Yếu tố đầu tiên của nó phản ảnh danh của Đức Chúa Trời mà đã được khải thị cho Môi-se (Xu 3:14), nhưng đó là cách lý giải của người Do Thái đương thời. Trong Phu 32:29 của bộ kinh Jerusalem Targum, vế câu “Ta là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu” đã được phát triển thành “Ta là Đấng Hiện Có, Đã Có và Sẽ Mãi Tồn Tại” vì thế điều này cho thấy Đức Chúa Trời là Chúa của mọi thời đại. Bản văn của chúng ta đã bổ sung cho điều đó một cách ý nghĩa: Đức Chúa Trời không chỉ là Chúa của mọi thời đại, nhưng chính bởi bản tính của Ngài mà Ngài sẽ còn đến để hoàn tất mục đích của Ngài. Đó là điều Ngài đang làm, và sẽ làm thông qua Chúa Giê-xu (lời ám chỉ về sự tái lâm của Chúa vào ngày tận thế là rất rõ ràng). Trong văn cảnh này, bảy vị thần ở trước ngôi Ngài chắc chắn chỉ về Đức Thánh Linh điều này gợi chúng ta nhớ lại Xa 4:6,10 (đối chiếu Kh 5:6), và Đức Thánh Linh là vị Thần của bảy Hội Thánh, và cũng là của Hội Thánh nói chúng (đối chiếu 2:7 v.v...). Phần mô tả Chúa Giê-xu trong câu 5 đặc biệt phù hợp với các tín hữu mà sách này đã được gởi đến trước hết. Chúa Giê-xu là Đấng làm chứng quan trọng nhất cho Đức Chúa Trời, và Ngài đã chịu chết để làm thành lời chứng của mình (đối chiếu Mac 14:62-63 ITi 6:13, và lưu ý từ ngữ Hi văn chỉ về “nhân chứng” thì trong tiếng Anh trở thành từ có nghĩa là “người tử vì đạo”) sanh đầu nhất từ trong kẻ chết ngụ ý rằng bởi sự sống lại của Ngài, Chúa Giê-xu đã nhận lấy ngôi vị đầu tiên trong vương quốc của Đức Chúa Trời (sanh đầu nhất = người thừa kế) và đã mở rộng sự sống lại đó cho toàn thể nhân loại làm Chúa của các vua trong thế gian chỉ về địa vị tối cao của Ngài trên các nhà cầm quyền thù địch của thế gian này, mà sự chống đối của họ sẽ không thể ngăn cản được chiến thắng của vương quốc Ngài.
Bài ngợi khen trong hai câu 5-6 phản ánh một chủ đề căn bản của sách Khải Huyền, ấy là khái niệm về sự cứu chuộc như lần thứ hai xuất ra khỏi Ai Cập. Việc xuất Ai Cập lần thứ nhất đã giải phóng dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi ách nô lệ tại Ai Cập để họ có thể trở thành dân giao ước của Đức Chúa Trời tại núi Si-na-i và là một dân tộc tự do của Đức Chúa Trời tại đất hứa. Hy vọng của họ được tóm tắt trong niềm tin rằng những công việc của “Đấng Cứu Chuộc thứ nhất” (Môi-se) sẽ được lặp lại bởi “Đấng Cứu Chuộc thứ hai” (Đấng Mết-si-a). Đức Chúa Trời đã biến niềm hi vọng này thành hiện thực qua Chúa Giê-xu bởi sự chết và sống lại của Ngài, và sẽ hoàn tất nó qua sự tái lâm của Ngài trong tương lai. Đấng Cứu chuộc yêu thương chúng ta – đến đời đời, rửa sạch (giải phóng) tội lỗi chúng ta - một lần đủ cả, và làm cho chúng ta nên một nước và nên những thầy tế lễ, tức là làm vua và thầy tế lễ để phục vụ Đức Chúa Trời, và vì thế làm cho lời kêu gọi dân Y-sơ-ra-ên tại núi Si-na-i được ứng nghiệm (Xu 19:6 Kh 5:10 22:5). Chúa Giê-xu đã thờ phượng, yêu mến, tin cậy và vâng lời Đức Chúa Trời là Cha Ngài, và tất cả các Cơ Đốc nhân cũng phải như thế. Tuy nhiên, một điều đáng chú ý là trong sách Khải Huyền không bao giờ Đức Chúa Trời được đề cập là Cha của kẻ tin: mối quan hệ “Cha” chỉ dành riêng cho Chúa Giê-xu, điều này nhấn mạnh mối liên hệ vô song của Ngài với Đức Chúa Trời.
Câu 7 thường được gọi là phương châm của sách Khải Huyền. Dòng đầu tiên của câu này lặp lại (Da 7:13), và phần còn lại được trích từ Xa 12:10 trong Mat 24:30 cũng tồn tại một mối liên hệ tương tự như thế (nhưng không có trong Mac 14:62). Phân đoạn trong Xa-cha-ri đặc biệt đề cập về “các chi phái” của Y-sơ-ra-ên đang thương khóc (“Đất này sẽ thương khóc, mỗi họ riêng phần mình”), và về nỗi sầu thảm cay đắng của họ như đang thương khóc cho con đầu lòng vậy, và kết quả của những sự việc này là sẽ có một dòng suối tuôn đổ ra, xóa hết mọi điều tội lỗi và ô uế (Xa 12:10-13:1). Sự kiện “hết thảy các dân” (hết thảy các chi họ) trong thế gian đều sẽ than khóc vì Ngài là điều tự nhiên, vì tất cả đều có liên quan đến sự chết của Chúa Cứu Thế vì cớ tội lỗi của mình. Vấn đề được đặt ra là không rõ sự thương khóc của toàn thể nhân loại vì đã phạm tội chống nghịch Chúa Cứu Thế mang ý nghĩa của một sự ăn năn được Đức Chúa Trời chấp nhận, hay đó chỉ là một sự hối hận muộn màng. Kh 15:3-4 gợi ý cách lý giải đầu tiên là hợp lý.
Lời tuyên bố Đức Chúa Trời là An-pha và Ô-mê-ga (c.8) là một cách diễn đạt bằng hình tượng nhằm khẳng định Đức Chúa Trời là Đấng tể trị của mọi thời đại. An-pha là mẫu tự đầu tiên của bảng chữ cái trong Hi văn, Ô-mê-ga là mẫu tự cuối cùng tương tự như cách nói là từ A đến Z vậy. Trong ngôn ngữ của mình, người Do Thái thường có thói quen dùng lối nói tương ứng. Thí dụ, các Ra-bi nói rằng A-đam đã phạm luật pháp “từ A đến Z”, trong khi Áp-ra-ham thì giữ luật pháp “từ A đến Z”. Điều này gợi ý rằng Ta là An-pha và Ô-mê-ga có nghĩa là “Ta là khởi đầu và là kết thúc của lịch sử và là Chúa của mọi sự ở giữa khoảng ấy”. Điều này được ngụ ý trong “cách dịch” của dòng kế tiếp (trong bản dịch Việt văn là dòng đầu): Chúa là Đức Chúa Trời… là Đấng Toàn Năng nắm quyền tể trị cả thế gian từ ban đầu cho đến tận thế, ngay cả khi các thế lực của thế gian này chống lại ý muốn của Ngài, và Ngài định sẽ còn đến để hoàn tất mục đích tốt đẹp của Ngài dành cho nó. (Lối so sánh “từ A đến Z” tương tự được áp dụng cho Chúa Giê-xu trong 22:13).
2. VIỆC GIĂNG ĐƯỢC KÊU GỌI NÓI TIÊN TRI (Kh 1:9-20)
Khải tượng này nhắc chúng ta nhớ lại kinh nghiệm của các nhà tiên tri trong Cựu Ước lúc họ được kêu gọi để nói tiên tri. Tuy nhiên, không rõ có phải đây là điều báo hiệu bước khởi đầu trong chức vụ nói tiên tri của Giăng? Ông đã bị đày ra đảo Bát-mô vì đã giảng về lời của Đức Chúa Trời và chứng của Đức Chúa Giê-xu! Đúng hơn thì khải tượng này là cơ hội ông được kêu gọi để đón nhận và viết ra sách Khải Huyền. Cách ông tự mô tả mình là anh em và bạn của các anh em về hoạn nạn, về nước, về sự nhịn nhục trong Đức Chúa Giê-xu (c.9) rất có ý nghĩa đây là số phận của hầu hết các Cơ Đốc nhân ở thế kỷ thứ nhất S.C. (đối chiếu Gi 16:33), và Giăng biết trước rằng về sau này sự đau khổ và chịu đựng sẽ còn gia tăng hơn nữa (đối chiếu các chương 11-13). Hoạn nạn và vinh hiển là một phần trong kiểu mẫu của Đấng Mết-si-a (Lu 24:26), do đó ở trong Chúa Giê-xu có nghĩa là kinh nghiệm cả hai điều ấy trong hiện tại, với hy vọng sẽ được chia sẻ sự vinh hiển của Nước Trời trong tương lai.
Giăng đã được Đức Thánh Linh cảm hoá vào ngày của Chúa (c.10), tức là ông đang ở trong trạng thái xuất thể, không phải là được đưa đi để nhìn xem các biến cố về “ngày của Chúa”, nhưng là nhận được một khải tượng về “ngày thuộc về Chúa” (như trong cụm từ “Tiệc thánh của Chúa” ICo 11:20). Cách nói “Ngày của Chúa” có lẽ là bắt chước theo cách nói của Sebaste, tức là “ngày của Sê-sa”, cũng là một cách mô phỏng theo hành động của Ptolemy Euergetes của Ai Cập, người đã đặt tên cho ngày 25 hằng tháng là “ngày của vua” nhằm tôn vinh ngày đăng quang của mình vào ngày thứ 25 tháng Dios. Người ta cho rằng ở một số vùng thì ngày của Sê-sa đã được tuân giữ mỗi tuần. Rõ ràng là có một Cơ Đốc nhân vô danh nào đó đã tuyên bố tên gọi “Ngày của Chúa - Chúa Nhật” để kỷ niệm ngày mà Chúa Giê-xu, Đấng đã được chính Đức Chúa Trời lập làm Chúa của thế gian này, sống lại từ kẻ chết để cùng ngự trên ngai với Đức Chúa Trời.
Danh sách bảy Hội Thánh (c.11) được sắp theo thứ tự xuất hiện của chúng trên đường dẫn từ Ê-phê-sô đi về hướng Bắc ngang qua Si-miệc-nơ đến Bẹt-găm và sau đó đi về hướng Nam ngang qua Thi-a-ti-rơ, Sạt-đe, Phi-la-đen-phi, Lao-đi-xê. C. Hemer cho rằng con đường này đã có từ thời Phao-lô và ông cũng đồng ý với Sir William Ramsay rằng bảy thành phố này đã có “tầm quan trọng đặc biệt với tư cách là những trung tâm tổ chức và phân phối cho Hội Thánh trong vùng” (Các Bức thư gởi cho Bảy Hội Thánh thuộc vùng Tiểu Á, JSNT Supp., 11 - 1986, trang 15). Các thành phố này là những trung tâm về bưu chính lẫn về hành chính. Người ta cho là vào thời Giăng viết bức thư này, thì đây là khu vực có số Cơ Đốc nhân tập trung đông nhất trên thế giới. Khi gởi thư cho các Hội Thánh này, chẳng những Giăng có thể mang ảnh hưởng đến với những người khác tại vùng Tiểu Á, mà cả với những người đã tản lạc khắp thế giới nữa.
Hình ảnh về bảy chân đèn bằng vàng (c.13) gợi nhớ về chân đèn có bảy nhánh trong đền thờ Giê-ru-sa-lem (Xu 25:31 Xa 4:2), nhưng ở đây chỉ có một dân của Đức Chúa Trời đại diện cho bảy chân đèn và chính giữa chân đèn đó là Chúa đã phục sinh. Như vậy, mỗi hội chúng đều đại diện cho cả Hội Thánh, và mỗi hội chúng đều nhận biết mối thông công với Đấng Cứu Chuộc.
Phần mô tả về Chúa phục sinh trong các câu 13-16 khiến người ta nhớ phần mô tả về “Đấng Thượng Cổ” trong Da 7:9 và vị thiên sứ đầy quyền năng trong 10:5-6. Điều này nhằm cho thấy rằng Chúa vốn có sự vinh hiển của thiên đàng và Ngài giống như Đức Chúa Trời. Nhóm từ có ai giống như con người trực tiếp nhắc lại 7:13 (hơn là đến các sách Phúc Âm), ở đây có chép Ngài là Đấng được ban cho nước của thế gian này, là Đấng đại diện cho cả Đức Chúa Trời và dân sự Ngài. Hình ảnh Ngài mặc áo dài đến chân có thể chỉ về vai trò làm thầy tế lễ của Ngài (thầy tế lễ thượng phẩm của dân Y-sơ-ra-ên vốn mặc một chiếc áo dài như thế, Xu 28:4) nhưng vì những người thuộc đẳng cấp thượng lưu cũng có thể mặc loại áo này, nên điểm này không thể gán ép được. Đầu và tóc người trắng như lông chiên là một hình ảnh gợi nhớ có chủ ý về Da 7:9, ở đây Đức Chúa Trời đã được mô tả như thế. Việc gán cho Chúa Cứu Thế những thuộc tính của Đức Chúa Trời là một hiện tượng thường gặp trong Khải Huyền. Mắt như ngọn lửa (đối chiếu 10:6) xuyên thấu những nơi sâu thẳm của tấm lòng, và là điều phù hợp với Đấng phán xét thế gian. Tiếng như tiếng nước lớn trong Exe 43:2 mô tả giọng nói đáng kinh sợ của Đức Chúa Trời. Miệng thò ra thanh gươm nhọn hai lưỡi một lần nữa ám chỉ vai trò của Chúa là Đấng phán xét của nhân loại. Chính một Chúa như thế đang cầm bảy ngôi sao – nghĩa là các Hội Thánh – trong tay hữu của Ngài Ngài không những có quyền để phán xét kẻ ác, mà còn có quyền để nâng đỡ những người thuộc về Ngài (đối chiếu c.20).
Phản ứng của Giăng khi thấy khải tượng về Chúa tôn quý cũng tương tự như phản ứng của tất cả những người có được những từng trải dường ấy (đối chiếu Es 6:5 Exe 1:28 Da 7:28). Ta là Đấng trước hết và là Đấng sau cùng. Ta là Đấng Sống là một lời giải nghĩa chính thức cho danh hiệu “An-pha và Ô-mê-ga” trong câu 8 (cũng đối chiếu với Es 44:6 48:12), nhưng điều này thích ứng với Chúa Cứu Thế căn cứ vào sự chết và sự phục sinh của Ngài. Đấng Trước hết và là Đấng Sau cùng đã nhập thể, chịu chết và đã sống lại, và với cương vị là Đấng Sống, Ngài có quyền trên sự chết và vương quốc của sự chết (Âm phủ), và vì thế Ngài đã mở những cánh cửa của vương quốc vĩnh hằng cho toàn thể nhân loại.
Người ta thường nghĩ rằng lệnh truyền hãy chép lấy những sự ngươi đã thấy, những việc nay hiện có và những việc sau sẽ đến (c.19) cho biết cách phân đoạn của sách Khải Huyền. Theo cách hiểu này thì những sự ngươi đã thấy là khải tượng vừa mới được ban cho, những việc nay hiện có nói về các bức thư gởi cho các Hội Thánh trong hai chương 2 – 3, những việc sau sẽ đến bao gồm các khải tượng của các chương 4 – 22 . Sự phân chia này có thể đúng, nhưng lại không áp dụng được cho chương 4-5, mô tả về các biến cố xảy ra trong hiện tại, quá khứ và tương lai (như chương 12 cũng vậy). Tốt nhất chúng ta nên xem câu 19 như một lệnh truyền phải viết toàn bộ sách Khải Huyền hơn là chỉ như một lời phân tích cho chính sách này.
Việc lý giải bảy ngôi sao như các thiên sứ của bảy Hội Thánh đã gặp phải một số khó khăn. Nếu hiểu các thiên sứ theo nghĩa đen thường làm nảy sinh câu hỏi tại sao Giăng lại được truyền phải viết thư cho các thiên sứ. Dù ở trường hợp nào đi nữa, các bức thư này cũng được viết nhằm gởi đến cho chính các Hội Thánh và từng thành viên của các Hội Thánh ấy. Thế thì phải chăng “các thiên sứ” là những người lãnh đạo của Hội Thánh, như các vị giám mục hay các sứ giả (“thiên sứ” có nghĩa là “sứ giả” dù là ở trên thiên đàng hay dưới đất này)? Sự việc có thể là như thế, nhưng trong văn chương khải thị thì có phần ngoại lệ vì các thiên sứ thường tượng trưng cho con người, và một lần nữa, các bức thư này nhắm đến các Hội Thánh, chứ không phải những người lãnh đạo Hội Thánh. Quan điểm hợp lý nhất là hiểu các thiên sứ của các Hội Thánh là chính các Hội Thánh trong mối liên hệ với Chúa tôn quý của họ. Tuy họ sống trên đất này, nhưng sự hiện hữu của họ được quyết định bởi sự kiện họ ở trong Chúa Giê-xu (c.9), và như thế, họ đều làm thầy tế lễ và vua với Chúa Cứu Thế. Bản chất thiên sứ của Hội Thánh nhắc nhở các Cơ Đốc nhân phải ý thức về sự kêu gọi của thiên đàng ngay khi họ còn sống ở thế gian này. Chủ đích của bảy bức thư chính là giúp các Cơ Đốc nhân thực hiện được điều đó.
3. CÁC BỨC THƯ GỞI CHO BẢY HỘI THÁNH (Kh 2:1-3:22)
Các bức thư này đều vắn tắt và có nội dung rất tập trung. Chúng nhắc chúng ta nhớ những lời sấm tiên tri ngắn của Kinh Thánh Cựu Ước, mà cụ thể hơn cả là những lời tiên tri trong A-mốt 1-2, cũng có con số bảy. Các bức thư gởi cho các Hội Thánh đều có bố cục gần như giống nhau. Chúng bắt đầu với phần mô tả về Chúa Cứu Thế, được rút ra từ khải tượng trình bày ở đầu thư, trích dẫn những yếu tố đặc biệt liên quan đến Hội Thánh nhận thư kế đến là phần khen ngợi những điểm đáng khen của Hội Thánh và sau đó là phê phán các lỗi lầm của Hội Thánh ấy. Các bức thư kết thúc bằng một lời hứa phần thưởng sẽ được ban khi Chúa Cứu Thế tái lâm, thường là có liên hệ với những đặc trưng trong khải tượng về thành của Đức Chúa Trời ở phần cuối sách.
1. Thư gởi cho Hội Thánh tại Ê-phê-sô(Kh 2:1-7)
Ê-phê-sô là một trong những thành phố lớn của thế giới cổ đại và cũng là thành phố lớn nhất tại vùng Tiểu Á. Thành phố này rất tự hào về tên gọi “Người Canh Giữ Đền Thờ” mà ban đầu nó được dùng để chỉ đền thờ Artemis (Đi-anh) nhưng về sau còn bao gồm cả hai đền thờ dành riêng để thờ phượng các hoàng đế La Mã. Đền thờ Artemis là một địa điểm trú ẩn nổi tiếng dành cho những kẻ tị nạn, nhưng “sự cứu rỗi” thường được tán tụng của nó đã bị lạm dụng quá nhiều, và khu vực lân cận đã dành cho những kẻ phạm pháp một nơi trú ẩn ngoài vòng pháp luật và trở thành sào huyệt của các tổ chức tội phạm. Việc dân chúng sùng mộ pháp thuật và sự mê tín được minh hoạ trong Cong 19:13-20. Phao-lô đã thành lập Hội Thánh tại Ê-phê-sô và phát triển nó thành trung tâm truyền bá Phúc Âm cho toàn vùng (19:1-10). Theo lời truyền khẩu sau này thì sứ đồ Giăng và bà Ma-ri, mẹ của Chúa Giê-xu đã định cư tại đó. 1 Lời chào thăm mở đầu được trích từ Kh 1:13,20 Chúa cầm bảy ngôi sao trong tay hữu. Điều này cho thấy rằng Ngài gìn giữ sự sống thuộc linh của các Hội Thánh Ngài đi chính giữa bảy chân đèn vàng, vì thế Ngài vẫn hiện diện với tất cả các Hội Thánh. Nhưng quyền năng nâng đỡ Hội Thánh còn có khả năng truất phế mang tính trừng phạt vì thế danh hiệu này khiến người nghe phải chờ đợi câu 5.
2-3 Cụm từ Ta biết công việc ngươi thường được đặt ở phần đầu của các bức thư, có lúc truyền đạt một sự khích lệ (2:9,13), nhưng cũng có khi nó khiến cho người ta hổ thẹn (3:1,15). Ở đây cụm từ này mở đầu một lời khen ngợi. Các công việc của người Ê-phê-sô là sự khó nhọc và nhịn nhục điều đầu cho thấy nỗ lực của Hội Thánh trong việc đánh bại các giáo sư giả, còn điều sau bày tỏ sự chịu đựng của Hội Thánh khi phải đối diện sự chống đối, dù từ phía các tiên tri giả hay từ các thế lực khác. Những kẻ ác là những kẻ tự xưng là sứ đồ mà không phải là sứ đồ. Có lẽ đây là những người mà ở câu 6 gọi là đảng Ni-cô-la. Sự gian ác của họ không liên quan nhiều đến giáo lý của họ cho bằng những sự gian ác về luân lý mà giáo lý này đã làm nảy sinh. (Về đảng Ni-cô-la, xin xem ở 2:14-15).
4-5 Thất bại của người Ê-phê-sô chính là họ đã không còn giữ được ưu điểm chính của mình: Ngươi đã bỏ lòng kính mến ban đầu. Lời kêu gọi ăn năn và làm lại những công việc ngươi đã làm ban đầu cho thấy rằng thất bại của các Cơ Đốc nhân này chủ yếu không phải là đánh mất lòng yêu mến của họ đối với Đức Chúa Trời mà là đánh mất lòng yêu thương đối với con người. Từ chỗ ghét việc làm của những kẻ đi sai lạc (c.6) dến chỗ ghét những kẻ đi sai lạc, Cơ Đốc nhân đã sao nhãng tình yêu cứu chuộc của Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu Thế (đối chiếu Gi 3:16) và sai lệch trong đức tin. Do đó mà có lời cảnh cáo nghiêm khắc trong câu 5: Ta sẽ đến cùng ngươi ngụ ý về một sự phán xét sắp đến, ngay cả việc có một ngày Chúa sẽ trở lại thế gian này để quét sạch mọi điều gian ác trong thế gian. Việc cất chân đèn ra khỏi chỗ nó có thể không có nghĩa nào khác ngoài việc Chúa Cứu Thế sẽ không còn thừa nhận Hội Thánh là Hội Thánh của Ngài nữa. Nó sẽ trở thành một nơi không có sự hiện diện của Chúa Cứu Thế như đền thờ Giê-ru-sa-lem không có sự hiện diện của Đức Chúa Trời trước khi nó bị phá huỷ vậy (đối chiếu Exe 11:22-23 Mat 23:38). Vì thế, trong một Hội Thánh Cơ Đốc tội thiếu yêu thương là vô cùng nghiêm trọng.
7 Lệnh truyền Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội Thánh xuất hiện ở lời hứa dành cho những người chiến thắng trong cả bảy bức thư. Không chắc là Đức Thánh Linh chỉ phán về lời hứa Ngài thường phán dạy qua các bức thư. Dường như Chúa phục sinh thường trò chuyện với Hội Thánh qua Đức Thánh Linh. Điều này hoàn toàn phù hợp với lời dạy của Chúa Giê-xu trong các bài giảng ở phòng cao trong Tin lành Giăng đoạn 14-16 (đặc biệt Gi 16:12-15). Người tín hữu sở dĩ thắng là nhờ Chúa Cứu Thế đã chinh phục mọi thế lực của điều ác người ấy được cùng chia sẻ chiến thắng với Chúa mình (Kh 12:11 Gi 12:31-32 16:33). Người nào thắng sẽ được ban cho quyền ăn trái cây sự sống ở trong Ba-ra-đi của Đức Chúa Trời. Ba-ra-đi (paradise) là một từ mượn của tiếng Ba-tư, đặc biệt chỉ về một khu vườn có tường bao xung quanh . Từ ngữ này đã được dùng trong bản Bảy mươi để dịch từ “vườn” (Ê-đen). Trong văn chương Do Thái, cả “Vườn Ê-đen” và “Ba-ra-đi” đều được dùng để chỉ nơi ở của người công chính trong đời sau. Vì thế, các giáo sư Do Thái giáo đã nói về Ba-ra-đi của A-đam (địa đàng), Ba-ra-đi của những người được phước ở thiên đàng, và Ba-ra-đi của những người công chính trong vương quốc hầu đến của Đức Chúa Trời. Có lẽ trong số các nghĩa trên, nghĩa sau cùng đã được ngụ ý trong lời hứa này. A-đam và Ê-va đã đánh mất quyền đến gần cây sự sống và bị đuổi ra khỏi vườn Ê-đen (Sa 3:22-23) nhưng có lời hứa rằng người tín hữu cùng chia sẻ chiến thắng với Chúa sẽ được phục hồi cả hai phước hạnh ấy (Kh 22:2). Từ ngữ thường được dùng để chỉ về thập tự giá của Chúa Giê-xu trong Kinh Thánh Tân Ước là “cây gỗ” (nhất là từ môi miệng Phi-e-rơ, (Cong 5:30 10:39 IPhi 2:24). Đền thờ Artemis vốn được xây cất lên từ một miếu thờ cây cối, và cây thường tượng trưng cho Ê-phê-sô hoặc vị nữ thần của thành ấy. Các tín hữu Ê-phê-sô đã từng cho rằng cây của thần Artemis là nơi ngự của sự sống thiên thượng và là trung gian giữa sự sống ấy với bản chất của con người, nhưng giờ đây họ đã biết được rằng sự sống vĩnh hằng trên thiên đàng của Đức Chúa Trời đã thuộc về họ qua cây thập tự của Đấng đã chịu chết và sống lại.
2. Thư gởi cho Hội Thánh tại Si-miệc-nơ (Kh 2:8-11)
Si-miệc-nơ là một thành phố cảng, và sự thịnh vượng của thành phố này nhờ vào vị trí của nó đã được vững lập từ trước thời đại của Cơ Đốc giáo và vẫn tiếp tục (với tên gọi Izmir) cho đến tận ngày nay. Thành phố đầu tiên được xây dựng trên khu vực này đã bị phá huỷ vào năm 600 T.C., sau đó được người kế vị của A-lịch-sơn Đại Đế tái thiết. Hình ảnh chim phụng hoàng, loài chim truyền thuyết cất cánh bay lên từ đống tro tàn đổ nát của thành, đã được áp dụng cho Si-miệc-nơ. Đây không phải là trường hợp duy nhất một Hội Thánh phản ánh tình hình lịch sử của thành phố nơi mà Hội Thánh đó được thành lập. Vì chủ đề nổi bật của bức thư ngắn gọn này là sự chịu khổ vì sự bắt bớ bách hại, nên ngay trong câu mở đầu là lời của chính Chúa: Này là lời phán của Đấng trước hết và Đấng sau cùng, Đấng chết rồi mà đã sống lại. Hội Thánh được nhắc nhở rằng Chúa của họ là Đấng đã thắng hơn sự chết và Ngài đã chiến thắng vì lợi ích của họ. Người ta kể rằng một trong số những Cơ Đốc nhân được nhiều người biết đến nhất trong Hội Thánh đầu tiên có thể đã có mặt trong vòng hội chúng khi bức thư này được đọc lên. Và người này là Polycarp, về sau trở thành Giám mục của Si-miệc-nơ và đã tuận đạo vào khoảng năm 160 S.C. Trong phiên tòa xử án mình, ông được lệnh phải nguyền rủa Chúa Cứu Thế, nhưng ông khẳng định rõ rằng ông đã từng phục vụ Chúa trong suốt tám mươi sáu năm và ông chỉ luôn nhận được điều tốt lành từ nơi Ngài, làm thế nào ông có thể chối bỏ vua mình?
9 Sự khốn khó nghèo khổ của các Cơ Đốc nhân tại Si-miệc-nơ có lẽ bắt nguồn từ những cuộc bắt bớ bách hại mà họ đã gánh chịu trước đó (về vấn đề này, xem He 10:32-34 và đối chiếu với những điều trình bày về người Lao-đi-xê trong Kh 3:17). Lời gièm pha của những người Do Thái tại Si-miệc-nơ tiêu biểu cho sự cay đắng của người Do Thái đối với các Cơ Đốc nhân trong thành phố này, và cũng được nhiều tác giả Cơ Đốc khác đề cập đến. Những người Do Thái này hẳn đã lợi dụng cơ hội này để tuyên truyền chống đối Cơ Đốc nhân. Sau này Hội Thánh Si-miệc-nơ đã trưng dẫn những luận điệu của người Do Thái cho rằng Polycarp đã chống lại quốc giáo họ nói về ông như “người thầy của vùng Á châu, cha của các Cơ Đốc nhân, kẻ phá đổ các thần của chúng ta, người đã khuyên dỗ nhiều người không dâng của lễ và cũng đừng thờ lạy”. Những người Do Thái như thế không còn xứng đáng với tên gọi “Do Thái” nữa, mà đã trở thành một hội quỉ Sa-tan (đối chiếu Dan 16:3 mà bản Bảy mươi ghi lại là “hội chúng của Đức Giê-hô-va”). Tên gọi Sa-tan có nghĩa là kẻ tố cáo, gièm pha nhóm người Do Thái này đã có bản tính gần giống như vậy. Lẽ tự nhiên, điều này không nói lên quan điểm của Giăng về người Do Thái vì bản thân ông cũng là một người Do Thái! Nó chỉ phản ánh hố sâu của sự bội đạo mà hội chúng này đã sa vào.
10 Bởi những công cụ của mình, ma quỉ sẽ tống một vài Cơ Đốc nhân tại Si-miệc-nơ vào ngục, và sự bắt bớ bách hại này sẽ kéo dài mười ngày. Nhà tù không phải là nơi để hình phạt, mà là nơi để chờ sự phán quyết, có thể là lao động khổ sai trong các mỏ muối, hay bị lưu đày, hoặc tử hình. Sự bắt bớ chỉ xảy ra ngắn ngủi, nhưng nó cũng có thể khiến cho một vài người phải trả giá bằng mạng sống. Nếu điều ấy xảy ra, thì họ chắc chắn vẫn nhận được mão triều thiên của sự sống, tức là vòng nguyệt quế dành cho người chiến thắng trong những cuộc thi đấu, nghĩa ở đây là được ban cho sự sống trong vương quốc của Đức Chúa Trời.
11 Lời an ủi dành cho người chiến thắng là người ấy sẽ chẳng bị hại gì về lần chết thứ hai. Đó là một cách diễn đạt của người Do Thái, làm nổi bật sự khác nhau giữa sự chết mà mọi người đều phải trải qua với số phận của những người đã bị định là sẽ không bao giờ thoát được khỏi quyền lực của sự chết, có thể vì họ không xứng đáng để được sống lại hoặc bởi vì họ phải chịu sự phán xét vào ngày tận thế (trong Kh 21:8, điều này có nghĩa là bị ném vào hồ lửa). Một số phận như vậy sẽ phải chết hai lần. Người Si-miệc-nơ được nhắc nhở rằng chết vì cơn giận của loài người là việc rất nhỏ so với việc phải chịu sự phán xét của Đức Chúa Trời.
3. Thư gởi cho Hội Thánh tại Bẹt-găm (Kh 2:12-17)
Trong suốt nhiều năm giữa các thành phố Ê-phê-sô, Si-miệc-nơ và Bẹt-găm vẫn tồn tại sự cạnh tranh về vấn đề thành phố nào đứng đầu trong tỉnh A-si. Có một điều mà không ai có thể chối cãi được: Bẹt-găm là trung tâm sinh hoạt tôn giáo của cả vùng. Thành phố này có một ngọn đồi khổng lồ, cao 1.000 bộ (330 mét) trên mực nước biển và có rất nhiều đền thờ. Nổi tiếng nhất là đền thờ Aschepios, vị thần chữa bệnh, thường gắn liền với hình ảnh con rắn, điều này đã đem lại cho Bẹt-găm tiếng tăm giống như thành phố Lourdes ngày nay. Ngoài ra còn có một bàn thờ Zeus bề thế, được lập nên để kỷ niệm một chiến thắng lừng lẫy. Tuy nhiên, quan trọng hơn cả là Bẹt-găm có ngôi đền thờ đầu tiên trong vùng dành cho Augustus và La Mã, vì thế nó đã trở thành trung tâm thờ phượng của vị hoàng đế trong cả vùng. Vì đây là một sự hội nhập về lãnh vực chính trị cũng như về tôn giáo nên nó đã gây ra nhiều vấn đề đặc biệt cho các Cơ Đốc nhân. Những danh xưng Chúa, Cứu Chúa và Đức Chúa Trời thường xuyên được áp dụng cho hoàng đế, nên các Cơ Đốc nhân không thể làm gì khác hơn là chống đối vì họ chỉ dùng các danh ấy cho Chúa Giê-xu mà thôi.
12 Danh xưng này nhắc lại 1:16 và dự báo 2:16. 13 Chúa biết Bẹt-găm đang là ngôi của quỉ Sa-tan. Rất có điều này liên quan đến chiếc bàn thờ Zeus với hình dáng giống một chiếc ngai, nó chính là biểu tượng của sự thờ lạy thần tượng đang lan tràn tại Bẹt-găm. Thế nhưng, những Cơ Đốc nhân này vẫn trung thành với danh Giê-xu, là Chúa và Cứu Chúa duy nhất, và là Đức Chúa Trời nhập thể. Rõ ràng là có một cuộc bắt bớ bách hại đã diễn ra, khi có một người trong số họ đã bị giết, đó là An-ti-ba, kẻ làm chứng trung thành của ta. Đây có thể là cơ hội làm chứng cách có ý thức (Hi văn là “tử đạo”) đầu tiên của một người đã phó mạng sống mình để làm chứng cho Chúa Cứu Thế.
14 Nhưng Hội Thánh trong thành phố này có một số người theo đạo Ba-la-am liên kết với những kẻ theo đạo Ni-cô-la. Ngay từ thời kỳ đầu tiên, những kẻ theo đạo Ni-cô-la được cho là những người đi theo Ni-cô-la người An-ti-ốt, một trong bảy chấp sự được bổ nhiệm để giúp đỡ cho các sứ đồ tại Giê-ru-sa-lem (Cong 6:5). Người ta cho rằng cả hai tên gọi này có ý nghĩa tương tự nhau. Ni-cô-la có nghĩa là “kẻ đánh bại dân chúng”, còn Ba-la-am là “kẻ làm tiêu hao dân chúng”. Điều đáng sợ chính là tội quyến dụ người ta ăn thịt cúng thần tượng và làm điều dâm loạn. Sau khi Ba-la-am nói tiên tri chúc phước thay vì nguyền rủa dân Y-sơ-ra-ên (Dan 22:1-24:25), dân Y-sơ-ra-ên lại phạm tội tà dâm với các phụ nữ Mô-áp và ăn của cúng cũng như thờ lạy các thần của họ (25:1-2). 31:16 nêu rõ rằng các phụ nữ Mô-áp đã hành động theo chỉ dẫn của Ba-la-am. Tại Bẹt-găm cũng như những nơi khác, các giáo sư đã xâm nhập vào các Hội Thánh và cố tìm cách quyến dụ tín đồ có những hành động phóng túng bằng cách viện vào lẽ thật đã được thừa nhận, đó là Cơ Đốc nhân không thuộc dưới luật pháp Môi-se. Rõ ràng ý niệm về một xã hội phóng túng không có gì mới mẻ cả! Những điều xấu xa gian ác của nó cũng vậy.
16 Chúa kêu gọi hãy ăn năn (tức là từ bỏ tội lỗi đó), nếu không Ngài sẽ đến mau kíp và trừng phạt những kẻ dạy dỗ và hành động như thế (đối chiếu Kh 2:5). 17 Lời hứa dành cho người chiến thắng gồm hai phần. Ta sẽ ban cho ma-na đương giấu kín. Điều này phù hợp với cách hiểu sự cứu chuộc như một cuộc xuất khỏi Ai Cập lần thứ hai. Vì thế người Do Thái nói rằng: “Vì Đấng Cứu Chuộc thứ nhất đem bánh ma-na xuống, thì Đấng Cứu Chuộc thứ hai cũng sẽ đem bánh ma-na xuống”. Lẽ dĩ nhiên là với Cơ Đốc nhân, lời hứa đó mang ý nghĩa thuộc linh, gần giống như “nước của sự sống” vậy (đối chiếu 22:17). Cụm từ hòn sỏi trắng ở đây có phần phức tạp về nghĩa, vì trong xã hội cổ đại nó có nhiều ý nghĩa và cách dùng khác nhau. Một cá nhân bị đưa ra xét xử trước toà sẽ được hội đồng xét xử đưa cho một hòn sỏi, hòn sỏi đen là dấu chỉ người ấy có tội, còn hòn sỏi trắng có nghĩa là người ấy được trắng án. Nếu đây là điều được ngụ ý thì lời hứa này có liên quan đến lời hứa đã được ban cho người Si-miệc-nơ (2:11). Có một phong tục đã từng tồn tại, đó là khi hai người muốn kết bạn với nhau, họ sẽ đập một hòn sỏi bể làm đôi rồi mỗi người nhận một nửa, bởi đó người này có thể đến nhà của người kia. Ngoài ra người ta còn dùng hòn sỏi như bằng chứng được nhận vào dự tiệc khi nó được áp dụng cho một hiệp hội thường xuyên tổ chức yến tiệc thì nó có thể trở nên rất đắt đỏ hay rất hạn chế – giống như một câu lạc bộ dành cho giới chuyên nghiệp ngày nay. Có một số bằng chứng cho thấy rằng người chiến thắng trong những cuộc tranh tài sẽ được tặng một hòn sỏi làm phần thưởng và được trợ cấp từ công quỹ. Khi diễn giải các khả năng để hiểu nhóm từ này, người ta cho rằng điều này còn tùy thuộc phần lớn vào việc tên mới trên hòn sỏi đó là của ai. Nếu đó là tên của Cơ Đốc nhân ấy, thì lời hứa này chỉ về việc bước vào mối quan hệ riêng biệt trong sự sống mới của vương quốc Đức Chúa Trời. Nếu đó là tên của Đức Chúa Trời (đối chiếu 3:12) hay của Chúa Cứu Thế (đối chiếu 19:12b), thì điều này thể hiện một mối liên hệ mới mẻ và kín giấu với Chúa, có lẽ ngụ ý về uy quyền vốn gắn liền với danh Đức Chúa Trời. Cơ Đốc nhân này sẽ được dự phần vào quyền năng của Chúa và đặc tính của Đức Chúa Trời một cách đặc biệt mà không người nào khác có thể hưởng được.
4. Thư gởi Hội Thánh Thi-a-ti-rơ (Kh 2:18-29)
Thi-a-ti-rơ là thành phố của những người làm nghề thủ công và buôn bán. Chúng ta còn nhớ người ăn năn quy đạo đầu tiên ở xứ Ma-xê-đoan là bà Ly-đi người Thi-a-ti-rơ, một người buôn hàng sắc tía (Cong 16:14). Vấn đề chủ yếu mà Hội Thánh này gặp phải là do thành phố này có rất nhiều nghiệp đoàn. Đây là điều bất thường, vì chính quyền La Mã thường ngăn trở những việc như thế nhưng có lẽ vì Thi-a-ti-rơ có ích cho người La Mã trong việc tiếp tế cho đồn quân của họ đóng gần Bẹt-găm, nên họ đã làm ngơ cho các các nghiệp đoàn này. Tuy nhiên, các Cơ Đốc nhân thì không thể làm như vậy. Các nghiệp đoàn có một ông tổ vị thần hộ mệnh của Thi-a-ti-rơ, là một đại diện của thần Apollo, có lẽ đã phục vụ cho mục đích này. Các buổi tiệc của những nghiệp đoàn này được tổ chức trong một đền thờ, và được xem như những cơ hội mang tính tôn giáo thịt được dâng lên cho vị thần hộ mệnh, nên những người tham dự sẽ được chung dự với vị thần này, và những cơ hội như thế thường kết thúc trong sự trụy lạc. Làm sao các Cơ Đốc nhân có thể tham gia những buổi hội họp như thế? Người nữ Giê-sa-bên ấy đã trả lời cho câu hỏi này (c.20).
Câu 18 lặp lại ý trong Kh 1:14b,15a. Mắt như ngọn lửa nhìn thấy tất cả. Đồng sáng là một hợp kim thông dụng và được sản xuất tại Thi-a-ti-rơ, mặc dù có điều hơi lạ là thuật ngữ chuyên môn đã được dùng ở đây để chỉ hợp kim này lại không thấy xuất hiện ở chỗ nào khác trong văn chương Hi Lạp. Trong phần mở đầu này, người đọc có thể liên tưởng đến mối liên hệ giữa hợp kim này với vị thần trong vùng đại diện cho Apollo, và với việc tìm thấy những đồng tiền trên đó có chạm hình vị thần này đang nắm lấy tay của vị hoàng đế. Trong phần này, Con Đức Chúa Trời được mô tả là mặc một bộ áo giáp sáng loáng giống như thứ kim loại đã được tinh luyện từ những lò luyện kim trong thành phố vậy! Các công việc được đề cập trong câu 19 rất có ý nghĩa, giúp ích không nhỏ cho chúng ta trong việc hiểu rõ điều gì được Đức Chúa Trời chấp nhận, và lý giải sự phán xét dựa trên việc làm trong 20:12-14. Đây là một Hội Thánh đang tăng trưởng trong việc phục vụ Chúa Cứu Thế (công việc sau rốt ngươi còn nhiều hơn công việc ban đầu nữa).
20 Nhưng Hội Thánh đã dung túng cho một nữ tiên tri thực thi một chức vụ nguy hiểm giữa vòng họ. Giê-sa-bên rõ ràng là một tên gọi tượng trưng, gợi nhớ về vị hoàng hậu của vua A-háp, người đã đưa việc thờ thần tượng vào xứ Y-sơ-ra-ên và đe dọa sự tồn tại liên tục của đạo thật (IVua 16:29-32 IIVua 9:22). Một số chuyên gia đã đưa ra một biến thể lạ ở câu 20 và viết là Giê-sa-bên vợ ngươi điều này không hẳn đúng nhưng nó phản ánh một niềm tin rằng nữ tiên tri này hẳn phải là vợ của vị “thiên sứ” của Hội Thánh, tức là vị giám mục của Hội Thánh đó. Giê-sa-bên hẳn là một người có phẩm chức trong đảng Ni-cô-la và bà ta đã khuyên dỗ các thành viên của Hội Thánh để họ sẵn sàng tham dự vào các buổi hội họp của các nghiệp đoàn và từ đó tự do lao mình vào việc phạm tà dâm và ăn thịt cúng thần tượng. Đây là điểm điển hình cho thái độ “bất chấp luân lý đạo đức” của những người theo trí huệ phái tự do.
21 Giê-sa-bên được cảnh cáo phải chấm dứt ngay những ảnh hưởng tai hại của mình, nhưng không có tác dụng. Do đó, bà ta và những kẻ đồng lõa với bà sẽ phải bị trừng phạt. Ngôn từ trong câu 22-23 rõ ràng được dùng theo nghĩa bóng, đưa ra một sự trừng phạt xứng hợp với tội ác. Kẻ nào phạm tội tà dâm với nó cũng giống như các con cái nó – toàn bộ nhóm người theo bà đều sẽ bị tiêu diệt, và mọi Hội Thánh sẽ rõ được điều họ đã biết trong lý thuyết, rằng Chúa dò biết lòng dạ loài người và sẽ báo trả tuỳ theo việc đã làm.
24 Cái được gọi là điều sâu hiểm của quỉ Sa-tan có lẽ là cách nói mỉa mai về những lời tuyên bố của các môn đồ Trí huệ phái, rằng chỉ có họ mới biết những điều sâu nhiệm của Đức Chúa Trời đáp lại lời rêu rao như thế, Chúa đã phán “những điều sâu hiểm” của họ vốn do Sa-tan cảm thúc, chứ không phải đến từ Đức Chúa Trời. Hoặc cũng có thể là những kẻ theo đảng Ni-cô-la đã dạy rằng Cơ Đốc nhân chớ ngần ngại học hỏi “những điều sâu nhiệm của Sa-tan” , nhưng thà chứng tỏ khả năng của họ trong việc thắng hơn tội lỗi của xác thịt, vì dù sao thì những tội lỗi này cũng không thể ảnh hưởng được phần tâm linh bên trong. Dù với cách lý giải nào đi nữa thì những khái niệm như thế cũng không thể được thừa nhận. Ta không gán cho các ngươi gánh nặng khác ám chỉ hai yêu cầu chủ yếu của giáo hội nghị do các sứ đồ chủ trì (Cong 15:28), đó là kiêng ăn của cúng thần tượng, và chớ tà dâm. Lời kêu gọi hãy bền lòng trong câu 25 sẽ xuất hiện lại trong Kh 3:11, nhưng với phần bổ sung đầy ý nghĩa.
26-27 Kẻ thắng được mô tả như là một người giữ các việc của ta đến cuối cùng. Người như thế sẽ được Chúa Cứu Thế uỷ quyền để cai trị các dân và cùng dự phần vào chiến thắng của Ngài trên các dân tộc phản loạn. Các động từ trong câu 27, cai trị và phá tan song đối với nhau, và động từ nào cũng có thể được xem là có ảnh hưởng đến ý nghĩa của động từ còn lại. Trong khi người ta chú trọng nhiều đến động từ sau (tức là tiêu diệt), thì có lẽ động từ trước mới phù hợp với văn cảnh hơn: các Cơ Đốc nhân tại Thi-a-ti-rơ, ý thức được sự bất năng của họ, đã được hứa ban cho quyền năng để thắng hơn các kẻ thù của họ (xin lưu ý từ ngữ được dịch ra là “cai trị” ở đây theo nghĩa đen là “chăn chiên”, ban đầu nó ám chỉ đến công dụng của cây gậy của người chăn chiên, tức là liên hệ đến công dụng của cây vương trượng Thi 45:6, cũng như là của một dụng cụ để trừng phạt Es 10:24).
28 Ta sẽ cho kẻ ấy ngôi sao mai có lẽ nên được lý giải rằng ngôi sao mai ấy là Sao Kim (Venus), hơn là lý giải theo lời lẽ của Kh 22:16, rằng chính Chúa Cứu Thế là Ngôi Sao Mai sáng chói. Với người La Mã, ngôi sao là biểu tượng của chiến thắng và quyền cai trị các vị tướng La Mã đã xây dựng các đền thờ để tỏ lòng tôn kính Sao Kim, và các đạo quân của Sê-sa thường khắc hình ngôi sao ấy trên cờ hiệu của họ khi ra trận. Nếu đó là ngụ ý trong lời hứa để làm mạnh thêm cho lời tuyên bố trong hai câu 26-27, thì kẻ chiến thắng sẽ được đảm bảo đến hai lần việc sẽ được chung dự với Chúa Cứu Thế trong chiến thắng khải hoàn và cai trị với Ngài.
5. Bức thư gởi Hội Thánh tại Sạt-đe (Kh 3:1-6)
Sạt-đe là thành phố với một quá khứ huy hoàng mà dân thành rất lấy làm tự hào, nhưng đến thời của Giăng thì nó không còn nhiều điều để hãnh diện nữa. Là kinh đô của vương quốc Ly-đi cổ, thành này đạt đến đỉnh cao của sự thịnh vượng khoảng năm 700 T.C. dưới thời vua Gyges, mà người A-sy-ri biết đến với tên gọi là Gugu. Người Do Thái gọi vua này là Gót, và người ta xem ông như biểu tượng của các thế lực gian ác sẽ dấy lên vào thời kỳ cuối cùng. Ông ta đã bị giết trong một cuộc tấn công bất ngờ của người Xim-mô-ri. Thành này bị chìm vào quên lãng sau cuộc chinh phục của Ba-tư, nhưng đã phục hồi được phần nào thanh thế của mình nhờ sự trợ giúp của Ti-bê-ri-út, và đã được tái thiết sau trận động đất vào năm 17 S.C.. Hội Thánh tại Sạt-đe đã phản ánh lại lịch sử của thành phố này Hội Thánh này đã từng nổi danh về thành tựu thuộc linh của mình, nhưng giờ đây, nó chẳng còn có sự sống nữa (c.1). Hai yếu tố khác trong sinh hoạt của thành phố cũng được phản ảnh qua bức thư này. Thành phố Sạt-đe được xây trên một ngọn núi và có một chiến lũy được xem là bất khả chinh phục. “Chinh phục chiến lũy Sạt-đe” là câu tục ngữ mà người Hi Lạp dùng để chỉ những việc làm bất khả thi. Nhưng chiến lũy ấy đã bị chinh phục không dưới năm lần, hai lần là do thiếu cảnh giác. Điểm tương đồng với sự thiếu tỉnh thức của Hội Thánh và tình trạng tàn hại của nó thật đáng kinh ngạc (c.2-3). Sạt-đe cũng là một trung tâm về hàng len dạ và tự xưng là đứng đầu trong vệc kinh doanh hàng len dạ nhuộm, dường như đặc điểm này được phản ảnh trong hai câu 4-5.
1 Danh hiệu này đã được nói đến trong Kh 1:4,6. Chúa phục sinh sở hữu bảy vị thần Đức Chúa Trời căn cứ vào hình ảnh trong 1:4, có lẽ điều này trình bày việc Đức Thánh Linh được phái đến với bảy Hội Thánh. Chính Đức Thánh Linh đã cảm động người ta nói tiên tri và khiến kẻ chết sống lại do đó Hội Thánh này cần lắng nghe lời cảnh báo tiên tri và tìm cầu sự sống hồi sinh từ Đức Thánh Linh. Như trong 2:1, bảy ngôi sao tức là bảy Hội Thánh, đang ở trong tay Chúa Cứu Thế, vừa để giữ chặt vừa để phán xét. Ta không thấy công việc của ngươi là trọn vẹn trước mặt Đức Chúa Trời ta (c.2). Nhưng không có công việc nào được đề cập ở đây! Hội chúng tại Sạt-đe cần có các phẩm chất mà Hội Thánh tại Thi-a-ti-rơ đã có: tình yêu thương, đức tin, sự phục vụ và sự nhịn nhục. Nếu như họ đã từng có phẩm chất nào trong số đó, hay những phẩm chất tương tự, thì họ cũng chỉ thực hành chúng cách nửa vời mà thôi. Họ không thực hiện được điều gì đến đích. Do đó, Hội Thánh được kêu gọi hãy tỉnh thức (đối chiếu Eph 5:14), làm cho vững sự còn lại, tức là bất cứ điều gì còn lại trong Hội Thánh thuộc về Đức Chúa Trời, hãy nhớ lại những gì ngươi đã nhận, tức là Phúc Âm mà các sứ đồ đã truyền dạy và những giáo lý về đời sống Cơ Đốc. Hãy giữ lấy và ăn năn (c.3), tức là trở lại cùng Đức Chúa Trời như lúc mới quy đạo. Chúa phán: Bằng không, ta sẽ đến như kẻ trộm. Ẩn dụ về kẻ trộm được lặp lại một cách rõ ràng ở đây (Mat 24:43-44 đối chiếu ITe 5:2-4), cũng như sẽ được lặp lại trong Kh 16:15. Tuy nhiên, theo cách dùng ngôn từ trong các bức thư gởi cho Hội Thánh Ê-phê-sô và Bẹt-găm (2:5,6), dường như điều này muốn đề cập đến việc Chúa sẽ đến để phán xét trong hiện tại, chứ không phải khả năng Hội Thánh sẽ phải chịu sự phán xét vào lúc Chúa tái lâm trong đại quyền đại vinh.
4 Ở Sạt-đe ngươi còn có mấy người chưa làm ô uế áo xống mình là những người đã chống lại sự cám dỗ sống theo các tập tục ngoại giáo của những người láng giềng họ. Vì thế, họ sẽ mặc áo trắng mà đi cùng Chúa. 5 Lời hứa ấy cũng được ngỏ cho kẻ chiến thắng (đối chiếu 19:7-8). Sự thánh khiết luôn là một ân tứ của Chúa được vận hành trong đời sống người tín hữu, là sự sống của Đấng Cứu Chuộc được thể hiện qua kẻ được cứu chuộc. Xin cũng lưu ý việc mặc áo trắng có liên hệ đến sự vui mừng (như trong 19:7-8 cũng đối chiếu Tr 9:8), và chiến thắng. Có nhiều ý niệm phức tạp được gắn liền với hình ảnh này. Về ý niệm bị xóa tên khỏi quyển sách sự sống, xin xem Xu 32:32, nơi có ý tưởng về quyển sổ dân. Trong Da 12:1 Lu 10:20 Phi 4:3 và trong phân đoạn này, nó tượng trưng cho một quyển sổ ghi lại danh sách các công dân của vương quốc Đức Chúa Trời. Lời Chúa xưng nhận về người chiến thắng làm ôn lại Mat 10:32, “Ta cũng sẽ xưng họ trước mặt Cha ta”.
6. Thư gởi cho Hội Thánh tại Phi-la-đen-phi (Kh 3:7-13)
Cũng như thành phố Sạt-đe lân cận, Phi-la-đen-phi đã chịu những thiệt hại nghiêm trọng do các trận động đất gây nên, và tuy không bị ảnh hưởng nặng như Sạt-đe trong trận động đất thảm khốc năm 17 S.C., nhưng thành lại gặp phải nhiều trận động đất hơn. Về khía cạnh này của thành phố, Strabo đã viết “Các vách tường chẳng bao giờ thôi nứt nẻ và nhiều vùng khác nhau trong thành thường xuyên bị thiệt hại. Chính vì thế mà thành phố thực sự có rất ít cư dân, và đại đa số sinh sống bằng nghề nông ở thôn quê, vì họ có những vùng đất đai màu mỡ”. Tình trạng sống bất ổn tại Phi-la-đen-phi tương phản với lời hứa trong câu 12 về một nơi ở đời đời trong thành của Đức Chúa Trời, và những người sống trong đó sẽ không phải tìm kiếm một nơi an toàn hơn bên ngoài tường thành của nó! Cả bức thư nói về viễn cảnh chắc chắn và rõ ràng về cuộc sống trong vương quốc Đức Chúa Trời.
7 Chúa Phục sinh vốn thánh khiết và chân thật, giống như Đức Chúa Cha vậy (Kh 6:10), nên việc Ngài sẽ giữ lời của mình là điều đáng tin cậy. Ngài cầm chìa khóa của Đa-vít. Trong 1:18, với tư cách là Đấng đã phục sinh, Chúa Giê-xu có “chìa khoá của sự chết và âm phủ”, và vì thế Ngài có thể mở các cửa của sự chết để đưa người ta vào sự sống đời đời ở đây, cụm từ này gợi lại ý của Es 22:22, nó thể hiện thẩm quyền trên nhà Đa-vít và có nghĩa là uy quyền không thể chối bỏ của Đấng Mết-si-a đối với việc được nhận vào, hay bị loại khỏi vương quốc Đức Chúa Trời.
8-9 Biểu tượng cửa mở thường được lý giải căn cứ vào cách dùng của Phao-lô trong ICo 16:9 và IICo 2:12, ấy là cơ hội được mở ra cho việc truyền bá Phúc Am. Tuy nhiên, trong ngữ cảnh này hầu như rõ ràng là nó đề cập đến cánh cửa của vương quốc Đức Chúa Trời. Cũng như tại Si-miệc-nơ, người Do Thái trong thành phố này được gọi là hội quỉ Sa-tan hẳn không những họ đã chống lại các Cơ Đốc nhân mà còn đã quả quyết rằng các Cơ Đốc nhân này không có chỗ trong vương quốc Đức Chúa Trời, vì chỗ đó chỉ dành riêng cho người Do Thái mà thôi. Nhưng ngược lại, Chúa của vương quốc này đã dành sẵn điều đó cho những người theo Ngài, và đến ngày mà mọi việc được tỏ tường, Ngài sẽ khiến cho những người Do Thái bội đạo này phải làm điều mà họ trông mong người ngoại sẽ làm cho họ: họ sẽ sấp mình xuống trước mặt các Cơ Đốc nhân mà họ khinh miệt và thừa nhận rằng đây là những kẻ yêu dấu của Đấng Mết-si-a (Es 60:14).
10 Giờ thử thách là giờ sẽ đến trong khắp thế gian không nói về thời điểm đã định lúc những cơn phán xét của Đấng Mết-si-a sẽ giáng trên thế gian này, mà là chính những cơn thử thách ấy. Một cách dùng tương tự của từ giờ này được tìm thấy trong bài cầu nguyện của Chúa Giê-xu tại vườn Ghết-sê-ma-nê, ở đây nó tượng trưng cho những sự kinh khiếp của hình phạt đóng đinh vào thập tự giá và tất cả ý nghĩa của hình phạt ấy đối với Ngài (Mac 14:35 Gi 12:27). Hoạn nạn được dùng để thử nghiệm những người ở trên đất. Trong sách Khải Huyền, cụm từ này thường được sử dụng để chỉ về người không tin Chúa trong thế gian (Kh 6:10 8:13 11:10 13:8,14 17:8). Việc Hội Thánh được gìn giữ khỏi các tác hại của những lần phán xét này đã được trình bày bằng nhiều hình ảnh khác nhau về những lần phán xét của Đức Chúa Trời trong sách này (7:1-8 11:1 12:6) và trong Gi 17:15 cũng có một hình ảnh tương tự.
11 Một lưu ý về sự gấy rút đã được đề cập ở đây và sau này được nhắc lại trong Kh 22:7,12,20. 12 Kẻ chiến thắng sẽ được làm trụ trong đền Đức Chúa Trời ta. 21:22 cho biết rõ rằng trong thành của Đức Chúa Trời không có đền thờ nào khác hơn Đức Chúa Trời và Chiên Con. Lời hứa được trình bày ở đây là một sự bảo đảm về sự hiệp một với Đức Chúa Trời không gì phân rẽ được trong Nước hầu đến của Ngài. Ta lại sẽ lấy danh Đức Chúa Trời ta… mà viết lên trên người là phần tiếp tục lời ẩn dụ về cây trụ trong đền thờ, do đó việc ghi khắc ở đây phải được hiểu là được thực hiện trên cây trụ của đền, chứ không phải là trên trán của kẻ chiến thắng. 1 Ma-ca-bê 14:25-27 ghi lại cách người ta ghi khắc những chiến công của Si-môn Ma-ca-bê lên những tấm bảng bằng đồng, rồi đóng “vào một chỗ dễ nhìn thấy trong các hành lang của đền thờ”, để bảo đảm rằng những chiến công vĩ đại của ông sẽ được lưu truyền mãi mãi. Tuy nhiên, ở đây vinh quang của người chiến thắng không nằm ở việc làm của người ấy, nhưng nằm ở chỗ người ấy mang danh Đức Chúa Trời ta, là danh của thành Đức Chúa Trời, cùng danh mới của Chúa Cứu Thế, tức là người ấy thuộc về Đức Chúa Trời và Con Đức Chúa Trời trong sự vinh hiển của Ngài, và là một công dân của thành Giê-ru-sa-lem mới, vương quốc đời đời của Đức Chúa Trời (21:2).
7. Thư gởi Hội Thánh tại Lao-đi-xê (Kh 3:14-22)
Lao-đi-xê tọa lạc trên bờ sông Lycus. Nó nằm ngay tại giao lộ của ba con đường huyết mạch đi xuyên qua vùng Tiểu Á, điều này đã giúp cho thành phố này phát triển như là một trung tâm thương mại và hành chánh thịnh vượng. Ba sự kiện mà cả thế giới La Mã đều biết về thành phố này đã giúp cho việc giải thích bức thư này: thành này là một trung tâm ngân hàng, ngay cả Xi-xê-rô cũng đề nghị nên đến những ngân hàng tại đó để đổi tiền đây là nơi sản xuất ra y phục và thảm len dạ, đặc biệt là được làm từ bộ lông đen bóng của những chú cừu được nuôi tại địa phương và nó có một trường y dược và điều chế thuốc men, đặc biệt là một loại thuốc bôi mắt điều chế từ một loại đá trong vùng được nghiền thành bột. Cách mô tả nghiêm khắc về đời sống thuộc linh của Hội Thánh (c.17) và lời kêu gọi Hội Thánh ăn năn (c.18) đều được diễn đạt bằng những từ ngữ chỉ về ba hoạt động này của thành phố.
14 Là Đấng A-men, Chúa Giê-xu là hiện thân của sự thành tín và chân thật của Đức Chúa Trời (Es 65:16). Cách dùng từ “A-men” của Cơ đốc nhân bổ sung ý tưởng rằng Ngài cũng là Đấng bảo lãnh và thực thi các chủ đích của Đức Chúa Trời. Cách mệnh danh như thế tương phản thật sinh động với sự không trung tín của người Lao-đi-xê. Danh hiệu Đấng cai trị công cuộc sáng tạo của Đức Chúa Trời nên dịch là “Đấng làm đầu cội rễ cuộc sáng tạo của Đức Chúa Trời” (NEB) thì rõ hơn. Từ này cũng giống như từ “An-pha” ở trong danh hiệu “An-pha và Ô-mê-ga” vậy (Kh 1:8), và có lẽ ở đây nó được dùng với ý nhấn mạnh đến uy quyền và năng lực của Chúa trong việc thực hiện mục đích mà trong đó Ngài là Đấng bảo lãnh và là chứng nhân trung tín.
15-16 Có thể các từ lạnh, nóng, và hâm hẩm có liên hệ đến các suối nước ở chung quanh và trong thành phố Lao-đi-xê. Vùng Hi-ê-ra-bô-li ở cạnh đó vốn nổi tiếng về các suối nước nóng vùng Cô-lô-se nằm kế cận lại được biết đến nhờ có một suối nước mát lạnh và trong lành được dùng làm nước uống rất tuyệt hảo. Tuy nhiên, vì sông Lycus thường cạn khô vào mùa hè, nên người Lao-đi-xê phải dùng một một hệ thống ống dẫn dài để đưa nước vào thành phố, nhưng thứ nước này không những không lạnh, không tinh khiết, mà đôi lúc còn bị nhiễm độc khiến cho cư dân ở đây mang bệnh. Hội Thánh tại thành phố này cũng có ảnh hưởng tương tự cho Chúa Cứu Thế – đây là một bức tranh vừa sinh động vừa khủng khiếp về sự phán xét. (Chúng ta không nên hiểu câu 16 là Đức Chúa Trời ưa thích một kẻ vô thần hay một người cuồng tín hơn là một Cơ Đốc nhân nguội lạnh. Vấn đề là một người có sự sống thật trong Chúa Cứu Thế là do người ấy có đức tin nơi Chúa Cứu Thế, chứ phải do cách họ xưng nhận điều ấy).
17-18 Một câu đơn giản với hai mệnh đề tương phản (Ngươi nói… Ta khuyên ngươi…) đã làm cho người Lao-đi-xê thấy rõ sự mỉa mai về tình trạng của họ. Mặc dù giàu có, nhưng họ vẫn đang khổ sở và khốn khó, dù họ có nhiều thầy thuốc và thuốc chữa mắt thì họ vẫn đang đui mù, và dù họ có dư dật áo xống thì họ vẫn đang trần truồng. Cho nên Chúa kêu gọi họ hãy mua nơi Ngài những gì họ còn thiếu (đối chiếu ICo 2:6-16 IICo 4:1-6).
19 Tình trạng kinh tởm của người Lao-đi-xê đã không dập tắt được tình yêu của Chúa Cứu Thế dành cho họ những lời quở trách nghiêm khắc của Ngài là biểu hiện của tình yêu thương mong muốn đưa họ đến chỗ ăn năn (đối chiếu He 12:4-11). Lời mời gọi nhân từ sau đó được trình bày trong câu 20, không phải dành cho Hội Thánh nói chung, như thể Chúa Cứu Thế đang đứng ngoài Hội Thánh (vì như thế sẽ phải là “Nếu Hội Thánh nghe tiếng ta… thì ta sẽ vào cùng họ, ăn bữa tối với họ, và họ với ta”), mà là cho từng cá nhân trong Hội Thánh, nói lên sự mời gọi của Chúa phục sinh muốn được chia sẻ với bất cứ ai sẵn lòng mở rộng cánh cửa thông công, ngay cả trong những hoạt động bình thường nhất của đời sống.
21 Như một đặc ân cao cả dành cho những Cơ Đốc nhân không xứng đáng này, lời hứa này lớn lao hơn tất cả những lời hứa đã được công bố trước đây: ngay khi các tín hữu mời Chúa Cứu Thế ngự vào đời sống tạm thời này của họ, thì Chúa cũng mời những ai đã chịu khổ cho đến cuối cùng ngồi với Chúa trên ngai mà Cha đã ban cho Ngài trong thời kỳ hầu đến. Phần ứng nghiệm của lời hứa này được mô tả trong Kh 20:4-6, về sự cai trị “một ngàn năm” trong lịch sử, và 22:5, nói về sự cai trị đời đời trong công trình sáng thế mới.
4. MỘT KHẢI TƯỢNG VỀ THIÊN ĐÀNG (Kh 4:1-5:14)
Phần này có lẽ được xem như một bước ngoặt trong sách Khải Huyền. Nó giúp cho người đọc có sự hiểu biết đầy đủ hơn về Chúa Cứu Thế và sự cứu rỗi của Ngài mà đã chiếm vị trí chủ yếu trong các chương trước và về những sự đoán xét và Nước Trời là chủ đề cho các chương sau. Một chủ đề đơn giản đã nối kết khải tượng hai phần của hai chương 4 và 5 với nhau, đó là Đức Chúa Trời của sự sáng tạo cũng chính là Đức Chúa Trời của công cuộc cứu chuộc, là Đấng đã làm trọn mục đích của Ngài qua Chúa Cứu Thế chịu đóng đinh và đã phục sinh. Chương 4 ở đây giống như một trong các khải tượng về Đức Chúa Trời trong Cựu Ước (đối chiếu Es 6:1-13 Exe 1:1-22), trong đó Đức Chúa Trời được tôn cao về sự thánh khiết , vượt trỗi hơn những biến động của lịch sử và những nỗ lực của các thế lực gian ác muốn chống lại ý muốn của Ngài. Chương 5 tập trung vào Chúa Cứu Thế, Đấng đã chinh phục mọi thế lực gian ác, và bởi đó Ngài được quyền mở cuộn sách của Đức Chúa Trời ghi chép về vận mệnh và thực hiện những điều đã chép trong đó. Qua sự kết hợp của hai khải tượng này, chúng ta có thể biết được ý muốn của Đức Chúa Trời trong công trình sáng tạo một cách rõ ràng, là điều đã được ca ngợi trong bài thánh ca kết thúc chương 4, và đã được thực hiện trọn vẹn bởi Chiên Con là Đấng đã bị giết và đã được cất lên ngự trên ngôi của Đức Chúa Trời và như thế lịch sử sẽ kết thúc với sự kiện người sống và kẻ chết đều nhận biết và thờ phượng Đức Chúa Trời và Chiên Con.
1. Ngôi trên trời (Kh 4:1-11)
Quang cảnh trong khải tượng của Giăng thay đổi từ đất đến trời và cứ ở trong tình trạng này cho đến chương 10, và sau đó, các cảnh tượng mới thay đổi liên tục. Cần lưu ý rằng chỉ một mình nhà tiên tri, chứ không phải là Hội Thánh, đã được gọi hãy bước qua cái cửa, việc ông phải ngước đầu nhìn lên là nhằm mục đích mặc khải, bởi đó ông có thể truyền đạt lại những gì ông nhìn thấy cho những người đang sống trên đất.
2 Vật đầu tiên đập vào mắt Giăng là một ngôi đặt tại trên trời, trên ngôi có một Đấng đương ngồi đó. Điều quan trọng hơn cả mà chúng ta cần biết đó là Đức Chúa Trời, Đấng đang ngự trên trời nắm uy quyền tuyệt đối trên toàn cõi vũ trụ này. 3 Không có phần nào mô tả về Đức Chúa Trời Giăng chỉ kể về những màu sắc khác nhau chiếu ra từ những viên đá quý lấp lánh xuyên qua một đám mây cầu vồng kỳ lạ. Trong thế giới cổ xưa, tên gọi dành cho các loại đá quí không được rõ ràng cho lắm: bích ngọc có lẽ là một viên kim cương (đối chiếu Kh 21:11), mã não thì có màu đỏ, còn về lục bửu thạch thì chúng ta không biết chắc. Có thể nó chỉ về một loại pha lê của đá, thứ có tác dụng như một lăng kính, và nếu đúng như vậy, thì nó nhắc mọi người nhớ lại cái mống (cầu vồng) sau cơn nước lụt, nhắc lại lời giao ước của Đức Chúa Trời là sẽ kiềm chế cơn thịnh nộ của Ngài đối với loài người trên đất (Sa 9:13). Chiếc ngôi và cái mống, quyền vô sở bất năng và lòng thương xót, đều là những biểu tượng đầy ý nghĩa trong một quyển sách mà chủ đề bao quát của nó là sự phán xét và Nước Trời.
4 Hai mươi bốn trưởng lão nhắc người ta nhớ lại Es 24:23, trong đó “các trưởng lão” được xem là những lãnh tụ của dân Do Thái. Các trưởng lão này vẫn thường được diễn giải là những người đại diện của dân Y-sơ-ra-ên và của Hội Thánh (mười hai vị tộc trưởng và mười hai sứ đồ). Tuy nhiên, trong ISu 24:4 chúng ta thấy có hai mươi bốn trưởng tộc theo các ban thứ tế lễ, còn trong 25:1 thì có hai mươi bốn ban thứ người Lê-vi được bổ nhiệm để nói tiên tri và ca ngợi bằng hạc cầm (đờn sắt, đờn cầm) và chập chõa. Vì trong Kh 5:8 các trưởng lão dâng lên lời cầu nguyện của dân sự Đức Chúa Trời, còn trong 4:6-11 thì các trưởng lão này được kết hợp với bốn con sinh vật, nên rõ ràng họ phải được hiểu là các thiên sứ được tôn trọng, đang thờ phượng và hầu việc Đấng Tạo Hóa. 5 Những chớp nhoáng và những tiếng cùng sấm nhắc nhớ về vinh quang của sự hiện diện của Đức Chúa Trời tại núi Si-na-i (Xu 19:16) và mô tả những đặc tính đáng kinh sợ của Đức Chúa Trời. Về bảy vì thần của Đức Chúa Trời, (Kh 5:6). 6 biển trong ngần được nói đến ở đây không phải là biển theo nghĩa đen, nhưng chỉ là trông như biển mà thôi. Điều này thích hợp với quan niệm nước trên khoảng không (Sa 1:7), nhưng rõ ràng điều này được trình bày ở đây nhằm nhấn mạnh về tính vĩ đại của Đức Chúa Trời.
Có bốn con sinh vật đứng quanh ngôi. Phần mô tả này về chúng được rút ra từ khải tượng của Ê-xê-chi-ên về các chê-ru-bin (Exe 1:5-21), nhưng đã có những thay đổi đáng kể. Những khác biệt chủ yếu là trong sách Ê-xê-chi-ên, mỗi chê-ru-bin đều có bốn mặt, còn ở đây thì mỗi sinh vật chỉ có một mặt mà thôi. Các chê-ru-bin thì có những “bánh xe” và các vòng bánh xe “đầy những mắt” nâng ngôi của Đức Chúa Trời, nhưng ở đây các sinh vật chỉ có mắt. 7-8 Việc chúng không dứt dâng lên sự thờ phượng Đức Chúa Trời có lẽ tiêu biểu cho sự đầu phục của toàn bộ tạo vật đối với Đức Chúa Trời. Người Do Thái cũng hiểu khải tượng của Ê-xê-chi-ên theo cách này, họ xem con người là đại diện chính cho toàn thể loài người, chim phụng hoàng đại diện cho loài chim, sư tử cho các loại thú rừng, và bò đực cho các loài gia súc. Nếu như Giăng đã biết các biểu tượng mà người cổ đại đã dùng để chỉ về bốn hướng gió và bốn vì sao chính trong cung hoàng đạo, thì chắc hẳn bốn sinh vật trên có thể củng cố thêm cho quan điểm này. Bài ca của các chê-ru-bin hàm ý rằng chiến thắng khải hoàn trong tương lai của Đức Chúa Trời bắt nguồn từ chính bản thể của Ngài Chúa, là Đấng thánh khiết và toàn năng, đã sắp đến rồi. 9-10 Việc hai mươi bốn trưởng lão quăng mão triều thiên mình dường như là sự bày tỏ sự tôn kính được thể hiện vào những cơ hội đặc biệt lúc Đức Chúa Trời “đến” và bày tỏ quyền tể trị của Ngài để đoán xét và cứu rỗi (Kh 5:8,4 11:15-18 19:4). 11 Các trưởng lão thừa nhận ràng chỉ có một Đấng duy nhất xứng đáng chiếm địa vị tột cùng trong công trình sáng tạo, đó là Đấng Tạo Hoá. Trong bài ca họ tôn vinh giá trị của Ngài có câu và ấy là vì ý muốn Chúa mà muôn vật mới có và đã được dựng nên (chứ không phải là bởi). Điều này chứa đựng một cái nhìn tích cực, chứ không phải tiêu cực ý chỉ Đức Chúa Trời là quyền năng tối hậu trong vũ trụ, và ý chỉ đó sẽ được thực hiện. Đây là bài học quan trọng nhất về các khải tượng trong sách Khải Huyền.
2. Cuộn sách và Chiên Con (Kh 5:1-14)
Tiêu điểm của khải tượng này thay đổi thật đột ngột. Dường như ở trên trời có một may thu hình đang phóng to hình ảnh bàn tay Đức Chúa Trời đang đưa ra một cuộn sách mà chẳng ai có thể mở được. Sau đó chiếc máy thu hình lại tập trung vào nhân vật mà từ trước đến giờ vẫn chưa một ai nhìn thấy: vị ấy đang đứng giữa ngôi, và do “chiến thắng khải hoàn” của mình, Ngài có thể nhận lấy quyển sách và mở nó ra. Trong lúc Ngài làm như vậy, thì cả cõi trời vang lên tiếng ca ngợi tán tụng Ngài. Có lẽ chúng ta đang có ở đây hình ảnh tượng trưng cho lễ đăng quang của Chúa Giê-xu được tiến hành theo nghi lễ đăng quang thời cổ đại của vùng Trung Đông. Các bước của nghi lễ này được nhận định cách khái quát, đó là sự tôn vinh, trình diện, ngự ngôi và hoan hô cổ vũ. Phần mô tả tương đương về sự tôn vinh được tìm thấy ở câu 5, phần về sự trình diện ở câu 6, phần trao quyền ở câu 7 và phần hoan hô cổ vũ ở các câu 8-14. Thế là Chúa Cứu Thế và cũng là Đấng Cứu Chuộc bước vào thời trị vì đầy quyền năng của Ngài.
1 Người ta đã đưa ra rất nhiều suy đoán về bản chất của cuộn sách ở trong tay Đức Chúa Trời. Trong số các gợi ý được đề ra, có hai gợi ý đặc biệt đáng chú ý: một là đó là một văn bản giao kèo hai mặt, còn gợi ý kia thì đó là một bản di chúc hay chúc ngôn. Gợi ý trước đem chúng ta trở lại với thời thượng cổ, khi các bảng giao kèo (hợp đồng) được viết trên các bảng đất nung, được bao bọc chung quanh bằng đất sét, bên ngoài ghi vắn tắt bản chất của bảng giao kèo. Khi giấy chỉ thảo (giấy được chế tạo từ vỏ cây sậy) và giấy da ra đời, thì về cơ bản, người ta đã sử dụng cùng một phương thức như trên, và cuộn tài liệu được ấn chứng bằng bảy dấu ấn. Một phương thức có liên quan cũng đã xảy ra với việc viết tờ di chúc, đó là một di chúc được ấn chứng bởi bảy nhân chứng, và sau khi người viết di chúc ấy qua đời, tờ di chúc đó sẽ được mở ra trước hiện diện của những người này, khi có thể. Tuy không có nội dung gì được ghi ở phía ngoài, nhưng có thể hình ảnh ấy trong khải tượng của Giăng liên quan đến một sự bắt chước có ý thức Exe 2:8-10. Thật ra, hai khái niệm trên đây vốn liên hệ chặt chẽ với nhau. Tờ giao kèo là một hình thức thường nhật của một giao ước, còn một di chúc là một hình thức đặc biệt của giao ước. Với cách hiểu này, thì cuộn sách trong tay của Đức Chúa Trời đại diện giao ước của Ngài về lời hứa phán xét và ban Nước Ngài cho nhân loại.
2-3 Vị thiên sứ này chắc phải rất mạnh mẽ, vì tiếng nói của vị ấy vang dội khắp cõi trời, dưới đất và cả bên dưới đất nữa (bên dưới đất là Hades: âm phủ tham khảo Phil 2:10). 5 Sư tử của chi phái Giu-đa (đối chiếu Sa 49:9), Chồi của vua Đa-vít (Es 11:1,10) đã thắng bởi sự chết và phục sinh của Ngài và vì thế có thể mở quyển sách ấy và tháo bảy cái ấn ra. Sự cứu chuộc do Chúa Cứu Thế thực hiện là phương tiện bởi đó vương quốc cứu rỗi của Đức Chúa Trời được thiết lập. 6 Theo quan niệm Hi Bá Lai, phần mô tả Chiên Con thường kết hợp nhiều cách dùng khác nhau về hình ảnh này. Chiên Con (trông) như đã bị giết, thế nhưng lại đang đứng chính giữa ngôi, vẫn sống và chiến thắng! Trong sách Khải Huyền, việc xuất khỏi Ai Cập là bức tranh cơ bản về sự cứu chuộc Chiên Con đã bị giết chính là Chiên Con của lễ Vượt Qua. Chúng ta cũng được nhắc nhớ về chiên con bị giết của Es 53:7, là Đầy Tớ của Đức Giê-hô-va, tuy vô tội nhưng đã phải chịu khổ vì toàn thể nhân loại. Nhưng Chiên Con ở đây có bảy sừng, tượng trưng cho quyền năng lớn lao (Thi 75:4-7) và có vương vị (Xa 1:18). Điều này thể hiện hình dung của Đấng Mết-si-a trong văn chương khải huyền đương đại là vị lãnh tụ đầy năng quyền của bầy chiên của Đức Chúa Trời, Ngài giải cứu chiên, chế phục những thú dữ đang tìm cách tiêu diệt chiên. Trong 4:10, chính Đức Chúa Trời là Đấng có bảy mắt, tượng trưng cho quyền vô sở bất tri, còn ở đây chúng được đồng nhất với bảy vì thần của Đức Chúa Trời được sai xuống khắp thế gian, phù hợp với lời dạy trong Gi 16:7-11. Như thế, Đấng Mết-si-a của lời hứa trong Cựu Ước và của niềm hy vọng trong Khải Huyền đang hành động để làm ứng nghiệm giao ước mới.
8-10 Các chê-ru-bin và các trưởng lão hát một bài ca mới, vì Chúa Giê-xu đã mở ra một kỷ nguyên mới cho vương quốc Đức Chúa Trời qua công tác cứu chuộc của Ngài (đối chiếu Es 42:9-10, cũng đề cập đến một bài ca mới trong một văn cảnh tương tự). Chúa đã chuộc cho Đức Chúa Trời mọi người từ khắp các dân các nước. Hình ảnh này cho thấy con người đã được chuộc bằng một giá để được tự do. Vào thời cổ đại, thỉnh thoảng có một vài nô lệ được trả tự do nhờ có những người hào hiệp chịu bỏ ra một số tiền để trả cho chủ của các nô lệ ngày nay, các con tin bị bắt cóc cũng được giải thoát bằng cách tương tự. Tuy nhiên, mô hình được trình bày ở đây nói về việc dân Y-sơ-ra-ên làm nô lệ tại Ai Cập đã được giải phóng trở thành một dân tự do của Đức Chúa Trời trong đất hứa. Một cuộc giải phóng vĩ đại hơn, để con người được sống đời đời trong vương quốc của Đức Chúa Trời, đã được hoàn tất cho cả nhân loại bằng chính huyết của Đấng Cứu Chuộc. Do vậy, những người được cứu chuộc trở nên nước và thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời, điều này làm ứng nghiệm điều mà dân sự xưa kia của Đức Chúa Trời đã được kêu gọi (Xu 19:6). Công tác của họ là trị vì trên mặt đất (đối chiếu Kh 20:4-6 22:3).
11-14 Bây giờ vô số các thiên sứ cùng hát bài ca ngợi Chiên Con (đối chiếu Da 7:10). Bài ca tụng này có đề cập đến quyền năng và những phước hạnh của Chúa Cứu Thế lúc Ngài bắt đầu thời trị vì của mình (Kh 11:17) và nó cũng gần giống với bài ca dành cho Đức Chúa Trời trong 7:12. Sau cùng, tất cả tạo vật trên trời, dưới đất, biển và bên dưới đất đều cùng chung tiếng ca ngợi với đạo quân các thiên sứ và thiên sứ trưởng (c.13). Trong khi bài ca tụng của thiên đàng trong câu 8-12 chúc mừng việc Chiên Con mở ra vương quốc của sự cứu chuộc, thì việc toàn cõi vũ trụ thờ phượng Đức Chúa Trời và Chiên Con sẽ diễn ra khi công việc cứu chuộc này hoàn tất trong tương lai. Việc tương tự cũng được áp dụng cho bài thánh ca trong Phi 2:6-11: Chúa đã được ban cho danh trên hết mọi danh lúc Ngài được tôn ngự lên ngôi của Đức Chúa Trời việc chuẩn nhận điều này sẽ diễn ra lúc Ngài hiện ra trong vinh hiển.
5. BẢY CÁI ẤN (Kh 6:1-8:5)
Có nhiều yếu tố phức tạp đã được hoà quyện với nhau làm thành toàn cảnh mà nhà tiên tri sắp sửa mô tả. Niềm tin quyết rằng trước sự đến của Nước Trời sẽ có nhiều cuộc phán xét xảy ra vốn bắt nguồn từ lời truyền dạy của nhiều nhà tiên tri trong Cựu Ước về Ngày của Chúa (Es 13:1-22 34:1-17 Gie 4:1-7:34 Exe 7:1-27 25:1-17 Am 5:18-29 So 1:1-3:20). Giăng đã trau chuốt và trình bày khái quát chúng theo một kiểu duy nhất, nhưng việc chia các tai nạn mà Đấng Mết-si-a cho phép xảy ra thành nhiều đợt và mỗi đợt có bảy cuộc phán xét có lẽ được linh cảm từ lời tiên tri định mệnh trong Le 26:1-49, trong đó câu “Ta sẽ vì cớ tội lỗi… giáng tai vạ cho các ngươi gấp bảy lần” được nhấn mạnh đến bốn lần (c.18,21,24,28). Bài thuyết giảng về thời kỳ sau rốt trong các sách Phúc Âm (Mat 24:1-51 Mac 13:1-37 Lu 21:1-38) có nói về về bảy lần phán xét được kể ra trong Kh 6:1-16, nhưng hình thức của bốn lần phán xét đầu phản ảnh khải tượng về bốn cỗ xe ngựa trong sách Xa-cha-ri (đối chiếu Xa 1:7-17), được Giăng áp dụng để truyền đạt thông điệp của ông. Xin lưu ý là trong lúc việc tháo các ấn dẫn đến các cuộc phán xét, nhưng đây chỉ là những dấu hiệu báo trước về vương quốc đời đời của Đức Chúa Trời mà thôi. Cuộn sách đại diện cho giao ước Đức Chúa Trời ban Nước Cứu Rỗi của Ngài cho nhân loại.
1. Dấu ấn thứ nhất (Kh 6:1-2)
Lệnh truyền Hãy đến hướng về người cưỡi ngựa, là người xuất hiện ngay lúc ấn được mở ra (sự việc cũng tương tự như vậy trong c.3,5,7). Nhiều nhà giải kinh cho rằng người cỡi ngựa chiến thắng ở đây là Chúa Cứu Thế và kết hợp phân đoạn này với khải tượng Chúa trở lại được đề cập ở Kh 19:11-12. Tuy nhiên, yếu tố chung duy nhất trong hai bức tranh này là hình ảnh con ngựa bạch, một biểu tượng của chiến thắng. Những người khác chủ trương rằng người cưỡi ngựa đại diện cho chiến thắng khải hoàn của Phúc Âm, và trích dẫn Mac 13:10 (IITe 2:7 cũng được lý giải căn cứ theo điều này). Tuy nhiên, do sự giống nhau quá rõ ràng của bốn người cưỡi ngựa này, nên dường như lý giải rằng cả bốn kỵ sĩ này tượng trưng cho các cuộc phán xét thì tự nhiên hơn. Dường như người cỡi ngựa này báo hiệu cho một thế lực quân sự hùng mạnh mang tính áp đảo.
2. Dấu ấn thứ hai (Kh 6:3-4)
Người cỡi ngựa hồng cũng chỉ về một thế lực gây chiến. Nếu có ai thắc mắc kỵ sĩ này khác với kỵ sĩ thứ nhất như thế nào, thì ngôn ngữ ở đây gợi ý rằng người cỡi ngựa thứ nhất tiêu biểu cho một đạo quân đi xâm lăng các quốc gia khác còn kỵ sĩ thứ hai chỉ về một cơn xáo trộn chung do xung đột, bao gồm cả những cuộc tranh chiến giữa các quốc gia với nhau và thậm chí là nội chiến nữa (…hầu cho người ta giết lẫn nhau). Xin lưu ý việc chiến tranh được đề cập hai lần trong Mac 13:7-8 và ở những đoạn tương tự.
3. Dấu ấn thứ ba (Kh 6:5-6)
Người cỡi ngựa ô chỉ chỉ về nạn đói. Cái cân trong tay người gợi ý về sự khan hiếm thực phẩm, giá cả được đặt ra là giá “cắt cổ”. Bản NIV đã diễn giải chính xác từ ngữ đơ-ni-ê là “tiền công một ngày lao động” (đối chiếu Mat 20:1-2). Tuy nhiên, một đấu lúa mì chỉ đủ cho khẩu phần mỗi ngày của một người nam, và chẳng còn lại gì cho gia đình của người ấy cả. Ba đấu mạch nha có lẽ đỡ hơn, nhưng vẫn chẳng còn dư lại gì. Mặt khác, còn dầu và rượu chớ động đến phản ảnh một quan tâm dành ưu tiên các món ấy cho những người có thể trả tiền để mua chúng. Vào năm 92 S.C., ngay trước khi sách Khải Huyền được viết ra, việc thiếu ngũ cốc trầm trọng, cùng với việc dư thừa rượu trong đế quốc, đã khiến cho hoàng đế DomI Tian phải ban hành chiếu chỉ hạn chế việc trồng nho và tăng cường việc trồng bắp chiếu chỉ này đã khiến cho người ta căm phẫn đến mức chiếu chỉ này phải bị huỷ bỏ. Có lẽ lời văn ở đây cũng đang đề cập đến tình trạng ấy.
4. Dấu ấn thứ tư (Kh 6:7-8)
Kỵ sĩ thứ tư có tên là Sự chết, nhưng có thể điều này tiêu biểu cho một cái chết đặc biệt, đó là chết do dịch bệnh. Ê-xê-chi-ên đề cập đến bốn hành động phán xét gây đau đớn của Đức Chúa Trời: chiến tranh, đói kém, thú dữ, và ôn dịch (Exe 5:16-17), và bản dịch Hi văn dịch từ cuối cùng này thành sự chết (có lẽ Giăng cũng làm tương tự trong Kh 2:23 và rõ ràng cả trong 18:8 nữa). Âm phủ theo sau người là một lời nhắc nhở chết không phải là chấm dứt mọi chuyện sự phán xét vẫn đang chờ tội nhân (đối chiếu He 9:27-28).
5. Dấu ấn thứ năm (Kh 6:9-11)
Linh hồn của các thánh tử đạo, sở dĩ ở dưới bàn thờ bởi vì các vị đã ở đó đã “hy sinh”, như thể họ đã được dâng lên làm sinh tế (đối chiếu Phi 2:17 IITi 4:6). Người Do Thái rất thích ý tưởng này. Ra-bi Akiba từng dạy rằng: “Người được chôn trong xứ Y-sơ-ra-ên thì cũng giống như người ấy được chôn dưới bàn thờ, vì cả xứ Y-sơ-ra-ên đều thích hợp cho việc lập bàn thờ người nào được chôn dưới bàn thờ thì cũng như được chôn dưới ngôi vinh hiển vậy”. Căn cứ vào Kh 12:17 lời chứng mà các thánh tử đạo đã từng bảo vệ là lời chứng của Chúa Giê-xu (1:2 19:10).
10-11 Cái áo trắng dài đã được ban cho họ có thể là một dấu hiệu đại diện cho việc họ được xưng công chính nhờ Chúa Cứu Thế khi phải đối diện với sự buộc tội của thế gian, và vì vậy đó cũng là một dấu chỉ và là của tin về sự vinh hiển mà sẽ thuộc về họ khi có “lần sống lại thứ nhất” (20:4-6). Khải tượng này về các thánh tử đạo được xem như một phần chính trong các lần phán xét của Chúa, vì lời cầu nguyện xin thi hành công lý (câu 10) đã được nhậm, và vì thế kết cuộc sẽ được xảy ra nhanh chóng hơn.
6. Dấu ấn thứ sáu (Kh 6:12-17)
Việc mô tả các dấu lạ trong vũ trụ vào lúc tận thế được đúc kết từ một số phân đoạn Kinh Thánh Cựu Ước nói về ngày của Chúa (về việc một cơn động đất lớn là dấu chỉ về ngày tận thế, đối chiếu Exe 38:19-20 mặt trời trở nên tối tăm như túi lông đen và cả mặt trăng trở nên như huyết, (Es 13:10 Exe 32:7-8 Gio 2:10 3:15) các vì sao sa xuống và trời bị dời đi như quyển sách cuốn tròn, (Es 34:4) việc ẩn mình trong các hang đá, xem 2:10 và về việc khẩn cầu với núi, Os 10:8). Các “dấu hiệu” này cho thấy rằng ngày tận thế kết cuộc đang đến gần và nó đã bắt đầu đến rồi (c.17, ngày thạnh nộ lớn của Ngài đã đến). Chúng vốn là những phần mô tả bằng hình ảnh về nỗi kinh hoàng của nhân loại trước sự uy nghi của Đấng Tạo Hoá khi Ngài tiến hành việc phán xét và giải cứu (Ha 3:6-11) và vì thế chúng đã được dùng để biểu dương sự đáng kinh của Chúa trong sự hiện diện đầy vinh quang của Ngài.
15-17 Những câu này cho thấy nhân loại được phân ra bảy thành phần, từ các vua ở trên đất đến các kẻ tôi mọi và những người tự do. Tiếng kêu của họ trong hai câu 16-17 đối chọi với tiếng kêu của các thánh tử đạo bên dưới bàn thờ. Ngày tận thế làm lộ rõ lý lịch của Ngài, Đấng có uy quyền tối hậu trên toàn cõi vũ trụ và sự phán xét không gì có thể kháng cự của Chiên Con, nhưng kết cuộc của việc thực thi uy quyền và sự phán xét ấy là chiến thắng khải hoàn của vương quốc của ân điển và sự vinh hiển (Kh 21:1-22:5).
7. Một giai đoạn chuyển tiếp giữa ấn thứ sáu và ấn thứ bảy (Kh 7:1-17)
Ấn thứ sáu rao ra việc lịch sử sẽ kết thúc vào lúc Đức Chúa Trời và Chiên Con ngự đến. Người ta nghĩ rằng lúc bấy giờ dấu ấn thứ bảy sẽ được mở ra và vương quốc của sự vinh hiển được bày tỏ. Nhưng thay vào đó, Giăng thuật lại hai khải tượng về dân sự của Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt. Khải tượng thứ nhất đề cập về giai đoạn trước khi có các cuộc phán xét được mô tả trong chương 6 khải tượng thứ hai tiết lộ về những kẻ được cứu trong vinh hiển sau những cuộc đoán xét đó. Chủ đích của Giăng là bảo đảm với các độc giả là Cơ Đốc nhân (và cả những người nghe 1:3) rằng họ không cần phải sợ hãi những cuộc phán xét vào các thời kỳ cuối cùng, vì Đức Chúa Trời sẽ bảo vệ họ.
Người ta thường nghĩ rằng hai nửa của chương này đề cập về hai nhóm người khác nhau, nên các câu 1-8 trình bày về sự quan tâm chăm sóc của Đức Chúa Trời dành cho dân Y-sơ-ra-ên trong thời kỳ sau rốt, hoặc ít ra cũng là cho các Cơ Đốc nhân người Do Thái, trong khi những câu 9-17 mô tả về những người được cứu từ các dân các nước của thế gian. Đây là một cách lý giải không chắc chắn. Nếu việc “đóng ấn” của khải tượng thứ nhất tả cảnh Đức Chúa Trời bảo vệ (dân Ngài) khỏi những cuộc phán xét mang tính hủy diệt sắp giáng xuống mặt đất, thì toàn bộ những người thuộc về Đức Chúa Trời đều sẽ cần đến điều ấy, chứ không thể một phần hạn chế trong số họ cần mà thôi (và điều đó đã được thực hiện trong 9:4). Hơn nữa, thành ngữ những tôi tớ (của) Đức Chúa Trời chúng ta (c.3), là những người đã được đóng ấn cũng xuất hiện ở những chỗ khác trong sách Khải Huyền và thường chỉ về toàn thể nhóm người đã được cứu chuộc (2:20 11:18 19:2,5 22:3,6). Có thể Giăng đã được hướng dẫn để sử dụng một lời tiên tri mà trước đây đã từng mang ý nghĩa bảo đảm với dân Do Thái rằng họ chắc chắn sẽ được thừa hưởng Nước Trời. Ông ứng dụng nó cho Hội Thánh như dân Y-sơ-ra-ên mới, nhờ vậy mà mà tính tượng trưng của lời tiên tri này mới được nhận thức một cách trọn vẹn (về việc Hội Thánh là dân Y-sơ-ra-ên mới, Ro 2:28-29 Ga 3:29 6:16 Phi 3:3 IPhi 1:1 2:9).
1 Cụm từ sau việc ấy đánh dấu một khải tượng mới, nó không phải là một âm hiệu về thời gian liên quan với các biến cố đã được kể lại trong chương 6, nhưng nó giới thiệu một khải tượng mới mà Giăng đã được ban cho. Bốn vị thiên sứ… cầm bốn hướng gió lại là một biểu tượng khác nữa về bốn kỵ sĩ trong chương trước (cũng như trong Xa 6:5). Những ngọn gió cuồng loạn gây huỷ diệt tiêu biểu cho toàn bộ quá trình diễn ra của cuộc phán xét mà đã được tượng trưng bằng các dấu ấn, tiếng loa và những bát thạnh nộ. 2-3 Bức tranh Đức Chúa Trời hằng sống đóng ấn cho các tôi tớ của Ngài đưa chúng ta trở về với khải tượng của Ê-xê-chi-ên về người đeo một cái sừng (đựng) mực, mà đã được thuật lại là người này đã đi khắp thành Giê-ru-sa-lem và ghi một dấu lên trán những người công chính hầu cho những kẻ đại diện cho sự huỷ diệt không động đến họ (Exe 9:1-6).
4-8 Việc liệt kê ra từng chi phái một có dụng ý nhấn mạnh rằng toàn bộ các thánh đồ của Đức Chúa Trời sẽ được Ngài bảo vệ suốt những đợt thử thách sắp đến. Đây là một bảng liệt kê bất thường ở nhiều phương diện. Giu-đa được liệt kê trước thay vì Ru-bên, con truởng nam của Gia-cốp (Sa 29:32 đối chiếu Dan 13:4-15 Phu 33:6), chắc chắn điều này là do Giu-đa là chi phái của Đấng Mết-si-a. Đan bị bỏ sót, nhưng lại có Ma-na-se, tuy chi phái sau này đã được sát nhập vào chi phái Giô-sép. Chắc chắn điều này đã được cân nhắc. Các giáo sư Do Thái giáo luôn gắn kết chi phái Đan với tội thờ thần tượng một cách cố chấp. Trong quyển “Những lời di chúc của Mười Hai vị tộc trưởng”, Đan được cho biết là “Vua ngươi là Sa-tan”. Kể từ thời Irenaeus về sau, các Cơ Đốc nhân luôn quan niệm rằng tên Đan bị bỏ sót là vì antichrist sẽ từ ra từ chi phái này. Dĩ nhiên, đây là quan điểm của người Do Thái, nhưng trong thực tế thì những hình ảnh đại diện cho antichrist trong sách Khải Huyền thật khó hoà hợp với quan điểm này.
9 Khải tượng về 144.000 người được đóng ấn để tránh những tác hại của cơn thử thách được thay thế bằng khải tượng về một đám đông và vô số người không ai đếm được đứng trước ngôi Đức Chúa Trời và Chiên Con trong Nước vinh hiển. A. M. Farrer cho rằng sự tương phản này bày tỏ hai chủ đề mang tính bổ sung nhau của lời Thánh Kinh: một mặt Đức Chúa Trời biết con số những người được chọn của Ngài, và mặt khác, con số những người được thừa hưởng phước hạnh của Áp-ra-ham là đông vô số như sao trên trời vậy (The Revelation of St John the Divine - Clarendon, 1964, p. 110). Những chiếc áo dài trắng của họ biểu hiện sự thuần khiết và vinh quang của sự sống lại, các nhánh chà là thể hiện chiến thắng và niềm vui sau chiến tranh.
10 Sự cứu rỗi thuộc về Đức Chúa Trời ta... và thuộc về Chiên Con là âm hưởng của Thi 3:8 (Kh 19:1). Những người chiến thắng tin rằng sự cứu chuộc mà họ có được là do Đức Chúa Trời và Chiên Con. 12 Lời ca tụng của các thiên sứ tương ứng với lời ca tụng của đoàn người được cứu chuộc đông vô số.
13-14 Câu sứ đồ Giăng trả lời vị trưởng lão này hàm ý: “Tôi cũng muốn biết điều đó”. Cơn đại nạn (mà đám đông vô số từ đó ra khỏi) không phải là một tên gọi tổng quát của những cơn thử thách mà Cơ Đốc nhân thường phải trải qua, nhưng đó là hoạn nạn xảy ra vào lúc kết thúc thời kỳ. Khải tượng này mô tả cảnh sau khi xảy ra những cuộc phán xét của Chúa trong lịch sử và sau khi các Cơ Đốc nhân đã chịu khổ dưới tay những kẻ chống nghịch Đức Chúa Trời, như vậy khải tượng này nhằm chỉ về thế hệ cuối cùng. Nhưng câu nói của vị trưởng lão trong các câu 14b-17 mô tả về phước hạnh của toàn thể Hội Thánh. Chúng ta sẽ thấy dễ hiểu nếu chúng ta ghi nhớ rằng Giăng đang nói tiên tri về một ngày mà đối với ông hầu như nó hãy còn ở tận chân trời, ông không được cho thấy giai đoạn xảy ra trước ngày tận thế. Cuộc bắt bớ bách hại cuối cùng có thể đến bất cứ lúc nào. Những người đã đi trước, khi đã có được tuyên xưng tốt lành, dĩ nhiên là được kể vào đám đông này, nhưng điều này không cần thiết phải nói ra. Hội Thánh của hiện tại là đối tượng đang được xét đến, và tình trạng của họ đang choán hết bức tranh của Giăng. Với chúng ta, gần hai ngàn năm sau, Hội Thánh này đã lên thiên đàng rồi, nhưng chúng ta có thể biết rằng toàn thể những người tin Chúa, kể cả chúng ta nữa, cũng sẽ ở trong đám đông này.
(Họ) đã giặt và phiếu trắng áo mình trong huyết Chiên Con là một hình ảnh tượng trưng diễn tả việc được tha tội qua đức tin đặt nơi Chúa Cứu Thế Đấng đã chịu chết vì mọi người. Câu huyết Chiên Con là một cách diễn tả ngắn gọn rằng sự chết của Chúa Cứu Thế được xem như một sinh tế vì tội lỗi chúng ta, vì hình ảnh trong câu 14 mô tả hiệu quả sự cứu chuộc của Chúa trong đời sống người thuộc về Ngài. Điều này bao gồm việc chiến thắng được những tội lỗi trong đời sống nhờ quyền năng chuộc tội của Chúa Cứu Thế, nên sẽ bảo vệ an toàn cho cả chuyến hành hương của đời sống, cũng như cho sự kiện được biến hóa. Hai câu 16-17 đã dùng ngôn ngữ của Es 29:8 và 49:10. Chúa Cứu Thế làm thỏa mãn sự cơn khát của dân sự Ngài bằng cách tự phó thân mình làm phương thuốc chữa trị cho sự bất an không chịu yên nghỉ của họ, là đối tượng trọn vẹn cho các ước vọng chưa được thỏa mãn của họ. Những suối nước sống trong khải tượng cuối cùng về thành phố của Đức Chúa Trời biến thành một con sông có nước sống (Kh 22:1-2) trổi hơn nhiều so với những nhu cầu mà tất cả mọi người mong được đáp ứng!
8. Dấu ấn thứ bảy (Kh 8:1-5)
1 Có sự yên lặng trên trời. Căn cứ vào câu 3-4 thì có thể điều này giúp cho lời cầu nguyện của các thánh đồ được (Đức Chúa Trời) nghe thấy. Trong Kinh Talmud thì bảy từng trời khác biệt nhau, ở từng trời thứ năm “có những đoàn thiên sứ đang phụng sự, họ hát lên vào ban đêm và im lặng vào ban ngày vì sự vinh hiển của dân Y-sơ-ra-ên”, tức là họ im lặng để những lời ca tụng của dân Y-sơ-ra-ên có thể đến được với Đức Chúa Trời. Trong hai chương 4 và 5 chúng ta đã đọc về sự thờ phượng hoan hỉ của các đoàn thiên sứ, còn ở đây thiên đàng yên lặng để tiếng kêu cầu xin cho được giải thoát của các Cơ Đốc nhân đang chịu khổ trên đất được Đức Chúa Trời nghe thấu. 3-4 Hương được dâng lên bằng lời cầu nguyện của mọi thánh đồ khiến cho chúng được Đức Chúa Trời chấp nhận họ phải được tẩy sạch tất cả dấu vết của tính ích kỷ và tội lỗi. 5 Lời cầu nguyện của họ được nhậm. Lửa dùng để đốt cháy hương được ném xuống đất và trở thành một phương tiện để phán xét. Tiếp theo đó là hiện tượng cho thấy Chúa đến và Nước Trời được thiết lập trong quyền năng (11:19, hậu quả của tiếng loa thứ bảy, và 16:18, tiếp sau bát thạnh nộ thứ bảy).
6. BẢY TIẾNG LOA (Kh 8:6-11:9)
Loa có liên hệ đến nhiều điều trong Cựu Ước. Khi Đức Chúa Trời tự tỏ mình ra tại núi Si-na-i, thì có một tiếng kèn thổi vang động và kéo dài, khiến cả dân sự đều run sợ (Xu 19:16-19). Tiếng kèn thổi lên báo hiệu việc nhà vua đăng quang trị vì (IVua 1:39-40), và việc kỷ niệm vương quyền của Đức Chúa Trời cũng được bày tỏ như vậy (Thi 47:5-9). Kèn được thổi lên để tuyên chiến (Cac 3:26-28 7:19-20 Ne 4:18) và ngày của Chúa cũng sẽ được thông báo như thế (Gio 2:1 So 1:16). Tất cả những kỳ lễ của dân Y-sơ-ra-ên đều được thông báo bằng tiếng kèn thổi (Dan 10:10) trong những hồi kèn như thế, có sự hòa quyện lạ lùng của niềm vui và sự phán xét. Với các thầy giáo luật của người Y-sơ-ra-ên, thì ngày Đại lễ chuộc tội là ngày phán xét. Caird có chỉ ra rằng trong sách Mishnah có lời tuyên bố là Đức Chúa Trời phán xét thế gian vào ngày lễ Vượt Qua về các sản phẩm, vào ngày lễ Ngũ Tuần về hoa quả, vào ngày lễ Lều Tạm về mưa, nhưng ngày Tishri I (ngày bắt đầu chuẩn bị cho Đại lễ Chuộc tội) là ngày Ngài phán xét toàn nhân loại (The Revelation of St. John - Black, 1985 109-110). Một số phân đoạn trong Kinh Thánh Tân Ước miêu tả ngày Chúa đến trong Nước Ngài sẽ được báo hiệu bằng một hồi kèn (Mat 24:3 ICo 15:52 ITe 4:16). Chắc hẳn Giăng biết rõ những mối liên hệ đa dạng này của tiếng kèn, trên hết là mối liên hệ của chúng với Ngày của Chúa và với vương quốc của Đức Chúa Trời. Khi ông sử dụng chúng, những cơn phán xét được báo hiệu bằng tiếng kèn rơi vào hai nhóm bốn và ba tiếng kèn (như trường hợp dấu ấn thứ bảy ở đây). Bốn tiếng kèn đầu tiên đã nhắc lại những tai vạ dành cho người Ai Cập khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ ấy tiếng kèn thứ năm và thứ sáu thì không nhắc lại rõ ràng như thế. Trong Kh 15:3 sự giáng lâm của Chúa Cứu Thế được âm thầm so sánh với cuộc xuất khỏi Ai Cập (những người được cứu chuộc hát bài ca của Môi-se và của Chiên Con) do vậy, cũng thật dễ hiểu khi sự cứu chuộc cuối cùng, cuộc xuất khỏi Ai Cập lần thứ hai, được báo hiệu bằng những tai vạ tương tự như trong lần xuất khỏi Ai Cập thứ nhất.
1. Những hồi kèn thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư (Kh 8:6-12)
Tiếng kèn thứ nhất ảnh hưởng đến một phần ba đất (tham khảo tai vạ mưa đá và lửa trong Xu 9:24). Mọi giống cỏ xanh đều bị cháy, tức là trên một phần ba địa cầu bị ảnh hưởng, đám cào cào được đề cập trong Kh 9:4 bị cấm làm hại cỏ xanh trên đất, là thứ chắc đã không còn tồn tại nếu như đây là một cơn phán xét toàn cầu.
8 Tiếng kèn thứ hai ảnh hưởng trên một phần ba biển. Như trong tai vạ thứ nhất tại Ai Cập nước sông Nile đã biến thành máu thể nào (Xu 7:20-21), thì ở đây một phần ba biển cũng bị như vậy.
10-11 Tiếng kèn thứ ba khiến một phần ba nước ngọt thành ra độc hại, và như vậy điều này nối tiếp với ý tưởng của tai vạ trước đó (đối chiếu Kh 16:3-7). Vì ngôi sao sa xuống lúc tiếng kèn thứ năm thổi lên là một thiên sứ (9:1), nên rất có thể Ngải cứu cũng là một thiên sứ. Về nước đắng, đối chiếu Gie 9:15.
12 Tiếng kèn thứ tư khiến một phần ba các từng trời tối sầm lại, vì thế ban ngày mất một phần ba (ánh) sáng, và ban đêm cũng vậy. Một lần nữa, chúng ta được nhắc về tai vạ tối tăm tại Ai Cập (Xu 10:21-23), điều này có lẽ giải thích lý do tại sao các thiên thể va chạm vào nhau sẽ làm cho độ dài soi sáng của chúng bị giảm, chứ không phải là cường độ ánh sáng. Có phải điều Giăng muốn ngụ ý sở dĩ con người phải chịu cảnh tối tăm ban ngày, và ban đêm lại càng tối tăm hơn là vì tội lỗi của họ, nhưng Chúa thì ban ánh sáng đủ để soi sáng cho họ vào ban ngày và cả ban đêm nữa hầu cho họ có thể từ bỏ sự tối tăm về phương diện đạo đức để có được sự sống trong ánh sáng có sự hiện diện của Ngài?
2. Tiếng kèn thứ năm (Kh 8:13-9:21)
13 Bây giờ, một con chim phụng hoàng bay giữa trời (để cả thế giới đều có thể nghe được tiếng kèn của nó) kêu lên ba lần Khốn thay! với những kẻ đang cư ngụ trên đất. Ba tai hoạ này tương ứng với ba tiếng kèn sắp được thổi lên chúng sẽ càng khốc liệt hơn những cuộc phán xét được báo hiệu bằng kèn trước đó, vì chúng không trực tiếp nhằm vào môi trường, mà là vào nhân loại phản loạn. Chương 9 sẽ mô tả hai tai hoạ đầu, nhưng tai hoạ thứ ba không được mô tả, chỉ có hậu quả của nó được đề cập trong phần mặc khải về Nước Trời (Kh 11:15-19). Tai nạn này được phản ảnh trong 11:18, được trình bày rõ ràng hơn ở 16:17-20, được mô tả chi tiết hơn trong 17:12-18, được chào đón bằng bài ai ca ở chương 18, và các bài thánh ca ở 19:1-10 và cuối cùng được miêu tả sinh động trong 19:11-21. Hình bóng của sự kiện xuất khỏi Ai Cập lộ rõ trong tai họa thứ nhất, tương tự như tai vạ cào cào tại Ai Cập (Xu 10:1-20), nhưng ở tai họa thứ hai thì không được rõ như vậy, có thể so sánh với cảnh những đứa con đầu lòng tại Ai Cập bị giết, là hình phạt cuối cùng của Đức Chúa Trời trên dân tộc ấy.
(Kh 9:1-29) 1 Khi tiếng kèn thứ năm vang lên, một ngôi sao từ trời rơi xuống đất và được ban cho chiếc chìa khoá của vực sâu không đáy. Ngôi sao này là một thiên sứ tuy đã bị rơi xuống đất, nhưng vị ấy vẫn còn là một công cụ để thi hành ý chỉ của Đức Chúa Trời (chiếc chìa khoá của vực sâu không đáy đã được ban cho bởi uy quyền từ Đức Chúa Trời). Các vực sâu không đáy miêu tả cảnh hỗn loạn do nhiều dòng nước tạo ra trong thần thoại phương Đông cổ đại, chúng được nhân cách hóa như một thế lực của điều ác chống lại các thế lực trên trời, vì thế nó ngụ ý chỉ về nơi ở của những đám tay sai của ma quỉ. Trong 20:1-3, đó chính là nơi Sa-tan bị quăng xuống và bị giam giữ. Nên ở đây việc đề cập chiếc chìa khoá chỉ ra rằng toàn thể cư dân của nó đều chịu sự kiểm soát nghiêm ngặt của Đức Chúa Trời.
2-4 Những đám mây như một luồng khói dưới vực bay lên có ý nói truyền đạt ấn tượng do một đám mây cào cào đang tiến tới tạo ra. Cách so sánh các đạo quân ma quỉ này với cào cào nhắc nhớ về khải tượng trong Gio 2:1-10, cho biết các đạo quân cào cào trông giống như các chiến mã xung trận, rầm rộ như tiếng xe ngựa, tấn công như những người bạo mạnh, làm tối tăm các từng trời, và có răng như của sư tử vậy. Thêm vào các đặc trưng này, Giăng tuyên bố rằng đám cào cào có quyền gây đau đớn như bò cạp (đối chiếu Kh 9:10). Cào cào vốn ăn cây cỏ mà không làm hại cho con người, nhưng những con cào cào ma quái ở đây lại bỏ qua cây cỏ, mà tấn công người ta, hay nói chính xác hơn là những người không có ấn Đức Chúa Trời ở trên trán (trái lại, họ đều có dấu của con thú, 13:16). Năm tháng là tuổi thọ bình thường của một con cào cào (mùa xuân và mùa hè), nhưng khi chúng di trú ồ ạt đến địa điểm nào đó thì thường có tuổi thọ ít hơn.
7-9 Phần mô tả về cào cào nhắc chúng ta nhớ lại Gio 1:6 2:4-9, nhưng đây là điều rất quen thuộc trong truyền thống của người Ả-rạp. Vào năm 1772, C. Niebuhr có thuật lại lời một người Ả-rập mô tả về con cào cào: “Ông ta so sánh đầu con cào cào với đầu con ngựa, ngực nó với ngực sư tử, chân nó với chân lạc đà, thân thể nó với thân thể một con rắn, đuôi nó với đuôi bò cạp, râu nó với tóc một thiếu nữ”. 11 Vua của chúng được gọi theo tiếng Hê-bơ-rơ là A-ba-đôn, còn theo Hi văn là A-bô-ly-ôn. Tên gọi trước được Kinh Thánh Cựu Ước dùng để chỉ về các vực sâu không đáy của Sheol và có nghĩa là “sự huỷ diệt”. Tên gọi sau rất gần với động từ apollumi, có nghĩa là “tiêu diệt”, nhưng cũng có thể chỉ về một biến thể khác của từ Apollo, mà các tác giả Hi Lạp rút ra từ apollumi. Đạo thờ Apollo đã dùng hình ảnh con cào cào (trong số các hình ảnh khác) làm biểu tượng, còn các hoàng đế Caligula, Nero và Domitian đều tự xưng là thần Apollo nhập thể. Nếu đây là điều Giăng đang nói đến, thì sự mỉa mai của tiếng kèn thứ năm đang vang lên trong tâm trí ông: đó là việc tiêu diệt đạo quân của hỏa ngục là tiêu diệt đạo quân mà vua nó là hoàng đế La Mã! (Điểm này thật ra hoàn toàn giống với sự kiện trong Kh 17:16-18).
13-14 Lúc tiếng kèn thứ sáu được thổi lên, có tiếng ra từ bốn góc bàn thờ bằng vàng đặt trước mặt Đức Chúa Trời. Do đó, tiếng này có liên quan đến tiếng kêu cầu của các thánh tử đạo ở dưới bàn thờ trên thiên đàng (6:9-10) và với lời cầu nguyện của các thánh đồ trên đất xin được giải cứu (8:4-5), tuy nó phải được hiểu là tiếng của Đức Chúa Trời đáp lại lời cầu nguyện của những người thuộc về Ngài. Bốn vị thiên sứ bị trói trên bờ sông cái Ơ-phơ-rát được mở trói. Con sông này và sông Nile tạo thành những ranh giới lý tưởng cho vùng đất mà Đức Chúa Trời đã hứa ban cho dân Y-sơ-ra-ên (Sa 15:18). Nó cũng là giới hạn phía Đông của đế quốc La Mã và qua khỏi ranh giới này địa phận của Đế quốc Bạt-thê (Partihian: Ba-tư), cường quốc quân sự duy nhất trên thế giới từng kiên quyết đánh bại các đạo quân La Mã, và từng gây kinh hoàng cho Rô-ma. Người Do Thái nương nhờ vào khu vực này vì các quân từ phương Bắc đến xâm lăng xứ Palestine (1 Enoch 56:5-8 dường như lý giải rằng lời tiên tri về dân Gót trong Exe 38:1-39:29 đã được người Bạt-thê và người Mê-đi làm ứng nghiệm). Tuy nhiên bốn vị thiên sứ đã chẳng truyền lệnh cho một đạo quân nào của loài người, nhưng là cho một lực lượng quỉ quái gây kinh khiếp, tàn sát không phải đất hứa mà là thế giới vô luân vô đạo. 15 Không có điều gì trong chương trình của Đức Chúa Trời là ngẫu nhiên hay tình cờ cả. Thời điểm chính xác của cuộc tàn sát này đã được ấn định. 16 Quân số của các đạo quân này được ban ra là hai trăm triệu. Lần tổng kết quân số này cũng như những lần tổng kết giống như vậy đều đã được linh cảm bởi Thi 68:17 (con số các chiến xa của Đức Chúa Trời lúc Ngài từ núi Si-ôn đến) và bởi Da 7:10 (con số các thiên sứ cùng đến với Đức Chúa Trời để thực hiện việc phán xét). Đạo quân quỉ quái này cũng hoàn toàn phục sự chủ đích của Đức Chúa Trời y như các đạo binh thiên sứ vậy.
17-19 Phần mô tả ngựa và người cỡi ngựa thật đáng kinh khiếp, không thể tưởng tượng được và gây sửng sốt. Điều lạ là chính những con ngựa ấy lại gây ra sự kinh sợ và hủy diệt cả người cỡi ngựa lẫn ngựa dường như đều hoà lẫn vào nhau thành một khối đồng nhất, nhưng khả năng tiêu diệt của chúng (lửa, khói và diêm sanh) thì từ miệng ngựa mà ra. Các tạo vật này đều không phải bắt nguồn từ đất lửa và diêm sanh thuộc về hỏa ngục (Kh 19:20 21:8), cũng như khói là đặc điểm của vực sâu không đáy (9:2).
20-21 Tai hại này đã không thể làm lành mạnh hoá cái thế giới đang chống lại Đức Chúa Trời thiên hạ vẫn miệt mài thờ thần tượng, cùng phạm những tội ác liên quan, và không thấy có điều gì cần ăn năn cả. Chúng ta phải lý giải thế nào về những hình ảnh thần kỳ của hai “tai họa” đầu tiên này ? G. B. Caird gợi ý rằng “Trong những hình ảnh đó có một sự khẳng định mang tính thần học quan trọng nhất: các thế lực (cường quốc) gian ác này vốn có một đạo quân trù bị đông vô số, nên chúng có thể được củng cố cách vững chắc, vì thế không một thế lực trần gian nào có thể cảm thấy được an toàn trước sự tấn công từ phía bên kia chiến tuyến” ngoại trừ trong trận chiến thắng cuối cùng của Đức Chúa Trời. Trong một thế giới mà điều ác vốn rất hiểm độc và dai dẳng, chương trình của Phúc Âm đừng trông mong sẽ tạo được một lực lượng vững chắc có thể quét sạch quyền lực của Sa-tan, cho đến khi nó bị khiến trở thành bất năng, mà trái lại phải có một sức kháng cự vững chắc kiên cường, để chờ đợi trận đánh lớn cuối cùng không gì thay đổi được “ (Revelation, trang 123).
7. PHẦN CHUYỂN TIẾP GIỮA TIẾNG LOA THỨ SÁU VÀ THỨ BẢY (Kh 10:1-11:14)
Như cách Giăng đã xen một sự kiện vào giữa dấu ấn thứ sáu và dấu ấn thứ bảy, ông cũng làm như vậy trong khoảng giữa tiếng loa thứ sáu và tiếng loa thứ bảy. Tuy nhiên, nếu chủ đích của phần chuyển tiếp thứ nhất là truyền đạt sự bảo đảm về việc bàn tay của Đức Chúa Trời che chở bảo vệ dân sự Ngài trong suốt những đợt phán xét của Đấng Mết-si-a, nhưng động cơ của phần chuyển tiếp đó chỉ được đề cập ngắn gọn trong lời sấm nhỏ của 11:1-2. Chủ đích chính của việc làm gián đoạn câu chuyện ở đây hoàn toàn khác hẳn. Thứ nhất, đưa ra một lời công bố trọng thể về tính cách chắc chắn và cận kề của ngày tận thế khi tiếng loa thứ bảy thổi lên (c.1-7) thứ hai, nhiệm vụ nói tiên tri của Giăng được khẳng định một cách mới mẻ và thậm chí còn được mở rộng phạm vi hoạt động nữa (ông phải nói tiên tri lại về nhiều dân, nhiều nước, nhiều tiếng và nhiều vua nữa) và thứ ba, nhiệm vụ của Hội Thánh trong thời gian hoạn nạn được làm sáng tỏ, ấy là họ phải làm chứng cho Chúa Cứu Thế trước mặt những kẻ chống đối Phúc Âm (11:3-13). Đây là lần đầu tiên nhân vật antichrist xuất hiện (11:7), và tính hai mặt của cơn hoạn nạn cuối cùng trở nên rõ ràng, tức là những cơn phán xét của Đức Chúa Trời giáng trên những kẻ chống lại Ngài còn những kẻ theo thì chiến đấu chống lại Hội Thánh. Chẳng có lời hứa giải thoát nào cho những kẻ theo antichrist, nhưng thời điểm tận thế là lúc Hội Thánh được báo trả và nhiều người ăn năn quy đạo.
(Kh 10:1-11) Thời điểm gần sát ngày tận thế 1 Vị thiên sứ khác sức mạnh lắm đôi khi lại được đồng nhất với Chúa Cứu Thế, nhưng không thể nào Giăng lại nói về Chúa như một thiên sứ. Ngôn từ của lời tiên tri nhắc chúng ta nhớ lại Da 10:5-6 và 12:7. 2 Theo câu 11 thì dường như cuộn sách nhỏ gồm tất cả những khải tượng còn lại của sách Khải Huyền. 3 Bảy tiếng sấm không phải do vị thiên sứ tạo ra, vì chúng đến sau tiếng kêu lớn của người. Có lẽ chúng đến từ Đức Chúa Trời hoặc Chúa Cứu Thế (cũng như lệnh truyền trong c.4). 4 Giăng không được phép viết xuống thông điệp của những tiếng sấm này. Thông điệp đó là gì và tại sao chúng lại không được tiết lộ khiến cho nhiều nhà giải kinh thắc mắc trong nhiều năm. Có lẽ điều đó muốn chỉ ra rằng ý chỉ của Đức Chúa Trời vĩ đại hơn nhiều so với những gì lời tiên tri có thể diễn tả.
5 Vị thiên sứ phải đứng một chân trên đất, một chân trên biển bởi vì thông điệp của vị ấy có tầm quan trọng toàn cầu. 6-7 Ý chính trong lời tuyên bố của vị thiên sứ này là không còn có thì giờ nào nữa. Chủ đích của Đức Chúa Trời đối với nhân loại, mà đã được các nhà tiên tri mặc khải, giờ đây sẽ phải ứng nghiệm khi vị thiên sứ thứ bảy thổi kèn mình, thì sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời sẽ nên trọn. Sự mầu nhiệm ở đây không phải là một mặc khải “có tính mầu nhiệm”, mà là chủ đích bí mật của Đức Chúa Trời mà đã được giấu kín với thế giới vô tín. Nội dung của nó được tiết lộ và chào đón trong Kh 11:15-18.
8-11 Sau khi đã bị phủ nhận quyền viết thông điệp ấy, giờ đây Giăng được nhận một sự uỷ thác mới, đó là công bố những thông điệp khác. Phần này của khải tượng gợi lại hình ảnh trong Exe 2:9-3:3. Như trong trường hợp của Ê-xê-chi-ên, việc ăn quyển sách tạo ra cả cảm giác ngọt lẫn đắng, minh họa (rõ ràng trong sách Khải Huyền) sự pha lẫn của niềm vui lẫn sự đau xót trong việc tiếp nhận và tuyên bố cho tất cả mọi người về những phước hạnh và sự phán xét mà Đức Chúa Trời đã tiết lộ.
(Kh 11:1-2) Sự an toàn của Hội Thánh Trong lời sấm ngắn gọn này, đền thờ tại Giê-ru-sa-lem và những người thờ phượng tại đó đã được phân ra hầu được bảo vệ trong giai đoạn thử thách (về ý nghĩa tượng trưng, xin xem Exe 40:3-4 và Am 7:7-9) sân ngoài thuộc về dân ngoại quốc và thành phố bị phó mặc cho sự hủy phá của một thế lực ngoại đạo. Có lẽ Giăng không có ý muốn lời tiên tri này được lý giải theo nghĩa đen (vì thành phố và đền thờ đã bị phá huỷ từ thế hệ trước rồi) hay tạo ra nó như một loại ẩn dụ mang ý nghĩa tiên tri. Trái lại, như trong chương 7, dường như ông đã phỏng theo một lời tiên tri dành cho người Do Thái ra đời trước đó về nghĩa đen thì lời này chưa được ứng nghiệm, nhưng về ý nghĩa thuộc linh nó truyền đạt chân lý về sự an toàn của Hội Thánh trong khi chịu khổ. Rõ ràng, phương thức mô phỏng tương tự đã được áp dụng trong lời tiên tri ở những câu 3-13.
1 Đền thờ Đức Chúa Trời, bàn thờ và những kẻ thờ lạy tại đó chuyển tải một ý tưởng, đó là Hội Thánh (đối chiếu ICo 3:16). 2 Tương tự như thế, sân ngoài và thành thánh đại diện cho thế giới ở ngoài Hội Thánh. Đây là một sự thay đổi táo bạo, nhưng câu 8 ngụ ý rằng một thành phố đã từng là thành thánh, giờ đây trở thành một với thành Sô-đôm tội lỗi, Ai Cập là thế lực áp bức dân của Đức Chúa Trời, và là đế quốc bạo tàn chiến đấu chống lại Đấng Mết-si-a. 42 tháng của câu 2, “1.200 ngày” của Kh 12:6 và “một thì, các thì và nửa thì” của 12:14 là những nhóm từ tương đương chỉ về ba năm rưỡi trị vì của antichrist, và tất cả đều bắt nguồn từ những lời tiên tri của Đa-ni-ên (Da 7:35 9:26-27 12:7).
(Kh 11:3-14) Lời tiên tri về hai nhân chứng Điều này có nguyên tắc lý giải tương tự như của câu 1-2. Kinh Thánh Cựu Ước kết lại với một lời tiên tri về việc Ê-li-sê sẽ trở lại để thi hành chức vụ trong kỳ sau rốt (Ma 4:5-6). Ra-bi Johanan ben – Iakkai một vị giáo sư vĩ đại, một người đồng thời với Giăng người viết sách Khải Huyền, đã tuyên bố rằng Đức Chúa Trời từng phán với Môi-se: “Nếu ta sai nhà tiên tri Ê-li đến, thì hai ngươi sẽ phải cùng nhau đến”. Cách đồng hoá như thế phù hợp với phần mô tả về hai nhân chứng được mô tả trong câu 5-6. Vậy phải chăng Giăng muốn chúng ta hiểu rằng chính Môi-se và Ê-li sẽ trở lại để làm trọn phần chức vụ đã được mô tả trong phân đoạn này? Không phải như vậy, giống như câu 1-2, đã có những biểu hiện cho thấy rằng khải tượng này phải được lý giải theo ý nghĩa tượng trưng. Trong câu 4, Giăng dựa theo Xa 4:1-14 để mô tả các nhà tiên tri làm chứng nhân còn trong Xa cha ri, “hai cây ô-li-ve” đại diện cho Giê-hô-sua thầy tế lễ thượng phẩm và Xô-rô-ba-bên quan tổng đốc, còn “chân đèn” là dân Y-sơ-ra-ên. Chiếc chân đèn duy nhất phải biến thành hai để phù hợp với hai cây ô-li-ve và chúng miêu tả sinh động khả năng nói tiên tri của Hội Thánh. Chiếc chân đèn đã từng biến thành bảy để đại diện cho bảy Hội Thánh trong khu vực A-si thuộc La Mã (Kh 1:12 2:1) đây chỉ là một sự biến đổi đơn giản để Hội Thánh lập thành hai cho tương xứng với hai nhà tiên tri. Cũng vậy, trong khi câu 7 tuyên bố rằng con thú “chiến đấu” (rõ hơn là gây chiến) với hai nhân chứng và giết họ đi, và rằng người ta ở các dân tộc, các chi phái, các (thứ) tiếng, các nước sẽ trông thấy xác hai người và chúc mừng bằng cách gởi tặng phẩm cho nhau (c.9-10), rõ ràng là hình ảnh ban đầu về hai nhà tiên tri chịu tử đạo ngay tại thành Giê-ru-sa-lem đã trở thành một biểu tượng về nỗ lực của cả thế gian nhằm phá tan Hội Thánh của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, lễ ăn mừng của họ đã được cử hành quá sớm (c.11-12).
3 Những người chứng mặc bao gai, vì họ truyền ra thông điệp về sự phán xét, kêu gọi ăn năn, vì thế giống với 14:6-7.
5-6 Quyền năng phi thường của Hội Thánh đang làm chứng được trình bày bằng những ngôn từ gợi nhớ về Ê-li và Môi-se. Ngọn lửa hủy diệt gợi lại IIVua 1:10-11, khả năng ngăn chặn mưa gợi lại IVua 17:1 việc biến nước thành huyết và mặt đất rúng động cùng với các thứ tai nạn nhắc lại Xu 7:1-12:50.
7 Đây là lần đầu tiên sách Khải Huyền đề cập con thú dưới vực sâu lên. Nó được đề cập như thể mọi người đều biết rõ, nhưng phần mô tả đầy đủ hơn về nó nằm ở hai chương 13 và 17. Hãy chú ý ngôn ngữ tương tự trong Kh 13:7, mô tả cuộc chiến của con thú chống lại Hội Thánh. Về vực sâu (9:1). 8 Thành lớn nguyên chỉ về Giê-ru-sa-lem (đối chiếu câu 1-2 và vế chót của câu này), nhưng giờ đây nó lại được dùng để chỉ điều John Bunyan gọi là “Hư hoa thành” (The Revelation of St John của M. Kiddle, Hodder and Stoughton, 1940, trang 185). Suốt phần còn lại của sách này, cụm từ ấy được dùng để chỉ kẻ dâm phụ là thành phố Rô-ma (16:19 17:18 18:10-24). Chính bằng nét bút tài tình, Giăng đã đồng hoá Giê-ru-sa-lem với Sô-đôm, Ai Cập, thành phố của antichrist và của thế gian nơi đã chối bỏ và đóng đinh Con Đức Chúa Trời.
9-10 Cả người Do Thái lẫn người ngoại quốc đã cùng nhau ăn mừng là chiến thắng rõ ràng của họ trên Hội Thánh. Việc cấm không cho đem thi hài đi chôn là điều sỉ nhục lớn nhất mà một người phải chịu (Thi 79:3). 11 Hội Thánh bị các kẻ thù giày đạp trong ba ngày rưỡi, là một cách chơi chữ nhằm chỉ về ba năm rưỡi hoạn nạn, tuy nhiên, đó cũng là giai đoạn các chứng nhân thi hành chức vụ đầy quyền năng. Khi so với điều này thì chiến thắng của antichrist chẳng phải là chiến thắng gì cả. Câu có sanh khí từ Đức Chúa Trời đến nhập vào trong hai người: hai người bèn đứng thẳng dậy, được trích từ Exe 37:10, đề cập về sự phục hưng thuộc linh của dân tộc Y-sơ-ra-ên. Do đó, có thể xem “sự phục sinh” này báo hiệu cho một cơn phấn hưng lớn đến mức làm cho cả thế gian phải kinh hoàng nhưng căn cứ theo lời truyền dạy của các sứ đồ về sự sống lại của kẻ chết và sự biến hóa của kẻ còn sống (ICo 15:51-52 ITe 4:14-18) thì sẽ hợp lý hơn khi cho rằng điều này báo hiệu cho sự “sống lại thứ nhất” (Kh 20:5). Với cơn động đất dữ dội trong câu 13 đối chiếu 6:12 và 16:18, thì cả hai sự việc này đều hàm ý rằng giai đoạn cuối cùng trước khi Nước Trời được bày tỏ đã đến. 13 Con số bảy ngàn người là phù hợp để chỉ một phần mười dân số của Giê-ru-sa-lem vào thế kỷ thứ nhất S.C. Để biến thành phố này trở thành thành phố đại diện của cả thế giới, Giăng đã không phải thay đổi con số này, vì con số bảy ngàn này có thể được lý giải với ý nghĩa của bất kỳ một con số lớn nào đó. Sự kiện những người sống sót ngợi khen Đức Chúa Trời trên trời cho thấy rằng các biến cố này đã khiến cho những con người từ trước cho đến bấy giờ chưa chịu ăn năn đã biết ăn năn (đối chiếu Gios 7:19).
8. TIẾNG KÈN THỨ BẢY (Kh 11:15-19)
Tiếng kèn thứ bảy được thổi lên nhằm mở đầu cho tai nạn thứ ba, nhưng thay vì tai họa được mô tả, một lời công bố về sự đến của vương quốc Đức Chúa Trời đã được ban ra. Tính chất của tai họa thứ ba này được trình bày chi tiết sau (xem chú thích về Kh 8:13).
15 Ngôn từ của lời công bố này là mang âm hưởng của Thi 2:2, nhưng đã được xếp thành một câu độc nhất vô nhị, bởi đó điều đã đến chính là vương quốc của Chúa chúng ta và Đấng Christ của Ngài – một quyền tể trị bất khả phân ly. Ngài sẽ trị vì đời đời. Ngài là ai? Là Chúa chúng ta, hay Đấng Christ của Ngài? Ở đây có một điều rất giống với Gi 10:30 “Ta với Cha là một”.
17 Thuộc tính của Đức Chúa Trời theo thói quen đã được rút ngắn một cách ý nghĩa người ta không còn nói rằng Ngài “đang đến” nữa (đối chiếu Kh 1:4), vì Ngài đã đến rồi! Sự cai trị của Ngài đã khởi sự rồi, Ngài đã dùng quyền năng rất lớn để dẹp tan sự phản loạn của nhân loại chống lại quyền tể trị tối cao của Ngài, là quyền đã tồn tại qua mọi thời đại. Căn bản Nước Trời giải thoát người ta khỏi điều xấu xa gian ác và ban cho họ sự sống. Chương 5 cho thấy nước này đã bắt đầu trong sự chết và phục sinh của Chúa Giê-xu, và chiến thắng của nó đã được chúc mừng trong bài ca ở câu 17. Bài ca này đánh dấu diễn tiến của tư tưởng đã được sắp xếp mà diễn tiến này sẽ được trình bày chi tiết ở phần sau của sách Khải Huyền. Đức Chúa Trời đã bắt đầu trị vì, như người ta đã được xem thấy trong vương quốc một ngàn năm (20:4-6) các dân tộc vốn giận dữ, nổi lên chống lại (20:8-9) nhưng cơn thạnh nộ của Ngài đã đến, tự bày tỏ qua sự phán xét (20:9) giờ đã tới là giờ phán xét kẻ chết (20:11-15), khi các thánh đồ được ban thưởng trong thành của Đức Chúa Trời (21:9-22:5), còn những kẻ hủy phá thế gian thì bị ném vào “hồ lửa” (20:15 21:8). 19 Đền thờ Đức Chúa Trời bèn mở ra ở trên trời để ai nấy đều nhìn thấy hòm giao ước. Việc nó được bày tỏ vào thời điểm này ngụ ý rằng mục tiêu của giao ước, là lời hứa về Nước Trời, đang trở thành hiện thực . Rồi có chớp nhoáng, tiếng sấm sét, động đất và mưa đá lớn chứng thực rằng sự chung cuộc đã đến rồi (8:5 16:17-21).
9. CUỘC TRANH CHẤP GIỮA HỘI THÁNH VÀ CÁC THẾ LỰC GIAN ÁC (Kh 12:1-14:20)
Vì bảy tiếng kèn tiếp theo sau bảy dấu ấn, nên cũng là lẽ tự nhiên khi cho rằng bảy bát thạnh nộ cũng ngay lập tức được trút xuống để chấm dứt câu chuyện về những cơn quặn thắt sinh nở của vương quốc Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, có một phần dài trong ngoặc đơn đã được chen vào đây. Điều cần thiết là bản chất của cuộc tranh chấp mà Chúa Cứu Thế sẽ kết thúc lúc Ngài hiện ra phải được bày tỏ. Cuộc chiến đấu của các Cơ Đốc nhân chống lại việc người đương thời tôn xưng hoàng đế là Chúa tể và là Cứu Chúa của thế gian đã được trình bày trong văn cảnh (ở đây) của một cuộc tranh chiến thậm chí còn khủng khiếp hơn nữa, trong đó kẻ thù lâu đời của Đức Chúa Trời và con người đã tận dụng mọi phương tiện mình có được để phá huỷ chủ đích của Đức Chúa Trời. Như thế, “phần trong ngoặc đơn” này nằm ngay trung tâm của quyển sách, cả về ý nghĩa lẫn về vị trí. Nó bao gồm toàn bộ giai đoạn của Đấng Mết-si-a, từ lúc Chúa Cứu Thế giáng sinh cho đến thời điểm chung cuộc.
1. Người đàn bà, con rồng, và Đấng giải thoát (Kh 12:1-17)
Thật chẳng khó khăn gì để nhận ra điều cốt lõi của câu chuyện về Chúa Cứu Thế trong câu 1-6, nhưng có một điều chúng ta cần phải chắc chắn, đó là không một Cơ Đốc nhân nào lại tóm tắt Phúc Âm của Chúa Cứu Thế theo cách này, bỏ qua tất cả những gì liên quan đến cuộc đời và sự chết của Chúa Cứu Thế. Tuy nhiên, có nhiều đoạn ký thuật tương tự đã tồn tại vào thế giới cổ đại đề cập về cuộc tranh chiến giữa các thế lực của thiên đàng và hoả ngục. Tập thơ của người UgarI Tic viết về thần Ba-anh có kể về một trận đánh giữa Ba-anh, thần bão tố, với Yam, vua của biển cả. Người Ba-by-lôn thì kể về chuyện thần Marduk giết thần Tiamat, là con quái vật bảy đầu của vực sâu. (Mẹ của thần Marduk cũng được miêu tả tương tự như người đàn bà trong 12:1, còn Tiamat thì được kể rằng trong trận chiến chống lại thiên đàng đã đánh đổ được một phần ba các vì sao). Người Ba-tư thì kể về con trai (thần) Ahura đánh nhau với con rồng Azhi Dahaka gian ác. Người Ai Cập kể lại làm thể nào nữ thần Hathhor (Isis, vợ của Oosiris) chạy trốn khỏi con rồng đỏ Typhon để đến được một hòn đảo rồi con rồng đã bị con trai nàng là Horus đánh bại và cuối cùng, nó đã tiêu diệt bằng lửa. Người Hi Lạp cũng có một truyện tích tương tự về việc thần Apollo được nữ thần Leto sinh ra nữ thần này đã bị con rồng Python to lớn rượt đuổi, vì nó nghe nói rằng hậu duệ của bà sẽ tiêu diệt hắn. Leto đã trốn dưới biển, và thần Apollo vừa khi chào đời đã lập tức trưởng thành và giết chết con rồng. Những biến thể khác và những sự thêm thắt cho câu chuyện này là điều phổ biến tại Trung Đông, và một số người Do Thái nhận thấy trong những câu chuyện này có những điểm tương đồng đáng kinh ngạc với lời hứa về Đấng Mết-si-a. Một tác giả sách tiên tri khuyết danh đã lấy câu chuyện truyền kỳ này và sửa đổi nó lại cho phù hợp với niềm hy vọng của người Do Thái, ông đã thêm vào chuyện con trai đó sẽ cai trị mọi dân tộc (đối chiếu Thi 2:9), và con rồng bị đánh bại nhờ Mi-ca-ên, vị thiên thần hộ mệnh và là đấng bảo vệ của dân Y-sơ-ra-ên (đối chiếu Da 12:1 một trong các bài thánh ca tạ ơn của cuộn Qumran có một phần rất giống với các c.1-6). Dường như Giăng đã trình bày sự ứng nghiệm của câu chuyện theo tín ngưỡng ngoại đạo này và lời hứa trong Kinh Thánh Cựu Ước về Chúa Cứu Thế của Phúc Âm đơn giản bằng cách thêm vào hai câu 10-11, bởi đó đã chuyển đổi câu chuyện thành một lời tuyên bố về chiến thắng của Chúa Đấng đã chịu đóng đinh và phục sinh trên các thế lực của tội lỗi và sự chết.
1-2 Những người sùng đạo của thế giới cổ đại chắc hẳn đều nhìn nhận người đàn bà có thai này là một nữ thần có mão triều thiên là 12 ngôi sao của cung hoàng đạo còn một người Do Thái thì sẽ hiểu rằng bà là Mẹ Si-ôn (đối chiếu Es 26:16-27 49:14-25 54:1-8 66:7-9), nhưng với Giăng thì bà là “Mẹ” của cộng đồng những người theo Đấng Mết-si-a, là cộng đồng gồm những người tin Đức Chúa Trời của giao ước cũ và giao ước mới. 3 Con rồng lớn sắc đỏ được đồng hoá với Sa-tan ở câu 9. Nó là antichrist của thế giới thuộc linh, cũng như tay sai của nó, là “con thú” (Kh 13:1), là antichrist trên đất vậy. 4 Đuôi kéo một phần ba các ngôi sao trên trời làm gợi lại một chiến thắng của ma quỉ đối với các thế lực thiên sứ, nhưng theo Giăng đây chỉ là một cách nói bằng hình tượng ngụ ý về quyền năng đáng sợ của con rồng mà thôi. 5 Lời tuyên bố rằng con trai ấy đã được định sẽ cai trị mọi dân tộc (đối chiếu Thi 2:9) giải thích lý do khiến con rồng muốn nuốt đứa trẻ – nó đã xem các dân các nước như con mồi hợp pháp của mình. Nếu việc con trẻ ấy được tiếp lên tới Đức Chúa Trời và nơi ngôi Ngài nguyên là vì sự an toàn của con trẻ ấy, thì khung cảnh này có đủ sự tương tự với sự thăng thiên chiến thắng của Chúa Giê-xu để có thể cho rằng Ngài thích ứng với khung cảnh này của phân đoạn Kinh Thánh. 6 Dân sự (những người thuộc về) Đức Chúa Trời được bảo vệ an toàn khỏi các mưu mô quỉ quyệt của ma quỉ trong giai đoạn antichrist cai trị điều này phù hợp với lời truyền dạy trong Kh 7:1-7 11:1-2.
7-9 Một cuộc chiến đấu trên trời nguyên có lẽ chỉ về một nỗ lực quấy rối nơi trú ẩn của Hài nhi Cứu Chúa. Người bảo vệ thiên đàng là thiên sứ trưởng Mi-ca-ên, dẫn đầu các đạo binh của Đức Chúa Trời chinh phục ma quỉ và đạo quân của hắn. Nhưng câu 11 được bổ sung đã làm thay đổi hẳn bức tranh ấy. Nguyên nhân đích thực khiến con rồng bị lật đổ là do sự cứu chuộc mà Chúa Cứu Thế đã thực hiện những người thuộc về Ngài cùng chia sẻ chiến thắng đó với Ngài khi họ xưng nhận đức tin của mình trong Phúc Âm và làm chứng cho Phúc Âm bằng lời nói và việc làm của mình. Chiến thắng của các thiên sứ trở thành hình ảnh tượng trưng cho chiến thắng của Chúa Cứu Thế và những người theo Ngài.
Bài ca trong hai câu 10-11 được diễn tả bằng những lời lẽ khác với của các bài ca trong chương 5, đó là chúc mừng chiến thắng của Chiên Con qua sự chết hy sinh và sự phục sinh của Ngài. Và trong phần Kinh Thánh tương đương đặc biệt là Gi 12:31-32 cũng vậy, chuyện Sa-tan bị xua đuổi cũng là do Chúa Giê-xu bị “treo” trên thập tự giá, nhờ đó được “tiếp lên” đến ngôi Đức Chúa Trời. Hình ảnh của câu 9, như câu 10 đã giải thích rõ, cho thấy rằng Sa-tan chẳng còn cơ hội để thực hiện vai trò của mình là vu cáo các thánh đồ trước mặt Đức Chúa Trời (xem Gióp 1 và Xa 3:1-10), vì Chúa Cứu Thế đã bảo đảm cho họ được trắng án và đã hòa giải họ với Đức Chúa Trời qua sự cứu chuộc của Ngài.
13 Bây giờ thì con rồng chuyển sang chú ý người đàn bà (tức là Hội Thánh), sau khi không thắng được Chúa nó (đối chiếu Gi 15:20). 14-16 Về khía cạnh hình tượng của câu chuyện, con rồng là một con quái vật của biển, cho nên việc sống được trong đồng vắng (sa mạc) nằm ngoài khả năng của nó.
Sự giống với Exe 19:4 cho thấy mô hình của lần xuất Ai cập thứ hai: vì Đức Giê-hô-va đã giải thoát dân Y-sơ-ra-ên khỏi tay bạo chúa Pha-ra-ôn, chăm sóc họ trong hoang mạc và đưa họ vào đất hứa, thì Ngài cũng sẽ làm điều tương tự cho tất cả những người thuộc về Ngài trong cơn hoạn nạn mà khi nó chấm dứt thì vương quốc của Ngài sẽ hiển lộ. 15-16 Con rắn phun một con nước lớn đuổi theo người đàn bà, nhưng đất hả miệng nuốt con nước ấy, và nó chẳng có thể làm gì khác nữa. Bức tranh này minh họa sự an toàn thuộc linh của các tín hữu trước tất cả những gì Sa-tan có thể làm để chống lại họ. 18 Con rồng đứng trên bãi cát của biển để gọi một đồng minh từ vực sâu, là nơi ở của riêng nó.
2. Antichrist và tiên tri của nó (Kh 13:1-18)
Với quyết tâm tiêu diệt Hội Thánh, con rồng không chỉ gọi một nguồn trợ giúp, mà đến hai. Con thú thứ nhất ở dưới biển lên (c.1) cho thấy cá tính của nó là một con quái vật biển như chính con rồng vậy, do đó, rất ma quái. Con thú thứ hai từ dưới đất lên (c.11). Sự khác nhau này tương ứng với sự khác nhau giữa Bê-hê-mốt là con quái vật trên đất (Giop 40:15-24) và Lê-vi-a-than là con quái vật dưới biển (Gióp 41) theo văn chương tiên tri và khải thị thì những sinh vật này tiêu biểu cho các thế lực chống đối Đức Chúa Trời (Es 27:1 51:9 Exe 32:1-32). Tương ứng với điểm này, con rồng, con thú ở dưới biển lên và con thú ở dưới đất lên hợp thành một loại bộ ba gian ác (Kh 16:13). Sa-tan tự xưng là Đức Chúa Trời antichrist là chúa cứu thế của Sa-tan, còn con thú ở dưới đất lên thì thi hành chức năng của một thần linh bất khiết. Antichrist thuyết phục thế gian thờ lạy ma quỉ nó bị một vết thương trí mạng nhưng vẫn còn sống (c.3), một cách bắt chước Đấng Cứu Thế của Đức Chúa Trời bằng mưu ma chước quỉ của nó. Con thú thứ hai tìm cách thuyết phục thế gian thờ lạy antichrist qua cách làm chứng bằng lời nói và việc làm của nó, như cách Đức Thánh Linh làm chứng cho Chúa Cứu Thế của Đức Chúa Trời vậy và bằng dấu hiệu của con thú (chính dấu hiệu này cũng được giả mạo là ấn của Đức Chúa Trời), nó đã tạo ra một hội chúng ma quái mô phỏng theo Hội Thánh của Đấng Cứu Thế. Vì vậy, Giăng thường mô tả thế gian này như đã bị chia đôi, một bên là những người theo Chân lý và bên kia là những kẻ theo Sự dối trá.
1-2 Các chi tiết về quái vật biển này được rút ra từ Da 7:1-28, nhưng trong Đa-ni-ên các đặc điểm của con beo, gấu và sư tử được phân chia cho cả bốn đế quốc và các vua của chúng. Còn ở đây, chúng được kết hợp thành một đơn vị thống nhất đáng sợ về quyền lực và sự gian ác: con beo tượng trưng cho sự tàn ác và quỷ quyệt, con gấu là sức mạnh, con sư tử là hung bạo. 3 Một cái trong các cái đầu của nó như bị thương đến chết, nhưng vết thương chết ấy được lành cho thấy một trong các hoàng đế ấy đã chết nhưng rồi sống lại. Vào thời điểm sách Khải Huyền được viết ra, đúng là điều đó đang khẳng định về Nero mặc dù Nero đã tự sát năm 68 S.C. Đa số dư luận tin rằng vua ấy đã sống lại và sẽ trở lại lãnh đạo các thế lực phương Bắc chống lại La Mã. (Xem thêm Kh 17:8,11 và phần ghi chú về đế quốc của antichrist ở cuối phần giải thích về chương 18).
4-7 Thế gian thờ phượng cả ma quỉ lẫn chúa cứu thế giả (pseudo-christ). Nhân vật sau được ban cho cái miệng nói những lời kiêu ngạo phạm thượng (đã được thể hiện rõ trong những lời tự xưng của các hoàng đế La Mã rằng họ là Đức Chúa Trời) và được quyền làm việc trong bốn mươi hai tháng, tức là giai đoạn hoạn nạn (11:2-3 12:14). Ai ban cho hắn quyền đó, cả quyền được phép giao chiến cùng các thánh đồ và được thắng (c.7)? Trong câu 9, chính con rồng đã ban cho quyền đó, nhưng thời lượng bốn mươi hai tháng là do Đức Chúa Trời ấn định. Vậy đến cuối cùng, chính sự cho phép của Đức Chúa Trời sẽ kiểm soát những hành động của antichrist (đối chiếu Da 8:9-14 11:36). Quyền tể trị của Đức Chúa Trời sẽ hiển lộ rõ rệt nhất khi điều ác đạt đến giới hạn của nó như đã được thể hiện rõ trong việc Chúa Giê-xu bị đóng đinh vào thập tự giá. 8 Không ai rõ cụm từ từ buổi sáng thế ám chỉ điều gì nó có thể liên quan đến việc Chiên Con bị giết (như trong các bản AV, RV, và NIV) hoặc đến việc viết tên vào sách sự sống (như trong các bản dịch JB, NASB và NRSV). Cả hai nghĩa đều đúng, về nghĩa thứ nhất, xin đối chiếu IPhi 1:19-20 về nghĩa thứ hai thì đối chiếu Eph 1:4. Vướng mắc này đã được đa số giải quyết bằng cách dựa vào Kh 17:8, câu Kinh Thánh này hầu như có ngôn từ sử dụng giống hệt ở đây, nối kết cụm từ này với việc viết tên vào quyển sách sự sống. Tuy nhiên, thứ tự từ ngữ ở đây lại không ủng hộ cho cách lý giải này, cho nên tốt nhất là giữ theo bản NIV.
10 Bản dịch AV cho rằng cả hai phần của cặp này đều đề cập về những kẻ bách hại Hội Thánh (“Nếu ai bắt người làm phu tù, chính mình sẽ bị làm phu tù…”), cho thấy rằng công lý sẽ được thi hành cho kẻ áp bức. Bản dịch NIV có lẽ đúng hơn. Câu nói này mang âm hưởng của Gie 15:2 và là một lời kêu gọi hãy nhịn nhục và trung tín cho đến chết theo tinh thần của Chúa Giê-xu (đối chiếu Mac 8:34-35).
11 Con thú thứ hai có hai sừng như sừng chiên con, mô phỏng theo đặc tính của Chúa Cứu Thế, nhưng lời nói của nó thuộc ma quỉ (đối chiếu Mat 7:15). Việc con thú này bắt thế gian cùng dân cư nó phải thờ lạy con thú trước gợi ý rằng nó đại diện cho giới thầy tế lễ của đạo thờ cúng hoàng đế và cho các thế lực chính trị ủng hộ nó. Về sau nó được gọi là “tiên tri giả” (Kh 16:13 19:20 20:10). Rất có thể giống như con thứ thứ nhất tượng trưng cho đế quốc chống Cơ Đốc giáo mà hiện thân của nó là nhân vật antichrist, giới thầy tế lễ này được được đại diện bằng một bộ óc tối cao có vai trò điều khiển công tác quỷ quyệt của nó. 13-15 Các thầy tế lễ ngoại đạo vốn chẳng ngần ngại dùng nhiều trò lừa bịp, như tạo ra lửa rồi khiến nó từ trời rơi xuống đất, và làm cho các thần tượng biết nói. Tuy nhiên, nên lưu ý rằng đây là nét đặc trưng tiêu chuẩn trong lời tiên tri của Cơ Đốc giáo rằng việc lừa dối của antichrist là sẽ xảy ra vào kỳ sau rốt (thí dụ, Mat 13:22 IITe 2:9).
16-18 Dấu của con thú trên những người không phải Cơ Đốc nhân cũng tương tự như ấn của Đức Chúa Trời đóng trên các Cơ Đốc nhân (Kh 7:1-8) cả hai dấu này đều chứng cho biết cá nhân ấy đầu phục ai, Đức Chúa hay ma quỉ. Tác dụng trực tiếp của việc đòi hỏi tất cả mọi người đều phải nhận dấu của con thú là những người từ chối dấu ấy sẽ bị tẩy chay về phương diện xã hội, và điều này đưa đến việc chính quyền tiến hành những cuộc chiến tranh kinh tế chống lại Hội Thánh, cùng với cái chết của những người không chịu đồng mưu với họ.
Dấu ấy được mô tả là danh con thú hay số của tên nó. Nhiều cổ ngữ không có chữ số riêng mà phải dùng các mẫu tự của bảng chữ cái để thay thế (a=1, b=2, c=3 và v.v…). Dựa theo điều này, tên gọi của một người có thể sẽ được tượng trưng bằng con số có được thông qua việc cộng chung các trị số của những mẫu tự cấu thành tên gọi ấy. Thí dụ, trên một bức tường cổ tại Pompeii có dòng chữ là, “Ta yêu nàng có tên là 545”. Rõ ràng là người thiếu nữ ấy đã biết đó là tên gọi đó của ai! Cho nên mặc dù con số 666 sẽ cho ra nhiều khả năng, hầu như chắc chắn rằng nhân vật mà nó ám chỉ đều được tất cả mọi người trong các Hội Thánh mà Giăng gởi thư này cho biết rõ, và có thể còn nhiều người khác cũng biết nữa. Tên Nero Caesar (hoàng đế Sê-sa) được chuyển tự sang tiếng Hi Bá Lai từ tiếng Hy Lạp tương đương với con số 666. Nếu chuyển từ tiếng La tinh sang tiếng Hi Bá Lai thì nó cho con số 616, mà người ta đã đọc thấy trong một số cổ bản xưa nhất của sách Khải Huyền. Con số này chắc đã được lấy từ những cuộn sách khải huyền mà đã dùng ngôn ngữ Hi Bá Lai (ngôn ngữ của Cựu Ước). Với các Cơ Đốc nhân, rõ ràng 666 là một con số phù hợp với antichrist nó nói lên một tình trạng luôn kém thiếu so với sự toàn thiện toàn mỹ của Đức Chúa Trời được gợi ý bằng con số 777, trong khi tên Giê-xu trong Hi văn có tổng số là 888! Tại đây tồn tại một khía cạnh khác nhau giữa chúa cứu thế của ma quỉ và Chúa Cứu Thế của Đức Chúa Trời: chúa cứu thế giả (pseudo-christ) thiếu kém quá nhiều tiêu chuẩn của một Đấng giải cứu thế gian, còn Chúa Cứu Thế của Đức Chúa Trời thì vượt trỗi mọi hy vọng của loài người về một Cứu Chúa.
3. Những lời sấm về Nước Trời và sự phán xét (Kh 14:1-20)
Bản dịch NIV với bản dịch NEB chia chương này ra thành bảy lời sấm (tiên tri) ngắn: câu 1-5 là một khải tượng về những tín hữu tận trung trong Nước của Chúa Cứu Thế câu 6-7 là công tác truyền giảng Phúc Âm trong giai đoạn hoạn nạn câu 8 là một lời công bố về số phận của “Ba-by-lôn” câu 9-12 là lời cảnh cáo liên quan đến việc nhận dấu của con thú câu 13 là lời chúc phước cho những người chết “trong Chúa” câu 14-20 là hai khải tượng về cơn phán xét, một dùng hình ảnh tượng trưng về việc gặt lúa (14-16) và khải tượng kia là hình ảnh về mùa hái nho (17-20).
(Kh 14:1-5) 144.000 người trên núi Si-ôn Chủ đích của khải tượng này là nhằm khích lệ các Cơ Đốc nhân trước khi đọc phần ký thuật về thời trị vì của antichrist trong hai chương 12-13.
1 Lý lịch của 144.000 người này đã được xác định bởi Kh 7:1-8 và 5:9-10. Chắc Giăng không có ý giới thiệu về hai nhóm người khác nhau bằng một con số tượng trưng bất thường như thế, nhất là khi ở cả hai trường hợp ông đều tuyên bố rằng họ có dấu hiệu của Đức Chúa Trời trên trán (7:3-4). Đoàn người đông vô số đã được xác định là những người đã được chuộc khỏi đất (c.3), mang âm hưởng của phần mô tả về Hội Thánh ở 5:9. Họ đứng tại trên núi Si-ôn, nghĩa là trong thành Giê-ru-sa-lem trên trời (21:9-27). Điểm này cũng phù hợp với bài ca cảm tạ trong 5:9-10, nhưng nó thể hiện một sự tiến triển của hình ảnh trước đó về 144.000 người (7:1-8), khi đám người đông vô số này hãy còn ở dưới đất, tuy sau đó họ đã được nhìn thấy ở trên trời nhưng vẫn chưa có được những đặc quyền cai trị (7:9-17). Danh ghi trên trán họ giải thích bản chất của “dấu ấn” được đề cập ở 7:1-8 đó là danh của Cha Chiên Con (tương phản với tên hay số của con thú trên tay hay trên trán những kẻ theo nó!). 3 Các đạo quân thiên sứ trong 5:9 hát một bài ca mới, nhưng chỉ có 144.000 người biết được bài ca này điều này đề cập về kinh nghiệm cứu chuộc, điều mà chỉ những những tội nhân được cứu rỗi mới có thể biết được. 4,5 Phần mô tả này về đám đông vô số gồm những người được cứu cũng mang tính miêu tả như con số của họ vậy. Họ được xem như những người nam chưa bị ô uế với đàn bà, rất hữu lý là vì họ là những chiến binh của Chiên Con đang tại ngũ (đối chiếu các quy tắc trong Kinh Thánh Cựu Ước liên quan đến cuộc thánh chiến, đề cập việc kiêng cữ việc quan hệ tình dục: Phu 20:1-9 23:9-14 ISa 21:4-5 IISa 11:6-13). Hình ảnh tượng trưng này có thể gồm cả sự kiêng khem việc “phạm tội tà dâm” với con dâm phụ Ba-by-lôn (đối chiếu câu 8).
(Kh 14:6-20) Ngày thạnh nộ Những lời sấm nối tiếp nhau này được hợp thành một bằng cách sử dụng sáu vị thiên sứ, loan báo cơn thạnh nộ và thi hành nó. Cũng như những câu 1-5, điều này nhằm giúp cho các Cơ Đốc nhân có tinh thần vững vàng, khải tượng đầu miêu tả việc báo trả điều thiện, còn khải tượng sau miêu tả việc báo trả điều ác.
6-7 Một lời cảnh cáo cuối cùng được rao báo cho nhân loại vô tín. Mọi dân mọi nước đều được kêu gọi hãy ăn năn và thờ phượng Đức Chúa Trời. Thông điệp này được gọi là Phúc Âm đời đời, bởi vì phước hạnh đời đời của Phúc Âm vẫn còn dành cho những người chịu đáp ứng. Xin lưu ý rằng hình ảnh vị thiên sứ đang rao giảng Phúc Âm là một phần hình ảnh mang tính tượng trưng của lời tiên tri, từ ngữ “thiên sứ” có nghĩa là “sứ giả”, và các sứ giả này đều bằng xương bằng thịt.
8 Sự sụp đổ của Ba-by-lôn được kể lại khá dài ở hai chương 17-18. Tên gọi này đã được ứng dụng cho Rô-ma trong IPhi 5:13 và trong nhiều văn bản khác, các bản văn ngoại Kinh Thánh.
9-13 Lời cảnh báo này bổ sung cho sự truyền giảng về Phúc Âm đời đời trong câu 6-7. Những kẻ theo con thú sẽ uống ruợu thạnh nộ không pha của Đức Chúa Trời. Bản Kinh Thánh Hy lạp đã mô tả rượu này là “nguyên chất được trộn vào”, tức là trộn vào thứ rượu mạnh mà chưa từng được làm dịu đi (về ý nghĩa tượng trưng, Thi 75:8 Es 51:17-23). Biểu tượng lửa và diêm chỉ sự phán xét đưa chúng ta trở lại với việc thành Sô-đôm bị phá đổ trong Sa 19:24-25 (đối chiếu Es 34:8-10). 12 Lời kêu gọi các thánh đồ hãy tỏ ra nhịn nhục được thôi thúc thêm qua việc chiêm nghiệm về số phận của những kẻ thờ lạy con thú cũng như cho biết rằng nhiều Cơ Đốc nhân sẽ được kêu gọi phải chịu tù đày và phải chết (Kh 13:10). 13 Phước hạnh dành cho những người chết trong Chúa cũng nhằm mục tiêu tương tự. Nếu cụm từ từ rày chỉ về một thời điểm, thì nó chính là “bây giờ” của việc cứu chuộc của Chúa Cứu Thế (đối chiếu 12:10). Có một cách dịch khác là “chắc chắn” trong trường hợp này, câu nói ở đây chỉ mang tính chất nhấn mạnh mà thôi – “Chắc chắn là những người chết trong Chúa sẽ được phước”.
14-20 Người ta thường lý giải rằng câu 14-16 mô tả việc Chúa Cứu Thế tập họp Hội Thánh vào thời điểm Ngài tái lâm, còn câu 18-20 mô tả thế giới vô tín được tập trung lại để chịu phán xét, đặt biệt là trước hiện diện của một kẻ giống như một con người trong câu 14 (đối chiếu 1:13). Nhưng dường như hơi lạ là Chúa Cứu Thế lại theo lệnh truyền của một vị thiên sứ, hiện ra trong vinh hiển và thi hành công tác cứu rỗi của Ngài. Có thể là “kẻ giống như một con người” này là một nhân vật của thiên đàng đang chia sẻ một phần nào sự vinh hiển của Chúa Cứu Thế, giống như vị thiên sứ mạnh mẽ của 10:1 vậy. Việc thu gặt lúa mì và hái nho thể hiện cho một hành động phán xét mang tính toàn bộ, như trong Gio 3:13, là cơ sở của hai lời tiên tri này. Về vấn đề thế gian bị gặt bằng dụng cụ của các thiên sứ, đối chiếu Mat 13:41-42.
Vị thiên sứ thứ sáu có quyền cai trị lửa và từ bàn thờ đi ra câu này được kết nối với Kh 6:9-11 8:1-5 9:13 16:7. Một lần nữa, điều này minh họa cho mối liên hệ giữa sự hi sinh và lời cầu nguyện của các thánh đồ Đức Chúa Trời với sự đến của vương quốc Đức Chúa Trời. Hình ảnh về sự phán xét của Đức Chúa Trời qua việc dẫm đạp những quả nho đưa chúng ta trở lại với Es 63:1-6. Nó cũng mang tính tượng trưng như hình ảnh về kích thước của dòng máu từ thùng rượu nho chảy ra, và là hình ảnh tiêu biểu trong cách nói phóng đại này, rồi có huyết ở thùng chảy ra, huyết đó lên đến chỗ khớp ngựa (c.20).
Sách 1 Enoch 100 kể về trận chiến trong những ngày sau rốt, khi cha con, anh em đánh giết lẫn nhau “đến nỗi máu họ chảy thành sông . . . và ngựa sẽ phải bước trong máu tội nhân ngập đến ngực, còn chiến xa sẽ bị nhận chìm “. Người Do Thái cũng mô tả tương tự về cảnh họ đã bị người La Mã tàn sát vào thời Hoàng đế Hadrian. “Chúng liên tục giết dân sự (của Bether), cho đến khi ngựa bị chìm ngập trong máu cho đến mũi. Và máu chảy tràn ra biển đến bốn dặm. Tuy nhiên, nếu cho rằng Betha nằm gần biển, hẳn bạn không biết rằng nó nằm cách xa biển đến bốn mươi dặm phải không ?” Lời tiên tri của Giăng vốn là một lời tuyên bố mang tính đặc trưng của sách Khải Huyền, mô tả về sự phán xét khi Chúa Cứu Thế sẽ hiện ra, và nó phải được lý giải căn cứ trên bản chất của sự khải thị.
10. BẢY BÁT THẠNH NỘ (Kh 15:1-16:21)
Sau khi kết thúc phần giải thích dài từ chương 12-14, Giăng trở lại chủ đề về những cơn phán xét của Đấng Mết-si-a vào kỳ sau rốt. Như với bảy dấu ấn và bảy tiếng kèn, số bảy vẫn được giữ lại, nhưng theo cách lý giải của các dịch giả thì Giăng đã liên tiếp phá hỏng ý nghĩa hình tượng khi đề cập đến những bát thạnh nộ (trong Kh 15:7 và xuyên suốt chương 16). Danh từ Hi văn đang được bàn đến thường được dùng để chỉ chén bát gia dụng (có lẽ trong 5:8 cũng vậy), nhưng nó cũng có thể được dùng chỉ chiếc bát để uống rượu (cụ thể như trong Ch 23:31). “Bát thạnh nộ” của Đức Chúa Trời mà Kinh Thánh Cựu ước thường dùng làm hình ảnh chỉ về sự đoán phạt của Đức Chúa Trời có thể đã định rõ ý nghĩa của nó ở phần này (nhiều trường hợp tương tự, Gie 25:15 49:12 Exe 23:31-32 Ha 2:15). Es 51:17,22 có tầm quan trọng đặc biệt , liên quan đến “bát nhỏ” hay “cốc nhỏ có chân” thạnh nộ. (Phần đông các dịch giả đã nhầm lẫn khi dịch “cốc nhỏ có chân” là “bát”). Vì chính Giăng đã dùng ý nghĩa tượng trưng của việc uống chén thạnh nộ của Đức Chúa Trời ở Kh 14:10 và 16:19, nên có vẻ như hình ảnh đó cũng chi phối cả cách trình bày về những cơn phán xét ở chương 15-16.
Những chiếc bát này được cho biết là nguyên nhân gây ra bảy tai nạn sau cùng (c.1). Điều này thường được kết nối với sự kiện chẳng mô tả gì về cơn phán xét của tiếng kèn thứ bảy, tuy nó báo hiệu hồi tận thế (11:15) vì thế, điều này cho thấy rằng những cơn phán xét trút xuống từ những chiếc bát xảy ra sau khi tiếng kèn cuối cùng được thổi lên. Đây là điều có thể tưởng tượng được, nhưng lại khó có thể xảy ra. Nội dung của các bát thạnh nộ rất giống với của bảy tiếng kèn trong hầu hết các trường hợp, sự khác nhau nằm ở chỗ các tai nạn của các bác thạnh nộ đã mở rộng hơn phạm vi của các tai nạn thuộc bảy tiếng kèn. Thí dụ, hai bát thứ hai và thứ ba cho thấy các tai họa của tiếng kèn thứ hai và thứ ba đã được gia tăng về phạm vi (8:8-11 16:3-4) giống như cơn động đất tiếp sau tiếng kèn thứ bảy dường như cũng là cơn động đất của bát thứ bảy, chỉ có điều đã được mô tả đầy đủ hơn (11:19 16:17-20). Những điểm tương tự giữa tiếng kèn thứ tư và bát thứ tư thật rõ rệt (8:12 16:8), tiếng kèn thứ năm và thứ sáu và bát thứ năm và thứ sáu cũng vậy (9:1-21 16:10-16). Do vậy, những cuộc phán xét từ các bát thạnh nộ dường như đã trình bày một mặc khải đầy đủ hơn về những điều đã được bày tỏ trong những cơn phán xét xảy ra lúc tiếng kèn được thổi lên, cùng với những đặc trưng mới.
Bài ca của những người chiến thắng bên cạnh biển pha lê (c.3-4) tán dương sự ăn năn quy đạo của các dân tộc lúc những “sự hành động đoán xét công bình Đức Chúa Trời hoàn tất (c.4). Do đó, khải tượng này bày tỏ sự hoan hỉ trước tác động của các tai hoạ cuối cùng, chứ không phải báo trước sự xảy đến của chúng. Điều này thể hiện sự trông đợi và được dùng để nhấn mạnh lời tuyên bố ở câu 1: các tai nạn này làm hết cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời.
Một đặc trưng nữa về những tai họa của các bát thạnh nộ được đề cập, đó là chúng giống nhau cách lạ lùng với những tai vạ của lần xuất Ai Cập. Điều này đã được ghi nhận trong các cơn phán xét của bốn tiếng kèn đầu tiên (8:7-12), nhưng ở những loạt tai họa này thì chúng rõ ràng hơn, trong đó tất cả các cơn phán xét của các bát thạnh nộ đều phản ảnh các tai vạ tại Ai Cập, và kết quả của chúng được ca tụng trong “bài ca Môi-se . . . và bài ca Chiên Con”, được hát lên bên bờ “Biển đỏ” trên trời (15:3-4). Mọi điều của lần xuất Ai Cập này đều vĩ đại hơn những gì đã xảy ra trong lần xuất Ai Cập thứ nhất, dù giống nhau về những cơn phán xét và các phước hạnh, nhưng điều đó phù hợp với sứ mạng của Chúa Cứu Thế là làm ứng nghiệm những lời hứa của Đức Chúa Trời về giao ước cũ.
1. Giới thiệu về các bát phán xét (Kh 15:1-8)
2 Biển bằng pha-lê đã được đề cập ở 4:6, được pha lộn với lửa, báo hiệu cơn thạnh nộ sắp giáng xuống từ trời (đối chiếu 8:5). Nhưng những kẻ đã thắng con thú đứng cạnh đó bên Đức Chúa Trời, như dân Y-sơ-ra-ên từng đứng bên bờ Biển Đỏ và hát bài ca giải phóng của họ vậy (Xu 15:1-18). 3-4 Bài ca Môi-se… và bài ca Chiên Con là một, vì khuôn mẫu của sự cứu chuộc của lần xuất Ai Cập thứ nhất đã được ứng nghiệm và hoàn tất trong lần xuất Ai Cập thứ hai. Mỗi dòng của bài ca đều gợi nhớ về các sách tiên tri và các Thi Thiên. Công việc Chúa lớn lao và lạ lùng thay, đối chiếu Thi 98:1 111:2 139:14. Đường lối Ngài là công bình và chân thật, đối chiếu Phu 32:3 Thi 145:17. Mọi dân tộc sẽ đến, đối chiếu 86:9. Các sự đoán xét (công bình của) Ngài đã được tỏ ra, đối chiếu 98:2 Es 26:9. Khải tượng này nổi bật trong bối cảnh của nó, và là một lời nhắc nhở rằng thành công của antichrist chẳng đáng gì so với những hình ảnh về những cơn phán xét của Đấng Mết-si-a.
5 Đền tạm chứng cớ là tên gọi đền tạm trong hoang mạc (Dan 9:15), vì trong đó có hòm giao ước đựng các bảng đá giao ước. Vì về sau hòm giao ước được giữ trong đền thờ, nên chính đền thờ đôi khi cũng được gọi là đền tạm (Thi 84:1-2). Nhóm từ đền tạm chứng cớ ở đây nhấn mạnh rằng những cơn phán xét sắp giáng xuống bày tỏ về đức công chính của Đức Chúa Trời. 6-9 Khi bảy vị thiên sứ được ban cho bảy cái bát bằng vàng đựng đầy sự thạnh nộ của Đức Chúa Trời … đền thờ bèn đầy những khói vì cớ sự vinh hiển và oai quyền của Đức Chúa Trời … (c.8) về những dịp có các hiện tượng tương tự, (Xu 40:35 IISu 7:2-3 Es 6:4 Exe 10:4 44:4). Sự “ biểu dương lực lượng” như thế thường nói lên sự hiện diện của Đức Chúa Trời, còn trong văn cảnh này, điều đó cho thấy rằng chính Đức Chúa Trời sẽ thực thi các cuộc phán xét để vương quốc của Ngài được đến. Các thiên sứ chỉ là công cụ của Ngài mà thôi.
2. Mô tả về các bát phán xét (Kh 16:1-21)
1 Bởi vì chẳng ai có thể vào được đền thờ cho đến khi các bát phán xét đã được hoàn tất (Kh 15:8), nên tiếng lớn từ trong đền thờ phải là của tiếng Đức Chúa Trời. 2 Cơn phán xét của bát thứ nhất lặp lại tai vạ tại Ai Cập về ghẻ chốc cương mủ gây đau đớn (Xu 9:10-11). 3-7 Việc biến biển và các nguồn nước ngọt thành ra máu, giống như các tai họa của tiếng kèn thứ hai và thứ ba (Kh 8:8-11), làm cho một tai vạ tại Ai Cập được chia ra làm hai (Xu 7:19-21). Câu nói của vị thiên sứ trong hai câu 5-6 có cùng tư tưởng với Kh 11:5-14 sách Sự Khôn Ngoan của Sa-lô-môn, nhưng lại thích ứng với antichrist và các tay sai của nó vì đã làm đổ máu các thánh đồ và các tiên tri. Bàn thờ lại xuất hiện trong cuộc phán xét này (đối chiếu 6:10 8:3-5). Lưu ý sự vắng mặt của cụm từ “Đấng sẽ còn đến” ở dòng thứ hai của bài ca này (cũng như ở 11:17) vì chính Đức Chúa Trời đang hành động trong các cơn phán xét này, mà kết quả của nó là sự thành lập của vương quốc Ngài, nên thật không thích hợp nếu nói về sự đến của Ngài trong tương lai.
8-11 Một lần nữa, một tai vạ của Ai Cập (về sự tối tăm, Xu 10:21) được phân cho hai bát phán xét. Vị thiên sứ đổ bát thứ tư trên mặt trời làm tăng sức nóng của nó nhưng không làm tắt ánh sáng, nhưng bát thứ năm được đổ trên ngôi con thú và điều này đã tạo ra sự tối tăm. Rất có thể rằng sự đau đớn của tai họa này là do những con cào cào ma quái của tiếng kèn thứ năm đã tra tấn hành hạ những kẻ theo con thú (Kh 9:1-6). Cách lý giải này phù hợp với mối liên hệ giữa tiếng kèn và các bát thạnh nộ đã được phác họa trong phần dẫn nhập của chương 15-16.
12-16 Bát thứ sáu, cũng giống như tiếng kèn phán xét thứ sáu, làm ảnh hưởng sông cái Ơ-phơ-rát (đối chiếu 9:13-16), nhưng trong khi tiếng kèn thứ sáu khiến nhiều đạo binh ma quái xuất hiện thì bát thứ sáu lại chuẩn bị cho cuộc xâm lăng đế quốc của các vua từ Đông phương đến. Các vua này được mô tả đầy đủ hơn trong 17:12-13, tự hạ mình đầu phục antichrist (17:17), cướp phá thành phố của con dâm phụ (17:16) và tiến hành chiến tranh chống lại Chiên Con (17:14). Họ làm những việc này là do sự thôi thúc của ba tà thần giống như ếch nhái ra từ miệng của con rồng, con thú và tiên tri giả. Vào thời cổ đại, cóc nhái bị xem là sinh vật bẩn thỉu, đôi khi còn bị xem như tay sai của các thế lực gian ác nữa. Ở đây, nhiệm vụ của chúng, cũng giống như của tà thần nói dối trong câu chuyện về vua A-háp (IVua 22:19-23), là phải thuyết phục những nhà cai trị của thế gian này liên minh lại với nhau trong trận đánh cuối cùng để chống lại Đức Chúa Trời, tại một chỗ theo tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Ha-ma-ghê-đôn. Ý nghĩa của tên gọi này còn là một ẩn số. Nó là từ chuyển tự Hi lạp của từ Har-Megiddo tiếng Hi Bá Lai, với ý nghĩa là “núi của Megiddo”, nhưng thành phố này lại tọa lạc ở đồng bằng Ếch-ta-lôn của xứ Y-sơ-ra-ên và không có núi (núi gần nhất là Cạt-mên ở hướng Bắc). Cũng giống như con số 666, tên gọi này có một lịch sử về truyền thuyết khải huyền, nhưng chúng ta không nắm được bí mật của nó. Với Giăng thì tên gọi này chỉ về một biến cố hơn là một địa điểm, là cuộc dấy lên cuối cùng của kẻ ác chống lại Đức Chúa Trời mà kết quả của nó là sự thành lập của vương quốc Ngài.
17-21 Bát thứ bảy được đổ vào trong không khí, cho thấy một điều gì đó thậm chí còn đáng kinh hoàng hơn những tai nạn mà những lần phán xét trước đem đến nó có nghĩa là đòn cuối cùng đánh vào những thế lực gian ác, do đó có tiếng lớn trong đền thờ vang ra (tiếng của Đức Chúa Trời chăng?) tuyên bố rằng: “Xong rồi!”. Chúng ta không thể làm gì khác ngoài việc nghĩ về tiếng kêu lớn của Chúa Giê-xu từ thập tự giá: “Xong rồi” (Gi 19:30) và lời tuyên bố khi chủ đích của Đức Chúa Trời về công trình sáng tạo mới đã hoàn thành: “Xong rồi” (Kh 21:6). Cũng như trong 8:5 và 11:19, chớp nhoáng, tiếng rầm, sấm vang v.v… ám chỉ cảnh tượng chấm dứt cuộc phán xét và giới thiệu vương quốc vinh hiển của Ngài. Mặc dù động đất vốn là một yếu tố chỉ về sự giáng lâm của Đức Chúa Trời (Es 13:13 Ag 2:6-7 Xa 14:4-5), nhưng cơn động đất này lại không thuộc trường hợp đó, vì nó phá hủy hoàn toàn thành phố lớn và các thành của các dân ngoại. Hình ảnh mọi đảo ẩn trốn, các núi chẳng còn thấy nữa tiêu biểu cho phản ứng của tạo vật trước vinh quang của Đức Chúa Trời khi Ngài hiện đến (đối chiếu Kh 6:12-14). Cuộc phán xét sau cùng là do những cục mưa đá lớn tạo ra (đối chiếu các tai vạ tại Ai Cập, Xu 9:24 các đạo quân tháo chạy bị Giô-suê rượt đuổi theo, Gios 10:11 và số phận các đạo quân của Gót, Exe 38:22). Tất cả những điều mô tả như thế đều bị biến cố này che mờ, nhưng nó vẫn không đưa được người ta đến chỗ ăn năn.
Phần giải thích đầy đủ hơn về những điều hai bát phán xét cuối cùng đưa đến được trình bày ở các chương 17-19.
11. THỜI KỲ CAI TRỊ VÀ SỤP ĐỔ THÀNH PHỐ CỦA ANTICHRIST (Kh 17:1-19:10)
Phần này mở rộng khải tượng về sự phán xét của bảy bát thạnh nộ, mà đã được mô tả vắn tắt ở Kh 16:17-21. Điều quan trọng cần lưu ý là phần này không mô tả những gì xảy ra sau cuộc phán xét, vì lúc đó đã là tận thế rồi (16:17). Thay vào đó, phân đoạn này kể về chuyện “Ba-by-lôn” bị bắt uống cạn chiếc chén đã được định sẵn cho mình ra sao (16:19).
Những hình ảnh được nói đến trong chương 17 thay đổi theo hình thức hết sức phức tạp. Ở chương 12 con rồng bảy đầu và mười sừng được cho biết là biểu tượng của ma quỉ (c.9), còn trong chương 13, nó là hiện thân của ác thần (tà linh), tức là antichrist. Trong chương 17 con thú hậu thuẫn cho một người đàn bà ngồi trên lưng nó người đàn bà ấy được tuyên bố là thành phố của antichrist (c.18), và con thú rõ ràng là đế quốc đang bảo vệ người đàn bà. Cách dùng tượng trưng này là điều có thể hiểu được, vì theo người Akkadian hình thức của trận chiến giữa con quái vật biển với các vị thần của cõi trời thì con quái vật đó là giống cái. Người đàn bà và con thú là cách nói khác nhau chỉ về một thế lực duy nhất của điều ác. Nhưng trái lại , trong câu 11 con thú lại là một vì vua, mang trong mình bản chất của cả đế quốc. Điều này phù hợp với cách đồng nhất nhà vua với vương quốc của họ mà ta thường gặp trong các sách khải thị (đặc biệt, Da 2:38-44 7:2-8,15-26). Bức chân dung về người đàn bà đại diện cho thành phố của Antichrist trong chương này tương phản hoàn toàn với phần mô tả về người phụ nữ đại diện cho thành phố của Đức Chúa Trời trong chương 19 và 21 – 2 2. Thí dụ người phụ nữ trước được mô tả là mẹ kẻ tà dâm (c.5), người sau được mô tả là “cô dâu trinh trắng, “vợ của Chiên Con” (Kh 19:7 21:9). Ba-by-lôn đã uống máu của các thánh đồ, và rượu của nó đem chết chóc đến cho thế gian (c.6 19:2) cô dâu đem nước hằng sống đến cho thế gian (22:17) và làm chứng về sự cứu chuộc của vương quốc đời đời của Đức Chúa Trời (21:6-22:5). Kết cuộc của Ba-by-lôn là sự hủy diệt đời đời (19:3) thành phố của cô dâu mới là tâm điểm của công trình sáng tạo mới (21:1-5). Khải Huyền thường được mô tả rất hay là “Câu chuyện thần tiên về hai thành phố”!
1. Một khải tượng về Ba-by-lôn và vinh quang của nó (Kh 17:1-6)
1-2 Những lời vị thiên sứ nói với Giăng có thể làm thành một nhan đề thích hợp cho toàn phân đoạn 17:1-19:10 Sự phán xét (trừng phạt) con đại dâm phụ. Thành phố Ty-rơ từng bị Ê-sai gọi là một kỵ nữ (Es 23:15-17), Giê-ru-sa-lem (1:21 Gie 3:1-25) và Ni-ni-ve (Na 3:4-5) cũng vậy. Phần sau của câu 2 ngụ ý về lời của Giê-rê-mi chỉ về Ba-by-lôn “Hỡi thành giàu có của báu, ở trên nhiều dòng nước kia” (Gie 51:13). Sông Ơ-phơ-rát chảy qua thành phố này, nơi cũng có nhiều con kênh đào, và duy trì một hệ thống thuỷ lợi mang lại sự giàu có. Từ câu 9 trở đi, rõ ràng trước giả đang đề cập đến thành Rô-ma nó trở thành một “Ba-by-lôn” mới, đàn áp người thuộc về Đức Chúa Trời và làm băng hoại cả trái đất. 3 Trong câu 1 “con dâm phụ” ngồi trên nhiều dòng nước, nhưng ở đây nó lại cỡi trên con thú trong một đồng vắng, hình ảnh trái ngược nhau này được giải thích bằng cách liên hệ đồng vắng là nơi cư trú của ma quỉ (đối chiếu Lu 11:24). Con thú có sắc đỏ sậm, giống con rồng, tức là ma quỉ (Kh 12:3). Mình mang đầy những tên gọi phạm thượng, chủ yếu ám chỉ về lời các hoàng đế La Mã tuyên xưng mình là thần. 4 Sự xa hoa và bại hoại luân lý của thành phố này đã được trình bày cách sống động ở đây, một lần nữa nhờ sự trợ giúp của những đặc điểm mà Giê-rê-mi mô tả về Ba-by-lôn (Gie 51:7). 5 Tên ghi trên trán con dâm phụ ám chỉ tập tục tại của các gái điếm Rô-ma, đó là tên họ được ghi trên mảnh vải buộc ở đầu mà phụ nữ Rô-ma vẫn thường dùng. Tước hiệu SỰ MẦU NHIỆM biểu thị rằng tên gọi này chỉ mang tính tượng trưng (đối chiếu Kh 11:8). Danh hiệu này cho thấy rằng đặc điểm của thành phố bạo tàn này là cũng có cùng bản tính với những những thành phố mà các nhà tiên tri đời xưa đã từng công kích kịch liệt. 6 Người đàn bà đó say huyết các thánh đồ, nhất là qua cuộc bắt bớ bách hại tàn bạo không lời lẽ nào tả xiết dưới thời Nero, nhưng cũng dự báo về cuộc chiến của antichrist chống lại Hội Thánh nữa.
2. Khải tượng được lý giải: số phận của Ba-by-lôn (Kh 17:7-18)
Để giải thích khải tượng ở câu 1-6, thì câu 8 là tối quan trọng. “Con thú” mà người đàn bà “cưỡi” rõ ràng là đế quốc có thành phố của antichrist, nhưng có vẻ ngôn từ của nó lại đề cập về một cá nhân mà trước có, mà bây giờ không còn nữa, và sẽ từ dưới vực lên (đối chiếu Kh 11:17). Thật ra cách mô tả này áp dụng cho đế quốc lẫn người cai trị đế quốc ấy. Thần thoại xưa về việc chinh phục con quái vật nguyên thủy của biển một mặt nói lên bản chất của các thế lực chính trị đàn áp những người thuộc về Đức Chúa Trời (vì thế cũng là chống lại Đức Chúa Trời), và mặt khác là thất bại rõ ràng của chúng bởi tay của Đức Chúa Trời. Ở một vài phiên bản thì cho biết con quái vật bị giết, còn ở một số khác thì nó chỉ bị chế phục mà thôi. Cách thức đầu được tìm thấy trong trong Es 51:9-10 và được áp dụng cho sự thất bại của Ai Cập lúc dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ, cách thức sau xuất hiện trong 30:7 cho thấy sự bất năng của Ai Cập trong việc trợ giúp cho Y-sơ-ra-ên. Khi áp dụng điều này cho các thời kỳ sau rốt, có thể nói rằng con quái vật từ vực sâu lên vốn đã có, đã bị đánh bại và trở thành bất năng, nên không còn nữa, nhưng rồi nó sẽ từ dưới vực lên và như thế quyền năng của Sa-tan sẽ được bày tỏ trong một thế lực chính trị khác do một người cai trị gian ác khác cầm đầu. Vào thời của Giăng, có một hoàn cảnh đặc biệt đã khiến cho ý niệm này trở nên mạnh mẽ khác thường. Lúc Nero băng, tin tức này giống như một tin tốt lành đến khó tin. Có tiếng đồn rằng hoàng đế vẫn còn sống và sẽ trở về lãnh đạo một quân đoàn tấn công Rô-ma. Nhiều năm trôi qua, người ta mới nhận ra rằng ông ta đã chết thật, nhưng có nỗi lo sợ vẫn lan tràn rằng ông sẽ sống lại. Cho nên bằng những hình ảnh tượng trưng chân thật của khải huyền, Giăng đã kết hợp cả hai khả năng đó lại để diễn tả cái thực tại đáng ghê tởm của thành phố vô đạo và kẻ cai trị bất kính của nó, cả hai đều có bản chất của hỏa ngục và đều là công cụ của ma quỷ. (Về chủ đề này, xem thêm phần ghi chú về đế quốc của antichrist ở cuối phần giải nghĩa chương 18).
9-11 Cách ứng dụng kép hình ảnh này được diễn tả trong câu 9, nhưng với một cách nhận diện cụ thể: bảy cái đầu của con thú là bảy hòn núi mà người đàn bà ngồi lên, có nghĩa là thành phố Rô-ma, mà mọi người thường quen gọi là “thành phố của bảy ngọn đồi”. Rô-ma đang giữ vai trò “Mẹ kẻ tà dâm”. Nhưng bảy ngọn núi ấy cũng tiêu biểu cho bảy vì vua. Dù theo các tác giả khác con số bảy có một ý nghĩa nào đó, thì với Giăng nó vẫn là biểu tượng của sự trọn vẹn, đầy đủ. Vì thế, năm vì trước đã đổ có nghĩa là phần lớn đã hiện diện rồi qua đi một vì hiện có ám chỉ người hiện đang cai trị một vì nữa (tức là vị thứ bảy) chưa đến, nhưng khi vị ấy đến thì cũng chẳng còn được bao lâu, đó là lẽ tự nhiên, bởi vì “thì giờ đã gần rồi” (Kh 1:3). Sau khi vua này qua đi thì con thú sẽ tự xuất đầu lộ diện với tất cả thú tính của nó được thể hiện qua vì vua thứ tám, hắn vốn không phải là kẻ mới đến, vì hắn đã từng là một trong số bảy vì vua, tức là Nero, mọi người không nên sợ hắn nữa, vì nó sẽ (đang) đi đến chỗ hư mất, cũng như mọi quái vật chống lại Đức Chúa Trời đều đã bị định phải đến đó vậy.
12-14 Mười cái sừng, giống như trong Da 7:7, được lý giải là mười vì vua. Trong khải tượng của Đa-ni-ên, những vua này đến trước thế lực chống lại Đức Chúa Trời (một số đã bị thế lực này lật đổ 7:24), nhưng trong khải tượng của Giăng thì những vua này liều mình với antichrist, họ là những người cai trị các nước chư hầu hoặc là các quan đầu tỉnh. Nhưng họ chưa nhận được nước mình, và khi nhận được thì họ sẽ nhận quyền cai trị ấy cùng với con thú trong một giờ. Thời gian họ được phép tung hoành thật là ngắn ngủi! Cuộc chiến tranh cùng Chiên Con của họ là vô ích, vì Ngài là Chúa của các chúa và là Vua của các vua – kể cả các vua của antichrist, và những kẻ được kêu gọi, những kẻ được chọn cùng những kẻ trung tín theo Chiên Con đều sẽ cùng chia sẻ chiến thắng với Ngài (tham khảo những lời hứa dành cho kẻ thắng ở chương 2-3).
15-18 Trong lời tiên tri của Giê-rê-mi những dòng nước của Ba-by-lôn đã được hiểu theo nghĩa đen (Gie 51:13 xem chú thích ở câu 1), còn ở đây Giăng xem chúng như hình bóng thích hợp chỉ về người dân thuộc dưới quyền cai trị của thành phố antichrist này. Antichrist sắp trở lại này cùng với các đồng minh của nó sẽ ghét dâm phụ và sẽ bóc lột cho nó loã lồ (ngôn từ của câu 16 được rút ra từ phần mô tả của Ê-xê-chi-ên về sự trừng phạt dân Y-sơ-ra-ên Exe 23:25-29). Việc tại sao kẻ cai trị antichrist này lại trở mặt chống lại thành phố của antichrist không có lời giải thích. Câu chuyện phổ biến về Nero thể hiện ao ước rằng vị hoàng đế ấy sẽ nổi lên đánh chiếm cả đế quốc, thế nhưng chương này và cụ thể là câu 13, khẳng định rằng ông sẽ cai trị cả đế quốc và điên cuồng tiếp tay chống lại những công việc của Đức Chúa Trời. Nhưng Đức Chúa Trời đã để cho chúng có lòng vâng làm theo ý muốn Ngài. Lũ tay sai của ma quỉ lại thực thi ý chỉ Đức Chúa Trời. Chính điều ác lại bị điều ác tiêu diệt và tự gặt lấy những điều mình đã gieo ra. Antichrist và các đồng minh của nó, cũng như thế lực ma quỉ mà chúng phục vụ, đều nằm trong tay Đức Chúa Trời cho đến khi những lời Đức Chúa Trời phán được ứng nghiệm. 18 Bây giờ thì người đàn bà đã được lộ diện, ít nhất cũng rõ ràng như những gì mà lời lẽ của sách Khải Huyền cho phép, và đủ để độc giả của Giăng biết là ông nói về ai: bà ta là cái thành lớn hành quyền trên các vua ở thế gian, tức là thành Rô-ma vào thời của Giăng, là bà chủ của thế gian. Về ý nghĩa của sự nhận diện này đối với các Cơ Đốc nhân ngày nay, xin xem phần chú thích về đế quốc của antichrist ở cuối phần giải nghĩa chương 18.
3. Bài ai ca về Ba-by-lôn (Kh 18:1-24)
Chương này trình bày theo khuôn mẫu các bài ai ca của các nhà tiên tri trong Cựu Ước kể về số phận của các dân tộc áp bức và tự cao tự đại trong thời của họ. Nên có thể nói vắn tắt là chúng gợi lại tất cả những lời sấm tiên tri về số phận của các dân tộc bất công bất chính. Những lời tiên tri nghịch cùng Ba-by-lôn (Es 13:1-22 21:1-17 47:1-15 Gie 50:1-51:64) và Ty-rơ (Exe 26:1-21 27:1-36) dường như được Giăng lưu tâm đặc biệt. Bài ca về sự sụp đổ suy tàn của Ba-by-lôn dài hơn nhiều so với phần ông mô tả biến cố ấy ở Kh 17:12-18, nhưng nó là một phần của câu chuyện ấy và mang lại cho câu chuyện một cao điểm có tác động mạnh mẽ.
1 Vinh quang của vị thiên sứ từ trời xuống được mô tả bằng lời lẽ mà Ê-xê-chi-ên đã dùng để mô tả vinh quang của Đức Chúa Trời khi Ngài quay trở lại tái thiết đền thờ cho thời đại mới (Exe 43:1-2). 2 Ba-by-lôn lớn đã đổ rồi, đã đổ rồi! là một lời được trích dẫn từ Es 21:9. Về phần còn lại của câu này (13:21-22). Nói đúng ra bức tranh này không phù hợp với những điều được chép ở Kh 19:3, nhưng chúng là những cách thức mô tả khác về cơn phán xét của Đức Chúa Trời trên một thành phố. Giăng không ngần ngại khi hòa trộn các hình ảnh tượng trưng mình thường dùng lại với nhau, và ông hy vọng độc giả của mình sẽ lý giải chúng trong ánh sáng của những lời tiên tri trong Kinh Thánh. 3 Giăng tố cáo rằng thành Rô-ma phải chịu trách nhiệm về sự băng hoại của cả thế gian, vì thế thành phố Ba-by-lôn mới này phải bị tuyệt diệt khỏi đất. 4 Đối chiếu Es 52:11 Gie 51:6,45. 5 Đối chiếu với Gie 51:9. 6 Es 4:2 Gie 16:18 50:29. Lời phán trong câu 6 có thể được xem là lời được ngỏ với các đạo quân báo thù antichrist và các đồng minh của nó. (Kh 17:12,13,16). Sự phán xét Rô-ma phải tương ứng với sự tự tôn, phóng đãng và kiêu ngạo của nó đối chiếu Es 47:7-9. 8 Trong số các tai họa xông hãm lấy “Ba-by-lôn”, có thể sự chết muốn nói ở đây là chết vì dịch bệnh (Kh 6:8), và than khóc, họp thành ba tai họa “chết vì dịch bệnh, than khóc và đói kém”. Việc hủy diệt bằng lửa được các đạo quân xâm lăng dưới quyền antichrist thi hành đối chiếu 17:16.
Những lời than khóc Ba-by-lôn được thốt ra từ các vua thế gian (c.9-10), các nhà buôn (c.11-17a) và những người lái tàu (c.17b-19). Đặc biệt ở đây, Giăng đã mượn bài ai ca của Ê-xê-chi-ên về số phận của thành Ty-rơ (Exe 26:1-27:36). 9 Các vua thế gian là các vua đã được đề cập ở Kh 17:18, chứ không p ải các vua đã liên minh với con thú (17:16-17 đối chiếu với Exe 26:16-17). 10 Thực chất của mỗi lời than khóc đều giống nhau: “trong một giờ mà sự điêu tàn của ngươi đã đến rồi “ (c.17,19).
11-13 Đối chiếu với danh sách về các dân tộc đã giao thương với Ty-rơ (27:12-24) và nỗi kinh hoàng của các dân ấy (27:35-36). Câu 12-13 cung cấp một danh sách các mặt hàng mà các lái buôn đã bán cho Rô-ma đối chiếu với những hàng hóa nhập cảng của Ty-rơ (27:12-24). Gỗ thơm là loại gỗ cứng có hương thơm nhập từ Bắc Phi, đặc biệt được dùng để làm ra những chiếc bàn đắt giá. Ngà voi rất thông dụng với người La Mã vì chúng được dùng để trang trí các dụng cụ nội thất cũng như để làm những đồ trang sức. Từ được dùng cho nhũ hương chỉ một loại cây có hương thơm xuất xứ từ Ấn Độ, được dùng để chế ra các loại dầu xức tóc đắt tiền. Xe ở đây là loại đặc biệt, có bốn bánh và thường được trang hoàng lộng lẫy, đắt tiền. Có hai danh từ được dùng chỉ nô lệ, đó là tôi mọi và linh hồn người ta. Cách diễn đạt sau xuất hiện ở 27:13, và mặc dù theo cách nói thông thường thì cả hai cách diễn đạt này đồng nghĩa, nhưng cách sau gần như có nghĩa là vật nuôi mang tính người vậy. Về vấn đề này Swete đã bình luận: “Thế giới vào thời của Giăng đã sử dụng hàng ngàn cách để cung phụng cho những ý nghĩ ngông cuồng và những thói xấu xa của Ba-by-lôn, nhưng đỉnh điểm của những điều đó là họ đã lấy sanh mạng con người ra làm sinh tế, đó là tuyển thêm người làm nô lệ cho kẻ giàu, làm đầy các nhà chứa và phục vụ các trò vui tàn ác của hí trường” (The Apocalypse of St. John, trang 235).
17-19 Điều mà những người đi biển, cũng như của các nhà buôn bận tâm không phải thành phố ấy, cũng không phải là những người đã bị diệt vong chung với nó, mà là lợi tức của họ bị mất mát. 20 Lời kêu gọi hãy vui mừng về sự phán xét dành cho Ba-by-lôn phải được tách rời với lời than sự khóc của các thuỷ thủ. Tốt nhất nên xem nó như phần bổ sung hầu làm trọn vẹn lời của vị thiên sứ đã khởi sự ở câu 4, và kể cả những lời than khóc của các vua, các nhà buôn và những người đi biển. Dù cố ý hay không, Kh 19:1-7 đã hợp thành một sự đáp ứng thích hợp cho lời kêu gọi này. 21 Hành động mang tính biểu tượng của vị thiên sứ được gợi ý bởi một hành động tương tự mà Giê-rê-mi đã thực hiện với thành Ba-by-ôn (Gie 51:63-64). Hai câu 22-23 gợi lại những phần mô tả Exe 26:13 và Gie 25:10 về sự đình chỉ công việc của các thợ thủ công, các ngành kỹ nghệ, niềm vui của hôn nhân và tất cả các phương tiện thắp sáng. Các nhà buôn của người đều là kẻ tôn trọng trên đất đã từng được Ê-sai phát biểu về các nhà buôn của Ty-rơ (Es 23:8). Nó được viện dẫn ở đây như một lý do để đoán xét Rô-ma bởi vì căn cứ theo câu 3 thì các nhà buôn của nó đã tạo điều kiện thuận lợi cho thói phóng đãng của thành phố và vì thế chính bản thân họ cũng liên quan đến thói gian ác mang tính xa hoa của Rô-ma. Ê-sai đã từng bình luận về các phép thuật của thành Ba-by-lôn cũ (47:12), và Na-hum thì lên án những tà thuật như thế của thành Ni-ni-ve (Na 3:4). Bản NIV dịch từ tà thuật từ chữ bùa mê điều này rất phù hợp với quan điểm cho rằng từ này không miêu tả về thuật phù thuỷ theo nghĩa đen cho bằng miêu tả về “sức mê hoặc của thói xa hoa phóng đãng kèm theo sự sùng bái thần tượng của nó, bởi đó thế gian đã bị mê hoặc và bị dẫn đi sai lạc” (The Apocalypse of St. John, của Swete, trang 240). 24 Đối chiếu Mat 23:35, trình bày về việc Chúa chúng ta đã tố cáo thành Giê-ru-sa-lem. Câu nói này của Giăng đã được chứng thực, không chỉ do những sự bắt bớ bách hại trong quá khứ, mà còn do ông hiểu thành Rô-ma là hiện thân của ác thần vẫn luôn tấn công những người thuộc về Đức Chúa Trời (xem các chú thích về Kh 17:7-18).
Ghi chú về đế quốc của antichrist. Một câu hỏi khẩn đã được nảy sinh từ việc đọc các chương 13, 17 và 18 . Trong những phần mô tả này về số phận của thành phố và của đế quốc của antichrist này, hầu như không ai nghi ngờ về việc Rô-ma là thành phố Giăng đang muốn đề cập. Ông gần như gọi tên nó trong 17:9,18 và qua cách ông dùng tên gọi bí ẩn là Ba-by-lôn. Những lời tiên tri của ông cho biết sự sắp xuất đầu lộ diện của một antichrist, là kẻ sẽ bày tỏ về sự gian ác của mình, nhưng thời trị vì của nó sẽ chỉ tồn tại một thời gian ngắn mà thôi, và kết cuộc là thành phố bị hủy diệt và Chúa Cứu Thế hiện ra và trị vì. Điều trớ trêu hơn cả ấy là, thay vì trở thành phạm vi thuộc quyền cai trị của antichrist, Rô-ma đã được Đấng Cứu Thế của Đức Chúa Trời chinh phục và trở thành trung tâm Cơ Đốc Giáo của toàn cầu. Nhiều người đã kết luận rằng các lời tiên tri của Giăng đã thật sự ứng nghiệm ngay tại đó nhưng lời tiên tri, cùng với những tiên báo của ông về sự tái lâm của Chúa Cứu Thế và sự giáng hạ từ thiên đàng của thành phố Đức Chúa Trời, chắc hẳn khó có thể phù hợp với cách lý giải đó.
Ở đây, thiết tưởng cần phải nhắc lại rằng về cơ bản, khải tượng của Giăng vốn có liên quan đến những khải tượng của các tiên tri trong Cựu Ước. Tất cả các nhà tiên tri, trong phần trình bày của họ về sự thất bại của các dân tộc áp bức trong thời của họ, đều trông mong vương quốc của Đức Chúa Trời được thiết lập sau khi những cuộc phán xét ấy đã được thực hiện (thí dụ Ê-sai chờ đợi sự giải cứu của Đấng Mết-si-a sau khi Đức Chúa Trời đoán phạt A-sy-ri, Es 10:1-11:16 Ha-ba-cúc trông chờ Ba-by-lôn bị hủy diệt, Ha 2:2-3 cả Giê-rê-mi và Ê-xê-chi-ên đều trông chờ điều đó sau khi dân Giu-đa (Do Thái) hồi hương dưới thời vua Si-ru, Gie 29:1-31:40 Exe 26:1-21 tất cả các khải tượng của Đa-ni-ên đều trông cho điều đó xảy ra sau khi bạo chúa Antiochus Epiphanas bị lật đổ, đặc biệt xin xem Da 7:1-9:27 11:1-12:13. Trong Kinh Thánh Tân Ước, các tác giả Phúc Âm đặt lời truyền dạy của Chúa về sự tái lâm của Ngài gần với những lời tiên tri của Ngài liên quan đến việc thành phố Giê-ru-sa-lem bị đoán phạt (Mat 24:1-51 Mac 13:1-37 Lu 21:1-38), và sự trở lại ấy sẽ diễn ra vào một tương lai không xa, mặc dù thời điểm hoàn toàn không được đề cập (đối chiếu Ro 13:11-12 He 10:37 Ga 5:8 IPhi 4:7 IGi 2:18). Về vấn đề này thì Giăng không phải là một ngoại lệ. Dường như có hai thực tế đang được đặt cho tâm trí ông: một mặt Chúa đã hoàn tất công tác cứu chuộc để đưa Nước Trời vào trong thế gian, và Ngài sẽ chóng đến để kết thúc nó mặt khác, “sự mầu nhiệm của điều bội nghịch” hầu như đã thể hiện rất rõ trong thế gian (IITe 2:7), và Rô-ma đã giữ vai trò của antichrist rồi. Vì thế giai đoạn này giới thiệu cho ngày tận thế, và Giăng miêu tả sự việc đầy kịch tính đó theo điều các nhà tiên tri, chính Chúa Cứu Thế và các sứ đồ Ngài đã từng truyền dạy. Ông ứng dụng giáo lý ấy cho tình hình vào thời của ông. Giới hạn thời gian thì quá ngắn ngủi, nhưng không vì thế mà yếu tính của lời tiên tri của ông trở nên mất hiệu lực. “Nhiều antichrists” (Kh 2:18) kể từ thời Giăng đã ngày càng giống với hình ảnh mà ông đã miêu tả và sẽ đạt đến cực điểm trong một người mà sẽ làm ứng nghiệm trọn vẹn điều đó.
Hình ảnh tượng trưng được dùng trong “bức chân dung” này của antichrist cũng rõ ràng như đã từng được dùng phần miêu tả Sa-tan, thành phố và đế quốc, và cách nó được dùng ở chương 12. Giăng phỏng theo việc thiên hạ thời ông trông chờ sự sống lại của Nero, để mô tả antichrist sẽ đến như “một Nero khác”. Một điều tương tự đã xảy ra trong cách ông ứng dụng lời tiên tri rằng Ê-li sẽ đến trước ngày của Chúa (Mi 4:5). Chắc hẳn Giăng đã biết Chúa Giê-xu từng ứng dụng lời tiên tri này cho chức vụ của Giăng Báp-tít như thế nào (Mac 9:12-13) bản thân ông thậm chí còn ứng dụng nó rộng rãi hơn liên quan đến chức vụ của toàn thể Hội Thánh (chương 11). Ông trình bày cách tự nhiên rằng antichrist đang hành động “theo tinh thần và quyền năng của Nero” (đối chiếu Lu 1:17), bằng cách dùng câu chuyện “Nero sống lại” mà không cần giải thích gì thêm, cũng như cách ông đã dùng lời tiên tri về “Ê-li sống lại” mà không gì giải thích vậy.
Tương tự như việc chúng ta không nên cố gắng định nghĩa sự tái lâm của Chúa Giê-xu theo những cách tính toán bên ngoài, mà phải tập trung nhiều hơn vào những điều mà quy luật thần hựu của Đức Chúa Trời tạo ra trước mắt chúng ta, chúng ta cũng phải để cho Đức Chúa Trời làm ứng nghiệm lời tiên tri của Giăng theo chính cách và thời điểm của Ngài vậy.
4. Lời cảm tạ về việc đoán phạt Ba-by-lôn (Kh 19:1-10)
Những lời ca tụng phát ra từ trời như tiếng sấm để tán tụng sự công chính của Đức Chúa Trời trong việc tiêu diệt thành phố của antichrist đã hợp thành một lời đáp lại lời kêu gọi của vị thiên sứ trong Kh 18:20, đó là “Hãy vui mừng” về những gì Đức Chúa Trời đã làm. Những lời ca tụng của thiên đàng đã được ghi lại ở câu 1-4, còn những lời của “các thánh đồ, sứ đồ và các đấng tiên tri” thì được ghi lại ở câu 6-8. Thứ tự những lời ca tụng của thiên đàng trong chương 5 đã bị đảo ngược, trước hết là giọng của muôn vàn thiên sứ bộc lộ nỗi vui mừng, sau đó là hai mươi bốn vị trưởng lão và bốn con sinh vật thêm vào tiếng A-men của họ. Lời kêu gọi các tôi tớ Đức Chúa Trời, cả nhỏ lẫn lớn (c.5) hãy ca tụng đã được đáp lại bằng tiếng lớn của những người được cứu chuộc ở câu 6-8. Tiếng Ha-lê-lu-gia xuất hiện bốn lần trong khúc sách này là điều độc nhất vô nhị trong Kinh Thánh Tân Ước từ ngữ này không xuất hiện ở chỗ nào khác trong các trang sách ấy. Chúng ta biết nó qua cách dùng của nó trong sách Thi Thiên, nhất là trong các Thi Thiên được gọi là Hallel, thí dụ như Thi Thiên 113 – 118, được hát lên vào những dịp đại lễ của dân Y-sơ-ra-ên và trên hết là được gắn liền với lễ Vượt Qua.
1-2 Bài ca này khai triển 7:10 và có ý nghĩa tương tự với 12:10. Sự cứu chuộc bao gồm việc giải thoát khỏi các thế lực chống lại Đức Chúa Trời, và do đó được thoát khỏi sự đoán phạt. Các thiên sứ thường hát mừng sau cùng như một đặc điểm của sách Khải Huyền (đối chiếu 7:9, sau những cơn đoán phạt của các ấn 11:16-18 sau các tiếng kèn đoán phạt 15:3-4 trước khi các bát thạnh nộ được trút xuống). 3 Tiếng Ha-lê-lu-gia thứ hai ca tụng tính không thể đảo ngược của việc Ba-by-lôn bị phá hủy. Ngôn từ của nó mang âm hưởng của Es 34:9-10, ngày của Chúa trên Ê-đôm, tự nó nhắc mọi người nhớ về việc Sô-đôm và Gô-mô-rơ bị hủy diệt. Tuy nhiên, phần mô tả ngọn lửa không thể dập tắt do chất nhựa thông bị đốt cháy trong xứ Ê-đôm được nối tiếp bằng việc mô tả một vùng đất mà chỉ có loài chim và thú rừng sinh sống, tạo ra hai bức tranh tượng trưng cho sự đoán phạt, là điều hoàn toàn không thể hoà hợp được. Rồi câu 3 cũng phải được trình bày rõ bằng phần mô tả của Giăng về công trình sáng tạo mới (Kh 21:1-5), nơi đó sẽ chẳng có chỗ cho các ngọn lửa của Ba-by-lôn.
5 Tiếng từ ngôi đến sẽ phát ra từ một trong bốn con sinh vật, chứ không phải từ Chúa Cứu Thế đã được vinh hiển, Đấng hầu như không nói với những người thuộc về Đức Chúa Trời rằng hãy ngợi khen Đức Chúa Trời của chúng ta. 6-8 Những lời ca ngợi của Hội Thánh đề cập về sự đến của thời trị vì của Đức Chúa Trời và của lễ cưới Chiên Con, chứ không phải về sự hoang vu của Ba-by-lôn. Câu Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta, là Đấng Toàn Năng đã cầm quyền cai trị, giống với 11:16 Ngài đã khiến cho nước cứu rỗi của Ngài nên trọn vẹn cùng với phước hạnh vô biên dành cho nhân loại. Do đó, bây giờ chính là thời điểm đề cử hành lễ cưới Chiên Con, theo nghĩa tương tự, vì Hội Thánh đã là tân nương của Chúa Cứu Thế, nhưng vẫn chưa phải là “Hội Thánh đầy vinh hiển không vết không nhăn, không chi giống như vậy” (Eph 5:25-26). Lời bình giải vải gai mịn tức là công việc công bình của các thánh đồ (c.8) rõ ràng là của Giăng, chứ không phải là một phần của bài ca. Nhưng xin lưu ý là có sự cân bằng giữa ân điển Đức Chúa Trời và cách đáp ứng của loài người trong những câu, đã cho người được mặc áo sáng láng tinh sạch băng vải gai mịn, vì sự thánh khiết là một món quà của Đức Chúa Trời, và vợ Ngài đã sửa soạn, tham gia vào công việc công bình của các thánh đồ. Cái thực tế song phương này vẫn tiếp diễn suốt cuộc đời của Cơ Đốc nhân (đối chiếu Phi 2:12-13).
9 Phước lành thứ tư của sách Khải Huyền dự báo về đỉnh điểm của các mối liên hệ giữa Chúa Cứu Thế và những người thuộc về Ngài. Những kẻ được mời đến dự tiệc cưới Chiên Con là những người tin theo Ngài, điều này cho thấy một hình ảnh tượng trưng kép đã được sử dụng ở đây: tân nương và khách được mời dự tiệc là một (đối chiếu Kh 21:9-10, chép rằng tân nương cũng là thành thánh). Đó là những lời chân thật của Đức Chúa Trời chúng cũng bao gồm những lời nói về sự đoán phạt Ba-by-lôn và những phước hạnh của việc được tham dự tiệc cưới Chiên Con, tức là các khải tượng từ 17:1 cho đến điểm này. 10 Vị thiên sứ khước từ sự thờ lạy của Giăng vì vị ấy cũng là tôi tớ và người cùng giữ lời chứng của Đức Chúa Giê-xu mà thôi. Chỉ một mình Đức Chúa Trời đáng được thờ lạy, vì sự làm chứng của Đức Chúa Giê-xu là đại ý của lời tiên tri. Cách dịch đó có thể được hiểu là sự làm chứng của Chúa Giê-xu là “hơi thở” hay nguyên tắc của lời tiên tri , nhưng cách nói như vậy quá bâng quơ. Câu nói này sẽ sáng tỏ khi chúng ta nhận thức được rằng tên gọi tâm đắc mà người Do Thái dành cho Linh của Đức Chúa Trời là “Thần Linh của lời tiên tri” cho nên nó có nghĩa là “Sự làm chứng mà Giê-xu đã thực hiện là trách nhiệm của Thần Linh, Đấng cảm thúc lời tiên tri”, và Ngài luôn tôn vinh Đức Chúa Trời! Điều này diễn tả thật trọn vẹn lời truyền dạy về Đức Thánh Linh trong những bài thuyết giảng của Gi 14:1-16:33 (đặc biệt Kh 14:26 16:12-15).
12. SỰ MẶC KHẢI VỀ CHÚA CỨU THẾ VÀ THÀNH PHỐ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (Kh 19:11-22:5)
Sự đoán phạt Ba-by-lôn từng là chủ đề của 17:1-19:10, trên hết là trình bày rõ về sự đoán phạt của bát thứ bảy đã được đề cập ở 16:17-21. Nhưng chúng ta vẫn chưa được cho biết về số phận của antichrist và các đồng minh của nó, đối tượng của bát đoán phạt thứ sáu (16:12-14). Điều này mở đầu cho các khải tượng cuối cùng về chiến thắng khải hoàn của Chúa Cứu Thế và Nước Ngài, trong đó bao gồm phần mô tả sự tái lâm của Chúa Cứu Thế và sự chế phục các thế lực gian ác (19:11-20:3) vương quốc của Chúa Cứu Thế tại trần gian này (20:4-10) sự phán xét sau cùng (20:11-15) và công trình sáng tạo mới với thành phố của Đức Chúa Trời (21:1-22:5).
1. Đấng cỡi con ngựa bạch (Kh 19:11-21)
11-15 Sự miêu tả về sự tái lâm Chúa Cứu Thế được thực hiện thông qua một loạt những bức tranh mang tính tượng trưng nhấn mạnh các khía cạnh của một biến cố quá vĩ đại đến nỗi không thể lãnh hội sớm được. Lúc trời mở ra, điều đầu tiên mà Giăng nhìn thấy là một con ngựa bạch, và Đấng Trung Tín và Chân Thật đang cỡi nó. Thường chúng ta không nghĩ Chúa Giê-xu sẽ tái lâm trên lưng ngựa, theo sau Ngài là muôn vàn thiên sứ trên lưng ngựa, và cũng không nên nghĩ như vậy. Đó là một cách miêu tả Chúa Giê-xu là Đấng Chinh Phục toàn năng, “Nguyên Soái” của các đạo thiên binh, đến để chế phục những kẻ phản nghịch trên đất, do các thế lực của hoả ngục lãnh đạo. Đôi mắt như ngọn lửa của Ngài ám chỉ sự đoán phạt, Ngài có nhiều mão triều thiên ám chỉ địa vị của Ngài là “Vua của các vua và Chúa của các chúa”. Ngài có một danh ngoài Ngài ra không ai biết được, thế nhưng các danh xưng của Ngài từng được nêu ra trong c.11,13,16 những danh xưng này chứng thực Ngài là ai, nhưng chỉ một mình Đức Chúa Trời mới hiểu thấu được huyền nhiệm của thân vị Ngài (đối chiếu Mat 11:27). Áo (dài) nhúng trong huyết của Ngài chính là chiếc áo dài của Đức Chúa Trời (Es 63:1-6), chiếc áo mà các Ra-bi nói rằng Đức Chúa Trời sẽ mặc vào ngày Ngài báo thù thành phố Rô-ma. Các đạo binh trên trời theo sau Chúa Cứu Thế là “các đạo thiên binh”, tức là các thiên sứ vây quanh Ngài (đối chiếu IVua 22:19 Thi 103:20 Da 7:9-10,13 Mac 8:38 13:26-27 IITe 2:5-6). Chúa sẽ đánh các dân bằng thanh gươm trong miệng Ngài và giày đạp thùng rượu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời Toàn Năng – hai bức tranh bổ sung cho nhau, trong đó ban đầu Chúa Giê-xu được bày tỏ như một chiến sĩ và sau đó như một nông dân đang ép nho mình thu hoạch thành rượu.
16-18 Hình ảnh vị thiên sứ triệu tập những loài chim ăn mồi nhóm hiệp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời được rút ra từ khải tượng của Ê-xê-chi-ên về việc đánh bại dân Gót và dân Ma-gót (Exe 39:17-20), mặc dù cuộc tấn công của dân Gót và dân Ma-gót được Giăng xếp vào đoạn kết thúc của vương quốc trên đất này (Kh 20:7-9), và phù hợp với khải tượng của Ê-xê-chi-ên (Exe 38:7-9). Tiệc lớn của Đức Chúa Trời đãi các loại chim ăn mồi này là một bữa tiệc ghê rợn đối chiếu với bữa tiệc khai mạc vương quốc của Đức Chúa Trời (Es 25:6), mà được mô tả ở đây là tiệc cưới Chiên con.
19-21 Con thú và các đồng minh của nó nhóm lại đặng tranh chiến với Đấng cỡi ngựa và với đạo binh của Ngài. Chúng bị nhóm lại ở Ha-ma-ghê-đôn (Kh 16:16). Nhưng không có trận chiến! Các đạo thiên binh quan sát trong lúc con thú và tiên tri giả bị bắt, Chúa Cứu Thế vung thanh gươm của miệng Ngài, và ma quỉ bị ném xuống vực sâu. Đây là quang cảnh cuộc đoán phạt được thực hiện bằng năng quyền của Lời Đức Chúa Trời. Toàn bộ hình ảnh của phần này đều mang tính miêu tả, bao gồm con ngựa của Chúa Cứu Thế, thanh gươm ra từ miệng Ngài và loài chim kên kên ăn thịt của những kẻ bị giết. Chúng ta không biết chắc về các chi tiết của bức tranh này, ngoài một thực tế nổi trội: chiến thắng hoàn toàn của Chúa Cứu Thế trên những kẻ chống lại Ngài. Antichrist và tiên tri giả bị quăng xuống hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng. Hồ lửa cháy bừng bừng này là một bức tranh khác về hoả ngục, mà trong Hi văn là Gehenna, một từ chuyển tự từ chữ Ge-hinnom của tiếng Hi Bá Lai, mang ý nghĩa là “trũng Hi-nôm”, nơi người Do thái thời Giê-rê-mi dâng người sống làm của lễ thiêu (Gie 7:31). Trong văn chương Khải thị, cả hai danh từ này đều mang tính miêu tả, từ đầu là một phần khai triển của ý niệm về vực sâu, cả hai đều cho thấy sự đoán phạt không tránh né mà Đức Chúa Trời giáng trên những kẻ kiên quyết chống lại Ngài.
2. Việc chế phục con rồng (Kh 20:1-3)
Phần mô tả việc chế phục “con rồng” (Sa-tan) được tiếp tục ngay sau phần ký thuật cuộc chinh phục bộ ba gian ác đã “nhóm các vua thế gian lại đặng tranh chiến trong ngày lớn của Đấng Toàn Năng” (Kh 16:14). Chúng ta đừng bao giờ nên tách rời những phân đoạn này. Sau việc đoán phạt antichrist, tiên tri giả cùng với đám đông vô số người bị chúng lừa gạt, thì kẻ thù cuối cùng bị xử lý, ấy là ma quỉ, kẻ đã xui giục người ta phản nghịch Đức Chúa Trời. Không cần thiết phải có cuộc thánh chiến lớn một vị thiên sứ đã bắt nó, xiềng nó lại bằng một sợi xích, quăng nó xuống vực, đóng của vực và niêm phong lại – một phương tiện có bốn công dụng để bảo đảm rằng nó đã bị cắt đứt mọi mối liên hệ với nhân loại trên địa cầu này (về ý nghĩa tượng trưng, Es 24:21-22). Như bản văn nêu rõ, điều này được thực hiện hầu cho nó không đi lừa dối các dân được nữa – cho đến một thời điểm do Đức Chúa Trời ấn định nó sẽ lại được thả ra một thời gian ngắn, tức là cho đến chừng nào hạn một ngàn năm đã mãn. Việc thả ra, cũng như việc giam nó, nhằm để hoàn tất chủ đích không thể dò của Đức Chúa Trời.
Chú thích. Nước một ngàn năm của Chúa Cứu Thế. Việc “xiềng” Sa-tan lại một ngàn năm trùng với “thời trị vì của Chúa Cứu Thế trong một ngàn năm” (Kh 20:4). Thời trị vì một ngàn năm này đã tự mang lấy cái tên là “thiên hi niên”, còn thuyết này được gọi là “thuyết một nghìn năm bình an” (trong Hi văn, từ chilias chỉ 1.000). Việc giới hạn thời trị vì của Đấng Mết-si-a trong một ngàn năm không thấy có trong Kinh Thánh Cựu Ước, nhưng vương quốc mà Đấng Mết-si-a cai trị là hình ảnh tiêu biểu tượng trưng của một vương quốc của thế gian này, tập trung tại Giê-ru-sa-lem. Es 65:17-25 và 66:22-23 đề cập về công trình sáng tạo các từng trời mới và một trái đất mới, nhưng cách mô tả vương quốc Đức Chúa Trời trong đó hoàn toàn theo cách của trần gian này (một thành phố Giê-ru-sa-lem vui vẻ, nhân loại trường thọ, có nhà riêng và trang trại ổn định, con cái hạnh phúc, thú vật sống hòa bình với nhau). Một số tác giả khải huyền nhấn mạnh quan niệm này về công trình sáng tạo mới, cho nên trong vòng người Do Thái việc phân biệt giữa thời trị vì của Đấng Mết-si-a trên thế gian này và vương quốc của Đức Chúa Trời trong thế giới mới (tuy không phải là không có Đấng Mết-si-a) đã trở nên phổ biến. Trong vòng các Ra-bi cũng đã có nhiều ý kiến rất khác nhau về thời hạn của Vương Quốc Đấng Mết-si-a. Có những gợi ý cho rằng nó có thể kéo dài bốn mươi năm (tương ứng với số năm dân Y-sơ-ra-ên sống trong hoang mạc), hoặc 400 năm (thời gian trú ngụ của Y-sơ-ra-ên tại Ai Cập), hoặc 4.000 năm (từ ngày tạo thiên lập địa đến nay). Có những quan điểm khác chủ trương rằng nó sẽ kéo dài 365 ngày (63:4 đề cập một “ngày” báo thù và một “năm” cứu chuộc), hoặc 365.000 năm (Thi 90:4 cho biết rằng trước mặt Chúa, một ngày như ngàn năm). Câu Kinh Thánh sau phù hợp với ý niệm lịch sử là hình ảnh thu gọn của tuần lễ sáng tạo: vì tiếp theo sáu ngày sáng tạo là một ngày nghỉ Sa-bát của Đức Chúa Trời, cho nên sau sáu ngày của lịch sử nhân loại có thể là ngày Sa-bát của lịch sử, là Vương Quốc của Đấng Mết-si-a, mà tiếp theo đó là một ngày thứ tám vô cùng vô tận. Quan niệm này được nói rõ trong chương 15 của Thư Tín của Ba-na-ba, một tác phẩm Cơ Đốc hầu như cùng thời với sách Khải Huyền. Có thể theo quan điểm của Giăng, “một ngàn năm” chỉ về đặc tính của Vương Quốc Chúa Cứu Thế chứ không phải về độ dài thời gian của nó, tức là nó đề cập bản chất của nước ấy như ngày Sa-bát của lịch sử nhân loại, và như thế điều này có liên hệ với lời truyền dạy trong thư Hê-bơ-rơ rằng Nước Trời là ngày nghỉ Sa-bát đang chờ đợi những người thuộc về Đức Chúa Trời (He 4:1-16). Chắc hẳn là Giăng đã xác nhận cách lý giải này bằng cách đọc Exe 36:1-48:47, đề cập về việc hồi hương của dân Y-sơ-ra-ên dưới thời của Đấng Mết-si-a, là vua Đa-vít mới (chương 36-37) được nối tiếp bởi cuộc phản loạn của dân Gót (chương 38-39) và lời hứa về một thành Giê-ru-sa-lem mới với một đền thờ mới (chương 40-48). Thế nhưng chắc hẳn điều quan trọng hơn vẫn là lời cầu nguyện mà Chúa Giê-xu đã dạy cho các môn đệ Ngài (“Nước Cha được đến Ý Cha được nên ở đất như trời” Mat 6:10) và chắc hẳn Giăng cũng đã biết về các phước lành (“Phước cho những kẻ nghèo thiếu trong tâm linh, vì nước Thiên đàng thuộc về những kẻ ấy” Mat 5:3,5).
Phần trình bày của Phao-lô về vương quốc của Chúa Cứu Thế trong ICo 15:22-25 có liên hệ mật thiết với phần trình bày này của Giăng và cho thấy rất có thể nó vốn là một truyền thống đã được xác lập vững chắc trong Hội Thánh nguyên thủy. Chắc chắn điều này đã được giải thích như thế ở các thế kỷ đầu, nhưng nó đã bị một vài lãnh tụ Cơ Đốc giáo quan trọng chống đối vì các vị ấy bênh vực những cách lý giải phi lý hơn. Cách lý giải của Augustine rằng thiên hy niên là giai đoạn Hội Thánh ở giữa lần giáng lâm thứ nhất và thứ hai của Chúa Cứu Thế, đã trở thành lời truyền dạy chính thức của cả Giáo hội Công giáo lẫn các giáo hội Cải cách. Điều này được minh họa rõ trong quyển bình giải Khải Huyền của Hendricksen (More than Conquereors, IVP, 1939) ông đồng nhất việc Sa-tan bị xiềng (Kh 20:1-3) với việc nó bị trục xuất khỏi thiên đàng (12:9), một ngàn năm thuộc quyền cai trị của Hội Thánh (20:4-6) với thời gian làm chứng đạo khải hoàn của Hội Thánh (11:2-6 12:14-15), cuộc tấn công của các đạo quân Gót và Ma-gót (20:7-9) với việc Hội Thánh bị antichrist bắt bớ bách hại (11:7-10 13:7-8), việc các đạo quân ấy bị tiêu diệt tiếp theo đó (20:9) với trận Ha-ma-ghê-đôn (19:19-21), và sự phán xét sau cùng (20:11-15) với sự phán xét của Đấng Mết-si-a (14:14-20).
Đây là một cách lý giải hữu lý và thú vị về bản văn này, nhưng dường như nó kéo theo những khó khăn không thể khắc phục được. Trong 12:9, Sa-tan bị quăng khỏi thiên đàng, khiến nó không còn có thể tố cáo các thánh đồ trước mặt Đức Chúa Trời nữa, xuống đất, là nơi nó càng tăng cường cuộc chiến tranh chống lại Hội Thánh, vì thì giờ của nó rất ngắn ngủi trong 20:1-3 nó bị bắt khỏi đất và bị giam cầm dưới vực sâu, để nó không còn làm băng hoại nhân loại nữa. Cuộc đoán phạt của 14:14-20 được xếp ngang hàng với những cuộc phán xét của Đấng Mết-si-a trong những ngày sau rốt, trước nhất là với cuộc phán xét xảy ra lúc Chúa Cứu Thế tái lâm (19:19-21) trong khi đó cuộc phán xét sau cùng ở 20:11-15 là dành cho toàn thể nhân loại thuộc mọi thế hệ. Cuộc chinh phục các thế lực gian ác đã được mô tả trong phân đoạn 19:19-21:3 không thể chia thành nhiều phần khác nhau được, và cuộc chinh phục này diễn ra vào lúc Chúa Cứu Thế tái lâm trong vinh hiển, mà tiếp sau đó là thời trị vì một ngàn năm của Ngài. Thêm vào đó, lời thừa nhận của Giăng, được nhiều nhà tiên tri nói chung tán đồng, rằng Chúa có thể trở lại mau chóng (1:3 22:20) không thể hòa hợp với khái niệm cho rằng vương quốc ngàn năm sẽ xuất hiện trước khi Ngài tái lâm, điều này đã người ta gặp khó khăn khi cho rằng nguyên tắc lý giải này là của ông. Giăng vốn biết rõ rằng vương quốc Đức Chúa Trời được thiết lập bởi sự cứu chuộc của Chúa Cứu Thế (chương 5, 12:10-12) vương quốc mà Chúa sẽ mang đến lúc Ngài tái lâm sẽ là chiến thắng khải hoàn của những điều Ngài đã mang lại qua chức vụ nhập thể của Ngài, vì thế mà có sự bày tỏ tất cả những gì đã xảy ra trên thế gian từ ngày Phục sinh trở đi.
Thế thì, tại sao Đức Chúa Trời lại cho phép Sa-tan được thả ra lúc một ngàn năm chấm dứt? Chắc hẳn Giăng sẽ trả lời “Vì Lời Chúa đã phán như vậy”. Lời tiên tri về cuộc tấn công của dân Gót vào xứ Y-sơ-ra-ên (Exe 38:1-39:29) được đề cập sau khi Đức Chúa Trời đã phục hồi vương quốc cho dân Ngài. Sa 1:1-3:24 bày tỏ hầu như toàn bộ ý nghĩa tượng trưng về thành phố của Đức Chúa Trời trong sách Khải Huyền có lẽ việc Giăng suy gẫm về các chương sách đó đã gợi cho ông ý nghĩ rằng vì Sa-tan đã được cho phép vào vườn Ê-đen để vạch trần bản chất của tấm lòng con người, thì nó cũng sẽ được phép làm y như vậy trong thiên đàng sau cùng, hầu cho mọi sự chống đối Đức Chúa Trời đều bị đưa ra ánh sáng và bị tiêu diệt trước khi Ngài hoàn toàn cai trị. Cũng như các tác giả viết sách Khải Huyền khác, chắc hẳn Giăng biết rõ rằng Vương quốc của Đức Chúa Trời không thể đạt được sự toàn thiện toàn mỹ nếu những điều hạn chế của thế gian này vẫn còn tồn tại, ngay cả trong một địa đàng đã được phục hồi cũng vậy mục đích của công trình sáng tạo chỉ có thể đạt được qua sự tái sinh giống như sự phục sinh của Chúa Cứu Thế.
3. Thiên hy niên (Kh 20:4-6)
Phần mô tả này về vương quốc của Chúa Cứu Thế vắn tắt cách kỳ lạ không có lời nào đề cập về tình hình sinh hoạt trong nước một ngàn năm, mà chỉ có một câu đủ để nói về Đấng sẽ cầm quyền cai trị trong đó. Tuy nhiên, chúng ta có lý do để tin rằng phần mô tả khai triển về thành phố của Đức Chúa Trời trong Kh 21:9-22:5 phù hợp với vương quốc của thời kỳ của một ngàn năm cũng như của thời kỳ vĩnh hằng hầu đến. 19:6-7 mô tả về lễ cưới của tân nương khi Chúa Cứu Thế tái lâm 21:9 tiết lộ tân nương chính là thành thánh Giê-ru-sa-lem. Các đạo quân của Gót vây dinh thánh đồ và thành yêu dấu (20:9), đây phải là thành của Đức Chúa Trời, là Giê-ru-sa-lem trong thế gian này. Các dân các nước đi giữa ánh sáng của thành và đem vinh hiển mình vào đó, nhưng sẽ chẳng vật gì ô uế có thể qua được cánh cửa thành (21:24-25), còn lá của cây sự sống thì chữa bệnh cho các dân tộc (22:2). Những câu như thế thậm chí còn phù hợp với một thành phố trong thế gian này hơn là một thành phố thuộc công trình sáng tạo mới. Không một dòng nào trong 21:9-22:5 lại không thể ứng dụng cho nước trong thế gian này, điều đó cho thấy rằng phân đoạn này muốn đề cập cả cuộc sống trong lịch sử lẫn trong cõi vĩnh hằng.
4 Những người ngồi trên ngai là ai? Da 7:9-14,27 đã đưa ra câu trả lời: “các thánh đồ, dân sự của Đấng Rất Cao”, mà Kh 5:9-20 và 19:7 cũng nhất trí với câu trả lời này. Về “các thánh đồ “, Giăng đặc biệt đề cập đến các thánh tử đạo và những người tôn xưng Chúa Cứu Thế, nhằm khích lệ tất cả những ai có thể được gọi phải bước trên con đường tử vì đạo. 5 Còn những kẻ chết khác chẳng được sống (lại) hầu như chỉ về những kẻ chết mà không thuộc Chúa Cứu Thế có lẽ Giăng không phủ nhận sự kiện Hội Thánh sẽ được phục sinh khi Chúa Cứu Thế tái lâm (xem những bình luận về câu 4 đối chiếu 11:11-12 ICo 15:51-52 ITe 4:16). 6 Phước lành thứ năm công bố về phước hạnh của những người được dự phần vào lần sống lại thứ nhất. Sự chết thứ nhì không có quyền gì trên những người ấy (đối chiếu c.14 Kh 2:11) và họ sẽ làm thầy tế lễ của Đức Chúa Trời và của Đấng Christ vì họ cùng cai trị với Ngài. Do đó, sự cai trị của họ nhằm phục vụ cho Đức Chúa Trời và cho nhân loại.
4. Cuộc nổi loạn cuối cùng của kẻ ác (Kh 20:7-10)
Như đã được đề cập ở phần trên, ở phần này Giăng viết theo lời tiên tri của Ê-xê-chi-ên về việc dân Gót và Ma-gót xâm lăng xứ Y-sơ-ra-ên sau khi vương quốc của Đấng Mết-si-a đã được thiết lập. Nếu trong Ê-sai 38 “Gót ở đất Ma-gốc” từ phương Bắc đến xâm lăng xứ thánh, thì trong khải tượng của Giăng Gót và Ma-gót đại diện cho dân ở bốn phương trên đất (c.8). Chúng nó kéo lên khắp các vùng rộng trên mặt đất và vây lấy thành phố mà Đức Chúa Trời yêu – một thành phố có chiều rộng, dài, và cao đều bằng nhau, khoảng 2.200 km (21:16). Biến cố này cũng mang tính tượng trưng như Ha-ma-ghê-đôn và tiêu biểu cho một cuộc tấn công vào sự cai trị của Đức Chúa Trời hiển hiện ở thế gian này. 9b-10 Chính những kẻ muốn đi tiêu diệt người khác lại bị tiêu diệt, còn ma quỉ thì bị ném vào hồ lửa cháy bừng bừng, chẳng bao giờ gây rối cho nhân loại được nữa!
5. Cuộc phán xét cuối cùng (Kh 20:11-15)
Nếu sự kiện trời và đất đều trốn khỏi mặt Đức Chúa Trời được cho là xảy ra trước khi có trời mới và đất mới (đối chiếu IIPhi 3:10-13), thì cảnh tượng về ngai lớn và trắng như một vật có thực mà nhân loại nhìn thấy được hẳn là một khung cảnh kinh hoàng. Nhưng có thể phần mô tả này chỉ mang tính tượng trưng, nhằm làm nổi bật khung cảnh vĩ đại đầy kinh hoàng này – cảnh tượng cuối cùng áp đảo mọi thứ mà cả cõi thọ tạo đều muốn lẩn trốn nhưng không thể (đối chiếu Kh 6:12-17).
12 Những kẻ chết, cả lớn và nhỏ đứng trước toà tức là toàn thể nhân loại được triệu hồi để chịu phán xét. Hội Thánh có được miễn trừ khỏi cuộc phán xét này không? 20:4-6 gợi ý là được, nhưng nếu như vậy thì trước đó các tín hữu đã phải chịu phán xét (đối chiếu 3:5 IICo 5:10), nhưng Giăng đã không đề cập gì về điều đó cả. Phân đoạn này cho thấy tất cả mọi người đều phải chịu phán xét, thánh đồ cũng như tội nhân, và có nhiều giờ để thực hiện việc đó! Cuộc phán xét được tiến hành dựa trên hai tiêu chuẩn: thứ nhất là tùy công việc mình làm và thứ hai là lời chứng của các quyển sách. Đặc trưng thứ hai này được rút ra từ Da 7:10, phản ảnh cả thủ tục xét xử từ xa xưa lẫn thói quen của vua Ba-tư trong việc ghi chép lại mọi chi tiết của các biến cố xảy ra trong tỉnh của họ. Điều quan trọng là lời chứng chung của cả hai tiêu chuẩn này là tán thành, và quyển sách sự sống sẽ bày tỏ điều đó.
14-15 Sự chết và âm phủ tiêu biểu cho thực tế của sự chết và diễn biến sau khi chết. Cả hai đều bị quăng xuống hồ lửa, một hoàn cảnh chứng tỏ bản chất của cảnh tượng chỉ mang tính miêu tả, kể cả hồ lửa cũng vậy. Bất kỳ kẻ nào không được biên (tên) vào sách sự sống đều bị quăng vào hồ ấy. Hồ lửa này nguyên ở trong vực sâu, nơi ở của con quái vật, kẻ thù của Đức Chúa Trời, và theo truyền thuyết thì nó là nơi cư trú của các tà thần và nơi các thiên sứ sa ngã bị trừng phạt. Nó là một chỗ duy nhất mà người ta đến ngoài thành phố của Đức Chúa Trời. Giăng miêu tả thực tế này bằng nhiều hình ảnh tượng trưng rất khác nhau về đời sống bên ngoài thành phố của Đức Chúa Trời (Kh 21:27) tương phản với cuộc sống bên trong thành phố ấy (21:24-26). Điều đáng kể là tất cả điều vừa kể trên đều được bắt đầu bằng trong mối liên hệ với công trình sáng tạo mới, đó là công tác của Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu Thế chúng ta có thể an tâm rằng ân điển và chân lý (Gi 1:17) sẽ được kết hợp trong cuộc phán xét này như chúng đã từng được kết hợp trong thập tự giá của Chúa Cứu Thế vậy.
6. Công trình sáng tạo mới (Kh 21:1-8)
Việc tiết lộ của sách Khải Huyền về những phương cách Đức Chúa Trời giải quyết với nhân loại đạt đến đỉnh điểm của nó ở phân đoạn này: câu 1 – 4 mô tả một công trình sáng tạo mới, trong đó Đức Chúa Trời và những người thuộc về Ngài sống trong mối tương giao phước hạnh câu 5-8 công bố chân lý của phần mô tả đó và những hàm ý của nó đối với độc giả. Chủ đích của nó nhằm củng cố đức tin, hy vọng và cách giải quyết của Hội Thánh khi phải đối diện với lần thử thách sau cùng.
1 Cuộc sáng tạo một trời mới và đất mới đã được truyền dạy trong Es 65:17 và 66:22 (đối chiếu Mat 5:18 Mac 13:31 IIPhi 3:12). Các giáo sư Do Thái lý giải Ê-sai 65 – 66 theo nhiều cách khác nhau một số người chủ trương rằng Đức Chúa Trời sẽ làm mới lại công trình sáng tạo cho vương quốc của Ngài, những người khác lại cho rằng Ngài sẽ thay thế nó bằng một công trình sáng tạo hoàn toàn mới. Khải tượng của Giăng có thể được lý giải theo một trong hai cách trên việc Kh 20:11 mô tả về một cảnh tượng, tức là một sự trình bày mang tính miêu tả về phản ứng của cõi thọ tạo trước sự phán xét hầu đến của Ngài, có lẽ được xem là có ủng hộ cho quan điểm thứ nhất. Dù sao thì cụm từ biển cũng không còn nữa vốn không đề cập về nước biển cho bằng sự gian ác: ma quỉ, antichrist và đế quốc của antichrist đều từng được mô tả là những con quái vật của biển không còn bất cứ điều gì thuộc điều đó còn tồn tại trong trật tự mới. 2 Hình ảnh được dùng để miêu tả Thành thánh ở đây và trong 21:9-22:5 thay đổi bất thường giữa thành phố làm tân nương, là bối cảnh sinh hoạt trong vương quốc của Đức Chúa Trời, và mối tương giao của những kẻ người được cứu chuộc với Đức Chúa Trời. 3 Nét đặc trưng thứ hai này xuất hiện như phước hạnh trước nhất và quan trọng nhất của Nước vĩnh hằng. Từ ngữ ở theo nghĩa đen là “đóng trại” nó gợi nhớ về ngôi đền tạm trong hoang mạc, mà trụ mây và trụ lửa của Đức Chúa Trời từng dừng lại trên nó, là dấu hiệu của sự hiện diện và vinh quang hiển lộ của Đức Chúa Trời. Cách kết hợp về ngôn từ tương tự cũng đã được dùng trong Gi 1:14 trong công trình sáng tạo mới, mọi hàm ý về danh hiệu Em-ma-nu-ên sẽ được ứng nghiệm vĩnh viễn. 4 Đối chiếu Kh 7:17 và Es 25:8. 5 Ta làm mới lại hết thảy muôn vật đề cập hành động của Đức Chúa Trời trong công trình sáng tạo mới, nhưng hành động đó vốn đã được bắt đầu ngay từ lúc Chúa Cứu Thế phục sinh và hiện tại đang được toàn thể tín hữu trải nghiệm (IICo 5:17). 6 Xong rồi là âm vang của tiếng kêu lớn tại thập tự giá (Gi 19:30) và tiếng phán phát ra từ ngai (Kh 16:17). Đức Chúa Trời là An-pha và Ô-mê-ga bản tính của Ngài bảo đảm cho tính chân thật của mặc khải này. Lời hứa được thêm vào gợi nhớ Es 55:1 (Kh 22:17 Gi 7:37-38). 7 Lời hứa cuối cùng được ban cho Cơ Đốc nhân nào thắng: các phước hạnh của thành Thánh sẽ là gia tài của người ấy. 8 Tương phản với kẻ thắng, kẻ được thừa kế Nước Trời, là những kẻ tự loại mình khỏi đó. Kẻ hèn nhát là kẻ phủ nhận hay chối bỏ Đấng Cứu Thế của Đức Chúa Trời, hoặc là kẻ thờ lạy antichrist. Những từ ngữ còn lại mô tả kẻ chẳng tin, là những kẻ mà đời sống của họ chứng minh họ chống lại Đức Chúa Trời.
7. Thành phố của Đức Chúa Trời (Kh 21:9-22:5)
(Kh 21:9-27). Về gợi ý cho rằng phần này mô tả thành phố của Đức Chúa Trời giống với thành phố trong thời trị vì “một ngàn năm” của Chúa Cứu Thế và trong cuộc sáng tạo mới, xin xem phần ghi chú về thiên hy niên.
9 Mặc khải về vợ mới cưới đã được tiên báo ở Kh 19:7-9. Ở đây, hình ảnh ẩn dụ về người vợ mới cưới đã nhường chỗ cho hình ảnh về một thành phố, cách chuyển đổi hình ảnh tương tự cũng đã được thực hiện trong Es 54:4-8 và 11:12. 10 Ngôn từ ở đây giống với Exe 40:2 đến mức chúng ta phải thừa nhận rằng Giăng đang nghĩ về câu Kinh Thánh đó thành phố ấy từ trên trời di chuyển xuống ngọn núi nơi ông đang đứng. Trong vương quốc Đức Chúa Trời, thiên đàng sẽ đến với trần gian! 11 Dáng vẻ bên ngoài của thành phố được ví sánh như dáng vẻ của một viên bích ngọc, nên sự vinh hiển của nó cũng giống như vinh quang của Đấng Tạo Hoá vậy (Kh 4:3). 12-13 Bức tường cao lớn có hai chủ đích là ngăn chận những kẻ chẳng có phần gì trong thành phố (21:27 22:14-15) và bảo đảm an toàn vĩnh viễn cho những người sống bên trong. Trên mười hai cửa của nó có khắc tên mười hai chi phái của con cháu Y-sơ-ra-ên, cũng như trên mười hai cái nền của bức tường có tên của mười hai sứ đồ của Chiên Con. Trong điều này sự hợp nhất của tất cả mọi người thuộc cả hai giao ước cũ và mới được thể hiện họ cùng nhau họp thành “dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời”, đã được mở rộng để tiếp nhận mọi dân mọi nước thuộc về Chúa Cứu Thế. 14 Mười hai cái nền của vách thành không phải nằm chồng lên nhau, mà là nối tiếp nhau tạo thành một chuỗi liên tục vây quanh thành phố, được chia đều cho mười hai cửa thành. Mười hai sứ đồ tương ứng với mười hai chi phái được đề cập ở câu 12 cũng như ở trên, họ thể hiện một tập thể toàn diện chứ không phải là một danh sách gồm những cá nhân. Vì thế, không cần hỏi rằng tên Phao-lô có được kể trong số mười hai sứ đồ hay không, và nếu thế thì tên vị nào phải không được kể vào thắc mắc ấy không hề được đặt ra.
16 Thành làm kiểu vuông nhưng vì chiều cao cũng bằng với chiều dài và chiều rộng, nên nó là một hình lập phương. Trong Kinh Thánh Cựu Ước có một công trình kiến trúc được đề cập là có hình dáng lập phương, ấy là Nơi Chí Thánh trong đền thờ (IVua 6:20) ở đây hình dáng lập phương cho thấy toàn thành phố là một đền thánh và cùng chia sẻ sự thánh khiết của nơi thánh trong đền thờ xưa. Một vạn hai ngàn ếch-ta-đơ tương đương khoảng 100 dặm, nhưng nếu chuyển nó thành thước tấc hiện đại sẽ cướp mất số đo mang ý nghĩa tượng trưng rõ ràng của nó – một bội số vô hạn của 12. Có lẽ Giăng muốn nói rằng thành phố này của Đức Chúa Trời từ dưới đất lên đến trời, và vì thế làm cho trời đất hợp lại làm một. 17 Tường thành được 144 cu-đê (216 ft), có lẽ là về “chiều cao” chứ không phải “bề dày”, một bội số nữa của 12. Trong văn cảnh này thì không cần thiết phải chú trọng vào sự chênh lệch giữa các số đo của thành phố và vách thành vách thành chắc phải đủ rộng để đáp ứng được mục đích của nó!
18-21 Ngôn ngữ tượng trưng tiếp tục được sử dụng trong phần mô tả này của Giăng về các vật liệu xây thành phố. Ông đã nói rằng sự bóng loáng của nó trông giống như của bích ngọc, là vẻ rực rỡ vinh hiển của Đức Chúa Trời (c.11) giờ đây, ông tuyên bố rằng bức tường hoàn toàn được xây bằng bích ngọc. Vàng ròng có lẽ gợi lại hình ảnh của nơi thánh trong ngôi đền thờ Sa-lô-môn xây dựng, vốn được bao phủ hoàn toàn bằng vàng (IVua 6:20-22), hoặc cũng có thể nó ám chỉ tư tưởng đã được đề cập ở Kh 3:18. Danh sách các loại ngọc được dùng để trang hoàng cho các nền tường thành thật đáng kinh ngạc. Mặc dù cách dịch ở đây không hẳn chuyển tải được trọn vẹn, nhưng dường như chúng hoàn toàn giống với những viên ngọc có khắc tên của mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên trên bảng đeo ngực của thầy tế lễ thượng phẩm (Xu 28:15-21). Cả Philo và Josephus đều lưu ý đến sự kiện các viên ngọc này cũng đại diện cho mười hai điểm của cung hoàng đạo. Căn cứ vào một mối tương quan cổ xưa của các loại ngọc và những điểm trên cung hoàng đạo, dường như danh sách của Giăng về các loại ngọc miêu tả tiến trình của mặt trời đi qua mười hai điểm của cung hoàng đạo, nhưng theo một thứ tự ngược lại! Có lẽ Giăng muốn tách rời Thành Thánh khỏi những suy luận của người ngoại đạo về thành phố của các vị thần ở các tầng trời hoặc có lẽ là cách lật ngược này là đúng, và Giăng muốn chứng tỏ rằng điều các dân ngoại vẫn ao ước đã được tìm thấy trong sự mặc khải của Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu Thế (trên những viên ngọc quí của nền tường thành có khắc tên mười hai sứ đồ của Chiên Con – tức là các nhân chứng của Ngài).
22-27 Trong một thành phố được thiết kế theo kiểu của nơi chí thánh, thì không cần phải có ngôi đền thờ nữa tất cả đều là thánh, và Đức Chúa Trời được tôn thờ ở mọi nơi (đối chiếu Gi 4:20-23). 23 Rõ ràng Es 60:19-20 đã được nghĩ đến. Không phải là mặt trời hay mặt trăng không còn tồn tại, mà là vì sự rực rỡ của chúng đã bị chính vinh quang của Đức Chúa Trời che lấp. 24-26 Những câu này mô phỏng theo nội dung của 60:3-11, nhưng có điểm khác nhau: trong Ê-sai, các dân các nước đưa dân Do Thái lưu đày về Giê-ru-sa-lem và đưa của cải họ cho dân Do Thái còn ở đây họ đem vinh hiển và phú quí cho Đức Chúa Trời và Chiên Con, và điều đó làm ứng nghiệm Kh 15:4. Ngôn từ của cả phân đoạn này đặc biệt thích hợp với vương quốc của Chúa Cứu Thế trong giai đoạn thiên hy niên, nhưng theo một nghĩa ít trực tiếp hơn nó cũng có thể được áp dụng cả cho vương quốc của Đức Chúa Trời trong công trình sáng tạo mới.
(Kh 22:1-5). Phần kết thúc này của khải tượng về thành phố của Đức Chúa Trời cho thấy phần này có một sự cố ý nối kết với phần mô tả cảnh địa đàng Ê-đen (Sáng Thế Ký 2-3).
1 Ngôi Đức Chúa Trời và Chiên Con là nguồn của sông nước sự sống (đối chiếu Kh 7:17 21:6 22:17). Vườn Ê-đen vốn đã có một con sông (Sa 2:10). Trong khải tượng của Ê-xê-chi-ên, có một con sông từ đền thờ chảy ra (Exe 47:9 xem phần ứng dụng của phân đoạn này cho Chúa Giê-xu trong Gi 7:37-38). 2 Cây sự sống (khác với Sa 2:9 3:22, nhưng giống với Exe 47:7 và tiếp theo) được xem là của chung. Cũng như biểu tượng về nước hằng sống, các quyền năng chữa lành của lá nó được hiểu theo một ý nghĩa thuộc linh, có thể trước hết để chữa lành các vết thương do cơn đại nạn gây ra. 3 Chẳng còn có sự nguyền rủa nữa được trích dẫn từ Xa 14:11 và làm đảo ngược lời nguyền rủa đã được công bố trong địa đàng nguyên thuỷ (Sa 3:14-19). Trong thành phố Giê-ru-sa-lem mới, những tác động của lời nguyền rủa ấy hoàn toàn bị đánh tan. 4 Chủ đích của nhân loại được cứu chuộc được nêu rõ ở đây: Chúng sẽ được thấy mặt Chúa. Một khải tượng như thế sẽ khiến những người đang nhìn ngắm được biến hóa trở nên giống như vậy (IICo 3:18 IGi 3:2). Về danh… ở trên trán mình, (Kh 3:12 19:12). 5 Chúng sẽ trị vì đời đời khai triển 20:4 và là lần ứng nghiệm sau cùng của 3:21 (lưu ý là trong 11:15 “Ngài sẽ trị vì đời đời” có nghĩa là bao gồm thời trị vì trong thiên hy niên và trong công trình sáng tạo mới).
13. PHẦN KẾT (Kh 22:6-21)
Phần kết luận này của sách Khải Huyền có ba chủ đề được trình bày nổi bật: tính cách xác thực của khải tượng được trần thuật (c.6,7,16,18,19), tính cách gần kíp của sự tái lâm của Chúa Cứu Thế (c.6,7,10-12,20) và sự cần thiết của việc sống thánh khiết vì ngày chung cuộc sắp diễn ra (c.10-15). Thật khó xác nhận được lý lịch của những người nói giữa nhiều câu phát ngôn khác nhau ở đây. Dường như những câu 7,12-13 và 20a là những lời phán của Chúa Giê-xu câu 6,8,14-15 là của vị thiên sứ câu 16 là lời của Chúa Giê-xu được một thiên sứ trình bày những câu 8-9,17-19,20b,21 là những lời thêm vào của Giăng. Có thể có rất nhiều cách xác nhận khác nhau, nhưng rốt lại thì điều đó chẳng mấy quan trọng, vì cuối cùng thì người phát ngôn vẫn là Chúa Cứu Thế, sứ giả của Ngài là vị thiên sứ (c.9) và những phát ngôn ấy đã được Giăng ghi lại như một lời tiên tri (c.10).
6-7 Căn cứ vào câu 7, Kh 19:9 và 21:5 thì những lời trung tín và chân thật không chỉ đề cập về mạch văn trước đó, mà là về cả sách. Chúng liên quan đến các biến cố kíp phải xảy ra vì Chúa sẽ đến mau chóng (cũng đối chiếu với c.20). 8-9 Việc Giăng thuật lại phân đoạn này không nhất thiết có nghĩa là một vài độc giả của ông đã tham gia vào việc thờ lạy thiên sứ, mặc dù tập tục này đã từng xuất hiện giữa vòng người Do Thái, và thậm chí là cả giữa vòng các Cơ Đốc nhân nữa (Co 2:18). Hành động này của Giăng là hết sức tự nhiên, và sự thuật lại này không cần một lời giải thích nào khác ngoài lý do là nó đang xảy ra và đang được quan tâm. Điều này không mang nhiều dáng dấp của một cuộc bút chiến chống lại thói thờ lạy thiên sứ cho bằng một sự sửa lại thói sai lầm của việc quá đề cao bất kỳ một công cụ mặc khải nào. Các thiên sứ, các vị tiên tri và nhiều Cơ Đốc nhân khác nữa, đều như nhau trước mặt Đức Chúa Trời.
10 Lệnh truyền này làm đảo ngược lệnh truyền được chép trong Da 8:26 12:4,9 và trong các sách khải huyền của người Do Thái nói chung. Trong khi những lời này nói tiên tri về các thời kỳ hãy còn rất xa, thì thông điệp của Giăng đề cập về vấn đề quan trọng trước mắt và được lưu hành nhân danh chính ông. 11 Có một điều trớ trêu trong câu nói này. Đa-ni-ên từng nói trong những ngày sau rốt (Da 12:10) nhiều người sẽ nhờ kinh qua thử thách mà được tinh sạch, nhưng kẻ ác thì vẫn làm ác tức là trong cơn khủng hoảng cuối cùng, thiên hạ sẽ phơi bày “màu sắc” thật của chính mình và tự phân mình thuộc về phía Đức Chúa Trời hay về phía chống lại Ngài. Lời truyền dạy này vẫn luôn được nhấn mạnh trong sách Khải Huyền (Kh 7:1-8 11:1-2 12:1-14:5 v.v...). Và đây là lần cuối cùng nó được giải thích. Vì thì giờ đã gần đến, ai buông mình hướng về điều ác hãy cứ tiếp tục theo con đường đó người ấy sẽ sớm bị trừng phạt. Còn người công chính và thánh khiết hãy tự bảo vệ mình, vì Chúa họ sẽ sớm đến để giải cứu họ. Biến câu này thành một giáo lý về sự cố hữu của bản tính và số phận con người vào thời kỳ sau rốt là trái ngược với mạch văn ở đây và lời dạy tổng quát của sách (14:6-7 15:4 21:6-8 22:17). 12 Đối chiếu 11:18 Es 40:10 Ro 2:6. 13 Xem phần chú thích ở Kh 1:3. 14 Phước lành cuối cùng trong bảy phước lành của sách Khải Huyền. Kẻ giặt áo mình đã được cất hết tội lỗi mình nhờ vào sự chết và sự sống lại của Cứu Chúa, và vì thế có quyền đến nơi cậy sự sống và vào được trong thành của Đức Chúa Trời (đối chiếu Sa 3:22-24). 15 Câu này gần như là lặp lại Kh 21:8, nhưng số phận của những người liên quan lại được miêu tả khác hẳn. Nói chung thực tế cơ bản vẫn là việc họ bị trục xuất khỏi thành phố của Đức Chúa Trời. Việc Giăng dùng những hình ảnh khác nhau như thế để diễn tả sự đoán phạt cho thấy tính hết sức uyển chuyển của hình ảnh tượng trưng mà ông đã dùng.
16 Chúa Giê-xu với cương vị là Chồi và Hậu tự của Đa-vít đã làm ứng nghiệm Es 11:1. Với cương vị Sao Mai sáng chói, Ngài làm ứng nghiệm lời tiên tri của Ba-la-am trong Dan 24:17. 17 Thánh Linh, Đấng đặc biệt vận hành trong các nhà tiên tri (Kh 19:10), kết hợp với Hội Thánh trong việc mời gọi Chúa Hãy đến, theo như lời hứa của Ngài (c.7,12 đối chiếu c.20). Cá nhân những người nghe lời tiên tri trong sách này, khi nó được đọc lên giữa Hội Thánh, được lệnh phải nói Hãy đến. Tội nhân đã ăn năn được mời gọi hãy đến, và nhận lấy nước sự sống cách nhưng không, và như thế mọi việc đã sẵn sàng để chào mừng Chúa khi Ngài đến.
18-19 Giăng từng bị phê phán gay gắt vì đã kết thúc lời tiên tri của mình bằng những lời này. Tuy nhiên, các tác giả thời xưa có thói quen bảo vệ cho tác phẩm của mình tránh được những sự cắt xén và sửa đổi bằng cách thêm vào một lời nguyền như thế. Mối bận tâm của Giăng là ngăn chặn thông điệp của ông bị xuyên tạc do sự thêm thắt hay bỏ bớt lời. Mối bận tâm tương tự cũng được nhận thấy trong Phu 4:2. Cái gọi là hình thức kinh điển trong phân đoạn này – “chớ có thêm bớt gì” – từng được phát hiện là đã tồn tại từ năm 2450 T.C. ở Ai Cập. Thay bằng một lời nguyền thông thường, Giăng cảnh cáo bằng sự đoán phạt và việc mất phần trong cương quốc của Đức Chúa Trời.
20 Lời đáp của Giăng về lời hứa cuối cùng của sách Khải Huyền tương đương với mật khẩu bằng tiếng A-ram là Maranatha: “Lạy Chúa, xin hãy đến!” (ICo 16:22). Lời hứa này là tột đỉnh của mọi lời hứa còn lời đáp lại đó là sự tổng hợp của của mọi niềm hy vọng sống.
21 Lời chúc phước này nhắc nhở chúng ta rằng sách Khải Huyền là một bức thư, và những bài học của nó dành riêng cho từng cá nhân. Chỉ nhờ ân điển của Đức Chúa Giê-xu mà người ta mới có thể chiến thắng để nhận được phần thưởng như đã mô tả trong sách này. Phần của chúng ta là phải luôn mở rộng đời sống mình để tiếp nhận nó và thêm vào tiếng A-men của riêng mình.