IIIGIĂNG
1. LỜI CHÀO (IIIGi 1:1)
Cũng như trong IIGiăng, tác giả đơn giản tự xưng mình là trưởng lão. Người nhận thư là Gai-út, là người yêu dấu (agapetos). Đây là một tên gọi phổ biến và nó xuất hiện nhiều lần trong Kinh Thánh Tân Ước (Cong 19:29 Ro 16:23). Không ai biết gì thêm về ông Gai-út này, nhưng căn cứ theo bức thư này, thì dường như ông đã giữ một chức vụ lãnh đạo tại Hội Thánh địa phương. Trong bức thư này, Giăng đã bốn lần đề cập ông này là “người yêu dấu”, và ở đây ông cũng nói về Gai-út, người tôi yêu dấu trong lẽ thật. Rõ ràng vị trưởng lão này có một tình thương sâu sắc dành cho con người này. Có một điểm lưu ý quan trọng trong bức thư ngắn ngủi này là từ lẽ thật, xuất hiện sáu lần. Cũng như trong các bức thư khác, có lẽ điều này có liên hệ với lẽ thật của Phúc Âm, là lẽ thật mà chúng ta nhận thấy trong Chúa Cứu Thế (đối chiếu c.8).
2. NOI THEO LẼ THẬT (IIIGi 1:2-4)
2 Vào thế kỷ thứ nhất, việc mở đầu một bức thư bằng lời cầu nguyện ngắn đã trở thành một thông lệ. Ở đây Giăng cầu nguyện cho sức khoẻ và mọi công việc của Gai-út cũng được thạnh vượng như phần linh hồn của ông vậy. 3 Những tin tức về hoàn cảnh của bạn thân mình mà Giăng có được là nhờ mấy anh em đã đến và kể cho ông nghe về “lòng trung tín của anh với lẽ thật”. Nếu theo đúng nguyên văn hơn nữa, câu này có nghĩa là “chứng thực về lẽ thật nơi anh” , điều này có lẽ ngụ ý rằng Gai-út vừa thông hiểu vừa bền lòng theo chân lý. Việc Gai-út vẫn làm theo lẽ thật (đối chiếu IIGi 1:4) có nghĩa là ông ngày càng tiến bộ hơn trong lẽ thật, và điều đó khiến cho vị trưởng lão hết sức vui mừng. 4 Thật vậy, ông không còn có sự gì vui mừng hơn là được nghe con cái ông làm theo lẽ thật. Con cái tôi có nghĩa là “con cái của tôi trong đức tin”, “những người đã ăn năn quy đạo thông qua chức vụ của tôi”. Có thể điều này có nghĩa là hội chúng mà người dùng nhóm từ này đang chăn dắt, nhưng vì bức thư này là ông viết cho Gia-út, người rõ ràng là đang ở xa nên dường như đó không phải là ý muốn đề cập ở đây. Niềm vui lớn lao nhất đối với vị trưởng lão này là biết được rằng những người mà mình đưa đến quy đạo đang tiến bộ trong đức tin.
3. LÒNG HIẾU KHÁCH (IIIGi 1:5-8)
5 Vấn đề chính của bức thư này (trái với lời nói mở đầu) được bắt đầu ở đây. Nó cho chúng ta một cái nhìn sơ khởi về một tập tục của Hội Thánh đầu tiên, bởi đó một Cơ Đốc nhân đi ra vì quyền lợi của Phúc Âm lại trông mong các Cơ Đốc nhân địa phương thuộc cộng đồng mà mình đến thăm tiếp đãi. Rất ít những nhà truyền đạo đủ tiền để vào ở quán trọ, và dù sao thì các quán trọ thường mang tiếng xấu. Chắc hẳn việc truyền bá chân lý sẽ có rất nhiều ý nghĩa nếu các nhà truyền đạo có sẵn chỗ trọ khi đi đây đi đó để giảng Phúc Âm. Giăng đã khen ngợi Gai-út về lòng hiếu khách của ông. Anh ăn ở trung tín có thể có nghĩa là “anh đã trung tín với các tín hữu bạn”, hay điểm nhấn mạnh có thể nằm ở đức tin, “hành động của anh rất phù hợp với đức tin của Cơ Đốc nhân. Câu trong mọi điều làm cho các anh em không được cụ thể, nhưng câu tiếp theo cho thấy rằng Giăng đang đề cập đến lòng hiếu khách. Dù họ là người xa lạ cho thấy rõ rằng Gai-út đã cung cấp những điều cần thiết cho các tín hữu ghé thăm Hội Thánh, dù họ không phải bạn thân hay bà con của ông. Đây là hình ảnh thoáng qua về họat động của Hội Thánh đầu tiên.
6 Những người đã nhận được sự tiếp đãi đã làm chứng về sự nhân từ của anh, vì thế những việc làm tốt đẹp của Gai-út đã được nhiều người biết đến. Giăng khen ngợi cách làm của Gai-út và khuyến khích ông tiếp tục: Anh sẽ giúp đỡ sự đi đường cho các anh em . . . thì tốt lắm dường như cho thấy rằng ngoài việc tiếp đãi, lòng hiếu khách còn bao gồm cả việc cung cấp lương thực dự trữ cho chuyến đi tiếp theo nữa. Sách Didache, một quyển sách hướng dẫn của Hội Thánh đầu tiên, cho biết rằng một nhà truyền đạo như thế cần được cung cấp lương thực để ông ta có thể đến được chỗ nghỉ đêm tiếp theo (sách còn cho biết thêm rằng nếu người này xin tiền, thì đó là một tiên tri giả”; Didache, 11:3). Chính là một vài cách làm như thế đã được đề cập ở đây. Cụm từ một cách xứng đáng với Đức Chúa Trời đã đặt ra cho Gai-út những tiêu chuẩn cao nhất; chính Đức Chúa Trời là chuẩn mực, chứ không phải là các tôi tớ Ngài (đối chiếu Gi 13:20). 7 Ấy vì danh Đức Chúa Giê-xu Christ mà các nhà truyền đạo lưu hành đã ra đi. Thật không cần phải trình bày ý nghĩa của Danh ấy; rõ ràng đó là danh trên hết mọi danh (Phi 2:9). Họ đã ra đi mà không nhận lãnh vật chi của người ngoại hết. Nếu làm như thế họ đã làm giảm giá trị của thông điệp mà mình rao giảng nên họ sẽ không làm việc đó. Điều đó khiến họ càng phải lệ thuộc nhiều hơn vào những người như Gai-út. Nói như thế không có nghĩa là một Cơ Đốc nhân chẳng bao giờ chấp nhận sự giúp đỡ từ một người không tin Chúa nhưng có lòng rộng rãi; thỉnh thoảng chính Chúa Giê-xu cũng dùng bữa với những người Pha-ri-si không tin Ngài (Lu 7:36). Điều này có nghĩa là chúng ta không nên trông cậy vào đó. Công tác Cơ Đốc giáo phải do Cơ Đốc nhân tài trợ. 8 Do đó, có một sự bắt buột mà (chúng ta cũng nên là “chúng ta phải”) các tín hữu phải làm, đó là tiếp đãi những người thể ấy. Từ Cho nên dùng để chỉ mục đích. Bổn phận đang được đề cập ở đây không chỉ là việc bày tỏ lòng hiếu khách, mà còn được thực hiện để đẩy mạnh mục đích của Đức Chúa Trời, đó là các tín hữu phải đồng làm việc cho lẽ thật.
4. ĐI-Ô-TRÉP VÀ ĐÊ-MÊ-TRIU (IIIGi 1:9-12)
9 Đi-ô-trép rõ ràng là một nhân vật có quyền hành và rõ ràng có tham vọng muốn có nhiều hơn, tuy chính xác ở đây không cho biết rõ chức vụ của ông là gì. Ông đứng về phía đối lập với phía Gai-út và gây trở ngại cho vị trưởng lão vả cả những nhà truyền đạo. Giăng đã viết cho Hội Thánh, nhưng rủi thay, chúng ta không biết ông đã viết gì. Rõ ràng Đi-ô-trép đã ngăn trở Hội Thánh tiếp nhận bức thư đó. Hơn nữa, ông ta đã thù hằn vị trưởng lão nên không muốn tiếp rước chúng ta. 10 Đi-ô-trép đã nói xấu vị trưởng lão, lấy lời luận độc ác mà nghịch cùng chúng ta. Ông ta thêm vào với lời nói mình những hành động, đó là không tiếp rước anh em nữa (thì của động từ ở đây cho thấy một việc làm đang tiếp diễn). Ông còn không cho phép kẻ khác tiếp rước những người này. Ông đã thực hiện hai biện pháp: một là ngăn trơ những ai muốn tiếp rước, đuổi họ ra khỏi Hội Thánh. Rõ ràng ông có một địa vị quan trọng nên mới làm được điều này, và đồng thời rõ ràng là việc ông chống đối các nhà truyền đạo vẫn cứ tiếp diễn. Rất có thể là với cương vị một người lãnh đạo Hội Thánh địa phương, ông ta thù ghét các nhà truyền đạo lưu hành nào không trung thành với Hội Thánh địa phương mà ông đang quản nhiệm.
11 Giăng dùng gương xấu này để khắc sâu một bài học vào tâm trí Gai-út, người mà lần thứ tư ông gọi là kẻ rất yêu dấu trong bức thư ngắn ngủi này. Ông kêu gọi bạn mình chớ bắt chước điều dữ, nhưng bắt chước điều lành. Bắt chước là một phần tự nhiên của sự sống và ai trong chúng ta cũng thực hiện điều này, nhưng điều quan trọng là chúng ta phải chọn khuôn mẫu đúng để bắt chước. Giăng nhấn mạnh rằng bạn của ông phải bắt chước điều lành. Ai làm lành là thuộc về Đức Chúa Trời, vì tất nhiên tất cả những điều tốt lành đều bắt nguồn từ Ngài. Nếu kẻ nào làm ác (Đi-ô-trép?) thì kẻ ấy chẳng hề thấy Đức Chúa Trời. 12 Đê-mê-triu được giới thiệu mà không một lời giải thích, điều này cho thấy rằng ông là một người được nhiều người biết đến. Người ta phỏng đoán rằng ông ta là một trong số các giáo sĩ lưu hành và là người mang bức thư này đến. Cả hai phỏng đoán này đều có khả năng, nhưng dĩ nhiên chúng ta không biết được. Đê-mê-triu cũng được mọi người đều làm chứng tốt cho, nên ông vốn được tiếng tốt khắp trong Hội Thánh. Với cụm từ chính lẽ thật cũng làm chứng cho được thêm vào đã làm cho vấn đề rõ ràng hơn. Nhóm từ không thông dụng và khó hiểu này rõ ràng cho thấy rằng cách ăn ở cư xử của người này phù hợp với Phúc Âm, cho nên lẽ thật của Phúc Âm đã được truyền giảng qua đời sống ông. Chúng tôi cũng làm chứng riêng cho người có lẽ là cách vị trưởng lão nói rằng bản thân ông cũng bày tỏ sự tán thành của mình về con người này. Nhưng cũng có thể là ông đã gộp chung ý kiến của nhiều người khác với ý kiến của riêng ông, mặc dù nếu đúng như thế thì chúng ta không có cách gì để biết những người này là ai. Nhưng chẳng có gì để nghi ngờ việc ông bày tỏ sự tán đồng chân thành của mình về Đê-mê-triu và nêu rõ rằng ông nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ của người này.
5. KẾT LUẬN (IIIGi 1:13-15)
13 Giăng kết thúc bức thư thứ ba này như ông đã thực hiện trong bức thư thứ hai, đó là ông nói rằng mình còn nhiều điều để viết nữa, nhưng muốn chờ cho đến lúc gặp được bạn thân của mình. Ông dùng thì quá khứ: Tôi đã có nhiều điều muốn viết, và thay mấy chữ “giấy và mực” trong bức thư thứ hai bằng những chữ mực và bút. Dường như ý nghĩa không có gì thay đổi. 14 Tương tự như thế, mong ước được tới thăm bạn mình và trò chuyện đối mặt với nhau cũng giống như trong bức thư trước. 15 Bình an là một từ ngữ chào thăm phổ biến cả cho lúc gặp mặt lẫn lúc chia tay bạn bè. Nó đặc biệt thích hợp cho hoàn cảnh mà Đi-ô-trép đang khích động một cuộc tranh đấu. Đó là một bài cầu nguyện đơn sơ xin sự bình an của Đức Chúa Trời bao phủ họ. Cũng như với chúng ta, bình an không phải là một từ ngữ tiêu cực với ý nghĩa là không có chiến tranh và xung đột, mà là một từ ngữ tích cực kêu cầu sự chúc phước của Đức Chúa Trời. Giăng chuyển lời chào thăm của các bạn hữu đang ở với ông và yêu cầu Gai-út chào thăm các bạn hữu, điều này đủ rõ ràng và chính xác để Gai-út biết được những người mà Giăng muốn nói đến là ai. Đích danh có nghĩa là cá nhân. Tuy vị trưởng lão không liệt kê tên của tất cả những người bạn của mình đã từng ở với Gai-út, ông muốn mỗi người trong đám họ biết rằng đây là lời chào thăm của riêng từng cá nhân ho”. Mỗi người đều sẽ được chào thăm bằng chính tên của mình.