MÁC

MỤC LỤC

MÁC

1. SỰ GIẢNG DẠY VỀ NƯỚC TRỜI (Mac 1:1-8:26)

Phân đoạn rất dài này nói về sự giảng dạy và chữa lành của Chúa Giê-xu trong khắp xứ Palestine.  Có nhiều đoàn dân đông vây lấy Ngài, nhưng đây không hẳn là một “mùa xuân vui vẻ tại xứ Ga-li-lê”.  Không chỉ có đám đông dân chúng không hiểu được Chúa Giê-xu, mà sự chống đối cay nghiệt từ phía các nhà lãnh đạo tôn giáo cũng đã lập tức nổi lên và đeo đuổi Ngài cho đến chân thập tự giá.  Trong suốt giai đoạn này, Chúa Giê-xu không tiết lộ “bí mật về Đấng Mết-si-a”, Ngài không muốn công khai cho mọi người biết Ngài chính là Đấng Mết-si-a.

1. Nền tảng của Nước Trời (Mac 1:1-20)

(Mac 1:1-8) Lời tuyên xưng về Vua (Mat 3:1-12  Lu 3:1-18).  Chúng ta biết rằng Mác là một nhà truyền giảng Phúc Âm, và như hầu hết các nhà truyền giảng Phúc Âm khác, ông đã rất thẳng thắn và ‘đi ngay vào vấn đề’.  Chẳng hạn như ông không mở đầu Phúc Âm của mình với một lời nói đầu trau chuốt mà ông cho chúng ta biết ngay rằng chủ đề chính của ông là ‘Phúc Âm’ về Chúa Giê-xu là Chúa Cứu Thế (hay là Đấng Mết-si-a), Ngài là Đấng được chọn của Đức Chúa Trời, và Ngài cũng là Con Đức Chúa Trời.  Cả hai đặc điểm này được thể hiện ngày càng rõ nét hơn trong sách Phúc Âm.  Chính Chúa Giê-xu không tuyên bố Ngài là Đấng được chọn và là Con Đức Chúa Trời.  Thật vậy, chỉ khi Đức Chúa Trời mở mắt cho chúng ta thì chúng ta mới có thể thấy được lẽ thật trong những điều mà Chúa Giê-xu đã dạy dỗ và từ những gì mà Ngài đã làm.  Phúc Âm Mác là một lời tuyên xưng chắc chắn về Đấng Mết-si-a bởi một người đã được mở mắt thuộc linh đó là lý do mà việc chữa lành cho người mù trong sách Mác chính là hình ảnh về những gì Chúa Giê-xu phải làm cho tất cả chúng ta.

‘Phúc Âm’ đã được Đức Chúa Trời hoạch định trước từ rất lâu.  Mác đã trích dẫn lời tiên tri Ma-la-chi và tiên tri Ê-sai để chứng minh cho điều đó, mặc dù ở đây ông chỉ đề cập đến tên Ê-sai.  Mác chứng minh rằng ‘sứ giả’ được nói tiên tri là Giăng Báp-tít, và Chúa được ghi lại trong câu 3 chính là Chúa Giê-xu.  Và như thế, Mác đã nhìn nhận Chúa Giê-xu như bình đẳng với Đức Chúa Trời vì từ ‘Chúa’ trong Cựu Ước thường có nghĩa là ‘Đức Chúa Trời’.  Đây chính là những lời tuyên bố mà bởi đó các thầy tế lễ và các trưởng lão sẽ đóng đinh Chúa Giê-xu.  Chúng ta không thể giữ thái độ trung lập khi đối diện với Chúa Cứu Thế: Ngài là Đấng Mết-si-a và là Con Đức Chúa Trời, hay Ngài không phải là như thế? Chúng ta sẽ có thái độ nào?

Giăng Báp-tít rao giảng sứ điệp về sự cần thiết phải ăn năn, và đây là điều kiện tiên quyết để được Đức Chúa Trời tha thứ mọi tội lỗi. Sứ điệp này tương tự như sứ điệp của các tiên tri của Y-sơ-ra-ên, thậm chí y phục mà Giăng mặc cũng giống như của họ.  Sự thay đổi của toàn bộ tấm lòng thể hiện bằng sự ăn năn phải được bày tỏ qua việc tiếp nhận phép báp-tem.  Một lần nữa, điều này không phải là mới mẻ.  Người Do Thái luôn có nghi lễ rửa, đặc biệt cho những người ngoại gia nhập vào Do Thái giáo.  Điểm mới ở đây là Giăng cho rằng phép báp-tem cần thiết đối với cả người Do Thái cũng như cho dân ngoại.  Một điều mới nữa là ông loan báo rằng sẽ có một Đấng vĩ đại hơn ông sẽ đến sau ông.  Giăng chỉ có thể làm phép báp-tem bằng nước (một nghi lễ rửa bên ngoài và có tính tượng trưng), nhưng Đấng đến sau ông sẽ tẩy sạch và đổi mới những tấm lòng bằng chính Đức Thánh Linh.  Đây là điều làm cho công tác của Chúa Giê-xu hoàn toàn khác biệt so với công tác của Giăng.

Vì thế, Mác dù không trích dẫn Cựu Ước nhiều như các tác giả Phúc Âm khác, nhưng cũng như họ, ông tin rằng nguồn gốc của Phúc Âm là từ bản Kinh Thánh của người Do Thái.  Và ông cũng không đề cập nhiều đến Đức Thánh Linh như các Phúc Âm khác, nhưng ông có lòng tin mạnh mẽ rằng Chúa Giê-xu chính là Đấng ban Đức Thánh Linh cho mọi kẻ tin, và Đức Thánh Linh là quyền kế thừa cho mọi tín hữu chớ không chỉ giới hạn cho một số ít người như trong thời Cựu Ước.  Nếu người Do Thái nào ăn năn đến cùng Giăng Báp-tít đều nhận được phép báp-tem từ nơi ông thì cũng như vậy, mọi kẻ tin đến Chúa Giê-xu sẽ được Ngài làm báp-tem bằng Đức Thánh Linh.  Phép báp-tem bằng nước của Giăng chỉ là hình ảnh bên ngoài mà phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh mới là ý nghĩa thật bên trong.

Chú thích về phần mở đầu của sách Mác: Trước đây đã có nhiều sự tranh luận về chức năng và phạm vi ảnh hưởng của phần mở đầu trong sách Mác.  Có vẻ như mục đích của sách Mác (giống như phần kể về sự giáng sinh trong Ma-thi-ơ và Lu-ca và phần mở đầu trong sách Giăng) là để giới thiệu với độc giả về ý nghĩa thật của Chúa Giê-xu như là Đấng Mết-si-a và Con Đức Chúa Trời, trước khi câu chuyện về Ngài bắt đầu.  Nhưng phần mở đầu này kết thúc tại đâu và Phúc Âm bắt đầu từ chỗ nào là ‘thích hợp’? Phần giới thiệu chỉ là câu đầu tiên hay bao gồm từ câu 1-8? Nếu phần giới thiệu có cả các câu 2-11 thì vị trí mà Giăng Báp-tít được thể hiện tại đây rất quan trọng, không chỉ với tư cách là sứ giả hay người đưa tin của Đấng Mết-si-a đã được Đức Chúa Trời hứa ban, mà còn là người đề ra một mẫu mực cho đời sống của Chúa Giê-xu, đó chính là sự chối bỏ và sự chết.

(Mac 1:9-13) Sự thử thách Vua (Mat 3:13-4:11  Lu 3:21-4:13).  Các vua và các quan xét của Y-sơ-ra-ên trong thời Cựu Ước đều được Đức Chúa Trời chọn lựa và xức dầu.  Những lần thử nghiệm sẽ chứng tỏ rằng họ thật sự là người được chọn của Đức Chúa Trời cho các chức vụ ấy.  Và đối với Chúa Giê-xu cũng như thế.  Ngài đã đến để chịu phép báp-tem của Giăng.  Điều này làm cho một số nhà thần học ban đầu, họ thắc mắc tại sao Chúa Giê-xu lại chịu phép báp-tem nếu như Ngài không có tội lỗi gì và không cần phải ăn năn? Mác thì không hề gặp khó khăn trong vấn đề này, ông chỉ cần ghi lại những gì đã xảy ra mà không đưa ra lời bình luận nào cả.  Phép báp-tem thường là dấu chỉ của sự đoán xét nên có lẽ Mác xem điều này như là sự sẵn lòng chấp nhận của Chúa Giê-xu về con đường gian khổ mà với tư cách là Đấng Mết-si-a Ngài phải cam chịu (Mac 10:38).

Trong câu 10, việc xem chữ Ngài như đề cập đến Chúa Giê-xu là một điều tự nhiên, tuy Gi 1:33 dường như ngụ ý rằng Giăng Báp-tít cũng có sự hiện thấy này.  Trong Cựu Ước, sự mở ra của các từng trời là hình ảnh của việc Đức Chúa Trời giáng xuống, nhưng ở đây chính Đức Thánh Linh đã hiện xuống, giống như một chim bồ câu, là biểu tượng của sự mềm mại và hoà bình.  Hình ảnh này cũng gợi nhớ về câu chuyện sáng tạo trong Sa 1:2.  Một số người theo dị giáo cho rằng Chúa Giê-xu chỉ là một con người được Đức Thánh Linh đáp xuống, nhưng Mác đã công bố Ngài là Con Đức Chúa Trời (Mac 1:1) và tiếng phán của Đức Chúa Trời đã tuyên bố chính điều đó vào lúc Chúa Giê -xu chịu phép báp-tem.

Một số bản chép tay bỏ qua những từ ‘Con Đức Chúa Trời’ trong 1:1 nhưng chắc chắn là những từ này phải được đề cập đến ở đây.  Tiếng phán từ trời tuyên bố Chúa Giê-xu là Con yêu dấu của Đức Chúa Trời (trong tiếng Hi Lạp từ này đôi khi được dùng với nghĩa là ‘con một’) và Đức Chúa Trời đẹp lòng về Ngài.  Tiếng phán của Đức Chúa Trời đang công bố lời của Đức Chúa Trời.  Những lời này là sự kết nối giữa Thi 2:7 và Es 42:1.  Được đặt cùng với nhau, hai câu này cho thấy rằng mặc dù Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời, nhưng trong địa vị là tôi tớ Đức Chúa Trời Ngài phải chịu khổ và chịu chết để thực hiện công tác của Đức Chúa Trời, và có lẽ điều này đã phản ánh sự hiểu biết của Mác về ý nghĩa của phép báp-tem của Chúa Giê-xu - như là một sự sẵn sàng trong việc nhận lãnh lấy trách nhiệm.  Chúng ta sẽ thấy rằng các môn đồ của Chúa Giê -xu không muốn chấp nhận con đường đã dành cho Chúa, và họ càng không sẵn lòng để tiếp nhận điều này cho chính họ.  Tuy nhiên, như Phao-lô cho chúng ta biết trong Ro 6:3 rằng tất cả chúng ta đều đã được báp-tem vào trong sự chết của Chúa Giê-xu, và điều này đã trở nên một hiện thực thực tế đối với nhiều người đã tử đạo tại thành Rô-ma.  Không có con đường nào khác trong Cơ Đốc giáo ngoài sự chết về bản ngã cho Chúa Giê-xu, Ngài là gương mẫu cho chúng ta và Ngài đã chọn để bước đi theo con đường ấy.

Bởi việc sẵn lòng tiếp nhận lời kêu gọi bằng bất cứ giá nào, Chúa Giê-xu đã vượt qua thử thách đầu tiên, nhưng liệu Ngài có vượt qua được thử thách thứ hai không? Chính Đức Thánh Linh trong sự hiện thấy khi Chúa Giê-xu chịu phép báp-tem đã đưa Ngài vào nơi vắng vẻ, tại đó Ngài phải đối mặt với những cuộc tấn công của ‘kẻ thù’ hay ‘đối thủ’ (đây là ý nghĩa của tên gọi Sa-tan).  Các sách Phúc Âm khác có nêu lên chi tiết về cách thức mà kẻ thù đã thử Chúa Giê-xu, nhưng đối với Mác, việc chứng minh rằng kẻ thù không thể đánh bại Ngài là đủ.  Xét theo một nghĩa nào đó, chiến thắng đầu tiên của Chúa Giê-xu trước kẻ thù là tất cả những gì Ngài sẽ thể hiện trong chức vụ của Ngài qua việc đuổi quỉ, chữa lành kẻ tật bệnh, và trên hết là giải cứu cho những người bị kẻ thù cầm giữ qua việc rao giảng Phúc Âm cho họ.  Trong ý nghĩa này, sự rao giảng Phúc Âm của Chúa Giê-xu thật sự là ‘sự rao giảng trong năng quyền’, nhưng quyền năng ấy luôn luôn là quyền năng của thập tự giá và Phúc Âm.

Mặc dù Ngài là Con Đức Chúa Trời, nhưng Chúa Giê-xu không chiến đấu đơn độc, tất cả mọi năng quyền thiên thượng đều ở cùng Ngài, cũng như vẫn đang ở cùng chúng ta, ngay cả khi chúng ta không thấy được các năng quyền ấy.  Chúng ta sẽ biết được sự tấn công thuộc linh dữ dội là gì sau khi có được kinh nghiệm lớn lao nào đó về mặt thuộc linh, chính Chúa Giê-xu đã trải qua điều này nên Ngài có thể hoàn toàn hiểu được.  He 5:7 đã thể hiện điều này về mặt thần học, ở đây Mác chỉ mô tả về mặt sự kiện.  Tuy không có một sự liên hệ trực tiếp nào đến những sự cám dỗ sau này của Chúa Giê-xu, nhưng từ phản ứng của Chúa Giê-xu đối với lời gợi ý của Phi-e-rơ rằng Ngài nên tránh xa thập tự giá (Mac 8:33) và từ lời cầu nguyện của Ngài trong vườn Ghết-sê-ma-nê (14:33-36) chúng ta có thể thấy rằng Ngài phải thường xuyên đối mặt với sự cám dỗ để né tránh con đường mà Đức Chúa Trời đã định sẵn cho Ngài (cũng như tất cả chúng ta đều muốn né tránh như vậy).  Có lẽ đây là cách mà Mác đã lặng lẽ bày tỏ cho chúng ta thấy bản chất của sự cám dỗ Chúa Giê-xu trong đồng vắng.  Để biết thêm câu chuyện về những lần cám dỗ, (Mat 4:1-11  Lu 4:1-13).

(Mac 1:14-20) Lời kêu gọi các môn đồ của Vua (Mat 4:12-22  Lu 5:1-11).  Ngay khi Sau-lơ hay Đa-vít lên ngôi vua trong thời Cựu Ước, họ bắt đầu tập hợp lại xung quanh họ một nhóm nhỏ những người thân cận, là những người sẽ đối mặt với hiểm nguy hoặc sự chết vì cớ họ.  Chúa Giê-xu cũng đã làm như thế, và mối hiểm nguy mà Ngài phải đương đầu trong thực tế được thể hiện trong câu 14.

Sau khi Giăng bị giam vào trong ngục (và chẳng bao lâu sau đó ông phải đối diện với cái chết tại nơi này), Chúa Giê-xu đã quyết định trở lại Ga-li-lê, cách xa nơi Ngài đã có được những kinh nghiệm thuộc linh về sự báp-tem và cám dỗ trước đây.  Mục đích của Ngài là sẽ công bố về Tin Mừng của Đức Chúa Trời nghĩa là Phúc Âm mà Đức Chúa Trời đã gởi đến và cũng là Phúc Âm về Đức Chúa Trời – Ngài đã sẵn lòng chấp nhận chúng ta và tha thứ cho chúng ta.  Điều này chỉ thực hiện được bởi những gì Chúa Giê-xu đã làm trên thập tự giá cho chúng ta, và chỉ có Chúa Giê-xu mới có thể bày tỏ cho chúng ta biết được một cách trọn vẹn về bản chất của Đức Chúa Trời, nên chính Chúa Giê-xu là Tin Mừng ấy, và rao giảng về Phúc Âm cũng là rao giảng về Chúa Giê-xu.  Thể hiện được điều này chính là mục tiêu của Phúc Âm của Mác: ‘thời hạn đếm lui’ vĩ đại của Đức Chúa Trời trong lịch sử đã chấm dứt, và thời gian ‘châm ngòi’ đã đến.  Sự cai trị trên đất của Đức Chúa Trời sắp bắt đầu.  Dĩ nhiên là xét theo một nghĩa nào đó thì sự cai trị của Ngài luôn hiện diện trên đất, nhưng ở đây muốn đề cập đến một cấp độ sâu hơn.  Nước Đức Chúa Trời đã được bày tỏ trước nhất qua cuộc đời của Chúa Giê-xu và sau đó là qua đời sống của các môn đồ Ngài.

Một trong những điều Mác mong muốn đuợc trình bày chính là việc Nước Trời sẽ đến trong yên lặng, không được nhiều người quan tâm đến vì thế gian không thể trong chốc lát mà biến đổi được.  Sự kiện này, cũng như phương cách mà Đức Chúa Trời đã chọn để bày tỏ cho chúng ta biết về Nước Ngài qua sự thương khó của Đấng Mết-si-a là hai sự việc mà Mác muốn trình bày cho chúng ta qua Phúc Âm của ông.  Đây là ‘sự mầu nhiệm của Nước Trời’ mà chúng ta không thể thấy cho đến khi Đức Chúa Trời tỏ ra cho chúng ta.  Đây cũng là lý do Chúa Giê-xu không thể công khai chức vị của Ngài là Đấng Mết-si-a– chỉ đến khi con người nhận biết rằng Đấng Mết-si-a phải chịu khổ thì họ mới không còn mong đợi Ngài hành động như một Vua của thế gian này nữa. 

Giăng đã kêu gọi người ta ăn năn và chịu phép báp-tem Chúa Giê-xu kêu gọi họ phải ăn năn tin đạo Tin Lành.  Tuy nhiên, qua sách Phúc Âm Giăng chúng ta được biết rằng các môn đồ của Chúa Giê-xu cũng đã thực hành phép báp-tem (Gi 3:22). Tin (đạo) Tin Lành là tin nơi Chúa Giê-xu.  Tin Chúa Giê-xu là theo Ngài, vì thế Ngài đã kêu gọi các môn đồ đầu tiên của Ngài, cũng như Ngài vẫn kêu gọi chúng ta ngày hôm nay.  Si-môn và Anh-rê, Gia-cơ và Giăng đều là những con người bình thường với những công việc bình thường khi Chúa Giê-xu kêu gọi họ làm tay đánh lưới người.  Như thường lệ, Mác chỉ nêu lên cốt lõi của câu chuyện.  Phúc Âm Giăng cho chúng ta biết rằng những ngư phủ này đã có một vài lần tiếp xúc với Giăng Báp-tít trước khi họ trở thành môn đồ của Chúa Giê-xu.  Dù chúng ta đã chuẩn bị trước nhiều đến đâu chăng nữa thì cũng sẽ đến một lúc khi lời kêu gọi của Chúa đến với mỗi chúng ta một cách riêng tư, và chúng ta phải quyết định để bước đi theo Ngài hay không.  Mác đã tập trung trình bày chính thời điểm này.  Những người được Chúa kêu gọi phải quyết định từ bỏ mọi thứ họ có, dù ít hay nhiều, và bước đi theo Chúa Giê-xu.  Để đáp lại sự vâng phục của họ Chúa Giê-xu hứa sẽ khiến họ trở nên ngư phủ hay ‘tay đánh luới’ của Nước Trời, họ sẽ chinh phục người khác về cho Ngài như Ngài đã chinh phục họ vào giờ phút ấy.  Việc dẫn đưa nhiều người về cho Nước Trời chính là mục tiêu của chức vụ trên đất của Chúa Giê-xu, và đó là lý do mà việc giảng Phúc Âm, chớ không phải việc chữa lành hay đuổi quỉ mới là thực chất của chức vụ Ngài.  Phép lạ chữa bệnh và đuổi quỉ chỉ là các dấu hiệu của Nước ấy đó là những bằng chứng về quyền năng Đức Chúa Trời và tình yêu của Ngài dành cho chúng ta.

Chú thích. Tại thời điểm này có lẽ chúng ta đang nghĩ đến danh sách Mười hai vị Sứ đồ của Chúa Giê-xu, nhưng cho đến Mac 3:13-19 chúng ta mới thấy được bản danh sách này.  Có thể lúc này độc giả cũng muốn xem qua phân đoạn Kinh Thánh ấy.

2. Các dấu hiệu của Nước Trời (Mac 1:21-3:35)

Trong thời Cựu Ước, khi một vị quan xét hay một vị vua đã được xức dầu, được công bố và được ban Thần của Đức Chúa Trời để thi hành chức vụ thì người đó phải đi ra và chứng tỏ cho mọi người biết về sự kêu gọi của mình.  Đây chính là mục đích của các phân đoạn Kinh Thánh sau này.  Trước đây Mác đã cho rằng Chúa Giê-xu là Đấng Mết-si-a và là Con Đức Chúa Trời, nay ông chứng minh cho chúng ta điều đó.  Chúa Giê-xu đã từng đắc thắng kẻ thù trong đồng vắng, nay Ngài sẽ lại chế ngự nó trong đời sống hàng ngày tại xứ Ga-li-lê.

(Mac 1:21-28) Chúa Giê-xu đuổi ma (Lu 4:31-37  Mat 7:28-29).  Trong một nhà hội tại thành Ca-bê-na-um, người ta kinh ngạc với sự tự tin của Chúa Giê-xu khi Ngài nói Ngài thật khác với các thầy thông giáo bình thường của họ và lời Ngài nghe như quyền phép.  Mác thường ghi lại rằng người ta đã kinh ngạc trước những gì Chúa Giê-xu nói và làm, nhưng ở đây ông cũng lưu ý rằng điều đó không nhất thiết đưa đến đức tin nơi Ngài.  Chúng ta có thể nói rằng những sự ấy chỉ lưu lại trong trí họ chớ không chạm đến tấm lòng họ.  Không chỉ những người đến thờ phượng trong nhà hội thừa nhận năng quyền của Chúa Giê-xu mà một người đàn ông ở dưới quyền lực của ma cũng thừa nhận điều đó.  Người này hoàn toàn ở dưới quyền lực của kẻ thù.

Người ta thường nói rằng có hai mối hiểm họa có mức độ ngang nhau khi nghĩ về kẻ thù.  Thứ nhất là chúng ta phớt lờ nó, hoặc cố giải thích theo hướng khoa học.  Cách thức thứ hai là quá chú trọng vào nó đến mức không lành mạnh thay vì phải hướng về Đấng Christ, và đã quá hướng tâm vào các tà linh thay vì phải nghĩ đến Đức Thánh Linh.  Người phương Tây có khuynh hướng theo cách nghĩ thứ nhất, nhưng có thể kinh nghiệm về các cuộc chiến tranh thế giới và sự sa sút về mặt xã hội buộc các nhà tâm lý học phải tìm hiểu nguyên nhân sâu xa của điều ác.  Sự hướng tâm vào tà linh từ lâu đã là hiểm họa của thế giới thứ ba.  Cả hai thái cực này đều không phù hợp với Kinh Thánh, do đó chúng ta phải cố gắng quân bình giữa hai thái cực này.

Có thể chúng ta sẽ cố gắng để giải thích cho những người đang ở dưới quyền lực của ma quỷ về các sự kiện được đề cập đến trong Kinh Thánh bằng cách nói rằng đó là cách mà con người trong thời đại chưa có tiến bộ khoa học nói và nghĩ về bệnh tật, cả về thể xác lẫn tinh thần.  Tuy nhiên những người làm việc tại các vùng đất phi Cơ đốc (không biết Chúa), hoặc hậu Cơ đốc (những nơi chỉ biết đến Chúa sau này) đều biết rõ rằng thực tế có một điều gì đó như là sự quỉ ám.  Trong Tân Ước có một sự phân biệt rất rõ ràng giữa tình trạng bị quỉ ám với sự đau bệnh thường tình hoặc ngay cả với những chứng bệnh điên khùng.  Thông thường Kinh Thánh giới hạn sự ‘bị quỉ ám’ ở những trường hợp có sự chống đối lại Đức Chúa Trời từ bên trong, và sự chữa lành có thể đến cùng người này.  Chúng ta phải rất cẩn thận không được sử dụng thuật ngữ này quá rộng rãi hay quá xem nhẹ, nhưng cũng cần phải thận trọng không được chối bỏ hết thảy.

Ngay từ phần mở đầu của Phúc Am Mác chúng ta đã được biết Chúa Giê-xu đang giao chiến với kẻ thù trong  một cuộc xung đột và cuộc chiến này sẽ tiếp tục diễn ra trong suốt chức vụ của Ngài.  Kinh Thánh cho biết rằng trước khi Chúa Giê -xu giải phóng cho chúng ta thì dù ít hay nhiều chúng ta đều đang ở dưới quyền lực của kẻ thù, cũng như mọi Cơ Đốc nhân đều ở dưới quyền tể trị của Đức Thánh Linh trong một mức độ nào đó.  Đôi khi có những người hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của kẻ thù (các Cơ Đốc nhân ở thế giới thứ ba có lẽ biết rõ điều này) đến nỗi chúng ta có thể cho là họ “bị ám”.  Ngược lại, có những người lại được “đầy dẫy” Đức Thánh Linh (Eph 5:18).  Người đàn ông trong nhà hội tại Ca-bê-na-um đã hoàn toàn bị tà ma điều khiển, tà ma này đã lập tức nhận biết thẩm quyền trong lời giảng dạy của Chúa Giê-xu và vì thế nó đã phản ứng rất dữ dội.  Chúng ta cần lưu ý rằng trong Kinh Thánh, việc đuổi các tà linh không phải là một nghi lễ có tính ma thuật nên không cần dùng đến những câu thần chú và các tên gọi (như trong các tôn giáo khác), nhưng là đem Phúc Âm về Chúa Giê-xu đến cho người bị tà ma ám.  Đây mới chính là ý nghĩa của việc đuổi quỷ ‘nhân danh Chúa Giê-xu’, chớ không phải đơn thuần chỉ là việc lặp lại cái tên ấy một cách máy móc.  Đó là lý do mà ‘trừ tà ma’ không phải là một từ dùng hay vì nó mang đến ý nghĩa về một ‘câu thần chú’.  Phương cách ‘trừ tà ma’ tồn tại lâu bền nhất chính là việc đặt Chúa Giê-xu làm chủ trong đời sống chúng ta, thay vì là kẻ thù.  Bất cứ phương cách nào khác hơn chỉ đưa đến điều tệ hại hơn mà thôi (Mat 12:45). 

Việc người đàn ông kêu lớn tiếng trong câu 24 là một sự đáp trả lại lời rao giảng của Chúa Giê-xu về Phúc Am trong nhà hội ngày hôm đó.  Tà ma bên trong người đàn ông ngay lập tức nhận ra Chúa Giê-xu là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời (ít ra nếu đây không phải là một danh hiệu của Đức Chúa Trời thì cũng là một danh hiệu của Đấng Mết-si-a).  Chúa Giê-xu không thể chấp nhận một lời chứng bị ép buộc và miễn cưỡng như thế đây không phải là lời chứng của Đức Thánh Linh.  Vì thế Ngài quở trách và đuổi tà linh ấy đi (25).  Nhưng ngay cả sự bày tỏ về quyền năng này chỉ tạo nên sự kinh ngạc giữa vòng những người chứng kiến mà không hề gây sự ngạc nhiên nào cho các môn đồ.  Có lẽ người đàn ông này đã trở nên môn đồ của Chúa Giê-xu sau khi được Ngài chữa lành.

Lời chứng của các tà linh về Chúa Giê-xu như ở đây hoàn toàn khác hẳn với lời tuyên xưng của Phi-e-rơ về Ngài (Mac 8:29), bằng nhiều cách khác nhau lời chứng này đã tạo nên bước ngoặt của toàn bộ Phúc Am.

(Mac 1:29-34) Chữa lành kẻ đau bệnh (Mat 8:14-17  Lu 4:38-41).  Mác đã cho thấy việc Chúa Giê-xu đuổi quỉ như là một dấu hiệu về Nước Trời, nay ông lại trình bày việc Chúa chữa lành kẻ đau bệnh.  Bà gia của Si-môn Phi-e-rơ được chữa khỏi bệnh rét vào chính buổi chiều ngày Sa-bát hôm đó tại nhà riêng của bà (phải chăng chúng ta phải chịu ơn Phi-e-rơ về những chi tiết này?).  Kế đó, khi mặt trời đã lặn (nghĩa là đã qua ngày Sa-bát và những ‘công việc’ như chữa lành kẻ đau bệnh đều được phép), dường như cả thành Ca-bê-na-um đều nhóm lại trước cửa nhà và đem mọi kẻ bệnh người bị quỉ ám đến.  Mác đã phân chia họ thành hai nhóm riêng biệt nhưng Chúa Giê-xu đã chữa lành cho tất cả.  Khi Mác nói nhiều người được chữa lành, ông không có ý nói rằng có một số người không được chữa lành, nhưng đơn giản là ông chỉ đề cập đến con số những người có mặt tại đó.  Một lần nữa, Chúa Giê-xu chối bỏ lời chứng của các quỉ mặc dù Ngài đã thực sự đuổi chúng đi.

Một chi tiết sinh động trong câu chuyện là cách thức mà một người phụ nữ được Chúa chữa lành đã bày tỏ tình yêu và lòng biết ơn của bà đối với Chúa Giê-xu ngay lúc ấy một cách rất thực tế bằng cách đãi ăn cho Ngài và mười hai môn đồ đang đói.  Không phải tất cả mọi người đều có thể giảng dạy, nhưng mọi người đều có thể yêu thương và phục vụ bằng một cách nào đó.

(Mac 1:35-39) Chúa Giê-xu cầu nguyện (4:42-44).  Chúa Giê-xu nay đã là một người chữa bệnh và đuổi quỉ nổi tiếng và người ta có thể nghĩ rằng Ngài sẽ lợi dụng điều này.  Ngày nay chúng ta cũng đối diện với những áp lực tương tự để chọn làm theo đời này trong việc tổ chức ‘các chiến dịch chữa lành’ hoặc ‘những cuộc tập hợp biểu trưng phép lạ’.

Ở đây chúng ta thấy Chúa Giê-xu đã yên lặng đi vào một nơi vắng vẻ để cầu nguyện (35).  Si-môn và các môn đồ khác dường như nghĩ rằng Ngài lầm lẫn và đang đánh mất cơ hội lớn khi được công chúng biết đến.  Đây không phải là lần cuối cùng mà suy nghĩ của Si-môn là suy nghĩ của loài người, không phải của Đức Chúa Trời (Mac 8:33).  Chúa Giê-xu không muốn để mọi người tìm kiếm Ngài chỉ như tìm đến một người làm phép báp-tem đơn thuần Ngài muốn được nhìn nhận là một Đấng Cứu Rỗi.  Cách thức duy nhất để đạt được điều này là rao giảng Phúc Âm, và Chúa Giê-xu đã cam kết thực hiện điều đó tại các làng xung quanh.  Vì thế, Ngài đem các môn đồ đến khắp các nhà hội của vùng Ga-li-lê đông dân cư để giảng dạy đạo, đuổi quỉ và chữa lành bệnh tật.  Việc đuổi quỉ giữ vai trò quan trọng vì nó có ảnh hưởng đến linh hồn, trong khi việc chữa lành về thể xác chỉ có thể kéo dài đời sống ngắn ngủi trên đất.

(Mac 1:40-45) Chữa lành một người phung (Mat 8:1-4  Lu 5:12-16).  Từ được dùng để nói về phung ở đây bao hàm nhiều chứng bệnh ngoài da kể cả bệnh phung.  Tất cả những căn bệnh này đều phân rẽ người bệnh khỏi sự tiếp xúc với người khác, vì về mặt nghi lễ người bị bệnh phung bị xem là ô uế.  Thật ra, thái độ của mọi người đối với người phung lúc bấy giờ cũng giống như thái độ của mọi người đối với bệnh AIDS (Sida) ngày nay - vừa khiếp sợ vừa ghê tởm lẫn lộn.  Bệnh phung thường bị xem như là hình phạt của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi, vì thế dù người đàn ông này không nghi ngờ quyền phép chữa lành của Chúa Giê-xu, nhưng ông ngần ngại về thiện ý muốn chữa lành của Ngài.  Nhưng ông không phải nghi ngờ vì (như thường được nêu trong Mác), Chúa Giê-xu đầy lòng thương xót, Ngài đã chạm đến và chữa lành cho ông.  Tác động của Chúa Giê-xu trên người đàn ông khi Ngài chạm vào hẳn là rất mạnh mẽ.  Bởi việc làm này, Chúa Giê-xu không những có nguy cơ bị lây nhiễm mà về mặt tôn giáo, Ngài biết rõ sẽ trở nên ‘ô uế’, để người đàn ông có thể trở nên sạch.  Phải chăng Mác có ý muốn xem đây là hình ảnh về những gì Chúa Giê-xu sẽ làm cho tất cả chúng ta trên thập tự giá?

Một lần nữa đây là một cơ hội rất tốt để được nhiều người biết đến hơn nữa nhưng Chúa Giê-xu đã không lợi dụng điều này.  Ngài nghiêm nghị lưu ý người đàn ông phải thực hiện đúng hai điều.  Thứ nhất là hãy đi và nhận lấy ‘giấy chứng nhận sức khoẻ’ nơi thầy tế lễ, mà nếu không có sự chứng nhận này ông ta không thể tái hội nhập vào xã hội và tham dự vào sự thờ phượng Đức Chúa Trời.  Điều thứ hai là ông không được nói cho bất kỳ ai về việc mình đã được chữa lành.  Cũng như nhiều người trong chúng ta, người đàn ông cho rằng mình biết nhiều hơn Chúa Giê-xu nên ông đã kể cho mọi người nghe sự chữa lành của mình.  Có lẽ ông muốn mọi người đều biết đến ông chăng? Kết quả của việc ông ta không vâng lời là Đức Chúa Giê-xu không vào thành cách ràng được nữa, song Ngài ngoài tại nơi vắng vẻ.

Chúa Giê-xu đã có thái độ nhân từ, thương xót đến thế nên hội thánh của Ngài đã đi tiên phong trong công tác yêu thương và chữa lành cho những người phung, ngay cả khi tất cả những người khác đều khước từ họ thì cũng là một điều dễ hiểu.  Nhưng về những người bệnh AIDS (Sida) thì thế nào? Liệu Cơ Đốc nhân chúng ta ngày nay có bày tỏ tình yêu và lòng thương xót tương tự đối với họ ? Chúa Giê-xu sẽ làm gì trong trường hợp của chúng ta?

(Mac 2:1-12) Chữa lành một người bại (Mat 9:1-8  Lu 5:17-26).  Câu chuyện kế tiếp này cho chúng ta thấy kết quả của những việc làm gây nên bởi người phung đã được chữa lành nói trên.  Khi Chúa Giê-xu trở lại thành Ca-bê-na-um, thì ngôi nhà Ngài ở bị dân chúng kéo đến đông đúc, có thể đoán được họ là những người muốn được chữa lành.  Nhưng Chúa Giê-xu đã tiếp tục giảng Phúc Âm cho họ, vì đó mới chính là mục đích của Ngài.  Vì thế, đây chắc hẳn là một sự cám dỗ lớn để Ngài phải nổi giận khi bốn người đàn ông đang lo lắng tìm cách để giúp cho người bạn đau ốm của họ được chữa lành, họ đã dở mái nhà rồi dòng người bại xuống ngay trước chỗ Chúa Giê-xu đang khi Ngài giảng dạy.  Nhưng Chúa Giê-xu chỉ nhìn vào đức tin nơi họ.  Dường như Ngài chưa hề chữa lành cho ai mà không bởi đức tin, hoặc là về phần người bệnh hoặc về phần những người khác.  Có lẽ bốn người bạn đã nghĩ rằng hành động của họ sẽ đem Chúa Giê-xu từ sự giảng dạy ‘vô ích’ sang sự chữa bệnh ‘thiết thực’.  Chúa Giê-xu thay vì chữa lành ngay cho người đàn ông thì Ngài đã công bố sự tha thứ cho tội lỗi của ông ta.  Bạn hãy tưởng tượng họ đã thất vọng dường nào.  Nhưng Chúa Giê-xu thấy rằng đây là điều mà người đàn ông mong muốn và cần nhất.  Chúa Giê-xu không hề nói rằng mọi thứ bệnh đều có liên quan trực tiếp đến tội lỗi như đa số người Do Thái và một số Cơ Đốc nhân ngày nay vẫn tin như thế.  Tuy nhiên, hầu hết các bác sĩ ngày nay đều đồng ý rằng nhiều thứ bệnh tật có liên quan một cách gián tiếp đến trạng thái tinh thần của chúng ta và cũng có một ý thức về tội lỗi nào đó nằm sau một vài căn bệnh.  Trong trường hợp này sự việc có lẽ là như vậy.

Câu chuyện lẽ ra đã kết thúc ở đây (vì trong niềm vui bởi tội lỗi được tha thứ người đàn ông có thể không còn bận tâm là mình đã được chữa lành về thể xác hay chưa) nếu như không có sự hiện diện của mấy thầy thông giáo tại đó.  Họ đã đúng khi thầm nhận xét rằng chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể tha tội và vì thế Chúa Giê-xu đang phạm tội báng bổ Đức Chúa Trời khi tự nhận mình có quyền năng để tha thứ.  Trong đầu họ chưa hề xuất hiện câu hỏi liệu Chúa Giê-xu có phải còn hơn cả một con người đơn thuần hay không.  Các Phúc Âm đều cho biết rõ về khả năng thấu hiểu lòng người của Chúa Giê-xu, Ngài biết những ý nghĩ thầm kín ra của họ và đã hỏi một câu hỏi rất rõ ràng : điều nào là dễ hơn giữa việc tha tội và chữa lành bệnh? Câu trả lời có thể được hiểu ngầm là không có cách nào để kiểm nghiệm tính xác thực của sự tha tội, nhưng đối với sự chữa lành lại là một việc dễ dàng.  Để chứng minh rằng Ngài có quyền tha tội, và cũng như là một dấu chỉ về Nước Trời, Chúa Giê-xu đã chữa lành cho người bại.  Có thể không có gì phải tranh cãi về việc đó.  Và một lần nữa, rõ ràng là sau đó mọi người đã kinh ngạc nhưng vẫn không tin nơi Chúa Giê-xu.

Chúa Giê-xu đã gián tiếp nói về Ngài như là Con Người, điều này có vẻ mơ hồ một cách có chủ ý.  Trong Phúc Âm Mác, đây là cách mà Chúa Giê-xu thường mô tả về Ngài.  Tên gọi này có thể được dùng trong nhiều trường hợp, ví dụ tên gọi này có thể liên hệ đến ‘con người hay chết’ (đại diện cho nhân loại) hoặc cũng có thể đề cập đến con người từ trời trong Da 7:13 đến từ Đức Chúa Trời để thi hành quyền cai trị của Ngài.

Đây là phần mở đầu của một chủ đề khác trong Mác nói về sự chống đối của các nhà lãnh đạo tôn giáo đối với Chúa Giê-xu.  Họ đã khước từ Giăng và vì thế họ cũng sẽ khước từ Chúa Giê-xu.  Ngược lại, những con người bình thường, không bị mù quáng bởi lòng thành kiến, đã lắng nghe cả hai người và tin nhận Phúc Âm ấy.

(Mac 2:13-17) Sự kêu gọi -vi (Mat 9:9-13 Lu 5:27-32).  Đây là một dấu hiệu khác của Nước Trời: Chúa Giê-xu đã đuổi quỉ và chữa lành những thân thể bệnh tật, nay Ngài cho thấy rằng Ngài cũng có thể chữa lành những linh hồn đau khổ nữa.  Câu chuyện bắt đầu với sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu.  Mác không kể lại đầy đủ nội dung sự giảng dạy này như Lu-ca và Ma-thi-ơ, đối với ông, Phúc Âm về Nước Đức Chúa Trời mới là trọng tâm của sự giảng dạy.  Ảnh hưởng của Chúa Giê-xu trên Lê-vi không phải là vấn đề thuộc về quyền phép thôi miên hay nhân cách có sức lôi cuốn giống như một số giáo chủ của các tà giáo ngày nay nhưng đó là do Mác đã rút ngắn câu chuyện đến mức tối thiểu và chỉ giữ lại những điểm thiết yếu.

Chúng ta sẽ không thấy được sự kỳ diệu trong lời kêu gọi Lê-vi nếu chúng ta không nhớ lại cả cụm từ ‘người thu thuế’ có ý nghĩa gì vào thời đó.  Đối với chúng ta ngày nay có thể hiểu theo nghĩa là ‘kẻ cho vay cắt cổ’, và nó cũng có nghĩa là một người cộng tác vì nó có liên hệ đến sự phục vụ cho một đế quốc bị dân chúng căm ghét, hoặc phục vụ cho nhà độc tài cũng bị thù ghét như thế là vua Hê-rốt.  Những người thu thế thường tham lam, không thành thật và vô đạo đức.  Đối với người Do Thái thì còn tệ hơn thế nữa vì về mặt nghi lễ, họ là những người ô uế vì đã thường xuyên giao tiếp với người ngoại.  Ngoài Chúa Giê-xu thì ai có thể kêu gọi một người như thế làm môn đồ mình? Nếu Lê-vi chính là Ma-thi-ơ (mặc dù Mác không đề cập đến điều này), thì có ai khác ngoài Chúa Giê-xu sẽ chọn ông ta làm sứ đồ của Ngài? Chúa Giê-xu đi đến nhà Lê-vi ngồi ăn, và điều này đã làm các thầy thông giáo cảm thấy chướng tai gai mắt vì họ cho rằng Ngài đã đi quá xa.  Đó là bởi vì ngôi nhà có rất đông người thâu thuế kẻ tội mà không hề có một người ‘công bình’ nào trong số họ.  Có thể ‘kẻ có tội’ chỉ là sự đề cập mỉa mai đến những người thâu thuế, hoặc có thể muốn nói đến những người thuộc thành phần ngoài lề xã hội muốn theo Chúa Giê-xu để nhận được sự tha thứ và có được một đời sống mới.

Các thầy thông giáo hỏi các môn đồ của Chúa Giê-xu tại sao Ngài lại cư xử như vậy.  Chúa Giê-xu tình cờ nghe được và trả lời họ rằng cũng như thầy thuốc chỉ giao thiệp với người bệnh, nên cũng là một lẽ tự nhiên nếu Ngài giao du với những kẻ tội.  Mục đích cuối cùng khi Chúa Giê-xu đến trần gian là để kêu gọi những kẻ có tội như thế đến sự thay đổi tấm lòng và đời sống của họ (17).  Đối với những người tự xưng là công bình và tự thoả mãn về mình thì Ngài không có gì để ban tặng, vì con đường duy nhất để một người được vào Nước Trời là đến với tư cách một tội nhân tự xưng tội mình.  Ngày nay những kẻ cho vay cắt cổ, những kẻ lường gạt, và gái mại dâm tìm đến với Hội Thánh của chúng ta hay không ? Và chúng ta có tiếp đón họ không nếu họ đến trong sự ăn năn và tin cậy? Hay chúng ta lại sẽ phản ứng giống như các thầy dạy luật? Liệu chúng ta có xấu hổ và quay đi khỏi họ không?

(Mac 2:18-22) Sự sự mới (Mat 9:14-17  Lu 5:33-39).  Cách cư xử đi ngược lại truyền thống của Chúa Giê-xu không chỉ gây nên sự chỉ trích nơi các giới chức tôn giáo, mà còn gây sự thắc mắc cho những người dân thường.  Họ muốn biết tại sao môn đồ của Chúa Giê-xu khác với môn đồ của người Pha-ri-si và của Giăng Báp-tít, và dường như họ không bận tâm gì đến một số nghi lễ của Do Thái giáo, chẳng hạn như những ngày kiêng ăn hằng tuần.  Các nghi lễ ấy, dù không có trong luật Môi-se, nhưng đã trở nên quan trọng trong cái nhìn của người Do Thái Chúa.  Giê-xu liền trả lời cho họ rằng : không có ai lại kiêng ăn trong một buổi tiệc cưới.  Sự kiêng ăn thể hiện sự đau buồn, và nếu như thật sự có sự đau buồn nào đó thì chỉ có thể xảy ra sau bữa tiệc khi chàng rể đã rời khỏi đó.  Có thể đây là một câu châm ngôn được nhiều người biết đến (giống như câu châm ngôn về thầy thuốc và người bệnh trên đây) nhưng Chúa Giê-xu rõ ràng có muốn nói về chính Ngài khi nói về chàng rể.  Những chữ phải đem đi khỏi họ bao hàm ý nói về sự nghiệt ngã (nếu không nói là sự chết), vì thế có lẽ Chúa Giê-xu đang nói về thập tự giá, là điều đem sự đau buồn đến cho mọi người.

Ở đây có một vấn đề còn sâu sắc hơn là sự kiêng ăn đơn thuần.  Nếu Chúa Giê-xu đã đem đến một sự sống tâm linh tươi mới, thì lẽ nào sự sống ấy vẫn bị gò bó trong các nghi thức cũ kỹ cứng nhắc của Do Thái giáo hay nó cần đến những hình thức tươi mới? Đây là vấn đề đặt ra cho Hội Thánh tại nhiều nơi trên thế giới ngày nay, những nơi này hoặc đã có sự đổi mới có sức thu hút hoặc có phong trào phục hưng.  Tuy nhiên, người ta cần phải có sự dung hòa hoặc điều chỉnh lại nếu không sẽ có sự phân chia và chia rẽ một cách đáng buồn như đã xảy ra trước đây gây ra những thiệt hại to lớn cho cả hai phía.  Chúa Giê-xu không lên án sự kiêng ăn, chính Ngài cũng đã kiêng ăn.  Nhưng sự kiêng ăn có tính nghi thức và bắt buộc của người Do Thái sẽ không thích hợp với tính tự do và tự nguyện của đời sống mới mà Ngài đã đem đến.  Chúng ta có bóp nghẹt đời sống mới bằng những nghi thức cũ không, cho dù có thể những nghi thức này rất thân thuộc đối với chúng ta? Có những nghi thức mà chúng ta bắt buộc phải có nhưng chúng ta có thực hiện các nghi thức mới chưa và chúng có thích hợp không?

(Mac 2:23-28) Chúa của ngày Sa-bát (Mat 12:1-8  Lu 6:1-5).  Từ sự chỉ trích liên tục Chúa Giê-xu, chúng ta có thể thấy dường như một trong những dấu hiệu của Nước Trời là sự chống đối của những kẻ không nhìn biết về Nước ấy.  Trong phân đoạn Kinh Thánh này, sự chống đối đã diễn ra là do các môn đồ của Chúa Giê-xu đang đói lòng đã bứt bông lúc mì vào ngày Sa-bát, và vì thế họ đã phạm đến hệ thống các luật lệ phức tạp về ngày Sa-bát.  Chúa Giê-xu đã đáp lại người Pha-ri-si bằng cách trích dẫn một ví dụ trong Kinh Thánh mà họ không thể chối cãi được.  Vị vua lớn của Y-sơ-ra-ên là Đa-vít đã phạm luật về ngày Sa-bát còn nghiêm trọng hơn nhiều khi trong cơn túng đói mà ông không hề bị lên án về việc ấy.  Tính châm biếm thể hiện rất rõ trong câu nói : ‘Các ngươi chưa đọc đếnhay sao ?’với những người tự xưng là thông thạo về Kinh Thánh, và Chúa Giê-xu vẫn thường sử dụng tính châm biếm này trong các cuộc tranh luận.  Khi vua Đa-vít có hành động như trên thì thầy tế lễ cả vào lúc ấy là A-hi-mê-léc, cha của A-bia-tha, nhưng tên gọi không phải là mấu chốt của câu chuyện.

Một số ra-bi thực sự tin tưởng và dạy dỗ rằng con người được tạo dựng ra là để giữ ngày Sa-bát.  Chúa Giê-xu đã cho thấy điều này là vô lý, Ngài dạy rằng ngày Sa-bát là sự sắm sẵn đầy tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta để chúng ta được nghỉ ngơi và thờ phượng Ngài.  Một lần nữa Chúa Giê-xu dùng danh xưng khó hiểu - Con Người, là Đấng mà Ngài gọi là Chúa (hay là chủ) của ngày Sa-bát.  Điều này có thể được hiểu là mọi con người đều có quyền quyết định sử dụng ngày Sa-bát như thế nào.  Nhưng có khả năng hơn là Chúa Giê-xu đang nói về chính Ngài là Đấng có quyền quyết định.  Nếu như thế, thì rõ ràng là Ngài đang tự cho là ngang hàng với Đức Chúa Trời, là Đấng đã lập nên ngày Sa-bát.  Một lần nữa, Mác nêu ra câu hỏi rằng Con Người là ai, và Chúa Giê-xu thật sự là ai.  Câu thắc mắc này luôn trở nên ngày càng cấp bách hơn.

Phải chăng những người chống đối Chúa Giê-xu cố tình nhắm mắt lại trước lẽ thật? Nếu một người không chấp nhận Chúa Giê- xu và những lời tuyên xưng của Ngài, thì có thể họ sẽ đi đến chỗ chống đối Ngài ngày càng cay đắng hơn như những người Pha-ri-si và các thầy thông giáo trước đây.  Đây là mặt trái của luật pháp về sự đáp ứng thuộc linh mà Chúa Giê-xu thường nói đến.  Chúng ta càng đáp ứng với chân lý thì càng có thể nắm bắt được chân lý.  Ngược lại, càng ít đáp ứng với chân lý, (bằng cách phớt lờ hay nhắm mắt lại trước chân lý), thì chúng ta sẽ khó nắm bắt được nó.  Đây là một lẽ thật căn bản rút ra từ các câu chuyện ngụ ngôn của Chúa Giê-xu.

(Mac 3:1-6) Người teo tay (Mat 12:9-14  Lu 6:6-11).  Những kẻ chống đối Chúa Giê-xu tìm một cơ hội khác để tố cáo Ngài về việc xem nhẹ ngày Sa-bát.  Ngài đã chữa lành cho một người teo tay mà dường như họ không có một chút thương tâm nào đối với người này.  Việc chữa lành trong ngày Sa-bát chỉ được các ra-bi cho phép trong những truờng hợp sinh tử, và đây rõ ràng không phải là một trường hợp như thế.  Chúa Giê-xu không cố gắng để tránh cái bẫy mà lẽ ra Ngài đã có thể tránh được.  Trái lại, Ngài gọi người đàn ông đứng trước mặt họ và đặt một câu hỏi đi thẳng vào trọng tâm của vấn đề.  Rõ ràng là việc bỏ mặc một người như thế khi Chúa Giê-xu có quyền phép chữa lành cho ông ta là làm một việc dữ.  Làm việc lành trong ngày Sa-bát bằng sự chữa lành cho người đàn ông này hiển nhiên là một hành động phải lẽ, và chắc chắn luật pháp về ngày Sa-bát không ngăn cấm điều này? (Vế thứ hai trong câu hỏi của Chúa Giê-xu, ‘cứu người hay giết người chỉ là sự nhấn mạnh trong việc trình bày về cùng một vấn đề).  Những người Pha-ri-si không thể tránh việc trả lời mà không định tội chính mình, vì thế họ đều đã nín lặng.  Mác ghi lại rằng Chúa Giê-xu vừa giận vừa buồn vì sự cứng lòng của họ.  Đây là một trong rất ít cơ hội mà Mác ghi lại cơn giận của Chúa Giê-xu nên việc tìm biết nguyên cớ của cơn giận ấy là một điều rất quan trọng.

Sự kiện người đàn ông teo tay được chữa lành trong ngày Sa-bát là dịp để hai đồng minh mà không ai nghĩ đến là người Pha-ri-si và phe Hê-rốt quyết định sẽ trừ khử Chúa Giê-xu và bàn luận đặng giết Ngài đi.  Nếu chúng ta không tin Chúa Giê-xu thì ắt hẳn cuối cùng chúng ta sẽ đóng đinh Ngài.  Mác đã cảnh cáo chúng ta về chọn lựa này ngay từ đầu sách Phúc Am của ông.  Người Pha-ri-si là ‘những người theo tôn giáo chính thống’ vào thời bấy giờ, còn người theo Hê-rốt, ngoài sách Mác thì không nơi nào khác đề cập đến, có vẻ như là một đảng phái không nằm trong giáo hội và ủng hộ cho triều vua Hê-rốt.  Đây là sự kết hợp giữa những người hay chỉ trích và những kẻ  cơ hội, đây là một sự câu kết thường xảy ra trong thế giới này khi có sự chống đối Phúc Am.  Kẻ thù sẽ sử dụng đến bất cứ công cụ nào nằm trong tay nó.

(Mac 3:7-12) Đám đông kéo đến (Mat 12:15-21  Lu 6:17-19).  Tuy các thầy thông giáo có thể chối bỏ Ngài, nhưng đám đông thì không đôi khi những người bình thường lại có thể thấy được những điều mà các nhà thần học không thể thấy.  Đám đông tiếp tục đi theo Chúa Giê-xu, hầu như chắc chắn là để được chữa lành.  Vào lúc này có quá đông người đến nỗi Chúa Giê-xu phải ngồi trên một chiếc thuyền để dạy dỗ những người đang đứng đứng xung quanh bờ.  Ngài cũng chữa lành cho người bệnh và đuổi các quỉ, và mặc dù Ngài không cho phép chúng nói ra thì các tà linh đều nhận biết Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời.  Trước đây khi Chúa Giê-xu làm phép báp-tem Đức Chúa Trời đã gọi Ngài là ‘Con’ (Mac 1:11), và sau này một sĩ quan La Mã cũng sẽ dùng danh xưng này cho Ngài tại thập tự giá (15:39).  Tại tòa án xét xử Ngài, chính Chúa Giê-xu cũng thừa nhận danh hiệu này trước thầy tế lễ cả thượng phẩm khi không còn cần thiết để giấu giếm điều này nữa, và bí mật về Đấng Mết-si-a chẳng bao lâu đã được giãi bày cho mọi người đều thấy (14:62).

(Mac 3:13-19) Việc lập Mười hai sứ đồ (Mat 10:1-4  Lu 6:12-16).  Qua các Phúc Âm khác chúng ta biết rằng lý do Chúa Giê-xu lên trên núi là để Ngài có thời gian cầu nguyện trước khi đi đến một quyết định quan trọng như thế.  Ngay cả Con Đức Chúa Trời cũng cần tìm một nơi để Ngài có thể ở riêng một mình với Đức Chúa Trời và lúc đó không có nơi nào khác yên tĩnh nữa.  Chúa Giê-xu dạy chúng ta phải tìm một nơi riêng tư để cầu nguyện nếu có thể được (Mat 6:6).

Khi Chúa Giê-xu kêu gọi chúng ta đáp ứng lại với Ngài, tình yêu Ngài thúc giục chúng ta làm theo.  Mười hai người này là một ‘nhóm’ của Chúa Giê-xu (như ngày nay chúng ta có thể nói về một đội bóng gồm mười một người) được lập ra để cùng làm việc với Ngài và với nhau.  Ngài nói về họ như nói về một gia đình lớn của Ngài (trong c.31-35).  Ở những chỗ khác Mác không gọi họ là sứ đồ dù đây là tên gọi mà họ được biết đến sau này.  Vì lý do này mà một số bản chép tay đã không sử dụng từ này ở đây.  Tuy nhiên, dù chúng ta có sử dụng cái tên gọi này hay không thì họ đều là những rao truyền Tin Lành của Chúa Giê-xu, và Mác, cũng là một nhà truyền giáo, biết rất rõ về điều này.  Qua câu 14 chúng ta có thể thấy ‘sứ đồ’ có nghĩa là gì.  Chúa Giê-xu đã chọn những người này để phái họ đi ra rao giảng Phúc Âm, như chính Ngài đang làm.  Tuy nhiên, trước khi sẵn sàng cho chức vụ rao giảng Phúc Âm, họ phải có thời gian ở cùng Chúa Giê-xu và học theo Ngài là mẫu mực cho đời sống của họ.  Nếu chúng ta không noi gương họ thì việc giảng đạo của chúng ta cũng chỉ giống như những chiếc loa phát ra những lời tuyên truyền vô nghĩa.

Họ cũng phải bày tỏ quyền năng của Chúa Giê-xu và Đức Thánh Linh qua việc chế ngự kẻ thù, như Chúa Giê-xu đã làm.  Vì thế Chúa Giê-xu đã giao lại cho họ quyền năng của Ngài để đuổi quỉ Ma-thi-ơ còn ghi lại về quyền năng chữa bệnh nhân danh Chúa Giê-xu).  Đây là hai dấu hiệu về sự hầu đến của Nước Trời.  Việc Chúa Giê-xu đã chia sẻ quyền năng của Ngài với những con người bất toàn như chúng ta là rất đáng để lưu tâm.  Thật vậy, dường như qua toàn bộ Phúc Âm của mình Mác đã tránh khỏi đường lối của ông để nhấn mạnh vào sự bất toàn của Mười hai sứ đồ, và đặc biệt là của Phi-e-rơ, là người lãnh đạo trong nhiều phương diện.  Để thực hiện  việc này, Mác chỉ làm một việc đơn giản là mô tả lại các sự kiện ông không cố gắng làm giảm đi giá trị của các vị sứ đồ như một số người đã cho là như thế.  Điều này làm cho ân điển của Đức Chúa Trời trở nên kỳ diệu hơn (như Phao-lô đã thấy, IICo 4:7) rằng không có những người nam hay người nữ siêu phàm trong thời Tân Ước mà chỉ có những con người tội lỗi được cứu nhờ ân điển.  Các tác giả Tân Ước khác có thể đã làm giảm nhẹ tình tiết của một số câu chuyện, nhưng Mác muốn cho chúng ta thấy rằng các sứ đồ cũng chỉ là những con người với mọi yếu đuối bất toàn như chúng ta.  ‘Các thánh’ trong thời Tân Ước không có vòng hào quang rực rỡ trên đầu đó chỉ là sự tưởng tượng của Hội Thánh sau này mà thôi!

Một điểm khác cũng nhấn mạnh ‘tính chất bình thường’ của các sứ đồ là hầu như họ đều có biệt danh, một số biệt danh đã được chính Chúa Giê-xu đặt cho họ.  Tại hầu hết các nước trên thế giới, một người được biết đến bởi biệt danh mô tả tính cách của họ hơn là bởi tên thật.  Các sứ đồ cũng là những con người của đời thực.

Vì thế mà đã có Si-môn, người được Chúa Giê-xu đặt biệt danh là ‘Phi-e-rơ’ hay là ‘Đá’, và Gia-cơ  và Giăng cũng được đặt tên hiệu là Con Trai của Sấm Chớp (hoặc có thể sau này chúng ta hay gọi là Sấm và Chớp).  Thô-ma được gọi là ‘Sanh Đôi’ và Si-môn khác được gọi là ‘Người Hăng Hái’, có thể là liên hệ đến ‘lòng nhiệt thành’ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của ông tại Y-sơ-ra-ên.  Biệt danh của Giu-đa là ‘Ích-ca-ri-ốt’, có thể cũng có sự liên hệ đến phong trào này.  Khi chúng ta nhớ lại một Si-môn hay khoe khoang, là kẻ chối Chúa Giê-xu, một Thô-ma, là người nghi ngờ Ngài, Gia-cơ và Giăng, là những người chỉ có tham vọng cho mình, và tất cả các môn đồ đều là những người đã hoảng sợ bỏ chạy khi Chúa Giê-xu bị bắt thì chúng ta sẽ không tôn vinh sự yếu đuối của họ nhưng tôn vinh Đức Chúa Trời là Đấng có thể dùng những con người yếu đuối như họ và như chúng ta (12:9).

(Mac 3:20-30) Tội phạm với Đức Thánh Linh (Mat 12:22-37 Lu 11:14-23).  Ngay cả người nhà của Chúa Giê-xu cũng cho rằng Ngài bị mất trí khôn.  Nhiều tôi tớ trung tín nhất của Đức Chúa Trời, từ Phao-lô cho đến John Sung, một nhà truyền giảng Phúc Am vĩ đại của Đông Nam Á, cũng đã đối mặt với lời cáo buộc tương tự.  Nhưng các thầy thông giáo, là những người chắc hẳn đã từ thành Giê-ru-sa-lem xuống trong một sứ mạng điều tra, nhưng đã có ác ý khi cho rằng Chúa Giê-xu không bị điên, mà bị tà ma ám.  Ở đây Bê-ên-xê-bun dường như là một tên gọi khác của Sa-tan.  Để biết rõ hơn về tên gọi này và ý nghĩa của nó xin xem phần chú giải đầy đủ hơn.  Kinh Thánh dạy chúng ta rằng chúng ta chỉ có duy nhất một kẻ thù thuộc linh, ngay cả nếu nó có nhiều tôi tớ và nó là một kẻ thù đã bị đánh bại.

Thật khó có thể tin rằng ngay cả thầy thông giáo cũng tin vào tính chân thật của lời cáo buộc này đó là lý do tại sao Chúa Giê-xu đã quở trách họ thật nặng nề.  Trước hết, Ngài chứng minh ý nghĩ về ‘cuộc nội chiến’ trong trong nội bộ của Sa-tan là ngu xuẩn như thế nào.  Sau đó Ngài chỉ ra rằng việc Ngài đuổi quỉ mang ý nghĩa của sự chiến thắng trên kẻ thù, chớ không phải là đứng về phía kẻ thù.  Cuối cùng, Ngài nghiêm nghị cảnh cáo họ về một tội duy nhất không được tha thứ trong Kinh Thánh, đó là tội phạm với Đức Thánh Linh.  Điều này dường như ngụ ý về một sự cố tình khép chặt cửa lòng và tâm trí trước lời chứng của Đức Thánh Linh về Chúa Giê-xu, mà chính các thầy thông giáo cho thấy là họ vừa mới phạm đến.  Sự xuyên tạc lẽ thật một cách ngang ngạnh và có chủ tâm như thế đã ngăn trở sự ăn năn và cứu rỗi vì nó đã đóng cánh cửa duy nhất dẫn đến sự cứu rỗi mà Đức Chúa Trời đã mở ra.  Không phải Đức Chúa Trời không sẵn lòng tha thứ, mà chính người có liên quan đã không mở lòng để đón nhận sự tha thứ của Ngài.  Nếu chúng ta vẫn còn sợ rằng chúng ta có thể phạm tội, thì đó là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy rằng chúng ta vẫn chưa phạm vào tội tối hậu này và chưa có nguy cơ phạm đến nó.  Thật vậy, như chúng ta vẫn thường nói, trọng tâm thực sự của vấn đề lại nằm ở mặt khác : lẽ thật tuyệt diệu là mọi tội lỗi khác đều có thể được tha thứ.  Việc nắm vững những lẽ thật này sẽ cứu những linh hồn dễ bị bối rối khỏi nhiều thống khổ, đặc biệt là những người đã bị buộc phải phạm đến Chúa Giê-xu trong những lúc bị bắt bớ.  Có thể chúng ta nghĩ về Sau-lơ người thành Tạt-sơ, người đã ép buộc các tín hữu Do Thái ban đầu phải phạm thượng (Cong 26:11), hoặc nghĩ đến các nhà độc tài và những người vô thần trong thời đại của chúng ta.  Phi-e-rơ nguyền rủa và thề rằng ông không biết Chúa Giê-xu và nếu như ông có thể ăn năn và được tha thứ, thì chúng ta cũng vậy.

Điều quan trọng nhất, đặc biệt là trong một thế giới mà ma quỷ dường như thật uy quyền và mạnh mẽ, là chúng ta phải nhận biết rằng kẻ thù ấy đã bị đánh bại rồi.  Trong Phúc Am Mác, mỗi lần Chúa Giê-xu đuổi Sa-tan ra khỏi đời sống của một người và giải phóng người ấy khỏi quyền lực của nó thì chúng ta lại có thêm một bằng chứng về điều này.  Điều này cũng đúng trong việc Sa-tan đã bị đánh bại cho dù kẻ thù đã thể hiện quyền lực của nó qua các tôn giáo khác (Cơ Đốc nhân thuộc thế giới thứ ba sẽ biết rằng có thể có một vài lẽ thật trong các tôn giáo khác, nhưng cũng có điều gì đó mang tính ma quái ở đây), hay qua ‘ma thuật’và ‘phép thuật’, hoặc qua sự hồi sinh của các nghi lễ thờ cúng quỉ Satan và những thuật huyền bí ở phương Tây ngày nay.  Người mạnh sức đã bị chinh phục và bị trói lại rồi : trận chiến đã diễn ra và đã chiến thắng rồi, và nay chỉ còn phải ‘thu dọn’.  Việc liên hệ đến những tài sản trong nhà được dọn đi cho thấy rằng những kẻ trước đây bị kẻ thù chiếm giữ nay đã có thể được tự do.

(Mac 3:31-35) Gia đình của Chúa Cứu Thế (Mat 12:46-50  Lu 8:19-21).  Sự hiểu sai về Nước Trời và những yêu cầu của Nước ấy vẫn tiếp diễn.  Trong câu 21, ngay cả gia đình của Chúa Giê-xu cũng nghĩ rằng Ngài đã mất trí và muốn đưa Ngài về nhà.  Ở đây, mẹ anh em Ngài  đến tìm Ngài – có phải cũng vì lý do đó ? Cả họ lẫn đám đông đều cho rằng Chúa Giê-xu phải lập tức ngưng sự giảng dạy của Ngài và ra gặp họ, vì sự hiếu kính cha mẹ là một trong Mười Điều Răn.  Thay vào đó, Chúa Giê-xu đã chỉ ra cho họ thấy một lòng trung thành và một điều răn còn căn bản hơn nhiều, một đòi hỏi của Đức Chúa Trời còn sâu xa hơn đòi hỏi của bất kỳ một gia đình trên đất nào.  Những sự ưu tiên của Nước Trời không giống với thế gian, và vì thế trong cái nhìn của thế gian đây là một hòn đá vấp chân.  Chúa Giê-xu nói rằng ai làm theo ý muốn Đức Chúa Trời (lưu ý sự tương phản thường thấy giữa việc chỉ ‘nghe’ và thực sự ‘làm theo’) thì gần gũi với Ngài hơn bất kỳ người bà con thân thuộc cùng huyết thống nào của Ngài.  Hãy nhớ rằng, anh em Ngài không tin Ngài, và thậm chí Ma-ri cũng không thể có một sự hiểu biết trọn vẹn về Ngài, nếu không, bà đã không đến trong chuyến đi này.  Lời này của Chúa Giê-xu sẽ đem đến sự an ủi lớn lao cho một số người trong chúng ta đã bị gia đình khước từ khi trở lại tin nhận Chúa và sẽ tìm được tình yêu thương và sự nâng đỡ trong ‘gia đình của Chúa Cứu Thế’.  Điều này không có nghĩa là Chúa Giê-xu sẽ không còn yêu mến và chăm sóc mẹ của mình nữa, hay Cơ Đốc nhân sẽ không có trách nhiệm gì đối với các thành viên chưa tiếp nhận Chúa trong gia đình mình.  Điều này chỉ có nghĩa là Chúa Giê-xu phải luôn được đặt lên hàng đầu, cho dù điều này có thể làm cho chúng ta hoặc những người khác cảm thấy đau đớn thế nào đi chăng nữa.  Chỉ những người nào yêu Chúa nhiều hơn những người gần gũi và thân yêu nhất của mình mới có thể làm môn đồ của Ngài.

Tuy nhiên, điều này khác hẳn với lời dạy của các giáo phái chỉ chú trọng đến sự phân cách hoàn toàn về mặt thể xác với các thành viên trong gia đình nếu họ không gia nhập giáo phái.  Một số nhóm Cơ Đốc giáo cực đoan cũng có quan điểm sai trật này.

3. Các ngụ ngôn về Nước Trời (Mac 4:1-34)

Phần này là một ví dụ về bản chất của sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu.  Chúa Giê-xu thường dùng nhiều câu chuyện ngụ ngôn và những minh họa sinh động về lẽ thật thuộc linh rút ra từ cuộc sống hàng ngày.  Những người rao giảng Phúc Am ngoài trời, đặc biệt là tại thế giới thứ ba, sẽ biết rõ giá trị của phương pháp này.  Nó có thể thu hút và duy trì được mối quan tâm của những người nghe bình dân, và nếu họ có quan tâm thì nó sẽ đưa họ đến chỗ thấy được lẽ thật thuộc linh.  Nếu không, họ sẽ chỉ thích thú về câu chuyện, cười và quên nó đi, như đã thường xảy ra trong thời Chúa Giê-xu.

(Mac 4:1-20) Gieo giống (Mat 13:1-23  Lu 8:1-15).  Một lần nữa, Chúa Giê-xu lánh khỏi đám đông mà lên một chiếc thuyền neo gần bờ.  Đây không phải là lần đầu tiên Chúa Giê-xu dùng chuyện ngụ ngôn, vì Mac 2:17,19,21 là các câu chuyện ngụ ngôn ngắn cùng loại với nhau.  Tuy nhiên, đây là câu chuyện ngụ ngôn đầu tiên đã được kể một cách đầy đủ và chi tiết.  Câu chuyện về người nông dân gieo giống là một hình ảnh sinh động của sự rao giảng Phúc Âm.  Câu chuyện này dạy dỗ rằng sự khác nhau trong các kết quả có được phụ thuộc vào tấm lòng người tiếp nhận Phúc Âm.  Chúng ta phải luôn nhớ rằng một câu chuyện ngụ ngôn sẽ không giống với một phép ẩn dụ (nếu có thì cũng rất hiếm khi được dùng trong Kinh Thánh).  Trong phép ẩn dụ, mỗi chi tiết mang một ý nghĩa thuộc linh nào đó, trong khi đối với một chuyện ngụ ngôn, nhiều chi tiết có thể không mấy quan trọng, nhưng cả câu chuyện sẽ chuyển tải đi được thông điệp của người nói.

Có thể có hoặc không có một người nông dân Ga-li-lê thực sự nào đang gieo giống trên sườn đồi lúc bấy giờ: nếu có, thì sự minh hoạ lại càng trở nên sống động hơn.  Nhưng có một thực tế ở đây, đó là khi Ngài đang nói thì Chúa Giê-xu thực sự đang gieo giống, và những người nghe đang đáp ứng lại bằng nhiều cách khác nhau như Ngài đã mô tả, chính họ đang đóng một vai trong câu chuyện ngụ ngôn ấy.

Chỉ một trong bốn loại đất đã được mô tả cho ra kết quả, nhưng nếu đổ lỗi cho người nông dân về việc này là không đúng, một số nhà chú giải quá sốt sắng đã lý luận rằng (‘lẽ ra ông ta phải chuẩn bị đất tốt hơn’, ‘lẽ ra ông ta chỉ nên gieo nơi đất tốt’).  Người nông dân ắt hẳn phải biết rằng một vài khoảng đất tốt hơn các phần đất khác, nhưng ông đang cho tất cả một dịp tiện như nhau, và có lẽ đây là mảnh đất duy nhất mà ông có.  Chỉ có các kết quả vào mùa thu hoạch mới cho thấy rõ phần đất nào là đất tốt, và sẽ cho ra một vụ mùa lạ lùng.  Chúng ta được biết rằng tại Palestine việc thu hoạch lại bằng mười lần gieo ra đã là đất tốt rồi  ở đây đất tốt lại sinh lợi ra gấp một trăm lần.  Vì thế chúng ta có thể thấy điểm nhấn mạnh sau cùng của ví dụ minh họa ở đây là tích cực mà  không phải tiêu cực, đây là một lời hứa để khích lệ chúng ta, chớ không chỉ để cảnh tỉnh chúng ta.

Có thể ngày nay chúng ta thấy ngạc nhiên khi Mười hai sứ đồ của Chúa Giê-xu lại không hiểu được ý nghĩa của câu chuyện ngụ ngôn này (nên nhớ Mác đã nhiều lần mô tả họ về mặt này) nhưng rồi chúng ta luôn có được lời giải thích, mà chỉ sau đó Chúa Giê-xu mới giải thích cho các môn đồ.  Chúa Giê-xu thường giải thích các sự việc khi Ngài ở riêng với các môn đồ mình.  Việc giải thích ý nghĩa của câu chuyện ngụ ngôn cho những người thậm chí không chủ động suy nghĩ về sự minh hoạ ấy ắt hẳn là vô ích.  Mười hai sứ đồ cho thấy rằng họ sẵn sàng được nghe lời giải thích bằng cách hỏi Ngài.  Đó là lý do tại sao Chúa Giê-xu cảnh cáo người nghe phải biết suy nghĩ khi lắng nghe (9).

Về một nghĩa nào đó, câu chuyện ngụ ngôn này là chìa khoá cho tất cả các câu chuyện ngụ ngôn khác, bởi vì bằng cách kể chuyện, Chúa Giê-xu đang rao giảng hay đang ‘gieo’ lời Ngài ra.  Phần trích dẫn Ê-sai trong câu 12 không có nghĩa là Đức Chúa Trời cố ý che giấu lẽ thật với chúng ta, nếu đúng là như vậy, thì điểm mấu chốt của các câu chuyện ngụ ngôn là gì ? Mục đích của các câu chuyện ngụ ngôn thực ra là để theo dõi ảnh hưởng của chúng trong thực tế như thế nào.  Dù họ đã nhìn và nghe nhưng một số người sẽ không thật sự thấy hoặc hiểu vì nếu có ắt hẳn họ đã quay về cùng Đức Chúa Trời để được sự tha thứ.  Ê-sai mô tả một dân cứng lòng đã xây lưng lại với Đức Chúa Trời và ngang ngạnh từ chối lắng nghe Ngài.  Đây là đặc điểm của nhiều người đã nghe Chúa Giê-xu giảng, ngay cả chúng ta ngày nay cũng như vậy.

Nhưng thậm chí trong trường hợp người ta sẵn sàng lắng nghe, thì sự đáp ứng hời hợt cũng là một mối nguy.  Những người nghe mà không để ý hoặc chỉ nghe ngoài tai, là những người không rễ, hay là những người mà đời sống của họ đã được lấp đầy bởi những sự lo lắng hoặc những thú vui (đôi lúc nguy hại như nhau) thì sẽ không kết quả được.  Câu chuyện ngụ ngôn này thường được cho là có sự dạy dỗ về sự bền bỉ thuộc linh, nhưng đây cũng là một lời hứa về phần thưởng thuộc linh.  Nếu chúng ta làm theo đúng quy luật về sự tăng trưởng thuộc linh như chắc chắn là sẽ có một mùa gieo, thì mùa gặt sẽ đến.

(Mac 4:21-25) Đèn chơn đèn (Lu 8:16-18  Mat 5:14-16).  Phần này nêu lên vấn đề về việc có phải Nước Trời luôn là một bí mật bị giấu kín với nhiều người và chỉ được bày tỏ cho một số ít người hay không (có lẽ ngày nay một số người trong chúng ta vẫn có ý nghĩ như thế?) Chúa Giê-xu nói rằng một ngày nào đó Nước Trời sẽ được bày tỏ rõ ràng cho tất cả mọi người.  Đèn được dùng để chiếu sáng chớ không phải để giấu đi.  Tương tự như vậy, mục đích cuối cùng của những câu chuyện ngụ ngôn là để bày tỏ lẽ thật, chớ không phải để che đậy lẽ thật.  Tuy nhiên, sẽ có một thời điểm mà các câu chuyện ngụ ngôn là cách tốt nhất để bày tỏ lẽ thật, vì chúng ‘sàng lọc’ người nghe, như chúng ta có thể tinh lọc chất lỏng qua một miếng vải vậy.  Các môn đồ trước hết phải được hấp thu lẽ thật mà Chúa Giê-xu dạy họ qua những câu chuyện ngụ ngôn để sau này có thể tiếp thu được nhiều lẽ thật hơn nữa.  Cũng giống như bất kỳ người thầy giỏi nào, Chúa Giê-xu chỉ dạy khi chúng ta có thể hiểu và sẵn lòng tiếp nhận.  Trong đời sống thuộc linh không thể có việc ‘dậm chân tại chỗ’, nếu chúng ta không lớn lên, thì chúng ta sẽ chững lại.  Đây là một lời hứa hay là một lời cảnh cáo tùy thuộc vào thái độ thuộc linh của chúng ta.

(Mac 4:26-34) Những câu chuyện ngụ ngôn về sự tăng trưởng (Mat 13:31-35  Lu 13:18-19).  Đây là hai câu chuyện ngụ ngôn sinh động nữa về sự tăng trưởng thuộc linh.  Câu chuyện thứ nhất cho chúng ta biết về sự tăng trưởng lặng lẽ và liên tục (mà chúng ta có thể gọi là ‘sự tăng trưởng tất yếu’) của Nước Trời trong lòng chúng ta.  Chúng ta không cần phải lo lắng và gắng sức thì hạt giống vẫn sẽ nảy mầm.  Chúng ta không thể hiểu được quá trình tăng trưởng thuộc linh cũng như không thể hiểu được quá trình tăng trưởng tự nhiên, nhưng chúng ta không cần phải hiểu để dự phần vào quá trình đó.  Để tăng trưởng được thì hạt giống chỉ cần đến những điều kiện thích hợp.  Mùa gặt là một lời hứa, nhưng nó cũng có thể ám chỉ đến sự đoán xét của Đức Chúa Trời như vẫn thường thấy trong Kinh Thánh.

Câu chuyện thứ hai một lần nữa mô tả về sự tăng trưởng tuy thầm lặng, hầu như không thể nhận thấy được nhưng lại cho ra kết quả lạ lùng.  Hột cải thì nhỏ, nhưng theo thời gian nó lớn lên thành một bụi cây và là một trong những thực vật lớn nhất tại vùng Trung Đông.  Vì thế Nước Trời sẽ có một khởi đầu tầm thường nhưng sẽ phát triển dần lên và sẽ có một kết thúc thắng lợi.  Đây là một sự khích lệ lớn đối với những ai đang sống trong những vùng đất nơi mà Cơ Đốc nhân chỉ là một cộng đồng nhỏ bé, bị khinh rẻ và có lẽ bị bắt bớ nữa.  Chúng ta phải thực hiện công tác của mình trong sự tin cậy, chờ đợi Đức Chúa Trời làm thành lời hứa của Ngài.  Chức vụ trên đất của Chúa Giê-xu cũng giống như vậy, nó có vẻ tầm thường, nhưng từ chức vụ này sẽ hình thành và phát triển nên một Hội Thánh Cơ Đốc toàn cầu lớn mạnh, và nó vẫn đang tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn nữa .  Các câu kết luận cho thấy rằng đây chỉ là những ví dụ tiêu biểu trong nhiều ví dụ minh hoạ của Chúa Giê-xu, những câu chuyện này cho thấy Ngài đã dùng phương pháp phân loại để dạy dỗ và giải thích cho những ai đang lắng nghe (tùy thuộc vào mức độ họ thể hiểu được).  Nếu những người khác sẵn sàng lắng nghe, thì họ cũng sẽ hiểu và nhận được nhiều sự dạy dỗ hơn nữa như các môn đồ.  Không có sự ưu ái bất công nào trong Nước Đức Chúa Trời tất cả chúng ta đều có các cơ hội như nhau  để được tăng trưởng về mặt thuộc linh, và công việc của chúng ta chỉ là biết nắm lấy những cơ hội ấy.

4. Quyền năng của Nước Trời (Mac 4:35-8:26)

Đây là mở đầu của một phân đoạn dài với rất nhiều những câu chuyện kể về phép lạ, tất cả đều để minh hoạ cho năng quyền được thể hiện trong các lĩnh vực khác nhau.  Tân Ước trình bày một cách rõ ràng rằng Chúa Giê-xu đã thực hiện phép lạ, ngay cả các kẻ thù của Ngài cũng thừa nhận như thế, tuy một số trong bọn họ cho rằng Ngài hành động qua quyền lực của ma quỷ chớ không phải qua quyền năng của Đức Chúa Trời.  Như chúng ta thấy là Chúa Giê-xu đã dễ dàng bác bỏ lời cáo buộc này.  Chúa Giê-xu đã làm phép lạ như thế nào chúng ta không biết và cũng không cần để biết.  Dĩ nhiên vì là Con Đức Chúa Trời nên Ngài không bị giới hạn theo cách như con người chúng ta.  Tuy nhiên, phép lạ kỳ diệu nhất là Ngài đã kêu gọi những con người bất toàn trở nên môn đồ Ngài để họ cùng được tham gia vào công tác của Ngài.  Một lần nữa, chúng ta phải nhớ rằng phép lạ không phải là trò ma thuật vô nghĩa, nhưng để bày tỏ cho chúng ta biết Chúa Giê-xu là ai.  Đó là lý do mà mặc dù Phúc Am Mác ghi chép lại rất nhiều câu chuyện về phép lạ nhưng đều tập trung trong các chương mở đầu.  Khi Phi-e-rơ thừa nhận Chúa Giê-xu là Đấng Mết-si-a thì đã có một sự thay đổi.  Từ việc dạy dỗ đoàn dân Chúa Giê-xu chuyển sang việc dạy dỗ cho môn đồ mình, và Ngài không cần phải làm phép lạ cho họ thấy Ngài là ai nữa.

Những phép lạ như thế ngày nay có cần thiết trong việc rao giảng Phúc Âm không? Nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này đã được nêu lên trong suốt lịch sử của Hội Thánh, và vấn đề này cũng đã giữ vị trí quan trọng vào những lúc có sự đổi mới và phục hưng thu hút nhiều người.  Một số người tin tưởng một cách chắc chắn rằng khi Tân Ước được viết ra thì mọi phép lạ đã chấm dứt, một số khác lại cho rằng ‘sự rao giảng năng quyền’ luôn cần có phép lạ cặp theo để hỗ trợ cho sự giảng dạy một số người khác đã cho rằng Đức Chúa Trời có thể thực hiện  hoặc lấy lại phép lạ tùy thuộc vào ý muốn tối thượng của Ngài.  Dù chúng ta tin như thế nào đi chăng nữa thì điều quan trọng là chúng ta không nên xem phép lạ như là một sự việc làm đình trệ trật tự của tự nhiên, nhưng phải hiểu là Đức Chúa Trời đã hành động trong mọi việc bằng mọi cách, dù những điều đó là bình thường hay bất thường đối với chúng ta.

(Mac 4:35-41) Quyền năng trên thiên nhiên (Mat 8:23-27  Lu 8:22-25).  Phép lạ đầu tiên trong nhóm các phép lạ là một phép lạ về ‘thiên nhiên’.  Chúa Giê-xu đã chứng minh Ngài là Chúa trên các quỉ và bệnh tật, nay Ngài lại cho thấy Ngài cũng là Chúa trên thiên nhiên.  Câu chuyện có rất nhiều chi tiết được chứng kiến tận mắt và sinh động (ví dụ như hình ảnh Chúa Giê-xu ‘dựa gối mà ngủ’ trong câu 38).  Chúng ta dường như có thể thấy cơn bão đang diễn ra trên hồ và các môn đồ đang khiếp sợ (phải chăng đây là hình ảnh của Hội Thánh bị bắt bớ tại Rô-ma, hay tại đất nước của chúng ta ngày nay?).  Các môn đồ sợ hãi và có ngụ ý trách Chúa Giê-xu (38), sau đó Ngài đã thực sự quở trách gió và bão, chúng liền vâng lệnh Ngài (39).  Ngoài Đấng Tạo Hóa ra không ai có thể làm được điều này.  Trong Cựu Uớc, chỉ duy có Đức Chúa Trời là Đấng tạo nên bão tố và làm chúng lặng đi.  Các môn đồ chỉ hiểu được phần nào lẽ thật và quá kinh khiếp đến nỗi không thể diễn tả được điều đó (41).  Bài học cho chúng ta ở đây là Chúa Giê-xu đã quở trách các môn đồ vì họ thiếu đức tin nơi Ngài.  Chúng ta phải học tập tin cậy hoàn toàn, ngay cả khi sự vâng lời Ngài có thể đưa chúng ta vào ‘những cơn bão’ trong cuộc đời, dù đó là sự bắt bớ hay bất cứ điều gì khác.  (Chính Chúa Giê-xu, không phải các môn đồ, là người đã đề nghị đi qua bên kia hồ các môn đồ phải làm theo ý muốn của Ngài).  Đôi khi chúng ta cho rằng ‘bão tố’ thể hiện sự không vâng lời, nhưng sự việc này không phải luôn luôn là như thế.

Một số người sẽ nói rằng việc này đang ‘thuộc linh hóa’ một phép lạ có liên quan đến việc làm yên một cơn bão đang thực sự diễn ra trên hồ.  Họ thấy rằng chúng ta phải tin cậy Chúa Giê-xu sẽ làm yên những cơn bão có thực và cứu chúng ta khi chúng ta đang lênh đênh trên đường.  Dĩ nhiên là Đức Chúa Trời có thể làm bất cứ việc gì Ngài muốn, nhưng Ngài đã không làm yên cơn bão cho Phao-lô (Cong 27:1-44) dù ông là một con người có đức tin lớn.  Trong câu chuyện này các môn đồ có ít đức tin, vì thế việc làm yên (hay không làm yên) sóng gió dường như không tùy thuộc vào đức tin, nhưng vào ý muốn của Đức Chúa Trời.  Đức Chúa Trời đã thêm sức cho Phao-lô để ông có thể chịu được cơn bão bằng một đức tin thầm lặng.  Đôi khi Đức Chúa Trời cứu chúng ta ra khỏi cơn hoạn nạn, đôi khi đang trong cơn hoạn nạn mà Ngài cứu chúng ta, đôi khi Ngài cứu chúng ta ra khỏi cái chết, và đôi khi Ngài dùng cái chết của chúng ta để tôn vinh danh Ngài.  Chúng ta có thể mong đợi rằng mình cũng có thể quở yên sóng gió như Chúa Giê-xu đã làm hay không ? Theo các sách Phúc Âm thì chỉ có Chúa Giê-xu làm phép lạ trên ‘thiên nhiên’ (vì chỉ có Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời), và không có gợi ý nào về việc Ngài đã từng ban quyền năng này cho các môn đồ.  Chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể làm công việc của Đức Chúa Trời.

(Mac 5:1-20) Quyền phép trên các quỉ (Mat 8:28-34  Lu 8:26-39).  Một lần nữa, quyền phép của Nước Đức Chúa Trời lại được bày tỏ qua việc đuổi quỉ ra khỏi một người đàn ông.  Sự đuổi quỉ này khác với những lần đuổi quỉ khác.  Trước hết, người đàn ông có lẽ không phải là người Do Thái, và vì thế dĩ nhiên là ông ta sống trong vùng của dân ngoại.  Hai là, lời chứng của kẻ thù sẽ rõ ràng, cụ thể hơn, mặc dù nó không được Chúa Giê-xu chấp nhận và không được biểu lộ theo ngôn ngữ của người Do Thái.  Người ta không biết chính xác địa điểm diễn ra sự việc, nhưng nơi đó là qua đến bờ biển bên kia, nghĩa là ở hướng Đông, về phía người ngoại quốc.  Đây không phải là một người ngồi yên lặng trong một nhà hội cho đến khi được thức tỉnh bởi lời giảng của Chúa Giê-xu tình trạng của anh ta rất tuyệt vọng, và không một người nào có thể giúp đỡ hay thậm chí, kiềm giữ anh ta lại được.  (Một số người trong chúng ta có lẽ sẽ biết rõ về sức mạnh gần như siêu phàm của người bị quỉ ám.) Người này đang ở trong sự thống khổ cùng cực, anh ta tự tra tấn mình và phải chịu phục dưới quyền lực của ma quỉ.  Dường như đây là ý nghĩa của tên Quân đội mà anh ta tự đặt cho mình.  Trong Kinh Thánh, không nơi nào đề cập đến việc chúng ta cần phải biết tên của một thế lực ác trước khi trục xuất nó, Kinh Thánh cũng không gợi ý rằng nhiều quỉ khác nhau thì có những cái tên và tính cách khác nhau.  Đây là những ý tưởng có được từ các tôn giáo khác, chúng ta cần phải bác bỏ những ý tưởng này cũng như đối với ý tưởng cho rằng có một con quỉ dâm dục, một con quỉ tham lam, và nhiều quỉ khác nữa.  Một kẻ thù là đã đủ để chúng ta phải cảnh giác.  (Trong câu chuyện này, tà linh được mô tả bằng số ít trong câu 2, câu 8 và bằng số nhiều trong các câu 9,10,12,13).

Dù người đàn ông này khó yêu thương được, nhưng Chúa Giê-xu vẫn thương xót anh ta.  Chúa Giê-xu phán bảo quỉ ra khỏi người bị quỉ ám trước khi ông ta kêu la cùng Ngài, vì vậy xét về một nghĩa nào đó thì tiếng kêu ấy là sự đáp ứng của ông ta đối với Phúc Âm, là Phúc Âm đang hiện diện trước mặt anh ta trong thân vị Chúa Giê-xu, Đức Chúa Trời Rất Cao là một danh xưng tiêu biểu của người ngoại dùng để gọi Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.

Chúng ta có thể nghĩ rằng việc các quỉ nhập vào bầy heo là cần thiết, đặc biệt là khi sự việc đã diễn ra tại vùng đất của người ngoại, nhờ đó người đàn ông và mọi người khác có thể thấy rằng thế lực của các quỉ đã thực sự bị trục xuất ra khỏi ông ta.  Đây là một trợ cụ từ bên ngoài đối với đức tin cho dù nó có thể khiến độc giả thời nay thắc mắc về sự thiệt hại cho sự sống của súc vật, đó là chưa kể đến thiệt hại về kinh tế đối với những người chủ của bầy heo.  Đây cũng là một dấu hiệu khác từ bên ngoài và rất rõ ràng về quyền năng của Nước Đức Chúa Trời.  Câu chuyện này cũng được rất nhiều người chứng kiến tận mắt, có thể nói số người cũng đông như số heo.  Thật sự là heo là giống dễ hoảng sợ, nhưng như vậy vẫn không giải thích được lý do tại sao những con heo này phải hoảng sợ.  Phép lạ thực sự không phải là điều xảy ra cho bầy heo mà là điều xảy ra cho người đàn ông, là người đã hoàn toàn được biến đổi (15).

Sự bày tỏ quyền năng này của Đức Chúa Trời chỉ đem đến sự sợ hãi mà không phải là đức tin cho người chưa tin, và điều này thường xảy ra tại các nước thuộc thế giới thứ ba, ngay cả vào thời đại ngày nay.  Thay vì cầu xin Chúa Giê-xu ở lại cùng họ thì dân chúng đã xin Ngài rời khỏi đó, vì thế Ngài đã ra đi.  Thật là một điều bất hạnh cho họ ! Người đàn ông được chữa lành xin đi cùng với Chúa Giê-xu, nhưng Ngài không cho phép.  Điều này có lẽ là vì sự làm chứng của anh ta tại vùng đất ngoài Do Thái này là vô cùng quí giá.  Có lẽ đó cũng là lý do tại sao trong trường hợp này Chúa Giê-xu đã bảo người đàn ông làm chứng về lòng thương xót mà Đức Chúa Trời bày tỏ cùng anh ta.  Đức Chúa Trời có thể hướng dẫn các Cơ Đốc nhân làm những công việc khác nhau cho mục đích của Ngài.

(Mac 5:21-43) Quyền năng trên sự chết (Mat 9:18-26  Lu 8:40-56).  Câu chuyện này liên quan đến một lĩnh vực mà quyền phép của Nước Trời chưa được Chúa Giê-xu bày tỏ : đó là chinh phục sự chết, kẻ thù lớn cuối cùng của chúng ta.  Việc chữa lành cho con gái Giai-ru đã chứng minh Chúa Giê-xu là Chúa của sự sống và sự chết, nhưng trong phong cách Marca điển hình sự chữa lành này lại được đặt xen vào giữa một câu chuyện về sự chữa lành khác, là sự chữa lành cho một phụ nữ bị băng huyết.

Giai-ru khiêm nhường tin cậy và sẵn sàng xưng ra điều mình cần.  Ong thừa nhận rằng con gái mình sắp chết, nhưng ông tin rằng chỉ cần Chúa Giê-xu chạm vào thì sẽ chữa lành cho cô gái được.  Người đàn bà bị băng huyết bày tỏ đức tin còn lớn hơn, bà ta tin rằng nếu chỉ cần chạm vào áo của Chúa Giê-xu thì bà sẽ được lành.  Đây không phải là sự mê tín hay sự tin tưởng vào một phép thuật nào đó mà đây chính là đức tin.  Từ thâm tâm bà biết rõ rằng bất kỳ sự chạm vào nào với Chúa Giê-xu, dù nhẹ, cũng sẽ khiến bà được lành (28) và điều đó đã xảy ra cho bà.  Điều quan trọng mà chúng ta cần lưu ý là Chúa Giê-xu không nói ‘việc con chạm vào đã cứu con’, mà là ‘đức tin con đã cứu con’, và chúng ta không hề được bảo rằng phải tin vào quyền năng của sự chạm vào bằng cách đem những cái khăn tay đã được chúc phước đặt lên trên người bệnh với hy vọng sẽ được chữa lành.  Khi đọc câu 30 chúng ta thấy dường như việc chữa lành là rất quan trọng đối với Chúa Giê-xu (cũng như sự truyền giảng chân thật là rất quý đối với người truyền đạo), nhưng đây cũng có thể đơn giản chỉ là một thí dụ về sự nhận biết siêu nhiên của Ngài.  Các môn đồ nhận thấy câu hỏi của Chúa Giê-xu thật buồn cười và họ đã nói với Ngài như thế (31).  Người phụ nữ đang sợ hãi biết rằng với việc chạm vào áo của Chúa Giê-xu thì về mặt nghi lễ bà đã làm Ngài trở nên ô uế và có lẽ mọi sự tiếp xúc của bà còn làm ô uế những người khác trong đám đông nữa.  Kinh kỳ khiến người nữ trở nên không sạch về mặt nghi lễ, và dứt họ ra khỏi sự thông công với dân sự của Đức Chúa Trời trong một thời gian nhất định vào mỗi tháng.  Căn bệnh của người phụ nữ cho thấy rằng trong trường hợp của bà, sự cách ly này đã kéo dài trong suốt mười hai năm.  Mác ghi lại rằng bà ta đã cố gắng chạy chữa thuốc men một cách vô vọng, nhưng bệnh tình không thuyên giảm mà ngày càng tồi tệ hơn.  Vì Lu-ca là thầy thuốc nên từ ngữ trong Phúc Âm của ông được sử dụng nhẹ nhàng hơn chút ít (Lu 8:43).  Điều mà người đàn bà ắt hẳn cảm thấy khó hiểu ở đây là có một Đấng đã sẵn sàng chịu ‘ô uế’ vì cớ bà, để bà có thể trở nên ‘sạch’.  Chúa Giê-xu trước đó cũng đã làm điều này cho người phung.  Đây là quyền năng thật của Nước Đức Chúa Trời vì là quyền năng của thập tự giá và của tình yêu thương.

Cuộc đối thoại của Chúa Giê-xu với người phụ nữ đau bệnh cũng đồng nghĩa với việc Ngài sẽ bị chậm trễ trong việc đi đến nhà Giai-ru, và tin tức từ nhà đến cho hay rằng con gái ông ta đã chết (35).  Giai-ru đã tin ở sự khó thực hiện rồi, liệu giờ đây ông còn có thể tin ở sự không thể xảy ra được chăng? Đó là những gì Chúa Giê-xu đã yêu cầu nơi ông, mặc cho những kẻ khóc mướn đang ở đầy cả nhà dùng sự khôn ngoan của đời này mà dèm chê.  Tiếng cười khinh bỉ của họ biểu thị rằng việc cho là bé gái chỉ bị bất tỉnh là ngớ ngẩn vì họ biết về sự chết rất rõ.  Khi Chúa Giê-xu nói ngủ, Ngài có ngụ ý nói rằng Ngài sẽ đánh thức bé gái dậy, và Ngài cũng sẽ đem đến một cái nhìn mới về sự chết bởi sự sống lại của Ngài.

Sự vô tín này đã ngăn những kẻ than khóc không được chứng kiến phép lạ xảy ra.  Chỉ có ‘bộ ba thân cận’ của Chúa Giê-xu (Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng) cùng với cha mẹ đứa trẻ mới được phép chứng kiến sự kiện này.  Có thể ba người này sẵn sàng đáp ứng lại với Chúa Giê-xu hơn những người khác và vì thế họ cũng gần gũi với Ngài hơn.  Chúa Giê-xu đã dùng một câu nói trìu mến bằng tiếng A-ram (là tiếng bản ngữ của cả Chúa Giê-xu lẫn bé gái) và Mác đã dịch câu nói này ra cho độc giả không phải là người Do Thái của ông.  Từ đã được dịch là hỡi con gái nhỏ có một giọng điệu tình cảm giống như tiếng gọi một đứa trẻ là con cừu non ở trong tiếng Anh vậy.

Sau khi gọi đứa trẻ sống lại và nhìn xem nó đi lại, Chúa Giê-xu đã bảo cha mẹ đứa trẻ cho ăn.  ‘Sự chạm đến’ lần cuối và rất thực tế này đã đưa cả gia đình Giai-ru đang lấy làm lạ trở về với cuộc sống hàng ngày.  Có lẽ nếu gọi sự việc này là một sự ‘tỉnh lại’ thay vì là một sự ‘sống lại’ thì đúng hơn vì cô gái sẽ vẫn phải chết vào một ngày nào đó.  Khi Chúa Giê-xu sống lại từ kẻ chết, thân thể Ngài được biến đổi, và khi chúng ta sống lại vì cớ Ngài, thân thể chúng ta cũng sẽ được biến đổi và chúng ta sẽ không bao giờ phải trải qua sự chết nữa (ICo 15:1-58).  Ngoài câu chuyện này, Lu-ca còn ghi lại câu chuyện về việc Chúa Giê-xu đã cứu sống đứa con trai của người đàn bà góa tại Na-in, và Giăng cũng ghi thêm câu chuyện về sự sống lại của La-xa-rơ.  Vì thế, chúng ta không nên cho rằng Chúa Giê-xu thường làm thứ phép lạ này vì không cần thiết để Ngài phải thực hiện phép lạ này một khi Ngài đã bày tỏ quyền năng của Ngài.  Cả Phi-e-rơ (Cong 9:41) lẫn Phao-lô (20:10) cũng đã khiến người chết sống lại, nhưng họ chỉ thực hiện chỉ một lần, vì thế việc này hẳn phải có một giá trị đặc biệt nào đó.  Đây không phải là một ân tứ thuộc linh được Chúa Giê-xu hứa ban cho các môn đồ Ngài và chúng ta cũng không nên đòi hỏi để có được phép lạ này.

(Mac 6:1-6) Các giới hạn của quyền phép (Mat 13:53-58  Lu 4:16-30).  Nếu xem xét từ câu chuyện sau đây thì các quyền phép của Nước Trời dường như đã có ảnh hưởng rất nhỏ nhoi trên những người đã được chứng kiến hoặc nghe thấy.  Điều này cho thấy bản thân các dấu lạ không hề sản sinh ra đức tin, vì đức tin là một sự cam kết và lựa chọn của riêng mỗi cá nhân.  Có lẽ đó là lý do tại sao Chúa Giê-xu không làm các dấu lạ một cách tùy tiện mà Ngài chỉ thực hiện để đáp lại đức tin mà thôi.  Ngài không cố thuyết phục kẻ không tin, vì điều đó là không thể xảy ra.

Khi Chúa Giê-xu về lại thị trấn quê hương mình (có lẽ là Na-xa-rét, tuy thực tế Ngài đã đi đến thành Ca-bê-na-um bên bờ hồ, trước khi về quê hương mình) những người nghe Ngài lấy làm  ngạc nhiên về sự dạy dỗ và phép lạ của Ngài, nhưng thái độ này không dẫn đến đức tin nơi Ngài.  Họ lặp đi lặp lại trong bối rối tên tuổi của những người trong gia đình Ngài: Ngài đã không từng làm việc như một thợ mộc ở đây đó sao? Làm thế nào mà một nhân vật quen thuộc như thế lại có thể làm và nói những điều như thế? Rắc rối là ở chỗ họ mãi tranh cãi về Ngài đến nỗi không nghe được lời của Ngài.  Vì thế, ngay cả Con Đức Chúa Trời cũng không thể làm phép lạ tại đó được, trừ việc chữa lành một vài người đau ốm đã biết đến sự khiêm nhường và nghèo khó để đặt đức tin nơi Ngài.  Điều đó không có nghĩa là quyền năng Đức Chúa Trời hoàn toàn bị giới hạn, nhưng là do Đức Chúa Trời chỉ hành động để đáp lại đức tin mà thôi.  Thường thì Mác hay diễn tả rằng người ta lấy làm lạ về Chúa Giê-xu, nhưng ở đây ông nói rằng Chúa Giê-xu đã lấy làm lạ vì họ.  Người Na-xa-rét quá quen thuộc với Chúa Giê-xu đến nỗi họ không hưởng được một phước lành nào : ngày nay có lẽ một vài Hội Thánh của chúng ta cũng đang đối mặt với một mối nguy tương tự ? Tục ngữ có câu: thân quá hoá lờn.

(Mac 6:7-13) Chia sẻ quyền phép (Mat 9:35-10:15  Lu 9:1-6).  Dù các môn đồ có sự vô tín, nhưng công tác rao truyền Phúc Âm phải được tiếp tục, và vì thế Chúa Giê-xu đã sai Mười hai môn đồ Ngài ra đi trong một sứ mạng truyền giáo.  Các Phúc Âm mô tả hơi khác nhau về những vật dụng mà các sứ đồ phải mặc lấy và mang theo khi đi đường, nhưng điều này không quan trọng.  Tất cả đều đồng ý rằng họ phải ‘ra đi nhẹ nhàng’.  Những người làm công tác truyền giáo không được quá cầu kỳ về nơi ăn chốn ở họ phải nhận biết rằng sứ mạng của họ mang tính sống còn đối với người nghe.  Người Do Thái thường giũ bụi ở những nơi thuộc về người ngoại khi họ rời khỏi những nơi đó, nhưng lần này các sứ đồ phải làm việc ấy như là một lời chứng chính thức về sự khước từ của con người đối với Phúc Âm.

Chúa Giê-xu ban cho Mười hai môn đồ quyền năng của Ngài để đuổi quỉ, nhưng chúng ta có thể thấy trong câu 12 rằng nhiệm vụ chính của họ là rao giảng Phúc Âm, là điều sẽ đưa đến sự đuổi quỉ và chữa lành kẻ bệnh.  Việc xức dầu ở đây mang tính tượng trưng, chớ không phải là thuốc chữa bệnh tương tự như trong câu chuyện ngụ ngôn về người Sa-ma-ri nhơn lành (Lu 10:1-42).  Chúng ta không thấy chỗ nào trong Kinh Thánh có ghi lại việc Chúa Giê-xu đã dùng đến dầu để chữa bệnh, và có rất nhiều ví dụ trong Tân Ước về việc chữa lành mà không cần phải xức dầu.  Vì thế, Gia 5:14 không phải là một qui tắc phổ quát, mà là một sự trợ giúp từ bên ngoài đối với đức tin và không có gì là phép thuật ở trong dầu cả.

(Mac 6:14-29) Sự chết của Giăng Báp-tít (Mat 14:1-12  Lu 9:7-9,19-20).  Việc Giăng Báp-tít bị giam giữ là dấu hiệu cho sự bắt đầu chức vụ của Chúa Giê-xu, vì thế sự chết của Giăng là dấu hiệu cho thấy chức vụ ấy sẽ kết thúc như thế nào.  Thật đáng chú ý khi đã có những cách hiểu khác nhau về chức vụ của Chúa Giê-xu.  Một số người cho rằng Ngài là Ê-li đã trở lại (sự trở lại của ông được cho là sẽ đến trước sự trở lại của Đấng Mết-si-a).  Một số khác cho rằng ít ra Ngài cũng là một đấng tiên tri.  Lương tâm tội lỗi của Hê-rốt khiến ông ta nghĩ rằng Chúa Giê-xu là Giăng đã từ cõi chết sống lại để đương đầu và quở trách ông ta một lần nữa.

Các chi tiết về câu chuyện hèn hạ này không thể ngăn trở chúng ta: một đấng tiên tri không sợ hãi, một ông vua xấu xa, một người đàn bà hay thù hằn, một cô gái trơ trẽn (không một người tử tế nào lại nhảy múa trước đám đông để mua vui cho khách dự tiệc) và một cái chết cô đơn.  Các thế lực của Nước Trời ở đâu trong tình huống này? Ngay cả Giăng cũng bị cám dỗ đã đưa ra câu hỏi này khi ông đang ở trong ngục tù (Mat 11:3).  Chúng ta chỉ có thể trả lời dựa vào sự soi sáng của thập tự giá khi chính Chúa Giê-xu đã cùng bước đi trên con đường đau khổ mà Ngài không đáng phải đi chỉ vì chúng ta vì thập tự giá, cho dù là biểu tượng của sự yếu đuối, lại là quyền năng của Đức Chúa Trời dẫn đến sự cứu rỗi (Ro 1:16).  Nếu Chúa Giê-xu đã chọn đi con đường này, thì mọi người theo Ngài cũng phải sẵn sàng để bước đi theo con đường ấy.

(Mac 6:30-44) Cho năm ngàn người ăn (Mat 14:15-21  Lu 9:12-17).  Sau câu chuyện về sự yếu kém rõ ràng của Nước Trời theo cái nhìn của thế gian này, Mác đã ghi lại một số câu chuyện cho thấy được quyền phép của Nước ấy.  Trong các câu chuyện này, Chúa Giê-xu đã bày tỏ năng quyền của Đấng Tạo Hoá là Chúa và Ngài vẫn đang tể trị vạn vật mà Ngài đã tạo dựng nên.

Câu chuyện đầu tiên bắt đầu theo cách thức đơn giản điển hình (ghi lại diễn tiến của sự việc).  Các môn đồ vừa trở về từ hành trình truyền giáo, hoan hỉ nhưng kiệt sức, Chúa Giê-xu hiểu điều này và đã dẫn họ đến một nơi vắng vẻ để được nghỉ ngơi.  Họ được một đoàn dân đông đang mong đợi đi theo sau, đám đông này đã làm xáo trộn thời gian nghỉ ngơi đã định trước của họ.  Chúa Giê-xu động lòng thương xót trước những con người này và khởi sự dạy dỗ họ nhiều điều.  Có vẻ như Ngài đã không yêu cầu các môn đồ phải làm việc gì.  Vào cuối ngày hôm đó, họ đến cùng Chúa Giê-xu và xin Ngài cho đám đông đi kiếm thứ gì để ăn.  Họ đã rất ngạc nhiên khi nghe Ngài cho biết rằng chính họ phải cho những người này ăn.  Thức ăn duy nhất mà họ có thể tìm thấy đó là năm miếng bánh dẹp của dân địa phương và hai con cá khô.  Việc vâng lời Chúa Giê-xu và cho đoàn dân đông đang đói ngồi xuống theo từng nhóm một cách có trật tự chắc hẳn ắt đã thử thách đức tin của họ rằng Ngài có thể làm một việc gì đó trong hoàn cảnh này.  Sự mô tả sinh động về quang cảnh này, với những chi tiết như là cỏ xanh, có lẽ đã được một nhân chứng thuật lại.  Khi làm cho cá và bánh nhân lên gấp bội thì trong phút chốc, Đức Chúa Trời đã thực hiện điều mà Ngài vẫn làm mỗi ngày với những hạt lúa trên cánh đồng và những con cá trong lòng biển.  Đối với chúng ta, đó là một phép lạ nhưng đối với Ngài đây lại là một điều tự nhiên.

Mác tránh cho phép lạ này khỏi vẻ phép thuật bằng cách kết thúc theo lối ghi lại diễn tiến sự việc : các môn đồ đang mệt mỏi cúi gập người thu lượm lại những mẩu bánh và cá còn rơi vãi cho vào giỏ (có lẽ sẽ được dùng cho bữa ăn hôm sau).  Chúng ta không nên sống một đời sống được tô vẽ bởi những rung cảm thuộc linh : điều đó sẽ khiến chúng ta có một đời sống tâm linh không lành mạnh và cũng không giúp chúng ta trưởng thành lên trong Chúa.  Điều đáng ngạc nhiên là dường như các môn đồ đã không học được điều gì từ phép lạ này sau này Chúa Giê-xu đã phải nhắc lại bài học này cho họ.  Điều này không phải là vì họ quá chậm hiểu và không nhạy bén mà bởi vì họ cũng chỉ giống như chúng ta mà thôi.

(Mac 6:45-56) Chúa của thiên nhiên (Mat 14:22-33).  Khi mọi người đã đi hết, Chúa Giê-xu cùng các môn đồ lên thuyền trở về Bết-sai-đa, sau đó Ngài lên trên núi để cầu nguyện một mình.  Ngài đã cho đoàn dân đông ăn như Môi-se đã cho người Y-sơ-ra-ên ăn ma-na trong đồng vắng.  Giờ đây liệu họ có nguy cơ chỉ đi theo Ngài vì  đồ ăn như trước đây họ đã theo Ngài chỉ với hy vọng được chữa lành hay không? (Gi 6:26).  Sự cầu nguyện của Chúa Giê-xu bị gián đoạn bởi mối quan tâm của Ngài đối với các môn đồ.  Từ trên núi Ngài có thể trông thấy chiếc thuyền ở bên dưới hồ, đang loay hoay không thể tiến lên được vì gió.  Vì thế, vào lúc đêm khuya thanh vắng, Ngài đã đi bộ trên mặt hồ mà đến với họ.  Chúng ta không thể nói rằng việc này có nghĩa là Ngài đang đi bộ dọc theo bờ hồ hoặc bờ cát như một số người đã đưa ra lời giải thích như thế.  Là những ngư phủ các môn đồ biết rất rõ về bờ hồ của họ, và lẽ ra họ sẽ không bị sợ hoảng nếu sự việc diễn ra như đã được giải thích.  Sẽ không có gì khó khăn cho Chúa Giê-xu để đi bộ trên mặt nước nếu chúng ta nhớ rằng Ngài là Con Đức Chúa Trời.  Trong Cựu Ước Đức Chúa Trời đã tể trị trên những con nước giận dữ thì ở đây Con Ngài cũng đang thực hiện điều tương tự.

Chúng ta không rõ tại sao Chúa Giê-xu muốn đi trước họ.  Có lẽ Ngài muốn họ nhận ra Ngài và cầu xin sự giúp đỡ, hoặc để họ bày tỏ đức tin bằng một cách nào đó.  Nếu như vậy, Ngài đã thất vọng, vì khi họ kêu la lên thì tiếng kêu đó chỉ là tiếng kêu sợ hãi.  Nhưng ngay cả tiếng kêu sợ hãi này cũng đủ để đưa Chúa Giê-xu bước lên thuyền và Ngài đã quở yên cơn gió.  Họ đã quên phép lạ hóa bánh ra nhiều, họ đã quên rằng Ngài đã một lần làm yên cơn bão.  Phản ứng của họ là hoàn toàn kinh ngạc bởi họ không thể hiểu, ngay cả khi quyền phép của Nước Trời đã được bày tỏ một cách rõ ràng.

Khi thuyền cập bến, một đám đông đang chờ để gặp Chúa Giê-xu, họ đem người đau ốm đến để xin được chữa lành.  Đức tin họ giống như đức tin của người phụ nữ bị bệnh băng huyết, họ chỉ xin được rờ đến trôn áo Ngài, vì họ biết và tin rằng Ngài sẽ chữa lành họ.  Đôi khi các Cơ Đốc nhân tầm thường nhất lại có thể thấy ngay những chân lý thuộc linh mà các nhà thần học không thể thấy được.

(Mac 7:1-23) Nguồn gốc của tội lỗi (Mat 15:1-20).  Chúng ta thấy rằng các phép lạ trên thiên nhiên cũng không thuyết phục được các môn đồ tin rằng Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời lòng họ đã trở nên cứng cỏi, hoặc chúng ta có thể nói là tâm trí của họ khép lại.  Những người bình thường nhận được sự chữa lành của Ngài một cách vui mừng nhưng vẫn không nhìn biết Ngài là ai.  Người Pha-ri-si cùng các thầy thông giáo lại tiếp tục sự lên án chỉ trích bất tận họ đã quyết lòng không tin nơi Ngài.  Lần này, họ kiện cáo rằng những môn đồ của Chúa Giê-xu không rửa tay sau mỗi lần tình cờ tiếp xúc với người ngoại ở trên đường, đây không phải là vấn đề vệ sinh mà là sự thận trọng về mặt tôn giáo.  Mác giải thích với độc giả không phải là người Do Thái rằng đây chỉ  là một phần trong một loạt các nghi thức rửa tay phức tạp của người Do Thái.  Việc này phát xuất từ truyền thống chớ không phải đến từ luật Môi-se, nhưng lại được tuân theo một cách nghiêm nhặt, giống như ngày nay người ta vẫn giữ lấy ‘những truyền thống’ trong Hồi giáo vậy.  Liệu việc này đôi khi cũng đã xảy ra trong Cơ Đốc giáo?

Chúa Giê-xu không phủ nhận rằng các môn đồ mình có vi phạm đến truyền thống, nhưng Ngài đã biện hộ cho việc đó bằng cách cho rằng các truyền thống ấy chỉ là của loài người, và trong trường hợp của người Pha-ri-si, việc họ giữ truyền thống thường đi đôi với việc chối bỏ mạng lệnh rõ ràng của Đức Chúa Trời.  Nếu truyền thống có mâu thuẫn với lời Kinh Thánh thì nó phải bị loại bỏ, cho dù người ta đã rất yêu thích nó.  Chúa Giê- xu đã trích dẫn một cách đích đáng lời Kinh Thánh từ sách tiên tri Ê-sai để minh chứng cho điều này, và sau đó Ngài đưa ra minh họa bằng một ví dụ về cách mà người Pha-ri-si đã chối bỏ điều răn Môi-se bởi một sự lừa dối điển hình mang tính ra-bi.  Nếu một người thề sẽ dâng cho đền thờ số tiền mà anh ta thường chi phí để phụng dưỡng cho cha mẹ già thì anh ta sẽ được miễn nghĩa vụ chu cấp cho họ.  Như thường lệ, Mác giải thích thuật ngữ Co-ban  là từ được dùng để mô tả loại lời thề dâng hiến này.  Sự lừa dối mang tính hợp pháp này được thực hiện nhân danh tôn giáo đích thực là sự giả hình như Chúa Giê-xu đã chứng minh.  Tệ hại hơn, đây chỉ là một trong số nhiều ví dụ giống như thế.

Luật pháp về ‘sự tinh sạch” là một ví dụ khác, vì thế Chúa Giê-xu đã nhân cơ hội này giải thích cho đoàn dân đông rằng bản chất thật của ‘sự ô uế’ không phải về mặt nghi lễ mà là về mặt đạo đức, nó phát xuất từ bên trong chớ không phải từ bên ngoài như người Pha-ri-si đã dạy dỗ.  Điều này dường như quá rõ ràng đối với chúng ta đến nỗi chúng ta không thể biết tại sao các môn đồ lại không hiểu được điều này (17).  Giống như hầu hết người Do Thái vào thời họ, họ nghĩ về tội lỗi như là một mầm bệnh, một sự lây nhiễm do tiếp xúc bên ngoài với người khác (đây đại khái là quan điểm của người theo Khổng tử và được đa số các tôn giáo phi Cơ Đốc đồng ý).  Chúa Giê-xu dạy rằng tội lỗi giống như một căn bệnh ung thư, phát triển bên trong mỗi chúng ta là người Do Thái hay không phải người Do Thái đều như nhau.  ‘Căn bệnh này’rất khó giải quyết vì chúng ta không thể tránh né nó bằng cách tránh né sự ‘lây nhiễm’từ người khác nó cần đến một cuộc phẫu thuật triệt để về mặt thuộc linh để có thể làm thay đổi bản chất bên trong của con người chúng ta.  Đó là điều mà Giăng muốn bày tỏ khi cho rằng Đấng đến sau ông sẽ làm phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh.  Đôi khi chúng ta chỉ liên kết ‘phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh’ với các ân tứ thuộc linh nhưng Kinh Thánh liên kết điều đó với một bản chất đã được biến đổi.

Chúa Giê-xu đã bác bỏ sự vô lý trong quan điểm của người Pha-ri-si bằng một minh họa thường tình mà ở đây gọi là một câu chuyện ngụ ngôn.  Những gì đi vào dạ dày thì sẽ không làm ảnh hưởng đến đời sống thuộc linh của chúng ta nhưng chỉ ảnh hưởng đến sự tiêu hóa mà thôi, và các quá trình tiêu hóa sẽ xử lý đồ ăn ấy theo một tiến trình thích hợp.  Quan điểm của người Pha-ri-si về sự ô uế là thô thiển và quá tầm thường, giống như những kẻ cho rằng hoặc là Đức Thánh Linh hoặc ma quỉ đang trú ngụ ở một nơi nào đó bên trong thân thể của chúng ta, vì vậy, họ trông vào sự nôn mửa ra để cho rằng đây là một dấu về sự đuổi quỉ.  Chúa Giê-xu cho thấy rằng chính tấm lòng (mà ngày nay chúng ta có thể nói là tâm trí) của chúng ta mới là nguồn gốc của sự ô uế và Ngài đã nêu ra một bản liệt kê xác đáng về những điều xấu xa ghê tởm có thể phát xuất ra từ đó.

Mác đưa ra một sự suy luận đúng đắn rằng nếu như thế thì mọi thứ thức ăn đều sạch (người Hồi giáo gọi là halal) và đều được phép ăn (19).  Điều này ắt hẳn đã đem lại sự thoải mái, tự tin hơn cho những người nghe tại một Hội Thánh như Hội Thánh Rô-ma, cũng như cho người Do Thái lẫn người ngoại, vì nó khiến cho mối thông công Tiệc Thánh trở nên dễ dàng để thực hiện hơn (Ga 2:12).

(Mac 7:24-30) Đức tin của một người ngoại (Mat 15:21-28).  Mác tiếp tục chủ đề về sự ‘ô uế’ bằng câu chuyện về một người ngoại (và vì là người ngoại nên ‘không sạch’).  Xét theo một nghĩa nào đó thì đây là một câu chuyện mang tính truyền giáo.  Có vẻ như Đức Chúa Giê-xu đang tìm một nơi yên tĩnh tại một vùng đất của dân ngoại nhưng Ngài đã không thể thoát khỏi sự chú ý.  Lần này không phải là một đoàn dân đông mà chỉ là một người phụ nữ tại vùng đó và nói tiếng Hi Lạp, bà ta đến xin Ngài đuổi tà ma ra khỏi đứa con gái của bà.  Trong câu trả lời của Ngài (27), có lẽ Chúa Giê-xu đã dẫn ra một câu tục ngữ phổ biến, và vì vậy nghĩa của nó không gay gắt như nó có vẻ như thế.  Dù thế nào đi chăng nữa thì điểm nhấn mạnh ở đây nằm ở vế đầu của câu nói.  Khi Chúa Giê- xu còn ở trên đất thì sứ mạng Ngài trước hết là dành cho dân Y-sơ-ra-ên (Mat 15:24).  Sau sự chết trên thập tự giá của Chúa Giê-xu thì sẽ đến lượt người ngoại trong một sứ mạng rộng khắp và rất quen thuộc đối với Mác.  Nhưng đức tin của người phụ nữ rất lớn và sự kiên nhẫn của bà cũng vậy, vì nhu cầu của bà là rất lớn.  Bà nhẹ nhàng chấp nhận rằng trong lúc này bà không có quyền gì để đòi hỏi ân điển của Đức Chúa Trời nhưng bà chỉ nương mình nơi sự thương xót của Ngài và xoay chuyển câu chuyện ngụ ngôn của Chúa Giê-xu theo đúng hướng của Ngài.  Phải chăng Chúa Giê-xu chỉ muốn thử thách bà để xem đức tin của bà có thật mạnh mẽ hay không ? Đức tin ấy đã được tưởng thưởng.  Đây là một phép lạ của ân điển mà người ngoại đưtợc dự phần vào trong mọi lời hứa của Đức Chúa Trời dành cho dân Y-sơ-ra-ên (Ro 11:18).  Chúng ta thường rất hay lạm dụng địa vị của mình.

(Mac 7:31-37) Người đàn ông câm điếc  Câu chuyện về sự chữa lành thuộc thể này là sự minh họa cho một thực tế rằng ngay cả khi người ta bị điếc trước Đức Chúa Trời (như người Pha-ri-si) thì Chúa Giê-xu cũng có thể chữa lành cho họ được.  Những động tác mà Chúa Giê-xu thực hiện ở đây là để cho người đàn ông hiểu rằng đây không phải là sự chữa lành bằng phép thuật mà là sự chữa lành bởi Đức Chúa Trời để đáp lại lời cầu nguyện.  Chúa Giê-xu muốn tạo đức tin nơi người này trước khi Ngài chữa lành cho ông ta.  Vì thế, sự điếc đã được Ngài phỏng theo bằng cách bịt tai người đàn ông lại, và việc chữa lành bệnh câm (ngọng) được thực hiện bằng cách thấm nước miếng xức vào lưỡi của ông ta.  Ngước nhìn lên trời và thở ra là những hình ảnh của sự cầu nguyện mà một người câm điếc có thể thấy và hiểu được.  Lời cầu nguyện chữa lành của Chúa Giê-xu được nói bằng tiếng A-ram, thổ ngữ của người đàn ông và đã được Mác giải thích cho Hội Thánh không thuộc xứ Palestine của ông.

Như thường lệ, Chúa Giê-xu ra lệnh cho họ phải im lặng, và như thường lệ người ta lại không vâng lời.  Những con người đang phấn khích lên tiếng: ‘Ngài làm mọi việc được tốt lành’, và lấy làm kinh ngạc, nhưng liệu họ có tin không? Trong một khoảnh khắc, Phi-e-rơ sẽ tạo ra một bước nhảy vọt trong đức tin, từ sự kinh ngạc này ông đã tiến đến sự nhận biết bản chất thật của Chúa Giê-xu: Phi-e-rơ điếc sẽ nghe được và Phi-e-rơ câm sẽ nói được.

(Mac 8:1-13) Cho bốn ngàn người ăn (Mat 15:32-39).  Quyền phép của Nước Trời được bày tỏ một vài lần nữa trước khi Chúa Giê-xu quyết định rằng các môn đồ của Ngài đã sẵn sàng cho ‘sự thử nghiệm’ cuối cùng.  Liệu họ đã học biết được Ngài là ai hay chưa? Họ đã học được bài học của việc cho năm ngàn người ăn hay chưa? Nếu đã học được thì đây là một cơ hội để họ chứng minh cho điều đó nhưng họ đã thất bại thật thảm hại.  Một lần nữa, có một đoàn dân đông đang đói đi theo Chúa Giê-xu để được nghe Ngài giảng dạy.  Một lần nữa, Chúa Giê-xu tỏ bày lòng thương xót của Ngài và cũng một lần nữa các môn đồ tỏ ra rằng họ không thể tự xoay sở được (4).  Suy nghĩ của họ vẫn là suy nghĩ của thế gian, và họ không hề nghĩ đến Chúa Giê-xu trong mọi sự trù liệu của họ.  Một lần nữa Chúa Giê-xu kiên nhẫn hỏi họ có bao nhiêu bánh, và họ đáp rằng chỉ có được rất ít.  Một lần nữa, Ngài tạ ơn Đức Chúa Trời, bẻ bánh và trao cho các môn đồ để họ phân phát cho đoàn dân đông và một lần nữa, Đức Chúa Trời đã chu cấp cho những nhu cầu của họ một cách dư dật.

Có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi một số nhà phê bình đã cho rằng câu chuyện này chỉ là một sự lặp lại sai lầm của việc cho năm ngàn người ăn, nhưng suy nghĩ như vậy là lầm lẫn toàn bộ vấn đề.  Mác có chủ ý thể hiện sự chậm chạp và lờ mờ của các môn đồ, ngay cả khi một phép lạ tương tự đã được thực hiện đến lần thứ hai (xem câu 17-20).  Dù thế nào đi chăng nữa thì số bánh và các giỏ bánh vụn (cũng như số người ăn) đều không giống như lần đầu.  Một lần nữa thì người làm chứng đã thuật lại câu chuyện cách chân thật.

(Mac 8:14-21) Men của người Pha-ri-si đảng -rốt (Mat 16:5-12).  Dường như Mác kể câu chuyện này là để nhấn mạnh việc Mười hai môn đồ đã hoàn toàn không thể hiểu được sự việc, và có lẽ để đưa ra lý do rằng: các môn đồ vẫn còn chịu ảnh hưởng quá nhiều bởi cách nghĩ của đời này.  Có lẽ họ mải đổ lỗi cho nhau về việc quên không đem theo bánh khi đi đường khi Chúa Giê-xu răn bảo họ (thực ra Ngài đã kể cho họ một câu chuyện ngụ ngôn nhỏ).  Họ đã không thấy được ý nghĩa thuộc linh của câu chuyện và tệ hơn thế nữa, họ đã quên rằng Chúa Giê-xu có thể và sẽ đáp ứng bất kỳ nhu cầu nào cho những kẻ tìm kiếm Nước Đức Chúa Trời vì Ngài đã chứng minh điều này trong các phép lạ hóa ra bánh rồi.  Lần này, Chúa Giê-xu thẳng thừng quở trách họ (21).  Lẽ ra họ phải thấy được rằng men của người Pha-ri-si chính là thái độ của họ đối với cuộc sống, thái độ này sẽ ảnh hưởng đến các môn đồ nếu họ không cẩn trọng.  Chúng ta cũng cần phải luôn tỉnh thức trước ‘tinh thần của đời này’, hay trước lối suy nghĩ và sự dạy dỗ của các tôn giáo khác ở xung quanh chúng ta.  Đường lối của Đấng Christ khác biệt hoàn toàn với đường lối của thế gian là những điều mà chúng ta vẫn thường đọc trên báo, nghe trên đài và thấy trên các phương tiện truyền thông.

(Mac 8:22-26) Sự chữa lành một người   Ví dụ cuối cùng này về quyền phép của Nước Trời có thể là hình ảnh về các môn đồ bị mù về tâm linh, vẫn còn quá sớm để họ có thể nhìn biết được các sự việc.  Những người bạn đã đem một người mù đến cho Chúa Giê-xu đức tin của họ cũng như của anh ta sẽ được tưởng thưởng.  Họ đã đưa người mù ra khỏi sự la ó và sự lộn xộn của mọi người trong vùng để anh ta có thể lắng nghe Chúa Giê-xu mà không bị phân tâm.  Chúa Giê-xu thấm nước miếng lên mắt người đàn ông và đặt tay trên anh ta là những việc mà một người mù có thể cảm nhận được.  Không có gì là phép thuật ở đây với nước miếng cả, ngay cả khi đó là nước miếng của Chúa Giê-xu, đó chỉ là một sự hỗ trợ bên ngoài đối với đức tin và sự hiểu biết mà thôi.

Tại sao việc chữa lành này lại cần đến hai giai đoạn? Phải chăng có lẽ vì đức tin chưa trọn vẹn của người đàn ông không? Mác không nói gì về điều này.  Chỉ biết rằng Chúa Giê-xu không bỏ người đàn ông giữa chừng khi Ngài đang chữa cho ông ta cho đến khi ông ấy có thể thấy được rõ ràng mọi vật.  Phải chăng đây là hình ảnh về việc mà ngay cả Phi-e-rơ lúc đầu cũng chỉ nhìn biết được phần nào lẽ thật về Chúa Giê-xu? Người đàn ông được dạy bảo phải đi thẳng về nhà mà không được quay trở lại làng, nơi mà người ta khi trông thấy ông sẽ bị cám dỗ để theo Chúa Giê-xu như theo một người chữa lành bệnh mà không phải là một Đấng cứu rỗi.  Trong việc truyền giảng Phúc Âm luôn tồn tại nguy cơ mỗi khi có phép lạ chữa lành diễn ra là người ta sẽ chỉ đến với Chúa vì những lý do sai trật.

2. GIÁ CỦA NƯỚC TRỜI (Mac 8:27-10:52)

Hiện giờ chúng ta đang ở giai đoạn bước ngoặt của Phúc Âm Mác và bắt đầu chuyển sang phần thứ hai, là phần được đánh dấu bởi sự khám phá thuộc linh lớn lao của Phi-e-rơ về việc Chúa Giê-xu là ai.  Các môn đồ cuối cùng cũng đã thấy được (về mặt thuộc linh), nhưng ngay cả Phi-e-rơ cũng chỉ nhìn biết được phần nào (như người mù vừa được Chúa Giê-xu chữa lành).  Ông nhìn thấy rằng Chúa Giê-xu là Đấng Mết-si-a nhưng đã không thấy Ngài là Đấng Mết-si-a phải chịu thương khó.  Đây là giá trả của Nước Trời, không chỉ cho Chúa Giê-xu mà còn cho họ nữa.

Từ thời điểm này trở đi, Chúa Giê-xu chú trọng vào việc dạy dỗ cho nhóm các môn đồ mà không phải cho đoàn dân đông bên ngoài.  Ngài có làm một vài phép lạ, tuy Ngài vẫn không khước từ việc chữa lành nếu kẻ bệnh tìm đến với Ngài.  Đó là vì không cần phải thực hiện phép lạ nữa một khi các môn đồ đã học được bài học của mình.  Tuy nhiên, ‘Phúc Âm’vẫn phải được đặt ở vị trí trung tâm.  Kể từ đây trở đi, câu chuyện tiến triển rất nhanh cho đến tuần lễ cuối cùng tại Giê-ru-sa-lem, là phân đoạn chiếm một phần ba trong sách Phúc Âm này.  Đó là lý do tại sao Phúc Âm Mác đôi khi được gọi là câu chuyện về thập tự giá với phần mở đầu tương đối dài.

1. Giá trả đối với Chúa Giê-xu (Mac 8:27-9:13)

(Mac 8:27-30) Sự khám phá của Phi-e- (Mat 16:13-20  Lu 9:18-21).  Có lẽ Chúa Giê-xu đem các môn đồ đến đây vì nơi này yên tĩnh.  Tại biên giới của vùng đất Do Thái, Ngài vẫn có thể giảng dạy trong các làng mà không bị quấy rối bởi đám đông người kéo đến cầu xin sự chữa lành.  Đây là một nơi xanh tươi và mát mẻ và chắc chắn là một trong nhưng vùng đẹp nhất của xứ Palestine.  Giống như bất kỳ một người thầy giỏi nào, Chúa Giê-xu đã đưa ra một câu hỏi gợi ý cho các học trò của Ngài rằng: ‘Người ta nói ta ai?’ Trong cuộc sống cuối cùng chỉ còn tồn tại một vấn đề căn bản duy nhất: Chúa Giê-xu là ai? Tương lai đời đời của tất cả chúng ta phụ thuộc vào câu trả lời của chúng ta cho câu hỏi đó.  Câu trả lời của các môn đồ cho thấy rằng những cách nghĩ khác nhau về Chúa Giê-xu không hề thay đổi kể từ những giai đoạn đầu tiên của chức vụ Ngài – Ngài là Giăng Báp-tít, là Ê-li, hay là một trong các tiên tri.  Để có thể nói như Phi-e-rơ rằng Chúa Giê-xu là Đấng Mết-si-a là một việc vượt quá sự ca ngợi tán tụng của đời này.  Nếu, cùng với Phi-e-rơ, chúng ta nói với Chúa Giê-xu rằng ‘Ngài là Chúa Cứu Thế’, thì chúng ta phải bước đi theo Ngài, và cuộc đời của chúng ta sẽ hoàn toàn được biến đổi.

Tại sao Chúa Giê-xu cấm các môn đồ không được nói với mọi người rằng Ngài là Đấng Mết-si-a? Trước hết là vì người ta phải tự mình khám phá ra điều này dù đây thực sự là một sự bày tỏ từ Đức Chúa Trời.  Thứ hai, họ phải hiểu được Chúa Giê-xu Mết-si-a là Đấng như thế nào ? Ngài không phải là một vị anh hùng có vẻ bề ngoài thành công và có sức thu hút, đánh đuổi các nhà cai trị La Mã đáng ghét và thiết lập một triều đại Do Thái mới như nhiều người vẫn hy vọng.  Trái lại, Ngài phải là một Đấng Mết-si-a khiêm nhường, nhẫn nhục, yêu thương, hòa bình, và là kẻ tôi tớ chịu thương khó của Đức Chúa Trời như đã được mô tả trong Es 53:1-12.

Cũng cần phải lưu ý là nếu Phúc Âm Mác được viết ra tại Rô-ma, là nơi mà sau này Phi-e-rơ sẽ giữ một vai trò rất quan trọng trong Hội thánh ban đầu, thì Mác đã không hề đề cập đến những lời hứa lớn lao mà Chúa Giê-xu đã hứa cùng Phi-e-rơ tại thời điểm này (Mat 16:18).  Phải chăng chính Phi-e-rơ không muốn nói đến những lời hứa này? Chắc chắn là Mác đã không xem Phi-e-rơ như là vị giám mục thiết lập nên Hội thánh vĩ đại đầu tiên của Hội Thánh Rô-ma như các tín hữu vào các thế kỷ sau này vẫn thường nghĩ.

(Mac 8:31-9:1) Giá trả của cách Chúa Cứu Thế (Mat 16:21-28  Lu 9:22-27).  Chúa Giê-xu dạy các môn đồ rằng Ngài sẽ chịu khổ nhiều Ngài sẽ bị các nhà lãnh đạo tôn giáo khước từ (như chúng ta đã thấy, họ là những kẻ thù của Ngài), Ngài sẽ nhận lãnh một cái chết thảm khốc và Ngài sẽ sống lại vào ngày thứ ba.

Phi-e-rơ đã can gián Chúa Giê-xu (32).  Chúng ta phải kinh ngạc trước sự bạo dạn của Phi-e-rơ, nhưng có phải cũng đã có lúc chúng ta nghi vấn đường lối hành động của Đức Chúa Trời và đề nghị với Ngài một cách thức khác, giống với cách nghĩ của chúng ta hơn hay sao? Chúng ta không thể phê bình hay chỉ trích Phi-e-rơ được.  Chúa Giê-xu thường rất mềm mại và kiên nhẫn với các môn đồ nhưng lần này Ngài đã rất thẳng thừng.  Những điều như Phi-e-rơ đã phát biểu là những lời cố ý ngăn trở Chúa Giê-xu né tránh con đường thập tự, và như thế đã thể hiện ra ý tưởng của Sa-tan, chớ không phải của Đức Chúa Trời.  Đây là sự cám dỗ mà Chúa Giê-xu đã đối diện trong đồng vắng trước đây và đã đắc thắng, Ngài sẽ đắc thắng sự cám dỗ một lần nữa tại vườn Ghết-sê-ma-nê.  Ngài đã không nhượng bộ trước sự cám dỗ này, và những môn đồ Ngài cũng không được phép khuất phục.  Đây là lý do vì sao lời cảnh cáo nghiêm khắc trong câu 34.  ‘Không có thập tự giá thì không có mão miện’ là một nguyên tắc đúng đắn dành cho Cơ Đốc nhân vì đây chính là nguyên tắc của Chúa Cứu Thế.

Có phải Phi-e-rơ phản đối Chúa Giê-xu bước đi theo con đường thập tự vì sợ chính ông cũng sẽ phải đi con đường ấy? Theo cái nhìn của thế giới phi Cơ Đốc thì vác thập tự giá là dấu hiệu của việc chấp nhận cái chết nhục nhã dành cho kẻ nô lệ, và là một điều thật sự có thể xảy ra trong trường hợp của các tín hữu tại hội thánh Rô-ma trong cơn bắt bớ.  Đây là hình ảnh về một người bị kết án đang trên đường đến nơi hành hình, vai mang nặng thập tự giá của chính mình, ngang qua những đám đông nhạo báng, giống như Chúa Giê-xu phải thực hiện trên đường đến đồi Gô-gô-tha. Liều mình nghĩa là từ chối theo bất kỳ đường hướng tự nhiên nào đi ngược lại con đường của Chúa Cứu Thế dành cho chúng ta, dù chúng có vô hại đi chăng nữa.  (Điều này có ý nghĩa sâu sắc hơn việc không ăn đường trong mùa chay (vào tháng ba) như một số Cơ Đốc nhân vẫn tuân giữ). Thế nhưng đây là con đường duy nhất dẫn đến đời sống thuộc linh thật ngoài con đường này ra thì hành động theo con đường nào khác là khiến cho chính chúng ta bị hư mất đời đời.  Trong ý nghĩa này thì mất tức là được và được tức là mất.

Tuy nhiên, có một lời hứa lớn lao đi kèm với những lời lẽ nghiêm khắc này, rằng những ai bước đi theo con đường này sẽ thấy là ngay trong đời này, nhiều người sẽ nhìn biết được quyền năng của Nước Đức Chúa Trời (Mac 9:1).  Trước hết là điều này sẽ xảy ra trên núi hoá hình (được mô tả trong chương kế tiếp) trong tương lai xa hơn, nó ám chỉ về sự phục sinh và thăng thiên của Chúa Cứu Thế và sự tuôn đổ của Thánh Linh vào ngày lễ Ngũ Tuần và cuối cùng, chắc chắn là nó liên hệ đến sự diệu kỳ của việc hiện đến lần thứ hai của Chúa Cứu Thế.  Như hầu hết những lời tiên tri thì lời hứa này được ứng nghiệm ở nhiều ‘tầng lớp’ khác nhau.

(Mac 9:1) xem giải nghĩa 8:27-38

(Mac 9:2-13) Sự hoá hình (Mat 17:1-13  Lu 9:28-36).  Giờ thì ít ra Phi-e-rơ cũng đã nhận thức rõ Chúa Giê-xu là ai, Chúa Giê-xu đã hiện ra cho Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng như hình dạng Ngài từng có trước đó, và lại sẽ có trong vinh quang.  Sự sáng rực trắng tinh chói lòa của áo xống Ngài có tính đặc trưng trong Kinh Thánh để chỉ về các thiên sứ và thiên binh.  Ê-li và Môi-se rõ ràng là tiêu biểu cho những hy vọng về Nước Trời trong thời Cựu Ước.  Môi-se là một tiên tri, và  cũng là người ban bố luật pháp của Y-sơ-ra-ên Ê-li được cho là người dọn đường cho Đấng Mết-si-a.  Phi-e-rơ, cũng như nhiều người trong chúng ta, đã nói nhảm những điều vô nghĩa trong cơn sợ hãi chúng ta không cần tìm kiếm triết lý thần học sâu xa trong những lời nhận xét ngớ ngẩn của ông.  Chúa Giê-xu vẫn chỉ là ‘ra-bi’ hay ‘thầy’ đối với ông, cho dù mới trước đó ông đã nhận ra rằng Ngài là Đấng Cứu Thế.  Tuy nhiên, bởi việc ông dùng chữ trại, Phi-e-rơ có thể đã nhớ đến cách Đức Chúa Trời ngự xuống núi Si-na-i thuở xưa và bày tỏ vinh quang Ngài trong một ‘lều tạm’  (‘hội mạc’là một từ cổ).  Nhưng lời phán của Đức Chúa Trời, chớ không phải lời nói của Phi-e-rơ, mới là trọng tâm của phân đoạn Kinh Thánh này.  Một lần nữa, như tại lễ báp-tem ở sông Giô-đanh, Đức Chúa Trời đã làm chứng cho con yêu dấu của Ngài, và kêu gọi mọi người phải vâng nghe lời Ngài (chứ không phải lắng nghe Phi-e-rơ hay bất kỳ tiếng nói của con người nào khác).  Như tại núi Si-na-i xưa kia, đám mây ở đây cũng tượng trưng cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời.  Thình lình, Môi-se và Ê-li biến mất chỉ còn lại Chúa Giê-xu cùng với ba môn đồ của Ngài.

Các môn đồ bị nghiêm cấm không được nói lại những điều mình đã thấy cho đến sau khi Chúa Giê-xu từ kẻ chết sống lại.  Họ không thể hiểu được khi Ngài nói đến việc từ kẻ chết sống lại, mặc dù điều ấy có vẻ thật đơn giản đối với chúng ta.  Hẳn họ đã biết rằng khi dùng từ Con Người, Chúa Giê-xu đang nói về chính Ngài và, như tất cả mọi người Do Thái chính thống, họ tin vào một sự sống lại chung cuộc vào ngày cuối cùng (Gi 11:24), nhưng điều này có ý nghĩa gì? Phải chăng đó là một sự chết đi rồi sống lại, như sự sống lại của con gái Giai-ru? Chúa Giê-xu đồng nhất Ê-li với Giăng, ngụ ý là Giăng đã hoàn thành nhiệm vụ của Ê-li và như Giăng đã bị khước từ và bị giết thể nào, thì Chúa Giê-xu cũng sẽ bị chối bỏ và bị giết thể ấy (12-13).

2. Giá trả đối với những kẻ khác (Mac 9:14-10:52)

(Mac 9:14-32) Đứa con trai bị quỉ ám (Mat 17:14-23  Lu 9:37-45).  Sự chống đối của các thầy thông giáo và sự vô tín của các môn đồ và đám đông đã làm buồn lòng Chúa Giê-xu (19).  Các môn đồ Ngài đã tỏ ra bất lực, và đức tin của người cha thì có giới hạn (21).  Tuy nhiên, việc chữa lành phụ thuộc vào quyền năng của Đức Chúa Trời, chứ không phụ thuộc vào mức độ đức tin của chúng ta, vì thế Chúa Giê-xu đã có thể đuổi quỉ và chữa lành cho đứa trẻ.

Để trả lời các câu hỏi của các môn đồ, Chúa Giê-xu đã giải thích rằng cái giá phải trả của Nước Trời bao gồm cả sự cầu nguyện (một số bản chép tay có thêm ‘sự kiêng ăn’, là một hoạt động thường đi cùng với sự khẩn thiết cầu nguyện trong Cựu Ước cũng như trong Tân Ước).  Đây là một lời cảnh cáo rằng sự chiến thắng trên kẻ thù, mà việc chữa lành này là một ví dụ, thì không phải dễ dàng đạt được.  Vì thế, điều này tất yếu đã dẫn đến việc Chúa Giê-xu đưa ra một lời dự báo nữa về sự chết sắp đến của Ngài.  Các môn đồ vẫn không hiểu lời ấy (32).

Một điều đáng chú ý là tuy các triệu chứng của cậu bé có vẻ như là của bệnh động kinh, song cả ba sách Phúc Âm đều mô tả tương tự nhau rằng tình trạng của cậu bé là do các thế lực tà linh gây ra.  Chúng ta không thể chỉ bàn luận qua loa cho rằng việc này là cách diễn đạt của thời ấy, trái lại chúng ta không được phạm sai lầm còn nghiêm trọng hơn khi cho rằng mọi cơn co giật kiểu động kinh là do bị tà ma ám.  Có nhiều yếu tố lý hóa liên quan đến bệnh động kinh, và người bác sĩ, chớ không phải thầy phù thuỷ, mới là người có thể xử lý chúng.

(Mac 9:33-50) Sự cao trọng thật (Mat 18:1-5  Lu 9:46-48).  Mười hai môn đồ vẫn còn phải học biết rằng giá trả của Nước Trời còn là việc thôi tìm kiếm địa vị cao cho chính mình.  Tinh thần tôi tớ và đức tính khiêm nhường là con đường duy nhất dẫn đến sự cao trọng thật của Cơ Đốc nhân, đó là lý do mà Chúa Giê-xu đã lấy một đứa trẻ làm ví dụ ở đây (36).  Đề tài về những đứa nhỏ được nhắc lại trong câu 42: Mác đã ‘đan xen vào’ một bài học khác về sự khiêm nhường, vốn cũng thuộc về giá trả của Nước Trời.  Giăng dường như hãnh diện về việc các môn đồ đã ngăn cấm bất kỳ người nào khác ngoài vòng họ được phép đuổi quỉ.  Khi một người đang nhân danh Chúa Giê-xu mà trừ quỉ thì người ấy chắc hẳn phải là một người tin nơi Chúa Giê-xu, cho dù người ấy không phải là một trong những người đi theo Ngài.  Không ai có sự độc quyền về công tác của Nước Trời.  Chúng ta phải khiêm nhường chấp nhận sự thành công của người khác và vui mừng về sự thành công ấy, như Phao-lô vậy (Phi 1:18).  Không có việc gì được làm cho Chúa Cứu Thế mà không được ban thưởng, dù người làm việc đó là ai đi chăng nữa.

Nước Trời là một vấn đề hệ trọng đó là lý do vì sao việc đặt một ‘hòn đá vấp chân’ thuộc linh trên bước đường của một người sẽ bị nghiêm trị (42).  Thật vậy, giá trị của Nước Trời lớn lao đến nỗi không có sự hy sinh hay của lễ cao quý nào có thể sánh được.  Tay, chân và mắt tượng trưng cho những thuộc thể quý giá nhất của con người, thế nhưng thà mất đi những thuộc thể ấy còn hơn là đánh mất Nước Trời.  Dĩ nhiên, điều này có ý nghĩa ẩn dụ chớ không phải theo nghĩa đen như một số giáo phụ đầu tiên và một số tôn giáo phi Cơ Đốc theo trào lưu chính thống vẫn hiểu.

Chúa Giê-xu phán một cách mạnh mẽ về địa ngục (48).  Đây là phe đối lập với Nước Trời, và dường như không có ‘sự chọn lựa thứ ba’ nào.  Thế nhưng Chúa Giê-xu nói về địa ngục với những kẻ tin Ngài để cảnh cáo, chớ không phải nói với những kẻ có tội để kết án họ.  Chúa Giê-xu đã trích dẫn Es 66:24 có mô tả về Gê-hê-na là một hố rác vẫn ngày đêm âm ỉ cháy tại thành Giê-ru-sa-lem, và nó đã được dùng như một hình ảnh về sự đoán phạt của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi.  Muối là một ẩn dụ khác nó làm cho mọi vật trở nên tinh sạch, cũng như lửa vậy.  Nếu chúng ta tự luyện sạch mình ngay bây giờ (không có ý nói về ‘ngục luyện tội’ nào đó sau sự chết), thì chúng ta sẽ không bị đặt dưới sự phán xét của Đức Chúa Trời sau này.  Đây là một ý niệm về địa ngục rất khác với quan niệm phổ biến của đạo Phật hoặc của các tôn giáo khác.  Nếu chúng ta ‘được muối’ bằng các giá trị của Nước Trời, chúng ta sẽ không tranh cãi xem ai là kẻ cao trọng nhất nhưng sẽ sống hoà thuận với nhau.

(Mac 10:1-16) Hôn nhân Nước Trời (Mat 19:1-15  Lu 16:18  18:15-17).  Giá trả của Nước Trời thật lớn, ngay cả trong các mối quan hệ thân thiết nhất của con người.  Có thể Môi-se đã cho phép ly dị bởi vì sự cứng lòng của con người (không hiểu được mục đích của Đức Chúa Trời trong hôn nhân), nhưng Chúa Giê-xu giải thích rõ ràng rằng Nước Trời đòi hỏi sự chung thủy trọn đời với người bạn đời và Ngài xem hôn nhân là nằm trong kế hoạch sáng tạo của Đức Chúa Trời.  Điều này đòi hỏi phải trả một giá đắt đến nỗi, theo sách Ma-thi-ơ thì các môn đồ cho rằng thà ở độc thân còn hơn là đối mặt với nó.  Nhưng cả ở đây lẫn trong Ma-thi-ơ, Chúa Giê-xu gọi sự tái hôn sau khi ly dị (dù là bởi vợ hay chồng) là sự tà dâm rõ ràng theo quan điểm của Nước Trời (11-12).  Chúng ta có thể hình dung được một câu nói như vậy nghe có vẻ cực đoan trong bầu không khí đạo đức lơi lỏng của Rô-ma, cũng như của thời đại chúng ta ngày nay khi các quy tắc đạo đức xưa cũ đang bị phá vỡ.  Thật sự là dường như có một ngoại lệ trong Ma-thi-ơ khi xuất hiện sự không chung thủy, nhưng Mác đã nói đến điều này theo ý nghĩa tuyệt đối của nó.  Có lẽ thành Rô-ma của dân ngoại cần đến sự quy định nghiêm ngặt này. 

Tương phản với sự nghiêm khắc này, Mác đã thêm vào ở đây một câu chuyện nhẹ nhàng về sự quan tâm yêu thương của Chúa Giê-xu đối với các con trẻ.  Đây là mặt trái của những lời phán nghiêm khắc của Ngài về sự thánh khiết trong hôn nhân.  Xét cho cùng, trẻ con phải chịu nhiều đau khổ nhất do việc ly dị gây ra.  Tuy nhiên cũng có một lẽ thật khác về Nước Trời: chỉ những ai đón nhận nước ấy với lòng đơn sơ và tin cậy như con trẻ mới có thể vào được nước ấy.  Đây là một trong số rất ít dịp mà Mác ghi lại rằng Chúa Giê-xu giận, và thật thú vị khi biết được nguyên nhân.  Có thể chúng ta đã nghĩ rằng các vấn đề khác quan trọng hơn sự chăm lo về thuộc linh cho con trẻ, nhưng Chúa Giê-xu đã yêu quý chúng và thường dùng con trẻ để làm gương cho chúng ta.  Có lẽ đó là lý do vì sao từ ‘con trẻ’ đôi khi được dùng để nói về ‘các tín hữu đơn sơ’ trong các sách Phúc Âm.

(Mac 10:17-34) Người trai trẻ tất cả mọi sự (Mat 19:16-30  20:17-19  Lu 18:18-34).  Không nơi nào mà giá trả của Nước Trời được thể hiện rõ ràng hơn như trong câu chuyện về người trai trẻ giàu có này.  Chàng ta có đầy đủ mọi sự trừ sự sống đời đời.  Chàng muốn có sự sống ấy nhưng không sẵn lòng từ bỏ mọi thứ khác (như con khỉ trong câu chuyện được nhiều người biết đến, nó không thể thoát khỏi cái bẫy vì không chịu buông đi những thứ đang nắm trong tay).  Tuy nhiên, không có con đường nào khác để vào được Nước Trời ngay cả Phi-e-rơ và các môn đồ khác cũng đã học biết điều đó (28).  Chàng trai trẻ này dễ mến (21), hăm hở và chắc chắn là một người có phẩm hạnh, nhưng chàng đã không thể đối mặt với giá trả.  Thế nhưng Chúa Giê-xu thà mất một người có thể theo Ngài còn hơn là hạ thấp tiêu chuẩn cho anh ta thật vậy, không có tiêu chuẩn khả dĩ nào khác.  Vì thế chàng trai trẻ đi ra rất buồn và chúng ta không còn nghe nhắc về anh ta nữa anh ta đã có sự chọn lựa riêng cho chính mình.

Chúa Giê-xu nói rằng (23) người giàu vào Nước Trời thì thật khó, thực ra là không thể thực hiện được nếu không có sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời (27).  Tất cả chúng ta đều bị cám dỗ để tin cậy nơi ‘sự giàu có’ của riêng mình, cho dù sự giàu có ấy thế nào đi chăng nữa, chớ không tin cậy nơi Đức Chúa Trời.  Chúa Giê-xu đã dùng một câu tục ngữ khôi hài để cho thấy việc đó là rất khó, rõ ràng là lạc đà không thể chui qua lỗ kim được.

Chúa Giê-xu phán rằng kết quả của việc bố thí tiền bạc cho người nghèo, hay của bất kỳ sự hy sinh nào mà chúng ta có thể thực hiện cho Nước Trời, đều sẽ là của báu không phải trên đất này mà là ở trên trời chúng ta càng ban cho nhiều thì chúng ta càng được nhận lãnh nhiều.  Điều này không có nghĩa là nếu chúng ta dâng hiến tiền bạc cho công việc Chúa thì chúng ta nhận lại được nhiều hơn, như một số “giáo phái thịnh vượng” vẫn dạy.  Điều này thực sự có nghĩa là phần thưởng thuộc linh sẽ có giá trị hơn nhiều so với bất kỳ sự hy sinh nào mà chúng ta có thể làm được cho Chúa Cứu Thế, ngay cả khi có xảy ra bắt bớ trong những sự hy sinh này (30).

Phân đoạn Kinh Thánh kết thúc bằng một lời dự báo khác về sự thương khó của Chúa Giê-xu, thậm chí lần này còn chi tiết hơn, và đây là một sự minh họa khác của lẽ thật về sự hy sinh.  Một điều gì đó trong thái độ của Chúa Giê-xu, cũng như trong lời phán của Ngài, đã khiến các môn đồ phải thất kinh và đám đông theo Ngài phải sợ hãi.  Vì một lý do nào đó mà họ cảm thấy dường như cơn khủng hoảng đang gần kề.

(Mac 10:35-45) Một lời cầu xin vị kỷ (Mat 20:20-28).  Nếu sự việc không được ký thuật lại thì chúng ta khó có thể tin được rằng sau mọi việc này, Gia-cơ và Giăng lại có thể đến gần Chúa với lời cầu xin đầy tham vọng và vị kỷ của họ.  Tuy nhiên, tự bản thân chúng ta cũng biết rõ về chính mình, vì thế chúng ta có thể hiểu được sự việc này.  Nếu như hai môn đồ này nhận biết được giá trả thực sự của địa vị cao trọng trong Nước Trời, rất có thể họ đã không dám cầu xin cho dù lời lẽ của họ có bạo dạn đến đâu đi chăng nữa. Chén phép báp-tem (hay ‘huyết’) là những hình ảnh về sự trừng phạt và thương khó trong Cựu Ước.  Chúa Giê-xu cảnh cáo họ rằng sự khốn khó thực sự sẽ xảy ra nhưng không nhất thiết sẽ dẫn đến địa vị cao trọng trong Nước Trời, vì tất cả mọi người đều phải chịu sự thương khó ấy.  Về địa vị cao trọng thì chỉ Đức Chúa Trời mới có quyền ban cho mà thôi.

Mười môn đồ còn lại cho thấy họ cũng xấu xa như Gia-cơ và Giăng khi nổi giận với hai người vì cớ lời cầu xin của họ.  Rõ ràng là họ cũng mong muốn các địa vị ấy cho chính mình.  Vì thế, Chúa Giê-xu đã rất kiên nhẫn giải thích cho họ một lần nữa về mẫu mực hoàn toàn khác hẳn của Nước Trời, đó là sự cao trọng thật phải là sự phục vụ đầy khiêm nhường.  Chính Ngài là một gương mẫu vĩ đại trong điều này.  Ngài đến để làm một tôi tớ chịu thương khó của Đức Chúa Trời, như đã được tiên tri trong Es 53:1-12 và để phó sự sống mình làm giá chuộc cho nhiều người (45).  Việc sử dụng chữ ‘nhiều’ không có nghĩa là Ngài chỉ chết cho một số người nào đó mà không phải cho tất cả chúng ta, nhưng đúng hơn nó nhấn mạnh đến con số rất lớn những người được chuộc bởi sự chết của Ngài.  Đây là một trong số rất ít chỗ trong sách Mác giải thích về sự chết của Chúa Giê-xu đã cứu rỗi chúng ta.  Mác chú trọng đến sự kiện đơn giản là sự chết của Chúa thật sự cứu rỗi chúng ta hơn là việc sự chết ấy cứu rỗi chúng ta như thế nào. Sự chuộc là một trong nhiều hình ảnh được dùng để giải thích sự cứu rỗi trong Tân Ước.  Nó có nghĩa là việc mua lại người nào đó ra khỏi ách nô lệ, sự giam cầm, hay sự chết bằng cách trả một cái giá.  Ngày nay, tất cả chúng ta đều rất quen thuộc với việc này qua yêu cầu của những kẻ bắt cóc và những tên không tặc.  Trong trường hợp này, giá phải trả là sự chết của Chúa Giê-xu.

(Mac 10:46-52) Việc chữa lành Ba-ti- (Mat 20:29-34  Lu 18:35-43).  Việc chữa lành lần sau cuối được ghi chép lại ở đây xảy ra trên chính con đường dẫn đến sự thương khó và sự chết của Chúa tại Giê-ru-sa-lem.  Đó là hình ảnh của một người ý thức được nhu cầu của mình, với đức tin bền bỉ đã được chữa lành, và kết quả là ông đã đi theo Chúa Giê-xu.  Chắc chắn đây là câu chuyện của nhiều người đã đi theo Chúa Giê-xu, ngay cả trong suốt tuần lễ cuối cùng đầy kinh khiếp.  Nhân chứng của Mác nhớ tên của người đàn ông này, và như thường lệ, Mác đã dịch ra cái tên này.  Như nhiều người trong những nước thuộc Thế giới thứ ba, người đàn ông chỉ được biết đến bởi tên của cha mình, nhưng sau này có thể ông đã được hội thánh đầu tiên biết đến nhiều.

3. VIỆC ĐEM VÀO NƯỚC TRỜI (Mac 11:1-16:20)

Giờ đây chúng ta đi đến phần trọng yếu sau cùng của sách Phúc Âm này, tất cả các phân đoạn còn lại đều hướng đến phần này.  Mác giới thiệu “Phần Tường Thuật Về Những Nỗi Thống khổ”, đây là câu chuyện về sự bị phản bội, về những lần xử án, sự chịu khổ và sự chết của Chúa Giê-xu tại Giê-ru-sa-lem.  Tuy nhiên, có nhiều sự việc xảy ra cũng được mô tả ở đây, và tất cả đều đã được trình bày theo cách của Mác.

1. Những lời cảnh báo về Nước Trời (Mac 11:1-13:37)

Khi Đấng Mết-si-a đến, Ngài bị khước từ, nhưng sự khước từ ấy rồi sẽ dẫn đến sự phán xét.  Đó là lý do mà xuyên suốt những chương này là một giọng điệu buồn bã, vì chúng không chỉ là sự bày tỏ tình yêu thương của Đức Chúa Trời.  Giờ phút quyết định của Đức Chúa Trời dành cho Y-sơ-ra-ên đã đến, như cũng đến với tất cả chúng ta khi chúng ta đối diện với Chúa Giê-xu và thập tự giá.  Tương lai của Y-sơ-ra-ên phụ thuộc vào sự đón nhận của họ dành cho Đấng Mết-si-a đã được Đức Chúa trời hứa ban.

(Mac 11:1-11) Chúa Giê-xu vào thành Giê-ru-sa-lem (Mat 21:1-9  Lu 19:28-38).  Ở đây dùng chữ ‘lừa con’ thì đúng hơn là ngựa con vì các Phúc Âm khác cho thấy rõ rằng Chúa Giê-xu cưỡi trên một con lừa con chớ không phải một con ngựa.  Có lẽ Mác không biết đó là con gì (vì bản tiếng Anh dùng từ “ngựa con”), hay có lẽ độc giả của ông tại Rô-ma không quan tâm đến.  Họ sẽ không biết về những lời tiên tri trong Cựu Ước mô tả về vị vua khiêm nhường và nhu mì, cưỡi trên một con lừa (Xa 9:9).  Câu 2 có thể đề cập đến một sự xếp đặt trước của Chúa Giê-xu với người chủ, hoặc đó có thể là một ví dụ về sự thấu suốt mang tính siêu nhiên của Ngài.  Nếu câu 3 được dịch: Chúa cần dùng là đúng thì đây có thể là một trường hợp hiếm hoi mà Mác dùng danh hiệu này đối với Chúa Giê-xu.  Thông thường trong sách Mác các môn đồ chỉ gọi Chúa Giê-xu là ‘thầy’ sau khi Chúa phục sinh thì họ đều gọi Ngài là ‘Chúa’.  Nhưng câu này cũng có thể hiểu là ‘Chủ cần nó’, và khi đó vế sau có nghĩa là “họ (người đứng ngoài xem) sẽ gởi nó đến đây ngay.”

Vì thế Chúa Giê-xu đã cưỡi lừa vào thành Giê-ru-sa-lem, như có thể xưa kia vua Đa-vít hoặc vua Sa-lô-môn đã tiến vào kinh thành, với những nhành cây và áo xống trải ra trên đường trước mặt Ngài (như một tấm thảm đỏ trải tại phi trường ngày nay, hoặc lá cây cọ và lá chuối tại một kỳ lễ hội làng tại các nước thuộc Thế giới thứ ba).  Chúng ta đã quen với những đám đông reo hò cổ vũ vào những dịp như thế này, nhưng những đám đông này đã không được triệu tập bởi sắc lệnh của chính phủ mà họ đang tự nguyện kéo đến mà thôi.  Những lời tung hô trích từ Thi Thiên được cất lên để chào đón một vị vua sẽ đến thuộc dòng dõi vua Đa-vít, vua này sẽ khôi phục lại vương quốc Y-sơ-ra-ên trở lại thời vinh quang xa xưa của nó.  Họ đang mong chờ một nhà lãnh đạo chính trị theo chủ nghĩa dân tộc, có lẽ là một nhà cải cách xã hội mạnh mẽ như ngày nay nhiều người vẫn đang mong đợi như thế.  Phải chăng đây chính là điều mà Chúa Giê-xu đã lo lắng ngay từ đầu, rằng tất cả mọi người đều sẽ hiểu sai trật đi nếu Ngài tuyên bố Ngài là Đấng Mết-si-a của Đức Chúa Trời ? Tuy vậy, vào ngày này Chúa Giê-xu đã cưỡi lừa đi trong chiến thắng tiến vào thành Giê-ru-sa-lem nơi mà chẳng bao lâu nữa khi nhìn xem thành ấy Ngài đã khóc cho nó (Lu 19:41).

(Mac 11:12-26) Chúa Giê-xu bị thách thức tại đền thờ (Mat 21:12-22  Lu 19:45-48).  Khi Chúa Giê-xu đối mặt cùng những kẻ buôn bán trong đền thờ, không phải Ngài đang đánh ngã một cái cây khỏe mạnh trong cơn giận dữ, nhưng Ngài đang đưa ra một lời đánh giá đáng buồn về tình trạng thật của cây ấy.  Sự đoán phạt của Đức Chúa Trời trên Y-sơ-ra-ên cũng sẽ tương tự như vậy.  Đó là lý do vì sao câu chuyện về sự dẹp sạch đền thờ được Mác đan xen vào giữa câu chuyện về cây vả, câu chuyện này sẽ khiến cho lời cảnh cáo nghiêm khắc của Chúa Giê-xu trên Y-sơ-ra-ên trở nên rõ ràng hơn.

Khi Chúa Giê-xu vào đền thờ, có lẽ Ngài đã đi đến phần Sân Ngoài dành cho dân ngoại, là nơi duy nhất trong toàn bộ khu vực đền thờ cho phép những người không phải là người Do Thái được vào và thờ phượng.  Nhưng sự thờ phượng đã không thể diễn ra được vì phần sân này đã bị biến thành nơi họp chợ điển hình, với người mua kẻ bán và chuồng súc vật ở khắp nơi.  Chim chóc và súc vật dùng làm của tế lễ được bán tại đó, và ngoại tệ có thể được chuyển đổi thành loại tiền duy nhất được chấp nhận tại đền thờ – là loại tiền không có hình ảnh đáng ghét của các hoàng đế La Mã và các thần ngoại đạo.  Trong một nghĩa nào đó thì tất cả những điều này là nhằm để phục vụ cho những người đến thờ phượng, nhưng sự ồn ào và nhốn nháo đã khiến cho sự thờ phượng không thể tiến hành được.  Tình hình càng trở nên tồi tệ hơn khi khoảng sân này lại được các lái buôn sử dụng như một con đường tắt để chuyên chở hàng hóa từ núi Ô-li-ve vào trong thành phố.

Chúng ta được biết qua các nguồn tư liệu khác rằng những người đến thờ phượng trong đền thờ Do Thái đã bị các thương buôn bóc lột bằng cách tính giá cao đối với các loại súc vật dùng làm sinh tế, và những người đổi tiền thì đã đổi với tỷ giá không thỏa đáng.  Chúng ta cũng được biết rằng việc buôn bán này được kiểm soát bởi tầng lớp quý tộc tăng lữ là những người được lợi lớn từ những khoản chi phí của những người hành hương bình thường.

Chúa Giê-xu giải thích cho việc Ngài đã đuổi những kẻ mua người bán tại đền thờ qua sự dạy dỗ rằng ý định của Đức Chúa Trời là đền thờ của Ngài phải là một trung tâm thờ phượng cho mọi dân mọi nước, chớ không chỉ riêng cho dân Do Thái mà thôi (17).  Điều này hẳn là một sự khích lệ rất lớn cho những độc giả không phải là người Do Thái của Mác.

Việc Chúa Giê-xu dẹp đổ sự mua bán trong đền thờ chắc hẳn đã làm gia tăng lòng ghen ghét của các thầy tế lễ cả đối với Ngài, và họ bắt đầu kiếm cách diệt Ngài (18).  Lẽ ra, trên tất cả những người khác, họ phải nhận biết vua của mình qua những việc mà Ngài đã làm.  Tất cả các vị vua tốt lành của Giu-đa đều làm sạch đền thờ, như (Ma 3:1-4) có nói rằng Đấng sắp đến cũng sẽ hành động như thế.  Nếu Chúa Giê-xu đã thực hiện điều này đối với đền thờ cũ trên đất vào thời đó, thì Ngài sẽ hành động như thế nào đối với đền thờ mới là thân thể của Ngài, tức là hội thánh Cơ Đốc ngày nay?

Phi-e-rơ đã dùng từ rủa khi nói về cây vả (21) điều quan trọng chúng ta cần phải nhận thức rõ là trong Kinh Thánh ‘sự chúc phước’ và ‘sự rủa sả’ không có cùng ý nghĩa như ngày nay.  Đó là những sự đoán phạt uy nghiêm của Đức Chúa Trời, là những lời tuyên bố của Ngài về kết quả của việc làm đẹp lòng Ngài hay trái ý Ngài Ngài không thể hành động mà không có lý do.  Kinh Thánh không nói gì về những lời nguyền rủa mang tính ma thuật và chúng ta không cần phải sợ những lời nguyền rủa ấy, vì chúng không thể làm hại các Cơ Đốc nhân được.  Cũng vậy, phước lành không phải là điều mà những người khác có thể ban cho chúng ta một cách thần kỳ, nhưng phước lành sẽ đến với chúng ta, nếu chúng ta cứ ở trong Chúa Cứu Thế (Gi 15:4).

Chúa Giê-xu và các môn đồ dường như đã nghỉ đêm trong suốt thời gian ở Giê-ru-sa-lem tại ‘ngôi nhà an toàn’ ở Bê-tha-ni.  Đó là lý do mà trên đường trở lại thành vào buổi sáng hôm sau, Phi-e-rơ đã chỉ ra cho thấy cảnh tượng cây vả đã héo khô.  Mác không nhấn mạnh sự ứng dụng của câu chuyện ngụ ngôn sinh động này trên Y-sơ-ra-ên cấu trúc sách Phúc Âm của ông đã cho thấy rõ điều đó.  Trái lại, ông cho thấy Chúa Giê-xu đã dùng sự khô héo của cây vả như một ví dụ về sự kết quả của lời cầu nguyện có đức tin (23).  Nhưng điều này cũng cho thấy rằng chúng ta không thể cầu nguyện trong đức tin cho bất cứ điều gì chúng ta thích.  Trong vấn đề này, Chúa Giê-xu ‘đang nghĩ đến điều Đức Chúa Trời nghĩ’ và muốn điều mà Cha Ngài muốn.  Loại cầu nguyện ấy, nếu cầu xin trong đức tin, sẽ luôn luôn được đáp lời, vì đó là lời cầu xin cho ý chỉ Đức Chúa Trời được nên (như Chúa Giê-xu cầu nguyện trong vườn Ghết-sê-ma-nê).  Chúng ta chỉ có thể dời được những ngọn núi mà Đức Chúa Trời muốn dời đi, chớ không phải núi mà chúng ta muốn dời.  ‘Dời núi’ là một cụm từ mà các ra-bi dùng để mô tả việc khắc phục những khó khăn dường như không thể vượt qua dĩ nhiên, chúng ta không được hiểu điều này theo nghĩa đen.  Nếu cầu nguyện theo cách này, chúng ta có thể dâng lời cảm tạ trước khi chúng ta trông thấy kết quả, vì sự đáp lời chắc chắn sẽ xảy ra theo mục đích và ý muốn của Đức Chúa Trời.

Ngoài ra, để lời cầu nguyện có hiệu quả còn cần đến một điều kiện khác: chúng ta phải tha thứ cho kẻ khác một cách nhưng không, như Đức Chúa Trời đã tha thứ cho chúng ta (25).  Nếu chúng ta không tha thứ, làm sao chúng ta có thể cầu nguyện ‘nhân danh Chúa Giê-xu’, tức là, theo cách mà Ngài đã làm và sẽ làm? Câu này có thể cho thấy rằng Mác đã biết Bài Cầu Nguyện mà Chúa dạy cho các môn đồ, mặc dù ông không ghi lại bài cầu nguyện này trong Phúc Âm của mình.

(Mac 11:27-33)Bởi quyền phép nào?” (Mat 21:23-27  Lu 20:1-8).  Sự chống đối Chúa Giê-xu vẫn tiếp tục diễn ra khi các thầy tế lễ giận dữ hỏi bởi quyền nào mà Ngài đã hành động theo cách này.  Chúa Giê-xu, nhà tranh luận hòa nhã, nói rằng Ngài có quyền làm điều đó cũng như Giăng đã có quyền làm phép báp-tem, và Ngài hỏi họ quyền phép của Giăng đến từ đâu.  Họ không dám trả lời theo ý mình muốn, vì thế họ bỏ dở câu hỏi đó (nhưng những kẻ khác chẳng bao lâu lại sẽ đem ra bàn luận).  Phải chăng trong lòng họ vẫn biết rằng họ đang chống trả lại lẽ thật, cả trong trường hợp của Giăng và của Chúa Giê-xu? Nếu vậy, việc này càng khiến họ trở nên cay đắng hơn, như đã từng xảy ra với Sau-lơ người thành Tạt-sơ (Cong 26:14).

(Mac 12:1-12) Những người làm thuê xấu tính (Mat 21:33-46  Lu 20:9-19).  Chúa Giê-xu đã vạch trần sự chống đối bướng bỉnh và có chủ ý của các thầy tế lễ trong một câu chuyện ngụ ngôn thật rõ ràng đến nỗi ngay cả họ cũng nhận thấy được ý nghĩa của câu chuyện (12).  Mọi người có lẽ đều nhận ra rằng vườn nho là một hình ảnh về Y-sơ-ra-ên cả đến những chi tiết về sự quan tâm chăm sóc của người chủ vườn nho cũng được rút ra từ Cựu Ước.  Các đấng tiên tri thường được xem là tôi tớ của Đức Chúa Trời, và mọi người đều biết rằng họ đã bị dân Y-sơ-ra-ên khước từ và bạc đãi.  Nhưng người con trai rất yêu dấu này là ai ? Những ai nhớ đến lời chứng của Đức Chúa Cha khi Chúa Giê-xu chịu phép báp-tem hoặc trên núi hoá hình sẽ biết được điều này.  Có lẽ ngay cả các thầy tế lễ cũng nhận ra rằng chính Chúa Giê-xu đang tuyên bố Ngài là Con Đức Chúa Trời, vì họ đã nhắc lại lời tuyên bố này khi xử án và đóng đinh Ngài.  Đây là một trong hai lần Chúa Giê-xu đã gián tiếp tự xưng là Con Đức Chúa Trời trước khi Ngài bị xử án, mặc dù trước đó những người khác (hoặc các môn đồ Ngài, hoặc ngay cả ma quỉ) đã có thể nhận biết Ngài như thế.

Trong câu chuyện này người con trai đã bị giết chết đó là giá phải trả của Nước Trời.  Thế nhưng lời cảnh báo ở đây mới là trọng tâm của câu chuyện ngụ ngôn này (9).  Những kẻ đã khước từ vua thì chính họ sẽ bị khước từ, và địa vị được biệt riêng cho họ sẽ bị cất đi và ban cho kẻ khác.  Độc giả của Mác hẳn đã nhận ra sự ứng nghiệm của lời Chúa Giê-xu phán về hội thánh, sau cùng thì dân ngoại cũng được đồng hưởng các điều kiện như người Do Thái.  Hòn đá bị thợ xây nhà khinh thường và bỏ ra trên đất sẽ trở nên hòn đá góc nhà của toàn bộ ngôi đền thờ mới, là hội thánh Cơ Đốc (10).  Có một sự mỉa mai trong lời nói của Chúa Giê-xu là các thầy tế lễ không biết được chính Lời Kinh Thánh mà họ đang khoe khoang.  Chúng ta không ngạc nhiên khi họ đã muốn bắt Ngài, nhưng cũng không lạ gì khi họ sợ phải làm việc ấy.

(Mac 12:13-17) Thuế đóng cho -sa (Mat 22:15-22  Lu 20:20-26).  Vấn đề này đã được nêu lên bởi những kẻ chối bỏ Chúa Giê-xu và chỉ muốn gài bẫy Ngài.  Nếu Chúa Giê-xu đồng ý với việc đóng thuế cho Sê-sa thì những người yêu nước sẽ không chấp nhận Ngài nếu phản đối, thì người La Mã sẽ bắt giữ Ngài.  Đây có thể là một vấn đề hệ trọng đối với những tín đồ trong hội thánh đầu tiên đang bị bắt bớ, tại Rô-ma cũng như tại bất kỳ nơi nào khác, nhưng vẫn cố gắng chứng tỏ mình là những công dân gương mẫu.  Câu trả lời của Chúa Giê-xu hàm ý là nếu chúng ta được hưởng phúc lợi trong một quốc gia thì chúng ta phải trả giá, dưới hình thức đóng thuế hay dưới các hình thức khác.  Nhưng sự sâu sắc trong câu trả lời của Ngài nằm ở phần cuối, có liên quan đến những người Pha-ri-si và người theo đảng Hê-rốt.  Nếu chúng ta phải trả cho Sê-sa những gì thuộc về Sê-sa, thì chúng ta cũng phải trả cho Đức Chúa Trời những gì thuộc về Ngài, và đó là điều mà họ không đang làm theo.

Đối với một hội thánh bị bắt bớ tại Đế quốc La Mã, việc này còn có một ý nghĩa sâu sắc hơn dù Mác không nêu ra ở đây.  Nếu Sê-sa đòi hỏi những điều thuộc về Đức Chúa Trời, chớ không thuộc về Sê-sa, thì Cơ Đốc nhân không thể trả được, vì cớ lương tâm.  Vì thế, Cơ Đốc nhân đã phải chết vì từ chối dâng một lời ngợi khen cho tượng của Sê-sa.  Tương tự, Cơ Đốc nhân ngày nay phải chịu khổ vì từ chối cúi lạy hình ảnh của các vị hoàng đế, các nhà độc tài và các tổng thống.  Chúng ta không thể thờ lạy con người, đảng phái hoặc nhà nước, mà chỉ thờ phượng chính Đức Chúa Trời mà thôi.

(Mac 12:18-27) Hôn nhân khi sống lại (Mat 22:23-33  Lu 20:27-40).  Sau khi đã làm cho những người Pha-ri-si nín lặng, Chúa Giê-xu lại bị những người Sa-đu-sê đến gần tìm cách tra gạn họ là những người quí phái giàu có, kiểm soát cả đền thờ lẫn Toà Công luận, là hội đồng tôn giáo lớn nhất tại Y-sơ-ra-ên.  Ho đến chỉ để nhạo báng niềm tin của Ngài nơi sự sống lại bằng cách đưa ra một minh họa rất buồn cười về một người vợ đã có nhiều đời chồng mà có lẽ không có trong đời thường.  Người Pha-ri-si đã qui định rằng một người vợ như thế phải thuộc về người chồng đầu tiên khi có sự sống lại (họ đã hiểu theo một cách rất là thuộc thể, đúng hơn là giống như cách hiểu phổ biến của đạo Hồi ngày nay).  Người Sa-đu-sê dĩ nhiên tán thành tục lệ của Môi-se được đề cập đến ở đây, tục lệ này được thiết lập để giữ lại tài sản trong gia đình của người vợ goá, nhưng họ chối bỏ bất kỳ ý tưởng nào về sự sống lại nói chung.  Đối với họ thì chỉ có đời này mà thôi do đó, chúng ta không lạ gì khi họ chăm lo cho vật chất của đời này và thường là giàu có.  Tất cả chúng ta đều biết đến những người như thế.  Trước hết, Chúa Giê-xu cắt ngang toàn bộ lý luận ấy bằng cách bác bỏ thẳng thừng những ý tưởng duy vật chất về sự sống lại mà Ngài cũng như những người Pha-ri-si tin tưởng.  Như Phao-lô nói, thân thể sống lại của chúng ta sẽ thuộc về một thể khác (ICo 15:44).  Ở đây Chúa Giê-xu so sánh thể này với thân thể của các thiên sứ.  Những vấn đề như phái tính và các mối quan hệ thuộc thể không còn nữa.  Vì thế, chúng ta cũng phải thẳng thắn bác bỏ các tư tưởng duy vật chất của ý nghĩa về sự sống lại và về ‘Con Đức Chúa Trời’, vì dường như nó chỉ đề cập đến cương vị làm cha về mặt thể xác đơn thuần.  Đây là những hòn đá vấp chân trên con đường tiếp nhận Phúc Âm.

Từ các sách của Môi-se, vốn vẫn được người Sa-đu-sê chấp nhận, Chúa Giê-xu cho họ thấy rằng ý tưởng về sự sống lại có thể được chứng minh từ mối quan hệ của các tộc trưởng với Đức Chúa Trời hằng sống.  Họ ‘nắm giữ’  sự sống đời đời từ Đức Chúa Trời như ngày nay chúng ta được nhận từ Chúa Cứu Thế, nhưng đây là một sự sống mới bày tỏ ra quyền năng của Đức Chúa Trời.

(Mac 12:28-34) Điều răn lớn nhất (Mat 22:34-40  Lu 10:25-28).  Thầy thông giáo này đến với Chúa Giê-xu với một thắc mắc có thể được xem như là một vấn đề thực sự nhằm để đánh giá câu trả lời của Ngài.  Về một ý nghĩa nào đó, điều Chúa Giê-xu trả lời cho ông ta không có gì mới nó được rút ra từ lời Kinh Thánh có thể đã rất quen thuộc với thầy thông giáo này.  Chúa Giê-xu đặt tình yêu đối với Đức Chúa Trời là trọng tâm của luật pháp, tình yêu đối với người lân cận cần phải, và như một kết quả tự nhiên sẽ phát xuất từ tình yêu Đức Chúa Trời.  Nếu chúng ta cố tình đặt tình yêu thương đối với người lân cận lên trước hết, hay, còn tệ hơn, quên đi tình yêu dành cho Đức Chúa Trời, thì chúng ta sẽ khiến cho đời sống mình bị sụp đổ và thất bại hoàn toàn, thậm chí không thể yêu thương kẻ lân cận như đáng phải làm.  Mặt khác, nếu chúng ta nói mình yêu mến Đức Chúa Trời mà không yêu mến người lân cận thì chúng ta là những kẻ giả hình (IGi 4:20).

Mặc dù thầy thông giáo này đồng ý rằng mọi điều đó là đúng, và vì thế ông ta đang rất gần với Nước Trời, nhưng ông ta vẫn chưa phải là một thành viên của Nước Trời vì chưa thừa nhận Chúa Giê-xu là Vua.  Liệu đã có bao giờ ông ta thừa nhận Ngài hay chưa?

(Mac 12:35-37) Đấng Mết-si-a Trời hay người? (Mat 22:41-46  Lu 20:41-44).  Giờ đây đến lượt Chúa Giê-xu đưa ra một câu hỏi.  Y-sơ-ra-ên đang tìm kiếm một Đấng Mết-si-a, một vị vua ra từ dòng dõi Đa-vít, để khôi phục lại một vương quốc trên đất.  Như chúng ta đã thấy, có lẽ chính vì hy vọng sai lầm này mà Chúa Giê-xu đã không công khai tuyên bố mình là Đấng Mết-si-a.  Cũng chính vì điều này mà ngay khi Phi-e-rơ nhận biết Ngài là Đấng Mết-si-a, Ngài đã giải thích rằng Đấng Mết-si-a của Đức Chúa Trời phải chịu khổ và chịu chết.  Ngài sẽ phải chứng tỏ niềm mong đợi thuộc về trần gian này của người Do Thái là sai lầm bằng cách nào?

 Tất cả những người nghe Chúa Giê-xu rất có thể đã đồng ý rằng Thi Thiên 110 được viết bởi Đa-vít, và rất có thể họ cũng đã đồng ý rằng ‘Chúa tôi’ trong Thi Thiên này hẳn phải đề cập đến Đấng được xức dầu của Đức Chúa Trời, tức Đấng Mết-si-a.  Thế thì làm thế nào Đa-vít,  một bậc tiền bối đáng tôn kính, lại có thể gọi kẻ hậu duệ của mình, Đấng Mết-si-a, là ‘Chúa tôi’, và bởi đó dành cho Đấng ấy một địa vị thượng đẳng? Bất cứ ai sống trong một nền văn hóa thờ kính tổ tiên sẽ thấy ngay vấn đề ở đây.  Đó là điều không thể nghĩ ra được, trừ phi Đấng Mết-si-a này vượt trổi hơn con người và vì thế trở nên cao trọng hơn tổ tiên của mình.  Thi Thiên đặc biệt này có phải do Đa-vít viết hay không, và đây có phải là ý nghĩa nguyên thủy của nó hay không, điều này hoàn toàn không liên quan gì đến vấn đề đặt ra Chúa Giê-xu đang nói theo một cách thức mà những người cùng thời của Ngài chắc hẳn phải hiểu được.

(Mac 12:38-44) Các thầy thông giáo những người đàn goá (Lu 20:45-21:4  Mat 23:1-36).  Ở đây chúng ta có hai bức tranh tương phản nhau về những kẻ khước từ và những kẻ chấp nhận các giá trị của Nước Trời.  Những kẻ chối bỏ các giá trị này là các thầy thông giáo vốn ưa thích quyền hành, địa vị và sự giàu có.  Bề ngoài họ làm ra vẻ tin kính, nhưng thật ra đang ‘nuốt chửng’ tài sản của những người không có sự giúp đỡ như các đàn bà góa, có lẽ bằng cách liên tục đòi hỏi sự đóng góp xuất phát từ lòng mộ đạo của họ.  Mặt khác, có một bà góa nghèo, sốt sắng và vui lòng dâng trọn cho Đức Chúa Trời số tiền mình có, là số tiền bà nhờ đó để sinh sống (44).  Tất cả chúng ta đều biết về sự rộng rãi đáng ngạc nhiên của những người nghèo trong các hội chúng Cơ Đốc nơi mình nhóm lại.  Đây là hình thức hiến dâng mà Chúa Giê-xu đã tỏ bày tại Gô-gô-tha, và do đó đây cũng là cách thức dâng hiến mà Ngài đòi hỏi nơi chúng ta.  Trong (Mac 14:3) chúng ta sẽ thấy một phụ nữ khác cũng có tinh thần dâng hiến giống như vậy, người phụ nữ này đã đập bể một bình dầu thơm bằng thạch cao tuyết hoa để xức cho Chúa Giê-xu.

(Mac 13:1-37) Các dấu hiệu của thời kỳ cuối cùng (Mat 24:1-51  Lu 21:5-37).  Chúa Giê-xu đã đưa ra rất nhiều lời cảnh báo cho những kẻ ở bên ngoài Nước Trời giờ đây Ngài đưa ra những lời cảnh báo cho những kẻ đang ở trong nước này.  Họ được cảnh báo về sự phán xét sẽ đến, đây chỉ là một thời gian thử nghiệm dành cho các môn đồ, nhưng lại là một kỳ thử nghiệm rất thực tế.  Toàn bộ chủ đề được giới thiệu bởi lời tiên tri về sự phán xét trên đền thờ (2).  ‘Nhóm môn đồ thân cận nhất’ của Chúa Giê-xu (lần này có cả Anh-rê) hẳn đã tin rằng sự phá hủy đền thờ sẽ mở đầu thời kỳ cuối cùng, và họ nôn nóng được biết các dấu hiệu ấy.  Có lẽ đây là kiểu hiếu kỳ tương tự đã khiến Cơ Đốc nhân ngày nay cố tìm cách tính toán ra ngày tháng mà Chúa Cứu Thế sẽ tái lâm.  Nhưng Chúa Giê-xu đã chuyển điều này trở thành một thách thức cho Cơ Đốc nhân sống trong mọi thời đại, như chức năng của mọi lời tiên tri trong Kinh Thánh đều là như thế.

Nhu cầu chính yếu là phải tỉnh thức (5), đặc biệt là đối với những kẻ phỉnh gạt, và đừng để những hoàn cảnh bi đát làm cho mình khiếp sợ.  Cả hai lời cảnh báo này có lẽ có liên quan đến tình hình tại Rô-ma vào lúc đó là nơi có nhiều dị giáo xuất hiện đầu tiên, và bị xáo trộn trong khoảng thời gian Phúc Âm Mác được viết ra, tức là vào “năm của bốn vị hoàng đế” (năm 68 S.C.) với nhiều đối thủ tranh giành ngai vị với nhau.  Sự bắt bớ sẽ là điều không thể tránh khỏi, nhưng điều này phải được xem như là một cơ hội để làm chứng, và lời chứng sẽ được chính Đức Thánh Linh ban cho vào lúc ấy.  (Đây là một trong số vài lần Đức Thánh Linh được đề cập trực tiếp trong sách Mác).  Lời tiên báo rằng trước hết Tin lành phải được giảng ra cho khắp muôn dân (10) thực ra là cách giải thích của Mác về ‘đại mạng lệnh’ ở phần cuối của sách Ma-thi-ơ (Mat 28:19).  Phải chăng Mác đã nhìn thấy được phần nào điều này trong công tác của Phao-lô và các sứ đồ khác?

Một lời cảnh báo nữa cũng được nêu ra ở đây rằng ngay cả các mối quan hệ ruột thịt gần gũi nhất cũng sẽ đổ vỡ dưới sự căng thẳng như thế (12), và lẽ thật ngược lại với điều này nằm trong lời dạy dỗ của Chúa Giê-xu về ‘gia đình thật của Ngài’ (Mac 3:34-35).  Nhiều người trong chúng ta có lẽ đã từng trải việc các thành viên trong gia đình phản bội nhau trong những lúc bị bắt bớ, và cũng biết được nỗi đau đớn của việc dường như bị mọi người ghen ghét cách vô cớ chỉ vì chúng ta là Cơ Đốc nhân (13).  Thế nhưng cũng có một lời hứa kèm theo: nếu ai bền lòng trung tín cho đến cuối cùng sẽ được sự sống đời đời, ngay cả khi không được an toàn trong đời này.

Bốn môn đồ thân tín đã hỏi Ngài rằng ‘Khi nào?’ Bằng ngôn ngữ dè dặt cẩn thận, Chúa Giê-xu đã nói bóng gió rằng điều đó sẽ xảy ra khi các tiêu chuẩn của đội quân La Mã thờ thần tượng được áp đặt một cách thành công trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem.  Mác không dám tường thuật điều này cách công khai (tại Rô-ma của khắp mọi nơi) đặc biệt là khi, qua ngôn ngữ diễn đạt chúng ta thấy rằng điều này có vẻ như không xảy ra vào thời gian viết sách Phúc Âm này.  Nhưng phần bổ sung nhỏ trong câu 14 cho thấy rằng Mác mong muốn độc giả của mình hiểu điều này.  Chúa Giê-xu đã dùng từ ngữ lấy từ sách Đa-ni-ên để thuật lại trước hết về sự xúc phạm đền thờ bởi kẻ bắt bớ tên là Antiochus Epiphanes vào thế kỷ thứ 2 T.C.  Trong trường hợp này sự gớm ghiếc là một thần tượng được dựng lên ngay trong đền thờ, và vì thế đã làm ô uế đền thờ.  Những câu sau đó dường như mô tả nỗi đau khổ kinh khiếp trong các cuộc chiến đầu tiên của người Do Thái khi các đạo binh La Mã xâm lược xứ Palestine.  Việc này chỉ xảy ra một thế hệ sau sự chết của Chúa Cứu Thế, và hội thánh Cơ Đốc của người Do Thái rất có thể đã dự phần trong sự chịu khổ chung.  Truyền thuyết kể rằng các Cơ Đốc nhân đã chạy trốn đến ‘Pella ở Bên kia sông Giô-đanh’, mang theo lời cảnh báo của Chúa Giê-xu trong lòng (14).

Có một lời cảnh báo thậm chí còn khẩn cấp hơn dành cho chúng ta, đó là lời cảnh báo về các Christ giả và các tiên tri giả (22).  Những kẻ này nhan nhản khắp nơi trong thời kỳ sau Chúa Cứu Thế, và họ vẫn còn đầy dẫy vào ngày nay, trong các tà giáo thuộc ‘thành phần cực đoan quá khích’ của hội thánh Cơ Đốc.  Điều quan trọng nhất cần ghi nhớ là khi chúng ta phát hiện lại ‘các dấu lạ và điềm lạ’ là ngay cả các dấu lạ hay điềm lạ này cũng có thể là giả dối và do các tiên tri giả làm ra chúng ta phải cảnh giác và đề phòng (23).  Có lẽ, đây là lý do vì sao Chúa Giê-xu rất ít khi sử dụng các dấu lạ trong chức vụ của Ngài.

Cho đến thời điểm này, mọi điều Chúa Giê-xu đã nói trước có thể khớp với thời gian vào khoảng năm 70 S.C., lúc này các đạo quân La Mã đang tàn phá xứ Palestine và các hoàng đế tranh giành ngôi báu lẫn nhau.  Độc giả của Mác rất có thể đã nhận ra những lời ám chỉ, cho dù một số lời ám chỉ vẫn không rõ ràng đối với chúng ta ngày nay.  Từ câu 24 trở đi, dường như chính thời kỳ cuối cùng đang được mô tả ở đây (nhưng để có một cái nhìn khác hơn xin xem (Mat 24:1-51).  Trong thời kỳ cuối cùng này các thế lực lớn nhất trên đất, được tượng trưng trong Cựu Ước bằng mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao, sẽ rớt xuống, và Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang để nhóm họp những kẻ được chọn của Ngài lại (26-27).  Cụm từ đầu cùng đất được rút ra từ hình tượng trong sách Đa-ni-ên đoạn 7, nhưng cụm từ này có thể bao hàm một ẩn ý về sứ mệnh của dân ngoại.  Điều này không đơn thuần chỉ là sự đề cập đến việc nhóm họp lại những người Do Thái trung tín từ khắp nơi trên thế giới.

Thời kỳ này dường như xảy ra khá lâu sau thời kỳ các cuộc chiến của người Do Thái vào năm 70 S.C. dù đây là một hình ảnh về sự phán xét rộng lớn hơn sẽ tiếp nối thời kỳ sau rốt, như mùa hè sẽ đến sau mùa xuân tại xứ Palestine vậy.  Chúng ta không chắc rằng việc nứt lộc của cây vả ở đây ám chỉ việc người Do Thái được trở về xứ Palestine và lập lại đất nước Y-sơ-ra-ên.  Cũng có thể đây là một câu tục ngữ phổ biến khác vẫn còn được sử dụng rộng rãi trong thế giới thứ ba tuy không còn thường dùng ở phương Tây nữa. 

Như các lời tiên tri trong Cựu Ước, lời phán dạy của Chúa Giê-xu cùng các môn đồ cũng chuyển ngay từ một thời kỳ cận kề sang một tương lai rất xa, như thể chúng ta trông thấy hai đỉnh núi cao to nhưng không thấy được thung lũng lớn ở giữa.  Đó là lý do Ngài có thể nói rằng dòng dõi này sẽ không qua đi trước khi các dấu hiệu đầu tiên được ứng nghiệm.  Sẽ có nhiều người đang lắng nghe Ngài vào lúc đó vẫn còn sống vào năm 70 S.C.. Thật khó để nghĩ rằng dòng dõi này có liên hệ đến sự sống sót của cả dân tộc Do Thái, nhưng những ai cho rằng cụm từ này ám chỉ đến cả tương lai gần lẫn tương lai xa sẽ có thể hiểu theo cách này.

Cũng như sách Khải Huyền thường được gọi là sách ‘Khải Thị’(nghĩa là ‘tiết lộ tương lai’), chương này thường được gọi là một ‘Khải Thị nhỏ’, vì trong đó Chúa Giê-xu cũng tiết lộ tương lai.  Có ba điều chúng ta cần ghi nhớ khi đọc chương này.  Trước hết, ngôn ngữ công khai không thể được sử dụng mỗi khi có nguy cơ về chính trị.  Hai là, ngôn ngữ tượng trưng được dùng để bày tỏ các sự việc cho chúng ta, không phải để làm cho chúng ta phải hoang mang vì nó không có gì là ‘bí hiểm’cả.  Ba là, mọi việc đều đã được thực hiện nhằm giúp chúng ta trở nên các Cơ Đốc nhân ngày càng trung tín hơn ngay trong hiện tại, chớ không phải để khiến chúng ta nói tiên tri hoặc đưa ra lời suy đoán về một tương lai xa (37).  Việc này được thể hiện bằng sự việc ngay cả Con (đây là một chỗ nữa mà Chúa Giê-xu xác nhận mối quan hệ có một không hai giữa Ngài với Đức Chúa Trời) cũng không biết ngày giờ của những việc này (32).  Nhưng chúng ta có một lời hứa rằng trong khi mọi sự khác đều rúng động thì lời phán của Chúa Giê-xu sẽ vẫn không thay đổi (31), và đây là câu nói đã được dùng trong Cựu Ước để nói về lời của chính Đức Chúa Trời.

2. Bình minh của Nước Trời (Mac 14:1-52)

Phân đoạn này sẽ đưa chúng ta đến với việc xét xử Chúa Giê-xu.

(Mac 14:1-11) Vua được xức dầu (Mat 26:6-13). Chúa Giê-xu và các môn đồ vẫn đang còn lưu lại Bê-tha-ni, chắc chắn một phần là vì sự an toàn, và có lẽ vì thành phố đã có rất đông khách hành hương đến dự lễ Vượt Qua.  Chúa Giê-xu dự một bữa ăn đơn giản cuối cùng tại nhà Si-môn Người phung, có lẽ là chủ nhà.  Chúng ta không biết gì về Si-môn (có lẽ là một người phung đã được Chúa Giê-xu chữa lành), nhưng rõ ràng ông được người làm chứng của Mác cũng như Mác biết đến.  Chỉ có Giăng cho chúng ta biết rằng chính Ma-ri ở làng Bê-tha-ni là người đã xức dầu cho Chúa Giê-xu (Gi 12:3), vì vậy có thể Si-môn là người cha trong gia đình này.  Một vài câu chuyện tương tự về việc xức dầu cũng được tìm thấy trong các sách Phúc Âm, nhưng chúng ta không chắc là chúng mô tả về cùng một sự kiện hay cùng một người phụ nữ.

Tất cả những gì chúng ta biết về người phụ nữ này chính là giá trị lớn lao của món quà và những phản ứng rất khác nhau của mười một môn đồ, của Chúa Giê-xu và Giu-đa.  Mười một môn đồ đã phẫn nộ vì sự lãng phí này.  Tất cả số tiền ấy đã có thể được dùng để mua đồ ăn và quần áo cho người nghèo, vốn dĩ là một điều hoàn toàn đúng đắn.  Tuy nhiên, dù hoàn toàn thừa nhận nhu cầu của người nghèo (7), Chúa Giê-xu đã thấy được một ưu tiên còn lớn hơn cả những người nghèo vào lúc này.  Tất cả các vua Giu-đa đều được xức dầu trước khi đăng quang, và đây sẽ là sự xức dầu cho Ngài, không phải bởi một tiên tri mà bởi một người phụ nữ.  Nhưng việc này còn có ý nghĩa hơn thế nữa vì nó còn là một sự chuẩn bị mang tính tượng trưng cho việc chôn xác Ngài.  Người phụ nữ này biết rằng vua của mình phải chết cô ta đã hiểu được Phúc Âm.  Đó là lý do vì sao, bất cứ nơi nào Phúc Âm được giảng ra trên toàn thế giới (đây là một điểm hay nữa về sách Mác), sự hy vinh đầy yêu thương của người phụ nữ này sẽ được mọi người ghi nhớ (9).

Nhưng tất cả những việc này đều là chuyện vô lý điên rồ đối với Giu-đa.  Ông ta lập tức đi đến các thầy tế lễ cả để hỏi cho biết ông ta sẽ kiếm được bao nhiêu tiền từ việc phản bội Chúa Giê-xu trước khi quá trễ.  Trong Kinh Thánh, Giu-đa không hề có động cơ cao thượng hay yêu nước lòng chăm về tiền bạc đã khiến ông ta sa ngã, như cũng đã xảy ra cho nhiều nhà lãnh đạo hội thánh từ thời đó trở đi, dù là tại các nước giàu hay nghèo.  Đó là lý do vì sao Chúa Giê-xu thường đưa ra lời cảnh báo về lòng ham mê tiền bạc.  Nếu như Giu-đa đã không thể hiểu được hành động của người phụ nữ, thì ông ta cũng sẽ không hiểu được thập tự giá.  Chúng ta không thể cùng một lúc vừa hầu việc Đức Chúa Trời lại vừa hầu việc cho Ma-môn được (Mat 6:24).

(Mac 14:12-31) Bữa Tiệc Ly (Bữa ăn thân ái và tiệc thánh) (Mat 26:17-35  Lu 22:7-34).  Dường như là vào sáng sớm hôm sau, Chúa Giê-xu sai hai môn đồ đi trước vào trong thành để chuẩn bị cho bữa ăn tối lễ Vượt Qua.  Theo luật pháp Do Thái, người ta phải ăn bữa ăn này trong phạm vi thành Giê-ru-sa-lem, nên không thể thi hành luật này tại làng Bê-tha-ni.  Giống như trong trường hợp về con lừa, dường như Chúa Giê-xu đã có sự xếp đặt trước với một người bạn hoặc một môn đồ để mượn một căn phòng mà Ngài sẽ cần đến.  Không có gì là siêu nhiên ở đây cả, cũng như không có gì hơn trong chuyện chiếc thuyền của Phi-e-rơ và ngôi mộ của Giô-sép, cả hai đều đã được Chúa Giê-xu thuê mượn.  Nhưng sự biết trước rằng các môn đồ sẽ gặp một người xách vò nước có thể là một sự hiểu biết siêu nhiên thường được bày tỏ bởi các tiên tri trong thời Cựu Ước, trừ phi đây cũng là một dấu hiệu mà Chúa Giê-xu đã sắp đặt trước.  Trong Tân Ước không nơi nào có ghi lại rằng sự hiểu biết siêu nhiên này được hứa ban cho các Cơ Đốc nhân nói chung, tuy đôi lúc Phi-e-rơ và Phao-lô cũng có bày tỏ sự nhận biết đó.  Vì vậy, chúng ta không nên tìm kiếm hoặc trông mong có được sự nhận biết ấy, và phải cẩn thận đối với những ai cho rằng mình có được điều này.

Mác dường như cho rằng đây là bữa ăn lễ Vượt Qua, trong khi Giăng dường như cho rằng lễ Vượt Qua thực sự là vào ngày hôm sau (và vì thế, Chúa Giê-xu đã chịu chết vào lúc những chiên con của lễ Vượt Qua đang bị giết).  Nếu Giăng đúng thì bữa ăn này của Chúa Giê-xu rất có thể là một bữa ăn chuẩn bị.  Điều này sẽ giải thích cho việc không có sự đề cập đến chiên con mà chỉ đề cập đến bánh và rượu, vì chính Chúa Giê-xu là chiên con.  Có một số cách giải thích khả dĩ về điều trở ngại này.  Một số người gợi ý rằng đã có hai loại lịch tôn giáo khác nhau đang được sử dụng tại thành Giê-ru-sa-lem lúc bấy giờ, trong đó ghi lại những ngày tháng khác nhau cho lễ Vượt Qua.  Một số khác lại cho rằng Mác đang dùng cách tính của La Mã về ‘các ngày’, bắt đầu từ buổi sáng hôm nay đến buổi sáng hôm sau, trong khi Giăng lại dùng cách tính của người Hê-bơ-rơ, tức là từ buổi tối hôm nay đến buổi tối hôm sau.  Dù các ngày đã được tính bằng cách nào đi nữa thì đây cũng là bữa tối mà Chúa Giê-xu đã tổ chức ‘Bữa Tiệc Thánh’ đầu tiên kỷ niệm cho sự chết của Ngài.

Câu chuyện về bữa ăn đã được kể xen vào giữa hai lời cảnh báo khác về sự yếu đuối của con người chúng ta.  Chúa Giê-xu cảnh báo các môn đồ rằng một người giữa vòng họ sẽ phản Ngài (18).  Họ không hề biết đó là ai nhưng họ vẫn có sự tự tin đến nỗi ai nấy đều không nghĩ rằng người đó có thể là chính mình.  Phi-e-rơ không phải là môn đồ duy nhất quá tự tin vào chính mình, mặc dù ông thường là người đi đầu trong các môn đồ.  Thật sự là  ngay cả khi sự phản bội bi thương này có nằm trong chương trình của Đức Chúa Trời thì nó cũng không làm giảm đi tội lỗi của kẻ phản bội (21).  Giu-đa không phải là một nạn nhân vô phương cứu chữa và đã bị định trước để phản lại Chúa Giê-xu, (quan điểm này là hiểm họa của một số tôn giáo ‘tin vào thuyết định mệnh’ như Hồi giáo) nhưng chính ông ta đã tự ý lựa chọn đường lối riêng cho mình, mặc dù Đức Chúa Trời đã nhìn biết trước mọi sự.

Bữa ăn thực tế được mô tả rất đơn giản.  Các thính giả của Mác có lẽ sẽ không quen hoặc không quan tâm đến các phong tục Do Thái.  Như thường lệ, chủ nhà tạ ơn Đức Chúa Trời về bánh (không phải ‘chúc phước’ trên bánh), như ngày nay chúng ta vẫn thường làm trước khi ăn, bẻ bánh ra, và trao cho những người khác cùng ăn.  Đây chính là việc mà Chúa Giê-xu đã làm trong hai phép lạ hóa bánh cho các đoàn dân đông (phải chăng đây cũng là một hình ảnh về Tiệc Thánh?).  Điều hoàn toàn mới ở đây là khi ban bánh, Chúa Giê-xu đã phán với họ rằng bánh này thay cho và tượng trưng cho thân thể Ngài, là thân thể chẳng bao lâu nữa sẽ được phó cho họ và bị tan vỡ ra trên thập tự giá vì cớ họ.  Trong tiếng A-ram là ngôn ngữ của Chúa Giê-xu, không có từ “là”.  Những gì Chúa Giê-xu có thể đã nói là “Đây - thân thể ta”.  Vì vậy chúng ta không nên hiểu những lời phán của Ngài theo nghĩa đen một cách thô thiển.  Điều này sẽ giúp chúng ta khỏi việc dùng bánh một cách mê tín, như việc thu nhặt những mẩu bánh đem về nhà cho những đứa trẻ đang bị đau ốm ăn với hy vọng chúng sẽ được bình phục.  Lễ Tiệc Thánh của Chúa là điều mầu nhiệm chớ không phải là ma thuật.  Có lẽ Chúa Giê-xu cũng có ý nói rằng, như sự sống thuộc thể của chúng ta phụ thuộc vào cơm bánh thể nào, thì sự sống tâm linh của chúng ta cũng phải được nuôi dưỡng bởi việc hoàn toàn phụ thuộc vào Ngài trong đức tin thể ấy.

Nếu bánh là thực phẩm thông thường của người Do Thái, thì rượu (thường được pha loãng với nước) là thức uống thông thường của họ sự sống phụ thuộc vào cả hai.  Như tại mọi bữa ăn của người Do Thái, người ta luôn cảm tạ Đức Chúa Trời về trái nho.  Điều mới mẻ chính là Chúa Giê-xu bảo môn đồ Ngài rằng rượu đỏ trong ly tượng trưng cho huyết Ngài, huyết đóng ấn cho một giao ước bằng cách được đổ ra cho nhiều người.  Dù chúng ta có đọc chữ ‘mới’ trước chữ giao ước trong câu 24 hay không cũng không có gì khác biệt cho lắm.  Chúa Giê-xu đang ám chỉ giao ước mới được nói đến trong Gie 31:31, là giao ước bởi đó toàn bộ bản chất của chúng ta sẽ được thay đổi, và luật pháp của Đức Chúa Trời sẽ được ghi khắc vào lòng của chúng ta.  Khi Chúa Giê-xu nói rằng huyết Ngài sẽ được đổ ra cho nhiều người là Ngài đang đi xa hơn nữa, vì đây là một sự ám chỉ đến Tôi Tớ Chịu Khổ của Đức Chúa Trời trong Es 53:12 là Đấng sẽ phải mang lấy tội lỗi của nhiều người.  Vì thế, chúng ta có thể thấy rằng sự chết của Chúa Giê-xu phải là một giá chuộc, một sinh tế của giao ước và một của lễ chuộc tội cả ba đều có ý nghĩa bất cứ khi nào chúng ta đến dự tiệc thánh nơi bàn của Chúa.  Nhưng, nếu như ly rượu có cặn đắng ở đáy ly là hình ảnh về sự thương khó, thì đó cũng là một hình ảnh về sự vui mừng (25).  Bữa tiệc này diễn ra trước khi Chúa bị đóng đinh, là một hình ảnh về ‘bữa tiệc lớn chiến thắng của Đấng Mết-si-a’ trên thiên đàng, tại đó tất cả chúng ta sẽ dự phần với Chúa Cứu Thế trong vinh quang. 

Vì thế, giống như tất cả các vua Giu-đa, vị vua này (tức Chúa Giê-xu) đã tổ chức bữa tiệc long trọng của mình.  Tiếp theo là lời cảnh báo thứ hai về sự yếu đuối của các môn đồ.  Họ thấy dễ dàng chịu đựng hơn khi được biết rằng Đức Chúa Trời đã thấy trước mọi điều (Ngài là Đấng không bao giờ trông mong chúng ta phải mạnh mẽ hơn thực lực của mình), và rằng sau đó sẽ có một cuộc đoàn tụ vui mừng tại vùng Ga-li-lê quen thuộc (28).  Mác đề cập nhiều đến Ga-li-lê và chức vụ của Chúa Giê-xu tại đó, một phần vì đó là nơi Chúa Giê-xu bắt đầu chức vụ của Ngài, và một phần có lẽ vì Ga-li-lê là nơi có dân cư lai tạp với người ngoại, sẽ nói về sứ mạng sắp đến cho dân ngoại.  Về sau, như khảo cổ học đã chứng minh, Ga-li-lê là một trung tâm lớn của Cơ Đốc giáo đầu tiên.  Lời hứa của Chúa Giê-xu ở đây gắn liền với lời hứa của vị thiên sứ (Mac 16:7) là các môn đồ sẽ gặp lại Chúa Cứu Thế phục sinh tại Ga-li-lê.  Để biết được về sự hoàn thành của lời hứa, xin xem Mat 28:16 mặc dù Mác không ghi lại điều đó.

Không chỉ có sự chối Chúa của Phi-e-rơ mà ngay cả khi nào việc đó xảy ra cũng đã được dự báo trước (30), cho dù Phi-e-rơ quả quyết rằng sẽ không xảy ra việc này.  (Việc đề cập đến tiếng gà gáy ở đây có thể là đang liên hệ đến một con gà thật hoặc nói đến tiếng kèn của La Mã báo giờ vào ban đêm).  Phi-e-rơ thường bị phê phán là kẻ đã chối Chúa, nhưng chúng ta phải nhớ rằng tất cả các môn đồ luôn khăng khăng nói rằng họ sẽ không bao giờ chối Chúa Giê-xu và rồi chính họ cũng đã không giữ được lời hứa của mình.

(Mac 14:32-42) Vườn Ghết--ma- (Mat 26:36-46  Lu 22:40-46).  Nhiều khách hành hương đóng trại gần Giê-ru-sa-lem vào thời gian có kỳ lễ Vượt Qua, và có thể là Chúa Giê-xu đã có ý định qua đêm tại vườn Ghết-sê-ma-nê (Ghết-sê-ma-nê có nghĩa là ‘ép dầu’) thay vì trở về làng Bê-tha-ni.  Nhưng tại đó Ngài sẽ phải thức trắng cả đêm.  Với ‘bộ ba môn đồ thân tín nhất’, Ngài đã cầu nguyện, trong sự căng thẳng tâm linh tột độ.  Chúng ta không bao giờ được nghĩ rằng thập tự giá là điều dễ dàng đối với Ngài lời cầu nguyện này cho thấy điều ấy khó khăn là dường bao (12:50).  Các môn đồ đang ngủ gà ngủ gật, có lẽ đặc biệt là Phi-e-rơ, chắc hẳn đã nghe và ghi nhớ lời Ngài (36) và kể lại với Mác, vì ngoài họ ra không người nào khác có mặt tại đó.  Họ thậm chí còn nhớ lại rằng Chúa Giê-xu đã dùng từ thân mật trong tiếng A-ram là ‘A-ba’(Mác đã dịch ra) để xưng hô với Đức Chúa Trời, là Cha Ngài (từ này về sau đã được hội thánh đầu tiên sử dụng, Ro 8:15).  “A-ba” là tiếng gọi mà mọi đứa trẻ Do Thái vẫn thường dùng trong nhà để xưng hô với cha mình.

Lời cầu nguyện của Chúa Giê-xu rất đơn giản Ngài không muốn đối diện với thập tự giá, nhưng nếu đó là đường lối của Đức Chúa Trời thì Ngài sẽ chấp nhận.  Bằng cách này Ngài đã chiến thắng kẻ thù.  Nhưng trong khi Ngài cầu nguyện thì các môn đồ đã ngủ cho dù Ngài đã cảnh báo họ.  Chúng ta không lạ gì sau đó họ sẽ đầu hàng trước sự thử thách một khi họ đã đầu hàng trước sự cám dỗ vào lúc này.  Không có sự sa ngã nào thực sự là bất ngờ hay thình lình cả, như chúng ta đã thấy được trường hợp xảy ra với Phi-e-rơ.

(Mac 14:43-52) Vua bị bắt (Mat 26:47-56  Lu 22:47-53).  Nếu không có sự giúp đỡ của Giu-đa, các thầy tế lễ sẽ không bao giờ có thể tìm gặp được Chúa Giê-xu trong số nhiều nhóm người đang cắm trại quanh thành Giê-ru-sa-lem đêm hôm đó.  Ai đã từng thấy những đám đông khách hành hương cắm trại quanh các ngôi đền trong một kỳ lễ của Ấn Độ giáo sẽ hiểu được điều này.  Ngay cả khi họ có tìm được nơi ấy thì họ cũng sẽ không bao giờ có thể tìm ra được chính Chúa Giê-xu trong bóng đêm, và Giu-đa biết rõ rằng những người anh em Ga-li-lê của Ngài có thể kháng cự lại với họ.  Đó là lý do mà những người lính canh đền thờ được trang bị vũ khí đầy đủ đã có mặt tại đó (không phải là một đám đông trong thành, như có người đã đưa ra giả thuyết như thế).  Việc bắt giữ những người bị tình nghi trong ban đêm không phải là một việc bất thường lúc ấy những người bị tình nghi thiếu cảnh giác và ít gặp nguy cơ phải chống trả lại sự giải cứu của bạn bè hoặc người lân cận của kẻ tình nghi.  Như sự việc đã xảy ra, Phi-e-rơ (không được nêu tên ở đây xem Gi 18:10) rút gươm ra một cách vô ích, vì Chúa Giê-xu từ chối một sự giúp đỡ như thế.

Chúng ta có thể đã quen với những mật thám và người cung cấp thông tin để lấy tiền, nhưng sự phản phúc của Giu-đa vẫn làm chúng ta sững sờ.  Theo văn hoá địa phương thì người ta thường chào nhau bằng cái hôn lên má, và cách chào này là cách chào của một môn đồ đối với thầy mình, nhưng cả hai đều chỉ là những dấu hiệu đã được xếp đặt trước.  Điều làm mọi người kinh ngạc là phản ứng điềm tĩnh của Chúa Giê-xu.  Ngài nói rằng mọi sự đóng kịch như thế là không cần thiết.  Họ đã có thể bắt Ngài giữa ban ngày tại đền thờ nếu họ không sợ phản ứng của dân chúng.  Bí mật của việc Ngài yên lặng chấp nhận rồi cũng được tiết lộ : Chúa Giê-xu biết rằng mọi việc này đều nằm trong kế hoạch và mục đích của Đức Chúa Trời (49). 

Đã có rất nhiều sự bàn cãi về việc người trai trẻ trong câu chuyện này là ai.  Một số người cho rằng đó chính là Giăng Mác, và bữa ăn thân ái và Tiệc Thánh có thể đã diễn ra trong nhà ông ta (hội thánh sau này đã nhóm lại trong nhà mẹ ông ta, Cong 12:12).  Nếu các thầy tế lễ có thể bắt các môn đồ của Chúa Giê-xu như đã bắt Chúa Giê-xu thì chắc chắn họ đã làm rồi, nhưng tất cả các môn đồ đều bỏ chạy hết (50).  Có lẽ, đó là lý do mà sau đó Phi-e-rơ đã sợ bị nhận diện tại nhà của thầy tế lễ cả.  Mặt khác, có thể đây chỉ là một ký ức không liên quan đến câu chuyện mà nhân chứng của Mác đã kể, và chỉ một mình Mác vẫn trung tín ghi chép lại.  Dù đó là ai đi nữa thì ông cũng đã rời bỏ Chúa Giê-xu, giống như những người còn lại, và chạy trốn.

3. Sự đăng quang của Vua (Mac 14:53-15:47)

Hội thánh đầu tiên thích nghĩ về Chúa Giê-xu như là ‘Chúa Cứu Thế – Vị Vua’.  Họ nói đến chiếc áo bào màu điều của Ngài, chiếc mão bằng gai của Ngài, cây vương trượng của Ngài, sự hoan hô của những người lính, tấm bảng nhỏ gắn trên cây thập tự và những lời lẽ của Phi-lát.  Tất cả những điều này chắc hẳn cũng đã ghi khắc trong tâm trí của Mác theo cách mà ông sắp xếp tài liệu của mình.  Phải chăng ông đang nghĩ đến sự lên ngôi của một Sê-sa tại đế quốc Rô-ma khi ông mô tả một vị vua còn vĩ đại hơn thế nữa?

(Mac 14:53-65) Vua bị xử án (Mat 26:57-68  Lu 22:63-71).  Các câu này mô tả Chúa Giê-xu trước Toà Công Luận (toà án tối cao Do Thái), dẫn đến việc Ngài chấp nhận danh hiệu Đấng Mết-si-a hay là Chúa Cứu Thế (62).  Điều này có nghĩa Ngài tuyên bố mình là vị vua được muôn dân mong chờ, là hậu duệ của vua Đa-vít.  Lời tuyên xưng này tự nó sẽ không bị xem là một sự lộng ngôn, nhưng khi nó đi cùng với lời tuyên bố Ngài là Con Đức Chúa Trời và là Con Người từ trời đến trong sách Đa-ni-ên, thì chắc chắn đây là một sự lộng ngôn nếu không đúng với sự thật.  Rắc rối là ở chỗ những kẻ buộc tội Chúa Giê-xu không hề tự hỏi liệu điều đó có thực sự là đúng hay không trước khi họ chối bỏ lời tuyên xưng này và chối bỏ Ngài.

Câu 54 dẫn dắt chúng ta đến câu chuyện về việc Phi-e-rơ chối Chúa, nhưng sau đó lại hướng đến việc tìm kiếm xem có chứng cớ hay bằng chứng nào, giả hay thực, đủ để kết án Chúa Giê-xu vào tội chết.  Ngày nay tại nhiều nơi trên thế giới, người ta vẫn có thể dễ dàng mua được những kẻ làm chứng dối.  Tại một số nơi, họ đứng chờ bên ngoài tòa án, cùng với ‘người viết đơn’ để giúp những người không biết đọc và biết viết, và có trả công.  Các quan chức đã quyết định trước bản án (một sự lạm dụng công lý mà ngày nay chúng ta chẳng xa lạ gì), nhưng những lời nói dối khó chứng minh hơn là sự thật (56), ngay cả Toà Công Luận cũng đã thấy điều này.  Cuộc họp bàn này đang diễn ra như một ‘toà án tra cứu’ sơ bộ.  Theo luật pháp Do Thái được soạn thảo hơn một thế kỷ sau đó, và có lẽ đã có hiệu lực rồi, thì các thành viên Toà Công Luận không được phép họp lại đông đủ vào trước bình minh (Mac 15:1), không được họp lại tại nhà của thầy tế lễ cả, và cũng không được xét xử và định tội trong cùng một ngày.  Nếu việc xét xử trước Phi-lát được xem là bất công, thì cuộc xét xử trước Toà Công Luận là bất thường.  Điều này rất có thể đã khích lệ các tín hữu bị bắt bớ trong thời của đế quốc La Mã, họ biết rằng việc xét xử và định tội họ cũng sẽ bất công như thế.  Nếu Chúa Cứu Thế đã chịu đựng được thì họ cũng có thể chịu đựng được vậy. 

Thậm chí sau tất cả mọi việc này, các thầy tế lễ cũng chỉ làm được một việc là dùng lời tiên tri của Chúa Giê-xu về sự phá hủy đền thờ và câu phát biểu của Ngài (không được ghi lại trong Mác) rằng Ngài sẽ xây lại đền thờ ấy trong ba ngày (Gi 2:19) để chống lại Ngài.  Lời phán của Chúa Giê-xu về đền thờ là để ám chỉ về sự sống lại sau này của Ngài và về đền thờ thuộc linh mới (tức thân thể Ngài, là hội thánh Cơ Đốc) mà Ngài sẽ dựng nên.  Tuy nhiên, nếu hiểu theo nghĩa đen, những lời này đã tạo thành một lời đe dọa đến đền thờ của Đức Chúa Trời, và đây lại là một sự xúc phạm rất nghiêm trọng.

Trước tất cả những sự việc này, Chúa Giê-xu không hề trả lời cho đến khi thầy tế lễ cả trực tiếp hỏi Ngài là ai (61).  Ngay lúc đó Ngài nhận lấy các danh hiệu Con Đức Chúa Trời và Đấng Mết-si-a, lại thêm rằng Ngài là Con Người từ trời đến.  Điều này xảy ra giống như thể Ngài đang nói: ‘Tại sao các ông không trực tiếp hỏi ngay tôi thay vì cứ vòng vo với những chứng cứ ngu xuẩn này?’ Đối với thầy tế lễ cả, đây là một dịp may bất ngờ lạ lùng.  Ông ta không thể tin được rằng Chúa Giê-xu sẽ thừa nhận tại tòa án điều mà Ngài đã giấu kín trong suốt chức vụ của Ngài.  Thì giờ của Đức Chúa Trời nay đã đến và không còn cần gì để phải che giấu nữa.

Thầy tế lễ cả trịnh trọng xé áo mình, đây là dấu hiệu của việc nghe đến một lời phạm thượng.  Tử hình là cái án không thể tránh khỏi (như trong một số quốc gia sùng đạo theo trào lưu chính chống ngày nay), tuy cái án đó phải đợi đến sáng hôm sau khi tòa có mặt đông đủ mới được tuyên bố.  Tiếp theo đó là những sự chế nhạo độc ác và hèn hạ (65).  Chúng ta biết rằng việc này vẫn còn xảy ra tại nhiều quốc gia nơi mà những người bị định tội, hay kể cả các tù nhân, không có quyền gì cả thế giới vẫn chưa đổi thay.  Sự nhạo báng của tòa án này dù rất chua cay nhưng lại khác hẳn với trò đùa chế nhạo của quân lính Phi-lát sau này.  Sự nhạo báng của người La Mã mang tính chính trị còn sự chế nhạo ở đây tệ hại hơn vì nó xuất phát từ những động cơ tôn giáo.  Vì thế Y-sơ-ra-ên đã chối bỏ Vua của mình.

(Mac 14:66-72) Vua bị khước từ (Mat 26:69-75  Lu 22:55-62).  Chúng ta không biết vì sao Phi-e-rơ đã đến sân trong nơi xử án có lẽ ông có một ý nghĩ điên rồ nào đó muốn giải cứu Chúa Giê-xu bằng thứ bạo lực mà Ngài đã khước từ trong vườn Ghết-sê-ma-nê.  Chẳng bao lâu ông bị nhận ra qua ánh lửa, và hai lần chối Chúa đầu tiên không giúp được gì, vì giọng nói vùng Ga-li-lê đặc sệt đã tố cáo ông (70).  Và, như một phương sách cuối cùng, ông bắt đầu dùng đến lời thề nguyền, có lẽ đại loại như ‘tôi mà biết người ấy thì tôi chết ngay thôi’ (71).  Kế đó có tiếng gà gáy, và Phi-e-rơ nhớ lại, và rồi, dù ông từng nghĩ mình là một người mạnh mẽ, ông đã tan vỡ và bật khóc (tiếng Hy Lạp cũng có nghĩa là ‘giấu mặt mình trong áo vì xấu hổ’).  Nếu những chữ lần thư haihai lượt (chỉ được tìm thấy trong một số bản chép tay) là đúng, thì có lẽ chúng ám chỉ đến ‘tiếng gà gáy lần thứ nhì’ ngay trước lúc trời sáng.

(Mac 15:1-15) Vua quan tổng đốc (Mat 27:1-26  Lu 23:1-25).  Tại đây quyền năng của thiên đàng đối mặt với quyền lực của La Mã điều này rất có thể có một ý nghĩa đặc biệt đối với độc giả tại Rô-ma.  Tòa Công Luận đã hợp pháp hóa lời tuyên án trong đêm hôm trước của họ, nhưng họ không có quyền gì để thi hành án ấy.  Trong trường hợp Ngài phải mang tội chết thì Chúa Giê-xu phải bị định tội bởi một tòa án La Mã.  Phi-lát chẳng mấy quan tâm đến những lời buộc tội mang tính tôn giáo (Cong 18:15), vì thế ông ta đã hỏi Chúa Giê-xu một câu duy nhất mà ông quan tâm với tư cách là một vị đại diện của La Mã (2).  Bản dịch NIV có lẽ đúng khi dịch câu trả lời của Chúa Giê-xu là ‘Đúng vậy’, mặc dù các bản dịch khác không được rõ như thế.  Chúa Giê-xu đã không từ chối địa vị làm vua của mình Ngài chỉ cho thấy rằng nó hoàn toàn khác với những khái niệm về địa vị làm vua của trần gian này.  Như đã chấp nhận những lời buộc tội khác trước các thầy tế lễ cả, lần này Ngài cũng chấp nhận lời buộc tội trước viên tổng đốc.  Các thầy tế lễ cả sẽ còn đưa ra những lời cáo buộc khác, nhưng Chúa Giê-xu không chú ý gì đến những lời cáo buộc ấy (4) trước sự kinh ngạc của Phi-lát.  Một lần nữa, sự kinh ngạc không phải là niềm tin.  Phi-lát có lẽ đã không tin rằng địa vị làm vua của Chúa Giê-xu lại là một mối đe dọa đối với La Mã, nếu không thì ông ta đã có hành động ngay lập tức rồi.  Phải chăng điều này đã được Mác định ý để đoan chắc một lần nữa với các bậc cầm quyền khác của La Mã rằng hội thánh đầu tiên không hề đại diện cho một mối đe dọa về chính trị nào?

Có vẻ như gần một nửa đám đông trước mặt Phi-lát không hề có sự quan tâm đặc biệt nào đến Chúa Giê-xu họ có mặt tại đó chỉ với hy vọng là xin quan tổng đốc phóng thích cho một người đấu tranh vì tự do được nhiều người biết đến tên là Ba-ra-ba.  Các thầy tế lễ cả chẳng quan tâm gì đến Ba-ra-ba.  Họ thuộc về tầng lớp thượng lưu và có quá nhiều thứ nên sẽ không bị mất mát gì do bất kỳ cuộc nổi loạn nào chống lại thế lực của đế quốc La Mã.  Họ có ý định dùng Ba-ra-ba trong mưu đồ của họ để bảo đảm cho sự định tội Chúa Giê-xu.  Tại nhiều nước trên thế giới hiện nay, sự ân xá tù nhân có thể được tuyên bố vào những dịp lễ của quốc gia hoặc các kỳ lễ tôn giáo.  Phi-lát xem đây là một phương cách để thoát khỏi một tình thế khó xử đám đông xem đây là một cơ hội để người anh hùng của họ được trở về và các thầy tế lễ cả xem đây là một cơ hội để có được cái án tử hình cho Chúa Giê-xu.  Những đoàn dân đông và các thầy tế lễ cả đạt được ý nguyện của mình còn Phi-lát thì bị mắc bẫy của họ.

Khi Phi-lát nêu lên những câu hỏi cố tình nhục mạ Chúa Giê-xu trong câu 9 và câu 12, ông ta hẳn đã biết rằng việc này làm cho cái chết của Chúa Giê-xu thêm phần chắc chắn.  Việc yêu cầu các thầy tế lễ cả thừa nhận Chúa Giê-xu là vua và trông mong họ xin tha cho Ngài là một điều phi lý.  Ông ta hẳn là đang cố ý chế nhạo họ về sự khó xử mà họ đã đặt ra cho ông.  Việc làm này rõ ràng đã đem lại kết quả: Ba-ra-ba sẽ được thả ra và Chúa Giê-xu sẽ phải bị đóng đinh (rất có thể Ba-ra-ba phải đối diện với sự chết nếu Chúa Giê-xu không gánh thay cho ông ta).  Bị đóng đinh vào thập tự giá là một cái chết thảm khốc và kéo dài, thường chỉ dành cho các nô lệ và những kẻ nổi loạn, và nó đã được đưa vào sử dụng một cách tùy tiện ở xứ Palestine.  Càng bị gạn hỏi lý do, đám đông càng la ó và từ chối đưa ra bất kỳ lý do nào.  Phi-lát là một kẻ hèn nhát, ông ta đã nhượng bộ đám đông để tránh một cuộc nổi loạn có vẻ như đang sắp nổ tung ra (15,  Mat 27:24).  Nhưng Mác đã đưa ra quan điểm của mình : chỉ có một quan chức La Mã bất công mới đem hành hình một người thầy dạy đạo vô hại, và ngay cả khi  Phi-lát rất có thể đã biết rằng những lời tố cáo là gian dối.  Chính trị, chớ không phải tôn giáo, sẽ phải là yếu tố quyết định, như ngày nay chúng ta vẫn thường thấy trong những lúc có sự bắt bớ xảy ra.

(Mac 15:16-20) Sự đăng quang giả tạo mang tính nhạo báng  (27:27-31).  Sự chế giễu tàn nhẫn tại tòa án của thầy tế lễ thượng phẩm được những tên lính của Phi-lát lặp lại ở đây.  Một chiếc áo choàng lính kỵ binh màu điều và một chiếc mão xù xì đan từ những bụi gai mọc khắp nơi trong xứ Palestine đủ để cho thấy hình ảnh một ông vua giả làm trò cười cho mọi người nhạo báng. Lời chào của những tên lính La Mã là lời chào mà có lẽ họ đã dành cho một vị vua như Hê-rốt, hay ngay cả chính Sê-sa, nhưng tất cả đều là sự chế giễu.  Thường dân xứ Palestine sợ hãi các lực lượng chiếm đóng La Mã vì sự độc ác và áp bức của chúng.  Hành hạ, nếu không nói là thực sự tra tấn, là chuyện bình thường, như chúng ta có thể thấy qua những lời Giăng nói cùng những người lính đã ăn năn trong Lu 3:14.  Vì thế chúng ta không phải ngạc nhiên trước việc đánh đập và khạc nhổ, hay thậm chí trước việc đánh đòn tàn ác bằng roi vọt khiến cho các tù nhân gần chết trước khi bị hành hình.  Thế nhưng ít nhất đã có một tên lính quá cảm động trước những gì anh ta thấy và nghe tại thập tự giá đến nỗi anh ta xưng nhận rằng Giê-xu là Con Đức Chúa Trời (Mac 15:39).  (Trong Cong 10:1-48 chúng ta có đọc một câu chuyện về một người lính La Mã đã được Phi-e-rơ làm phép báp-tem cho).

(Mac 15:21-47) Sự đóng đinh trên thập tự giá (Mat 27:32-61  Lu 23:26-56).  Giờ thì chúng ta đang ở tại đỉnh điểm của sự đăng quang của Vua, vì hiện chúng ta đang đến gần với ‘con đường thập tự giá’, là con đường từ nhà quan tổng đốc đi đến nơi hành quyết.  Cho đến tận hôm nay, cuộc hành trình cuối cùng này của Chúa Giê-xu vẫn còn được các Cơ Đốc nhân tưởng niệm hàng tuần tại Giê-ru-sa-lem.

Có vẻ như Si-môn không được nhóm tín hữu vào thời của Mác biết đến như các con trai của ông.  Nếu Ro 16:13 đề cập đến cùng một Ru-phu, thì ít nhất ông ta cũng được hội thánh tại Rô-ma biết đến.  Có thể là việc vác thập tự giá thay cho Chúa Giê-xu đã đem được Si-môn về cho Ngài.  Thông thường, người tử tội vác thanh ngang của thập tự giá mình đến nơi hành hình, nhưng chắc hẳn là Chúa Giê-xu đã quá yếu sức sau các trận đòn.  Đôi khi một số người đã chết vì bị đòn roi (không có giới hạn về số lượng roi đánh) trước khi bị đóng đinh.  Những ai sống tại các vùng đất mà việc đánh đòn được áp dụng như là một hình phạt hợp pháp sẽ hiểu được nó có thể gây ra tác hại như thế nào.

--tha (hay ‘Đồi Sọ’) được đặt tên theo hình dáng của nó.  Ngày nay nơi này được bao phủ bởi những ngôi nhà thờ, nhưng một ngọn đồi gần bên, đôi lúc được gọi là “Thập tự giá của Gordon”, gợi lên một ý tưởng nào đó về dáng vẻ bề ngoài mà hẳn là xưa kia nó đã có. Rượu hòa với một dược có thể có vị đắng nhưng thật sự là một thứ thuốc an thần, thứ thuốc này do những người phụ nữ yêu mến Chúa tại Giê-ru-sa-lem đem đến nhằm làm giảm bớt cơn đau phải bị đóng đinh (23).  Chúa Giê-xu đã từ chối không uống thứ thuốc này để giữ tâm trí được tỉnh táo cho trận chiến lớn cuối cùng của Ngài.  Như thường diễn ra tại mọi cuộc hành hình như thế, áo xống của phạm nhân là phần thưởng cho những kẻ hành hình, và bọn lính đã bắt thăm để xem ai sẽ nhận được mảnh áo nào, vì các mảnh áo ấy có giá trị khác nhau.

Mác không đùa giỡn trên cảm xúc của chúng ta khi ông mô tả về sự đóng đinh, như các câu chuyện vào thời nay có thể đã được viết với mục đích như thế.  Ông chỉ ghi lại các sự kiện, vì điều đó cũng đủ để làm cảm động lòng chúng ta.  Có lẽ do được đào tạo theo nền học vấn La Mã nên cách tính giờ của Mác có vẻ khác với cách tính giờ của người Hi Lạp (Gi 19:14), vì thế chúng ta không biết được chính xác về giờ khắc mà Chúa Giê-xu đã bị đóng đinh.  Châu Á và Châu Phi cũng có, hoặc đã có, những cách tính giờ khác nhau.  Nhưng điều quan trọng hơn hết là Chúa Giê-xu đã chết cho chúng ta tại đồi Gô-gô-tha.

Giờ đây địa vị làm vua của Chúa Giê-xu đã trở nên rõ ràng cho mọi người vì nó được ghi trên tấm bảng đóng trên thập tự giá như là lời nhạo báng cuối cùng của Phi-lát đối với các thầy tế lễ.  Đám đông chế giễu gọi Ngài là Đấng Mết-si-a, vua Y-sơ-ra-ên chỉ có một kẻ ngoại bang mới nói đến một vị vua của người Do Thái.  Những lời chế nhạo của các thầy tế lễ và dân chúng vào lúc đóng đinh là bằng chứng khả dĩ mạnh mẽ nhất rằng Chúa Giê-xu đã thực sự xác nhận Ngài là vua, là Đấng Mết-si-a và cũng là Đấng Cứu Thế.  Nếu điều này không xảy ra thì sự chế nhạo chua cay của mọi người sẽ không có ý nghĩa gì cả.  Dấu hiệu mà họ đòi hỏi (32) là một dấu không thể có.  Nếu Chúa Giê-xu phải cứu chúng ta, với tư cách là một Đấng Mết-si-a chịu khổ, thì Ngài không thể tự cứu Ngài ra khỏi thập tự giá.  Khi Ngài thực sự ban cho họ một dấu còn lớn hơn nhiều, là dấu của sự sống lại, họ vẫn sẽ không tin.  Đó là lý do vào buổi đầu của chức vụ Ngài, Chúa Giê-xu đã đưa ra câu trả lời như Ngài từng trả lời đối cùng người Pha-ri-si (Mac 8:12).  Đức tin sẽ nhìn thấy dấu lạ trong mọi việc Ngài làm kẻ vô tín sẽ không bao giờ tin vào bất kỳ dấu lạ nào.

Sự tối tăm ngay giữa ban trưa (theo cách tính giờ của Mác) là một dấu hiệu về sự đoán phạt của Đức Chúa Trời (Am 8:9).  Sự tối tăm này đã diễn ra như thế nào chúng ta không được biết.  Đó có thể là một trong những trận bão cát làm mù mịt khắp cả vùng.  Sự tối tăm này không thể là một hiện tượng nhật thực, vì lễ Vượt Qua diễn ra vào lúc trăng tròn.  Dường như sự tối tăm ấy mô tả cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời không chỉ trên những kẻ đã khước từ Con Ngài mà còn đối với tội lỗi mà Chúa Giê-xu gánh thay cho chúng ta vào giây phút ấy, như là của lễ chuộc tội cho chúng ta vậy.  Có lý lẽ nào khác giải thích vì sao Chúa Giê-xu đã kêu lên lớn tiếng, bằng những lời trong Thi 22:1-31 rằng Đức Chúa Trời đã lìa bỏ Ngài? (34).  Chúng ta không thể nào hiểu được sự phân cách này có ý nghĩa gì đối với Đấng mà từ trước vô cùng không hề bị tách rời khỏi Cha yêu thương của mình tuy nhiên, không gì khác ngoài điều này đã cho thấy rằng tội lỗi thật là kinh khiếp.  Tiếng kêu của Chúa Giê-xu xuất phát từ đáy lòng Ngài, và như thường lệ Mác đã dịch ra tiếng A-ram.  Những người đứng gần đó hoặc là không hiểu hết, hoặc cố ý hiểu sai, đã xem đó như một lời kêu cầu đến Ê-li, là người mà truyền thuyết Do Thái vẫn cho rằng sẽ trở lại để giải cứu dân Do Thái trong những cơn nguy khốn.

Có lẽ, bên cạnh sự chế nhạo của những người lính cũng có một sự cảm thương nào đó, vì một người lính La Mã đã cho Chúa Giê-xu nước uống từ khẩu phần của anh ta gồm giấm, trứng và nước.  Trước đó, Chúa Giê-xu đã từ chối rượu pha với một dược, có lẽ Ngài đã nhận lấy thức uống lần thứ hai này (Gi 19:30) để có sức cất lên một tiếng kêu chiến thắng vang dội lần sau cuối.  Sau đó, Chúa Giê-xu kêu lên một tiếng lớn và tắt hơi.  Theo sách Giăng, những lời cuối cùng của Chúa Giê-xu là ‘Mọi việc đã được trọn’ (19:30).  Viên sĩ quan La Mã phụ trách đội hành hình nghe thấy và nhận ra rằng Đấng đã cất lên tiếng kêu như thế, và chết như Ngài đã phải chết là Con Đức Chúa Trời (39).  (Tiếng Hi Lạp có thể có nghĩa là ‘một người con’ nhưng điều đó không quan trọng vì viên sĩ quan là một người lính chớ không phải là một nhà thần học).  Hội thánh đầu tiên đã nhận thấy trong những lời này sự tuyên xưng của một người ngoại mà Y-sơ-ra-ên đã không có được, và nếu ý kiến của chúng tôi về Mác là đúng, thì điều này hẳn sẽ rất quan trọng đối với ông và với hội thánh của ông.  Trong một nghĩa nào đó thì Phúc Âm Mác đã được xây dựng nên bởi lời xưng nhận của Phi-e-rơ về Chúa Cứu Thế tại Sê-sa-rê xứ Phi-líp, và lời xưng nhận của viên thầy đội này tại thập tự giá.  Như một sự lựa chọn, chúng ta có thể xem đây như là sự tương phản giữa sự chối Chúa của Phi-e-rơ và sự tuyên xưng của thầy đội.  Viên thầy đội có thể đã trở thành một Cơ đốc nhân, mặc dù Mác không nói như thế.  Câu chuyện về sau này kể lại rằng ông đã mang Phúc Âm đến Anh quốc có lẽ chỉ là một câu chuyện hư cấu của những người sùng đạo.

Mác không ghi lại trận động đất được đề cập trong Ma-thi-ơ, cũng không ghi lại trận động đất mở màn cho sự sống lại của Chúa Giê-xu nhưng ông có đề cập đến một trong những hậu quả của trận động đất này. Bức màn của đền thờ rất to lớn và được thêu dệt sắc sảo, ngăn cách nơi chí thánh khỏi sự nhìn ngắm của những kẻ đến thờ phượng, đã bị xé làm đôi.  Con đường đến với Đức Chúa Trời giờ đây được mở ra cho tất cả mọi người, người ngoại cũng như người Do Thái, thường dân cũng như thầy tế lễ.

Một nhóm các phụ nữ trung tín với Chúa Giê-xu đã nhìn xem sự đóng đinh Ngài từ xa, họ là những người đã giúp đỡ Chúa Giê-xu và Mười hai môn đồ tiền bạc, thức ăn, cùng sự chăm sóc yêu thương (41).  Nếu như có ý kiến chê bai rằng hội thánh ngày nay đa phần là phụ nữ, thì câu trả lời là phụ nữ đã chưa bao giờ thiếu, ngay cả trong thời của Chúa Giê-xu.  Nếu như Chúa Giê-xu có một nhóm các nam giới làm sứ đồ, thì Ngài cũng có một nhóm các phụ nữ trung tín làm môn đồ Ngài mà một số người được nhắc đến tên ở đây.  Hai người trong số họ đã chứng kiến sự chôn cất Chúa Giê-xu một cách tạm thời vội vã trước khi ngày bắt đầu Sa-bát.  Không một người Do Thái sùng kính nào lại để thi thể của kẻ bị hành hình phơi bày ra sau khi mặt trời lặn, đặc biệt nếu ngày hôm sau lại là ngày Sa-bát.

Đức Chúa Trời đã dự bị sẵn, như Ngài vẫn luôn luôn dự bị, một con người thích hợp cho giờ phút ấy.  Người đó là Giô-sép, ông có đủ uy thế để xin lấy xác Chúa Giê-xu (thường do chính quyền La Mã sở hữu trong những trường hợp như thế này), và ông cũng là một người giàu để có được một ngôi mộ đá dùng vào việc chôn cất tạm thời (46).  Theo phong tục Do Thái, người ta lăn một hòn đá lớn nương theo một cái rãnh trong vách đá để lấp cửa mộ lại hầu bảo vệ thi thể khỏi thú vật hoặc những kẻ cướp mộ.  Việc cả hai bà Ma-ri đều trông thấy nơi Chúa Giê-xu được chôn cất có nghĩa là họ không thể nào nhầm lẫn khi trở lại vào lúc ngày Sa-bát đã qua rồi.  Hai ‘nhân chứng’ đã thấy nơi ấy, và họ là những người phụ nữ.  Đối với những người sống tại các quốc gia mà lời chứng trước tòa của một người nữ không được thừa nhận có giá trị như của một người nam thì đây là một tư tưởng tự do.

4. Sự minh chứng của Vua (Mac 6:1-20)

Lời ký thuật của Mác về sự sống lại của Chúa Giê-xu đã bị ngưng lại một cách khá bất ngờ tại câu 8.  Để biết được lý do có thể xảy ra cho sự kết thúc đột ngột này (nếu thực sự đây không phải là một sự cố), xin xem phần Giới thiệu.  Các câu 9-19 có thể đã được viết ra sau này để cố gắng tạo nên một phần kết thúc đầy đủ hơn cho Phúc Âm Mác.  Phần này không thấy có trong các bản chép tay tốt nhất, và đây là lý do mà bản Kinh Thánh NIV đã tách rời phần này với phần trước đó.

(Mac 6:1-8) Sự sống lại của Vua  Tám câu này cho thấy tiếng kêu sau cùng trên thập tự giá của Chúa Giê-xu ‘Mọi sự đã được trọn!’ (Mác không ghi lại lời này) có nghĩa là ‘Sứ mạng đã được hoàn thành!’ Điều này đã được thể hiện qua những ký tự tiếng Hoa trên thập tự giá, đặt tại những ngọn đồi cao bên trên Kowloon, cũng như qua hình ảnh chiến thắng của Chúa Cứu Thế ở vùng Andes của Nam Mỹ.

Ngày Sa-bát kết thúc vào lúc hoàng hôn của ngày Thứ Bảy.  Các cửa hiệu có lẽ đã mở cửa vào lúc đó, vì thế những người phụ nữ đã có thể mua hương liệu cần thiết cho việc chôn cất.  Để ướp xác Chúa Giê-xu họ phải chờ cho đến tờ mờ sáng ngày Chúa Nhật (kể từ đó Cơ Đốc nhân xem như  là ‘ngày của Chúa’).  Những sự chuẩn bị này là bằng chứng mạnh mẽ nhất cho thấy rằng ngay cả các môn đồ thân cận nhất của Chúa Giê-xu cũng không mong đợi sự sống lại của Ngài, và vì thế họ đã không bịa ra câu chuyện này.  Tại sao họ lại mua hương liệu hoặc đến để ướp xác Ngài, nếu như họ tin rằng Ngài sẽ sống lại? Tại sao họ lại lo không thể lăn hòn đá lấp cửa mộ? (3).  Nếu Chúa Giê-xu không sống lại, thì hòn đá này rất có thể đã là một nan đề thực sự.  Những người phụ nữ biết rõ Chúa Giê-xu được đặt trong ngôi mộ nào (Mac 15:47) không cách nào họ có thể nhầm lẫn được.  Họ hẳn đã biết hòn đá nặng đến thế nào, và biết rằng ba người phụ nữ sẽ không thể nào di chuyển được.  (Những sự sửa soạn cho việc chôn cất thường là do phụ nữ thực hiện).

Khi đến nơi, họ thấy hòn đá đã bị lăn đi rồi, ngôi mộ thì trống và một người trẻ tuổimặc áo dài trắng đang ngồi bên trong.  Người ấy nói cho họ nghe tin mừng rằng Chúa Giê-xu đã sống lại và sai họ đi báo cho các môn đồ.  Tuy Mác không nói rằng người trẻ tuổi ấy là một thiên sứ, nhưng trang phục trắng sáng ngời thường gắn liền với các thiên sứ (như chúng ta thấy qua câu chuyện về sự hoá hình 9:3).  Thật vô nghĩa nếu cho rằng người ấy chỉ là một môn đồ.  Phi-e-rơ đáng thương bị sa ngã được nhắc đến một cách đặc biệt bằng lời của hy vọng.  Có lẽ Mác xem đây như là một lời an ủi đặc biệt dành cho các Cơ đốc nhân bị sa ngã trong cơn bắt bớ tại Rô-ma cũng như tại những nơi khác chăng ? Trên hết là các môn đồ sẽ gặp lại Chúa Giê-xu trong đời sống thường nhật của họ tại xứ Ga-li-lê như Ngài đã hứa (14:28).

Có thể chúng ta nghĩ Mác sẽ kể rằng những người phụ nữ hân hoan đem tin về cho các môn đồ, nhưng trái lại ông chỉ nói rằng họ đã trốn đi (như những người đàn ông trước đó).  Điều này là do lòng họ đầy dẫy sự sợ hãi lẫn vui mừng (cụm từ run sợ sửng sốt không chuyển tải được hết ý nghĩa ở đây), và vì thế họ chẳng dám nói cùng ai hết.  Qua các Phúc Âm khác chúng ta được biết rằng một người phải gặp gỡ Chúa Cứu Thế phục sinh một cách riêng tư để tình cảm của họ dành cho Chúa trở nên đức tin sống động, thôi thúc họ làm chứng nhân cho Ngài (Gi 20:18).  Có lẽ đích thân Phi-e-rơ đã xưng nhận điều này với hội thánh của Mác (7).

(Mac 6:9-20) Phần bổ sung  Như đã đề cập ở phần Giới thiệu, hội thánh đầu tiên cũng đối diện với cùng một vấn đề như chúng ta ngày nay, đó là tại sao Mác đã kết thúc Phúc Âm của ông một cách đột ngột, nhất là khi các Phúc Âm khác lại ghi chép rất đầy đủ về những lần hiện ra của Chúa Giê-xu sau khi Ngài sống lại.  Dường như Mac 16:9-20 đã được hình thành bởi hai phần (câu 9-18 và câu 19-20) để cố gắng hoàn tất câu chuyện.  Hai phần này chủ yếu được lập nên từ các chi tiết của các Phúc Âm khác hoặc của sách Công Vụ Các Sứ Đồ, cũng như đã được bổ sung thêm từ những lời truyền khẩu của hội thánh đầu tiên.  Hai phần này không thể được xem như là một bộ phận của Kinh Thánh (như các phân đoạn còn lại của Phúc Âm này), mà chỉ là một nỗ lực nhằm để ‘hoàn tất’ câu chuyện về Chúa Giê-xu.

Câu 9-18, chủ yếu được trích từ Phúc Âm Giăng, giải thích việc Ma-ri Ma-đơ-len là người đầu tiên gặp Chúa Giê-xu phục sinh như thế nào.  Câu 12-13 đề cập đến việc Chúa Giê-xu hiện ra cho hai môn đồ tại Em-ma-út (Lu 24:13-32), và câu 14 có những chi tiết tương tự như trong các Phúc Âm khác, mặc dù không xác định rõ là trong trường hợp nào.

Câu 15-18 tương đương với ‘đại mệnh lệnh’ trong Mat 28:18 và đã được Mác thể hiện ngắn gọn trong Mac 13:10.  Phép báp-tem phải là dấu hiệu của sự cam kết tin nơi Chúa Cứu Thế còn sự vô tín tự nó đã là một sự định tội.  Hầu hết các dấu lạ đề cập đến ở đây sẽ được tìm thấy trong các sách Phúc Âm hoặc trong sách Công vụ các Sứ đồ (ngoại trừ dấu lạ “uống nhằm giống chi độc cũng không bị hại gì” mặc dù có được nhắc đến trong những lời truyền khẩu ban đầu).  Điều quan trọng cần phải nhận biết là ngay cả trước giả của hội thánh ban đầu này cũng không ám chỉ rằng các dấu lạ sẽ luôn luôn xảy ra và dành cho tất cả mọi người.  Chúng ta không được lạm dụng các dấu lạ và thử Đức Chúa Trời, giống như một giáo phái Cơ Đốc đã bắt rắn độc bằng tay.  Những dấu hiệu trên là những dấu hiệu của Nước Trời.  Chúng ta nên tiếp nhận với sự biết ơn nếu chúng xảy ra cho chúng ta, nhưng tâm trí chúng ta cần hướng về Nước Trời, chớ không phải về các dấu hiệu của Nước Trời.

Câu 19-20 có thể là phần bổ sung thêm.  Đây là một bản ký thuật ngắn gọn ca ngợi sự khải hoàn về sự thăng thiên của Chúa Giê-xu, về sứ mạng truyền giảng tin lành của các sứ đồ, và về cách thức mà lời giảng dạy của Chúa đã được minh chứng bởi những kết quả gặt hái được.

Như đã trình bày trên đây, những câu này không phải là một bộ phận của Kinh Thánh, vì thế chúng ta không nên sử dụng chúng để hình thành nên bất kỳ giáo lý thần học nào, tuy nhiên đây vẫn là một bản tóm tắt có giá trị về những điều mà Hội thánh ban đầu đã tin tưởng, và một khi những điều này vẫn còn phù hợp với Kinh Thánh thì chúng ta vẫn có thể chấp nhận chúng.

Lên đầu trang