MA-THI-Ơ
1. GIỚI THIỆU CHÚA GIÊ-XU (Mat 1:1-4:16)
1. Giới thiệu Chúa Giê-xu (Mat 1:1)
Câu chuyện về sự dạy dỗ và hoạt động công khai của Chúa Giê-xu khởi đầu ở Ga-li-lê và không tránh khỏi dẫn đến đoạn kết ở Giê-ru-sa-lem, trước khi nó quay lại Ga-li-lê để có cảnh kết thúc hoan hỉ. Tuy nhiên, trước khi câu chuyện ấy có thể bắt đầu, chúng ta phải được giới thiệu về đặc tính chủ yếu của nó, và điều này được thực hiện bởi một chuỗi bối cảnh tọa lạc khắp ở miền Nam Y-sơ-ra-ên, dẫn tới sự di chuyển chủ ý của Chúa Giê-xu đến Ga-li-lê trong Mat 4:12 Trong sự di chuyển này, như trong mọi sự được ghi lại trong những chương mở đầu này, Ma-thi-ơ phác họa sự ứng nghiệm của kế hoạch Đức Chúa Trời được bày tỏ trong Kinh Thánh.
2. Gia phả của Chúa Giê-xu, Đấng Mết-si-a (Mat 1:2-17) (so sánh Lu 3:23-38)
Độc giả ngày nay cảm thấy danh sách này như một cách mở đầu sách thật ngớ ngẩn. Tuy nhiên, đối với Ma-thi-ơ và các độc giả của ông, nó không ngớ ngẩn chút nào: đó là tất cả những gì về sự ứng nghiệm câu chuyện của Y-sơ-ra-ên qua sự đến của vị vua thật của họ. Trong tiếng Hi Lạp, “một ghi chép về gia phả” là đề tựa của “sách Sáng thế ký”, để độc giả nghĩ đến một khởi đầu mới. Danh sách bắt đầu từ Áp-ra-ham (vị anh hùng của sách Sáng thế ký và là trưởng tộc mà từ ông Y-sơ-ra-ên đã truy nguồn gốc của họ), dẫn đến Đa-vít (vị vua thật đầu tiên của Y-sơ-ra-ên), và tiếp tục xuống dòng hoàng gia của Giu-đa đến thời điểm nền quân chủ của nó bị tiêu diệt trong cuộc lưu đày đến Ba-by-lôn. Sự phân chia thành ba tập hợp 14 đời (17) nhấn mạnh những bước ngoặc này (và có lẽ đối với một độc giả Do Thái thì vấn đề này được củng cố bởi sự kiện ba bức thư Hê-bơ-rơ đề tên Đa-vít được sử dụng như những con số, cộng lại được 14!).
Sự lặp lại nổi bật về danh hiệu Christ (1,16,17,18) nhằm ý mang tính thần học của danh sách này. Đối với các độc giả ngày nay, “Christ” không hơn gì một cái “họ” của Chúa Giê-xu, nhưng Ma-thi-ơ rõ ràng sử dụng ở đây với tất cả ý nghĩa của một danh hiệu, “Đấng Mết-si-a”, vua thật của Y-sơ-ra-ên thuộc dòng Đa-vít, mà sự đến của Ngài được họ nôn nóng chờ đợi.
Những tên từ Áp-ra-ham đến những người bị lưu đày được biết rõ từ Cựu Ước, nhưng mặt khác đa số những người trong phần thứ ba thì không được biết đến. Danh sách của Lu-ca nói về tổ phụ của Giô-sép (thậm chí kể cả cha người) lại khác. Có lẽ Lu-ca trình bày cho chúng ta một sơ đồ gia hệ “thuộc thể”, trong khi Ma-thi-ơ đưa ra danh sách nối ngôi chính thức (mà không nhất thiết truyền từ cha đến con, nhưng tồn tại trong gia thế). Ông quan tâm đến quyền của Chúa Giê-xu (qua Giô-sép) đối với danh hiệu “Vua dân Giu-đa”.
Câu 16 rõ ràng biểu lộ rằng Chúa Giê-xu không phải là con thuộc thể của Giô-sép (người thuộc giống cái trong tiếng Hi Lạp, “of whom”). Sự xác đáng về gia phổ Chúa Giê-xu do đó sẽ phải được chứng minh trong phân đoạn sau.
Chú thích. 3-6 Sự đề cập bốn người mẹ là điều khác thường. Có lẽ tất cả không phải người Do Thái, và ở mỗi trường hợp đều mang tính chất trái lễ giáo hoặc tai tiếng nào đó. Có lẽ Ma-thi-ơ nghĩ rằng việc Chúa Giê-xu sinh ra bởi một người mẹ bình thường trong xã hội và chưa kết hôn cần có sự hỗ trợ nào đó về Kinh thánh. 8 Ba vua Giu-đa (Ahaziah, Joash, Amaziah) bị bỏ sót (cũng như Giê-hô-gia-kim trong c.11) để giữ số lượng dòng dõi là 14. Danh sách này được chọn lọc trong bất cứ trường hợp nào, vì 13 đời sau sự lưu đày bao gồm 600 năm.
3. Kinh Thánh được ứng nghiệm qua sự giáng sinh và thời thơ ấu của Chúa Giê-xu Đấng Mết-si-a (Mat 1:18-25)
Phân đoạn này của sách Phúc Âm, thông thường được biết như những câu chuyện tuổi thơ ấu, không phải là một sự ghi chép về sự giáng sinh và thời thơ ấy của Chúa Giê-xu theo cách ấy (thật ra sự giáng sinh của ngài không được thuật lại trực tiếp), nhưng là một chuỗi bối cảnh được sắp xếp để chứng minh thể nào mục đích của Đức Chúa Trời, được công bố trong Cựu Ước, sắp ứng nghiệm. Mỗi phân đoạn nhỏ được thảo luận dưới đây tập trung vào một trích dẫn nổi bật bằng một công thức của sự ứng nghiệm. Những chủ đề Kinh Thánh khác xoay quanh bề mặt của những câu chuyện; đặc biệt là sự thù địch của Hê-rốt gợi lại cố gắng của Pha-ra-ôn muốn tiêu diệt bé Môi-se, còn sự đến của ba nhà thông thái nhắc nhớ cuộc thăm viếng của người quyền quý khác ở Đông phương, nữ hoàng Sê-ba, dành cho con trai Đa-vít ở Giê-ru-sa-lem.
Hãy để ý rằng những câu chuyện này được kể theo quan điểm của Giô-sép, trong khi những câu chuyện đó ở Lu 1:1-2:52 được kể theo quan điểm của Ma-ri. Điều này có thể phản ánh nguồn gốc mà từ đó mỗi tác giả đã có được thông tin về thời kỳ này.
4. Giô-sép nhận Chúa Giê-xu làm con (Mat 1:18-2:23)
(Mat 1:18-25) Phân đoạn trước chứng minh Giô-sép là con cháu Đa-vít, nhưng Chúa Giê-xu không phải là con Giô-sép, như phân đoạn này thậm chí làm rõ hơn. Chỉ khi Giô-sép về hình thức “nhận nuôi” Ngài thì Ngài mới có thể là “con cháu Đa-vít” (20). Đã có một mạc khải thiên thượng để thuyết phục Giô-sép làm như vậy, bằng cách nhận Ma-ri đang mang thai làm vợ mình và sau đó đặt tên cho đứa trẻ.
Trong những câu Kinh Thánh này, ý niệm của Chúa Giê-xu không có một người cha loài người không được bàn luận hoặc giải thích (ngoài sự đề cập hai lần về Đức Thánh Linh), nhưng đơn giản được xem như một sự kiện được độc giả biết đến, dù Giô-sép không phải là người biêt trước tiên. Tuy vậy, nó được hỗ trợ bởi trích dẫn đầu tiên trong những công thức trích dẫn của Ma-thi-ơ, một phân đoạn kết hợp một người mẹ đồng trinh với một tên Em-ma-nu-ên ngầm ngụ ý cho biết đứa trẻ này là ai.
Chú thích. 18 Sự giáng sinh của Chúa Giê-xu thật ra không phải là chủ đề của phân đoạn này. Từ Hi Lạp “genesis” (cũng được sử dụng trong câu 1) đúng hơn có nghĩa là “nguồn gốc” hoặc “khởi đầu”. 19 Sự hứa hôn là một cam kết ràng buộc muốn phá vỡ nó cần phải có “sự ly hôn” (divorce). Sự đoán phạt của Cựu Ước dành cho sự không trong trắng trước hôn nhân là cái chết, nhưng thay vào đó, một sự ly thân có thể được chấp nhận vào lúc này, và một sự ly hôn riêng tư trước những nhân chứng là một lựa chọn nhân đạo. 21 Giê-xu là dạng tiếng Hi Lạp của tên Giô-suê trong Cựu Ước) nghĩa là “Đức Chúa Trời cứu vớt”. 23 Gái đồng trinh là ý nghĩa của nguyên bản Hi Lạp ở Es 7:14 dù nguyên bản Hê-bơ-rơ ít rõ ràng hơn. Lời tiên tri này có liên quan đến những sự kiện trong cuối thế kỷ thứ 8 T.C., song trong danh Em-ma-nu-ên và trong chủ đề đang triển khai về một con trẻ đặc biệt ở 7:1-12:6 Ma-thi-ơ nhìn thấy một sự báo trước về một ứng nghiệm lớn hơn trong tương lai.
5. Sự thăm viếng của ba nhà thông thái (Mat 2:1-12)
Các nhà thông thái là những chiêm tinh gia, những người góp phần quan trọng trong hoạt động triều đình ở nhiều quốc gia Đông phương, với tư cách cố vấn cho vua. Những hiểu biết sâu sắc của họ bắt nguồn từ sự quan sát thiên văn tinh tế kết hợp với dạng “giải thích” tương tự như cách người ta dùng những lá số tử vi ngày nay. Bằng những tính toán như vậy được thực hiện ở Đông phương (có thể là Mesopotamia, thuộc I-rắc ngày nay), họ kết luận rằng có sự ra đời của một vị vua quan trọng đã xảy ra ở Palestine, đòi hỏi một “cuộc viếng thăm cấp nhà nước”. Ma-thi-ơ thấy rõ điều này như một đáp ứng đáng chấp nhận của dân ngoại đối với sự bày tỏ đích thực bất chấp ý nghĩa không rõ ràng của nó.
Sự tương phản sắc nét giữa những người ngoại quốc được thôi thúc mạnh mẽ và lòng ghen tị vô tâm của Hê-rốt, vua chính thức của dân Do Thái (và cùng cả thành Giê-ru-sa-lem) báo trước sự đáp ứng mà Do Thái giáo chính thức sẽ thực hiện đối với Chúa Giê-xu, và sự nghênh đón trong tương lai những tín hữu người ngoại vào dân thật của Đức Chúa Trời.
Trong cả giai đoạn này Ma-thi-ơ tìm thấy tài liệu phong phú cho sự suy gẫm về sự ứng nghiệm của Kinh Thánh. Sự trích dẫn chính thức Mi 5:2 chứng minh thể nào nơi giáng sinh của Chúa Giê-xu ngụ ý địa vị của Ngài với tư cách “Đấng cai trị” sẽ đến và ngôi sao có thể gợi lại lời tiên tri của Ba-la-am về “một ngôi sao.....từ Gia-cốp” (Dan 24:17). Sự xuất hiện của những nhà quyền quý nước ngoài từ đông phương đến Giê-ru-sa-lem nhắc chúng ta nhớ đến cuộc thăm viếng của nữ hoàng Sê-ba đối với Sa-lô-môn, con trai Đa-vít, mang theo những lễ vật gồm vàng và hương liệu (IVua 10:1-13), và nhắc nhớ đến những lời tiên tri về những cuộc thăm viếng tương tự trong tương lai ở Thi 72:10-11,15 Es 60:1-6 (6, “vàng và nhũ hương”).
Chú thích. 1 Vua Hê-rốt (“Đại đế”) đã chết năm 4 T.C.. Thời gian này không nhất thiết xảy ra và sau sự giáng sinh của Chúa Giê-xu, nhưng có thể trong vòng 2 năm (16), vì vậy sự giáng sinh của Chúa Giê-xu có thể không trễ hơn năm 6 T.C.. 2 Nhiều giải thích tự nhiên về ngôi sao đã được nêu lên, kể cả một sao chổi (sao Halley xuất hiện năm 12 T.C.), một sao mới hiện hoặc siêu sao mới hiện (có một sao nổi bật vào năm 5/4 T.C. theo những ghi chép của người Trung quốc), hoặc một liên hợp hành tinh (liên hợp của sao Thổ và sao Mộc năm 7 T.C. đã gợi cho các chiêm tinh gia Ba-by-lôn ý niệm về một vị vua ở “đất phía Tây” như họ đã gọi là Palestine). Một hoặc nhiều giải thích này có thể góp phần cho sự tìm kiếm của ba nhà thông thái, nhưng câu 9 gợi ý điều gì đó khác thường. 6 Trích dẫn này phù hợp với bản văn Mi 5:2 một phần bằng cách kết hợp những từ ở IISa 5:2 được lời tiên tri của Mi-chê dựa vào. 12 Đức Chúa Trời thông tin cho một người ngoại khác bằng một giấc chiêm bao ở Mat 27:19 Giống như ngôi sao, đó là một phương tiện thông tin quen thuộc trong văn hoá của họ. Những sự mạc khải duy nhất khác qua chiêm bao như vậy do Ma-thi-ơ ghi lại được dành cho Giô-sép (1:20 2:13,19,22).
6. Những chuyến đi thời thơ ấu (Mat 2:13-23)
Phần còn lại của chương 2 tập trung vào những lần di chuyển về mặt địa lý của con trẻ là Đấng Mết-si-a, từ nơi sinh của Ngài ở Bết-lê-hem đến Ai Cập, sau đó trở về xứ Giu-đê và đến Ga-li-lê, tại đó Ngài định cư trong một làng nơi đã đem đến cho Ngài danh hiệu, Giê-xu Na-xa-rét. Phân đoạn này đáng chú ý cả về những công thức trích dẫn thường xuyên của nó (15,17-18,23) lẫn về những chiêm bao tái diễn mà bởi đó Giô-sép được dẫn dắt từ nơi này đến nơi khác (13,19,22). Cả hai đặc điểm này gợi ý rằng mối quan tâm chủ yếu của Ma-thi-ơ là những thay đổi về vị trí này không phải là sự ngẫu nhiên nhưng được Đức Chúa Trời hướng dẫn và được báo trước trong Kinh Thánh (để ý rằng mỗi trích dẫn chính thức trong chương 2 bao gồm một địa danh: Bết-lê-hem, Ai Cập, Ra-ma, Na-xa-rét). Rõ ràng là những vấn đề về địa lý!
Tại sao vậy? Một manh mối có thể được tìm thấy trong phản ứng của dân Do Thái đối với gợi ý cho rằng Đâng Mết-si-a có thể từ Ga-li-lê (Gi 7:41,52), hoặc còn tệ hơn, từ Na-xa-rét (1:46). Mọi người đều đã biết Đấng Mết-si-a phải xuất thân Giu-đê tại làng Bết-lê-hem, vậy làm sao Giê-xu ở Na-xa-rét có thể được hiểu một cách nghiêm túc? Đối với sự phản đối này, Mat 2:1-23 cho lời giải đáp. Chúa Giê-xu thật sự được sinh ở Bết-lê-hem, như Kinh Thánh đòi hỏi, nhưng do một chuỗi những lần di chuyển được Đức Chúa Trời hướng dẫn và được Kinh Thánh chứng thực cuối cùng đã đưa Ngài đến Ga-li-lê, vì vậy Đấng Mết-si-a xét cho cùng có thể được gọi là người Na-xa-rét.
Chú thích. 13 Ai Cập là một nơi nương náu truyền thống của người Do Thái khi gặp nguy hiểm về chính trị. 15 Os 11:1 nói về sự ra khỏi Ai Cập của con trai Đức Chúa Trời là Y-sơ-ra-ên, Ma-thi-ơ sử dụng nó ở đây dựa trên cơ sở của điều ông tin rằng Chúa Giê-xu chính là Y-sơ-ra-ên thật. 16 Trong vài năm cuối của mình, việc bảo vệ ngai vàng đầy hoang tưởng của Hê-rốt dẫn ông đến chỗ xử tử nhiều người mà ông tưởng tượng rằng họ muốn đòi hỏi ngai vàng, kể cả ba con trai và người vợ yêu quí của mình. Việc loại trừ một số trẻ sơ sinh nam trong làng nhỏ Bết-lê-hem hoàn toàn có cùng một tính chất. 18 Lời truyền khẩu về việc chôn cất của Ra-chên gần Bết-lê-hem khiến cho trích dẫn này trở nên thích hợp; con cái trong Gie 31:15 là dân Do Thái bị lưu đày (từ Ra-ma, một địa điểm khác theo truyền khẩu nơi chôn cất của Ra-chên), nhưng chương này tiếp tục báo trước sự trở về của họ. 22 A-chê-lau được biết là ác hiểm hơn cha mình và bị phế truất năm 6 S.C., bị thế chỗ bởi một tổng đốc La Mã. 23 Ngài sẽ được gọi là người Na-xa-rét không phải là một trích dẫn của một bản văn cụ thể (như công thức chỉ nêu lên cách chung chung là các tiên tri) nhưng có lẽ tóm tắt chủ đề tiên tri về một Đấng Mết-si-a khiêm nhường, bị khinh rẻ (so sánh Gi 1:46).
7. Giăng Báp-tít và Chúa Giê-xu (Mat 3:1-17) (Mac 1:2-8 Lu 3:1-18)
(Mat 3:1-12) Sự công bố của Giăng Giăng Báp-tít là người lãnh đạo của một phong trào tôn giáo đầy ý nghĩa. Việc ông kêu gọi sự ăn năn dưới ánh sáng của sự xét đoán hầu đến của Đức Chúa Trời là một lời cảnh cáo rõ ràng rằng dân Y-sơ-ra-ên, như rất thường trong quá khứ đã không sống đúng với sự kêu gọi làm dân Đức Chúa Trời. Những lời ông nói về việc làm con cái Áp-ra-ham (9) cho thấy rằng làm một người Do Thái không phải là một sự bảo đảm đủ để tránh sự phán xét. Việc thực hiện báp-têm của ông cho những người đáp ứng, giống như những người ngoại nào muốn gia nhập Y-sơ-ra-ên phải chịu báp-têm, đã đã chứng tỏ họ là người sót lại, những người hiện là đại diện cho dân thật của Đức Chúa Trời.
Ma-thi-ơ thận trọng trình bày sự tiếp nối giữa chức vụ của Giăng và nhiệm vụ của Chúa Giê-xu. Sự công bố của Giăng trong câu 2 giống như sự công bố của Chúa Giê-xu trong Mat 4:17 (và của các môn đệ Ngài trong 10:7). Những sự lặp lại về lời của Giăng cũng xuất hiện sau đó trong sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu (7:16,19 12:34 13:30 23:33), trong khi 8:10-12 củng cố cho lời cảnh cáo của Giăng chống lại việc chỉ cậy nơi nguồn gốc chủng tộc Do Thái. Giăng bởi đó không chỉ là một người vén màn cho sự đến của Chúa Giê-xu; ông còn là người đã khởi đầu chức vụ mà Chúa Giê-xu sẽ triển khai (so sánh 11:7-19 21:23-32 để có những gợi ý khác về mối liên hệ gần gũi này).
Tuy nhiên, Giăng chỉ là sứ giả tiền trạm như trích dẫn từ Es 40:3 (3) cho biết và như lời của chính ông nói về sự đến của một Đấng quyền uy hơn xác nhận. Sự tương phản giữa nước và Đức Thánh Linh (11) chắc chắn cho thấy rằng trong chức vụ của Chúa Giê-xu người ta sẽ thấy được một sự đổi mới thuộc linh thật sự.
Chú thích. 1 hoang mạc xứ Giu-đê là miền không có dân cư ở gần sông Giô-đanh. Những đoạn như 40:3 Gie 2:2-3 Os 2:14-15 cho thấy hoang mạc như một nơi của những khởi đầu mới. 2 Nước Thiên đàng là cách dịch lại của Ma-thi-ơ về nước Đức Chúa Trời trong những sách Phúc Âm khác. Nó biểu hiện sự cai trị có hiệu quả của Đức Chúa Trời trên đất. Gần là “đã đến gần” theo nghĩa đen và thực sự là một lời tuyên bố về sự đến. 4 Quần áo của Giăng khiến ông có đặc điểm giống như Ê-li thứ 2 (IIVua 1:8) như Mat 11:14 và 17:10-13 sẽ giải thích.
(Mat 3:13-17) Chúa Giê-xu chịu báp-têm Mac 1:9-11 Lu 3:21-22). Xét đến câu 11, sự do dự của Giăng là tự nhiên. Lời giải thích của Chúa Giê-xu (15) khó hiểu, nhưng liên quan đến sự cần thiết để Ngài làm trọn sứ mệnh của mình, đòi hỏi sự đồng nhất hoá của Ngài với dân đổi mới của Đức Chúa Trời (sự công bình có thể là tiếng vọng của Es 53:11 nơi mà từ “công bình” được lặp lại đầy ấn tượng). Sự mạc khải tiếp theo (16-17) bày tỏ Chúa Giê-xu là Đấng Mết-si-a, được xức dầu bằng Thánh Linh, như đã được báo trước trong 11:2 42:1 61:1 còn sự công bố từ trời lấy từ ngôn ngữ của Thi 2:7 và Es 42:1 Chúa Giê-xu bởi đó được uỷ nhiệm làm vua Mết-si-a, và thân thế Ngài là Con Đức Chúa Trời được công bố với một thẩm quyền không kém hơn thẩm quyền của Đức Chúa Trời.
8. Cuộc thử nghiệm và sự chuẩn bị (Mat 4:1-16)
(Mat 4:1-11) Chúa Giê-xu chịu thử thách trong sa mạc (Mac 1:12-13 Lu 4:1-13). “Sự cám dỗ” cho thấy một từng trải hoàn toàn tiêu cực; nhưng đây là một sự chuẩn bị có sự chủ ý thiêng liêng (1) về sứ mệnh của Chúa Giê-xu. Nghĩa thông thường hơn của từ này là “thử thách”, và đây là một cách dịch tốt hơn chỗ này.
Trọng tâm được đặt vào thân phận làm Con Đức Chúa Trời của Chúa Giê-xu vừa được công bố (Mat 3:17 4:3,6). Đâu là những ngụ ý của nó về mối liên hệ của Ngài với Cha? Ba sự thử thách xem xét những khía cạnh của mối liên hệ đó, và những cách mà việc sử dụng sai thân phận đó có thể làm hỏng chức vụ của Chúa Giê-xu. Ngài phải sẵn sàng chấp nhận sự thiếu thốn để làm trọn nhiệm vụ Đức Chúa Trời giao phó mà không “lạm quyền” (2-4); để tin sự quan tâm của Cha mà không cần thử nghiệm nó bằng cách thúc ép bàn tay của Đức Chúa Trời (5-7) và để loại bỏ con đường tắt đi đến sự làm trọn sứ mệnh Ngài một sứ mệnh phải được hoàn thành bằng cái giá thực hiện lòng trung thành đối với Cha Ngài (8-10).
Mỗi đề nghị bị bác bỏ bởi một phân đoạn Kinh Thánh, tất cả trích từ Phu 6:1-8:20 Phân đoạn đó có liên hệ đến từng trải của Y-sơ-ra-ên về thử thách trong đồng vắng (“như một người sửa phạt con mình”, 8:5 so sánh 8:2) và những phân đoạn được trích dẫn tập trung vào những bài học Y-sơ-ra-ên đã học bởi từng trải đó. Giờ đây một “Con mới của Đức Chúa Trời” đang được chuẩn bị cho vai trò của Ngài, và những nguyên tắc không đổi về sự vâng phục, đã được Y-sơ-ra-ên học chưa hoàn hảo, phải là nền tảng cho chức vụ của Chúa Giê-xu, “Y-sơ-ra-ên mới”.
Chú thích. 1 Ma quỉ là kẻ trung gian cám dỗ Chúa Giê-xu lạm dụng địa vị của Ngài; nhưng mục đích thù địch của nó được dùng phục vụ cho việc Đức Chúa Trời thử nghiệm Con Ngài. 2 Sự kiêng ăn và đói của Chúa Giê-xu chứng tỏ Con Đức Chúa Trời không được miễn khỏi sự khốn khổ của con người thật. 6 Trích dẫn của ma quỉ từ Thi 91:11-12 hoàn toàn chính xác (và chắc chắn, nếu được kiểm tra, sẽ được chứng minh là đáng tin cậy), nhưng thậm chí một câu trích dẫn đúng từ Kinh thánh cũng có thể bị áp dụng sai. 8 Hãy đối chiếu Mat 28:18 nơi mà bằng con đường vâng phục, Chúa Giê-xu đã nhận được tất cả thẩm quyền không chỉ dưới đất mà còn trên trời!
(Mat 4:12-16) Chúa Giê-xu đi đến Ga-li-lê (so sánh Mac 1:14 Lu 4:14). Việc Giăng bị cầm tù đã để lại Chúa Giê-xu, như người cộng tác với ông, giữa nguy hiểm ở miền Nam, và đồng thời đã để lại một vùng đất thông trống cho Chúa Giê-xu khởi đầu sứ mệnh của chính Ngài. Ga-li-lê giờ đây là bối cảnh hoạt động của Chúa Giê-xu xuyên suốt đến hành trình cuối cùng của Ngài đến Giê-ru-sa-lem trong chương 21. Chính ở Ga-li-lê sự sáng đã chiếu ra (như Es 9:1-2 đã báo trước), và ở đó sứ mệnh của Chúa Giê-xu sẽ phát triển và ảnh hưởng mạnh mẽ. Mặt khác, Giê-ru-sa-lem phải là nơi của sự chối bỏ và sự chết. Sự tương phản này được thận trọng nêu bật suốt sách Phúc Âm, đạt đến đỉnh điểm qua sự trở về từ Giê-ru-sa-lem đến Ga-li-lê phát động sứ mệnh Cơ Đốc Phục Sinh ở chương 28.
Ga-li-lê (thuộc dân ngoại) về mặt địa lý và chính trị đã bị tách khỏi Giu-đê và dân số Do Thái ở đây không có mấy khả năng. Dân ở đó bị người Giu-đê xem là vô văn hoá và vô đạo, và có nhiều chứng cớ về những mối quan hệ căng thẳng giữa hai tỉnh này trong thời Tân Ước. Với tư cách một người Ga-li-lê ở Giê-ru-sa-lem, Chúa Giê-xu gần như là một người ngoại quốc.
2. CHỨC VỤ CÔNG KHAI TRONG VÀ QUANH MIỀN GA-LI-LÊ (Mat 4:17-16:20)
1. Giới thiệu về chức vụ công khai (Mat 4:17-25)
(Mat 4:17) Lời công bố của Chúa Giê-xu (Mac 1:14-15). Hãy xem “đại cương về những nội dung” để biết chức năng của câu này, để đánh dấu một giai đoạn mới của chức vụ. Xem lại Mat 3:2 về mối liên lạc với Giăng Báp-tít. Trong sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu, nước Thiên đàng phải là một chủ đề trọng tâm: Đức Chúa Trời là Vua, và luật lệ của Ngài giờ đây đang được làm cho có hiệu lực.
(Mat 4:18-22) Những môn đệ đầu tiên được kêu gọi (Mac 1:16-20 so sánh Lu 5:1-11). Những cộng sự của Chúa Giê-xu trong nhiệm vụ này không chỉ là những người ủng hộ nhưng chính họ sẽ trở thành những tay đánh lưới người, thu phục những đối tượng mới vào trong sự cai trị của Đức Chúa Trời. Những câu này cho thấy sự tận hiến mà sự liên hệ của họ với Chúa Giê-xu đòi hỏi.
Si-môn, Gia-cơ và Giăng (và với một mức độ ít hơn – Anh-rê) đã tạo nên một trung tâm của nhóm môn đệ. Sự kêu gọi và sự sẵn sàng đáp ứng của họ có thể được xem là tiêu biểu của cả nhóm.
(Mat 4:23-25) Tóm tắt chức vụ của Chúa Giê-xu (so sánh Mac 1:39 3:7-12 Lu 4:44 6:17-19). Tóm tắt này cho thấy Chúa Giê-xu có thể được tiếp nhận trong các nhà hội (đối chiếu sự chống đối về sau) và được khắp nơi biết đến với tư cách một giáo sư và đặc biệt là một người chữa bệnh; chức vụ ở Ga-li-lê chủ yếu là một câu chuyện về sự thành công. Mặc dù ở Ga-li-lê, nhưng chức vụ của Chúa Giê-xu đã thu hút sự chú ý khắp “Palestine rộng lớn hơn” (tạo nên vùng thuộc tỉnh Sy-ri của người Rô-ma). Sự nổi bật về việc chữa bệnh đánh dấu một bước tiến đầy ý nghĩa vượt hơn chức vụ của Giăng: Quyền năng của nước thiên đàng mà Giăng đã trông đợi giờ đây đang được kinh nghiệm qua hành động.
2. Bài giảng đầu tiên: Chức phận môn đệ (Mat 5:1-7:29)
Bài giảng này, bài giảng đầu tiên trong “những bài giảng lớn” của sách Ma-thi-ơ, (xem phần giới thiệu), thông thường được biết là “Bài giảng trên núi”. Nó có cùng đại cương tổng quát như bài giảng được chép trong 6:20-49 nhưng dài hơn rất nhiều, kể cả tài liệu được tìm thấy đâu đó trong Lu-ca và một số lớn tài liệu được tìm thấy chỉ trong Ma-thi-ơ. Chủ đề chính mà tài liệu này được thu thập quanh đó là chủ đề về chức phận môn đệ, hoặc “sự sống trong nước thiên đàng”. Sau khi kêu gọi các môn đệ đầu tiên, Chúa Giê-xu trình bày cho họ một cái nhìn khái quát về những đặc quyền và những đòi hỏi trong hoàn cảnh mới của họ.
Nhiều phần của bài giảng tập trung về chính Chúa Giê-xu với tư cách một Đấng mà nhờ Ngài giờ đây họ có được lòng trung thành; Đó không chỉ là một luật lệ về hạnh kiểm đối với môn đệ mà còn là một sự bày tỏ về thẩm quyền của Đấng Mết-si-a, như Mat 7:28-29 nhắc nhở chúng ta. Một thu thập tương tự về những việc lạ của Chúa Giê-xu trong chương 8-9 bổ sung cho một sự tường thuật hùng hồn về quyền phép của Đấng Mết-si-a.
(Mat 5:1-2) Giới thiệu (so sánh Mac 3:13 Lu 6:20). Thính giả được xác định rõ ràng như là những môn đệ Ngài, đối lập với đám đông. Đám đông thứ 2 xuất hiện như một lượng thính giả rộng lớn hơn trong Mat 7:28 nhưng họ rõ ràng không phải là trung tâm chủ yếu của sự dạy dỗ, mà tiêu biểu làm tương phản “các ngươi” (môn đệ) với những người khác (đặc biệt 5:11-16).
(Mat 5:3-10) Đời sống tốt đẹp (so sánh Lu 6:20-22). Bài giảng bắt đầu bằng một chân dung hoàn mỹ của môn đệ thật qua hình thức tám “phước lành”. Từ phước hay “sung sướng” đều không dịch được từ makarios một cách đầy đủ, nó đúng hơn là một thuật ngữ về sự chúc mừng và sự đề nghị. Những phẩm chất này là những gì được thèm muốn và ganh đua; chúng tạo nên “đời sống tốt đẹp”. Mỗi phẩm chất theo sau bởi một lý do, xác định rằng không ai sẽ là người thua thiệt bởi noi theo cách sống này, tuy nhiên không hứa hẹn nó có thể xuất hiện trong thời hạn ngắn. Những phần thưởng tuỳ vào mức từng trải thuộc linh và mối liên hệ với Đức Chúa Trời hơn là mức độ về sự đền bù vật chất. Nhóm từ chính, mở đầu và kết thúc một chuỗi câu, là nhóm từ nước thiên đàng là của những kẻ ấy. Nhóm từ này đề cập đến những người nhận biết Đức Chúa Trời là Vua của họ và do đó là những người có thể trông đợi một cách tin quyết sự ứng nghiệm về mục đích của Ngài trong đời sống họ.
6:20-22 chỉ trình bày bốn phước lành được cân bằng bởi bốn “tai hoạ”. Chúng được diễn đạt ở ngôi thứ hai và tập trung về hoàn cảnh vật chất và xã hội của các môn đệ, hơn là về những đức tính thuộc linh được trình bày ở đây.
Chú thích. 3 những kẻ có lòng khó khăn gợi ý chủ đề về “người nghèo” hoặc “người nhu mì”, dân của Đức Chúa Trời bị áp bức, mà vẫn tin cậy nơi sự giải cứu của Ngài. Câu này và câu kế vọng lại Es 61:1-2 còn câu 5 sử dụng Thi 37:11 phân đoạn khác so sánh “người nhu mì” với “kẻ ác”.
(Mat 5:11-16) Đặc tính của môn đệ (so sánh Mac 9:50 4:21 Lu 6:22-23 14:34-35 8:16). Sự thay đổi sang ngôi thứ 2 đem đến một ứng dụng trực tiếp cho thính giả của Chúa Giê-xu đưa các môn đệ vào sự tiếp nối những tôi tớ trung tín của Đức Chúa Trời. Đặc tính khiến họ trở nên đối tượng của sự bắt bớ sau đó được minh hoạ bởi hai hình ảnh muối và sự sáng; mỗi thứ đều là cần thiết nhưng nó có ảnh hưởng cần thiết đối với môi trường của nó chỉ khi nó vừa dễ phân biệt với môi trường mà vẫn liên hệ với môi trường đó. Vì vậy các môn đệ phải thực hiện chức năng trong xã hội như một cộng đồng khác biệt và đầy thách thức. Chính bởi lòng tốt có thể thấy được của họ sẽ quy vinh hiển cho Đức Chúa Trời Đấng đã dựng nên họ như vậy.
Chú thích. 13 Một trong 2 chức năng chính, muối như gia vị hoặc chất bảo quản, hợp với hình ảnh này. Các ra-bi sử dụng muối như một biểu tượng cho sự khôn ngoan (mất mặn theo nghĩa đen là “trở nên dại dột”). 14 Hình ảnh này nói về một thành phố được thắp sáng rực rỡ trên một ngọn đồi, trình bày tác dụng tập hợp của “những sự sáng” được phối hợp của những cá nhân môn đệ. 16 So sánh Mat 6:1 Sự khác nhau là giữa tính phô trương có chủ ý cho thanh thế của bản thân trong chương 6 và chứng cớ tự nhiên của một đời sống tin kính ở đây.
(Mat 5:17-48) Chúa Giê-xu và luật pháp (so sánh Lu 16:17 12:58-59 16:18 6:27-36). Phân đoạn dài này đều nói về một chủ đề, và quan trọng là các phần của nó không nên bị giải thích dộc lập với nhau. Chủ đề là “sự làm trọn” luật pháp của Chúa Giê-xu, được trình bày bởi những câu tuyên bố chung (17-20) theo sau là một loạt sáu ví dụ làm tương phản sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu với sự hiểu biết về luật pháp Cựu Ước đã được công nhận (21-47) và một tóm tắt kết luận (48).
Trong các câu 17-20 Chúa Giê-xu đặt luật pháp bên cạnh những tiên tri như sự khám phá ứng nghiệm nơi Ngài (vì ý nghĩa này của luật pháp như “sự tiên tri” cho đến khi Chúa Giê-xu xuất hiện – so sánh Mat 11:13 và Ro 10:4 Ga 3:24). Làm trọn là đem đến điều Kinh Thánh đã chỉ ra, và đó là điều Chúa Giê-xu giờ đây đã thực hiện. Nhưng sự làm trọn luật pháp không có nghĩa là sự thủ tiêu nó; nó vẫn hoàn toàn có thẩm quyền và đòi hỏi sự tôn trọng đầy đủ nhất của môn đệ (18-19). Tuy nhiên, câu hỏi vẫn là thể nào chức năng của nó đối với môn đệ được ảnh hưởng bởi sự làm trọn trong Chúa Giê-xu, và câu 20 chỉ ra rằng chủ nghĩa luật pháp tỉ mỉ của người Pha-ri-si và các thầy dạy luật không thích đáng trong ngữ cảnh mới về nước Thiên đàng. Cách tiếp cận nào đó cao hơn thật cần thiết,và đó là điều mà câu 21-47 tiếp tục giải thích ra, bằng cách chứng minh thể nào yêu cầu của Chúa Giê-xu vượt trội hơn yêu cầu của sự dạy dỗ luân lý hiện hành đặt trên luật Cựu Ước. Nó thực hiện điều này không phải bằng cách thận trọng hơn trong sự quan sát theo nghĩa đen nhưng bằng cách thâm nhập vào ý muốn thật của Đức Chúa Trời được cất giữ trong luật pháp.
Như vậy trong hai ví dụ đầu (21-30) việc tránh tội giết người và tội tà dâm theo nghĩa đen không đưa đến trọng tâm của vấn đề. Ẩn dưới những hành động bên ngoài này là những thái độ cơ bản về sự thù hận và tư dục. Nơi mà tấm lòng không ngay thẳng, cần có hành động quyết liệt để sửa chữa nó trước khi nó dẫn đến tội lỗi bên ngoài.
Thứ ba (31-32) một yêu cầu theo nghĩa đen ở Phu 24:1-4 đã dẫn đến việc thừa nhận sự ly hôn miễn sao hình thức chứng nhận đúng được luân giữ, nhưng Chúa Giê-xu xác định lại mục đích ban đầu của Đức Chúa Trời về sự lâu dài của hôn nhân (xem Mat 19:3-12 để có sự thảo luận đầy đủ hơn).
Thứ tư (33-37), Chúa Giê-xu bỏ qua sự thảo luận rắc rối về sức nặng tương đối của những lời thề khác nhau (so sánh 23:16-22) hổ trợ cho lý tưởng của sự thật đơn giản, khiến cho những lời thề và những lời nguyện trở nên không cần thiết. Ở đây, như với vấn đề ly hôn, Chúa Giê-xu không thừa nhận những quy tắc của luật pháp, chúng được lập ra để chế ngự tội lỗi con người, để tiếp quản trước ý định ban đầu của Đức Chúa Trời. Những tiêu chuẩn đạo đức phải được xây dựng không phải trên những sự nhân nhượng của luật pháp, nhưng dựa trên mục đích tích cực của Đức Chúa Trời.
Thứ năm (38-42), ước muốn tự nhiên về sự báo thù và trả đũa có thể thích hợp được xét trên những quy tắc của Cựu Ước, vốn được lập ra để hạn chế mức độ báo trả của luật pháp (mắt đền mắt, v.v...), nhưng mở rộng nguyên tắc này cho đạo lý con người khiến nó trở nên một hiến chương cho tính tư lợi. Nhưng thay vào đó, Chúa Giê-xu dùng một loạt những ví dụ sống động (39-42), kêu gọi một thái độ không ích kỷ, không những không báo thù mà còn không chống trả, thậm chí khi làm vậy là đúng đối với luật pháp. Một thái độ như thế là một thái độ xem những quyền lợi của riêng mình không quan trọng bằng ích lợi của kẻ khác.
Sau cùng (43-47), suy luận tự nhiên cho rằng mệnh lệnh của Cựu Ước phải yêu kẻ lân cận mình đưa đến hệ quả người đó nên ghét kẻ thù mình được thay thế bằng mệnh lệnh khác thường phải yêu kẻ thù mình. Ở đây một lần nữa Chúa Giê-xu vượt xa hơn sự dạy dỗ rõ ràng của luật Cựu Ước và đưa ra một đạo lý tương phản sắc nét với những giá trị tự nhiên của con người.
Vì vậy, qua tất cả những ví dụ này, một sự tuân giữ ngôn từ của luật pháp ở bề ngoài đã nhường lối cho một sự tìm kiếm triệt để ý muốn thật của Đức Chúa Trời. Điều này vượt quá sự giải thích về luật pháp theo nghĩa đen và thật sự trong một vài trường hợp có thể để nó qua một bên, vì quyền tể trị của Chúa Giê-xu (ta nói cùng các ngươi) bày tỏ mức giá trị cấp tiến khác mà chức phận môn đệ phải có. Nó được tóm tắt một cách lạ lùng nhưng thích hợp trong câu kết luận, Thế thì, các ngươi hãy nên trọn vẹn, như Cha các ngươi ở trên trời là trọn vẹn. Chủ nghĩa luật pháp đã bị bỏ xa phía sau, và luật pháp đã được “làm trọn”.
Chú thích. 19 huỷ không phải là một cách dịch thích hợp của từ Hi Lạp, có ý nghĩa cởi ra, nghĩa là huỷ bỏ, đó là một vấn đề về sự dạy dỗ hơn là về sự thực hành. 22 Ra-ca và đồ ngu đều là những lời lẽ hằng ngày về sự lăng mạ. Ba phần của câu đều minh họa những hậu quả của các mối quan hệ xấu; Chúng không được sắp xếp theo sự nghiêm trọng. 23-24,25-26 Hai đoạn văn không có liên hệ này minh họa nhu cầu cấp phải có hành động ngăn ngừa tại nơi có những mối tương giao bất ổn. Bàn thờ ở Giê-ru-sa-lem, một hành trình dài từ quê hương của những thính giả Ga-li-lê của Chúa Giê-xu. 29-30 So sánh 18:8-9 Chúa Giê-xu đang nói về hành động đúng đắn quyết liệt, không phải sự cắt xẻo theo nghĩa đen. 31 Phu 24:1-4 những gì phải tuân thủ tiếp theo sau một cuộc ly hôn được chứng thực (không có sự tái hôn nào của đôi vợ chồng đầu tiên nếu người vợ đã tái hôn từ đó); sự cho phép ly hôn hợp pháp được giả định hơn là xác định. 33 Đây là một tóm tắt về những quy tắc khác của Cựu Ước có liên quan đến những lời thề và lời nguyện. 39-41 Có một hương vị luật pháp đối với những minh hoạ này: một cú đấm ở má bên hữu là một sự xúc phạm nghiêm trọng có thể bị trừng phạt bằng một số tiền phạt nặng; áo xống được bảo vệ khỏi sự tịch thu qua Xu 22:25-27 và người lính La Mã được quyền trưng dụng những phu khuân vác dân sự (bắt người đi là thuật ngữ cho điều này) đã được giới hạn. Tất cả có liên hệ để việc không được quá lạm dụng quyền hạn của mình. 43 ghét kẻ thù nghịch mình không phải là một trích dẫn từ luật pháp Cựu Ước, nhưng dễ dàng được luận ra từ các đoạn như Phu 23:3-6 Thi 139:21-22
(Mat 6:1-18) Sự thực hành tôn giáo và những phần thưởng của nó Tóm tắt chung trong câu 1 được tiếp nối bởi ba minh hoạ tương tự về cách sai và đúng khi bận rộn với sự tuân giữ tôn giáo. Bố thí, cầu nguyện và kiêng ăn là những yếu tố trung tâm trong Do Thái giáo, và tất cả được cho là có giá trị đối với các môn đệ của Chúa Giê-xu. Vấn đề không phải là bạn nên thực hành chúng hay không, nhưng là thực hành ra sao và vì sao. Và nó được tập trung vào vấn đề phần thưởng, phần thưởng cho niềm tin tôn giáo phô trương là sự công nhận của con người về điều mà nó đang tìm kiếm; nhưng đó là tất cả (họ đã nhận được phần thưởng của mình đầy đủ rồi). Mặt khác, sự thực hành tôn giáo kín nhiệm, được thực hiện vì Đức Chúa Trời chứ không vì sự chấp nhận của con người, có thể trông chờ một phần thưởng trên trời. Như trong Mat 5:3-12 hãy để ý rằng không có sự ngượng ngùng về ý niệm phần thưởng.
Sự cân đối gãy gọn của ba minh họa (2-4,5-6,16-18) bị phá vỡ bằng một sự thảo luận mở rộng về sự cầu nguyện, giải thích thêm về phương pháp sai (7-8) và phương pháp đúng (9-15). Bài cầu nguyện của Chúa do đó xuất hiện không đơn giản nêu lên như một dạng nghi thức nhưng như một kiểu mẫu về sự cầu nguyện thật phải như thế nào.
Chú thích. 1 Xem ở trên 5:16 3 Đây không phải là sự giới thiệu về sự ban cho không có kế hoạch! 6 Phòng chỉ về phòng kho, có lẽ không cửa sổ và là phòng duy nhất có thể khoá được ở trong nhà, nó bày tỏ nơi ít có sự chung chạ nhất. 7 Cứ lảm nhảm diễn dịch một “từ vô nghĩa” không thấy ở một chỗ nào khác trong tiếng Hi Lạp, gợi ý điều mà chúng ta gọi là nói lắp bắp. Trọng tâm không phải ở “sự lặp lại” (như AV đã gợi ý) nhưng về sự vô nghĩa và sự ồn ào, về thái độ cầu nguyện cho rằng Đức Chúa Trời cần phải bị ép buộc chú ý. Lời cầu nguyện thật không phải là một kỹ thuật hay một sự trình diễn, nhưng là một mối liên hệ. 9-13 Bản dịch của Ma-thi-ơ về Bài cầu nguyện của Chúa dài hơn Lu 11:2-4 Bản dịch thông thường của chúng ta lại còn dài hơn, nhưng bài cầu nguyện tương tự chỉ xuất hiện trong những bản thảo về sau của Ma-thi-ơ. 14-15 Những câu này dường như gợi ý rằng sự tha thứ có được bằng cách chúng ta tha thứ kẻ khác. Tuy nhiên, hãy xem Mat 18:21-35 nơi mà mối liên hệ giữa việc tha thứ và được tha thứ, được trình bày rõ ràng hơn. Từ nợ trong câu 12 (debts) nhắc chúng ta về ví dụ đó.
(Mat 6:19-34) Của cải và sự an toàn (Lu 11:34-35 12:22-34 16:13). Một tập hợp những câu nói ngắn này (19-24) và một lý luận được chứng minh thêm (25-34) được kết hợp bằng chủ đề về của cải. Đối chiếu với những quan tâm có tính chủ nghĩa vật chất, choán sự chú ý của chúng ta gần hết thời gian, Chúa Giê-xu kêu gọi các môn đệ đặt Đức Chúa Trời trên hết, bằng cách dành ưu tiên cho những vấn đề vĩnh cửu và cũng bằng cách tin cậy Cha trên trời của chúng ta đáp ứng những nhu cầu vật chất của chúng ta trên đất này.
Các câu 19-21 tập trung vào hiểu biết của chúng ta về những ưu tiên, và chỉ ra rằng quan tâm chủ yếu về của cải vật chất không chỉ thể hiện một quan điểm sai mà còn là dại dột, vì những của cải đó không thể tồn tại lâu.
Các câu 22-23 dường như nằm ngoài vị trí từ này, nhưng chúng tuỳ thuộc vào lối chơi chữ tinh tế. Từ được Kinh Thánh NIV dịch là “good” (tốt) theo nghĩa đen là “đơn độc” nhưng nó cũng có nghĩa là sự rộng rãi, và mắt xấu ở câu 23 là một phép ẩn dụ về sự keo kiệt và sự ghen ghét. Vì thế, những câu này cũng công kích một mối bận tâm về chủ nghĩa vật chất ích kỷ và kêu gọi sự tận tâm cho Đức Chúa Trời.
Câu 24 củng cố vấn đề này. “Tiền bạc” dịch ra từ chữ “Mammon” (ma-môn) trong tiếng A-ram một thuật ngữ chung về của cải vật chất, (không nhất thiết là những lợi nhuận kiếm được một cách viện dẫn).
Có một sự giản đơn đẹp đẽ về câu 25-33, với sự hấp dẫn đối với ví dụ về loài chim và loài hoa để minh hoạ sự chăm sóc hậu hĩ của Đức Chúa Trời đối với tạo vật của Ngài. Điều bị cấm ở đây là lo lắng, không thể đáp ứng được sự chu cấp cho nhu cầu của bản thân và của gia đình; Đức Chúa Trời chu cấp lương thực cho loài chim, nhưng chúng vẫn phải tìm kiếm lương thực! Nền tảng cho sự tin quyết của môn đệ, tương phản với sự lo lắng của dân ngoại, nằm trong sự nhận biết Đức Chúa Trời là Cha các ngươi ở trên trời (32). Vậy thái độ đúng đắn là đặt Đức Chúa Trời trên hết (33) và tin cậy Ngài đáp ứng những nhu cầu thực tế của chúng ta.
Trên thế giới ngày nay, nhiều người (một số là những môn đệ Cơ Đốc) không muốn mọi nhu cầu của mình được đáp ứng. Phân đoạn Kinh Thánh này không đưa ra giải đáp cho vấn đề, nhưng chúng ta cần phải xem xét thể nào sự chu cấp của Đức Chúa Trời có liên quan đến cách sử dụng sai của con người về điều Ngài đã ban.
Chú thích. 22 Sự mô tả kỳ lạ về con mắt như đèn của thân thể có thể có nghĩa là sự sáng đó soi vào suốt thân thể, hay đúng hơn nó giúp thân thể có thể thấy đường. 27 Giơ được dịch là khắc “cubit” (45cm72) là một số đo chiều dài vật lý, giống như “gang tay” của chúng ta, có thể thực hiện chức năng như một phép ẩn dụ cho chiều dài của thời gian. 33 Dành ưu tiên cho nước Đức Chúa Trời có nghĩa là bày tỏ lòng trung thành trước hết cho Ngài là Vua; sự công bình là lối sống kết quả từ quyết định này. 34 Cách ngôn thận trọng nhưng hơi bi quan này cảnh cáo chúng ta rằng những câu trước hứa hẹn sự chu cấp cần thiết nhưng không phải thoát khỏi những khó khăn.
(Mat 7:1-6) Về việc xét đoán người khác (Lu 6:37-38,41-42). 1-5 cảnh cáo chống lại việc chỉ trích người khác mà không suy nghĩ rằng chính mình cũng có thể dễ dàng là đối tượng cho sự chỉ trích; bị xét đoán rất có thể chỉ về sự đoán xét của Đức Chúa Trời; cũng như sự đoán xét của người khác. Nhưng câu 6 cho thấy cũng có một dạng đúng về sự xét đoán mà môn đệ được kêu gọi thi hành (cũng so sánh c.15-20).
Chú thích. 6 Những vật thánh và quý giá nên được dành cho những ai có khả năng đánh giá chúng đúng. Không sự ứng dụng cụ thể nào được ngụ ý, nhưng chúng ta có thể nhớ rằng có lúc nói ra và có lúc nín lặng (Tr 3:7) lẽ thật của Đức Chúa Trời không nên bị phơi bày một cách không cần thiết để người ta lăng mạ và chế giễu.
(Mat 7:7-11) Sự khích lệ đối với người cầu nguyện (Lu 11:9-13). Tính bền bỉ trong sự cầu nguyện (tất cả những mệnh lệnh đều được dùng ở thì hiện tại, gợi ý việc xin, tìm và gõ liên tục, không chỉ là một thỉnh cầu đơn giản) có thể trông chờ một sự trả lời không phải vì kỹ thuật đã sử dụng mà vì Đức Chúa Trời Đấng chúng ta đang thưa chuyện. Nếu ngay cả những người cha thuộc thể, vốn là xấu (một thừa nhận về sự phạm tội theo bản chất của con người) có thể đáng tin cậy để làm điều tốt nhất cho con cái họ, thì Đức Chúa Trời có khả năng hơn dường nào? Dĩ nhiên, đây không phải là một bảo đảm rằng bất cứ lời cầu nguyện nào chúng ta muốn dâng lên đều sẽ thành công, Đức Chúa Trời chỉ ban những món quà tốt, có thể không phù hợp với những ý nghĩ của chúng ta về những gì chúng ta phải có!
(Mat 7:12) Luật vàng (6:31) câu này kết luận và tóm tắt những chỉ dẫn của Chúa Giê-xu để sống với tư cách một môn đệ. Luật pháp và lời tiên tri tiếp tục vấn đề mà chúng ta đã bắt đầu ở Mat 5:17 Để có tóm tắt khác về luật pháp và lời tiên tri, hãy xem 22:37-40 Các giáo sư khác đã đưa ra một chỉ dẫn tương tự theo hình thức tiêu cực,đừng đối xử với kẻ khác cách mà bạn không muốn bị đối xử; Hình thức tích cực của Chúa Giê-xu khắt khe hơn.
(Mat 7:13-27) Chức phận môn đệ thật và gia (so sánh Lu 13:24 6:43-46 13:25-27 6:47-49). Bốn tương phản sinh động giữa đúng và sai kết luận bài giảng này. Sự phân hoá giữa đúng và sai được rút ở những vấn đề khác nhau trong bốn bối cảnh, vì vậy toàn bộ phức hợp tạo thành một căn bản sâu sắc cho sự tự đánh giá.
Thứ nhất (13-14), một tương phản rõ ràng giữa người được cứu và kẻ hư mất; hai cửa và hai đường tuần tự dẫn đến sự hư mất và sự sống. Chức phận môn đệ thật là một địa vị thiểu số, một vấn đề chọn kia hoàn toàn nằm ngoài xu hướng được đại, nhưng đó là một vấn đề sống chết.
Thứ hai (15-20), một phần tinh tế hơn, nằm trong nhóm tự xưng là môn đệ. Tiên tri giả tự giới thiệu họ là người của nội bộ (mang lốt chiên), nhưng mục đích của họ là phá hoại (muông sói hay cắn xé). Vì vậy không phải mọi lời tiên tri mạo xưng đều phải được chấp nhận ở giá trị bề ngoài; nó phải được kiểm nghiệm và sự kiểm nghiệm không phải là lời xưng nhận của các tiên tri nhưng là trái của họ. Ý nghĩa của trái không được nói rõ, nhưng những ẩn dụ xuất hiện vài lần trong Ma-thi-ơ để chỉ ra hành vi thực sự làm đẹp lòng Đức Chúa Trời (so sánh Mat 3:8-10 12:33-37 21:43).
Thứ ba (21-33), và triệt để hơn, chúng ta được giới thiệu về những người hiển nhiên tin chính mình là môn đệ thật và có thể trình ra những hoạt động có sức lôi cuốn của họ để chứng minh điều đó, nhưng hoá ra không có mối liên hệ thật nào với Chúa Đấng họ thỉnh cầu. Tiên tri giả ở câu 15 là những kẻ lừa dối, nhưng những kẻ này tự lừa dối mình. Sự chấp nhận không tuỳ thuộc nơi lời xưng nhận, thậm chí cũng không phải hoạt động Cơ Đốc ở bề ngoài, nhưng tùy thuộc nơi Chúa Giê-xu biết họ hay không. Hãy chú ý quyền hạn đặc biệt mà Ngài đảm nhiệm với tư cách quan án, vào nước thiên đàng tùy thuộc nơi sự công nhận của Ngài và cốt ở hành động ở với Ngài.
Cuối cùng (24-27), xa hơn nữa là phần về căn bản của tư cách đạo đức. Cả người khôn ngoan và người dại đều được miêu tả với tư cách đang nghe lời ta phán đây, sự khác nhau là ở chỗ áp dụng chúng vào “thực tiễn” (so sánh “trái” của c.16-20). Vì vậy, phần này cũng vận hành giữa những người thuộc phạm vi của Chúa Giê-xu. Bởi đó toàn bộ phần kết luận này của bài giảng để lại cho chúng ta một đòi hỏi khe khắt là phải xem xét không chỉ vấn đề chúng ta xưng nhận, nhưng liệu nó có đặt căn bản trên một mối liên hệ thật với Chúa Giê-xu và có tác dụng trong đời sống của một môn đệ thật hay không.
Chú thích. 15 tiên tri giả thật quen thuộc trong Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước. So sánh Phu 13:1-5 Gie 23:9-32 Mat 24:11,24 IGi 4:1-3 21 Chúa dịch từ kyrios cho đến nay được sử dụng chỉ như một danh hiệu cho Đức Chúa Trời.Trong ngôn ngữ Hi Lạp thường nhật, nó là một thuật ngữ bình thường về cách xưng hô lịch sự và được sử dụng thông thường như vậy trong các sách Phúc Âm. Tuy nhiên ở đây nó rõ ràng là một dấu hiệu về lòng trung thành, thậm chí về sự thờ phượng. 22 Ngày đó chỉ về sự đoán xét cuối cùng.
(Mat 7:28-29) Kết luận (so sánh Mac 1:21-22). Thể thức thông thường để kết luận những bài giảng trong sách Ma-thi-ơ ở đây được mở rộng để chú ý phản ứng của thính giả. Sự tương phản được rút ra trong Mat 5:21-47 đoạn mà thẩm quyền của Chúa Giê-xu được bày tỏ qua ý muốn Ngài khi tuyên bố đơn giản “ta phán cho các ngươi”, không giống như các thầy dạy luật. Những yêu cầu kết luận của bài giảng đã củng cố ấn tượng này. Chúa Giê-xu phải được chú ý và yêu cầu một đáp ứng. Hai chương sau tiếp tục bày tỏ thẩm quyền này được thực hiện bằng hành động không chỉ bằng lời nói.
3. Một tập họp những phép lạ của Chúa Giê-xu (Mat 8:1-9:34)
Ở đây Ma-thi-ơ đã thu thập chín câu chuyện về phép lạ (một trong số đó chứa đựng hai phép lạ được kết hợp với nhau 9:18-26). Chúng được sắp xếp thành ba nhóm chứa ba phép lạ (8:1-17 8:23-9:8 9:18-34), với những đoạn ngắn xen giữa tập trung về những yêu cầu của việc đi theo Chúa Giê-xu (8:18-22 9:9-17), Ma-thi-ơ kể những câu chuyện ngắn gọn hơn nhiều so với Mác, bỏ qua hầu hết chi tiết sinh động và tập trung sự chú ý vào chính Chúa Giê-xu. Ấn tượng có được là ấn tượng về quyền hạn vô đối, được nhìn thấy qua quyền năng của Chúa Giê-xu trên bệnh hoạn, ma quyền và sức mạnh thiên nhiên cùng qua đáp ứng triệt để mà Ngài đòi hỏi những người theo Ngài. Tất cả điều này bổ sung cho thẩm quyền mà Ngài đã bày tỏ qua sự dạy dỗ ở bài giảng thứ nhất.
(Mat 8:1-17) Ba phép lạ chữa bệnh (Mac 1:40-45,29-34 Lu 5:12-16 7:1-10 4:38-41). Ba câu chuyện này được xếp chung nhóm để dẫn đến công thức trích dẫn rút ra ý nghĩa của chúng trong câu 17. Chúng được liên kết xa hơn bởi sự kiện mà mỗi người được chữa lành đều thuộc về một nhóm người bị loại trừ khỏi đời sống đầy đủ trong xã hội một người phung, một người ngoại và một người phụ nữ!
Sự kiện Chúa Giê-xu rờ một người phung là một sự bày tỏ mạnh mẽ về ý muốn của Ngài đặt mối quan tâm yêu thương trên sự cấm kỵ của xã hội. Mệnh lệnh hãy đi tỏ mình cùng thầy cả (như Le 14:10-32 yêu cầu) được sử dụng như một sự làm chứng cho họ về sự tôn trọng của Chúa Giê-xu đối với luật pháp và về quyền năng chữa bệnh của Ngài với tư cách Đấng Mết-si-a. Nhưng mệnh lệnh cân bằng chớ nói cùng ai nhắc nhở chúng ta về nguy cơ lôi cuốn sự nhiệt tình của công chúng vì những lý do sai lầm.
Thầy đội và đầy tớ ông là những quân nhân không phải là người Do Thái trong quân đội đang chiếm đóng. Ẩn đằng sau sự do dự của người này khi được Chúa Giê-xu thăm viếng là vấn đề mối liên hệ giữa dân Do Thái và dân ngoại: một giáo sư Do Thái không thể bị ngờ làm ô uế bản thân bằng cách bước vào một nhà người ngoại. Tuy nhiên, sự chấp nhận đơn giản của ông bằng biệt ngữ của quân nhân về thẩm quyền thực tế của Chúa Giê-xu đối với bệnh tật là chứng cớ của một đức tin vượt xa đức tin của bất kỳ ai trong Y-sơ-ra-ên. Bằng cách kể đến lời nói gây ấn tượng của Chúa Giê-xu trong câu 11-12 (so sánh Lu 13:28-29), Ma-thi-ơ rút ra những ngụ ý về sự tương phản này đối với sự phát triển dân Đức Chúa Trời trong tương lai. Có nhiều người từ đông phương tây phương sẽ đến (và “tín hữu” người ngoại này là một người đầu tiên trong số đó) và hiệp với các thánh tổ Do Thái tại bàn tiệc của Đấng Mết-si-a, nơi mọi dân Do Thái trông chờ được hưởng ngay. Tuy nhiên, ngay lúc những đối tượng của bổn quốc Do Thái những người không dự phần đức tin này của người ngoại sẽ thấy mình ở ngoài, ở nơi mà đại chúng cho là của dân ngoại. Căn bản của sự được tiếp nhận vào nước thiên đàng không còn là nguồn gốc chủng tộc nhưng là đức tin. Sự chữa bệnh từ xa hiếm có (so sánh Mat 15:21-28 cũng liên quan đến một “bệnh nhân” người ngoại) do đó là một đáp ứng thích hợp đối với đức tin của người ngoại này (13).
Câu chuyện đơn giản về sự chữa lành bà gia Phi-e-rơ sau đó dẫn vào một tóm tắt chung về chức vụ chữa bệnh của Chúa Giê-xu ở Ca-bê-na-um (trụ sở nhà của Chúa Giê-xu suốt chức vụ Ngài như người Ga-li-lê, 4:13). Hãy chú ý sự phân biệt rõ ràng giữa tình trạng quỷ ám với bệnh tật và những thuật ngữ khác nhau được sử dụng cho sự chữa trị chúng. Bằng cách mô tả chức vụ giải cứu như một sự ứng nghiệm Es 53:4, Ma-thi-ơ nhắc chúng ta rằng có nhiều vấn đề về nhiệm vụ của tôi tớ Đức Chúa Trời chớ không chỉ là sự chuộc tội, đó là trọng tâm của 53:1-12 Nó cũng bao gồm nhu cầu thuộc thể của chúng ta.
Chú thích. 2 Thuật ngữ bệnh phung (leprosy) được sử dụng cho nhiều loại bệnh về da; không phải tất cả đều nghiêm trọng và dễ lây như nhau. 14 Nhà Phi-e-rơ có lẽ là nhà của Chúa Giê-xu ở Ca-bê-na-um. 17 Những danh từ Hê-bơ-rơ trong 53:4 theo nghĩa đen thật sự chỉ về sự đau khổ thuộc thể, cho dù mạch văn gợi ý rằng chúng được sử dụng chủ yếu theo một nghĩa ẩn dụ.
(Mat 8:18-22) Cái giá của chức phận môn đệ (Lu 9:57-60). Ma-thi-ơ duy trì sự phân biệt giữa đám đông những người có quan tâm nhưng không cam kết và các môn đệ, sự cam kết của họ đối với Chúa Giê-xu đòi hỏi quyền ưu tiên. Họ đã dự phần không nơi cư ngụ của Ngài khi đi khắp Ga-li-lê, và thậm chí những trách nhiệm gia đình đã phải chiếm vị trí thứ yếu. Điều đáng ngạc nhiên là ngay cả việc xin phép về chôn cha cũng bị Đức Chúa Giê-xu từ chối. Đây là một nghĩa vụ thiêng liêng của một người con trai, chiếm ưu tiên trên tất cả các cam kết bình thường. Kẻ chết là một mô tả tổng quát về những ai ở ngoài nhóm môn đệ như những người thiếu sự sống thuộc linh. Không kém gì một đòi hỏi, ngôn ngữ này không thoả hiệp được mức khó chịu.
(Mat 8:23-27) Thẩm quyền đối với thiên nhiên (Mac 4:36-41 Lu 8:22-25). Đây là “phép lạ thiên nhiên” đầu tiên trong Ma-thi-ơ, cho thấy Chúa Giê-xu thực hiện cùng một quyên năng trên thiên nhiên được Thi 107:23-30 quy cho Đức Chúa Trời. Phản ứng của các môn đệ (so sánh 107:31-32) thêm vào một mưc độ mới cho sự ghi chép của Ma-thi-ơ về thẩm quyền của Chúa Giê-xu. Nhưng dù câu chuyện được ghi lại chủ yếu vì mục đích này, việc Ma-thi-ơ đề cập các môn đệ theo Ngài (23) lặp lại ngôn ngữ của phân đoạn trước, gợi ý ông có thể cũng đã thấy đó như một minh họa về chức môn đệ: Khi bão tố xảy đến, đức tin nơi quyền năng cứu rỗi của Chúa Giê-xu sẽ được ban thưởng. Ma-thi-ơ thường cảnh cáo về nguy cơ của sự ít đức tin (26; so sánh Mat 6:30 14:31 16:8 17:20).
(Mat 8:28-34) Sự đuổi quỉ ngoạn mục (Mac 5:1-20 Lu 8:26-39). Mặc dù những sự đuổi quỉ đã được đề cập trong những thuật ngữ chung, bản tường thuật đặc biệt đầu tiên này về một sự đuổi quỉ cho thấy thêm một chiều kích khác của thẩm quyền của Chúa Giê-xu: sự điều khiển của Ngài trên những thực thể siêu nhiên. Sự tường thuật của Ma-thi-ơ tóm tắt tối đa câu chuyện, bỏ đi hầu hết chi tiết riêng và tập trung vào xung đột giữa Chúa Giê-xu và các quỉ. Do sự hiểu biết siêu phàm, chúng nhận biết Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời, nhưng dù là thật lời chứng này không được hoan nghênh vì một nguồn gốc như vậy.
Mác và Lu-ca chỉ đề cập một người bị quỉ ám, nhưng ở đây Ma-thi-ơ (như trong Mat 20:30 so sánh 9:27) nói có hai người, có lẽ vì câu chuyện được ghi lại như một lời chứng về quyền năng của Chúa Giê-xu và theo luật pháp Do Thái thì cần phải có hai nhân chứng.
Đây là địa phận dân ngoại (do đó có sự hiện diện của bầy heo). Ma-thi-ơ không đề cập sự đáp ứng nào khác hơn ước muốn đuổi người khách phá hoại này! Ông cũng không bày tỏ bất cứ sự quan tâm nào về cái chết của bầy heo hoặc sự thiệt hại kinh tế của chủ chúng. Có thể sự giải phóng cho hai người được cảm nhận là quan trọng hơn. Nhưng câu chuyện được kể chủ yếu để bày tỏ Chúa Giê-xu trong xung đột đắc thắng với một quyền lực mạnh mẽ khác thường của ma quỉ.
Chú thích. 28 Ga-đa-ra là một thị trấn Hi Lạp kiểm soát địa phận phía đông hồ Ga-li-lê. 29 Kỳ định đề cập đến niềm tin của dân Do Thái cho rằng ma quỉ phải bị trừng phạt trong sự phán xét sau cùng.
(Mat 9:1-8) Sự chữa bệnh và sự tha thứ (Mac 2:1-12 Lu 5:17-26). Ma-thi-ơ không đề cập ngôi nhà đông người và cái lỗ trên mái nhà. Mối quan tâm của ông ở cuộc đối thoại. Sự liên quan giữa bệnh tật và tội lỗi không được cho là có quan hệ nhân quả; nhưng quyền năng ban sự chữa lành thuộc thể được sử dụng như chứng cớ về thẩm quyền lớn hơn để ban sự giải cứu thuộc linh. Một chiều khác do đó được thêm vào sự ghi chép về thẩm quyền của Chúa Giê-xu. Lời buộc tội lộng ngôn là vì chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể tha tội, một người tuyên bố có quyền làm như vậy tức là đặt mình ngang hàng Đức Chúa Trời. Nhưng Chúa Giê-xu làm vậy với tư cách Con người, một danh hiệu kết hợp có vẻ nghịch lý nhân tính của Ngài với thẩm quyền tối cao được miêu tả trong Da 7:13-14
Chú thích. 5 Rõ ràng là thật dễ nói “tội lỗi ngươi đã được tha”, vì không có yêu cầu kết quả rõ rệt nào. Nhưng nếu lời của Chúa Giê-xu “Hãy đứng dậy và đi” rõ ràng có hiệu lực, người nghe có thể cho rằng lời nói khác của Ngài cũng không phải là một lời lừa gạt. 8 Từ người ta số nhiều gây bất ngờ, vì chính quyền phép độc nhất của Chúa Giê-xu đã được bày tỏ. Có lẽ nó mang ý nghĩa là “cho Chúa Giê-xu với tư cách con người”.
(Mat 9:9-17) Phá vỡ sự cổ hủ (Mac 2:14-22 Lu 5:27-38). Câu 3 là ghi chép đầu tiên về sự chống đối Chúa Giê-xu của các thầy thông giáo Do Thái. Ở đây chúng ta thấy những lý lẽ khác cho sự thù địch của các chức sắc tôn giáo (ở đây là những người Pha-ri-si). Cả trong nhóm người cùng đi đáng ngờ mà Ngài có được (9-13) và trong thái độ có vẻ lơi lỏng của Ngài đối với nhiệm vụ kiêng ăn theo truyền thống (14-17). Chúa Giê-xu đã chạm đến ý thức của họ về sự ưu tiên. Nhưng qua điều này Ngài chủ ý thách thức và thay thế hiểu biết lỗi thời của họ về ý muốn Đức Chúa Trời.
Những người thâu thuế không những bị tai tiếng về sự bóc lột mà còn bị khai trừ về mặt tôn giáo và chính trị như những kẻ cộng tác với chính quyền Rô-ma ngoại đạo. Đối với một người Do Thái tin kính, ăn với họ là điều không thể tưởng được như vậy. Lời đáp của Chúa Giê-xu trong câu 12-13 trình bày một quan điểm đối lập: một người chữa bệnh phải “bị bẩn tay” và một nhiệm mạng cứu rỗi không thể thực hiện được bằng cách ở giữa nhóm người đáng kính. Lời trích dẫn của Ngài từ Os 6:6 (được sử dụng lại trong Mat 12:7) chỉ ra rằng ưu tiên của Đức Chúa Trời là tình yêu quý giá hơn nghi lễ chu đáo.
Lời đáp cho câu hỏi về sự kiêng ăn (Chúa Giê-xu không phản đối chính nó 6:16-18) bày tỏ cùng một sự thay đổi về quan điểm. Những quy tắc thông thường của tôn giáo cũ phải nhường chỗ cho niềm vui về những điều đổi mới. Miếng nỉ và rượu mới là những hình ảnh về mối liên hệ mới với Đức Chúa Trời thật mạnh mẽ và sôi sục, nổ tung khỏi ranh giới khô hạn của tôn giáo thông thường.
Chú thích. 9 Ma-thi-ơ là Lê-vi trong Mác và Lu-ca. Ông là một dạng nhân viên hải quan tại thị trấn biên giới Ca-bê-na-um. 15 Đây là một ngụ ý đầu tiên về sự chết sắp đến của Chúa Giê-xu.
(Mat 9:18-26) Khiến người chết sống lại (Mac 5:21-43 Lu 8:40-56). Ở đây vẫn là một sự bày tỏ càng cao hơn về thẩm quyền của Chúa Giê-xu. Thậm chí sự chết phải chịu phục Ngài. Sự tóm tắt câu chuyện một cách triệt để của Ma-thi-ơ (23 câu trong Mác, 9 câu trong Ma-thi-ơ!) gợi ý rằng con gái viên quản lý đã chết rồi thì ông mới thực hiện lời cầu xin, chớ không phải cô gái chết trong khi Chúa Giê-xu đang trên đường đi. Nếu là vậy, lời cầu xin của ông đáng chú ý nhiều hơn. Vì vậy, Ma-thi-ơ rõ ràng không muốn chúng ta hiểu những lời của Chúa Giê-xu trong câu 24 theo nghĩa đen như sự chỉ ra một chẩn đoán sai (như chúng có thể bị hiểu sai trong bản ghi chép của Mác), Ngài hẳn muốn nói rằng dù sự chết của cô gái, là thật, nhưng không phải là vĩnh viễn.
Được lồng vào trong câu chuyện là phép lạ chữa bệnh khác, một rối loạn kinh nguyệt vô phương cứu chữa. Mong ước của người đàn bà muốn rờ áo Ngài có thể cho thấy một quan điểm máy móc hơn về quyền năng chữa bệnh của Chúa Giê-xu, nhưng nó nổi lên từ một đức tin đủ để bật ra lời khen của Chúa Giê-xu và sự lành bệnh của bà.
Chú thích. 20 Sự rong kinh làm cho bà trở nên ô uế về mặt nghi thức, do đó thậm chí rờ trôn áo Ngài cũng gợi lên sự cự tuyệt phẫn nộ của một người Do Thái tin kính. Cũng như với người phung (Mat 8:3), Chúa Giê-xu đã bỏ qua sự cấm kỵ. 23 Những người thổi sáo là một phần bình thường của nghi thức tang lễ.
(Mat 9:27-31) Hai người mù Câu chuyện ngắn này rất tương tự với câu chuyện trong 20:29-34 Sự kêu cầu Chúa Giê-xu với tư cách con cháu vua Đa-vít nghĩa là Đấng Mết-si-a, thường xuất hiện trong những ghi chép của Ma-thi-ơ về sự chữa bệnh. Nó chỉ ra một đức tin mà Chúa Giê-xu thử nghiệm bằng câu hỏi trong câu 28 và là cơ sở của sự lành bệnh của họ. Mệnh lệnh giữ kín việc lành bệnh (so sánh 8:4) đòi hỏi nhiều: Làm sao bạn giấu giếm việc chữa lành một người mù? Nhưng rõ ràng họ thậm chí đã không cố gắng. Có một sự căng thẳng không tránh khỏi giữa ước muốn của Chúa Giê-xu muốn tránh sự công khai không thích hợp và sự làm chứng mạnh mẽ mà những phép lạ của Ngài bày tỏ Ngài là ai (so sánh 11:2-5).
(Mat 9:32-34) Sự đuổi quỉ dẫn đến một sự tố cáo Tình tiết nhỏ này cũng có một đoạn tương tự dài hơn sau đó (12:22-24) nơi mà sự tố cáo về việc thông đồng với Sa-tan được triển khai và giải đáp. Ở đây sự bóp méo mới đầy nham hiểm của sự thù địch công khai đối với Chúa Giê-xu mới chỉ được ghi nhận. Ma-thi-ơ đã phân biệt một cách bình thường giữa tình trạng quỉ ám và sự tàn tật thuộc thể, ở đây điều này dường như dẫn đến điều kia, nhưng ngôn ngữ vẫn là ngôn ngữ đuổi quỉ. Phản ứng của đám đông trong câu 33 tóm tắt ấn tượng mà những phép lạ trong chương 8-9 đã tạo nên.
4. Bài giảng thứ hai: sứ mạng của các môn đệ (Mat 9:35-10:42)
(Mat 9:35-38) Những con gặt cho mùa gặt (so sánh Mac 6:34 Lu 10:2). Đoạn nhỏ này tạo thành một chiếc cầu giữa câu chuyện chức vụ của Chúa Giê-xu trong chương 5-9 (được tóm tắt trong câu 35) và phần mở rộng chức vụ đó đối với các môn đệ Chúa trong chương 10. Nhu cầu quá lớn để Chúa Giê-xu đáp ứng một mình, vì vậy Ngài kêu gọi một số môn đệ thân thiết nhất giúp Ngài đáp ứng. Cơ sở của nhiệm vụ này ở trong lòng thương xót, một từ mạnh mẽ dành cho một đáp ứng đầy cảm động luôn dẫn đến hành động chăm sóc. Hình ảnh mùa gặt (giống như hình ảnh đánh cá trong Mat 4:19) cũng gợi ý sự kêu gọi thu phục các môn đệ mới. Đây là sự quan tâm của Đức Chúa Trời, là Chúa mùa gặt và vì vậy Ngài có thể đáng được cầu xin để có những con gặt cần thiết. Đáng chú ý là những ai được kêu gọi cầu nguyện, đều được sai phái trong đoạn kế tiếp!
(Mat 10:1-4) Mười hai sứ đồ (so sánh Mac 6:7 3:13-19 Lu 9:1 6:13-16 Cong 1:13). Môn đồ (Apostle) nghĩa là “được sai phái” và vì vậy rất thích hợp ở đây. Đây là cách sử dụng từ duy nhất của Ma-thi-ơ, thường thì ông gọi những người đi theo Chúa Giê-xu là “các môn đệ” hoặc “12 môn đệ”. Quyền năng được ban cho họ để chống ác linh và bệnh tật là sự mở rộng của chính quyền năng Chúa Giê-xu, và trong câu 7 nhiệm vụ rao giảng sứ điệp của Ngài cũng được thêm vào. Năm người trong nhóm này đã xuất hiện trong câu chuyện (Mat 4:18-22 9:9). Người ta biết rất ít về những người khác với tư cách cá nhân, trừ Giu-đa Ích-ca-ri-ốt. Tha-đê thậm chí xuất hiện dưới một cái tên khác (Giu-đa, con Gia-cơ) trong danh sách của Lu-ca. Chính với tư cách một nhóm, không phải những cá nhân, họ đã đóng vai trò chính trong những ngày đầu của phong trào Chúa Giê-xu.
(Mat 10:5-16) Những chỉ dẫn cho nhiệm vụ (so sánh Mac 6:8-11 Lu 9:2-5 10:3-12). Ở đây “bài giảng” bắt đầu. Đó là một mệnh lệnh cụ thể cho một nhiệm vụ giới hạn, và chúng ta phải thận trọng áp dụng nó một cách đơn giản cho nhiệm vụ Cơ Đốc trong mọi hoàn cảnh.
Sự hạn chế gây bất ngờ trong câu 5-6 song song với sự giới hạn chức vụ của Chúa Giê-xu đối với những con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên trong Mat 15:24 Rõ ràng đây không có nghĩa là một sự thu hẹp cố định, theo sự rời rộng của Chúa Giê-xu đối với những người không phải là Do Thái trong 8:5-13 15:21-28 và theo những chỉ dẫn rõ ràng của Ngài trong 28:19-20 Tuy nhiên, đó là yêu cầu cấp thiết đối với dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời, là mục đích chủ yếu của chức vụ Chúa Giê-xu khi còn ở trên đất. Sau sự phục sinh mọi sự sẽ khác.
Sứ điệp của các môn đệ trong câu 7 là sứ điệp của Chúa Giê-xu trong 4:17 và chức vụ của họ trong câu 8 tương đương những hành động của Chúa được chép trong chương 8-9 (kể cả việc khiến kẻ chết sống lại!).
Các câu 8b-10 áp dụng nguyên tắc của 6:25-34 đối với nhiệm vụ. Nếu môn dồ Chúa Giê-xu sắp làm công việc của Đức Chúa Trời, họ có thể trông chờ sự chu cấp của Ngài (người làm việc đáng được đồ ăn) và không cần chuẩn bị chu đáo cho những nhu cầu vật chất của họ trên đường; công tác quá cấp bách. Họ và chúng ta phải coi chừng tính vụ lợi khi tiếp cận với chức vụ Cơ Đốc (8b).
Phương tiện sinh sống cần thiết (hơn là tiền công cho sự phục vụ được chi trả) sẽ được chu cấp không phải bởi phép lạ nhưng bởi lòng mến khách thích đáng (11-15). Tiêu chuẩn chào bình an (vẫn được dùng bằng tiếng Hê-bơ-rơ và tiếng A-rập ngày nay) không chỉ là hình thức nhưng dùng để nhận biết một chủ nhà xứng đáng. Nơi mà nó gặp phải một sự thiếu ân cần, nó sẽ trở về chỗ cũ (giống như một ngân phiếu không được lãnh!). Đôi khi cũng phải lường đến sự từ chối và phải chấp nhận; nhưng phủi bụi đã dính chân là xem nhà hoặc thành đó như một nơi đã chối từ các sứ giả của Đấng Mết-si-a, và vì vậy đã chín muồi cho sự đoán phạt.
Các môn đệ trong một xã hội thù địch rất dễ bị tổn thương như chiên giữa bầy muông sói. Để sống và hoàn thành nhiệm vụ, họ phải khôn khéo mà không gây tai hại, đơn sơ mà không cả tin.
Chú thích. 10 Mac 6:8-9 cho phép cả giầy lẫn gậy. Từ được dịch là mang ở đây trong Ma-thi-ơ thường có nghĩa là “kiếm được”. Vì vậy, phải chăng sự cấm đoán không phải về việc sử dụng trang bị đi đường cần thiết thông thường nhưng về việc mua thêm?
(Mat 10:17-39) Cảnh cáo về sự chống đối và bắt bớ (so sánh 13:9-13 4:22 Lu 21:12-19 12:2-12,51-53 6:40 14:25-27). Sự chú tâm vẫn là về nhiệm vụ ở Ga-li-lê của 12 môn đệ (c.23) nhưng bài giảng tiếp tục bằng những nguyên tắc thông thường hơn có thể áp dụng cho các môn đệ gặp sự chống đối.
Sự chống đối này có thể có sự công khai đồng ý (17-18), nhưng do nó xảy đến vì cớ ta, nó cho một cơ hội để làm chứng. Trong những hoàn cảnh đe doạ như vậy, các môn đệ có thể cậy sự giúp đỡ của Thánh Linh của Cha các ngươi và bởi đó không cần lo lắng (so sánh Mat 6:25-34). (Tuy nhiên, đây không phải là một đặc quyền cho sự chuẩn bị không thích đáng về bài giảng!). Ngay cả những mối liên hệ gia đình cũng sẽ có ảnh hưởng, và câu 22 mở rộng sự chống đối đến mọi người. Theo Chúa Giê-xu không phải là một con đường dẫn đến sự nổi tiếng và uy thế; nó dẫn đến một cuộc sống luôn bận rộn (23a), nhưng câu 23b bảo đảm với 12 môn đệ rằng nhiệm vụ của họ sẽ không hoàn tất trước khi Con Người đến (xem ghi chú). Tuy nhiên, họ thường bị từ chối, nên sẽ luôn có nhiều thành của dân Y-sơ-ra-ên để đem sứ điệp đến.
Các câu 26-33 đều nói về phương diện đúng và sai của việc sợ. Sợ sự chống đối của con người là hiểu các sự việc không đúng khía cạnh của chúng, vì con người không thể làm gì hơn giết thân thể. Nhưng Đức Chúa Trời có thể hủy diệt cả linh hồn và thân thể trong địa ngục. Các môn đệ vì vậy phải càng sợ mất Ngài do che đậy lẽ thật mà đương nhiên trong bất cứ trường hợp nào cũng phải được rao ra công khai (26-27). Tuy nhiên, cũng chính Đức Chúa Trời không chỉ có thể huỷ diệt mà còn duy trì được. Trong ý muốn Ngài thì không cần thiết để sợ hãi (29-31). Cuối cùng là một chọn lựa đơn giản về sự trung thành, có những hệ quả đời đời (32-33).
Trong những câu 34-39 cái giá của chức phận môn đệ được trình bày qua những thuật ngữ rõ rệt. Câu 34 tương phản nổi bật với 5:9 có một số sự việc quan trọng hơn sự bình an. Lòng trung thành với Chúa Giê-xu đôi khi có thể gây mâu thuẫn thậm chí trong một gia đình (Mi 7:6), và nếu vậy thì những tuyên bố của Ngài phải đến trước. Ngôn ngữ về việc vác thập giá theo Chúa Giê-xu sẽ được làm rõ hơn trong Mat 16:21-28 Đó là ngôn ngữ về sự tuận đạo, như câu 39 cho biết.
Tất cả điều này nghe có vẻ rất cực đoan, khi được đọc trong sự an toàn thoải mái của một xã hội ít ra cũng khoan dung đối với sự cam kết Cơ Đốc. Tuy nhiên, ở một số nơi trên thế giới, thậm chí ngày nay nó chỉ rất thích hợp theo nghĩa đen. Và sự mâu thuẫn với sự phân rẽ mà Chúa Giê-xu cảnh cáo rất thực tế đối với vác môn đệ, ngay cả nơi mà đời sống họ không có nguy hiểm. Bạn không thể theo Chúa Giê-xu mà không phải thực hiện những chọn lựa có tính quyết định đâu là lòng trung thành tuyệt đối của bạn.
Chú thích. 18 Quan tổng đốc, vua và dân ngoại chỉ về những phạm vi rộng hơn của chức vụ Cơ Đốc sau này, không chỉ là chức vụ của 12 môn đệ ở Ga-li-lê. 23 Ngôn ngữ nói về sự “đến” của Con Người bắt nguồn từ Da 7:13-14 nơi mà Ngài “đến” với Đức Chúa Trời để nhận quyền tối cao, ở đó nó không chỉ về một sự đến trên đất, lại càng không phải là “sự đến thứ 2” của Chúa Giê-xu. Vậy, cách diễn đạt đó hướng đến sự lên ngôi của Con Người trong quyền năng (mà chúng ta thấy được ứng nghiệm qua sự sống lại ở Mat 28:18). Nhiệm vụ của các môn đệ đối với dân Y-sơ-ra-ên sẽ không hoàn tất trước điều đó. 25 Về Bê-ên-xê-bun so sánh 12:24 và 9:34 29-31 Những câu này không hứa sự miễn chết (loài chim sẻ vẫn chết, nhưng chỉ trong ý muốn Cha), nhưng bảo đảm rằng thậm chí khi ấy Đức Chúa Trời vẫn tể trị.
(Mat 10:40-42) Đại diện Chúa Giê-xu (so sánh Mac 9:37,41 Lu 9:48 10:16). Sau những cảnh cáo nặng nề ở những câu trước, đây là một sự tiếp rước dễ chịu, đại diện Chúa Giê-xu là một đặc quyền cũng như một nguy hiểm. Tương phản với sự chống đối vừa được xét qua là sự tiếp nhận vui mừng dành cho các sứ giả của Chúa Giê-xu và sự bảo đảm về phần thưởng cho những ai làm vậy. Nhóm từ những đứa trẻ sẽ được nhắc lại trong Mat 18:1-14 (so sánh 11:25 25:40,45). Nó không chỉ về những đứa trẻ nhưng chỉ về các môn đệ nói chung, vì họ dự phần nguy hiểm và địa vị thấp kém của trẻ con.
Chú thích. 42 Cho một chén nước lạnh là lòng mến khách cơ bản ở đông phương và không cần phần thưởng, nhưng ân điển Đức Chúa Trời vượt xa điều chúng ta đáng được.
5. Đáp ứng khác nhau đối với chức vụ công khai của Chúa Giê-xu (Mat 11:1-12:50)
Cho đến bây giờ phần tường thuật của Ma-thi-ơ đã tập trung sự chú ý chủ yếu vào chính Chúa Giê-xu, dù sự ngạc nhiên của các môn đệ lẫn đám đông về quyền phép Ngài đã được chú ý đến. Giờ đây Ma-thi-ơ nhìn xem đầy đủ hơn sự đáp ứng của con người đối với chức vụ của Chúa Giê-xu, xếp từ sự nhận biết vui mừng của “những trẻ nhỏ” (Mat 11:25) đến lời buộc tội nham hiểm về sự thông đồng với Sa-tan (12:24). Giữa nhiều mức độ cực đoan khác nhau về sự nhiệt tình, sự thù địch hoặc sự bối rối hoàn toàn được ghi lại, vì vậy lúc chúng ta đi đến bài giảng thứ 3 (nhấn mạnh về phần kết quả do từ chức vụ của Chúa Giê-xu), Ma-thi-ơ đã chuẩn bị tốt lý lẽ.
(Mat 11:1-19) Giăng Báp-tít và Chúa Giê-xu (Lu 7:18-35). Sự đề cập cuối cùng về Giăng Báp-tít là việc ông bị bỏ tù (Mat 4:12). Dường như từ trong ngục, ông đã nghe về cuộc kinh lý của Đấng mà ông đã dọn đường. Trong phân đoạn này chúng ta không chỉ thấy nhận định của Giăng về chức vụ Chúa Giê-xu (2-6) mà còn thấy nhận định của Chúa Giê-xu về Giăng (7-15) và những lời bình luận của Ngài về việc thể nào cả hai được tiếp nhận bởi nhiều người (16-19).
Câu hỏi của Giăng (3) gợi ý rằng ông ngạc nhiên bởi phong cách của chức vụ của Chúa Giê-xu. Sự đoán xét kinh khiếp mà chính ông đã rao ra (3:11-12) vẫn chưa rõ ràng, và mối quan tâm của Chúa Giê-xu đối với những kẻ cô thế và không quan trọng chỉ đem đến một hình ảnh “có chừng mực” khác xa những gì Giăng hy vọng. Để trả lời, Chúa Giê-xu đã kết hợp những bản văn Cựu Ước lại với nhau (chủ yếu là Es 35:5-6 61:1-2), là những bản văn tìm thấy sự ứng nghiệm rõ ràng và có thể thấy được qua những việc làm của Ngài được chép trong các chương 8-9. Không mong đợi giống như đối với Giăng, những hành động thương xót này thật sự là “những công việc của Đấng Mết-si-a” (nghĩa đen của nhóm từ những gì Đấng Christ làm; câu 2). Những ai không nhận biết những điều như vậy luôn cảm thấy Chúa Giê-xu khó hiểu (6 “vấp phạm vì cớ” theo nghĩa đen là “bị xúc phạm bởi”).
Tuy nhiên, mặc cho lời trách cứ ngụ ý này, Chúa Giê-xu tiếp tục giới thiệu Giăng là một tiên tri thật và còn hơn thế nữa. Qua sự rao giảng nghiêm khắc và trái với thói thường của ông, dân chúng đã tự nhận biết tiếng nói xác thực của người phát ngôn của Đức Chúa Trời. Nhưng, vĩ đại như vậy, Giăng vẫn chỉ là người đi trước (10, Mat 3:1). Vị tiên tri cuối cùng và vĩ đại nhất, một Ê-li trở lại, người mở đầu những ngày cuối cùng (4:5-6). Sự khởi đầu mới có tính quyết định của Đức Chúa Trời, nước thiên đàng đã bắt đầu từ Chúa Giê-xu, và Giăng chỉ đứng trên nguỡng cửa của nó (điều này được tỏ ra qua phản ứng mâu thuẫn của ông đối với Chúa Giê-xu). Hãy ghi nhận trong câu 13, ý thức mạnh mẽ của toàn bộ sự mạc khải Cựu Ứớc, luật pháp không kém hơn các tiên tri, khi chỉ về Chúa Giê-xu và tìm thấy sự ứng nghiệm nơi Ngài (so sánh Mat 5:17).
Nhưng, Giăng và Chúa Giê-xu khác nhau qua phong cách và sứ điệp, chẳng làm hài lòng người nào, như câu chuyện nhỏ khôi hài ở câu 16-19 chỉ ra lối sống khổ hạnh của Giăng bị đóng nhãn hiệu là cuồng tín, và cách tiếp cận vui vẻ của Chúa Giê-xu bị cho là đáng hổ thẹn. Nhưng sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời cao hơn thành kiến của loài người và được biện minh bởi chính những hành động mà dòng dõi này xem thường.
Chú thích. 7 Cây sậy bị gió rung có thể đơn giản chỉ về hoang cảnh sa mạc, nhưng có lẽ đúng hơn nó là một hình ảnh về loại người dễ bị tác động mà Giăng thì dứt khoát không phải vậy! 12 Bản NIV đưa ra một giải thích về câu Kinh Thánh khó hiểu này, mà cố gắng làm cho giống với Lu 16:16 Nhưng lối diễn đạt rất khác nhau và vốn có nghĩa là “nước thiên đàng đã bị ràng buộc bởi bạo lực, và những kẻ bạo lực tấn công nó”. Sự đề cập trong trường học đó chỉ về sự chống đối mạnh mẽ mà công việc thật của Đức Chúa Trời luôn tạo nên điều đã được nhìn thấy qua sự bỏ tù Giăng và chẳng bao lâu cũng được nhìn thấy qua sự công khai chối bỏ và sự thi hành án tử hình dành cho Chúa Giê-xu.
(Mat 11:20-24) Những người chối bỏ chức vụ của Chúa Giê-xu (10:12-15). Đáp ứng đầy thù địch được gợi ý trong câu 16-19 giờ đây được cụ thể hoá. Ba thành được đề cập nằm gần nhau ở cuối hồ Ga-li-lê, hướng Bắc, khu vực nơi chức vụ của Chúa Giê-xu được tập trung vào cho đến luc này. Thậm chí những thành ngoại đạo nổi tiếng gian ác mà sự đoán phạt dành cho chúng được nói đến trong Cựu Ước (Ty-rơ, Si-đôn và Sô-đôm) có lẽ sẽ dễ tiếp nhận những điều rõ ràng là công việc của Đức Chúa Trời. Hãy để ý rằng Chúa Giê-xu mong chờ chỉ những phép lạ của Ngài thôi cũng đủ khiến cho con người ăn năn huống chi những thành này đã được nghe sự rao giảng của Ngài về Phúc Âm còn nhiều biết bao!
(Mat 11:25-30) Những người nhìn nhận chức vụ của Chúa Giê-xu (10:21-22). Không phải những người quyền thế nhưng những trẻ nhỏ cùng những kẻ mệt mỏi và gánh nặng là những người đã đáp ứng với Chúa Giê-xu. Lý do nằm trong mối liên hệ đặc biệt của Chúa Giê-xu với Đức Chúa Trời, như tư cách Con với Cha. Đó là một mối liên hệ độc nhất, và vẫn là một mối liên hệ mà chúng ta có thể được tiếp nhận vào, không bởi sự lanh lợi nhưng bởi sự bày tỏ của Đức Chúa Trời. Sự khởi đầu vẫn từ Cha, Đấng tỏ ra ý nghĩa chức vụ của Chúa Giê-xu (25-26) và từ Con, Đấng tỏ bày Cha (27).
Cái ách được dùng để giảm bớt sự bực dọc trong việc mang một vật nặng. Nhưng nó cũng tượng trưng cho sự vâng phục và sự chấp nhận trách nhiệm. Các ra-bi thường nói về việc mang lấy “ách của luật pháp” và dưới sự điều khiển của họ gánh nặng đó có thể trở nên nặng nề. Ngược lại, ách của Chúa Giê-xu dễ chịu, không phải vì sự kêu gọi của Ngài đối với chức phận môn đệ ít đòi hỏi (như chúng ta đã thấy trong chương 5) nhưng vì nó khiến chúng ta trở nên những học trò của Đấng có lòng nhu mì và khiêm nhường. Chìa khoá nằm trong lời mời cá nhân, hãy đến cùng ta.
(Mat 12:1-14) Người Pha-ri-si và ngày Sa-bát (Mac 2:23-3:6 Lu 6:1-11). Hai câu chuyện này làm rõ hơn vì sao một số người cùng thời Chúa Giê-xu cảm thấy chức vụ Ngài không đáng chấp nhận. Như họ thấy, Ngài là một người cấp tiến nguy hiểm, làm suy yếu sự vâng phục luật pháp là trung tâm của tôn giáo họ. Như thế, Ngài phải bị loại trừ (14).
Cả hai câu chuyện tập trung vào luật Sa-bát. Mệnh lệnh đơn giản của Cựu Ước “hãy giữ ngày thứ bảy nên thánh” đã bị hạn chế bằng một khối lượng lớn luật mới bổ sung để quyết định điều gì được và không được phép vào ngày Sa-bát. Những hành động “bị cấm” kể cả việc bứt bông lúa và chữa bệnh nơi không có sự đe doạ trước mắt đối với sự sống. Những câu chuyện này tập trung vào việc Chúa Giê-xu không tuân theo những quy tắc “cụ thể” này; không có sự gợi ý rằng Ngài chống đối nguyên tắc ngày Sa-bát như vậy. Vấn đề là nó phải được giải thích thế nào và ai có quyền giải thích.
Trong các câu 3-8 Chúa Giê-xu khiến vấn đề này trở thành một vấn đề về quyền hạn riêng của Ngài và tuyên bố quyền miễn trừ những luật lệ như Đa-vít đã làm (ISa 21:1-6) và như các thầy tế lễ đền thờ buộc phải làm để thực hiện nhiệm vụ mình. Bằng cách đặt chính mình vào cùng một nhóm, Chúa Giê-xu quả thật xác nhận Ngài ít nhất ngang hàng với Đa-vít và tôn trọng hơn đền thờ, chính lý lẽ này sẽ được dẫn chứng thêm trong các câu 41-42. Nếu đó là địa vị Ngài, vậy chắc chắn Ngài cũng là Chúa ngày Sa-bát. Và sự gạt bỏ đầy thẩm quyền của Ngài đối với truyền thống Pha-ri-si phù hợp với nguyên tắc của Ô-sê rằng Đức Chúa Trời quan tâm đến tình yêu thương hơn là nghi lễ (7 Mat 9:13).
Việc chữa lành bàn tay teo lẽ ra có thể chờ đến một ngày khác trong tuần. Tuy nhiên, Chúa Giê-xu đã vạch trần tiêu chuẩn 2 mặt của những kẻ được chuẩn bị để thực hiện những ngoại lệ làm giảm bớt sự khó nhọc của thú vật (hoặc để tránh thiệt hại kinh tế?) nhưng không phải vì sự cứu giúp con người. Nhận định bao quát của Chúa Giê-xu làm việc lành trong ngày Sa-bát là hợp pháp tương phản nổi bật với xu hướng của người Pha-ri-si làm gia tăng những quy tắc. Chẳng có gì lạ khi họ phải chống đối một người quá công khai coi thường thẩm quyền và những nguyên tắc họ đã thừa nhận.
Chú thích. 5 Sự đề cập có thể chỉ về công việc của thầy tế lễ trong việc dâng của lễ trong ngày Sa-bát, hoặc thích đáng hơn, chỉ về việc họ thu hoạch phần dâng về những bó lúa đầu tiên, được người Pha-ri-si (không phải người Sa-đu-sê) cho phép trong ngày Sa-bát. 6 Một Đấng tôn trọng hơn là “điều gì đó cao trọng hơn” (tương tự trong Mat 12:41-42) và là một ám chỉ có thể về toàn bộ chức vụ của Chúa Giê-xu (và cộng đồng môn đệ của Ngài?) khi thay thế đền thờ như trọng tâm về sự hiện diện của Đức Chúa Trời giữa vòng dân sự Ngài.
(Mat 12:15-21) Phản ứng của Chúa Giê-xu trước sự chống đối Phản ứng của Chúa Giê-xu trước sự đe doạ đầy bạo lực là rút lui khỏi phạm vi hoạt động công khai trong thời gian này và tìm cách hạn chế sự công khai. Qua điều này, Ma-thi-ơ thấy Chúa Giê-xu làm ứng nghiệm chân dung tôi tớ của Đức Chúa Trời được mô tả trong Es 42:1-4 hiền lành và không bạo lực, nhưng cuối cùng sẽ đắc thắng. Đây là phần đầu tiên của điều gọi là “những bài ca về người đầy tớ” đã tái diễn suốt 40:1-55:12 và từ phần cuối cùng của điều Ma-thi-ơ đã minh hoạ khía cạnh khác về chức vụ bao quát của Chúa Giê-xu trong Mat 8:17
(Mat 12:22-37) Chúa Giê-xu tố cáo về sự thông đồng với Sa-tan (Mac 3:22-30 Lu 11:14-23 12:10 6:43-45). Giờ đây sự chống đối trở nên “thần học” hơn. Nhận biết quyền năng siêu nhiên của Chúa Giê-xu các đối thủ của Ngài đã gán quyền năng ấy không phải cho Đức Chúa Trời, mà cho Sa-tan. Phản ứng của Chúa Giê-xu trước tiên là chứng minh lời buộc tội mâu thuẫn ra sao, và sau đó nhấn mạnh sự nghiêm trọng của nó, là lời phạm thượng đến Đức Thánh Linh. Điều này dẫn đến một số bình luận về thể nào “lời nói” có thể đầy ý nghĩa và đáng chê trách ra sao.
Cuộc chạm trán xảy ra từ một sự đuổi quỉ tương tự với sự đuổi quỉ ở Mat 9:32-34 là đoạn Ma-thi-ơ đã chép lại cùng lời buộc tội rằng Chúa Giê-xu sử dụng ma quyền. Quyền năng hiển nhiên của Chúa Giê-xu đã đưa những người xem trung lập hơn đến chỗ gợi ý rằng Ngài là Con cháu vua Đa-vít, Đấng Mết-si-a hành động bằng quyền năng của Đức Chúa Trời. Vì người Pha-ri-si đã quyết định chống lại sự giải thích đó (12:14), họ phải tìm ra cách giải thích khác để giải thích quyền phép siêu phàm của Ngài, và họ đã tìm ra cách đó là sự thông đồng của Ngài với Sa-tan.
Sự trả lời đầu tiên của Chúa Giê-xu (25-26) đơn thuần chỉ ra đây là một ý tưởng ngờ nghệch làm sao! Sa-tan sẽ không tấn công quân của chính nó! Thứ hai (27) Ngài nhắc họ rằng Ngài không phải là người duy nhất đuổi quỉ; phải chăng họ đều liên minh với Sa-tan? Thứ ba, theo phương diện tích cực hơn (28-29), Ngài chứng minh rằng trái lại, việc tấn công của Ngài trên ác linh là một dấu hiệu về sự đến gần của nước Đức Chúa Trời và sự thất bại của Sa-tan, người mạnh sức. Vì vậy, đó là một dấu hiệu không phải về ma quyền nhưng về Thánh Linh của Đức Chúa Trời đang hành động. Do đó, có một sự phân biệt rõ ràng giữa những ai nhận biết Đức Chúa Trời đang hành động, và vì thế ở với ta (30) với những ai tỏ ra nghịch cùng ta bằng cách quy công việc của Đức Chúa Trời cho kẻ thù tinh quái của Ngài. Bởi lời phạm thượng đến Đức Thánh Linh này, họ đã tự ý đứng về bên chống đối và đặt bản thân ngoài phạm vi của sự tha thứ.
Thật quan trọng để đọc những câu 31-32 khủng khiếp trong văn cảnh của chúng. Sự ứng dụng vô thức những lời này vào các hoàn cảnh không giống với sự xuyên tạc lẽ thật có chủ ý của người Pha-ri-si, đã gây ra ưu phiền cho nhiều người dễ bị công kích. Chúa Giê-xu không nói về một sự sa ngã nhất thời nhưng về một quyết định cố hữu chống đối công việc của Đức Chúa Trời.
Tuy nhiên, câu 32-37 tiếp tục cảnh cáo chúng ta qua một loạt những bức tranh gây ấn tượng, chống lại việc nhún vai bỏ qua “những lời hư không”. Lời nói của chúng ta bày tỏ bản chất thật của chúng ta, và vì vậy thậm chí “một lời bất cẩn” có thể là một cơ sở thích đáng cho sự đoán xét.
Chú thích. 24 Bê-ên-xê-bun, “chúa ruồi” vốn là tên của một thần Ca-na-an (IIVua 1:2). Vào thời Chúa Giê-xu tên đó được dùng ở dạng Bê-ên-xê-bụt, như một tên dành cho kẻ đứng đầu các quỉ, hoặc Sa-tan. 27 Để biết các thầy trừ quỉ Do Thái khác, so sánh Mac 9:38 Cong 19:13 Những nguồn tài liệu Do Thái đề cập đến một số trường hợp như vậy. 28 Đây là một trong những nhận định rõ ràng nhất rằng qua chức vụ Chúa Giê-xu, nước Đức Chúa Trời không chỉ sắp đến mà đã hiện diện rồi và đang hành động hiển nhiên. 29 Đây là một ví dụ: để cướp một kẻ hung dữ), bạn phải chế ngự hắn trước tiên. Vì vậy những lời đuổi quỉ của Chúa Giê-xu chứng tỏ rằng Ngài đã chế ngự Sa-tan. 30 So sánh Mac 9:40 “Hễ ai không nghịch cùng chúng ta là thuộc về chúng ta”. Cả hai bản đều loại bỏ bất cứ một sự trung lập nào. 32 Sự tương phản gây ngạc nhiên này có lẽ phản ánh vấn đề rằng ngay cả các môn đệ của Chúa Giê-xu cũng đã mất thời gian để nhận biết Ngài là Con Người, trong thân xác trần gian của Ngài.
(Mat 12:38-45) Một sự cảnh cáo cho “dòng dõi này” (Lu 11:16,24-26,29-32). Yêu cầu về một dấu lạ tái hiện trong Mat 16:1-4 Ở đây nó đương nhiên theo sau cuộc tranh luận từ trước; nếu Chúa Giê-xu tuyên bố rằng quyền năng Ngài từ Đức Chúa Trời, Ngài phải chứng minh điều đó. Chủ nghĩa hoài nghi nhấn mạnh yêu cầu này là dấu hiệu của dòng dõi này (so sánh 11:16-19) và sự tái hiện nhóm từ này trong các câu 39, 41, 42, 45 liên kết đoạn nhỏ này với nhau.
Sự từ chối của Chúa Giê-xu về bất kỳ dấu lạ nào theo yêu cầu được dựa trên một khái niệm rộng hơn về quyền năng Ngài với tư cách Đấng tôn trọng hơn Giô-na hoặc Sa-lô-môn (so sánh câu 6 về lý lẽ giống nhau có liên quan đến đền thờ và các thầy tế lễ). Nếu ngay cả những kẻ ngoại đạo còn có thể nhận biết sự hiện diện của Đức Chúa Trời qua những con người cao trọng đó trong Cựu Ước, tại sao dòng dõi (Do Thái) này không thể chấp nhập quyền năng của Đấng mà trong Ngài tất cả những thành phần quyền uy đó (tiên tri, thầy tế lễ, vua, người khôn ngoan) đã tìm thấy sự ứng nghiệm? Khước từ sự kêu gọi của một người phát ngôn như vậy có thể chỉ dẫn đến sự phán xét.
Câu chuyện khôi hài về ác linh không nhà (43-45) truyền đạt một sự cảnh cáo nghiêm túc chống lại sự đáp ứng thiếu nhiệt tâm. Dù là những lời cảnh cáo của Chúa Giê-xu về sự phán xét đem đến “sự ăn năn” nhưng nếu điều này không dẫn đến một sự thích ứng mới tích cực để theo Chúa Giê-xu, sẽ chỉ có một nhà trống mà ma quỉ có thể tận dụng.
Chú thích. 39-40 Sự thoát nạn kỳ diệu của Giô-na chứng thực cho sự rao giảng của ông; sự sống lại của Chúa Giê-xu sẽ như vậy. Ba ngày và ba đêm là một thành ngữ Do Thái nói về một khoảng thời gian bao phủ các phần ba “ngày và đêm” 24 giờ (so sánh ISa 30:12-13 Et 4:16-5:1).
(Mat 12:46-50) Gia đình Chúa Giê-xu (Mac 3:31-35 Lu 8:19-21). Ma-thi-ơ không cho chúng ta biết mẹ và anh em của Chúa Giê-xu đáp ứng thế nào trước sự dạy dỗ của Ngài, nhưng bằng cách miêu tả họ ở ngoài nhóm môn đệ, ông gợi ý rằng họ ít nhất đã không liên kết. Bằng cách so sánh gia đình tự nhiên với “gia đình” lớn hơn của những ai làm theo ý muốn Cha ta ở trên trời, Chúa Giê-xu nhấn mạnh yêu cầu triệt để về sự kêu gọi của Ngài đối với chức phận môn đệ, nhưng cũng nhấn mạnh phần thưởng của nó. Phạm vi rộng lớn về những đáp ứng đối với Chúa Giê-xu được trình bày trong chương 11-12, do đó kết thúc bằng một cái nhìn đầy khích lệ về “gia đình” mới mà giờ đây được thành lập quanh Ngài.
6. Bài giảng thứ 3: sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu qua những ví dụ (Mat 13:1-52)
Chương 11-12 đã cho chúng ta thấy một sự phân rẽ sâu sắc giữa những người đã nghe sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu và một sự đa dạng về những đáp ứng. Những ví dụ gộp thành phần lớn của chương 13 sẽ giải thích ở đây vì sao sự rao giảng Lời Đức Chúa Trời gặp phải một đáp ứng pha tạp như thế, và sẽ nhấn mạnh bản chất của sự lựa chọn được trình bày.
Bài giảng được kết cấu cẩn thận. Trước hết, có ví dụ mở đầu về người gieo giống (3-9). Ví dụ này được tiếp theo bằng một phần chuyển tiếp tập trung vào mục đích của các ví dụ (10-17) và một sự giải thích cho ví dụ về người gieo giống (18-23); Rồi đến 3 ví dụ của sự tăng trưởng: những hạt giống (24-30), hột cải (31-32) và men trong bột làm bánh (33). Ví dụ này được tiếp theo bởi phần chuyển tiếp khác, đề cập mục đích của những ví dụ (34-35) và một giải thích cho ví dụ về những hạt giống (36-43), và sau đó là 3 ví dụ nữa: của báu (44), ngọc châu (45-46), và lưới (47-50). Cuối cùng, có ví dụ kết luận về người chủ nhà (51-52).
Phân đoạn này kết hợp tám ví dụ thực tế với những giải thích về mục đích những ví dụ nói chung và về 2 ví dụ chính nói riêng.
Chúng ta có khuynh hướng nghĩ về những ví dụ như những câu chuyện minh hoạ nhưng từ Hi Lạp parabole khoáng đạt hơn: nó cũng truyền đạt ý thức của những lời nói bí ẩn mà không mang ý nghĩa bên ngoài. Một ví dụ cần phải được giải thích. Giống như một tranh biếm hoạ, tự nó chỉ là một câu chuyện hoặc bức tranh; sự thách thức là thâm nhập vào ý nghĩa của nó. Đó là lý do vì sao cùng một ví dụ, mà không có giải thích, có thể soi sáng một số người và khiến những người khác thản nhiên. Chính chủ đề này được khảo sát đặc biệt ở những câu chủ yếu 10-17, nơi mà sự soi sáng các môn đệ và sự mù loà của đám đông vô cảm được đối chiếu.
Mỗi ví dụ rõ ràng nói về nước thiên đàng. Các ví dụ trình bày những yêu cầu cùng những nghịch lý về trật tự mới mà Chúa Giê-xu đã đến để thiết lập và có liên quan đến những người phản ứng khác nhau như vậy.
(Mat 13:1-9,18-23) Ví dụ về người gieo giống (và lời giải thích) (Mac 4:1-9,13-20 Lu 8:4-8,11-15). Các môn đệ của Chúa Giê-xu chắc đã cảm thấy khó hiểu thể nào sự tuyên bố của Ngài về nước Đức Chúa Trời đã được họ đáp ứng thật nhiệt tình, lại không được tất cả những người nghe hoan nghênh như nhau. Với bốn “hiện trường” ví dụ này chỉ ra rằng đáp ứng tuỳ thuộc không chỉ nơi sứ điệp (hạt giống như nhau được gieo trong mỗi trường hợp) nhưng cũng nơi sự sẵn sàng của người nghe muốn tiếp nhận sứ điệp. Ba vùng đất không sinh sản (đường mòn, nơi đá sỏi và bụi gai) được giải thích trong các câu 19-22 như sự giới thiệu những loại người nghe khác nhau: những người đơn giản sẽ không nghe, những người có sự đáp ứng hời hợt, và những người bận rộn với những mối quan tâm khác. Thỉnh thoảng cả ba vùng đất quen thuộc với bất cứ người nào rao giảng Phúc Âm. Vì vậy môn đệ không nên ngạc nhiên về đáp ứng khác biệt đối với sự rao giảng của Chúa Giê-xu.
Lỗi lầm ở nơi người nghe, không phải nơi sứ điệp. Khi hạt giống rơi trong đất tốt, nó sẽ sinh sản. Ở phương diện này, Chúa Giê-xu bảo đảm với các môn đệ rằng, mặc cho những vùng đất thù địch và sự đáp ứng không thích đáng, sẽ có một mùa thu hoạch. Tuy nhiên, thậm chí ở nơi đất tốt, cũng có chỗ cho sự thay đổi nào đó về mức độ sản lượng, 100, 60 hoặc 30 lần. Nói cách khác, các môn đệ không thu về chỉ một kích cỡ hay loại, và có chỗ trong nước Đức Chúa Trời dành cho loại thường cũng như loại đẹp mắt.
Như trong Mat 7:24-27 không phải chỉ nghe đạo là quan trọng, nhưng cũng hiểu (19,23). Ở phương diện này, ví dụ về người gieo giống chuẩn bị cho các câu 10-17, nơi một sự phân biệt sắc bén được rút ra giữa những người nghe mà không hiểu các ví dụ và những người có “bí quyết giúp mở” cho họ. Vì vậy, về mặt nào đó, đây là một ví dụ về các ví dụ. Do đó, thật thích hợp để nó kết luận ở câu 9 bằng một lời yêu cầu tất cả chúng ta để ý đến; cách chúng ta nghe sẽ quyết định chức phận môn đệ của chúng ta kết quả hay không.
Chú thích. 1 Sự tương phản giữa tính riêng tư của ngôi nhà (so sánh câu 36) và thính giả đông đảo gần hồ tượng trưng cho sự phân biệt, được rút ra cẩn thận suốt đoạn này, giữa đám đông được Chúa Giê-xu dạy dỗ chỉ bằng những ví dụ và các môn đệ được Ngài trình bày những giải tích một cách riêng tư.
(Mat 13:10-17) Cách những ví dụ thể hiện (so sánh Mac 4:10-12,25 Lu 8:9-10,18 10:23-24). Như câu 12 chỉ ra những gì bạn có được từ bất cứ điều gì tuỳ thuộc nơi những gì bạn có thể đặt vào nó. Cũng vậy với những ví dụ, sứ điệp không đổi, như ví dụ về người gieo giống đã chỉ ra, sẽ gặp đáp ứng khác nhau tuỳ thuộc vào tính dễ tiếp thu của người nghe. Bằng các giải thích những ví dụ cho các môn đệ, Chúa Giê-xu đã mở ra những bí mật về nước Thiên đàng. Nó có một lô-gic của chính nó, mà lý lẽ loài người không thể thâm nhập được; Lẽ thật của nó phải được bày tỏ. Làm một môn đệ là ở trong trường mạc khải.
Như Es 6:9-10 đã tiên đoán thật sinh động, những ai không có sự ban cho này, sẽ chẳng bao giờ nghe điều gì hơn là mặt nổi của sứ điệp Đức Chúa Trời, và nó sẽ chẳng làm lợi gì cho họ. Nhưng thuộc về nhóm môn đệ Chúa Giê-xu là một đặc quyền lớn hơn đặc quyền mà những người cao trọng nhất thuộc dân Đức Chúa Trời trong quá khứ đã hưởng (các tiên tri và những người công bình), những người đã có một ý niệm mơ hồ ban đầu về nước Thiên đàng, nhưng vẫn chưa biết tính xác thực của nó.
Chúa Giê-xu ở đây không nói rằng những ví dụ được sắp đặt để che đậy lẽ thật, và vì vậy để cản trở con người vào nước Thiên đàng, nhưng phán rằng sự thật không phải mọi người đều có khả năng thâm nhập ý nghĩa của chúng, khả năng đó được ban cho các môn đệ, hơn là kết quả của sự khôn ngoan loài người. Nhưng đoạn Kinh Thánh này không đặt vấn đề một người trở nên môn đệ ra sao. Có thể các môn đệ mà Chúa Giê-xu đang nói chính họ đã một lần không được soi sáng, nếu họ có thể tiếp nhận những bí mật qua chức vụ của Chúa Giê-xu, thì những người khác cũng có thể tiếp nhận được. Nhưng bao lâu sự phân hoá tồn tại và có những đất khác nhau để hạt giống rơi vào, thì những ví dụ sẽ tiếp tục bày tỏ sự phân hoá đó.
(Mat 13:24-30,36-43) Ví dụ về cỏ lùng (và lời giải thích) Sự phân hoá giữa các môn đệ thật với những người khác thường khó nhận biết như Mat 7:15-27 đã làm rõ. Ví dụ này cảnh cáo chúng ta rằng sự thử nghiệm cuối cùng không phải ở những biểu hiện bên ngoài trong hiện tại nhưng ở sự phán xét sau cùng. Cho đến lúc đó, các môn đệ phải kiên nhẫn và không nên nghĩ rằng có thể đặt mỗi người trong trong những gian nhà ngăn nắp. Hội Thánh trên đất sẽ luôn là một cộng đồng hỗn tạp.
Trong phần giải thích ở các câu 36-43, trọng tâm đặc biệt là về sự phân hoá ở kỳ phán xét cuối cùng và về những số phận tương phản của kẻ ác và người công bình. Dù những sự nhập nhằng ra sao trên đất, sẽ không có sự không biết chắc nào vào cuối thời kỳ đó.
Chú thích. 25 Cỏ lùng có lẽ là thứ cỏ hay mọc lẫn với cây lúa, trông rất giống cây lúa mì ở những giai đoạn đầu của sự tăng trưởng và sau đó bị vướng víu rất khít với cây lúa đến nỗi nó không thể bị nhổ bỏ mà không làm hại cây lúa mì. 41 Khi đề cập đến “nước thiên đàng” là nước của Con người, bằng ngụ ý, Chúa Giê-xu đã thực hiện một sự tuyên bố đáng chú ý về quyền năng của chính Ngài (so sánh Mat 16:28 19:28 25:31-46).
(Mat 13:31-35) Những ví dụ nữa về sự tăng trưởng (Mac 4:30-34 Lu 13:18-21). Cả hạt cải lẫn men là những ví dụ về những khởi đầu nhỏ. Ai cũng biết, hạt cải chỉ về cái gì đó nhỏ bé (so sánh Mat 17:20), nhưng cây cải tăng trưởng đầy đủ có thể cao đến 3m. Một chút men cuối cùng thấm qua một đống bột (nghĩa đen là “ba đấu” đủ để làm bánh cho 100 người!). Vì vậy công việc của Đức Chúa Trời, nước Thiên đàng, có thể xuất hiện không gây ấn tượng lúc đầu, vẻ bề ngoài có thể làm cho người ta nhầm lẫn, nhưng sẽ không ai có thể làm ngơ lúc cuối cùng. Trong khi ấy, các môn đệ phải kiên nhẫn. Sự đánh giá của con người bỏ sót điểm này: nhỏ trở nên lớn khi Đức Chúa Trời hành động.
Câu 34 củng cố sự dạy dỗ ở câu 10-17 về cách sử dụng những ví dụ của Chúa Giê-xu, và trong câu 35 Ma-thi-ơ trình bày trích dẫn thể thức, lúc này được rút ra từ một đoạn Thi Thiên (Thi 78:2), để chứng tỏ thể nào cũng bằng phương pháp dạy dỗ này, Chúa Giê-xu đã làm ứng nghiệm một kiểu mẫu được dự kiến trong Cựu Ước.
(Mat 13:44-52) Những ví dụ khác Những ví dụ về của báu và ngọc châu gần gũi nhau, và minh hoạ sự đáp ứng hết lòng mà nước Thiên đàng đòi hỏi, không có của lễ nào quá lớn, và không có mối quan tâm nào khác phải chắn lối nó. Nhưng sự chú ý không phải về một sự “từ bỏ” tiêu cực mà về sự vui mừng và sự làm trọn. Có điều gì đó về nước Thiên đàng khiến cho hành động quá độ trở nên một đáp ứng thích đáng duy nhất.
Ví dụ về lưới có liên quan gần gũi với ví dụ về cỏ lùng, và được giải thích bằng những lời tương tự (so sánh c.49-50 với c.40-42).
Câu 51 chứng tỏ rằng, như Chúa Giê-xu đã hứa (11), các môn đệ hiểu những ví dụ nói về điều gì (so sánh c.13,14,15,19,23 để biết tầm quan trọng của việc “hiểu”). Trong trường hợp đó, họ đối với nước Thiên đàng cũng giống như các thầy thông giáo (các thầy dạy luật) đối với dân Y-sơ-ra-ên có thể dạy người khác đường lối của Đức Chúa Trời. Ví dụ về người chủ nhà vì vậy thách thức họ thực hiện trách nhiệm này. Những lẽ thật họ phải dạy dỗ bao gồm những của báu mới về sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu và những lẽ thật cũ mà các thầy thông giáo Do Thái có thể đưa ra; vì chính sự dạy dỗ “mới” của Chúa Giê-xu quay lại với “sự dựng nên thế gian” (35) đem những lẽ thật đời đời của Đức Chúa Trời ra ánh sáng.
7. Những đáp ứng khác đối với chức vụ của Chúa Giê-xu (Mat 13:53-16:20)
Phần câu chuyện này của Ma-thi-ơ đi đến đỉnh điểm của nó trong sự nhận biết của Phi-e-rơ về Chúa Giê-xu với tư cách Đấng Mết-si-a và Con Đức Chúa Trời. Dẫn đến điểm đó là một loại những câu chuyện kết nối rời rạc tiếp tục minh hoạ sự khác nhau về những phương diện mà dân chúng đáp ứng với chức vụ của Chúa Giê-xu. Chúng bao gồm diễn tiến của sự chống đối về phía các thầy thông giáo, người Pha-ri-si, người Sa-đu-sê, và cũng gồm một sự trình bày tiếp tục về quyền năng kỳ diệu của Chúa Giê-xu, mà ít nhất dẫn một số người đến chỗ thực hiện trước sự xưng nhận tuyệt vời của Phi-e-rơ (Mat 14:33).
(Mat 13:53-58) Sự vô tín ở Na-xa-rét (Mac 6:1-6 so sánh Lu 4:16-30). Từ Mat 4:13 Chúa Giê-xu đã được đặt cơ sở ở Ca-bê-na-um cùng quanh hồ và trở nên nổi tiếng. Sự trở về quê hương của Ngài, làng đồi Na-xa-rét xa xôi, đã gợi lên một phản ứng có thể đoán trước đối với “cậu bé địa phương đã tiến bộ”. Giống như gia đình của Ngài (12:46-50), những người cùng làng không thể hiểu Ngài một cách nghiêm túc. Câu 57 chọn 1 chủ đề chung của châm ngôn “sự thân thuộc nuôi dưỡng sự khinh dể”.
Chú thích. 55-56 Thợ mộc là một thầu khoán xây dựng trong địa phương nói chung, và con trai lớn nhất của người ấy phải dự phần nghề nghiệp của người ấy! Anh chị em (con của Giô-sép và Ma-ri sau khi Chúa Giê-xu ra đời) chẳng được biết nhiều hơn tên của họ, dù Gia-cơ sau đó trở thành một lãnh đạo trong Hội Thánh. 58 Để biết sự liên quan giữa phép lạ và đức tin, so sánh Mat 8:10-13 9:2,22,28-29
(Mat 14:1-12) Phản ứng của Hê-rốt Antipas (Mac 6:14-29 Lu 9:7-9 3:19-20). Hê-rốt vua chư hầu, là Hê-rốt Antipas, vua chư hầu ở Ga-li-lê và là con trai vua Hê-rốt - làm vua lúc Chúa Giê-xu ra đời (chương 2). Những tường thuật về phép lạ của Chúa Giê-xu, kết hợp với lương tâm nhạy cảm của Hê-rốt về việc ông bất đắc dĩ xử án Giăng Báp-tít, đã dẫn đến ý nghĩa kỳ dị cho rằng Chúa Giê-xu là Giăng đã sống lại từ cõi chết.
Lần cuối chúng ta nghe về Giăng trong ngục (Mat 4:12 11:2) và giờ đây Ma-thi-ơ giải thích điều đã xảy ra. Việc kết hôn với vợ của em trai (khác mẹ) không chỉ chống lại luật Do Thái (Le 18:16), nhưng cả Hê-rốt và Hê-rô-đia còn ly hôn với người bạn đời trước của họ để kết hôn. Đây không chỉ là một cuộc hôn nhân khinh suất về mặt chính trị mà còn gây gièm pha về tôn giáo, và sự lên án thẳng thắn của Giăng đã hại đến thanh danh của Hê-rốt giữa vòng thần dân Do Thái. Vì vậy Giăng không chỉ là một sự ngăn trở đối với Hê-rốt mà còn là (như lịch sử Josephus khẳng định) một mối đe doạ đối với sự an toàn chính trị của ông ta.
Khi thuật lại sự chết của Giăng cho Chúa Giê-xu các môn đệ của Giăng tỏ ra rằng họ nhận biết Chúa Giê-xu là “Đấng đến sau” ông như Mat 11:7-19 chỉ ra và như Chúa Giê-xu sẽ khẳng định thêm trong 21:23-32 Sự rút lui sau đó của Chúa Giê-xu (13) gợi ý rằng Ngài nhận thức nguy cơ của sự liên hiệp này dưới mắt của Hê-rốt.
(Mat 14:13-21) Nuôi đoàn dân đông cách kỳ diệu (Mac 6:32-44 Lu 9:10-17). Lu-ca cho chúng ta biết rằng nơi vắng vẻ ở gần Bết-sai-đa, bên kia cuối hồ phía Bắc và ngoài địa phận của Hê-rốt Antipas. Việc một đoàn dân đông nôn nóng đi theo Chúa Giê-xu, như Gi 6:14-15 làm rõ, có thể cho thấy rằng đây không phải là cơ hội nhóm lại nhưng là một phong trào quần chúng có chủ ý để ép Chúa Giê-xu vào hành động chính trị (xem câu 21 ở dưới).
Tuy nhiên, Ma-thi-ơ không lôi cuốn sự chú ý về điều này. Đối với ông, câu chuyện là một sự bày tỏ sống động về lòng thương xót và quyền năng kỳ diệu của Chúa Giê-xu. Độc giả Do Thái hầu như không thể không chú ý sự tương đương đối với hai phép lạ cung cấp thức ăn trong Cựu Ước, sự chu cấp ma-na trong sa mạc (Xu 16:1-36) và sự hoá bánh ra nhiều tương tự của Ê-li-sê (IIVua 4:42-44). Chúa Giê-xu một lần nữa được xem là “Đấng tôn trọng hơn” (so sánh Mat 12:6,41,42) các tiên tri xưa.
Ăn chung với nhau là một biểu tượng của sự hiệp nhất. Chúa Giê-xu đã hành động với tư cách chủ nhà trước sự nhóm họp một đại gia đình và vì vậy tiếp đón đám đông vào một cộng đồng mới. Mặc dù thưc đơn không ngoài những món bình thường, nhưng có lẽ chúng ta nên xem bữa ăn này như một sự nếm trước có chủ ý về bữa tiệc của Đâng Mết-si-a (để biết về tiệc này, xem Mat 8:11-12); Ngồi xuống (19) là một từ tương đối hình thức nói về việc dựa tại bàn tiệc. Hầu như cũng không phải ngẫu nhiên mà những động từ trong câu 19 (“lấy”, “tạ ơn”, “bẻ”, “cho”) là những động từ được sử dụng trong phần Tân Ước nói về Bữa ăn tối cuối cùng. Dĩ nhiên, bữa ăn thật sự đã làm thoả mãn cơn đói (20), nhưng Ma-thi-ơ rõ ràng thấy đó cũng như một hành động mang tính biểu tượng về Tiệc Thánh trong nước Thiên đàng mới thiết lập.
Bằng lời thách thức của Ngài trong câu 16, Chúa Giê-xu có chủ ý lôi cuốn các môn đệ vào sự hành động, và Ngài đã sử dụng lương thực mà họ có thể cung cấp. Qua sự dự phần của họ, (và có lẽ đặc biệt qua kinh nghiệm đáng chú ý về việc thu dọn nhiều hơn là họ đã đem đến!), họ sẽ nhớ và học tập từ cơ hội này, sự học tập đó phải được trắc nghiệm sau này (16:5-12).
Chú thích. 19 Bánh và cá là thức ăn cơ bản của nông dân Ga-li-lê. 20 Mười hai giỏ có tính cách để nhớ hơn là mang tính biểu tượng, theo giả định thì mỗi người trong số 12 môn đệ đã sử dụng một giỏ. 21 không kể đàn bà và con nít có thể được dịch “loại trừ đàn bà và con nít”, tức là chỉ có đàn ông hiện diện, biểu lộ mùi vị “quân đội” cho sự tụ tập này. Nhưng có lẽ đúng hơn là nó lặp lại Xu 12:37 nơi mà nhóm từ giống nhau kèm với việc điểm danh dân sự Đức Chúa Trời.
(Mat 14:22-33) Đi bộ trên mặt biển (Mac 6:45-52). Phép lạ công khai về những ổ bánh được tiếp theo bởi một phép lạ mà chỉ các môn đệ chứng kiến, nó cũng chứng tỏ quyền năng của Chúa Giê-xu trên những vật hữu hình. Ảnh hưởng phối hợp đã dắt họ đến một đánh giá đúng đắn mới mẻ về quyền năng siêu phàm của Chúa Giê-xu (33).
Giữa thời tiết khắc nghiệt trên hồ trong những giờ trước lúc rạng đông (canh tư là 3-6 giờ sáng), hầu như chẳng có gì đáng ngạc nhiên rằng phản ứng của các môn đệ là sự kinh hãi và tiếng la lớn “ấy là một con ma”. Điều đáng chú ý hơn là lời đề nghị lạ thường của Phi-e-rơ để cùng Chúa Giê-xu đi bộ trên mặt biển.
Phi-e-rơ đôi lúc xuất hiện ở các sách Phúc Âm như một nhân vật bốc đồng, thiên về những phản ứng thiếu cân nhắc. Có thể chúng ta có khuynh hướng xem đây không phải là gương mẫu về đức tin lớn nhưng là một sự liều lĩnh, quá tự tin ước mong được dự phần quyền năng của Chúa Giê-xu trên thiên nhiên. Nhưng sự kiện Chúa Giê-xu khích lệ sự cố gắng, và khởi đầu thành công, gợi ý rằng Ma-thi-ơ nhìn thấy đó là một hành động chân thật của đức tin, dầu nó chưa đủ để tồn tại qua cơn khủng hoảng.
Bất cứ giá nào, cuối câu chuyện Phi-e-rơ đã trở thành một gương về đức tin ít và sự nghi ngờ, một bài học thực tế cho các môn đệ những người bị cám dỗ rời mắt khỏi Chúa Giê-xu và chú ý nhiều hơn về những hoàn cảnh đe doạ quanh mình.
Chú thích. 22 Ý thức về sự cấp bách có thể do nguy cơ rằng cả các môn đệ lẫn đám đông có thể tìm cách thúc ép Chúa Giê-xu vào hành động chính trị (Gi 6:14-15). 33 Phản ứng theo bản năng này trước một kinh nghiệm thần bí dọn đường cho lời tuyên bố mang tính thần học có chủ ý hơn của Phi-e-rơ trong Mat 16:16
(Mat 14:34-36) Chúa Giê-xu Đấng chữa bệnh (Mac 6:53-56). Trở về địa phận của Hê-rốt, Chúa Giê-xu một lần nữa là trung tâm của sự chú ý. Sự lôi cuốn quần chúng của Ngài được nhìn thấy tập trung trong chức vụ chữa bịnh của Ngài, và tóm tắt chung của Ma-thi-ơ chỉ ra rằng điều này bao quát hơn những sự chữa bệnh cá nhân như sự phần ghi lại đã gợi ý. Ước muốn rờ trôn áo của Ngài xem dường như rất máy móc, xem Mat 9:20-22 về một sự chữa bệnh bằng phương tiện này mà thật sự là một cuộc chạm trán rất cá nhân.
(Mat 15:1-20) Sự sạch sẽ và sự tin kính (Mac 7:1-23 so sánh Lu 11:37-41 6:39). Sự chống đối chưa bao giờ ở xa. Một lần nữa (như trong Mat 9:3 11,34 12:2,14,24,38) sự rắc rối xảy ra từ phía những người Pha-ri-si và các thầy dạy luật, nhưng giờ đây càng thêm rắc rối: họ đến từ thành Giê-ru-sa-lem. Có lẽ đây là một phái đoàn chính thức được cử đến điều tra vị giáo sư gây tranh luận này là người không thuộc về nhóm ra-bi. Sự việc ngày càng rõ ràng hơn là từ bây giờ sự rắc rối đến với Chúa Giê-xu là từ Giê-ru-sa-lem (16:21 20:18 v.v.).
Rửa tay trước khi ăn không đơn giản là một vấn đề về vệ sinh nhưng về nhiệm vụ tôn giáo. Luật pháp Cựu Ước không lập quy tắc nào như vậy, ngoại trừ đối với các thầy tế lễ lo nhiệm vụ tôn giáo (Xu 30:17-21). Tuy nhiên, truyền thống Pha-ri-si đã mở rộng nguyên tắc này đến phạm vi đời sống hằng ngày, và với tư cách một giáo sư tôn giáo, Chúa Giê-xu được mong đợi phải làm cho có hiệu lực sự tinh sạch về mặt nghi thức giữa vòng các môn đệ Ngài.
Sự đáp lời của Chúa Giê-xu trước lời buộc tội xuất hiện ở câu 10-11. Trước hết Ngài mở đầu một sự tấn công đối lập vào toàn bộ thái độ của họ đối với giáo quyền. Bằng cách khăng khăng giữ lời truyền khẩu của mình, họ thật sự đã bỏ qua một bên mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Vì vậy Chúa Giê-xu rút ra một sự phân biệt sắc bén giữa luật pháp Cựu Ước (Lời Đức Chúa Trời, c.6) và những luật lệ cùng quy tắc loài người, và sự trích dẫn của Ngài từ Es 29:13 chỉ ra rằng một tôn giáo dựa trên những quy tắc loài người thật rỗng tuếch và không làm đẹp lòng Đức Chúa Trời.
Để minh hoạ vấn đề này, Ngài đề cập đến phương diện mà nguyên tắc Cựu Ước về sự hiếu kính cha mẹ (Xu 20:12 21:17) đang bị phá hoại bởi nhóm ra-bi, cho phép một người giữ tài sả khỏi tầm tay cha mẹ bằng cách dâng cho Đức Chúa Trời trên danh nghĩa (trong khi thực tế giữ lại quyền sử dụng cho mình). Bằng sự gian lận giả hình này, điều khoản Cựu Ước đối với những lời thề đã bị bóp méo một cách ích kỷ cho một mục đích vi phạm một trong những điều răn cơ bản nhất của luật pháp (Để ý rằng điều răn thứ 5 được giới thiệu là điều Đức Chúa Trời đã phán, không chỉ là luật của Môi-se!).
Sau đó Chúa Giê-xu đi xa hơn vấn đề chỉ bảo vệ luật Cựu Ước. Trở lại vấn đề cụ thể về sạch và dơ trong câu 11 Ngài đưa ra một nguyên tắc căn bản mà cuối cùng dẫn các môn đệ đến chỗ bỏ hết thảy những luật Cựu Ước về thức ăn. Ngài tuyên bố rằng sự “dơ dáy” không bị tiêm nhiễm bởi những gì bạn ăn nhưng đến từ bên trong. Đây là bài học mà Phi-e-rơ đã cảm thấy rất khó học (Cong 10:9-15), nhưng cho đến khi nó được học, những luật về thức ăn của Y-sơ-ra-ên sẽ ngăn trở Hội Thánh tiếp đón những thuộc viên không phải người Do Thái ở quan hệ bình đẳng. Ma-thi-ơ ở đây không giải thích những ngụ ý (dù Mác làm vậy, Mac 7:19) nhưng nguyên tắc này đủ rõ ràng, và câu 17-20 giải thích nó rõ hơn.
Điều này đi ngược lại hoàn toàn với ý thức Pha-ri-si về những ưu tiên trong tôn giáo. Tuy nhiên, Chúa Giê-xu chẳng biện hộ gì cho điều này, và thật sự khiến những vấn đề trở nên tệ hại hơn bằng cách xoá sổ người Pha-ri-si như những cây không do Đức Chúa Trời trồng, bị nhổ bỏ như cỏ dại, và như những kẻ dắt đường mù loà có lòng sốt sắng bị lạc hướng chỉ sẽ đem đến tai hoạ cho mình và cho bất cứ ai lệ thuộc mình. Lời nói mạnh mẽ này phản ánh không nhiều sự thù địch cá nhân cho lắm nhưng khước từ hoàn toàn về cách thực hành tôn giáo chỉ nhấn mạnh bề ngoài và lờ đi việc một con người thực sự ra sao.
Có một mâu thuẫn không thể chối cãi được trong một đoạn bắt đầu bằng sự tố cáo những đối thủ của Chúa Giê-xu về việc phá hoại luật pháp Đức Chúa Trời và rồi tiếp tục bác bỏ nguyên tắc về “sự sạch sẽ” mà một phần luật pháp đó được đặt cơ sở trên đó. Nhưng ở đây, như trong chương 5, Chúa Giê-xu ít quan tâm đến mức độ bên ngoài của luật pháp hơn là nguyên tắc chủ yếu của nó: nếu sự tinh khiết bên ngoài là quan trọng, thì sự tinh khiết bên trong quan trọng hon biết bao. Cuối cùng sự chú tâm này sẽ rời bỏ những luật đặc biệt nhưng không có giá trị thực tiễn trong cộng đồng mới của dân Đức Chúa Trời được chọn ra từ dân ngoại cũng như Do Thái. Tuy nhiên trong lúc này, nguyên tắc chỉ được áp dụng cho vấn đề rửa tay, không thuộc luật Cựu Ước (20).
Chú thích. 15 Ở đây ví dụ được sử dụng theo nghĩa rộng hơn của nó về một “lời nói khó hiểu” cần sự giải thích. 16 chậm hiểu (dull) nguyên văn là “không hiểu” so sánh sự nhấn mạnh về sự cần thiết để hiểu những ví dụ trong Mat 13:13,14,15,19,23 Ở đây một lần nữa, các môn đệ được giải thích riêng tư về một lời nói vẫn chưa được giải nghĩa cho đoàn dân.
(Mat 15:21-28) Đức tin của một phụ nữ ngoại bang (Mac 7:24-30). Vấn đề về sự ô uế giờ đây tái hiện ở một hình thức thực tiễn hơn. Chúa Giê-xu, Giáo sư Do Thái, đã vào địa phận dân ngoại và chịu đối chất bởi một phụ nữ người ngoại có đứa con gái bị quỷ ám. Cuộc đối thoại tập trung vào vấn đề một người ngoại có thể mong chờ bất cứ ích lợi nào từ Đấng Mết-si-a Do Thái (con cháu vua Đa-vít) ở phạm vi ra sao.
Câu chuyện rất tương tự với câu chuyện về đầy tớ của thầy đội (Mat 8:5-13) không chỉ qua việc đức tin được tưởng thưởng bằng một lời chữa bịnh được phán từ xa, nhưng cũng qua sự căng thẳng về chủng tộc đã đặt đức tin đó vào thử nghiệm. Bằng cách mô tả người đàn bà là một người Ca-na-an, Ma-thi-ơ khiến vấn đề trở nên sắc bén hơn. Người Ca-na-an là kẻ thù truyền thống của Y-sơ-ra-ên trong Cựu Ước.
Sự yên lặng gây nản lòng của Chúa Giê-xu (23) được theo sau bởi một tuyên bố nản lòng hơn về trọng tâm Do Thái của chức vụ Ngài (24, so sánh 10:5-6). Lời Ngài có vẻ như chẳng dành chỗ nào cho sự hy vong, nhưng người đàn bà kiên trì với một lời cầu xin đơn sơ để được giúp đỡ, chỉ để bị đối chất bởi một lời nói gây tổn thương hơn, so sánh dân ngoại với chó (là loài vật không thanh sạch đối với dân Do Thái).
Ngôn ngữ này dường như chói tai không thể tin được, đặc biệt khi nó được nói ra bởi chính Chúa Giê-xu người trước đó đã ân cần với đức tin của thầy đội người ngoại như một triển vọng về dân ngoại trong tương lai dự phần vào những phước hạnh của Y-sơ-ra-ên. Có lẽ dấu hiệu lãnh đạm che đậy một yếu tố châm biếm, thậm chí khôi hài trong giọng nói của Chúa Giê-xu. Bất cứ giá nào, Ngài sẽ đối chất với người đàn bà bằng loại ngôn ngữ mà một người ngoại có thể mong đợi nghe từ một người Do Thái, và đức tin của bà dẫn đến sự thử nghiệm. Lời đáp của bà trong câu 27 nhìn nhận sự ưu tiên chức vụ của Ngài đối với dân Y-sơ-ra-ên nhưng tuy nhiên đã tuyên bố một sự mở rộng chức vụ đó cho dân ngoại. Vì vậy bà đã hiểu được kế hoạch mà Đức Chúa Trời đã thực hiện từ lúc kêu gọi Áp-ra-ham (Sa 12:1-3) và kế hoạch đó vào đúng thời điểm sẽ mở rộng Hội Thánh ra ngoài những phạm vi của dân ngoại. Vì đức tin này, bà đã được tưởng thưởng thích đáng.
(Mat 15a,29-31) Sự đáp ứng của dân ngoại đối với Chúa Giê-xu (so sánh Mac 7:31-37). Như Chúa Giê-xu đã chữa bệnh cho số đông dân Do Thái (Mat 14:34-36), giờ đây Ngài cũng làm vậy trong địa phận dân ngoại. Mác cho chúng ta biết rằng đây là địa phận Đê-ca-bô-lơ, phía Đông Nam biển Ga-li-lê của dân ngoại, và nó tiếp theo một cách thích hợp từ sự chấp nhận của Chúa Giê-xu về sự tuyên bố của người ngoại về quyền năng chữa bệnh của Ngài trong câu 21-28. Sự ngợi khen Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên xác nhận rằng đoàn dân không phải là dân Do Thái.
(Mat 15:32-39) Nuôi một đoàn dân đông lần thứ 2 (Mac 8:1-10). Tiếp theo rất gần với Mat 14:13-21 đây có vẻ giống như một sự lặp lại không cần thiết. Tuy nhiên, những con số có liên quan chỉ ra rằng đây là một sự kiện riêng rẽ. Ý nghĩa của nó có thể nằm trong bối cảnh mà nó xảy ra, như một phần mở rộng của Chúa Giê-xu về chức vụ Ngài trong địa phận dân ngoại (15:21 không phải đến câu 39 Ngài mới trở về phía hồ của Do Thái). Vì vậy chúng ta có ở đây một sự lặp lại có chủ ý phép lạ nuôi dân Do Thái, nhưng lần này dành cho đám đông người ngoại là những người vừa mới ngợi khen Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên. Nếu việc nuôi 5.000 người là một sự nếm trước bữa tiệc của Đấng Mết-si-a, vậy câu chuyện này (như 8:11-12 đã tiên đoán) chỉ ra rằng dân ngoại cũng phải được dự phần trong phước hạnh lớn nhất của Y-sơ-ra-ên.
Các chi tiết của câu chuyện khác nhau, nhưng đặc điểm chủ yếu của nó như nhau (14:13-21).
Chú thích. 37 Một dấu hiệu phụ của bối cảnh không phải Do Thái là từ nói về cái giỏ, mà ở đây là một từ nói chung, trong khi từ ở 14:20 biểu thị một loại giỏ đặc biệt của Do Thái.
(Mat 16:1-12) Người Pha-ri-si và người Sa-đu-sê (Mac 8:11-21 so sánh Lu 11:16 12:54-56 12:1). Vào dịp trở lại địa phận Do Thái trong thời gian ngắn, Chúa Giê-xu một lần nữa gặp phải sự chống đối công khai. Để biết yêu cầu về một dấu lạ từ trời và sự từ chối bất cứ dấu lạ nào trừ dấu lạ của Giô-na, hãy xem ở trên Mat 12:38-42 Sự tương phản giữa chủ nghĩa hoài nghi Do Thái này và sự đáp ứng nhiệt tình của đám đông người ngoại thật đáng chú ý.
Những kẻ nghi vấn là một tập đoàn kỳ lạ của những người Pha-ri-si và người Sa-đu-sê. Quan điểm thần học và chính sách của những nhóm này rõ ràng khác nhau, nhưng họ phải hợp tác với tư cách những thành viên của toà án tối cao Do Thái, Toà công luận. Tập đoàn của những đảng phái này đang chống đối Chúa Giê-xu phải trở nên rõ ràng hơn về sau (16:21), nhưng đối với Chúa Giê-xu nó đã đủ rõ ràng để bình luận về 2 nhóm người như một sự chống đối liên kết trong câu 5-12.
Mặc dù Chúa Giê-xu trước đó đã dùng men như một biểu tượng cho sự phát triển của nước Đức Chúa Trời (13:33), nhưng đôi khi nó cũng là một phép ẩn dụ về quyền lực của ma quỉ để bành trướng ảnh hưởng của nó (ICo 5:6-8 Ga 5:9). Ở đây, sự đòi hỏi một dấu lạ biểu thị một sự chống đối ngấm ngầm đối với chức vụ của Chúa Giê-xu, và Chúa Giê-xu không muốn các môn đệ Ngài bị tiêm nhiễm bởi chủ nghĩa hoài nghi của những kẻ phản đối Ngài.
Tuy nhiên, tâm trí của các môn đệ đang đặt ở những mối quan tâm về vật chất nhiều hơn, nên họ tưởng Ngài đang nói về bánh thật! Quan tâm về điều đó là một dấu hiệu của đức tin kém cỏi (so sánh Mat 6:25-34), đặc biệt khi chính mắt họ đã hai lần chứng kiến Chúa Giê-xu có thể đáp ứng nhu cầu thuộc thể ra sao.
Chú thích. 2-3 Đoạn này nói về những dấu hiệu thời tiết không xuất hiện trong nhiều bản văn đầu tiên, và nó có thể là một phần thêm vào về sau dựa trên Lu 12:54-56
(Mat 16:13-20) Lời xưng nhận của Phi-e-rơ (Mac 8:27-30 Lu 9:18-21). Ở đây chúng ta đi đến đỉnh điểm của phần thứ nhất thuộc sách Phúc Âm này, trong đó chúng ta đã thấy những phản ứng rất khác nhau đối với chức vụ đầy quyền phép của Chúa Giê-xu. Quan điểm của những người khác được tóm tắt trong câu 14, nơi Chúa Giê-xu được xếp vào thành phần tiên tri. Phi-e-rơ thực hiện lời tuyên bố dứt khoát mà cả câu chuyện đã chuẩn bị. Chúa Giê-xu là Đấng Mết-si-a, Con Đức Chúa Trời.
Lời đáp gây ngạc nhiên của Chúa Giê-xu trong cả ba sách Phúc Âm cộng quan là bảo các môn đệ Ngài hãy giữ kín về sự nhận biết Ngài. Lý do sẽ trở nên rõ ràng trong câu 22. Nhưng Ma-thi-ơ (chỉ mình ông) kể đến trong câu 17-19 một lời đáp tích cực hơn, làm rõ ràng rằng điều Phi-e-rơ đã nói là đúng, tuy nhiên nó có thể mở ngỏ cho sự hiểu lầm. Thật vậy, đó là một sự mạc khải từ Đức Chúa Trời, và sự kiện chính Phi-e-rơ người đã nhận được điều đó cho thấy vai trò quan trọng mà ông phải thể hiện trong sự phát triển của chức vụ Đấng Mết-si-a.
Tên Phi-e-rơ nghĩa là “Đá”, và Chúa Giê-xu đã sử dụng ý nghĩa này để bổ nhiệm Phi-e-rơ làm cơ sở cho dân sự mới của Đức Chúa Trời. Chức lãnh đạo của ông sẽ phải có quyền hạn của người quản gia, mà những chìa khoá của ông tượng trưng cho trách nhiệm của người phải sắp đặt những công việc của gia đình. Phi-e-rơ sẽ thi hành chức lạnh đạo bằng quyền hạn của ông để tuyên bố điều gì có thể và không thể cho phép trong Nước Thiên đàng (buộc và mở có ý nghĩa này trong các bản viết tiếng Hê-bơ-rơ). Câu chuyện về những năm đầu tiên của Hội Thánh trong Công vụ cho thấy cách Phi-e-rơ đã hoàn thành vai trò này. Nhưng chính quyền hạn đã được chia sẻ với những môn đệ khác trong Mat 18:18 (nơi mà các ngươi ở số nhiều, còn ở đây nó là số ít). Vì vậy ông ta là một lãnh đạo tiêu biểu hơn là một vị lãnh chúa.
Hội Thánh sẽ được thành lập bởi Chúa Giê-xu, không phải bởi Phi-e-rơ. Đề cập đến Hội Thánh như là Hội Thánh ta là thực hiện một tuyên bố đáng chú ý, vì từ Hi Lạp ekklçsia (“Hội Thánh”) là từ Cựu Uớc dành cho dân Đức Chúa Trời! Cửa âm phủ là một cách diễn đạt mang tính thơ chỉ về sự chết; cộng đồng mới này của những ai theo Chúa Giê-xu sẽ chẳng bao giờ chết.
Chú thích. 16 Đây là lần đầu tiên bất cứ ai trong phần tường thuật của Ma-thi-ơ cũng đều dành cho Chúa Giê-xu danh hiệu Đấng Christ (“Đấng Mết-si-a”) dù chính Ma-thi-ơ đã sử dụng danh ấy trong 1:1,16,17,18 2:4 11:2,18 Đôi khi được gợi ý rằng từ dành cho “đá” (petra) khác với tên Petros, “đá” được đề cập không phải là chính Phi-e-rơ nhưng là lời xưng nhận mà ông vừa thực hiện nói về Chúa Giê-xu là Đấng Mết-si-a. Tuy nhiên, trong tiếng A-ram, thuật ngữ giống nhau kefa đã xuất hiện ở hai nơi; sự thay đổi trong tiếng Hi Lạp là do từ petra từ thông thường chỉ về đá, là giống cái, và do đó nó không thích hợp là một tên dành cho Si-môn! Sự lặp lại tên của Phi-e-rơ vẫn rõ ràng, thậm chí trong tiếng Hi Lạp, ông là đá, theo nghĩa được phác hoạ ở trên. Bản văn dĩ nhiên không nói gì về Hội Thánh ở Rô-ma, hoặc nói về bất cứ sự thừa kế nào ngoài vai trò sáng lập duy nhất của Phi-e-rơ. 19 Những động từ hoàn thành trong tương lai (“sẽ được buộc”, “sẽ được mở” xem NIV) gợi ý rằng quyết định ở trên trời đã đi trước lời tuyên bố của Phi-e-rơ về điều đó trên đất.
3. CHỨC VỤ RIÊNG Ở GA-LI-LÊ – CHUẨN BỊ CHO CÁC MÔN ĐỆ.(Mat 16:21-18:35)
Trong khi Chúa Giê-xu vẫn ở miền Bắc, trọng tâm của câu chuyện giờ đây chuyển đến Giê-ru-sa-lem, vì Chúa Giê-xu báo trước cho các môn đệ về điều phải xảy đến và chuẩn bị cho họ làm môn đệ không phải của một Đấng Mết-si-a chiến thắng nhưng của một Đấng có sứ mệnh phải được hoàn tất qua sự thương khó và sự chết. Điều này sẽ đòi hỏi một sự định hướng cơ bản trong suy nghĩ của họ, và vì vậy từ đây trở đi cho đến lúc Ngài vào Giê-ru-sa-lem (chương 21), sự chú ý của Chúa Giê-xu được tập trung vào việc dạy dỗ các môn đệ hơn là về chức vụ công khai khác.
1. Sự dạy dỗ về sứ mệnh của Chúa Giê-xu (Mat 16:21-17:27)
(Mat 16:21-28) Sự chết và sự vinh hiển (Mac 8:31-9:1 Lu 9:22-27). Trong khi hiện trường vẫn gần thành Sê-sa-rê Phi-líp và câu chuyện tiếp tục từ câu 13-20, thể thức từ đó Chúa Giê-xu khởi (so sánh Mat 4:17) đánh dấu sự khởi đầu một giai đoạn mới có tính quyết định về chức vụ của Chúa Giê-xu. Trọng tâm của nó về mặt địa lý phải là Giê-ru-sa-lem và đặc tính của nó được chi phối bởi thập tự giá. Câu 21 là điều đầu tiên trong 3 lời tuyên bố chính thức về những gì phải xảy đến (so sánh 17:22-23 20:17-19), từ đây chức vụ trở nên một cuộc ra đi tiến đến sự chết, và các môn đệ phải biết sống với viễn cảnh mới này.
Tuy nhiên, điều này quá sức đối với Phi-e-rơ, người mà lời tuyên bố đắc thắng của ông trong câu 16 chắc chắn mang hy vọng dự phần trong vinh hiển của Đấng Mết-si-a. Giống như những người Do Thái khác vào thời này, có lẽ ông hiểu công việc của Đấng Mết-si-a chủ yếu qua những thuật ngữ trên đất và mang tính chính trị. Sự thất bại và sự chết (và hơn nữa sự khước từ tệ hại hơn của giới chức chính quyền Y-sơ-ra-ên) đã không thuộc chương trình nghị sự của ông. Qua điều này, ông bày tỏ những việc của con người, và bao lâu các môn đệ Chúa Giê-xu có quan điểm hoàn toàn con người này, chức vụ của Chúa Giê-xu (những việc của Đức Chúa Trời) không bao giờ có thể đem lại ý nghĩa đối với họ. Đó là lý do vì sao Chúa Giê-xu mong dập tắt sự nhiệt tình chung trong câu 20. Do đó có phản ứng gay gắt đáng kể của Ngài trong câu 23. Đá nền (18) đã sẵn sàng trở nên một hòn đá vấp chân!
Một ý nghĩ về việc dự phần vinh hiển của Đấng Mết-si-a đã phải nhường chỗ cho việc dự phần sự nhục nhã và sự bị khước từ của Ngài. Vác thập tự giá là bắt đầu cho sự hành trình công khai, không phải là kiên nhẫn chịu đựng sự bực tức nào đó (so sánh 27:32). Đối với môn đệ, cũng như đối với Thầy, điều đó có thể dẫn đến sự chết theo nghĩa đen. Nhưng bằng một lối chơi chữ mạnh mẽ ở câu 25-26 (cùng từ Hi Lạp có nghĩa sự sống và linh hồn), Chúa Giê-xu đặt câu hỏi sự sống thật là gì; có những điều quan tâm quan trọng còn hơn sự sống thuộc thể.
Đối với Con Người, sự chết là con đường dẫn đến sự vinh hiển. Ấy chính Ngài Đấng phán lời cuối cùng đó, và những ai trung tín với Ngài sẽ được thưởng. Thật vậy, Chúa Giê-xu phải chịu chết, nhưng trước khi một số người trong nhóm người đi cùng Ngài trên đất cũng nếm sự chết (qua sự tuận đạo?) họ sẽ thấy rằng Ngài đã đắc thắng và giờ đây đang tể trị với tư cách là Vua. Cách họ sẽ thấy không được cụ thể hoá. Có lẽ điều đó sẽ trở nên rõ ràng, theo một nghĩa sơ bộ, trong những sự kiện của tuần lễ kế tiếp (17:1) và nói một cách đầy đủ hơn, trong sự phục sinh của Chúa Giê-xu, sự thăng thiên và sự ngự trị trên trời. Ma-thi-ơ báo hiệu sự mở đầu quyền ngự trị này trong 28:18 Khi Nước Đức Chúa Trời phát triển, và Hội Thánh ngày càng trở nên một ảnh hưởng đáng kể, Vương quyền của Con Người sẽ được thiết lập để tất cả mọi người đều thấy.
Chú thích. 21 Trưởng lão, thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo là ba nhóm người tạo thành các hội viên của Toà Công luận, hội đồng tối cao của dân Do Thái. Vì vậy, đây phải là một sự chối bỏ Đấng Mết-si-a cách công khai toàn diện của Y-sơ-ra-ên bởi toà án tối cao của Y-sơ-ra-ên. 28 Xem ở trên Mat 10:23 để biết ý nghĩa của lối diễn đạt về Con Người ngự đến, sử dụng hình ảnh Đa-ni-ên Da 7:13-14 Đây là lối diễn đạt về sự được tôn cao và không có sự ám chỉ cần thiết nào về “sự đến thứ hai” như vậy.
(Mat 17:1-13) Một khải tượng về sự vinh hiển của Chúa Giê-xu (Mac 9:2-13 Lu 9:28-36). Sự ghi chú về thời gian chính xác một cách hiếm có (sau 6 ngày) có thể được chủ ý để nối tình tiết này gần với lời Chúa Giê-xu trong Mat 16:28 ở đây sau một thời gian ngắn một số người đã ở cùng Chúa Giê-xu lúc đó “thấy” sự vinh hiển vương quyền của Chúa Giê-xu. Cả câu chuyện được kể theo quan điểm của các môn đệ chủ yếu như một sự mạc khải cho họ biết Chúa Giê-xu thật sự là ai. Như thế nó tạo nên một sự cân bằng tương phản quan trọng đối với những lời tuyên bố đồng thất vọng ở 16:21 Bên kia sự chết có sự vinh hiển và ba môn đệ có đặc quyền được nhìn thấy bức màn tạm thời được vén qua một bên. Ba yếu tố thêm vào sự xác nhận đặc biệt về Chúa Giê-xu với tư cách vượt trội một Đấng Mết-si-a chỉ đơn thuần là người.
Thứ nhất, bề ngoài được biến đổi của Ngài (hoá hình) trong ánh sáng chói loà (2) và một đám mây sáng rực (5), chứng tỏ Ngài không chỉ là một người phát ngôn của Đức Chúa Trời, nhưng chính Ngài cũng khác với những tiên tri khác.
Thứ hai, Ngài được liên hệ với Môi-se và Ê-li, là 2 vị cao trọng nhất trong số những người mà qua họ Đức Chúa Trời đã cứu và phán với dân Ngài trong quá khứ (dù hai người, giống như Chúa Giê-xu, đều đã chịu sự chối bỏ của dân Đức Chúa Trời). Hai người đều được mong đợi sẽ trở lại để mở đầu thời kỳ Đấng Mết-si-a, vì vậy sự xuất hiện của họ ở đây tuyên bố Chúa Giê-xu là Đấng Mết-si-a.
Thứ ba, như lúc Chúa Giê-xu chịu báp-têm (3:17), chính Đức Chúa Trời xác nhận Chúa Giê-xu là Con Ngài. Nếu vậy, các môn đệ phải lắng nghe Ngài, dù họ có thể cảm thấy lời Ngài trong 16:21 gây nản lòng ra sao.
Tất cả thật quá nhiều để có thể tiếp nhận hết. Lời đề nghị không thích đáng của Phi-e-rơ để dựng ba trại cho Chúa Giê-xu và các vị khách đáng kính của Ngài ở trên núi bị bỏ qua một cách khéo léo! Ba môn đệ sợ hãi một cách đích đáng và một lần nữa phải thề giữ bí mật (9; so sánh 16:20). Thật dễ hình dung những hậu quả đáng tiếc có thể phát sinh từ những sự kể lại thiếu cân nhắc về sự kiện ngoạn mục này.
Trong câu 10-13 các môn đệ vẫn tìm cách sắp xếp tất cả ý nghĩa của nó. Phải chăng khải tượng lướt qua này là sự trở lại của Ê-li được báo trước (Ma 4:5-6)? Chúa Giê-xu chỉ ra rằng sự ứng nghiệm của lời tiên tri đó đã xảy ra qua sự rao giảng và sự chịu khổ của Giăng Báp-tít. Vì vậy chủ đề về sự chịu khổ tất yếu mà họ có thể đã hy vọng, giờ đây bị huỷ bỏ bởi khải tượng về sự vinh hiển, được tái xác nhận đối với Chúa Giê-xu cũng như đối với Giăng.
Chú thích. 1 Núi cao không được nhận dạng. Núi Hermon, núi cao nhất trong vùng, gần thành Sê-sa-rê Phi-líp (Mat 16:13), nhưng những địa điểm khác đã được gợi ý. 4 Lời đề nghị của Phi-e-rơ có thể chỉ là một ước muốn tự phát bày tỏ lòng mến khách mà ông có thể, nhưng nó có thể gợi ý rằng ông muốn ràng buộc khải tượng bằng một cách chắc chắn hơn.
(Mat 17:14-20) Sức mạnh của đức tin (Mac 9:14-29 Lu 9:37-43). Sau sự vinh hiển trên núi, Chúa Giê-xu quay lại với một bối cảnh của sự đau đớn và sự vô tín. Sự đau đớn này có vẻ giống như một trường hợp động kinh (có những sự lên cơn dịch ra từ một từ hiếm mang ý nghĩa nguyên văn “bị ảnh hưởng bởi mặt trăng”, nhưng những triệu chứng nghe giống như bệnh động kinh), nhưng Chúa Giê-xu rõ ràng điều trị nó như trường hợp bị quỷ ám. Sự vô tín là sự vô tín của cả dòng dõi, nhưng được tập trung qua sự thất bại của các môn đệ khi giúp đỡ người chịu khổ, bởi đức tin kém cỏi của họ. Thật vậy, câu 20 ngụ ý rằng trong trường hợp này họ đã không có đức tin gì cả, vì không có vật gì nhỏ hơn một hột cải! “Lượng” đức tin không quan trọng, thậm chí đức tin nhỏ nhất cũng đủ. Điều quan trọng là Đức Chúa Trời mà trong Ngài đức tin được đặt để, Đấng có thể hoàn thành những việc mà ai cũng biết không thể thực hiện được (dời núi).
(Mat 17:22-23) Sự tiên đoán thứ hai về sự chết của Chúa Giê-xu (Mac 9:30-32 Lu 9:43-45). Nội dung tương tự với Mat 16:21, dù giờ đây một lời ghi chú mang điềm xấu về việc bị phản bội được thêm vào. Như trước đó, và như trong 17:9, Chúa Giê-xu nói về sự sống lại cũng như sự chết, nhưng phản ứng của các môn đệ gợi ý rằng tâm trí họ không tập trung vào phần tiên đoán đó.
(Mat 17:24-27) Thuế đền thờ Mặc dù đa số dân Do Thái phẫn uất sự đánh thuế của người Rô-ma, nhưng việc đóng thuế hằng năm hai đồng đrac-ma của dân Do Thái cho phí bảo dưỡng đền thờ và phí phục vụ là một vấn đề về niềm tự hào dân tộc. Câu hỏi của những người thâu thuế gợi ý rằng Chúa Giê-xu giờ đây có một tiếng tốt không hay về việc không thích ứng với sự trông đợi của xã hội. Và Chúa Giê-xu ở đây khẳng định sự độc lập của Ngài, bằng nguyên tắc: là Con Đức Chúa Trời, Ngài được miễn thuế (so sánh 12:5-6: “Một Đấng tôn trọng hơn đền thờ đang ở đây”), nhưng Ngài muốn đóng thuế để tránh tỏ ra sự xúc phạm. Chúa Giê-xu hoàn toàn có thể tạo cớ vấp phạm như trong hoàn cảnh cần thiết (15:12-14 và đặc biệt chương 23!), nhưng đây không phải là một vấn đề như thế.
Chúng ta không được cho biết Phi-e-rơ có đi câu cá và thành công hay không. Vấn đề của câu chuyện không ở nơi phép lạ được đề nghị nhưng ở thái độ của Chúa Giê-xu đối với những quy ước xã hội.
2. Bài giảng thứ 4: những mối liên hệ giữa vòng môn đệ (Mat 18:1-35)
Vào giai đoạn này trong chức vụ. Chúa Giê-xu đã thành lập một nhóm môn đệ riêng biệt và phán về việc xây dựng “Hội Thánh Ngài” (16:18). Trong một nhóm người như thế, có tiềm năng lớn có lợi, trong sự chăm và quan tâm lẫn nhau, nhưng cũng có hại, nếu những liên hệ bị phá vỡ. Những lời nói được thu thập trong bài giảng này tập trung vào chủ đề này. Chúng thích hợp với đời sống Hội Thánh địa phương ngày nay cũng như giữa vòng những người Ga-li-lê cùng đi với Chúa Giê-xu.
(Mat 18:1-5) Sự cao trọng thật (Mac 9:33-37 Lu 9:46-48). Bất cứ xã hội loài người nào đều quan tâm thiết lập một “trật tự phân hạng” thích hợp và các sách Phúc Âm ghi lại bảy cuộc tranh cãi giữa vòng các môn đệ về chủ đề này. Ngược lại với mọi tư tưởng theo tập quán về thân thế và tầm quan trọng, Chúa Giê-xu đưa ra kiểu mẫu của đứa trẻ (so sánh Mat 19:14). vấn đề không phải có ý nói đến bất cứ về sự vô tư hoặc bất vị kỷ nào của đứa trẻ nhưng là thân phận đứa trẻ ở cuối trật tự phân hạng, chịu ràng buộc bởi quyền hạn của người lớn, lệ thuộc và không có quyền lực. Chấp nhận hạng thấp nhất này (khiêm nhường) là cao trọng, và đối xử với người ít nổi tiếng nhất như người quan trọng nhất là bắt chước thái dộ của Chúa Giê-xu (5). Một thái độ như thế không tự nhiên có; nó đòi hỏi một sự thay đổi triệt để (nguyên văn “quay lại”, một sự thay đổi).
(Mat 18:6-9) Chướng ngại vật (so sánh Mac 9:42-48 Lu 17:1-2). Những câu này được liên kết nhau bằng một từ Hi Lạp skandalon (chướng ngại vật) và động từ có liên quan của nó là skandalizo (vấp ngã). Kinh thánh NIV sử dụng sự gây nên phạm tội (cause to sin) để dịch những từ này, nhưng chúng thiếu cụ thể. Bất cứ điều gì cản lối của chức phận môn đệ hữu hiệu đều là một skandalon, một lời nói không tốt hoặc một sự hờ hững không kém gì một “sự gây nên phạm tội”.
Những chướng ngại vật như thế có thể đến từ người khác (6-7) hoặc từ chính chúng ta (8-9). Cả hai đều nghiêm trọng như nhau. Chúng ta có trách nhiệm đối với thể chất thuộc linh của chính mình (do đó có hình ảnh sống động ở câu 8-9 về những biện pháp chữa trị triệt để, so sánh Mat 5:29-30), nhưng cũng có trách nhiệm dối với thể chất thuộc linh của các môn đệ bằng hữu chúng ta, và một sự dìm chết nhanh chóng sẽ nhân từ hơn số phận bị đối xử bởi một người ngăn trở một đứa trong những đứa nhỏ này. Nhóm từ cuối cùng này chủ yếu không đề cập đến trẻ con nhưng đến những môn đệ nói chung, những người được so sánh với trẻ nhỏ. Nhận biết lẫn nhau như những đứa nhỏ, và do đó như những người dễ bị tổn thương, là chấp nhận trách nhiệm chăm sóc đối với nhau, như câu 10-20 sẽ giải thích.
(Mat 18:10-14) Mối quan tâm chăm sóc (so sánh Lu 15:3-7). Ví dụ về con chiên đi lạc bày tỏ mối quan tâm chăm sóc của Cha các ngươi ở trên trời đối với những đứa trẻ của Ngài (14). Nhưng câu 10 cho thấy rằng ví dụ được kể như một mẫu mực về mối quan tâm mà chúng ta cũng phải có đối với nhau, như những đứa nhỏ. Sự cám dỗ khinh dể những môn đệ bằng hữu ít tự tin hoặc ít “thành công” hơn, và do đó phớt lờ những nhu cầu chăm sóc của họ, chứng tỏ một thái độ trật nhịp với mối quan tâm của Đức Chúa Trời.
Trong ví dụ của Lu-ca, con chiên đã “bị lạc mất”, trọng tâm ở đó nhằm vào việc đến với những người ngoài cuộc, như ở đây, hơn là về sự quan tâm chăm sóc đối với các môn đệ gặp nguy cơ.
Chú thích. 10 Tư tưởng cho rằng mỗi cá nhân có một thiên sứ đại diện họ ở trên trời, chỉ được tìm thấy ở đây trong Kinh Thánh, dầu các thiên sứ ở nơi nào đó đại diện cho các dân tộc (Da 10:1-21 12:1) và các Hội Thánh (Kh 1:20).
(Mat 18:15-20) “Nếu anh em ngươi phạm tội” Những câu này giải thích cách mà nguyên tắc của câu 10-14 phải hành động trong thực tiễn. Chúng được nói với người (số ít), cá nhân môn đồ người biết về tội của môn đệ bằng hữu mình và chấp nhận (như câu 10-14 yêu cầu) rằng đó là trách nhiệm của mình phải làm điều gì đó cho điều này. Những chữ nghịch cùng người (15) có lẽ không thuộc bản văn gốc và thu hẹp phạm vi một cách vô ích. Phản ứng đối với sự gây tổn thương cho cá nhân là điều được quan tâm ở câu 21-35, ở đây nó là nguy cơ của anh em, không phải bất cứ ảnh hưởng nào của tội lỗi người ấy trên tôi một cách cá nhân, là điều đang bàn luận.
Mục đích phải là được anh em lại, sửa chữa chớ không phải sự trừng phạt. Để đạt được mục tiêu này sự công khai tối thiểu phải được sử dụng. Người anh em mắc lỗi phải được tiếp xúc một mình hoặc cùng lắm với một hoặc hai người khác. Chỉ khi không được, thì cần phải có Hội Thánh (giáo đoàn địa phương); phải mong rằng người vi phạm sẽ lắng nghe lời thuyết phục hoà hợp của các môn đệ bạn. Nếu người ấy không nghe, cách giải quyết duy nhất còn lại vẫn là một sự cắt đứt mối thông công, dù giả định vẫn với hy vọng rằng điều này sẽ thức tỉnh người ấy trong sự ăn năn và sửa chữa.
Quyền và trách nhiệm của giáo đoàn, thực hiện một quyết định nghiêm trọng như thế dựa trên cùng nguyên tắc của sự uỷ quyền được áp dụng cho Phi-e-rơ trong Mat 16:19, nhưng giờ đây cả giáo đoàn dự phần quyền hạn này (các ngươi trong Mat 18:18 là số nhiều). Hãy xem những bình luận ở 16:19 Ý niệm rằng Hội Thánh trên đất có thể đem quyền hạn trên trời đặt vào hoàn cảnh của họ, được tiếp diễn trong câu 19-20, nơi mà sự hiện diện liên tục của Chúa Giê-xu giữa vòng dân sự Ngài bảo đảm rằng sự hiệp nguyện của họ sẽ hữu hiệu. Theo văn cảnh, điều này chủ yếu đề cập đến sự cầu nguyện cho “người anh em phạm tội”, nhưng nguyên tắc này cũng có thể được áp dụng rộng rãi hơn. Dĩ nhiên, đó không phải là một sự bảo đảm vô thức mà bất cứ sự cầu xin nào cũng sẽ được chấp nhận, nhưng chỉ những gì thích hợp với sự nhóm lại nhân danh ta.
Chú thích. 17 Coi người như một kẻ ngoại đạo (nguyên văn người ngoại) hay một kẻ thâu thuế là lối diễn đạt gây ngạc nhiên từ Chúa Giê-xu người được biết là bạn của những người thâu thuế và mối thông cảm của Ngài đối với người ngoại đã được bày tỏ. Theo giả định, đó là một thành ngữ Do Thái theo truyền thống nói về sự khai trừ. 20 So sánh 28:20 lối diễn đạt như thế ngụ ý một sự tuyên bố lạ thường dành cho Chúa Giê-xu với tư cách hơn cả một nhân vật lịch sử.
(Mat 18:21-35) Về sự tha thứ kẻ khác (so sánh Lu 17:4). Ở đây trọng tâm chuyển sang cách các môn đệ phải đáp lại trước việc làm sai trái của môn đệ bằng hữu khi chính họ trực tiếp bị ảnh hưởng. Câu trả lời được cho rằng ở trong sự tha thứ; câu hỏi duy nhất là liệu có giới hạn nào không. Đề nghị của Phi-e-rơ về bảy lần nghe có vẻ rộng lượng (một sự bàn luận trong giới ra-bi gợi ý ba lần là hợp lý!), nhưng Chúa Giê-xu bác bỏ bất cứ sự tính toán nào như vậy. Thiện ý tha thứ của chúng ta phải vô hạn như sự báo thù quá mức mà Lê-méc đã từng khoe khoang (Sa 4:24 được lặp lại một cách chủ ý qua những con số 7 và 77).
Đòi hỏi này được giải thích và được làm cho có thể ghi nhớ trong ví dụ theo sau ở câu 23-24. Chúng ta tha thứ vì chúng ta đã được Đức Chúa Trời tha thứ, và không sự vi phạm nào nghịch cùng chúng ta có thể so sánh dù chỉ là một phần nhỏ với số lượng không thể kể được mà chúng ta đã được tha thứ. Một vạn ta-lâng kết hợp chữ số Hi Lạp lớn nhất với đơn vị tiền tệ lớn nhất. Thậm chí một ta-lâng đã là một gia tài nhỏ, 10 ngàn ta-lâng vượt qua những ước mơ điên cuồng nhất của người bình thường. Một trăm đơ-ni-ê không phải là một số tiền không đáng kể (tiền lương của 100 ngày), nhưng chỉ là một phần sáu trăm ngàn của số tiền đầu! Vì vậy, trong ánh sáng của ân điển không kể xiết của Đức Chúa Trời đối với chúng ta, thật đáng buồn cười, cũng như độc ác nếu chúng ta không chịu tha thứ kẻ khác. Sự đe doạ được ngụ ý ở câu 34 được làm rõ trong câu 35, Đức Chúa Trời sẽ không xử nhẹ một tinh thần không tha thứ. Đây là sứ điệp của Mat 6:14-15 và ví dụ này nhắc chúng ta về cách tội lỗi được mô tả như “nợ” trong Bài cầu nguyện của Chúa!
Chú thích. 22 77 lần là một cách phiên dịch tiếng Hi Lạp tự nhiên hơn “bảy mươi lần bảy” (490) và là ý nghĩa rõ ràng của tiếng Hê-bơ-rơ trong Sa 4:24
4. CHỨC VỤ Ở XỨ GIU-ĐÊ(Mat 19:1-25:46)
1. Trên đường đến Giê-ru-sa-lem (Mat 19:1-20:34)
Hành trình tiền định đến Giê-ru-sa-lem, và do đó đến sự chết, giờ đây bắt đầu. Chúa Giê-xu sẽ không trở lại Ga-li-lê cho đến sau khi Ngài phục sinh (Mat 28:16). Hình bóng thập tự giá trở nên đậm nét hơn khi nhóm người đi đến phía Nam, và sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu tiếp tục giáo dục lại các môn đệ để chuẩn bị cho họ những điều phải xảy đến.
(Mat 19:1-12) Sự dạy dỗ về hôn nhân và ly hôn (Mac 10:1-12 so sánh Lu 16:18). Trong luật pháp Do Thái một người nam được quyền để vợ (nhưng người vợ không được làm vậy đối với chồng) bằng một sự tuyên bố đơn giản, không có sự xét xử hay cầu xin gì. Điều này được cho là mục đích của Phu 24:1-4 (xem mục đích đó ở Mat 5:31-32), nhưng “điều gì đó khiếm nhã” mà phân đoạn dựa vào làm cơ sở cho sự ly hôn, vẫn còn có chỗ để tranh luận. Một số giáo sư giới hạn điều này trong tội ngoại tình hoặc những hành vi bất xứng trong lãnh vực tình dục, nhưng trong thực tế thông thường, được một số ra-bi ủng hộ thì nó gần như là một vấn đề về ý thích thất thường của người chồng, vì bất cứ và mọi lý do nào.
Thay vì dự vào cuộc tranh cãi này, Chúa Giê-xu lần nữa (như 5:32) tuyên bố rằng sự ly hôn, vì bất cứ lý do nào, đều không xứng hợp với mục đích của Đức Chúa Trời đối với hôn nhân. Khi làm vậy, Ngài cho biết ý định ban đầu của Đấng Tạo Hoá, được bày tỏ trong Sa 1:27 2:24 vượt hơn điều khoản của Phục Truyền 24 là điều khoản được ban ra chỉ vì cớ lòng các ngươi cứng cỏi. Những luật lệ về sự ly hôn là một sự nhượng bộ để đối phó với hậu quả của tội lỗi, không phải là một sự bày tỏ về cách Đức Chúa Trời muốn mọi sự như thế. Sự ly hôn có thể cần thiết, nhưng chẳng bao giờ có thể tốt đẹp. Nguyên tắc hai người sẽ cùng nên một thịt có thể được thực hiện chỉ bằng sự hôn nhân không bị phá vỡ.
Tuy nhiên, lập trường cương quyết này được Ma-thi-ơ giảm nhẹ ở đây và trong Mat 5:32 bằng mệnh đề trừ khi vì ngoại tình. Mác và Lu-ca đều không kể đến mệnh đề được tranh cãi nhiều này và đôi khi người ta nghĩ rằng đó là một cố gắng của Ma-thi-ơ để làm dịu đi sự cấm đoán hoàn toàn về ly hôn mà chẳng bao lâu đã tỏ ra bất khả thi trong đời sống thực tại. Tuy nhiên, có lẽ đúng hơn là Ma-thi-ơ chỉ báo hiệu điều mà bất cứ độc giả Do Thái nào cũng sẽ cho là dĩ nhiên, rằng sự ngoại tình (không chỉ bao gồm tà dâm mà còn tội chung chạ tiền hôn nhân) tự động bãi bỏ một cuộc hôn nhân bằng cách tạo ra sự kết hợp “một thịt” khác. Trong Cựu Ước, án phạt cho tội tà dâm là sự chết, nhưng vào thời Tân Ước, sự bãi bỏ hôn nhân về mặt hình thức là sự đáp ứng được chấp nhận (so sánh tình thế tiến thoái lưỡng nan của Giô-sép trong 1:18-19). Đây không phải là một sự “ly hôn” tự nguyện nhưng là sự nhận biết cần thiết rằng việc hôn nhân đã bị kết thúc.
Đòi hỏi của Chúa Giê-xu đối với sự chung thuỷ trong hôn nhân mà không có một “đường thoát ra” làm các môn đệ kinh ngạc. Ai có thể sống theo một đòi hỏi như thế? Chẳng phải mọi người, Chúa Giê-xu đồng ý. Một số người không có “sự ban cho” về hôn nhân và được kêu gọi sống độc thân, bởi điều kiện thuộc thể của họ (bẩm sinh hoặc nhân tạo) hay bởi chính sự chọn lựa của họ trong ánh sáng của vai trò mà họ được kêu gọi trong Nước Thiên đàng. Trong xã hội Do Thái, không lập gia đình là điều bất thường (như chính Chúa Giê-xu không lập gia đình), vì vậy sự xác nhận về việc sống độc thân tự nguyện là quan trọng. Nhưng với tất cả mọi đòi hỏi của nó, hôn nhân để lại mục đích thiêng liêng đối với những ai được ban cho.
Chú thích. 11 Lời này ở đây chỉ về những lời tuyên bố của Chúa Giê-xu trong câu 6 và 8, không phải về lời bình luận méo mó của các môn đệ trong câu 10. 12 “Hôn nhân không được thừa nhận” là nhóm từ của Kinh Thánh NIV nói về “tự mình làm nên hoạn” nó giả định một cách đúng đắn rằng Chúa Giê-xu không muốn nói nhóm từ được hiểu theo nghĩa đen.
(Mat 19:13-15) Các con trẻ (Mac 10:13-16 Lu 18:15-17). Các môn đệ có thể đơn giản là không nhạy cảm và hợm hĩnh, hoặc có lẽ họ tìm cách bảo vệ Chúa Giê-xu khỏi quá nhiều sự chú ý. Bất cứ giá nào, họ vẫn chưa hấp thụ mức giá trị triệt để của Ngài, trong đó “những con trẻ” là những người cao trọng nhất. Nói rằng Nước Thiên đàng thuộc về những kẻ giống như con trẻ ấy không phải là tuyên bố sự cứu rỗi tự động dành cho mọi con trẻ, nhưng đúng hơn (như trong Mat 18:1-5) là đưa ra địa vị khiêm tốn của họ như một kiểu mẫu cho chức phận môn đệ.
(Mat 19:16-26) Người trẻ tuổi giàu có (Mac 10:17-27 Lu 18:18-27). Đây là một cú sốc khác về mức giá trị của các môn đệ. Người này giàu có, đạo đức và khao khát sự sống đời đời, là thành viên mới lý tưởng đối với nhóm môn đệ. Thấy người bị Chúa Giê-xu cho đi khiến họ lấy làm lạ. Nếu một người như vậy mà không có thể được cứu, vậy ai có thể được cứu? (25)
Câu hỏi của người đàn ông cho rằng sự sống đời đời có thể đạt được bằng cách làm việc lành nào đó (một hành động từ thiện rõ ràng?). Bằng cách nhấn mạnh sự nhân lành của Đức Chúa Trời (17). Chúa Giê-xu chất vấn ý niệm của người đàn ông về sự nhân lành, nó được tìm thấy trong sự liên hệ với Đức Chúa Trời, không phải bởi “việc lành” của do chính chúng ta nghĩ ra. Giữ những điều răn của Đức Chúa Trời là phản ánh sự nhơn lành của Ngài, và người trai trẻ này đã cố gắng thực hiện. Nhưng chính anh ta vẫn ý thức rằng đang thiếu điều gì đó, và anh đang tìm kiếm việc gì đó thêm vào để thực hiện. Lời đáp của Chúa Giê-xu trong câu 21 thật sự là việc gì đó phải làm, nhưng điều gì đó rất triệt để đến nỗi nó sẽ phá hoại toàn bộ lối sống của anh ta và để mọi việc tuỳ sự sắp đặt của Đức Chúa Trời.
Tuy nhiên Chúa Giê-xu không đòi hỏi mọi người theo Ngài phải nghèo túng. Nhưng yêu cầu của Ngài thay đổi đối với những cá nhân và hoàn cảnh khác nhau. Nhưng chúng ta phải coi chừng cách sử dụng lẽ thật này như một lối thoát thuận lợi. “Việc Chúa Giê-xu không ra lệnh tất cả các môn đệ Ngài phải bán mọi của cải họ, ban sự yên ủi chỉ đối với loại người mà Ngài sẽ ban ra mệnh lệnh ấy” (R. H. Gundry).
Câu 23-26 khiến những vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn. Bức tranh khôi hài về một con lạc đà tìm cách chui qua lỗ kim, như các môn đệ đã nhận biết một cách đúng đắn, có nghĩa là để một người giàu được cứu thì không phải chỉ khó mà không thể được. Câu trả lời ở trong sự nhận biết rằng những việc không thể làm được đối với con người đều có thể làm được đối với Đức Chúa Trời. Sự cứu rỗi không thể có được bởi sự giàu có hay bởi sự nghèo túng, Nước Đức Chúa Trời lật đổ mọi giá trị và khả năng của con người.
Chú thích. 16-17 Trong Mác, người đàn ông đã gọi Chúa Giê-xu là “nhân lành” và Chúa Giê-xu đáp “Sao ngươi gọi ta là nhân lành?” Khi loại trừ phần đối thoại này, Ma-thi-ơ đang đề phòng sự diễn dịch sai mà bởi đó cho rằng Chúa Giê-xu không nhân lành và không phải là Đức Chúa Trời. 24 Tư tưởng lãng mạn cho rằng lỗ kim là tên gọi của một cổng hẹp trong bức tường thành không có cơ sở lịch sử nào cả, bức tranh mang tính phi lý có chủ ý.
(Mat 19:27-30) Phần thưởng của chức môn đệ (Mac 10:28-31 Lu 18:28-30 so sánh Mat 22:28-30). Những câu này giải thích “của quí trên trời” được Chúa Giê-xu hứa ở câu 21 đối với những ai mà chức phận môn đệ khiến họ thiệt hại về mặt kinh tế. Họ sẽ dự phần sự vinh hiển và vương quyền của Ngài. Khi Ngài làm ứng nghiệm khải tượng ở Da 7:13-14 (28). Họ cũng sẽ được đền bù 100 lần cả trong đời này (khi họ dự phần gia đình và nguồn vật chất của cộng đồng môn đệ) và trong sự sống đời đời (29). Dù thậm chí như vậy, họ phải coi chừng việc cho rằng “sự hy sinh” của họ đã khiến họ có được một chỗ vinh dự đặc biệt (30), Nước Thiên đàng đầy những điều gây ngạc nhiên, như ví dụ kế tiếp cho thấy.
Chú thích. 28 Kỳ muôn vật đổi mới gợi ý “trời mới và đất mới” của thời kỳ Đấng Mết-si-a. Xét đoán có thể được hiểu theo nghĩa Cựu Ước “cai trị”. Ý niệm Hội Thánh là Y-sơ-ra-ên thật của thời kỳ Đấng Mết-si-a được rõ ràng ở đây (so sánh Mat 16:18).
(Mat 20:1-16) Ví dụ về những phần tiền công không mong đợi Theo sau một bàn luận về những phần thưởng và được trình bày bởi hai lời tuyên bố rằng kẻ rốt sẽ nên đầu và kẻ đầu sẽ nên rốt (19:30 20:16), ví dụ này nhấn mạnh những giá trị nghịch lý của Nước Thiên đàng. Trong một xã hội không có sự chu cấp phúc lợi hoặc những hiệp hội thương mại nơi mà sự thất nghiệp nghĩa là sự chết đói, hành động của người chủ đất qua việc thuê thêm những công nhân những người mà ông thật sự không cần quá trễ trong ngày, là một hành động của tính rộng rãi. Nhưng thậm chí lạ thường hơn chính là công giá, không mang ý nghĩa kinh tế nào cả, và có thể hiểu rằng đã gây ra sự lằm bằm, giữa vòng những người cảm thấy mình bị đối xử bất công. Dĩ nhiên là không bất công. Không ai bị trả công thấp, chỉ là một số người đã được đối xử bằng sự rộng rãi “không hợp lý”. Đó là thực chất của Nước Thiên đàng. Ân điển của Đức Chúa Trời không bị giới hạn bởi những ý niệm của chúng ta về sự công bằng, những sự ban cho của Ngài vượt xa những gì chúng ta xứng đáng. Nhưng giống như người anh trong câu chuyện “Đứa con trai hoang đàng”, chúng ta cảm thấy khó bỏ đi mức giá trị của con người (đặc biệt khi so sánh mình với người khác!) và chấp nhận sự rộng lượng của Đức Chúa Trời đối với những người mà chúng ta xem là không xứng đáng. Vì vậy việc giáo dục lại các môn đệ tiếp tục một giai đoạn nữa, vây quanh nguyên tắc thiêng liêng về việc kẻ đầu trở nên rốt và kẻ rốt trở nên đầu.
(Mat 20:17-19) Lời tiên đoán thứ 3 về sự chết của Chúa Giê-xu (Mac 10:32-34 Lu 18:31-34). Sự đề cập nhiều lần về Giê-ru-sa-lem nhấn mạnh điều sắp xảy đến, và lần này lời tiên tri được kể chi tiết hơn, bao gồm việc bị kết án tử hình (nghĩa là một cuộc hành hình công khai), bị giao cho dân ngoại, bị nhạo báng, đánh đập và bị đóng đinh vào thập tự giá. Đây là lần đầu tiên hình phạt đóng đinh trên thập tự giá được đề cập chính xác (dù Mat 16:24 đã ngụ ý). Toàn bộ phần liệt kê về sự nhục nhã và thương khó không dành chỗ cho những khải tượng về vinh hiển trên đất của Con Người.
(Mat 20:20-28) Sự cao trọng trong sự phục vụ (Mac 10:35-45 so sánh Lu 22:24-27). Trong ánh sáng của đoạn trước, lời yêu cầu của mẹ của các con trai Xê-bê-đê (Gia-cơ và Giăng) thật kỳ lạ. Phải chăng bà vẫn đang nghĩ đến một vương quốc trên đất, hoặc bà đang trông chờ sự vinh hiển trong tương lai đã được tiên đoán trong Mat 19:28 (và dễ dàng quên điều gì phải đến trước vinh hiển ấy)? Bất cứ giá nào, Chúa Giê-xu để họ biết chắc rằng sự thương khó phải đến trước (22-23).
Vấn đề của lời yêu cầu là ước mong đạt được địa vị cao giữa vòng 12 môn đệ (và đặc biệt để chiếm chỗ Phi-e-rơ, thành viên khác thuộc nhóm nội bộ ba người đã chứng kiến sự hoá hình?). Đây là điều khiến những môn đệ khác phẫn nộ và khiến Chúa Giê-xu dạy tất cả họ bài học khác về ý niệm của thế gian về sự cao trọng. Các ngươi thì không như vậy tóm tắt rõ ràng chủ đề của cả phân đoạn này trong sách Phúc âm, Nước Thiên đàng tạo ra một xã hội thứ hai thách thức những giá trị theo quy ước.
Chúa Giê-xu chính là tấm gương cao nhất. Địa vị Con Người của Ngài cho Ngài quyền được người ta hầu việc (so sánh Da 7:14), nhưng Ngài đã đến để hầu việc. Qua sự bất vị kỷ này, Ngài là mẫu mực của chúng ta, thậm chí dù sự hầu việc cụ thể của Ngài đòi hỏi một hình thức mà không bao giờ được lặp lại, phó sự sống mình làm giá chuộc nhiều người. Qua những lời này, một sự vang vọng rõ ràng của Es 53:10-12 là một trong những tóm tắt đơn giản nhất trong Tân Ước nói về mục đích cứu chuộc của sự chết Chúa Giê-xu.
Chú thích. 22 uống chén là một ẩn dụ về sự thương khó, so sánh Mat 26:39,42 cũng xem ví dụ Es 51:17 Exe 23:3
(Mat 20:29-34) Hai người mù (Mac 10:46-52 Lu 18:35-43). Giê-ri-cô là thị trấn cuối cùng trước khi đến Giê-ru-sa-lem trên đường từ Ga-li-lê. Khi Chúa Giê-xu đến gần mục tiêu của Ngài với một đám đông những người đi theo nhiệt tình, Ngài thấy một cơ hội để dừng lại và “hầu việc” (28) hai người túng thiếu bị đám đông cho rằng không đáng cho sự chú ý của Ngài. Vì vậy Ngài minh hoạ lần nữa những giá trị của Nước Thiên đàng không theo quy lệ. Trong Mác và Lu-ca, đây là câu chuyện của một người, được Mác gọi là Ba-ti-mê. Có lẽ, như trong Mat 8:28 Ma-thi-ơ đề cập đến hai người để tăng trọng lượng của lời chứng rằng Chúa Giê-xu thật sự là Con cháu vua Đa-vít. So sánh 9:27-31 để biết câu chuyện khác về hai người mù tương tự với câu chuyện này. Cách sử dụng từ ít dùng đầy thi vị nói về mắt trong câu 34 và câu nói họ đi theo Ngài có thể được dùng để gợi ý rằng câu chuyện tượng trưng cho sự chữa trị bệnh mù loà thuộc linh dẫn đến chức phận môn đệ.
2. Đến thành Giê-ru-sa-lem (Mat 21:1-22)
Đây là cuộc thăm viếng đầu tiên, và cuối cùng của Chúa Giê-xu ở thành Giê-ru-sa-lem trong câu chuyện của Ma-thi-ơ. Kể từ Mat 16:21 đây là mục tiêu dự kiến và giờ đây câu chuyện đi đến đỉnh điểm của nó, khi vị Tiên Tri người Ga-li-lê đến gần thủ phủ của Y-sơ-ra-ên, mà đền thờ của nó là trọng tâm sự thờ phượng Đức Chúa Trời chân thật ở trên đất. Sự đến nơi của Ngài được đánh dấu bởi ba hành động mang tính tượng trưng trong câu 1-22 đưa ra bối cảnh cho những mâu thuẫn kế tiếp.
(Mat 21:1-11) Sự ngự đến của Vua (Mac 11:1-11 Lu 19:28-38). Giữa những đám đông người Ga-li-lê hành hương đi bộ vào Giê-ru-sa-lem dự kỳ lễ Vượt Qua, Chúa Giê-xu quyết định thực hiện một sự tiến vào gây chú ý trên một con lừa.Vì chúng ta không có sự ghi chép nào khác về việc Chúa Giê-xu cỡi lừa, đây hẳn là một hành động chủ ý, nghĩa là để được chú ý. Những chỉ dẫn trong câu 1-3 gợi ý rằng việc đó đã được chuẩn bị chu đáo. Như Ma-thi-ơ làm rõ, đó là một hành động ám chỉ về lời tiên tri của Xa-cha-ri (Xa 9:9-10) nói về sự ngự đến của Vua Mết-si-a.
Các môn đệ cùng đoàn dân Ga-li-lê nhận biết sự ám chỉ này, và biến sự đến này thành một cuộc diễu hành hoan hỉ. Những tiếng hô lớn của họ trong câu 9 bày tỏ niềm tin của họ rằng Chúa Giê-xu là Đấng Mết-si-a được trông đợi từ lâu, giờ đây đã đến để mở đầu sự ngự trị của Ngài ở thủ đô Y-sơ-ra-ên.
Tuy nhiên, dân thành Giê-ru-sa-lem ngạc nhiên vì cả thành đều xôn xao, không phải với sự nhiệt tình nhưng với sự quan tâm “Người này là ai?” Đối với họ, Chúa Giê-xu là một người nông thôn vô danh, khá hơn một người ngoại một chút, từ tỉnh phía Bắc xa xôi. Nhưng đoàn dân Ga-li-lê đáp lại bằng cách xác nhận lời tuyên bố về tiên tri “của họ”, ở thành Na-xa-rét, xứ Ga-li-lê. Vì vậy chúng ta thấy hiện diện sự phân cực của những thái độ đối với Chúa Giê-xu mà suốt tuần lễ kế tiếp đã hỗ trợ chút gì đó cho Chúa Giê-xu (Mat 21:46) trong khi những người khác la hét đòi đóng đinh Ngài (27:20).
Chú thích. 2 Chỉ có Ma-thi-ơ đề cập lừa con cũng như lừa cái. Mặc dù cách diễn đạt đầy thi vị của câu 5 chỉ về những thú vật riêng. Ma-thi-ơ nhìn thấy qua sự hiện diện của lừa con một sự lặp lại đầy gợi ý về cách diễn đạt của nó. 7 Dĩ nhiên, chữ thứ hai “chúng” không có nghĩa là Chúa Giê-xu cỡi cả 2 con vật, nhưng chỉ về những áo ngoài.
(Mat 21:12-17) Biểu hiện trong đền thờ (Mac 11:11,15-17 Lu 19:45-46). Bản chất kích động của việc Chúa Giê-xu vào thành được xứng hợp bởi việc Ngài vào khu vực đền thờ. Đây là nơi lộ thiên rộng lớn khoảng 33 mẫu Anh (13,5 héc-ta), bên trong sừng sững đền thờ và những công trình liền nhau. Bên trong những cổng thành bao quanh khu vực này (không phải trong toà đền thờ) là những quầy hàng của những người đổi tiền cho những lễ vật đền thờ và bán con sinh tế (kể cả bồ câu). Họ có mặt ở đó với sự cho phép của các chức sắc tế lễ và thực hiện chức năng hữu ích, thậm chí cần thiết cho những người hành hương từ xa đến. Nhưng toàn bộ sự việc mất đi sự cân xứng, và sự thờ phượng cùng sự cầu nguyện đang bị vắt kiệt bởi tính thương mại. Sự công kích dữ dội của Chúa Giê-xu trên tất cả những người có liên quan (người mua cũng như kẻ bán) bày tỏ sự nhận biết của Ngài rằng đền thờ không còn thực hiện mục đích mà nó đã được xây dựng.
Những người mục kích đã biết Kinh Thánh của họ đã nhắc về Ma 3:1-4 và có lẽ cũng về Xa 14:21 (nơi mà “Ca-na-an” nghĩa là “thương gia”. Đấng Mết-si-a đang tẩy uế sự thờ phượng của dân sự để sẵn sàng cho ngày lớn của Chúa. Cùng với sự chữa lành những kẻ mù và què của Ngài, điều này đủ để gợi lên không chỉ sự hoan hô của quần chúng mà còn là sự tức giận của giới chính quyền. Nhưng Chúa Giê-xu chẳng đưa ra lời biện hộ nào và làm cho các vấn đề trở nên tệ hại hơn bằng cách chứng minh những lời reo hò của những trẻ con đã chào Ngài là Con vua Đa-vít với trích dẫn Thi 8:2 nói về sự ngợi khen Đức Chúa Trời!
(Mat 21:18-22) Cây vả bị khô (Mac 11:12-14,20-24). Hành động quyền năng rõ ràng vô nghĩa này nói chung được hiểu theo ngữ cảnh của nó (và theo cách Mác kết hợp nó với câu chuyện về sự kiện đền thờ) để có một mục đích tượng trưng. Cây vả sinh ra lá và do đó đảm bảo quả, nhưng chẳng cho vật gì để ăn, là một bức tranh về sự thờ phượng rỗng tuếch của đền thờ (so sánh Mi 7:1 Gie 8:13). Sự tàn héo của cây là một sự ám chỉ có thể thấy về số phận của đền thờ được Chúa Giê-xu tiên đoán trong Mat 23:38 24:2
Chính quyền năng tuyệt đối của Lời Chúa Giê-xu, đã gây ấn tượng cho các môn đệ, và Chúa Giê-xu dùng sự kiện này làm một kiểu mẫu cho quyền năng sẵn có đối với đức tin, như trong 17:20
3. Những cuộc tranh luận với các chức sắc Do Thái (Mat 21:23-23:39)
(Mat 21:23-27) “Bởi quyền phép nào?” (Mac 11:27-33 Lu 20:1-8). Sau những hành động khiêu khích của Chúa Giê-xu, thì phản ứng của chính quyền là điều không thể tránh khỏi. Nó đến từ các thầy tế lễ cả và các trưởng lão những chức sắc chịu trách nhiệm về đền thờ, những người tạo nên bộ phận chính của Toà Công luận. Chúa Giê-xu đang tuyên bố rõ ràng một quyền phép đe doạ quyền tối cao của họ và phải chứng minh nếu Ngài có thể (so sánh những yêu cầu về một “dấu lạ” trước đó). Nhưng một lần nữa Ngài không chịu bị dò xét. Câu hỏi đối chọi của Ngài nói về Giăng Báp-tít đã đặt họ vào thế bí một cách hữu hiệu. Nhưng đó không phải chỉ là một sự lẫn tránh khôn khéo, vì nó ngụ ý một sự liên tục giữa sứ mạng của Giăng và sứ mạng của Chúa Giê-xu (như đã được chỉ ra trong Mat 11:7-19 17:11-13). Nếu Giăng thật sự là sứ giả của Đức Chúa Trời, điều mà họ không dám phủ nhận, vậy Chúa Giê-xu chẳng kém hơn. Chúa Giê-xu tiếp tục (31-32) chỉ ra những kết quả của việc họ đã không đáp ứng với chức vụ của Giăng và do đó, cũng không đáp ứng với chức vụ của chính Ngài.
(Mat 21:28-46) Ba ví dụ được chỉ ra (21:28-22:14) Thật quan trọng để sử dụng 3 ví dụ này với nhau và để đọc chúng trong bối cảnh này như phản ứng của Chúa Giê-xu trước sự thù địch của các chức sắc Do Thái. Mỗi ví dụ nói về một nhóm người đánh mất địa vị đặc quyền và bị thay thế bởi những người họ xem thường. Vì thế, chủ đề xuyên suốt chúng là vấn đề ai là dân thật của Đức Chúa Trời, và chúng đều gợi ý rằng một sự thay đổi cơ bản đang xảy ra.
(a) Mat 21:28-32 Hai con trai. Câu chuyện đơn giản minh hoạ sự khác nhau giữa nói với làm và chỉ ra rằng Đức Chúa Trời có ấn tượng nhiều bởi sự thực hành của chúng ta hơn là những lời hứa của chúng ta (so sánh sứ điệp được lặp lại ở 7:15-27). Chúa Giê-xu áp dụng nó trực tiếp cho các ngươi (thầy tế lễ cả và trưởng lão, c.23) và đối chiếu đáp ứng của họ đối với sứ giả Giăng của Đức Chúa Trời với đáp ứng của những người bị họ khinh thường nhất, kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm. Vì những “kẻ vô hy vọng” này đã tin Giăng, họ sẽ vào nước Đức Chúa Trời trước. Các chức sắc vô tín sẽ vào sau họ hay không, không được kể ra, nhưng ví dụ kế tiếp cho một câu trả lời rõ ràng hơn.
(b) 21:33-46 Những người trồng vườn nho (Mac 12:1-12 Lu 20:9-19). Ở đây chủ đề về sự thay thế thật rõ ràng. Câu chuyện nói về một người chủ đất vắng mặt và những tá điền buộc phải nộp cho ông ta một phần sản lượng cố định như đã thuê. Sự kiện họ không làm vậy, tại nó là một lý do đủ để họ bị thay thế. Tội giết con trai chủ khiến cho những vấn đề trở nên quá sức trầm trọng.
Vấn đề của câu chuyện này rõ ràng chỉ về các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si (45) và cũng chỉ về những ai đã biết sách Ê-sai, nơi ví dụ đáng nhớ về vườn nho (Es 5:1-7) tượng trưng cho việc dân Y-sơ-ra-ên không sống theo những điều mong mỏi của Đức Chúa Trời. Nhưng ở đây trọng tâm không phải về toàn bộ Y-sơ-ra-ên, mà về bộ phận lãnh đạo của dân ấy, mà việc xử tử Con Đức Chúa Trời sắp đưa đến đỉnh điểm một sự chối bỏ các tiên tri Ngài trong quá khứ được lặp lại. Giờ đây họ chỉ có thể nghĩ đến một kết thúc thảm hại, trong khi những người khác thay thế họ.
Câu 42-44 trình bày những ngụ ý của câu chuyện. Câu 42 (trích dẫn Thi 118:22) minh hoạ sự thay đổi thiêng liêng đã sớm xảy đến, khi Đấng bị các chức sắc Y-sơ-ra-ên chối bỏ phải được chứng minh là Đấng được chọn cho vị trí vinh dự cao nhất. Câu 44 sử dụng phép ẩn dụ giống nhau với những ám chỉ về hòn đá huỷ diệt ở Es 8:14-15 và Da 2:34-35,44-45 Câu 43 trực tiếp hơn nước (vương quốc) được tượng trưng bởi vườn nho thuộc Đức Chúa Trời chớ không phải thuộc về họ, và Ngài sẽ giao phó cho người nào có trách nhiệm hơn. Một dân gợi ý không chỉ là một sự thay đổi về bộ phận lãnh đạo mà gợi ý rằng chính thành phần dân Đức Chúa Trời phải thay đổi (cũng với những dòng trong Mat 8:11-12). Tuy nhiên, đó không phải là một vấn đề đơn giản về việc dân Do Thái bị thay thế bởi dân ngoại (mà có lẻ cần đến một sự đề cập về “dân” ở số nhiều, thuật ngữ Hi Lạp thông thường chỉ về dân ngoại), đúng hơn là một cộng đồng mới của dân Đức Chúa Trời được tạo ra (so sánh về 16:18), trong đó cả dân Do Thái lẫn dân ngoại sẽ tìm thấy chỗ của mình. Điều sẽ tạo nên tính cách họ không phải là quốc tịch, nhưng là họ phải sản sinh quả (so sánh 3:8,10 7:15-20 12:33-37 13:8,26 và đặc biệt 21:18-20).
(c) 22:1-14 Tiệc cưới (so sánh Lu 14:16-24). Chủ đề về sự thay thế thậm chí mạnh mẽ hơn ở đây. Những người đã được mời, nhưng là những người đã chối từ những lời mời gọi được nhắc đi nhắc lại và thậm chí đã giết các sứ giả, tương ứng với những tá điền đầu tiên trong ví dụ trước, và những vị khách thay thế tương ứng với “dân mới” ở Mat 21:43 Vì như trong 21:31 những người mới đến là một nhóm người có vẻ không hứa hẹn, từ các góc đường, kể cả tốt lẫn xấu. Đó là ví dụ khác về sự đổ các bàn, về việc kẻ đầu trở nên rốt và kẻ rốt trở nên đầu.
Câu chuyện trở nên hoàn toàn kỳ dị, với việc giết hại những sứ giả và một cuộc điều động quân đội xảy ra trong khi bữa ăn tối nên nguội lạnh! Đốt phá thành của họ là một phản ứng mạnh cực độ đối với một lời mời ăn tối bị từ chối. Nhưng các ví dụ là những câu chuyện tưởng tượng, và không cần phải phản ánh của cuộc sống thực tế, và tính tượng trưng đủ rõ ràng. Sự từ chối của dân Y-sơ-ra-ên (qua các lãnh đạo của họ) không đáp lại sự kêu gọi của Đức Chúa Trời qua Chúa Giê-xu sẽ dẫn đến sự huỷ diệt thành của họ, Giê-ru-sa-lem, nơi Chúa Giê-xu đã đến để bị chối bỏ và bị giết (16:21). Vấn đề được trình bày trong 23:38 24:2
Câu 11-14 giới thiệu một sự chú ý mới: thậm chí trong vòng “dân mới” cũng không có sự bảo đảm tự động nào về sự cứu rỗi. Họ gồm có người tốt và kẻ xấu (so sánh chủ đề ở 7:15-27). Thậm chí ai đó từ các con đường lẽ ra phải mặc quần áo trắng sạch sẽ phù hợp cho một tiệc cưới; không làm vậy là sỉ nhục chủ tiệc. Vì vậy mặc dù nước Thiên đàng mở cho bất kỳ người nào, nhưng nó thực hiện một yêu cầu đối với họ (so sánh sự cần thiết phải có kết quả trong 21:43). Không có chỗ nào cho những ai sẽ không hiểu đặc quyền của mình một cách nghiêm túc. Vậy câu 14 tóm tắt hoàn cảnh không chỉ dành cho những vị khách vốn được mời nhưng còn cho những người mới đến nữa.
Chú thích. 3-4 Gởi đi lời mời trước (mà họ đã nhận lời) và cả sứ giả để nói rằng bữa ăn đã sẵn sàng, có tính phong tục. 11 Không có cơ sở lịch sử nào cho sự gợi ý của Augustine rằng quần áo dự lễ cưới đã được chủ tiệc cấp phát.
(Mat 22:1-14) xem giải nghĩa Mat 21:28-46
(Mat 22:15-22) Sự đánh thuế của người Rô-ma (Mac 12:13-17 Lu 20:20-26). Ba cuộc đối chất kế tiếp được khởi đầu bởi các địch thủ của Chúa Giê-xu, hòng gài bẫy Ngài vào những lời tuyên bố có hại mà có thể bị lợi dụng chống lại Ngài. Cuộc đối chất thứ nhất liên quan đến thuế thân của người Rô-ma, đã bị chống đối dữ dội bởi những người Do Thái ái quốc như một sự lệ thuộc chính trị của họ. Trước đó khoảng 25 năm, một cuộc nổi dậy lớn chống lại thuế này đã được dấy lên do một lãnh đao người Ga-li-lê được lòng dân tên là Giu-đa (Cong 5:37) từ ông nhóm người quá khích đã nhiễm nguồn cảm hứng của nó. Vì thế, đó là một câu hỏi bẫy: Ủng hộ thuế là không yêu nước, còn chống đối là nguy hiểm về mặt chính trị (đặc biệt đối với một lãnh đạo người Ga-li-lê được lòng dân).
Tuy nhiên, khi bảo họ cho xem một đơ-ni-ê, Chúa Giê-xu đã vạch trần họ là những kẻ giả hình. Vì không người Do Thái ái quốc nào nên mang đồng tiền này cả, với chân dung hình tượng của hoàng đế và hàng chữ khắc trên đó cho hoàng đế có danh hiệu là “Con Đức Chúa Trời”. Nếu họ sử dụng tiền của Sê-sa, hãy để họ đóng thuế thân của Ngài! Do vậy Chúa Giê-xu đã tách xa chính Ngài một cách dứt khoát khỏi lập trường quá khích, và ngụ ý rằng sự trung thành với chính quyền người ngoại không mâu thuẫn với lòng trung thành đối với Đức Chúa Trời. Ngài không nói điều gì phải được thực hiện khi hai sự trung thành mâu thuẫn.
(Mat 22:23-33) Sự sống lại (Mac 12:18-27 Lu 20:27-40). Không giống những người Pha-ri-si, những người đã mở đầu cuộc “thử nghiệm” vừa qua, người Sa-đu-sê vẫn không tin nơi sự sống sau khi chết, vì điều này không được dạy trong năm sách của Môi-se là Kinh Thánh duy nhất mà họ chấp nhận là có căn cứ chính xác. Họ cảm thấy đây là một lãnh vực trong sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu có thể bị làm cho bị phao cười. “Câu hỏi” của họ dựa trên luật anh em chồng lấy chị em dâu góa ở sách Phu 25:5-6 không phải là một sự tìm hiểu nghiêm túc nhưng là một mưu để chế giễu ý niệm thần học về sự sống lại mới mẻ này. Tuy nhiên, nó tạo nên một vấn đề thực về công tác mục vụ đối với những ai đã hơn một lần lặp gia đình.
Lời đáp của Chúa Giê-xu mang 2 ý. Về vấn đề cụ thể được đưa ra, Ngài xác định rằng (30) sự sống phục sinh không chỉ là sự tiếp nối của sự sống trên đất. Những lời của Ngài đôi khi bị hiểu như sự trình bày một đời sống trên trời ít hạnh phúc hơn đời sống hôn nhân trên đất. Ngược lại đó là một đời sống phong phú hơn. Tính độc nhất của hôn nhân thích hợp với đời sống sinh tử, trong đó có nhu cầu sinh con cái. Nhưng những ai được khiến sống lại đối với đời sống bất tử, giống như thiên sứ, có thể tiếp tục vui hưởng mối liên hệ yêu thương mà không có sự hạn chế và lòng hờn ghen mà sự ràng buộc hôn nhân trên đất đòi hỏi một cách đúng đắn.
Với vấn đề cơ bản hơn về chính sự sống lại, Chúa Giê-xu đã tìm thấy một nền tảng cho niềm tin này thậm chí trong Kinh Thánh của người Sa-đu-sê, các sách của Môi-se (31-32). Vì Đức Chúa Trời mô tả chính Ngài qua mối liên hệ với các trưởng tộc đã chết từ lâu (Xu 3:6) ngụ ý rằng có một mối liên hệ tiếp diễn, giao ước của Đức Chúa Trời với dân Ngài không bị ngăn trở bởi sự chết.
(Mat 22:34-40) Điều răn lớn nhất (Mac 12:28-31 so sánh Lu 10:25-27). Câu hỏi thứ 2 của người Pha-ri-si là một câu hỏi quan trọng và đã nhận một câu trả lời quan trọng. Nhưng nó vẫn là một “sự thử thách” vì một câu trả lời thiếu thận trọng có thể khiến Chúa Giê-xu bị ghép vào lời buộc tội rằng Ngài tìm cách “huỷ bỏ luật pháp” (Mat 5:17). Cả Phu 6:5 và Le 19:18 thường được trích dẫn trong sự bàn luận về luân lý của giới ra-bi, nhưng sử dụng chúng với nhau thể này như một tóm tắt về tất cả luật pháp và lời tiên tri (so sánh Mat 7:12 để có một tóm tắt khác) là một ý tưởng sáng tạo xuất sắc. Khi tập trung vào 2 nửa của Mười Điều Răn (trách nhiệm đối với Đức Chúa Trời và trách nhiệm đối với kẻ lân cận của chúng ta, nó đưa ra một nền tảng cho toàn bộ đời sống chúng ta, và bằng cách tóm tắt trách nhiệm đó như là tình yêu thương, nó vượt hơn những đòi hỏi cụ thể của luật pháp để đạt đến thái độ Đức Chúa Trời thích, là thái độ phải làm nền tảng cho những đòi hỏi đó.
(Mat 22:41-46) “Con vua Đa-vít?” (Mac 12:35-37 Lu 20:41-44). Giờ đây Chúa Giê-xu một lần nữa chủ động hỏi lại người Pha-ri-si. Câu hỏi của Ngài nghe như một thuyết thần học: Phải chăng Con vua Đa-vít là một danh hiệu thích hợp cho Đấng Mết-si-a? Nhưng chính Ngài đã nhiều lần được gọi bằng danh hiệu này, gần đây và công khai nhất ở Mat 21:9,15-16 được Ngài chấp nhận rõ ràng, thậm chí khơi gợi đáp ứng này. Vì vậy đó là chính địa vị của Ngài được bàn luận.
Con vua Đa-vít là một danh hiệu về Đấng Mết-si-a theo truyền thống, một danh hiệu mà không chỉ xuất hiện thường xuyên trong sự tường thuật của Ma-thi-ơ, nhưng còn tạo nên cơ sở của sự giới thiệu về Chúa Giê-xu là Đấng Mết-si-a trong chương 1. Vậy có lẽ không phải những câu này được dùng để phá hoại toàn bộ lý lẽ đó. Đúng hơn vấn đề là Đấng Mết-si-a cao hơn địa vị chỉ là con vua Đa-vít, như được trình bày bởi lời của Đa-vít trong Thi 110:1 Bản văn giống nhau được sử dụng lần nữa trong Mat 26:64 để tuyên bố về Chúa Giê-xu là một Đấng uy quyền siêu phàm.
Ở đây, một lần nữa Chúa Giê-xu cảnh cáo mọi người để không xét đoán chức vụ Ngài qua những thuật ngữ truyền thống, khác xa với việc được lên ngôi ở Giê-ru-sa-lem như một vị vua giống Đa-vít, chẳng bao lâu Ngài sẽ bị dân Ngài chối bỏ. Nhưng thậm chí lúc ấy, trên thập tự giá, sau cùng Ngài sẽ được nhận biết không phải là con vua Đa-vít (danh hiệu không xuất hiện lần nữa), nhưng là “Con Đức Chúa Trời” (27:54).
Chú thích. 43 Lý lẽ này tuỳ thuộc vào niềm tin cho rằng Đa-vít là tác giả của Thi 110:1-7 và cho rằng ông đang nói về Đấng Mết-si-a trong tương lai. Cả hai vấn đề này được hầu hết các học giả Cựu Ước ngày nay tranh luận, nhưng đã được cho là đương nhiên như vậy trong thời Chúa Giê-xu.
(Mat 23:1-12) Một lời cảnh cáo chống lại các thầy thông giáo và người Pha-ri-si (so sánh Mac 12:38-39 Lu 20:45-46). Chúa Giê-xu giờ đây tiếp tục sự công kích, và “sự công kích” không phải là từ quá mạnh đối với nhiều cách diễn đạt được Ngài sử dụng trong chương 23. Chỉ có Ma-thi-ơ kể đến cuộc tấn công tập trung này vào các chức sắc tôn giáo Do Thái tại thời điểm này. Nó cho thấy Chúa Giê-xu như một người tranh luận dữ dội, vì hoàn toàn sẵn sàng thắng kẻ thù khi mục đích yêu cầu điều đó. Và mục đích là quan trọng, vì điều đang được bàn luận là sự tương phản giữa những giá trị của nước thiên đàng và cách thực hành tôn giáo ở bề ngoài đã bị lột mặt nạ, đặc biệt ở Mat 5:17-48 15:1-20
Mục tiêu là các thầy thông giáo (các thầy dạy luật, một giai cấp những người chuyên nghiệp giải thích Kinh Thánh và truyền thống giới ra-bi) và người Pha-ri-si, một “đảng phái” tôn giáo mà đa số các thầy thông giáo đều dự phần, và là đảng phái tận tâm đối với sự tuân giữ quá thận trọng của toàn phạm vi hành pháp thuộc giới ra-bi. Nói chung, họ là những người đứng đắn, đạo đức, và sự công kích của Chúa Giê-xu ở đây dường như quá gay gắt và bất công. Nhưng mối quan tâm của Ngài khôngphải thiên quá nhiều về sự thực hành của họ với tư cách cá nhân, nhưng về hệ thống tuân giữ tôn giáo được họ gìn giữ. Khi khăng khăng giữ bộ sưu tập khổng lồ và đang phát triển về những luật lệ va quy tắc, họ ở trong nguy cơ bỏ qua những thái độ cùng động cơ bên trong và gắn bó chặt chẽ với hệ thống này hơn ý muốn của Đức Chúa Trời. Chính điều này, hơn là sự lừa dối có ý thức (dù câu 3 thật sự buộc tội họ cũng bằng sự lừa dối này) đã khiến họ trở thành những kẻ giả hình, theo một trong những từ ưa dùng của Ma-thi-ơ.
Tuy nhiên, trong câu 2-7 trọng tâm nhằm vào ước muốn của họ để gây một ấn tượng tốt (so sánh 6:1-6,16-18) bằng cách khoe khoang địa vị và uy quyền của mình. Họ không quan tâm đến những vấn đề mà sự dạy dỗ của họ đang tạo ra cho những người bình thường cố gắng làm theo (gánh nặng ở câu 4 chỉ về những yêu cầu thực tế mà sự ban hành luật pháp của các thầy thông giáo đặt ra trên đời sống hằng ngày, so sánh 11:28-30). Tương phản với điều này (8-12), các môn đệ không nên tìm kiếm địa vị nhưng phải vui vẻ nhận vị trí thấp nhất và phục vụ người khác. Phân đoạn cuối cùng này chọn chủ đề của 20:25-28 nhưng trong khi ở đó sự tương phản là với “các quan của dân ngoại”, ở đây sự tương phản là với những người được xem như những lãnh đạo của dân Đức Chúa Trời. Một ước muốn có những danh hiệu khoa trương và địa vị có uy thế, ngày nay vẫn có thể là một dấu hiệu cho thấy các môn dồ đang đi sai lạc khỏi những giá trị của nước Thiên đàng.
Chú thích. 2 Ngôi của Môi-se giới thiệu quyền dạy dỗ của những người có trách nhiệm giải thích luật của Môi-se. 3 Sau 15:1-20 sẽ gây ngạc nhiên nếu Chúa Giê-xu thật sự muốn nói rằng mọi điều trong sự dạy dỗ của các thầy thông giáo phải được vâng theo. Sự quân bình của câu này đúng hơn rơi vào phần nửa thứ hai: “Hãy làm những gì họ nói, nếu các ngươi thích, nhưng đừng làm điều họ làm”. 5 Thẻ bài da (những hộp đựng các cuộn giấy được buộc trên trán và tay khi cầu nguyện) và tua áo không bị lên án như thế (Chúa Giê-xu đã mang tua áo; xem 9:20 nơi mà từ Hi Lạp giống nhau được sử dụng), nhưng chúng cho thấy một phạm vi lớn về việc phô trương và dành lấy một thanh danh cho sự mộ đạo!
(Mat 23:13-26) Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si bị lên án (so sánh Lu 11:39-52). Những câu trước được nói với đoàn dân và các sứ đồ. Chúa tiếp tục nói trực tiếp với các thầy thông giáo và người Pha-ri-si, qua hình thức bảy “khốn thay”, tạo nên một đỉnh điểm mạnh mẽ về sự bác bỏ quyền lãnh đạo của họ. Hiện trường vì vậy được xây dựng cho sự tiên đoán về tai họa đối với Giê-ru-sa-lem mà chương này kết thúc.
Tai hoạ thứ nhất (13) mô tả cách họ thực hành tôn giáo như một sự ngăn trở cho những người thậtsự muốn làm đẹp lòng Đức Chúa Trời. Nhưng tai hoạ thứ 2 (15) công nhận rằng họ mong muốn thu phục những người qui đạo (vào Do Thái giáo). Vấn đề là hệ thống tôn giáo đó của họ khiến người ta trở nên tệ hại hơn chớ không phải tốt hơn (con của địa ngục nghĩa là người thuộc về nơi đó, so sánh “con bổn quốc” Mat 8:12). Những khốn thay còn lại thì đưa ra những ví dụ về cách những giá trị tôn giáo của họ bị hiểu sai.
Những lời thề (16-22) đưa ra phạm vi đầy đủ cho những sự phân biệt về luật pháp và là chủ đề của nhiều sự bàn luận trong giới ra-bi. Chúa Giê-xu đã chứng minh rằng chúng không cần phải được sử dụng gì cả (5:33-37). Ở đây Ngài nói thêm rằng những cố gắng phân biệt giữa những lời thề ít hay nhiều hơn hệ trọng là vô ích, vì tất cả cuối cùng trở về với Đức Chúa Trời là Đấng mà danh Ngài được kêu cầu.
Khốn thay thứ tư (23-24) không lên án hành động dâng phần 10 của họ như vậy (NB – không bỏ qua điều thứ nhất), nhưng chỉ ra thiếu sót đi vào chi tiết tỉ mỉ về việc dâng 1/10 thảo dược trong vườn nhưng quên đi sự công bình, thương xót và trung tín. Các tiên tri thường phản đối tập trung về nghi lễ và quên những điều thực sự quan trọng (so sánh Mi 6:6-8)
Khốn thay thứ năm và thứ sáu (25-26,27-28) tương tự đề cập đến ưu tiên về sự tinh sạch bề trong đối với sự sạch sẽ bên ngoài. Đây là vấn đề Chúa Giê-xu đã đưa ra trong Mat 15:11,17-20 có liên hệ đến việc rửa tay theo nghi thức. Sự đề cập trong câu 27 có thể chỉ về những bình đựng hài cốt, những hòm nhỏ mà bên trong xương người được thu lượm, và thường được cho một lớp thạch cao phủ lên để làm cho chúng được đẹp.
Khốn thay thứ bảy (29-31) dẫn đến một đoạn thảm khốc tuyên bố rằng sự chống nghịch của Y-sơ-ra-ên đối với Đức Chúa Trời giờ đây đã đạt tới cực điểm của nó, qua dòng dõi này (so sánh về 12:38-45) vì vậy sự phán xét đã được ấp ủ từ lâu, giờ cuối cùng phải ập xuống họ. Với thời gian trôi qua thật dễ cho những người không tán thành với cách tổ phụ họ đã đối xử các tiên tri cùng người công bình và xây những mồ mả cách tôn trọng, nhưng thực ra không có gì thay đổi. Họ vẫn là con cháu của những tổ phụ đó, qua thái độ cũng như qua gia phả, như cách họ đối xử các sứ giả của Đức Chúa Trời trong chính thời của họ đã chứng minh (34). Vì vậy khi họ làm cho đầy dẫy cái lường tội lỗi của Y-sơ-ra-ên, đỉnh điểm đã đến và máu vô tội của mọi người phát ngôn của Đức Chúa Trời trong quá khứ sẽ đổ trên dòng dõi họ (so sánh 27:25 về cách bày tỏ trách nhiệm đối với sự chết và trách nhiệm pháp lý đối với sự đoán phạt).
Chú thích. 34 Những tiên tri, kẻ khôn ngoan và thầy giáo (thầy thông giáo); là những người phát ngôn của Đức Chúa Trời trong thời Cựu Ước. Chúa Giê-xu mô tả các môn đệ của Ngài bằng những thuật ngữ tương tự. Họ có thể nghĩ đến số phận không khá hơn Chủ mình. 35 A-bên và Xa-cha-ri là những thánh tử đạo đầu tiên và cuối cùng được đề cập trong Cựu Ước (vì IISử Ký là sách cuối cùng của Kinh điển Hê-bơ-rơ), và trong cả 2 câu chuyện, tiếng kêu gọi báo thù sự chết thật rất rõ ràng (Sa 4:10 IISu 24:22). Xa-cha-ri trong 24:1-27 được mô tả là con trai của Giê-hô-gia-đa, trong khi Ba-ra-chi là cha của một Xa-cha-ri khác (Xa 1:1). Không trường hợp nào chúng ta có đủ thông tin về gia đình này để đưa ra một giải thích chắc chắn về sự lẫn lộn này (xảy ra đâu đó trong các tác phẩm Do Thái).
(Mat 23:37-39) Số phận của Giê-ru-sa-lem (Lu 13:34-35). Khốn thay thứ 7 mở rộng phạm vi từ sự giả hình của các thầy thông giáo và người Pha-ri-si cho đến toàn bộ tội lỗi của Y-sơ-ra-ên qua việc họ chối bỏ các sứ giả của Đức Chúa Trời. Giờ đây, kết luận không thể tránh khỏi được rút ra. Giê-ru-sa-lem đã chối từ sự kêu gọi của vị sứ giả cuối cùng và cao trọng nhất của Đức Chúa Trời, và giờ đây sự đoán xét phải ập xuống. Đặc biệt là nhà các ngươi (đền thờ) sẽ bỏ hoang, không chỉ bị tàn phá (Mat 24:2) mà còn bị Đức Chúa Trời từ bỏ, như đã xảy ra nhiều năm trước, khi sự kêu gọi của Giê-rê-mi bị chối từ (câu 38 lặp lại Gie 12:7).
Chúa Giê-xu tuyên bố “câu” này không phải với niềm hân hoan phục thù nhưng với sự hối tiếc buồn bã (37). Ngài hy vọng một sự đáp ứng tốt đẹp hơn, Phước cho Đấng nhơn danh Chúa mà đến!, và thật sự đó là cách Ngài đã được đưa vào thành bởi những người Ga-li-lê theo Ngài (Mat 21:9). Chỉ khi Giê-ru-sa-lem sẵn sàng lặp lại lời hoan nghênh đó, thì họ mới có thể hy vọng thấy ta lần nữa. Ngài không nói khi nào điều này sẽ đến, nếu vậy thì tiếng Hi Lạp đối với từ cho đến lúc mập mờ một cách chủ ý (“nếu và khi”).
4. Bài giảng thứ 5: Sự phán xét (Mat 24:1-25:46)
Chủ đề của phần sưu tập lớn cuối cùng về sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu đương nhiên theo sau chương trước, cùng với đỉnh điểm của nó qua lời tiên đoán rằng sự phán xét sắp ập xuống Giê-ru-sa-lem. Chính từ thời điểm đó mà nó khởi đầu, với sự tiên đoán rõ ràng hơn về sự huỷ phá toàn bộ đền thờ trong câu 2. Bài giảng tiếp theo giải đáp cho câu hỏi của các môn đệ, “lúc nào điều này sẽ xảy ra?” Nhưng câu hỏi của họ trong Ma-thi-ơ (không phải trong Mác hay Lu-ca) kết hợp sự huỷ phá đền thờ (thực tế đã xảy ra năm 70 S.C., khi người La Mã đàn áp cuộc nổi dậy của người Do Thái) với một sự kiện thứ 2, sự Chúa đến (tiếng Hi Lạp parousia) và tận thế.
Vấn đề chủ yếu trong sự giải thích chương 24 là biết sự kiện nào thuộc hai sự kiện này được xét đến vào mỗi thời điểm (qua chương 25 người ta thừa nhận chung rằng trọng tâm đã đi từ đền thờ đến sự đến của Chúa Giê-xu). Bình luận theo sau dựa trên quan điểm đến câu 35 mà Chúa Giê-xu đang nói (thường bằng ngôn ngữ mang tính biểu tượng cao) về sự tàn phá Giê-ru-sa-lem ắt phải xảy đến (như thật dã xảy đến) trước khi dòng dõi này qua đi (34). Ngày và giờ không biết, được giới thiệu trong câu 36 ấy là sự mở đầu câu trả lời của Ngài đối với câu hỏi thứ 2 về sự đến của Ngài (từ được sử dụng lại trong c.37 và c.39). Đa số các nhà giải nghĩa nghĩ rằng chủ đề sự đến bắt đầu sớm hơn, ít nhất kể đến câu 29-31. Không gian không cho phép một lý luận đầy đủ cho quan điểm được trình bày ở đây, (để biết một bàn luận đầy đủ hơn, hãy xem R. T. France, Mathew - TNTC, IVP, 1984).
(Mat 24:1-2) Đền thờ bị tàn phá (Mac 13:1-2 Lu 21:5-6). Khi Ma-thi-ơ đề cập rằng Chúa Giê-xu ra khỏi đền thờ, và đi lên núi Ô-li-ve đối diện (3), có thể ông không chỉ nghĩ đến sự rút lui của Chúa Giê-xu khỏi đời sống công chúng Do Thái, nhưng cũng nghĩ đến khải tượng của Ê-xê-chi-ên về sự vinh hiển của Đức Chúa Trời lìa khỏi ngôi đền thờ bị kết án và ngự trên núi Ô-li-ve (Exe 10:18-19 11:22-23).
Kiến trúc đền thờ, mới được vua Hê-rốt xây dựng, là một trong những kỳ quan kiến trúc của thế giới cổ đại. Nhưng lời tiên tri của Chúa Giê-xu không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn khác phải được ứng nghiệm theo nghĩa đen. Tất cả những gì còn sót lại qua cuộc tấn công của người La Mã là một phần của nền đất mà các công trình kiến trúc được xây trên đó (kể cả “Bức tường than khóc”, Wailing Wall).
(Mat 24:3-14) Hãy cẩn thận về sự trông đợi hấp tấp (so sánh Mac 13:3-13Lu 21:7-19). Mặc dù có nhiều độc giả tìm kiếm chương này một cách nôn nóng để biết “những dấu hiệu của sự cuối cùng” chủ đề của nhiều chủ đề, đặc biệt là phân đoạn này, là nguy cơ nhảy bước quá nhanh đến những kết luận rằng “sự cuối cùng” (theo bất cứ nghĩa nào) sắp xảy đến.
Trước năm 70 S.C., nhiều người theo chủ nghĩa dân tộc đã nổi dậy tự lập mình làm lãnh đạo dân Đức Chúa Trời (4-5), vì vậy lấn chiếm vị trí của Chúa Giê-xu với tư cách Đấng Mết-si-a (mạo danh ta). Tương tự (6-8), có những cuộc chiến và những thiên tai suốt thời kỳ đó, như đã có trong những thời kỳ lịch sử. Mặc dù những điều này là khởi đầu của những cơn đau sinh nở, chúng không nên bị giải thích những dấu hiệu cụ thể rằng sự cuối cùng (theo bất cứ nghĩa nào) sắp xảy đến.
Suốt thời kỳ chuyển tiếp này, các môn đệ phải nghĩ đến việc bị bắt bớ như Chúa Giê-xu đã giải thích trong Mat 10:17-23 nhưng trong khi ở chương 10 trọng tâm nhằm vào sự bắt bớ của người Do Thái, thì giờ đây có một trọng tâm rộng hơn, bao gồm mọi dân. Câu 10-14 miêu tả một bức tranh sôi động về sự khủng hoảng giữa vòng dân sự Đức Chúa Trời cũng như sự hỗn loạn bên ngoài. Chúng không đòi hỏi sự tính toán ngày tháng, nhưng đòi hỏi sự trung tín. Môn đệ thật sẽ không để những nghịch cảnh ảnh hưởng đến lòng yêu mến (12), sự chịu đựng (13) và sự trung tín rao giảng của họ về Tin lành của nước Đức Chúa Trời (14).
Câu 14 không cụ thể hoá điều gì trong hai khía cạnh thuộc câu hỏi của các môn đệ mà sự cuối cùng được dự định nói đến. Trong thời kỳ nước năm 70 S.C., Phúc Âm thật sự đã được rao giảng ở nhiều nơi thuộc vùng Địa Trung Hải (điều mà đa số những người nói tiếng Hi Lạp thời đó hiểu là khắp thế giới). (So sánh Ro 15:19 được viết giữa những năm 50, sau đó việc truyền giáo của Phao-lô tiếp tục phát triển ra, không đề cập đến việc truyền giáo của các sứ đồ khác). Trước khi đền thờ bị phá huỷ. Hội Thánh Cơ Đốc đã trở nên một cộng đồng thế giới thật sự. Dĩ nhiên, kể từ đó Phúc Âm đã được rao giảng rộng rãi hơn nhiều, cũng như thế giới được biết đến đã gia tăng, dù vậy sự làm chứng cho mọi dân theo nghĩa đen ngay cả cho đến ngày nay vẫn còn là một vấn đề.
Chú thích. 3 sự đến (Parousia) được dùng chủ yếu để chỉ về những cuộc viếng thăm đặc biệt bởi những người có thẩm quyền. Trong Tân Ước, nó thường (nhưng không phải luôn luôn) chỉ về “sự đến thứ 2” của Chúa Giê-xu đã được tiên đoán. Để biết về kỳ cuối cùng, hãy so sánh 13:39,40,49
(Mat 24:15-28) Sự khủng hoảng sắp đến ở Giu-đê (Mac 13:14-23 so sánh Lu 17:23-24,37 21:20-24). Các câu 4-14 đã cảnh cáo chống lại sự nhận dạng quá dễ dàng về “những dấu hiệu của sự cuối cùng”. Giờ đây câu hỏi ở câu 3 bắt đầu được trả lời trực tiếp hơn. Các câu 15-22 nói về sự vây hãm thành Giê-ru-sa-lem sắp đến, xảy ra trước sự huỷ diệt đền thờ. Trong khi câu 23-28 một lần nữa cảnh cáo chống lại việc cho rằng thậm chí thời kỳ kinh khủng đó cũng là lúc Chúa Giê-xu đến và tận thế.
Sự gớm ghiếc gây sự hoang vu là một thành ngữ trong Da 11:31 12:11 (so sánh Mat 9:27) chỉ về tượng thần mà Antiochus Epiphancs đã dựng lên trong đền thờ Giê-ru-sa-lem khi ông chủ tâm phàm tục hoá đền thờ vào năm 167 T.C.. (xem những phân đoạn thích hợp trong đề mục về Đa-ni-ên). Chúa Giê-xu đã tiên đoán hành động xúc phạm tương tự như điềm báo trước về sự huỷ phá đền thờ và tín hiệu để dân Đức Chúa Trời thoát ra trong khi họ còn có thể. Sự việc xảy ra dưới dạng thức nào là điều hoàn toàn không rõ (ai đọc phải để ý). Một số gợi ý dựa trên những gì đã xảy ra bao gồm việc những người Xê-lốt phàm tục hoá đền thờ vào mùa đông của năm 67/68 điều mà Josephus đã nói đến, hoặc các tượng ảnh La Mã được đưa vào đền thờ năm 70. Lu 21:20 thay vào đó nói về “Giê-ru-sa-lem bị quân lính vây hãm”. Sự bao vây của quân La Mã đánh dấu sự khởi đầu của sự phàm tục hoá nơi thánh.
Trong ánh sáng sự tường thuật khủng khiếp của Josephus về những sự kinh khủng của sự vây hãm năm 66-70 S.C., những lời trong câu 21 (lặp lại Da 12:1). Không phải là một sự phóng đại quá mức. Nhưng thậm chí như vậy, Đức Chúa Trời vẫn không vắng mặt, mà sẽ giảm bớt những ngày ấy vì cớ những người được chọn, nghĩa là giúp dân sự Ngài có thể sống sót.
Một thời kỳ hỗn loạn sẽ cho thấy một cơ hội mới mẻ cho loại người mạo danh đã được báo trước ở câu 5. Vấn đề họ có thể hỗ trợ cho sự tuyên bố của mình bằng những dấu lạ và phép lạ lớn là một sự cảnh cáo hữu ích chống lại việc rút ra những kết luận quá vội vàng từ những dấu lạ và việc lạ mạo xưng ngày nay (so sánh Mat 7:22-23).
Tương tự, những người theo Chúa Giê-xu phải coi chừng những lời tuyên bố rằng Ngài đã tái lâm cách bí mật, trong đồng vắng hay trong phòng. Sự đến của Ngài, khi xảy ra, sẽ không phải là một việc bí mật nhưng rõ ràng như một ánh chớp. Vì vậy, rõ ràng là trong phần bài giảng này, Chúa Giê-xu không nói về sự đến (parousia), như một số giải nghĩa đã gợi ý, câu 27 nói chính xác rằng thời kỳ này không phải là thời kỳ Chúa đến. Như sự hiện diện của chim ó chỉ rõ nơi có một xác chết thì cũng sẽ không có gì bí mật về sự đến của Con Người.
Chú thích. 20 Vào mùa đông, những con đường không thể vượt qua được, và vào ngày Sa-bát những cánh cổng sẽ bị đóng, và lương thực không thể mua được.
(Mat 24:29-35) Đỉnh điểm của sự khủng hoảng sắp đến (Mac 13:24-31 Lu 21:25-33). Những câu này thường được hiểu là chỉ về sự đến, và vì vậy là sự di chuyển đến phần thứ hai của câu hỏi của các môn đệ. Nhưng lập tức sau đó không nhường chỗ cho sự trì hoãn lâu, cũng không có một thời điểm rõ ràng được trình bày trong câu 34. Từ parousia không xuất hiện trong phân đoạn này nhưng được giới thiệu lại một cách nổi bật trong phân đoạn mới bắt đầu ở câu 36, nơi mà thời điểm không được biết tương phản với sự khẳng định rõ ràng rằng những sự kiện của phân đoạn này sẽ xảy ra trong dòng dõi này. Vì vậy, phân đoạn này tiếp tục ngay với điều đã qua trước đó, sự tường thật về cuộc vây hãm Giê-ru-sa-lem. Ở đây chúng ta đi đến đỉnh điểm của nó.
Những lời trong câu 29-31 hầu như hoàn toàn được kết hợp nhau từ các bản văn tiên tri Cựu Ước. Câu 29 được rút ra từ Es 13:10 và 34:4 nơi mà lối diễn đạt về sự thay đổi đột ngột có quy mô tượng trưng cho sự sụp đổ chính trị của các nước vô thần. Lối diễn đạt về Con người đến trên đám mây được rút ra từ Da 7:13-14 như chúng ta đã hiểu (về Mat 10:23 16:28 19:28), nó chỉ về sự xác minh và sự lên ngôi của Chúa Giê-xu (chớ không phải sự đến của Ngài). Câu 31 dựa trên những phần Kinh Thánh về sự trở về của dân Y-sơ-ra-ên từ cảnh lưu đày đã được hứa.
Vì vậy, trong văn cảnh này, lối diễn đạt đầy thú vị này đúng ra chỉ về những thay đổi lớn sắp xảy ra trên thế giới, khi Giê-ru-sa-lem và đền thờ bị phá huỷ. Nó nói về Con Người bước vào vương quyền của Ngài, và các thiên sứ Ngài nhóm dân mới của Ngài từ khắp đất. Sự sụp đổ của đền thờ vì vậy được trình bày, bằng lối diễn đạt ám chỉ cao siêu, như sự kết thúc của trật tự cũ, để được thay thế bởi chính thể mới của Chúa Giê-xu Con người, và sự phát triển khắp thế giới của Hội Thánh Ngài, dân mới của Đức Chúa Trời.
Tất cả mọi điều này sẽ sớm xảy ra, một khi những dấu hiệu mở đầu ở câu 15-21 đã xuất hiện, giống như mùa hạ tất yếu sẽ nhanh chóng đến sau một khi những chiếc lá xuất hiện trên cây vả. Chúng ta có lời của Chúa Giê-xu cho biết mọi sự sẽ kết thúc ngay trong thế hệ này.
Chú thích. 30 Dấu hiệu dịch ra từ một từ Hi Lạp mà ở đâu đó có nghĩa là biểu ngư. Giống như tiếng kèn ở câu 31, đây là hình ảnh quân đội về sự chiến thắng của Con Người. Mọi dân trên đất nên được dịch là “mọi chi phái trên đất” (của Palestine). Những lời này được rút ra từ Xa 12:10 nơi mà bức tranh chỉ về dân Y-sơ-ra-ên than khóc, chi phái này đến chi phái khác, về “Đấng họ đã đâm”. 31 Các đoạn sách Cựu Ước được sử dụng chủ yếu là Es 27:13 Phu 30:4 và Xa 2:6 34 Kinh Thánh NIV đưa ra từ “race” (dòng dõi) như một sự thay đổi “Giê-ru-sa-lem”. Gợi ý này được nhắc nhở bởi sự lúng túng của những người nghĩ rằng câu 30 chỉ về sự đến (parousia) hơn là bởi bất cứ ý thức tự nhiên nào về từ genea!
(Mat 24:36-51) Sự đến không ngờ của Con Người (so sánh Mac 13:32-37 Lu 17:26-27,34-35 12:42-46). Tất cả những gì nói về dấu hiệu và thời gian giờ đây biến mất, khi chúng ta chuyển từ những sự kiện của dòng dõi này đến sự đến. Điều duy nhất có thể nói cách chắc chắn về thời giờ của sự đến là nó sẽ đến lúc người ta không ngờ.
Câu 36 đáng chú ý không chỉ là việc Chúa Giê-xu thừa nhận sự thiếu hiểu biết mà nói theo cách nghịch lý, nó cũng đáng chú ý vì nó đồng thời đặt Ngài ở vị trí cao hơn các thiên sứ và đứng thứ 2 chỉ sau Cha. Quan điểm này về địa vị của Con được sánh ngang trong sách Phúc Âm này chỉ ở Mat 11:27 và 28:19
Nếu thời gian không được biết, con người sẽ không có sự chuẩn bị, như trong đời Nô-ê. Sẽ chỉ có 2 nhóm người, những người sẵn sàng (người được cứu) và những người không sẵn sàng (người hư mất). Câu 40-41 minh hoạ bằng những bức tranh sống động từ đời sống hằng ngày thể nào sự phân hoá cơ bản này sẽ tách những người có hoàn cảnh giống nhau. Cách để sẵn sàng không phải là cố gắng tính toán ngày tháng, vì điều đó không thể thực hiện được (như kẻ trộm không thông báo giờ mình đến), ngoại trừ luôn luôn tỉnh thức.
Tuy nhiên, không dễ dàng sống đời sống luôn cảnh giác. Vì vậy câu 45-51 giải thích ý nghĩa “sẵn sàng” bằng một ví dụ. Khi chủ giao cho đầy tớ trách nhiệm suốt thời gian mình vắng mặt, chủ không mong thấy đầy tớ chờ ở cửa khi ông trở về, nhưng đúng hơn mong đầy tớ tiếp tục công việc được giao phó. Không ai trong hai đầy tớ được miêu tả biết trước sự trở về của chủ; sự khác nhau là ở phương diện chủ thấy họ cư xử. Sự “sẵn sàng” của chúng ta đối với sự đến của Chúa Giê-xu không phải ở trong sự suy đoán đầy kích động nhưng ở trong chức phận quản gia trung tín.
Chú thích. 47 Những chủ đề về phần thưởng và sự đoán phạt luôn xuất hiện trong Phúc Âm của Ma-thi-ơ. Phần thưởng cho sự hầu việc trung tín là trách nhiệm lớn hơn (so sánh 25:21,23).
(Mat 25:1-13) Ví dụ về những nàng phù dâu Ví dụ này tiếp tục chủ đề về sự sẵn sàng, và nó kết luận ở câu 13 bằng những lời trực tiếp lặp lại 24:42 Nó nhấn mạnh thêm sự phân hoá giữa những người sẵn sàng và những người không sẵn sàng.
Bối cảnh là một lễ cưới trong làng, với những người nữ đồng trinh (có lẽ là những phù dâu theo nhận thức của chúng ta, hoặc những người bạn, hay những đầy tớ của chàng rể) chờ tháp tùng chàng rể trong đám người rước đèn cuối buổi lễ, khi chàng rể rước cô dâu của mình về nhà. Những cây đèn có thể là những cây đuốc làm bằng những miếng giẻ tẩm dầu được bọc trên một khúc cây mà nó sẽ cháy trong nhiều phút trước khi được nhúng trong dầu trở lại. Không có sự cung cấp dầu thêm, chúng sẽ tắt ngay khi được thắp lên (8).
Một phần quan trọng của câu chuyện là sự đến trễ: Hội Thánh phải được chuẩn bị để chờ đợi sự đến của Chúa. Cả 10 người nữ đồng trinh cảm thấy buồn ngủ suốt thời gian chờ đợi, vì vậy vấn đề (như với 2 đầy tớ trong 24:45-51) không phải là chúng ta nên luôn tỉnh thức nhưng là chúng ta phải có sự chuẩn bị cần thiết khi thời gian đến. Ví dụ này không giải thích sự chuẩn bị đó là gì, nhưng ví dụ kết tiếp đưa ra một gợi ý.
Ở cuối ví dụ, câu chuyện mang màu sắc của sự ứng dụng, khả năng loại trừ cuối cùng khỏi nước thiên đàng, câu 12 lặp lại ở 7:23 mang tính báo điềm xấu.
(Mat 25:14-30) Ví dụ về những ta-lâng (so sánh Lu 19:11-27). Giống như ví dụ về 2 đầy tớ trong Mat 24:45-51 ví dụ này nói đến một người chủ đi xa và giao cho các đầy tớ những trách nhiệm để hoàn thành. Lại có một thời gian dài (19) để chờ đợi, và vấn đề là ai sẽ sẵn sàng cho sự trở về của chủ. Tuy nhiên, không giống như ví dụ trước, ví dụ này gợi ý sự sẵn sàng phải như thế nào. Nó không phải là ở trong sự chờ đợi thụ động nhưng trong sự xúc tiến công việc và chuẩn bị cơ hội tốt nhất được giao phó cho chúng ta.
Ta-lâng đơn giản là tên gọi của một số tiền (rất lớn), theo giá trị ngày nay thì tương đương với nhiều ngàn bảng Anh, như nó đã được áp dụng cho những tài năng và khả năng Đức Chúa Trời ban cho mà chúng ta có trách nhiệm về cách sử dụng. Có lẽ đây là một áp dụng có căn cứ của câu chuyện, nhưng chúng ta không nên tưởng tượng rằng từ Hi Lạp chính nó truyền tải điều gì hơn là ý nghĩa tiền tệ theo nghĩa đen của nó.
Những khoản tiền khác nhau (dù tất cả rất lớn) được giao cho mỗi đầy tớ, tuỳ theo khả năng mỗi người, và sự trả lại được mong đợi là theo tỉ lệ số tiền được giao phó. Đức Chúa Trời nhận thấy rằng chúng ta đều khác nhau và chỉ chờ mong nơi chúng ta điều gì thích hợp. Thật ý nghĩa khi hai người đầy tớ thành công nhận được những lời khen giống nhau của chủ (21,23) cho dù mức trách nhiệm ban đầu của họ và mức thành quả của họ khác nhau. Nhưng có một “sự ban cho” kém hơn không miễn trừ cho chúng ta nỗ lực thích đáng, lỗi của người đầy tớ thứ 3 là anh ta đã không nhận biết ý định của chủ mình, và đã chọn lựa sự an toàn thay vì hầu việc. Với hy vọng tránh làm điều gì sai trái, anh ta đã giải quyết bằng cách không làm điều gì phải.
Mặc dù sự mô tả của người đầy tớ thứ 3 về người chủ như một nhà tư bản tham lam (24) không có ý nói là một sự mô tả bóng bẩy về Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời thật sự mong đợi và thưởng công cho việc sử dụng những cơ hội một cách sáng tạo cho sự hầu việc được mở ra cho chúng ta. Nếu chúng ta sai lầm nhìn Đức Chúa Trời như một người chủ nghiêm khắc thì thật khó cho chúng ta có thể đáp ứng với Ngài trong tình yêu và lòng rộng mở. Chúng ta phải sử dụng những sự ban cho của Ngài một cách có trách nhiệm. Nhưng cũng mạo hiểm. Đó là cách để sẵn sàng cho sự đến của Chúa.
(Mat 25:31-46) Sự phán xét sau cùng Vì sự phán xét là chủ đề xuyên suốt bài giảng này, nó kết thúc thích đáng với sự mô tả tuyệt vời này về Con Người được lên ngôi trong vinh hiển, xét đoán muôn dân. Mặc dù thường được mô tả như một ví dụ, nó không phải là một câu chuyện minh hoạ, nhưng là một khải tượng về tương lai. Yếu tố “ví dụ” duy nhất trong đó là lối so sánh như kẻ chăn chiên chia chiên với dê ra ở câu 32-33.
Lối diễn đạt về việc Con Người đến, các thiên sứ, ngôi và sự phán xét đều bắt nguồn từ Da 7:9-14 Đây là công việc cuối cùng của vương quyền và quyền hạn mà lời tiên tri đó đã chỉ về Con Người, và điều mà Chúa Giê-xu đã đề cập đến trong nhiều câu tiếp nối (Mat 10:23 16:28 nhưng ở đó quan toà chính là Đức Chúa Trời. Cả phân đoạn nhẹ nhàng quy về cho Chúa Giê-xu thẩm quyền và vương quyền mà trong Cựu Ước chỉ thuộc về Đức Chúa Trời.
Phân đoạn này thường được hiểu dạy rằng sự cứu rỗi cuối cùng chỉ dựa trên những hành động tử tế, vì vậy không có gì mang tính Cơ Đốc cụ thể về tiêu chuẩn của sự phán xét. Nhưng đó là bỏ qua sự mô tả quan trọng về những người nhận sự tử tế này với tư cách người trong những người hèn mọn nhất này của anh em ta (40, so sánh câu 45). Nhóm từ này gợi ý rằng đó không phải chỉ là bất cứ ai mà những người công bình đã giúp đỡ, còn kẻ khác làm ngơ: đó là những môn đệ gặp túng thiếu. Nhóm từ những người hèn mọn nhất nhắc nhở chúng ta về “những đứa nhỏ” trong Mat 10:42 18:6,10,14 và chúng ta đã thấy ở trên rằng đây là một thuật ngữ chỉ về những môn đệ của Chúa Giê-xu. Khi Chúa Giê-xu nói rằng trong việc giúp đỡ họ các ngươi đã làm điều đó cho ta, sự đồng nhất hoá gây xúc động này của Chúa Giê-xu với “anh em” Ngài nhắc lại nguyên tắc của 10:40-42 nơi mà việc tiếp nhận các môn đệ tức là tiếp nhận Chúa Giê-xu, và chính một cốc nước được cho “một người trong bọn nhỏ này vì người nhỏ đó là môn đệ ta” sẽ được thưởng. Trong trường hợp đó, tiêu chuẩn của sự phán xét không chỉ là lòng nhân đức (tốt như vốn có), nhưng là sự đáp ứng của con người đối với nước thiên đàng như họ đã gặp trong con người của “anh em” Chúa Giê-xu.
Chú thích. 34 Nước thiên đàng đã sắm sẵn cho các ngươi có thể đơn giản chỉ về việc bước vào nước của Chúa Giê-xu, nhưng lối diễn đạt về sự thừa kế đúng hơn gợi ý rằng chính họ dự phần vương quyền đó (như trong Mat 19:28), giống như một sự chia sẻ quyền hạn của chủ được dành cho các đầy tớ trung tín trong câu 21,23. 41,46 Đời đời có thể mang ý nghĩa vĩnh cửu nhưng bao quát hơn, nó có nghĩa “thuộc về thời kỳ hầu đến”, đó là một tuyên bố về chất lượng hơn là thời gian. Vì vậy, những câu này không giải quyết tranh cãi giữa những người hiểu địa ngục là sự đau đớn bất tận có ý thức và những người thấy nó như sự huỷ diệt hoặc sự không tồn tại.
5. SỰ CHẾT VÀ SỰ SỐNG LẠI CỦA CHÚA GIÊ-XU (Mat 26:1-28:20)
Bối cảnh giờ đây đã được dựng lên cho đỉnh điểm của vở kịch. Chúa Giê-xu đã chấp nhận đến Giê-ru-sa-lem một cách kịch tính, và trong cuộc chạm trán không thể tránh được theo sau, Ngài đã từ chối quyền lãnh đạo chính thức của Y-sơ-ra-ên và tuyên bố sự phán xét của Đức Chúa Trời trên “dòng dõi này”. Sự phản ứng xảy đến nhanh chóng, và những sự kiện được nói trước trong Mat 16:21 và 20:18-19 giờ đây tiếp nối. Trung tâm của chúng là thập tự giá, nhưng đó sẽ không phải là đoạn kết của câu chuyện. Chúa Giê-xu sẽ bị đàn áp dữ dội, nhưng Ma-thi-ơ không để chúng ta thấy Ngài như nạn nhân vô vọng của những hoàn cảnh. Đúng hơn ông nhấn mạnh rằng số phận của Chúa Giê-xu là sự hoàn thành mục đích của Đức Chúa Trời được sắp đặt trong Kinh Thánh; và cuốn sách kết thúc bằng một sự đảo ngược đầy kịch tính về địa vị, khi Con Người bước vào vương quyền của Ngài và khởi đầu công việc truyền giáo của Hội Thánh cho mọi dân.
1. Sự chuẩn bị cho sự thương khó (Mat 26:1-46)
(Mat 26:1-5) Bố trí bối cảnh (so sánh Mac 14:1-2 Lu 22:1-2). Lễ Vượt Qua kỷ niệm sự kiện Đức Chúa Trời giải cứu dân sự Ngài khỏi cảnh nô lệ ở Ai Cập và đặc biệt là sự hy sinh của chiên con trong lễ Vượt Qua để bảo vệ họ khỏi sự chết (Xu 12:1-30). Có một sự tượng trưng rõ rệt qua sự kiện Chúa Giê-xu sẽ bị đóng đinh trên cây thập tự vào kỳ lễ này, như câu 17-29 làm rõ hơn.
Sự hiện diện của Chúa Giê-xu ở Giê-ru-sa-lem (lần đầu tiên trong câu chuyện của Ma-thi-ơ) đã cho các thầy tế lễ cả và các trưởng lão cơ hội giết Ngài, như thật sự những người Pha-ri-si đã đề nghị trước đó ở Ga-li-lê (Mat 12:14). Nhưng Chúa Giê-xu có nhiều người ủng hộ (21:9,15,46) và một cuộc nổi loạn giữa vòng dân sự là một khả năng nghiêm trọng nếu Ngài bị bắt công khai. Phải có một giải pháp bất ngờ cho sự tiến thoái lưỡng nan này (14-16).
(Mat 26:6-13) Sự xức dầu tại Bê-tha-ni (Mac 14:3-9 so sánh Lu 7:36-50). Sự xức dầu cho thấy vai trò của Chúa Giê-xu là Đấng Mết-si-a (nghĩa là “Đấng được xức dầu”) nhưng đồng thời báo trước sự chết của Ngài (12). Hành động cao đẹp của người đàn bà vì vậy tượng trưng cho sự thương khó đến gần của Đấng Mết-si-a là Chúa Giê-xu. Đó là một hành động của tình yêu và sự dấn thân, một điều đẹp đẽ, dù chính đó là tin dữ. Nhưng các môn đệ có thể chỉ thấy sự phung phí. Lời đáp của Chúa Giê-xu không có ý coi thường sự quan tâm đối với người nghèo, và câu 11 ngụ ý rằng đây sẽ là một sự quan tâm tiếp tục đối với các môn đệ Ngài. Nhưng thậm chí sự quan tâm thích đáng này cũng mất cân đối, nếu nó loại trừ sự cao đẹp tự phát của tình yêu trong những trường hợp đặc biệt đối với sự hy sinh đang đến gần của Chủ mình. Những hành động từ thiện của cá nhân có thể sớm bị quên lãng, nhưng việc người ấy đã làm sẽ để lại một mẫu mực về sự dấn thân bất cứ nơi nào Phúc Âm này được giảng ra (so sánh Mat 24:14).
Chú thích. 6 Bê-tha-ni là quê hương của Ma-thê và Ma-ri, và Gi 12:3 gọi tên người đàn bà là Ma-ri. Mặt khác, Si-môn này không được biết đến, có lẽ Chúa Giê-xu đã chữa bệnh phung cho ông trước kia. 7 Dầu thơm là dầu cam tùng, một loại dầu được nhập từ Ấn Độ, đôi khi được sử dụng để xức cho người chết (do đó có c.12) nhưng cũng được đánh giá là một loại mỹ phẩm xa xỉ.
(Mat 26:14-16) Sự phản bội của Giu-đa (Mac 14:10-11 Lu 22:3-6). Hiểu biết của Giu-đa về những hoạt động nội bộ của Chúa Giê-xu và nhóm của Ngài suốt thời gian họ ở Giê-ru-sa-lem có thể giúp ông tỏ cho các nhà cầm quyền biết khi nào và ở đâu Chúa Giê-xu có thể bị bắt cách bí mật (c.5). Ba mươi miếng bạc là số tiền xứng đáng như sự đền bù cho một người chủ mất một nô lệ (Xu 21:32) và nhóm từ này được sử dụng cho “công giá” của người chăn chiên bị chối từ (Đấng Mết-si-a) trong Xa 11:12 được Ma-thi-ơ đề cập trong Mat 27:9-10 Đây là món tiền thật đáng kể (khoảng lương của 4 tháng), nhưng ít người tin rằng chỉ số tiền đó thôi đã khiến Giu-đa thay đổi phe phái. Rất có thể ông đã nghĩ đến việc rời bỏ Chúa Giê-xu, và quyết định kiếm chác khi có cơ hội. Không ai biết tại sao ông thay đổi hướng. Có lẽ ông là người duy nhất không phải dân Ga-li-lê giữa vòng 12 môn đệ và vì vậy có thể cảm thấy mình mất dần chỗ đứng, đặc biệt khi nhóm người Ga-li-lê từ phía nam đến Giê-ru-sa-lem. Có lẽ ông cũng không còn ảo tưởng bởi loại chức vụ của Đức Chúa Giê-xu đặc biệt nếu ông giống như Phi-e-rơ nuôi dưỡng những hy vọng mang tính chủ nghĩa dân tộc. Có thể ông kết luận rằng Chúa Giê-xu là một Đấng Mết-si-a giả, vì vậy nhiệm vụ tôn giáo của ông là ngăn chặn Ngài.
(Mat 26:17-30) Bữa ăn tối cuối cùng (Mac 14:12-26 Lu 22:7-23). Đây là một bữa ăn trong lễ Vượt Qua, với tất cả sự tượng trưng về lịch sử và thần học có liên quan. Giờ đây nó phải được cho một ý nghĩa mới qua sự chết của Chúa Giê-xu, khiến bữa ăn này về sau trở thành kiểu mẫu cho hành động trung tâm của sự thờ phượng Cơ Đốc.
Nơi lập toà xử án rõ ràng đã được sắp đặt trước, Chúa Giê-xu đã có một số người ủng hộ thậm chí ở Giê-ru-sa-lem.
Đây là lần đầu tiên Chúa Giê-xu bày tỏ tư tưởng gây sửng sốt rằng, có một người trong các ngươi sẽ phản ta. Sự hoảng hốt của họ (buồn bực lắm là một cách dịch yếu không cần thiết) là như thế đến nỗi không ai trong số họ dám tin chính mình. Lời đáp của Chúa Giê-xu trong câu 23 không phải là một sự nhận dạng cụ thể về kẻ phản bội, vì tất cả họ sẽ dự chung một chén, và sự trao đổi của Ngài với Giu-đa trong câu 25 được giả định là riêng tư. Nhưng dù Ngài không nhận dạng kẻ phản bội cách công khai, Ngài đã biết người đó là ai, và câu hỏi gian xảo của Giu-đa “Thật không phải tôi chứ?” đã được trả lời đủ rõ ràng. Chúa Giê-xu do vậy có thể dễ dàng bày tỏ nhận dạng của kẻ phản bội Ngài và các môn đệ có thể chắc rằng Giu-đa đã không ra đi thực hiện sự mặc cả của mình. Tuy nhiên, Chúa Giê-xu đã thừa nhận rằng Ngài phải trải qua những gì đã chép về Ngài (24) và Ngài không năn trở điều đó.
Chúa Giê-xu tiếp tục dùng bánh và rượu nho của bữa ăn lễ Vượt Qua như những thị cụ để giải thích ý nghĩa sự chết sắp đến của Ngài. Nếu bánh được bẻ ra tượng trưng cho thân thể Ngài, thì sự thật về sự chết sắp đến của Ngài không còn gì nghi ngờ. Nhưng khi bảo họ ăn bánh đó, Ngài chỉ ra trong một ý nghĩa nào đó họ có liên quan trong sự chết của Ngài. Lời Ngài nói khi cầm chén khiến cho vấn đề trở nên rõ ràng hơn vì huyết của Ngài phải đổ ra cho nhiều người được tha tội! Những lời này vang vọng những câu trong Es 53:10-12 và gợi ý về sự chết đem đến sự tha tội đặt cơ sở vững chắc trên chương đó. Qua việc ăn và uống, các môn đệ của Chúa Giê-xu phải đồng nhất hoá với sự chết của Ngài, và do đó kinh nghiệm sự tha thứ mà Ngài sẽ chịu chết để đạt được. Bằng cách này, giao ước mới được nói tiên tri bởi Gie 31:31-34 (trong đó sự tha tội là một yếu tố quan trọng) sẽ được lập bởi huyết Chúa Giê-xu. Như lễ Vượt Qua đầu tiên đã đưa đến một giao ước biệt riêng Y-sơ-ra-ên ra làm dân của Đức Chúa Trời, thì giờ đây một dân mới của Đức Chúa Trời cũng được hình thành. Bên kia sự chết sắp xảy đến của Chúa Giê-xu câu 29 trông chờ điều sẽ đạt được, bữa tiệc của Đấng Mết-si-a mà Ngài và các môn đệ (với Cha) sẽ dự.
Chú thích. 17 Phúc Âm Giăng cho thấy “Lễ Vượt Qua” của Chúa Giê-xu được tổ chức vào buổi tối trước Lễ Vượt Qua chính thức (giả định rằng Ngài biết trước mình sẽ chết vào lúc đó). Điều này giải thích vì sao các sách Phúc Âm không đề cập về một chiên con, theo thông thường là một đặc điểm chính của bữa ăn trong lễ Vượt Qua, vì theo nghi thức thì nó không thể bị giết trước ngày chính thức. Những sách Phúc Âm cộng quan thường được cho rằng không thống nhất với việc định ngày của Giăng, nhưng điều này không cần thiết như vậy. Vì ngày Do Thái bắt đầu lúc mặt trời lặn, một bữa ăn tối được tổ chức vào ngày thứ nhất ăn bánh không men sẽ rơi vào buổi tối mà ngày đó bắt đầu, tối kế tiếp sẽ là bữa ăn lễ Vượt Qua chính thức, sẽ là “ngày” tiếp theo trong ngôn ngữ Do Thái. 24 Chú ý rằng điều thực hiện theo như ý muốn được bày tỏ của Đức Chúa Trời, cũng là trách nhiệm của người thực hiện điều đó.
(Mat 26:31-35) Sự chối bỏ của Phi-e-rơ được tiên đoán (Mac 14:27-31 so sánh Lu 22:31-34). Không chỉ số mệnh của Chúa Giê-xu, mà số mệnh của các môn đệ cũng được viết ra. Nhưng câu 32 phục hồi niềm hy vọng bằng sự tiên đoán rõ ràng khác về sự sống lại của Chúa Giê-xu và cũng bằng một gợi ý xa xôi từ thành phố Giê-ru-sa-lem bị kết án đến Ga-li-lê, nơi Đấng Mết-si-a sống lại sẽ tái thiết lập sự cai trị của Ngài (Mat 28:7,16-20). Nhưng trước đó Phi-e-rơ sẽ thất bại rõ ràng, mặc cho sự tự tin của Phi-e-rơ. Tuy nhiên, hãy chú ý rằng dù sự thất bại của Phi-e-rơ đã được tiên đoán và ghi chép cụ thể (69-75), ông không một mình trong đó, các môn đệ khác đã dự phần sự tin quyết (35) và sự thất bại của ông (31).
Chú thích. 31 Xa 13:7 là một trong một loạt những đoạn bí ẩn có liên quan đến một Đấng Mết-si-a bị chối bỏ và chịu thương khó, so sánh Xa 12:10 được trích dẫn trong Mat 24:30 và Xa 11:12-13 trong Mat 27:9-10 (Xa 9:9 Mat 21:4-5).
(Mat 26:36-46) Vườn Ghết-sê-ma-nê (Mac 14:32-42 so sánh Lu 22:39-46). Đây là đất thánh. Ở đây chúng ta có được một đặc quyền nhìn lướt qua mối liên hệ mật thiết của Chúa Giê-xu với Cha Ngài và một sự hiểu biết sâu sắc cái giá của sứ mệnh Ngài.
Vườn cây Ô-li-ve được gọi là Ghết-sê-ma-nê, chỉ ở ngoài vùng ven thành là “nơi cắm trại” thường xuyên của nhóm suốt tuần lễ này ở Giê-ru-sa-lem (Đa số những người đến dự lễ Vượt Qua phải ngủ ở ngoài, vì thành hết sức đông người suốt kỳ lễ). Bằng cách đi đâu đó vào đêm ấy, họ có thể đã ngăn chặn kế hoạch của Giu-đa, nhưng một lần nữa Chúa Giê-xu quyết định không lẫn tránh số mệnh Ngài đã tiên đoán. Những câu này cho thấy rằng Ngài chấp nhận điều ấy không như một sự cần thiết đáng tiếc nhưng như ý muốn của Cha Ngài.
Tuy nhiên, đây không phải là một sự cam chịu bình tĩnh, không ưu sầu. Buồn bực và sầu não là một cách dịch kém mạnh; đúng hơn là “trong nỗi thống khổ và đau buồn”. Viễn cảnh về sự thương khó sắp đến của Ngài (xem Mat 20:22 về ý nghĩa của chén) chống lại Ngài, và Ngài đã nài xin cách khác, nếu mục đích của Đức Chúa Trời có thể cho phép. Thật cảm động khi để ý rằng trong sự đau buồn Ngài đã ao ước tình bạn của con người (38), dù ngay cả điều ấy cũng đã bị chối từ bởi sự ngủ say của các môn đệ. Cả phân đoạn là một lời chứng mạnh mẽ cho sự thực về nhân tính của Chúa Giê-xu (như He 5:7-9 làm rõ). Điều này càng gây ấn tượng rằng cuối cùng thì vấn đề ý muốn Cha phải được đặt ưu tiên với bất cứ giá nào.
Việc các môn đệ thất bại trong việc dành cho Chúa Giê-xu sự ủng hộ mà Ngài cần không do tính nhút nhát gây ra (sẽ xảy ra sau), nhưng do sự mệt mỏi hoàn toàn về thể chất (41). Chẳng bao lâu họ sẽ phải đối diện với sự cám dỗ trầm trọng hơn để chối Chúa Giê-xu, và giờ đây việc họ không dự phần trong sự chuẩn bị của Chúa Giê-xu đối với thử thách sắp đến sẽ khiến họ không có khả năng tự vệ khi thử thách xảy đến.
Chú thích. 37 Phi-e-rơ và hai người con của Xê-be-đê là những người cùng đi với Chúa Giê-xu lên núi (Mat 17:1) và cả ba người đã tuyên bố sự sẵn sàng của họ để chịu khổ với Ngài (20:22 26:35), nhưng họ đã ở bước vào đầu tiên. 46 Động từ được dịch là đi hè không gợi ý sự rút lui nhưng đúng hơn là sự tiến tới để gặp “kẻ thù” đang đến.
2. Sự kiện Chúa Giê-xu bị bắt và bị xử án (Mat 26:47-27:26)
(Mat 26:47-56) Bị bắt (Mac 14:43-50 Lu 22:47-53). Bọn đông người mà Giu-đa đem đến Ghết-sê-ma-nê là một nhóm tách ra từ “cảnh sát” được sắp đặt bởi Toà Công luận. Những môn đệ quá ít không có sự chuẩn bị và không bày tỏ một chút chống cự (51). Nhưng bất cứ trường hợp nào Chúa Giê-xu đều không cho phép sự chống cự (52; so sánh Mat 5:39). Một lần nữa Ngài để những sự kiện đi theo hướng đã được tiên đoán, không phải Ngài bất lực để ngăn cản chúng (53), nhưng Ngài quyết định không làm vậy, hầu cho Kinh Thánh có thể được ứng nghiệm (54, 56). Do đó cách không bạo động của Ngài tương phản với những kẻ cầm đầu quá khích (55). Vì vậy dù thể chủ động lúc đầu dường như thuộc về Giu-đa và thuộc hạ có trang bị khí giới của hắn, nhưng thật ra chính Chúa Giê-xu là người điều động hoàn cảnh và mục đích của Đức Chúa Trời đang được thực hiện.
Chú thích. 52 Câu tục ngữ ai cầm gươm thì sẽ bị chết về gươm (dựa trên Es 50:11) từ chối bạo lực trong trường hợp đặc biệt này. Nhưng tự nó khó có thể cung ứng một nền tảng thích hợp cho chủ nghĩa hoà bình toàn diện không. 54 Một đạo quân được lập thành từ 6.000 lính.
(Mat 26:57-68) Cuộc xét xử của người Do Thái (Mac 14:53-65 so sánh Lu 22:54-55,63-71). Án chết chỉ có thể được tuyên bố bởi thống đốc người Rô-ma (Gi 18:31). Vì vậy cuộc xét xử khác của người Rô-ma sẽ cần thiết (Mat 27:11-26). Nhưng vụ xử kiện này trước Toà Công luận, toà án Do Thái tối cao, là đỉnh điểm của cuộc chạm trán được xây dựng từ chương 21). Suốt cuộc xử án, Chúa Giê-xu công khai tuyên bố quyền hạn của Ngài (64) và những thành viên của Toà Công luận chối bỏ điều đó một cách khinh thường (65-68) vì vậy làm ứng nghiệm lời tiên đoán của Chúa Giê-xu trong 16:21
Phần tường thuật của Lu-ca gợi ý rằng lời tuyên án được thực hiện trong buổi sáng (so sánh 27:1-2). Có lẽ đoạn Kinh Thánh vắn tắt này đơn giản hoá một phiên toà phức tạp và khá lộn xộn kéo dài gần cả đêm, hơn là một cuộc xử án theo nghi thức được chuẩn bị tốt. Thủ tục bình thường về những lời chứng và sự thẩm vấn bị cáo được tiến hành, nhưng Ma-thi-ơ chỉ ra rằng bầu không khí chẳng vô tư chút nào (59).
Chúng ta không được cho biết những lời chứng dối nào (59-60) buộc tội Chúa Giê-xu. Nhưng lời tuyên bố của Chúa Giê-xu được dẫn chứng: Ta có thể phá đền thờ của Đức Chúa Trời, rồi dựng lại trong 3 ngày không bị nói là giả dối và được trình bày do hai nhân chứng, khiến nó trở nên nghiêm trọng (Phu 17:6). Trong phần tường thuật của Ma-thi-ơ, mặc dù Chúa Giê-xu không doạ chính Ngài phá đền thờ, những lời tuyên bố trong Mat 23:38 24:2 (và 12:6), cùng với hành động mạnh mẽ của Ngài trong 21:12-13, tạo sự đáng tin, và Gi 2:19 ghi lại những lời hoàn toàn gần với những lời này. Một sự đe doạ đối với đền thờ là một sự đe doạ đối với tất cả những gì quý giá nhất trong đời sống và sự thờ phượng của Y-sơ-ra-ên.
Đấng Mết-si-a được mong đợi phục hồi, thậm chí tái thiết đền thờ, vì vậy câu hỏi của Cai-phe trong câu 63 theo sau một cách hợp lý từ lời buộc tội trong câu 61 nhưng bằng ngôn ngữ rõ ràng hơn. Chúa Giê-xu cuối cùng đa phá tan sự yên lặng của Ngài bằng một lời tuyên bố đầy thách thức Ngài thật sự là ai. Ngài thật là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời, câu trả lời thận trọng của Ngài (theo nguyên văn “ngươi đã nói”), tuy nhiên gợi ý rằng Ngài bác bỏ cách đặt câu hỏi mà Cai-phe khoác lên những danh hiệu đó. Ngài thích sử dụng danh hiệu Con Người do chính Ngài tự chọn hơn, và bằng cách kết hợp những lời từ Thi 110:1 và Da 7:13 Ngài chứng minh bản chất thật về thẩm quyền của Con Người. Nó phải được nhìn thấy không phải trong bất cứ sự tể trị nào trên đất, nhưng qua việc Ngài ngự bên hữu Đức Chúa Trời nơi Thiên đàng. Họ sẽ hiểu chân lý về điều này khi tù nhân mà họ sắp kết án được Đức Chúa Trời làm chứng qua sự sống lại và sự chiến thắng của Phúc Âm Ngài trên thế giới.
Nếu lời tuyên bố mạnh mẽ này không thật, đó là sự lộng ngôn. Những hành động bạo lực của các nghị viên Toà Công luận (65,67-68) bày tỏ sự khước từ hoàn toàn của họ về kẻ mạo xưng.
Chú thích. 62-63 Sự yên lặng của Chúa Giê-xu khi đối diện với sự kết án bất công nhắc lại Es 53:7-8 63 Một số người Do Thái nói về Đấng Mết-si-a là Con Đức Chúa Trời (dựa trên cơ sở của IISa 7:14 Thi 2:7). Câu hỏi được gợi ý bởi lời tuyên bố ngụ ý của Chúa Giê-xu trong Mat 21:37-39 (và sự dạy dỗ riêng của Ngài, được chuyển tiếp do Giu-đa). 64 Từ “trong tương lai” theo Kinh Thánh NIV trình bày một nhóm từ Hi Lạp mà thật sự có nghĩa “từ nay trở đi”. Hãy xem ở trên Mat 10:23 16:28 24:30 (lấy từ Da 7:13) về Con người đến từ trên mây. Đó là cách diễn đạt về sự lên ngôi, hơn là chỉ về một sự đến trên đất. 68 Người ta nghĩ rằng Đấng Mết-si-a sẽ có thể nhận biết con người khi bị bịt mắt.
(Mat 26:69-75) Sự thất bại của Phi-e-rơ (Mac 14:66-72 Lu 22:55-62). Trong câu 31-35 Chúa Giê-xu đã nói trước sự thất bại thảm hại này, và câu 58 tạo nên bối cảnh. Bằng cách xen lẫn những câu chuyện về Chúa Giê-xu và Phi-e-rơ trong nhà Cai-phe, Ma-thi-ơ mời chúng ta so sánh hai người chịu áp lực. Trong khi Chúa Giê-xu đứng vững vàng, Phi-e-rơ lại đáp ứng với áp lực gia tăng bằng sự chối bỏ mạnh mẽ ngày càng tăng. Ở trong nhóm người thù địch từ phía nam này, ông đã khước từ Chúa Giê-xu người Ga-li-lê (69), Chúa Giê-xu người Na-xa-rét (71), ngay cả khi giọng nói vùng Ga-li-lê của ông không thể giấu được (73). Câu chuyện kết thúc với sự hối hận của Phi-e-rơ, chớ không phải sự phục hồi của ông. Ma-thi-ơ không đề cập tên ông nữa, dù có một sự gợi ý thoáng trong nhóm từ “11 môn đệ” ở Mat 28:16
Chú thích. 74 Những từ “on himself” (trên chính mình) không có trong tiếng Hi Lạp, và động từ được sử dụng theo thông thường chỉ về sự rủa sả ai đó. Phi-e-rơ rõ ràng đã có sự chuẩn bị thậm chí để rủa sả Chúa Giê-xu (như các Cơ Đốc nhân về sau bị buộc phải làm vậy để thoát khỏi sự hành hình).
(Mat 27:1-2) Chúa Giê-xu bị giải đến thống đốc Rô-ma (Mac 15:1 Lu 23:1). Sự tuyên án đã đạt đến (Mat 26:65-66) và được phê chuẩn trong phiên toà đông đủ, nhưng nó chỉ có thể được thi hành bởi thẩm quyền của thống đốc Rô-ma, Bôn-xơ Phi-lát. Ông đã có một lý lịch xấu về sự cai trị không nhạy cảm và sau đó bị cách chức vì sự giết hại không cần thiết và tàn bạo thần dân mình. Để thuyết phục một người như thế, các chức sắc Do Thái sẽ cần thêm lời buộc tội đáng kể nào đó hơn là một sự tranh cãi mang tính thần học nói về “tội lộng ngôn”. Chắc chắn cuộc hội đàm vào buổi sáng sớm này được dành để chuẩn bị cho vụ kiện của họ.
(Mat 27:3-10) Sự chết của Giu-đa Trong khi đó, Ma-thi-ơ trình bày cho chúng ta câu chuyện khác về sự phản bội, nhưng là câu chuyện tương phản với câu chuyện về Phi-e-rơ. câu chuyện về sự thất bại nhất thời do áp lực, đã kết thúc bằng những giọt nước mắt ăn năn của Phi-e-rơ, và sự hồi phục của ông sau đó được ngụ ý. Nhưng Giu-đa ngược lại, đã thực hiện một quyết định rõ ràng chống lại Chúa Giê-xu, và sự hối hận của ông khi nhận ra sai lầm của mình đã không dẫn đến sự ăn năn thật nhưng dẫn đến sự thất vọng cùng hành động tự sát.
Chủ đề về tiền huyết chọn ý niệm về tội làm đổ huyết các tiên tri trong Mat 23:29-36 mà nó đạt đến đỉnh điểm trong 27:24-25 Giu-đa, không thể gỡ tội mình bằng cách trả lại tiền, đã treo cổ, nhưng các thầy tế lễ cả bằng cách sử dụng số tiền huyết đó để mua ruộng của thợ gốm, cũng được nói đến. Ruộng huyết (Akeldama) theo truyền khẩu thì nằm trong thung lũng Hi-nôm (từ đó đất sét của thợ gốm được đào lên). Những ngụ ý này vào những ngụ ý khác trong cách diễn đạt của Ma-thi-ơ gợi ý rằng ông hiểu toàn bộ câu chuyện trong ánh sáng của Gie 19:1-13 nơi mà thung lũng Hi-nôm được gắn với những sự chôn cất cùng “huyết vô tội” và với một thợ gốm. Những phân đoạn khác trong Giê-rê-mi có thể cũng được nhớ đến (nhà của thợ gốm trong Gie 18:1-23 việc mua ruộng trong 32:1-44).
Vì vậy thật thích đáng khi câu chuyện đi đến đỉnh điểm (9-10) bằng một trích dẫn thể thức, được dẫn chứng từ Giê-rê-mi, nói về việc sử dụng tiền huyết để mua ruộng của thợ gốm. Những lời được trích dẫn thật ra hầu như dưa trên Xa 11:12-13 với sự đề cập về “ba chục miếng bạc” (Mat 26:15) được bí mật quăng vào nhà của Chúa “cho thợ gốm. Số tiền trong đoạn sách Xa-cha-ri là giá sỉ nhục mà Đấng chăn chiên do Đức Chúa Trời ban (Đấng Mết-si-a) đã bị trả bởi bọn phản nghịch của Ngài (xem 26:31 để có những ngụ ý khác về lời tiên tri lạ lùng này). Tuy nhiên đây là một trích dẫn đơn giản của một phân đoạn riêng lẻ nhưng là một sự kết hợp tinh tế những chủ đề từ Giê-rê-mi và Xa-cha-ri trong ánh sáng của những sự kiện vừa được ghi lại. Ở đây sự ứng nghiệm mà Ma-thi-ơ vạch ra là điều gì đó phong phú hơn nhiều so với sự xảy ra đơn giản của một sự kiện được tiên đoán.
Chú thích. 5 Phần tường thuật về sự chết của Giu-đa trong Cong 1:18-19 lại khác nhưng một lần nữa kết hợp nó với Akeldama (ruộng huyết).
(Mat 27:11-26) Cuộc xét xử của người Rô-ma (Mac 15:2-15 so sánh Lu 23:2-5,18-25). Cuộc xét xử xảy ra công khai, bên ngoài dinh thự của thống đốc. Phi-lát có thẩm quyền duy nhất quyết định những vụ kiện như thế, nhưng cuộc xét xử cho thấy ông bị tác động bởi những người khác và cuối cùng giũ bỏ trách nhiệm mình để ủng hộ cho các chức sắc Do Thái. Chính họ là những người kiểm soát tình huống và chấp nhận trách nhiệm cuối cùng.
Vua của dân Giu-đa có thể là danh hiệu mà các chức sắc Do Thái đã tố cáo Chúa Giê-xu về tội mạo nhận. Đó là một danh hiệu mang vẻ chính trị hơn là “Đấng Mết-si-a” và vì vậy là một danh hiệu mà vị thống đốc không thể làm ngơ. Nó khiến cho một người trở nên một lãnh đạo hùng mạnh của cuộc nổi dậy. Chính ở lời buộc tội này mà Chúa Giê-xu cuối cùng bị xử tử (37). Lời đáp của Chúa Giê-xu (11) như trong Mat 26:64, mang tính tích cực, nhưng thận trọng, Ngài biết những ý nghĩa méo mó của danh hiệu này khi một thống đốc ngoại đạo sẽ nghe nó. Sau đó, Chúa Giê-xu không nói gì cho đến khi Ngài ở trên thập tự giá.
Sự cố gắng của Phi-lát muốn sử dụng sự ân xá thông lệ để thoát khỏi trách nhiệm kết án một người vộ tội dựa trên một lời vu cáo, là không khôn ngoan. Ba-ra-ba có thể không phải là một môn đệ bình thường nhưng là một lãnh đạo theo chủ nghĩa dân tộc nổi tiếng, người sẽ có nhiều người theo hơn ở Giê-ru-sa-lem so với vị tiên tri người Ga-li-lê. Mặc dù đoàn dân đông bị kích động trong sự chọn lựa của mình do các thầy tế lễ cả và các trưởng lão, có lẽ họ chẳng bị thuyết phục chút nào. Không cần thiết cho rằng đây chính là những người Ga-li-lê dự lễ đã tiếp đón Chúa Giê-xu vào Giê-ru-sa-lem ở 21:8-9 Đúng hơn, đây là dân trong thành (21:10-11).
Bối cảnh cuối cùng trong câu 24-25 nói về trách nhiệm. Trong khi Phi-lát phải đưa ra lời tuyên án chính thức, bằng cách rửa tay, ông đã chối từ trách nhiệm về sự chết của Chúa Giê-xu và chuyển trách nhiệm cho đoàn dân. Và bằng những lời kinh khủng trong câu 25, hết thảy dân chúng đã chấp nhận trách nhiệm. Khi sử dụng nhóm từ đó, Ma-thi-ơ chỉ ra rằng mặc dù các thầy tế lễ cả và các trưởng lão đã chịu trách nhiệm ban đầu, nhưng toàn bộ dân chúng mang một trách nhiệm chung về sự chết của Chúa Giê-xu. Dĩ nhiên, không có cơ sở nào để mở rộng nguyên tắc này đến một sự kết án mọi người Do Thái mọi thời đại (xét cho cùng, Ma-thi-ơ người viết những lời này là một người Do Thái, và mọi thuộc viên nguyên thuỷ của Hội Thánh Chúa Giê-xu cũng là dân Do Thái). Như Chúa Giê-xu đã tiên đoán trong 23:37-39 chính dòng dõi đó ở Giê-ru-sa-lem là những người chịu trách nhiệm, và vào năm 70 S.C. dòng dõi đó đã thấy công việc khủng khiếp của mình trong sự hủy diệt thành và đền thờ.
Chú thích. 16 nổi tiếng (Notorious) dịch ra một từ Hi Lạp có nghĩa tương đương là “famous”. 16-17 Những bản thảo đầu tiên để tên ở đây là Giê-xu Ba-ra-ba và đây có lẽ là điều Ma-thi-ơ đã viết. Giê-xu là một tên thông thường. Câu 17 vì vậy đưa ra một lựa chọn chua cay giữa 2 “Giê-xu”. 19 Không điều gì khác được biết về vợ của Phi-lát. Sự nhận thức của người đàn bà người ngoại này về sự vô tội của Chúa Giê-xu trái ngược với thành kiến của dân chúng Do Thái. 22 Đa số dân Do Thái ghê tởm hình phạt đóng đinh trên thập tự giá như một phương pháp hành hình man rợ của người Rô-ma. Nhưng đó là kết quả không tránh khỏi của sự đề nghị Chúa Giê-xu phải bị xử tử công khai như một người bị cho là nổi loạn. 25 Tiếng Hi Lạp đơn giản đọc là “máu người trên chúng tôi và con cái chúng tôi”. Đó không hẳn là một ước muốn nhưng là một sự chấp nhận trách nhiệm; so sánh Gios 2:19
3. Chúa Giê-xu bị đóng đinh trên thập tự giá (Mat 27:27-56)
(Mat 27:27-31) Sự nhạo báng của lính La Ma (Mac 15:16-20). Mặc dù có sự tàn bạo thuộc thể ở đây, trọng tâm chính là sự nhạo báng. Các binh lính người ngoại có một “vua” Do Thái được phó cho họ, và họ dàn một cảnh lên ngôi đầy nhạo báng, sử dụng bất cứ vật liệu nào có trong tay: một áo choàng đỏ của quân lính làm áo vua, một chiếc gậy làm vương trượng và một vương miện làm bằng những cành cây con. Như vậy “Vua của dân Giu-đa” đã bị dân mình ngược đãi (Mat 26:67-68), cũng như bị dân ngoại làm nhục.
(Mat 27:32-44) Sự đóng đinh trên cây thập tự (Mac 15:22-32 so sánh Lu 23:33-39). Ma-thi-ơ chẳng cho chúng ta biết gì về sự khủng khiếp về thuộc thể của hình phạt đóng đinh trên cây thập tự, sự nhấn mạnh trong phân đoạn này một lần nữa rơi vào sự khước từ và sự nhạo báng, lần này bởi dân của Chúa Giê-xu. Nhưng thậm chí trong văn cảnh không chắc chắn này có một số danh hiệu vĩ đại nhất về Đấng Mết-si-a đã được sử dụng dù là qua lời chế nhạo. Vì thế qua những sự chế giễu hời hợt, chúng ta có thể nhìn lướt qua điều gì đó về ý nghĩa thật của sự chết của Chúa Giê-xu. Và những lặp lại thường xuyên của những lời ở Thi 22:1-31 và 69:1-36 nhắc nhở chúng ta rằng trong sự thương khó và sự chết của Chúa Giê-xu, Kinh Thánh đang được ứng nghiệm (22:18,7,8 được lặp lại trong c.35,39,43 và câu 46 trích 22:1 69:21 được lặp lại trong c.34,48).
Gô-gô-tha là một nơi thi hành án thông thường, nằm ở vị trí nổi bật bên ngoài thành (có lẽ là nơi Hội Thánh Holy Sepulchre toạ lạc hiện nay). Quân lính là một phần quan trọng của bối cảnh, vì sự canh giữ của họ dẫn đến một sự xưng nhận mang tính quyết định trong câu 54. Họ được miêu tả không phải tàn ác (rượu trộn với mật đắng có thể là một thuốc ngủ, được chuẩn bị để giảm bớt sự đau đớn), nhưng như những người thi hành án trung lập. Bản án ghi lại lý do chính thức về sự chết của Chúa Giê-xu và là một sự cảnh cáo cho những người lãnh đạo chủ nghĩa dân tộc.
Sự chế nhạo xuất phát từ những người Do Thái, thuộc các tầng lớp khác nhau. Hai tên trộm cướp (38,44) có thể là những người khởi nghĩa thuộc chính trị (của bọn Ba-na-ba?). Vì vậy thật mỉa mai, Chúa Giê-xu đã chết trong chính nhóm người quá khích mà Ngài đã rất thận trọng tránh né. Những kẻ đi ngang qua là những người Do Thái bình thường, đã biết về những lời tuyên bố tự xưng của Chúa Giê-xu có liên quan đến đền thờ và nghe Ngài tuyên bố là Con Đức Chúa Trời. Lời kêu gọi chứng thực địa vị tự xưng của Ngài là “Con Đức Chúa Trời” lặp lại những cám dỗ trong Mat 4:3,6 nhưng sự cám dỗ này đã được đối mặt trong Ghết-sê-ma-nê, và hoàn toàn vì Ngài là Con Đức Chúa Trời nên Ngài không thể xuống. Cuối cùng, các thầy tế lễ cả, các thầy dạy luật và các trưởng lão (hãy chú ý sự liệt kê đầy đủ các thành viên Toà Công luận, như trong 16:21) lặp lại những lời chế giễu tương tự, nhưng cũng thêm vào trong sự nhạo báng danh hiệu quý báu Vua dân Y-sơ-ra-ên. Toàn bộ sự khước từ Chúa Giê-xu của dân Ngài hầu như không thể được làm rõ hơn nữa.
Chú thích. 32 Si-môn chỉ là một nạn nhân tình cờ, nhưng sự kiện tên ông được ghi nhớ gợi ý rằng kinh nghiệm này có thể đã đưa ông vào trong nhóm các môn đệ. 38 Từ được dịch là trộm cướp được Josephus sử dụng cho những người Do Thái đấu tranh tự do. Nó được sử dụng trong 26:55 (NIV “cầm đầu một cuộc nổi loạn”) và cho Ba-ra-ba trong Gi 18:40
(Mat 27:45-56) Sự chết của Chúa Giê-xu (Mac 15:33-41 so sánh Lu 23:44-49). Đến lúc này Chúa Giê-xu đã yên lặng, cái đích cho sự nhạo báng. Giờ đây Ma-thi-ơ chuyển trọng tâm vào chính Chúa Giê-xu, và như chúng ta đã đọc về sự chết của Ngài, chúng ta được phép nhìn thấy điều gì đó có ý nghĩa về điều đang xảy ra.
Chúa Giê-xu vẫn sống trên thập tự giá từ trưa đến khoảng 3 giờ chiều. Sự tối tăm lúc này (không phải là một hiện tượng nhật thực, vì trăng tròn vào lễ Vượt Qua) là một dấu hiệu về sự không hài lòng của Đức Chúa Trời (Am 8:9). Tiếng kêu lớn của Chúa Giê-xu giữa tối tăm (sử dụng Thi 22:1) cho thấy chiều sâu sự thương khó của Ngài khi Ngài phó mạng sống làm giá chuộc nhiều người (Mat 20:28). Đây là lần duy nhất Chúa không gọi Đức Chúa Trời là “Cha”, một sự chỉ ra rằng có một thời gian thậm chí mối liên hệ mật thiết của Cha và Con (11:27) cũng đã bị phá vỡ.
Việc kêu cầu bị ngộ nhận dựa trên âm của từ Ê-li, “Đức Chúa Trời tôi”. Một số người Do Thái tin Ê-li có thể được kêu cầu từ Thiên đàng để ban sự giúp đỡ lúc cần thiết. Rượu dấm (thức uống rẻ tiền của lính thường) là một hành động tử tế, được đề cập vì sự lặp lại của Thi 69:21
Những người bị đóng đinh trên thập tự giá thường rơi dần vào tình trạng bất tỉnh sau nhiều giờ, thậm chí nhiều ngày, vì đau đớn. Tuy nhiên, sự chết của Chúa Giê-xu được mô tả như thể chính Ngài ở tình trạng tự chủ hoàn toàn: trút linh hồn là một thành ngữ bất thường, gợi ý một hành động của ý chí.
Câu 51-53 (cùng với sự tối tăm của câu 45) chỉ ra rằng đây không phải là sự chết bình thường. Bức màn lớn trong đền thờ phân cách phần bên trong thiêng liêng, vì vậy sự huỷ diệt nó không chỉ là một hành động về quyền năng thiêng liêng (từ trên chí dưới) báo trước một sự huỷ diệt lớn hơn hầu đến, mà còn là một biểu tượng về sự mở đường đến Đức Chúa Trời qua sự chết của Chúa Giê-xu. Sự động đất biểu hiện quyền năng và sự xét đoán của Đức Chúa Trời (Cac 5 Gio 3:1 Na 1:5-6). Kết quả sự sống lại của các thánh đã qua đời (trong thời Cựu Ước?) gợi ý rằng sự sống lại ở những ngày sau rốt (Es 26:19 Da 12:2) tìm thấy sự khởi đầu của nó trong sự sống lại của Chúa Giê-xu. Giờ đây là lúc để tất cả những hy vọng của dân Đức Chúa Trời được thực hiện.
Không có gì đáng ngạc nhiên khi những sự kiện siêu nhiên này làm các binh lính người ngoại sợ hãi, nhưng danh hiệu Con Đức Chúa Trời nghe có vẻ mang tính Do Thái lập dị. Có lẽ họ đang đơn giản lặp lại những lời chế giễu của người Do Thái ở câu 40, 43. Tuy nhiên, dù sao đi nữa thì các binh lính chẳng hiểu gì về điều họ đã nói, Ma-thi-ơ có ý định để độc giả của ông nhận ra có một người ngoại thấy điều mà dân Do Thái không thể thấy (so sánh Mat 2:1-12 8:8-12 12:41-42 27:19).
Chú thích. 52-53 Không có sự ghi chép nào khác về sự xảy ra đáng chú ý này, và Ma-thi-ơ không trình bày chi tiết đủ cho chúng ta biết chính xác điều gì ông cho rằng đã xảy ra. Ví dụ, lý do có sự trì hoãn giữa sự sống lại của những xác chết và sự xuất hiện của họ ở Giê-ru-sa-lem, và điều gì đã xảy ra cho họ sau đó? Dấu hiệu tương đối rõ ràng, nhưng chúng ta không có nguồn xác định tình trạng của câu chuyện như lịch sử vô tư. 55-56 Chính là những người đàn bà đã chứng kiến về sự chết, sự chôn (61) và sự sống lại của Chúa Giê-xu (28:1). Vì vậy không có chỗ cho sự nhầm lẫn đối với sự thật về sự chết của Chúa Giê-xu hoặc sự nhận biết phần mộ của Ngài.
4. Sự chôn, sự sống lại và mệnh lệnh của Chúa Giê-xu (Mat 27:57-28:20)
Phân đoạn cuối cùng này của sách Phúc Âm được kết cấu trên một kiểu mẫu “hình phản chiếu”, chứng minh một cách sống động tác động của sự sống Chúa sống lại (Mat 28:1-10). Ở 2 khía cạnh của vấn đề này, việc cắt người canh gác (27:62-66), được quân bình bởi sự tường thuật của lính canh (28:11-15) và Chúa Giê-xu đã chịu chết và chôn (27:57-61) được quân bình bởi dự kiện Chúa Giê-xu sống và tể trị (28:16-20).
(Mat 27:57-61) Chúa Giê-xu chịu chết và chôn (Mac 15:42-47 Lu 23:50-55). Những xác chết bị đóng đinh có tốt lắm cũng chỉ được chôn cách nhục nhã trong một mảnh đất công cộng. Qua việc chôn cất Chúa Giê-xu trong ngôi mộ mới của mình, Giô-sép tỏ ra sự tận tâm của ông với tư cách một môn đệ. Nhiều ngôi mộ gia đình ở thời kỳ này có thể vẫn được nhìn thấy quanh Giê-ru-sa-lem, được đục vào trong đá, với một lối vào nhỏ (được che bằng một hòn đá lớn) và những chỗ bên trong dành cho nhiều tử thi (vì vậy, mới trong trường hợp này, có lẽ cho thấy rằng không có xác chết nào khác ở trong đó). Chỉ có người giàu mới có thể đủ tiền mua một ngôi mộ rất gần với thủ phủ như vậy.
(Mat 27:62-66) Việc cắt lính canh Chỉ có Ma-thi-ơ đề cập đến lính canh. Ông cần phải làm vậy để phủ nhận một báo cáo giả dối được loan truyền (Mat 28:15). Sự hiện diện của các lính canh cũng tăng thêm sự hiểu biết của chúng ta về tầm cỡ phép lạ về sự sống lại của Chúa Giê-xu.
Ngày sau ngày sắm sửa nghĩa là ngày Sa-bát. Khi thăm viếng Phi-lát và niêm phong phần mộ, các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si (hãy để ý hai nhóm người đối địch vẫn đoàn kết trong sự đàn áp phong trào Chúa Giê-xu) đã vi phạm các luật Sa-bát của họ qua ước muốn biết chắc rằng Chúa Giê-xu đã được giải quyết đích đáng. Có lẽ Giu-đa đã cảnh cáo họ về sự tiên đoán của Chúa Giê-xu rằng Ngài sẽ sống lại sau ba ngày. Sự canh gác của lính La mã cho thấy sự an toàn tuyệt đối.
Chú thích. 64 Sự gian dối trước chỉ về lời tuyên bố về Đấng Mết-si-a của Chúa Giê-xu. Sự gian dối sau đó chỉ về một “sự sống lại” giả tạo hỗ trợ cho nó.
(Mat 28:1-10) Ngôi mộ trống và Chúa sống lại (so sánh Mac 16:1-8 Lu 24:1-11). Đây không phải là một tường thuật về cách Chúa sống lại từ cõi chết nhưng về cách sự sống lại của Ngài được phát hiện. Sự dời đổi kỳ diệu của tảng đá không phải để Chúa Giê-xu bước ra nhưng để những người đàn bà bước vào để thấy ngôi mộ trống. Mỗi sách Phúc Âm, trình bày một câu chuyện khác nhau về cách thể nào sự kiện này được phát hiện, nhưng không có sách Phúc Âm nào mô tả chính sự kiện đó.
Không như các chức sắc Do Thái, những người đàn bà đã nghỉ ngơi một cách thoả đáng vào ngày Sa-bát. Giờ đây họ có thể trở lại để thăm mộ, Ma-thi-ơ không đề cập ý định nào để bước vào. Nhưng sự xuất hiện của một thiên sứ của Chúa (được mô tả bằng ngôn ngữ thích hợp cho chính Đức Chúa Trời, Da 7:9 10:6) đã thay đổi điều đó. Vị ấy đến để tỏ cho họ rằng Chúa Giê-xu đã sống lại, và cuối cùng dời tảng đá và cho họ thấy gian bên trong trống rỗng nơi Ngài nằm. Những người đàn bà lẽ ra không nên ngạc nhiên, vì điều này đúng như lời Ngài đã phán, và các thiên sứ tiếp tục nhắc họ nhớ lại (7) một lời hứa cụ thể hơn của Chúa Giê-xu, để gặp lại các môn đệ tại Ga-li-lê (26:32). Phản ứng của những người đàn bà, vừa sợ vừa cả mừng, chắc chắn là một phản ứng rất tự nhiên. Chính thiên sứ đã là đáng sợ (4) và sự biến mất của cái xác khiến họ mất bình tĩnh. Nhưng, tuy nhiên họ vẫn chưa hiểu gì về điều đó thì đây là hy vọng về tuyệt vọng và lời hứa thế chỗ cho việc gặp lại Chúa Giê-xu.
Các môn đệ của Ngài sẽ phải chờ đợi ở Ga-li-lê để gặp Chúa Giê-xu, nhưng những người đàn bà thì không như vậy. Chỉ có Ma-thi-ơ đề cập việc họ gặp Chúa Giê-xu sống lại ở câu 9-10 (dù việc họ ôm chân Ngài, và sứ điệp cho anh em ta nhắc chúng ta về Ma-ri Ma-đơ-len trong Gi 20:17). Trong một xã hội mà đàn bà là những công dân hạng hai thì sự nổi bật của họ trong những phần tường thuật về sự sống lại của Chúa Giê-xu là điều đáng chú ý. Đức Chúa Giê-xu lặp lại lời thiên sứ đã nói nhưng với sự thêm vào đầy yêu thương của nhóm từ anh em ta: sau sự thất bại của các môn đệ trong Mat 26:56 điêu này mang một sứ điệp quan trọng về sự bảo đảm.
(Mat 28:11-15) Sự tường thuật của lính canh Mặc dù tầm nhìn của chúng ta giờ đây được đặt tại Ga-li-lê và sự hoan hỉ về Chúa sống lại, ở đây chúng ta có một cái nhìn thoáng qua cuối cùng về thành, Giê-ru-sa-lem, với những nhà cầm quyền trong tình trạng lộn xộn, dàn xếp một sự giấu giếm tuyệt vọng. Vì vậy chúng ta được chuẩn bị cho bối cảnh cuối cùng, nơi sự tương phản giữa Ga-li-lê và Giê-ru-sa-lem xuyên suốt toàn bộ sách Phúc Âm đạt đến đỉnh điểm của nó.
Phải mất một số tiền lớn để thuyết phục quân lính đồn ra câu chuyện giấu giếm, vì ngủ trong phiên gác là một tội tử hình. Nhưng thanh danh của Phi-lát đã nổi tiếng, nếu câu chuyện đến tai ông, ông có thể được thoả mãn bằng một của đút lót thêm. Justin đề cập rằng những câu chuyện như thế vẫn đang được lưu hành trong thế kỷ thứ 2 để làm mất uy tín sự thật về ngôi mộ trống.
(Mat 28:16-20) Chúa Giê-xu sống và tể trị Thật là một sự thư giản khi trở về Ga-li-lê. Ở đây, nhiệm vụ Cơ Đốc có một khởi điểm thích hợp, qua sự gặp gỡ Chúa Giê-xu sống, giờ đây được tôn làm Vua của tất cả. Lối diễn đạt của câu 18 lặp lại Da 7:14 lần nữa, nhưng trong khi những tham khảo trước hướng tới một sự ứng nghiệm trong tương lai lời tiên tri của Đa-ni-ên nói về quyền phép của Con Người, giờ đây sự ứng nghiệm đó đã được thực hiện.
Trên cơ sở của quyền phép đó, Chúa Giê-xu giờ đây sai phái các môn đệ Ngài đi rao truyền sự tể trị của Ngài trên muôn dân bằng cách tạo ra nhiều môn đệ hơn. Bản chất của chức phận môn đệ đó được giải thích trong hai động tính từ nữa, làm phép báp-têm và dạy. Các môn đệ được kêu gọi không phải một sự đáp ứng hời hợt nhưng sự tận tâm toàn bộ cho một cộng đồng mới (được tượng trưng qua sự làm phép báp-têm), và cho một đời sống được điều khiển bởi mọi điều mà ta đã tuyền cho các ngươi. Trong sứ mệnh này, họ có thể biết chắc về sự hiện diện tiếp tục của Đấng đã phán trước về việc hiện diện “nơi nào có hai ba người nhơn danh ta nhóm nhau lại” (Mat 18:20). Những từ ở cùng các ngươi lặp lại mạnh mẽ danh Em-ma-nu-ên, “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta” (1:23), Đấng đó thật sự là Chúa Giê-xu.
Chú thích. 16 Mười một môn đệ loại trừ Giu-đa một cách rõ ràng, nhưng tương tự rõ ràng kể đến Phi-e-rơ, bất chấp sự thất bại thảm thương của ông ở cuộc xử án. 17 Nghi ngờ là từ giống như trong 14:31 Nó không biểu thị sự vô tín về mặt trí tuệ nhưng sự do dự mang tính tự nhiên đối với những người bị đối diện bởi một sự xảy ra duy nhất và “không thể có được”. 18 Hãy để ý sự tương phản với 4:8-9 tất cả những gì Sa-tan có thể đề nghị là thế gian! 19 Nhơn danh biểu thị Đấng mà đối với Ngài lòng trung thành được cam kết qua phép báp-têm. “Công thức” Ba Ngôi thật gây ấn tượng; không có gì giống như vậy xảy ra đâu đó trong Tân Ước, dù sự hợp tác mật thiết của Con với Cha được nhìn thấy trong 11:27 24:36 Hãy để ý thể nào Ba Ngôi có liên quan trong sự báp-têm của chính Chúa Giê-xu (3:16-17).