Ê-XÊ-CHI-ÊN
1. ỦY THÁC CÔNG VIỆC CHO ÔNG Ê-XÊ-CHI-ÊN (Exe 1:1-3:21)
1. Ông Ê-xê-chi-ên được kêu gọi làm tiên tri (Exe 1:1-3:15)
(Exe 1:1-28) Sách Ê-xê-chi-ên mở đầu đúng với hướng sẽ tiếp tục. Sau phần dẫn nhập hết sức ngắn là loạt đầu tiên trong số các bài tiên tri chép trong sách. Loạt bài tiên tri này thuộc về nhóm các bài tiên tri vận dụng nhiều thị trợ có câu giới thiệu ở đầu là: “Tay của Chúa ở trên tôi”.
Với bài tiên tri này ông Ê-xê-chi-ên được giao phó trách nhiệm tiên tri dù vấn đề không được xác định rõ ràng. Phần khải tượng diễn ra trong bầu không khí rất căng thẳng nghiêm trọng vì sau khi thấy khải tượng tiên tri sững sờ ngồi lặng người đến mấy ngày liền (Exe 3:15). Trong khải tượng ông thấy một nhân vật chói loà ngồi trên ngôi bằng ngọc, bên dưới ngôi có bốn con thú biểu tượng cho tương lai chuyển động nhanh nhẹn. Rồi ông nghe một tiếng nói báo tin rằng ông được sai phái đi rao báo cho dân Y-sơ-ra-ên ở xứ lưu đày biết mọi sứ điệp của Ngài dành cho họ. Ngài cũng báo trước về tánh ương ngạnh của họ, dù vậy ông cứ rao giảng dù họ có chịu nghe hoặc không.
Trong khải tượng có nhiều chi tiết không được giải thích nhất là những chi tiết liên hệ đến các chê-ru-bim và những bánh xe lèo lái của chê-ru-bim. Đây là những biểu tượng nhằm chuyển đạt ý niệm khái quát về sự uy nghi của Đức Chúa Trời trong mọi phương diện. Mỗi một chê-ru-bim đáng sợ có những gương mặt tượng trưng cho sự sống ở giai tầng cao nhất - con người, sư tử (vua của loài thú), con bò đực (gia súc cao cấp nhất) và con ó (chim cao cấp nhất). Các chê-ru-bim di chuyển “nhanh như chớp” bằng những bánh xe toàn nhãn toàn quang. Dầu vậy, những con thú lộng lẫy oai vệ này chỉ là quân hầu ngai, đứng dưới ngai của Đức Chúa Trời. Một khi quân hầu uy nghi đáng sợ như thế thì đương nhiên vua càng uy nghi đáng sợ vô cùng.
Đức Chúa Trời phán bảo với tiên tri Ê-xê-chi-ên rằng Ngài sai ông đến với dân Y-sơ-ra-ên với những sứ điệp cảnh báo và rủa sả. Tuy nhiên, đối với ông những sứ điệp đó đều ngọt ngào (3:1-4). Kinh nghiệm này thay đổi hoàn toàn đời sống của ông. Đức Chúa Trời ban cho ông năng lực để truyền rao sứ điệp bất chấp sự kháng cự của dân sự. Ông cần năng lực dồi dào như vậy vì công tác của ông không dễ dàng đâu.
Không phải nhờ lý trí, hoặc lý luận khô khan hoặc mơ tưởng đến lợi ích về lâu về dài mà ông Ê-xê-chi-ên cảm nhận được sự kêu gọi làm tiên tri mà là nhờ ông đã nhìn thấy sự uy nghi lạ lùng đáng kính sợ của Đức Chúa Trời. Sau khi chúng ta được chiêm ngưỡng Đấng ban truyền mệnh lệnh thì dễ cho chúng ta tuân thủ, làm theo các mệnh lệnh đó hơn.
1-3 Đức Chúa Trời cho Ê-xê-chi-ên con trai của Bu-xi thấy khải tượng. 4-14 Ông Ê-xê-chi-ên thấy đám mây lớn sáng chói, phần trung tâm thì chói loà như kim khí ở thể lỏng. Ở giữa vùng chói loà đó có bốn con thú, mỗi con thú có hình dáng con người, nhưng có hai cặp cánh và bốn gương mặt: mặt người, mặt sư tử, mặt bò đực và mặt diều hâu. Các con thú di chuyển tới lui như những tia chớp. 15-21 Kèm bên mỗi con là một vật hình tròn nhấp nháy trông như một cái bánh xe. Các bánh xe quay theo hướng di chuyển của các con thú. Tiếng đập cánh nghe như tiếng gào vang dội. 22-28 Phía trên các chê-ru-bim có một vật trải rộng như thuỷ tinh long lanh lấp lánh. Bên trên mảng thuỷ tinh này dường như có một cái ngai bằng ngọc, ngự trên ngai là một sự sáng chói rực rỡ như cầu vồng. Đó là sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
(Exe 2:1-9)
1-8 Một giọng nói vang lên báo cho ông biết rằng ông được sai phái đến với dân Y-sơ-ra-ên là dân triền miên chống nghịch Đức Chúa Trời. Ông cứ việc rao giảng bất chấp họ có bằng lòng nghe hay không. Ông không nên e sợ họ hoặc chống cự lệnh của Đức Chúa Trời. 9 (2:9-3:3) Đức Chúa Trời cho ông một cuộn sách trong đó có ghi những lời than thở khóc thương và truyền cho ông ăn cuộn sách đó. Ông vâng lời ăn liền sau đó thì thấy có vị ngọt như mật ong.
Exe 3:1-3; xem giải nghĩa 2:9
(Exe 3:4-15)
4-11 Ngài báo trước rằng dân Y-sơ-ra-ên sẽ không chịu nghe ông rao giảng. Vì vậy Ngài khiến cho ông quyết tâm vững chí để thực hiện công tác. Ngài truyền cho ông lập tức đến với đồng bào đang bị lưu đày để truyền lại cho họ sứ điệp của Ngài. 12-15 Khải tượng kết thúc ông tỉnh lại, sững sờ ngẩn ngơ ngồi suốt bảy ngày liền.
Chú giải 1:1 “Trong năm thứ ba mươi” - tác giả không ghi mốc lịch sử làm cơ sở cho chuỗi thời gian này. Tuy nhiên có lẽ lắm đây là số tuổi của tác giả. Sông Kê-ba là một con kênh đào nối với sông Ơ-phơ-rát nằm ở phía tây nam Ba-by-lôn. 2 Năm thứ năm sau khi bị lưu đày - tức là năm 593T.C. 5 “Bốn con thú” là quan hầu bên ngai của Đức Chúa Trời. Trong chương 10 gọi là chê-ru-bim. 15-21 “Bánh xe” các nhà thông dịch ngày xưa cho rằng nguyên ngữ từ này nhằm chỉ về một loại xe. Tự thân bánh xe cho phép nó di chuyển dễ dàng về mọi hướng. 16 “Bích ngọc” - một loại đá quý. 22 “giãi ra” - cùng một từ được dùng trong Sa 1:6-8. Ý ở đây là một cái bục chắc chắn ngăn cách các chê-ru-bim với ngai. 28 “Giống như ánh sáng” Ông Ê-xê-chi-ên tỏ ra rất thận trọng không dám nói trắng ra là ông thấy Đức Chúa Trời. 2:1 “Con người” - là một từ được dùng hơn 90 lần trong sách Ê-xê-chi-ên chỉ về sự kiện ông Ê-xê-chi-ên chỉ là loài người - “giống hay chết”. 10 Cuộn sách bình thường chỉ có chữ trên một mặt. Cuộn sách này có chữ trên hai mặt ngầm ý nói về tính cách đầy đủ trọn vẹn của sứ điệp. 3:1 “Ăn cuộn sách” - ông Ê-xê-chi-ên phải thấm nhuần sứ điệp. Chớ không phải làm một người chuyển lại những tín hiệu của Đức Chúa Trời. Lời của Đức Chúa Trời phán cho dân sự cũng nhằm phán với ông nữa. 11 “Trong xứ lưu đày” - thính giả ngay trong giai đoạn đầu là dân Y-sơ-ra-ên bị lưu đày tại Ba-by-lôn. 14 “Cay đắng và...tức giận” - có lẽ thái độ ương ngạnh cố chấp của dân Y-sơ-ra-ên đã khuấy dậy những cảm xúc mạnh này (so sánh Exe 3:5-8). 15 “Tên-A-Bíp - “Tên” (Tel) là một ngọn đồi, một ụ đất. Địa danh này cùng dạng với Tel Aviv ngày nay, tuy hai địa điểm nằm ở hai nơi cách xa rất nhau.
2. Trách nhiệm của người canh gác (Exe 3:16-21)
Ông Ê-xê-chi-ên nghỉ ngơi vài ngày sau khi thấy khải tượng đầu tiên làm sức khoẻ của ông bị ảnh hưởng. Sau đó ông nhận được sứ điệp thứ hai, một sứ điệp ngắn gọn thôi. Sứ điệp này ấn định phạm vi trách nhiệm của ông kèm theo là khung hình phạt trong trường hợp ông chểnh mảng trách nhiệm (so sánh 33:1-9). Được kêu gọi phục vụ Đức Chúa Trời là một đặc ân nhưng đặc ân đó cũng kéo theo những trách nhiệm nữa. Trung tín thi hành nhiệm vụ xem ra quan hệ hơn là chuyện thành công hoặc thất bại.
17 Ông Ê-xê-chi-ên được lập làm người canh gác dân Y-sơ-ra-ên để chuyển báo lại những sứ điệp của Ngài dành cho họ. 18,20 Nếu ông không chuyển lời cảnh báo của Đức Chúa Trời cho một người nào, thì ông chịu trách nhiệm về số phận của người đó. 19-21 Ông làm trọn nhiệm vụ khi chuyển đạt sứ điệp cho dù đương sự cố tình không chịu nghe sứ điệp.
Chú giải. 14 “Người canh gác” - nhiệm vụ của người canh gác là nhận thấy sớm bất cứ nguy cơ nào sắp đe dọa thành.
2. CẢNH BÁO VỀ TAI HỌA GIÊ-RU-SA-LEM SẮP BỊ TÀN PHÁ (Exe 3:22-24:27)
1. Diễn dịch sứ điệp: tiên báo về cuộc vây hãm thành Giê-ru-sa-lem (Exe 3:22-5:17)
(Exe 3:22-27) Ông Ê-xê-chi-ên trình bày loạt bài tiên tri đầu tiên vừa bằng lời nói vừa bằng thị trợ. Ông phải chuyển lại cho họ một sứ điệp không dễ chịu chút nào: đó là thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị địch vây hãm, hơn nữa cuộc vây hãm kéo dài đến nỗi thực phẩm khan hiếm, hết sạch. Một phần ba dân số sẽ chết đói hoặc chết vì bệnh hoạn. Một phần ba khác sẽ chết trong khi phòng thủ quanh thành. Hầu hết số còn sống sót sẽ bị phân tán, chỉ một thiểu số được lưu lại.
Nhằm truyền đạt sứ điệp đen tối này, ông dùng một phương cách đầy ấn tượng. Cuộc vây hãm được trình bày qua biểu tượng. Dường như trong giai đoạn này ông bị câm, và chỉ có thể nói trở lại khi có sứ điệp cần truyền rao cho dân sự (Exe 3:26-27). Ông tạm bị câm cho đến khi nghe tin báo là thành Giê-ru-sa-lem đã thất thủ (33:22 so sánh 24:27). Sau này sẽ có những sứ điệp kèm với thị trợ diễn dịch nữa (12:1-16 17-20 24:15-27), nhưng với bài đầu tiên này cũng đủ khiến ông nổi danh là một trong những vị tiên tri dị thường nhất của Y-sơ-ra-ên.
Có lẽ chúng ta cho rằng tiên tri Ê-xê-chi-ên vận dụng phương cách truyền đạt sứ điệp quá ư xa lạ với truyền thống, có thể nói là khôi hài, hoặc gây ngượng nghịu. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng hơn hết đối với ông là truyền đạt cho được sứ điệp chớ không phải lo giữ tiếng tăm của một diễn giả nổi tiếng.
22-23 Tiên tri được lịnh đi vào đồng bằng. Ông vâng lời đi. Tại đó ông nhìn thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời và ngất đi. 24-27 Sau đó ông được lịnh là đi về nhà ở yên trong nhà riêng của ông. Đức Chúa Trời cũng báo trước rằng ông sẽ không nói được - ngoại trừ những lúc truyền rao sứ điệp của Ngài.
(Exe 4:1-17)
1-8 Ngài truyền cho ông làm một mô hình nhỏ biểu thị thành Giê-ru-sa-lem bị vây hãm. Còn ông thì bị trói bằng dây và phải nằm nghiêng bên trái trong 390 ngày. Đây là thời gian ông gánh chịu tội lỗi của Y-sơ-ra-ên. Rồi ông phải nằm nghiêng bên phải trong 40 ngày để gánh chịu tội lỗi của Giu-đa. Mỗi ngày tượng trưng cho một năm. 9-17 Trong suốt 390 ngày ông ăn uống thật là kham khổ để chứng tỏ rằng Giê-ru-sa-lem sẽ bị khan hiếm thực phẩm. Ông cố tránh không để cho thức ăn bị ô uế, dầu vậy khi dân Y-sơ-ra-ên bị lưu đày đến các nước ngoại bang họ bị ô uế đúng trong hình thức đó.
(Exe 5:1-17)
1-4 Đức Chúa Trời truyền bảo ông cạo đầu cạo mặt. Khi diễn dịch xong cuộc vây hãm ông đốt một phần ba số tóc đó bên trong mô hình của thành, dùng gươm băm cắt một phần ba số tóc ở ngoài mô hình của thành rồi đem rải trước gió. Ông giấu số tóc còn lại trong áo choàng và đem đốt một số.
5-17 Giê-ru-sa-lem đã nổi loạn chống nghịch lại luật pháp của Đức Chúa Trời. Vì vậy Ngài tuyên cáo rằng: “Ta chống nghịch ngươi, hỡi Giê-ru-sa-lem, ta sẽ hình phạt ngươi. Vì cớ tội thờ hình tượng của ngươi mà một phần ba dân sẽ chết vì nạn dịch hoặc nạn đói trong thành Giê-ru-sa-lem. Một phần ba dân sẽ chết vì gươm ở ngoài thành. Số dân còn lại sẽ bị phân tán và quấy nhiễu. Rồi ta sẽ nguôi giận, và họ sẽ nhận biết Ta là Đức Chúa Trời. Ngươi sẽ trở nên một điềm cảnh báo cho các dân tộc khác khi án phạt đổ xuống trên ngươi”.
Chú giải. 3:23 “Sự vinh quang của Đức Chúa Trời” như tiên tri Ê-xê-chi-ên đã thấy trong 1:28. 25 “Ngươi sẽ bị trói” so sánh 4:8. Trong thời gian diễn dịch lời tiên tri này ông Ê-xê-chi-ên bị trói bằng dây. 4:1 “Bảng bằng đất sét”, hoặc sau này, “miếng gạch” là những bảng nhỏ bằng đất sét còn ẩm ướt dùng làm giấy để viết. 3 “Nồi sắt” có thể tượng trưng cho tình trạng chặt chẽ của vòng vây. 5 “390 ngày” - nhiều người tìm cách giải nghĩa 390 ngày này là thời lượng lưu đày: Đối với người Giu-đa là một thế hệ (kéo dài 40 năm) 586-536 T.C.. Đối với Y-sơ-ra-ên là khoảng 150 năm, 734-580 T.C. (bản LXX ghi là 190 năm, tức là khoảng tổng số thời lượng lưu đày của cả Giu-đa lẫn Y-sơ-ra-ên). Giải nghĩa như vậy là không thoả đáng. Có lẽ hợp lý hơn hết là nên xem số năm này biểu tượng cho chiều sâu, mức độ tồi tệ thay vì thời lượng: tình trạng bất trung của Y-sơ-ra-ên tồi tệ gấp mười lần tình trạng bất trung của Giu-đa. 10-11 Số lượng thức ăn hằng ngày của Ê-xê-chi-ên là khoảng 200grams (8 oz) ngũ cốc và 0,6 lít (1 pint) nước, một số lượng rất nhỏ bày tỏ ý là thực phẩm rất khan hiếm (17). 5:1 Đầu cạo trọc là dấu bày tỏ đang chịu tang chế. 17 Bốn ngọn roi đề cập ở đây - nạn dịch, nạn đói, thú dữ và chiến tranh (đổ máu) - được nhắc đến nhiều lần trong sách này.
2. Tiên tri chống lại sự thờ hình tượng tại Y-sơ-ra-ên (Exe 6:1-14)
Dù lời tiên tri này tập trung chống nghịch các ngọn núi tại Y-sơ-ra-ên nhưng thật ra là nhằm lên án những đền miếu hoặc nơi cao dành cho cuộc thờ hình tượng trên vùng núi non. Nơi cao là điểm thờ phượng ngoài trời của người Ca-na-an. Một số người dân Y-sơ-ra-ên sử dụng những điểm đó vào cuộc thờ phượng Đức Chúa Trời, và vẫn duy trì một số những thói tục thờ hình tượng của người ngoại đạo. Do đó Đức Chúa Trời cảnh báo rằng án phạt đang đe doạ thành Giê-ru-sa-lem cũng sẽ đổ xuống trên những vùng chung quanh. Thành phần thực hiện những cuộc thờ phượng tại nơi cao cũng sẽ chẳng được các hình tượng giải cứu đâu. Tuy nhiên, biến cố sắp diễn ra không phải chỉ là một biện pháp hình phạt, mà còn là một phương cách khiến cho họ nhận biết thần nào là giả thần nào là thật. Câu “họ sẽ nhận biết Ta là Đức Chúa Trời” được lập lại nhiều lần trong lời tiên tri này (c.7,10,13,14).
Sự thờ phượng tại những nơi cao ở Y-sơ-ra-ên là một nan đề từ lâu đời (so sánh IVua 12:28-33 IIVua 17:9-11). Dù sau này tiên tri Ê-xê-chi-ên cũng tấn công những tội “mới mẻ” mà dân Y-sơ-ra-ên học đòi từ dân láng giềng, một số bài tiên tri vẫn tiếp tục đả phá những tội lỗi lâu đời này. Có những thói tục hoặc sinh hoạt sai trái, tội lỗi được hợp thức hoá nhờ có hàng trăm năm tuổi truyền thống trong một xã hội, nhưng những thói tục đó, hoặc những sinh hoạt đó vẫn bị xem là sai trái tội lỗi.
1-7 Hãy rao báo cho các ngọn núi Y-sơ-ra-ên rằng:”Ta sắp đem gươm đến đây chống nghịch ngươi. Các nơi cao của ngươi và những trung tâm thờ phượng khác sẽ bị tàn phá. Dân cư của ngươi sẽ bị giết hại trước mặt hình tượng của họ. Rồi ngươi sẽ nhận biết ta là Đức Chúa Trời”. 8-10 “Nhưng một số người sẽ sống sót. Ở tại các xứ lưu đày họ sẽ nhớ đến ta và gớm ghiếc bản thân họ về những tội lỗi họ đã phạm. Họ sẽ nhận biết ta là Đức Chúa Trời”. 11-14 “Hãy than khóc rên siết về những tập tục gian ác xấu xa của dân Y-sơ-ra-ên, vì gươm giáo, nạn đói và nạn dịch sẽ đuổi kịp họ. Khi dân sự ngã chết lăn lóc quanh các hình tượng và các đền miếu của họ, khi đất đai ruộng vườn của họ bị hoang phế họ sẽ nhận biết ta là Đức Chúa Trời”.
Chú giải. 11 “Than ôi!” - nhiều nhà phê bình cho rằng câu này có giọng châm biếm, chế nhạo. 14 “Từ đồng vắng đến Đíp-lát” - tức là toàn xứ.
3. Cảnh báo về thảm họa chắc chắn và cận kề cho Y-sơ-ra-ên (Exe 7:1-27)
Bài tiên tri này toát ra tính cách khẩn trương cấp bách. Tai ương mà họ đã nghe báo trước nay sắp đổ xuống xứ Y-sơ-ra-ên. Không còn thời gian, cơ hội đổi ý nữa. Chiến tranh sắp bùng nổ Giê-ru-sa-lem sẽ bị vây hãm, xứ sẽ bị bỏ hoang.
1-9 Hãy rao truyền cho đất đai của Y-sơ-ra-ên rằng: “Giờ chung cuộc của ngươi đã điểm. Sau khi ngươi đã đền tội về những hành vi của mình ngươi sẽ nhận biết ta là Đức Giê-hô-va”. 10-14 “Giờ đã điểm”. 15-22 “Gươm giáo, nạn dịch và nạn đói đang chờ ngươi. Ai còn sống sót sẽ chìm trong cơn tuyệt vọng và nỗi nhục nhã. Của cải chẳng còn hữu dụng nữa - sẽ bị người ta cướp giựt thôi”. 23-27 “Dân tộc xấu xa gian ác nhất sẽ không ngừng cướp bóc tài sản của họ. Ngay cả vua chúa cũng khóc than. Họ sẽ bị xét xử tùy theo tiêu chuẩn của chính họ. Rồi họ sẽ nhận biết ta là Đức Giê-hô-va”.
Chú giải. 10 “Cây gậy đã đơm nụ, sự ngạo mạn đã trổ hoa” - bạo lực và sự kiêu căng giờ đây gặt lấy hậu quả. 12 “Kẻ mua chớ vui mừng” - cơn khủng hoảng cận kề khiến cho mọi hoạt động kinh doanh mua bán thường nhật hoá ra ngu dại. 15 “Bên ngoài là gươm giáo, bên trong đầy nạn dịch và nạn đói” - cư dân nào ở ngoài thành sẽ bị quân địch giết hại. Ai ở trong thành sẽ chịu khổ vì cuộc vây hãm, vì hậu quả là chết đói và bịnh hoạn. 19 “Vàng và bạc” - trong tình trạng bị bao vây nghiêm trọng tiền bạc của cải không làm sao mua được thức ăn. 23 “Chuẩn bị xiềng xích” - chuẩn bị để bị lưu đày - xiềng xích của cuộc lưu đày.
4. Tình trạng thờ hình tượng của Giê-ru-sa-lem và biện pháp hình phạt (Exe 8:1-11:25)
(Exe 8:1-18). Trong khải tượng quan trọng này tiên tri Ê-xê-chi-ên rơi vào trạng thái nhập định, thấy mình ở trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem. Tại đây ông được chỉ cho thấy tình trạng tồi tệ kinh khủng trong tôn giáo của dân Y-sơ-ra-ên. Họ dùng chính cơ sở của đền thờ vào việc thờ phượng theo tín ngưỡng của dân ngoại bang. Sự báo trả kéo đến và tiên tri Ê-xê-chi-ên ý thức là có sự hiện diện của cái ngai uy nghi và các con thú lạ lùng đáng sợ mà ông đã thấy trong khải tượng đầu tiên - tức là sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Sẽ có sự báo trả trên những người âm mưu gây ra những chuyện bất công trong thành Giê-ru-sa-lem. Dầu vậy lời tiên tri kết thúc với lời hứa là mai sau dân lưu đày sẽ được hồi hương.
Chủ trương tín ngưỡng đa phương hổ lốn - tức là chấp nhận và tin tưởng vào một số tín điều của các tôn giáo khác là đường lối dễ thực hiện nhất. Các thân hữu có thể thử thời vận trong an toàn vì thần nào cũng thờ hết để làm hài lòng tất cả các thần. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên là Đức Chúa Trời hay ghen. Ngài không chấp nhận đức tin và sự thờ phượng của một ai nếu họ vừa thờ Ngài vừa thờ một thần khác. Chúng ta cần đặt nặng điều kiện này của Đức Chúa Trời trong xã hội đa tín ngưỡng, đa chủng tộc của chúng ta vì người ta thường hiểu sai, hiểu lầm điều này. Đức Chúa Trời gớm ghiếc những hình thức dung hoà, hoà hoãn của chúng ta so với những thói tục thờ phượng của dân ngoại bang được đề cập ở đây, những hình thức dung hoà thoả hiệp với thế gian của chúng ta cũng bị Đức Chúa Trời xem là gớm ghiếc không kém.
1-4 Tiên tri Ê-xê-chi-ên thấy một khải tượng, trong đó ông thấy ông được đưa vào đền thờ ở Giê-ru-sa-lem. Tại đó ông thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời - như ông đã từng thấy khi ở trong đồng bằng lần trước. Rồi Đức Chúa Trời chỉ cho ông thấy vài trường hợp điển hình về sự thờ hình tượng. Ông nhìn thấy một hình tượng án ngữ ngay nơi lối dẫn đến bàn thờ (Exe 8:5-6), bảy mươi trưởng lão Y-sơ-ra-ên thờ hình các thú vật tạc nổi trên tường (8:7-13), một đám phụ nữ khóc than thần Tha-mu (8:14-15), hai mươi lăm ông thờ thần mặt trời (8:16-18).
(Exe 9:1-11)
1-6a Đức Giê-hô-va truyền lịnh cho người mặc vải gai mịn, lưng đeo sừng đựng mực ghi một dấu trên trán những người dân ở Giê-ru-sa-lem đau đớn khóc lóc về những thói tục thờ phượng ngoại lai này. Người đó liền thi hành theo lịnh truyền sáu người khác được lịnh giết những ai không có dấu ghi trên trán. 6b-7 Họ khởi sự làm công tác nhiệm vụ đối với các trưởng lão trong đền thờ. 8-10 Tiên tri Ê-xê-chi-ên cầu xin sự tha thứ nhưng Đức Chúa Trời từ chối vì tình trạng bạo lực và bất công giữa vòng Y-sơ-ra-ên và Giu-đa rất là nghiêm trọng.11 Người mặc vải gai mịn hoàn tất công tác, ghi dấu trên trán những người không chấp nhận thói tục thờ hình tượng.
(Exe 10:1-21)
1-6 Rồi có lịnh truyền cho ông lấy than lửa đỏ ở bên cạnh chê-ru-bim và rải than lửa đỏ trên Giê-ru-sa-lem. 7-8 Một trong các chê-ru-bim đưa cho ông than lửa đỏ. 9-22 Tất cả bốn chê-ru-bim đều có một cái gì tựa như bánh xe kèm bên cạnh. Tiên tri Ê-xê-chi-ên đã thấy các chê-ru-bim và bánh xe tương tự trong khải tượng đầu tiên.
(Exe 11:1-25)
1-7 Tiên tri Ê-xê-chi-ên được đưa đến cổng phía đông của đền thờ. Đức Chúa Trời chỉ cho ông thấy hai mươi lăm người đàn ông âm mưu làm việc gian ác và đưa ra những lời chỉ dẫn xấu xa. Ngài bảo ông nói tiên tri cho họ. 8-12 Đức Chúa Trời biết rõ tư tưởng của họ. Họ đã giết nhiều người trung thành, nhưng họ sẽ bị trục ra khỏi đó và sẽ bị hình phạt vì đã tấn công khách nước ngoài. Họ không tuân thủ luật pháp của Đức Chúa Trời. 13-15 Trong khi ông Ê-xê-chi-ên đang nói tiên tri, một người trong nhóm tên là Phê-la-tia, con trai của Bê-na-gia chết. Ông bối rối hỏi Đức Chúa Trời rằng phải chăng toàn bộ toàn dân Y-sơ-ra-ên sẽ bị diệt vong. Đức Chúa Trời trả lời rằng thành phần còn được lưu cư tại Giê-ru-sa-lem cho rằng đám người bị lưu đày không còn hội đủ điều kiện để hưởng đất đai tại Y-sơ-ra-ên. Ngài truyền cho ông phải rao báo với họ rằng: “Dù các ngươi đang bị lưu đày, nhưng ta vẫn ở cùng các ngươi. Ta sẽ gom góp các ngươi về xứ Y-sơ-ra-ên. Những người hồi hương sẽ dẹp bỏ hình tượng trong xứ. Họ sẽ có một tấm lòng mới và sẽ tuân thủ luật pháp của Ta. Họ sẽ là dân của ta, và ta sẽ là Đức Chúa Trời của họ. Những ai tôn sùng hình tượng sẽ gặt lấy hậu quả (Exe 11:18-21).22-25 Sự vinh quang của Đức Chúa Trời di chuyển đến một ngọn núi nằm về phía đông Giê-ru-sa-lem. Còn tiên tri Ê-xê-chi-ên tỉnh lại thấy mình ở giữa vòng người bị lưu đày tại Ba-by-lôn. Ông thuật lại cho họ mọi điều ông đã thấy.
Chú giải. 8:1 “Năm thứ sáu” - tức là năm 592 T.C. “Các trưởng lão” - chỉ mười bốn tháng sau khi ông thấy khải tượng giao phó công tác tiên tri cho ông, các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đến tham khảo ý kiến nơi ông (so sánh 14:1 20:1). 2 “Tương tự như hình dạng một người” - trong câu này và trong những câu kế tiếp ông Ê-xê-chi-ên chỉ mô tả mơ hồ hình dáng những người mà ông nhìn thấy. Ông thận trọng nhấn mạnh rằng ông mô tả những điều ông thấy trong khải tượng, chớ không phải sứ giả của Đức Chúa Trời thực sự có những phần thể xác như vậy. 3 “Cổng phía bắc” - trong khải tượng ông Ê-xê-chi-ên nhận định thấy mình ở trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem. “Hình tượng châm ngòi cho sự ghen tương” - có lẽ là A-sê-ra là tượng của nữ thần của sự phì nhiêu. Không như những thần tượng khác sẽ được nhắc đến về sau, tượng thần này nằm ở một vị trí rất ngang nhiên trước công chúng. Đây là một kiểu thách thức một cách khích lệ kẻ qua đường hãy làm theo nhưng cũng khơi dậy sự bất bình trong lòng người Y-sơ-ra-ên còn trung tín với Chúa nhưng trên hết việc làm này khiến cho Đức Chúa Trời không hài lòng và nổi ghen. 4 “Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” - vẫn còn đó bất chấp mọi chuyện đang diễn ra trong đền thờ. 7-12 Rồi tiên tri Ê-xê-chi-ên thấy những cuộc thờ hình tượng có tính cách kín đáo lén lút hơn. 10 “Đã vẽ” - tức là khắc hoặc chạm nổi. 11 “Bảy mươi trưởng lão” - tức là một tỷ lệ đáng kể trong tổng số giới trưởng lão của Y-sơ-ra-ên. 14 Tham-mu - (cũng có tên là Đu-mu-xi) là một thần của người Ba-by-lôn. Trong các nghi lễ thờ phượng thần này có mục khóc than khi thần qua thế giới bên kia. 16 Báng bổ hơn nữa là cuộc thờ phượng thần mặt trời diễn ra ngay phía trước bàn thờ của đền thờ Đức Chúa Trời. 17 “Lấy nhánh cây để gần mũi mình” - có lẽ là một trong những cử chỉ liên quan đến nghi thức thờ mặt trời. 9:1-11 Phần tiên tri này khiến chúng ta liên tưởng đến những phần tiên tri khác trong khải thị về sự hình phạt chung cuộc. 9:3 Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời bắt đầu rời khỏi đền thờ. Thông điệp truyền đạt như vậy là rõ ràng lắm. Sự kiên nhẫn của Đức Chúa Trời đã kéo dài qua nhiều năm tháng nhưng không phải là sẽ kéo dài vô tận. Nếu chúng ta cứ tiếp tục theo con đường thờ hình tượng thì Ngài phải ra đi và bỏ mặc chúng ta với ý muốn của chúng ta. 9:4 “Ghi một dấu” - dấu hiệu được ghi ở đây là chữ cái taw trong nguyên ngữ Hi Bá Lai, trông tương tự như chữ x. Dấu ghi này phân biệt giữa người còn trung thành với Đức Chúa Trời và những người bất trung. 10:1 “Ngai bằng bích ngọc” - chi tiết này khớp với chi tiết trong khải tượng đầu tiên của tiên tri Ê-xê-chi-ên (so sánh 1:26). 10:2 “Chê-ru-bim” - ở đây xác định các con thú uy nghi trong chương 1 là chê-ru-bim. Các sinh vật huyền thoại này mô tả đứng dưới ngai hoặc thậm chí có lẽ còn dùng thân mình đội cái ngai của Đức Chúa Trời lên. Nhiệm vụ của bốn con thú này là hầu việc Đức Chúa Trời rất phù hợp với hình ảnh của các chê-ru-bim được trình bày trên nắp của hòm giao ước (Xu 25:18-22) và cũng phù hợp với những câu Kinh Thánh Cựu Ước mô tả Đức Chúa Trời “ngự trên ngai đặt trên các chê-ru-bim” (ISa 4:4 IISa 6:2 IIVua 19:15 ISu 13:6 Thi 80:1 so sánh 18:10). Các chê-ru-bim có thể có dáng dấp khác nhau, Exe 41:18-20 mô tả loại chê-ru-bim có hai đầu. 10:14 “Chê-ru-bim” - một trong bốn mặt của chê-ru-bim là mặt chê-ru-bim chớ không phải là mặt bò đực như đã mô tả trong 1:10. Điểm dị biệt này có lẽ là do sự lầm lẫn của người sao chép (so sánh 10:22). 11:3 “Hiện nay chưa gần kỳ xây nhà hoặc chẳng phải sắp tới lúc xây nhà rồi sao?” các học giả không dám quả quyết về cách chuyển ngữ phần đầu của câu này, nhưng đại ý của câu này là đám người âm mưu đang tìm cách hiểu những tín hiệu của thời thế và kết luận rằng họ sẽ là tầng lớp ưu hạng trong xã hội Giê-ru-sa-lem. Thật ra nạn nhân đầu tiên là họ chớ không phải thành phần hèn kém bỏ đi trong xã hội đâu (so sánh 7,11). 11:13 “Trong khi tôi nói tiên tri” tức là trong lúc đang thấy khải tượng. 11:19 “Tấm lòng bằng đá” - “tấm lòng bằng thịt” là chủ đề sẽ được bàn lại về sau (so sánh 36:26). 11:23 Rốt cuộc sự vinh hiển của Đức Chúa Trời rời khỏi Giê-ru-sa-lem.
5. Một sứ điệp kèm với động tác diễn dịch: tiên tri về sự lưu đày (Exe 12:1-16)
Tiên tri Ê-xê-chi-ên phải diễn dịch bằng hành động nội dung sứ điệp mà ông muốn truyền đạt. Mặc dù ông tiên tri về biến cố Giê-ru-sa-lem sắp thất thủ, sứ điệp này nhằm dành cho đồng bào đang bị lưu đày ở Ba-by-lôn. Sứ điệp gồm hai phần: Dân cư Giê-ru-sa-lem sẽ bị lưu đày. Vua (Xê-đê-kia) sẽ tìm cách trốn khỏi thành nhưng sẽ bị bắt lại (so sánh IIVua 25:4 Gie 39:4). Sứ điệp này cũng chứa đựng những ý ngầm báo trước số phận của vua Xê-đê-kia: tiên tri Ê-xê-chi-ên che mặt (Exe 12:6,12,13). Vua Xê-đê-kia sẽ bị bắt và sẽ bị người ta làm mù mắt (IIVua 25:7).
Tiên tri Ê-xê-chi-ên phải dùng hành động để diễn dịch sứ điệp đen tối trong bài tiên tri này và bài kế tiếp. Đây là phương cách truyền thông cho một số người không sẵn lòng nghe lời nói. Nhiều người chỉ chịu nghe những điều họ muốn nghe. Đôi khi phải dùng những phương cách mà họ không hề ngờ đến để dạy họ một số điều mới. Vấn đề này thách thức Cơ-đốc nhân xét lại phương cách truyền thông của chúng ta trong công cuộc rao truyền Phúc Âm. Phương cách mới có thể thu hút được nhiều sự quan tâm chú ý nhiều hơn là những phương cách cổ điển.
1-6 Đức Chúa Trời phán với ông Ê-xê-chi-ên rằng: “Đây là một dân tộc phản loạn. Họ chỉ nghe và thấy những điều họ muốn nghe và muốn nhìn (2). Vì vậy con hãy thực hiện những hành động này trước mắt họ - có thể họ sẽ hiểu: Ban ngày thì soạn đồ, sắp xếp vật dụng cần thiết cho một chuyến đi đến xứ lưu đày. Rồi khởi hành từ nơi ông đang cư trú để đi đến một nơi khác (3-4). Đêm đến, thì đục khoét một lỗ hổng nơi tường, và chui qua lỗ hổng trong khi mắt bị bịt khăn còn vai thì mang một cái bao đựng hành trang. Với những hành động này ngươi trở nên một dấu chứng cho dân Y-sơ-ra-ên” (5-6).
7-14 Tiên tri Ê-xê-chi-ên vâng lời, làm theo lịnh Đức Chúa Trời truyền. Qua ngày sau ông nhận được phần thứ hai của sứ điệp là những điều ông phải truyền lại cho dân Y-sơ-ra-ên khi họ thắc mắc hỏi về ý nghĩa trong các hành động của ông (7-10). Ông phải giải thích với họ rằng ông là một dấu chứng cho họ (11). Ông phải tuyên rao rằng những hành động đó nhằm diễn dịch về vua ở Giê-ru-sa-lem và toàn thể dân Y-sơ-ra-ên. Họ sẽ bị lưu đày và tù đày. Khi đêm xuống vua sẽ đeo bao hành trang lên vai rồi chui qua lỗ hổng nơi tường thành. Vua sẽ bị bắt lại và sẽ bị đem qua Ba-by-lôn, rồi sẽ qua đời tại đó (11-13). Đám dân theo vua sẽ bị phân tán đến các nước xa lạ. Một số sẽ sống sót để kể lại những việc làm xấu xa của mình. Rồi họ sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va (14 -16).
Chú giải. 5 “Đục khoét nơi tường” - từ dùng trong nguyên ngữ chỉ về tường của một ngôi nhà chớ không phải tường thành. Tường của một ngôi nhà làm bằng gạch bùn nên ông có thể dễ dàng đục khoét một lỗ hổng. Hành động khoét tường diễn dịch một cuộc trốn chạy trong tuyệt vọng. 16 “Gươm giáo, nạn đói và nạn dịch” - bộ ba quen thuộc thường được đề cập đến trong sách Ê-xê-chi-ên. Sự tàn phá của chiến tranh kéo theo nạn chết đói và bệnh tật.
6. Một sứ điệp kèm theo hành động diễn dịch: Người Y-sơ-ra-ên run lẩy bẩy (Exe 12:17-20)
Cuộc tấn công sắp tới nhắm vào Giê-ru-sa-lem và lãnh thổ quanh vùng gây ra tổn hại nặng nề. Tiên tri Ê-xê-chi-ên diễn dịch sự tổn hại đó bằng cử chỉ run lẩy bẩy, run rẩy khi ăn khi uống. Với cử chỉ này ông tuyên rao rằng dân cư Giê-ru-sa-lem và Y-sơ-ra-ên sẽ ăn uống trong nỗi lo âu sợ sệt vì bạo lực lan tràn. Thành thị và đất đai bị bỏ hoang. Rồi họ sẽ nhận biết Đức Chúa Trời là Chúa của họ.
Chú giải. 19 “Ăn... trong nỗi lo âu” - so sánh Exe 4:16. Trong chương 4 hành động diễn dịch lột tả tình trạng khan hiếm thực phẩm (so sánh 4:9-17).
7. Lời tiên tri sẽ thành sự thực (Exe 12:21-25)
Ông Ê-xê-chi-ên không phải là người duy nhất tự nhận mình có sứ điệp từ Đức Chúa Trời (so sánh 13:1-23). Do đó dân sự đi đến một kết luận là tất cả những lời tiên tri đó sẽ chẳng bao giờ thành sự thật. Không nhiều thì ít họ cũng có lý. Trước kia đã xuất hiện nhiều tiên tri giả. Ông Ê-xê-chi-ên cảnh báo dân sự rằng giờ đây lời tiên tri của ông thuộc loại khác rồi, không giả đâu.
Dân sự có nhiều lập luận để tự trấn an khi đứng trước những sự thật bất an. Đây là một trong số lập luận đó: “Chuyện đó chẳng bao giờ xảy ra đâu”. Câu thứ hai nằm trong bài tiên tri kế tiếp: “Có thể sẽ xảy ra, nhưng còn lâu lắm”. Ông Ê-xê-chi-ên phải tuyên rao rằng: “Thời kỳ đầy dẫy những lời tiên tri giả không hề thành sự thật đã qua. Những điều ta rao ra hiện nay sẽ nhanh chóng xảy ra, không trì hoãn, sẽ xảy ra trong dòng đời của các ngươi”.
Chú giải. 22 “Câu tục ngữ” - những lời tiên tri tưởng chừng thất bại vì không ứng nghiệm đã đi vào câu nói của dân gian, đã trở thành một câu tục ngữ.
8. Và sẽ nhanh chóng thành sự thực (Exe 12:26-28)
Có lẽ do kết quả của bài tiên tri trước mà một số người thay đổi quan niệm đối với những lời tiên tri của ông Ê-xê-chi-ên. Họ chấp nhận là những lời tiên tri Ê-xê-chi-ên cảnh báo có thể đúng, nhưng sẽ chỉ ứng nghiệm trong một tương lai xa. Ngày nay cũng vậy, người ta hay đẩy nan đề qua thế hệ sau thay vì thẳng thắn đối diện. “Trận đại hồng thuỷ sẽ chỉ xảy ra ở thời kỳ sau thế hệ của chúng ta”.
26-28 Lời của Đức Chúa Trời phán với ông Ê-xê-chi-ên là: “ Dân Y-sơ-ra-ên cho rằng ngươi nói tiên tri về những chuyện tương lai xa” (27). Nhưng ông phải rao truyền rằng: “Các lời tiên tri của ta chẳng có lời nào bị chậm trễ đâu. Những điều ta tuyên bố sẽ ứng nghiệm” (28).
Chú giải. 27 “Sự hiện thấy” so sánh 7:26 12:22.
9. Lên án các nam nữ tiên tri giả (Exe 13:1-23)
Bài tiên tri này lên án hai thành phần tiên tri giả. Thành phần tiên tri giả thứ nhất là những người nghĩ rằng họ thực sự có thể tiên đoán tương lai. Họ cho là những lời tuyên bố của họ sẽ thành sự thực. Sứ điệp của họ thuộc loại dân chúng thích nghe (10). Dầu vậy, bất chấp lòng chân thành tha thiết, bất chấp những sứ điệp đem lại sự vững tâm yên chí, họ vẫn sai. Ai nấy đều sẽ thấy rõ họ truyền rao những điều sai lầm. Thành tâm hết lòng không đủ. Vẫn có thể sai nặng nề dù chân thành hết mức.
Thành phần tiên tri giả thứ hai có tính cách đen tối hơn. Trước tiên các nữ tiên tri thuộc loại này hành nghề vì lợi lộc (19). Kinh Thánh lên án những người hành đạo chỉ vì lợi lộc kinh tế. Hơn nữa họ tô điểm cho hoạt động của mình bằng ma thuật, có thể là vận dụng một loại quyền lực tương tự như voodoo để kiểm soát người ta (18,20,21). Những hoạt động của họ dẫn đến sự bất công và chết chóc nữa (19). Kể cũng lạ là đám phù thuỷ này lại bị lên án nhẹ hơn thành phần tiên tri thứ nhất. Họ sẽ không còn quyền lực gì trên dân chúng nữa và sẽ không thể rao truyền ra những lời tiên tri tầm bậy nữa. Có lẽ nghề này phát sinh từ nhu cầu kinh tế thay vì từ những tham vọng xảo quyệt.
1-15 Tiên tri Ê-xê-chi-ên được lịnh tuyên rao cho các tiên tri giả rằng: “Khốn nạn cho các ngươi! Các ngươi đã không cứu giúp Y-sơ-ra-ên trong lúc có nhu cầu. Những sự khải tượng của quí ông đều là man trá thế mà các người lại trông chờ sự ứng nghiệm cách dại dột (1-7). Ta là Đức Giê-hô-va. Ta chống nghịch ngươi vì cớ những khải tượng giả mạo của ngươi (8). Ngươi sẽ không thuộc về ban lãnh đạo của dân sự, không được liệt danh trong sách của nhà Y-sơ-ra-ên, cũng không được vào xứ Y-sơ-ra-ên (9). Các người đã đem lại cho dân sự của ta niềm an ủi giả tạo và cảm giác an ổn giả mạo (10-12). Tình trạng an ổn đó sẽ bị phá vỡ, đến phiên các người cũng sụp đổ. Rồi các ngươi sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va” (13-15).
16-21 Tiên tri Ê-xê-chi-ên phải tuyên rao về các nữ tiên tri giả rằng: “Các ngươi làm ma thuật để trục lợi. Các ngươi nói dối nên phát sinh ra những hành vi bất công (18,19). Ta chống lại những trò ma chước quỉ của các ngươi và sẽ lột sạch những chuyện đó khỏi tay các ngươi. Ta sẽ vô hiệu hoá quyền lực của các ngươi trên dân sự. Rồi các ngươi sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va”. (20-21)
22-23 “Các ngươi làm nản lòng người ngay thẳng chính trực, nhưng khích lệ kẻ bất công. Ta sẽ chấm dứt những hoạt động đó, rồi các ngươi sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va” (22,23).
Chú giải. 4 “Con cáo trong chốn hoang vu” - thay vì thu dọn và giúp dân sự xây dựng lại cuộc đời, các tiên tri này, tương tự như những con vắt, nuôi thân bằng mồ hôi nước mắt của đám tàn dân. 9 Họ bị hình phạt qua ba hình thức, rốt cuộc là bị trục xuất khỏi xã hội Y-sơ-ra-ên. Trước tiên họ không được phép tham gia ban lãnh đạo tức là mất địa vị làm công dân ưu hạng không được phép ghi danh trong sổ bộ tức là mất quyền lợi của công dân Y-sơ-ra-ên phái nam và sẽ không được phép trở về Y-sơ-ra-ên. 10 “Quét vôi trắng” - hình ảnh bên ngoài có vẻ tốt đẹp, nhưng sự thật bên trong là yếu đuối và vô giá trị. 18 “Ma thuật... khăn trùm đầu” - chúng ta không rõ các nữ tiên tri làm phù phép như thế nào. Dầu sao phù phép của họ nhằm gài bẫy và điều khiển nạn nhân. 19 “Mạch nha... bánh” - là tiền công nghèo nàn dành cho họ.
10. Lên án thói tục thờ hình tượng (Exe 14:1-11)
Vì ông làm tiên tri nên dân Y-sơ-ra-ên bị lưu đày hẳn sẵn sàng cầu hỏi sứ điệp của Đức Chúa Trời qua ông. Xem ra ông có uy tín đến nỗi ngay cả các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên cũng đến cầu vấn Đức Chúa Trời tức là xin một lời tiên tri (so sánh 20:1-3).
Vào dịp này Đức Chúa Trời tỏ cho ông Ê-xê-chi-ên biết rằng các trưởng lão đi nước đôi. Họ vừa thờ Đức Chúa Trời vừa thờ các thần khác. Tiên tri Ê-xê-chi-ên giảng một sứ điệp rành mạch: họ phải ăn năn và từ bỏ sự thờ hình tượng. Ai lo thờ hình tượng mà còn cầu vấn Đức Chúa Trời qua tiên tri sẽ bị hình phạt. Rồi nếu tiên tri cũng nể họ, làm theo điều họ yêu cầu thì cũng bị hình phạt luôn. (20:1-44 về vấn đề tương tự).
Không có dấu hiệu nào cho thấy các trưởng lão không tin Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Vấn đề là họ cũng tin các thần khác. Không một ai có thể phục vụ hai chủ hoặc nhiều chủ cùng một lúc được (Mat 6:24). Chỉ có thể phục vụ một chủ mà thôi. Trong thời đại hiện nay người ta theo chủ nghĩa số nhiều, nên giữ thái độ cởi mở công nhận các thần khác là sách lược có vẻ hấp dẫn. Chúng ta sẽ đối diện với sự thật là một khi chúng ta dấn thân đeo đuổi một tôn giáo thì chúng ta sẽ phát hiện rằng tôn giáo đó không thể nào tương hợp với một tôn giáo nào khác. Thí dụ, nếu Đấng Chritst là con đường duy nhất thật sự dẫn đến Đức Chúa Trời (Gi 14:6-7) thì không còn tính đến chuyện tìm và công nhận một con đường nào khác nữa.
Đức Chúa Trời báo cho tiên tri Ê-xê-chi-ên biết rằng: “Những người này thờ hình tượng - Ta há để cho họ cầu vấn Ta sao?” (2-3) Ngài truyền cho ông chuyển đạt lại cho họ rằng: “Hãy ăn năn, quay lưng từ bỏ sự thờ hình tượng. Nếu một người Y-sơ-ra-ên - hoặc một người nước ngoài ngụ tại Y-sơ-ra-ên, thờ hình tượng, rồi cầu hỏi ý Ta qua một vị tiên tri, thì người đó sẽ nhận được một câu trả lời dứt khoát như vầy: người đó sẽ trở nên một tấm gương cho Y-sơ-ra-ên và sẽ bị trục ra khỏi dân sự. Rồi các ngươi sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va (4-8). Nếu vị tiên tri đó mở miệng nói tiên tri đáp lại lời cầu hỏi của họ, thì là vì chính Ta để cho tiên tri đó bị dụ dỗ. Tiên tri đó sẽ bị trục ra khỏi Y-sơ-ra-ên. Ông ta cũng can tội y như những người đến cầu hỏi ông. Như vậy để dân Y-sơ-ra-ên không còn lầm lạc nữa. Họ sẽ là dân của Ta, và Ta sẽ là Đức Chúa Trời của họ (9-11).
Chú giải. 7 “Khách ngoại bang” - cấm chỉ này cũng áp dụng cho cả những cư dân không phải là người Y-sơ-ra-ên. 9 “Bị dụ dỗ” - nếu một vị tiên tri thật sự được kêu gọi vào chức vụ, thì Đức Chúa Trời sẽ tỏ cho ông ta biết (như trường hợp ông Ê-xê-chi-ên) rằng ông ta không nên tiên tri đáp lời người cầu hỏi. Còn nếu vị tiên tri không được kêu gọi, Đức Chúa Trời sẽ bỏ mặc cho ông ta bị thuyết phục nói tiên tri đáp lời, để rồi bị hình phạt.
11. Một nhóm ít người công nghĩa không thể ngăn cản sự hình phạt đối với Y-sơ-ra-ên (Exe 14:12-23)
Nhiều bài tiên tri của ông Ê-xê-chi-ên bàn về những vấn đề can tội và trách nhiệm (Exe 3:16-21 18:1-32 33:1-20). Bài tiên tri này nhằm cảnh báo rằng dân sự không nên ỷ vào một số ít người công nghĩa giữa vòng họ để hi vọng thoát được cơn hình phạt về tội lỗi của mình. Một xã hội thối nát không có hi vọng được ân xá nhờ sự hiện diện của một vài người thánh thiện. Một trưởng tộc tin kính đạo hạnh cũng không thể chuộc tội cho một gia tộc tội lỗi (16,18,20). Tiên tri Ê-xê-chi-ên cảnh báo dân cư Giê-ru-sa-lem là đừng rơi vào lỗi lầm đó. Sự báo trả sắp giáng xuống trên Giê-ru-sa-lem, dù rằng sẽ có một số ít được giải cứu.
Bài tiên tri vạch ra “bốn sự hình phạt kinh khiếp” đối với xứ nạn đói (13-14), thú dữ (15-16), gươm giáo (17-18) và nạn dịch (19-20). Các thảm hoạ này không đến riêng lẻ mà còn liên quan với nhau. Một cuộc chiến gây suy yếu cho một đất nước đương nhiên cũng kéo theo đói kém, bịnh tật và thú dữ. Người ta cũng tranh luận gắt gao để xem những thảm họa thời nay có liên quan trực tiếp với sự hình phạt của Đức Chúa Trời hay không. Tiên tri Ê-xê-chi-ên rao ra sứ điệp không mấy sáng sủa, ấy là một số những thiên tai là biện pháp hình phạt của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, phận sự của ông Ê-xê-chi-ên không phải là tỏ ý hả hê phấn khởi mà lo cảnh báo dân sự hầu cho họ bỏ đường lối cũ của mình.
Đức Chúa Trời phán với ông Ê-xê-chi-ên rằng: “Nếu Ta hình phạt đất nước bằng một nạn đói về lòng bất trung của dân cư thì ngay cả những người có tánh tình gương mẫu cũng sẽ chỉ cứu được bản thân họ thôi (13-14). Còn nếu Ta xua thú dữ vào hoành hành khắp xứ, hoặc khiến cho đất nước lâm cảnh chiến tranh, hoặc nạn dịch lan tràn khắp xứ, những người toàn tâm toàn tánh cũng chỉ cứu được bản thân họ thôi, con trai, con gái của họ cũng không được giải cứu (15-20). Số phận của Giê-ru-sa-lem sẽ là như thế, dù có đôi ba người được giải cứu (21-22).
Chú giải. 14 “Nô-ê, Đa-ni-ên và Gióp” - ba nhân vật này được nêu đích danh vì họ nổi tiếng nếp sống công bình đạo đức. Tuy nhiên tên riêng “Đa-ni-ên” có dạng không giống như dạng tên riêng này ở những chỗ khác trong Kinh Thánh (cũng so sánh 28:3) nên có lẽ chỉ về một bậc anh hùng nào đó trong văn chương Ugarit. Đa số các nhà bình giải cho rằng vào thời này nhân vật Đa-ni-ên trong Kinh Thánh Cựu Ước chưa nổi danh. 21 “Bốn hình thức hình phạt” - tương tự như bốn hình thức hình phạt dùng trong Kh 6:8.
12. Giê-ru-sa-lem là một cây nho vô dụng (Exe 15:1-8)
Trong Cựu Ước cây nho sai trái và quí giá thường được dùng để ví von về Y-sơ-ra-ên là tuyển dân của Đức Chúa Trời (so sánh Es 5:1-30). Bài tiên tri này vạch ra rằng gỗ cây nho coi như chẳng có giá trị gì đáng kể, càng không có giá trị sau khi bị cháy xém. Dân cư Giê-ru-sa-lem không khác gì cây nho này. Trước khi bị vây hãm (năm 597 T.C.) họ vốn chẳng có giá trị gì mấy. Sau cuộc vây hãm họ cũng chẳng khá hơn.
Không phải cứ bị hình phạt là thế nào người ta cũng ăn năn sửa đổi. Tấm lòng đổi mới phát sinh hành vi mới.
Đức Chúa Trời hỏi tiên tri Ê-xê-chi-ên một câu như sau: “Gỗ cây nho có ích lợi gì?”. Một khi đã bị đốt, thân nho có ích lợi gì chăng (2-5)? Rồi Chúa phán luôn rằng dân cư Giê-ru-sa-lem cũng sẽ bị đối xử tương tự như cây nho đó. Họ đã bị ném vào lửa, nhưng sẽ còn bị ném vào lửa nữa (6-7). Rồi họ sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va là Đấng khiến cho xứ sở của họ trở nên hoang phế vì cớ lòng bất trung của họ (8).
Chú giải. 7 “Nhưng lửa sẽ thiêu đốt chúng nó nữa” - thành sẽ bị vây hãm nữa.
13. Giê-ru-sa-lem ví như người vợ bất trung và đĩ thõa (Exe 16:1-63)
Y-sơ-ra-ên bị mô tả qua hình ảnh một người vợ tà dâm phóng túng, đi làm điếm với người Ai Cập, A-si-ri và Ba-by-lôn. Họ sẽ bị báo trả bởi chính tay những người yêu mà họ từng đeo đuổi.
Theo tiêu chuẩn thông thường hiện đại thì lối ví von này có vẻ quá bạo, nhưng rất thoả đáng. Trong quan hệ với các nước ngoài, Y-sơ-ra-ên sẵn sàng đón nhận tôn giáo, niềm tin và tập tục của các nước đó. Quan hệ xã hội đặt Y-sơ-ra-ên trước vô số tập tục của dân ngoại đạo. Một số những tập tục đó là dâng trẻ con làm của lễ và thờ hình tượng (20,21), nhưng thêm một luồng sinh hoạt quan trọng nữa là lấy quan hệ tình dục làm nghi thức thờ phượng. Sinh hoạt này không phải nhằm thoả mãn người trong cuộc nhưng được xem là những nghi thức liên quan đến sự phì nhiêu. Đất đai phì nhiêu tức là có thực phẩm và cho phép người ta sống còn. Dầu vậy, sinh hoạt tôn giáo kiểu đó chắc chắn nặng tính dâm dật và đĩ thoã.
Chương này lên án những sinh hoạt tình dục với hình tượng (17) và đĩ thõa trong nghi thức thờ phượng (16,24,25,31). Dường như nghi thức thờ phượng qua chuyện quan hệ tình dục vốn chỉ diễn ra trong “các nơi cao” tức là đền miếu trên vùng núi non (16) đã trở nên một sinh hoạt công khai trong chính đường phố Giê-ru-sa-lem (24,25).
Một bước ngoặc khá lý thú trong chủ đề quan hệ tình dục của chương này là Sô-đôm và Gô-mô-rơ được nêu đích danh là chị em với Giê-ru-sa-lem trong con đường tội lỗi (46-47). Dầu vậy Sô-đôm bị lên án nặng nề về tội ngạo mạn và không quan tâm đến người nghèo và người cô thế (49-50). Còn Giê-ru-sa-lem bị lên án là lún sâu vào tội lỗi nhiều hơn chị em của mình. Hơn nữa, Sô-đôm và Gô-mô-rơ sẽ được khôi phục, chất thêm nỗi nhục cho Giê-ru-sa-lem (53-55). Dầu vậy hi vọng còn đó. Sau khi Giê-ru-sa-lem bị hình phạt sụp đổ tan hoang người yêu cũ là người từng cứu Y-sơ-ra-ên khi mới chào đời (4-7), đã lấy Y-sơ-ra-ên làm vợ (8), và lấy lụa là gấm vóc làm y phục cho Y-sơ-ra-ên, chính người đó còn nhớ những lời hứa của mình đối với Y-sơ-ra-ên (59-62).
Kinh Thánh thường ví tình yêu của Đức Chúa Trời với dân sự như tình yêu của chồng đối với vợ. Đôi khi người làm chồng có thể bỏ phế, khinh chê hoặc ghét bỏ người vợ bất trung đĩ thoã, nhưng Đức Chúa Trời công bình và kiên nhẫn Ngài vẫn nhớ những lời hứa của Ngài dành cho dân sự dù họ có lầm đường lạc lối.
Ngày nay thế giới đã phát triển đặt vấn đề “phì nhiêu” làm mục đích chính của cuộc sống, biểu thị qua nỗ lực phấn đấu để giành cho được một nền kinh tế thịnh vượng. Tinh thần tôn sùng quí trọng vật chất và sức mạnh thương trường chiếm chỗ cuộc thờ phượng Ba-anh nhưng cũng không thua gì tinh thần thờ hình tượng.
1-34 Tiên tri Ê-xê-chi-ên được lịnh đối đầu với Giê-ru-sa-lem và truyền rao rằng: “Khi ngươi mới chào đời người ta khinh dể ngươi (2-5). Ta thương xót ngươi, cứu sống ngươi. Khi ngươi trưởng thành Ta lấy ngươi làm vợ và tràn ngập ngươi với gấm vóc lượt là và châu ngọc (6-14). Ngươi nổi tiếng về sắc nước hương trời. Dầu vậy ngươi lợi dụng sắc đẹp để làm điếm. Ngươi chìm đắm trong các thói tục thờ hình tượng và quan hệ tình dục dưới danh nghĩa là nghi thức thờ phượng trong ngoại giáo. Ngươi quên mọi việc Ta đã làm cho ngươi (15-22). Khốn nạn cho ngươi! Càng ngày ngươi càng phóng túng hoang đàng hơn. Ngươi công khai yêu đương với mọi người nước ngoài ở chung quanh, hối lộ họ để dụ họ đến với ngươi (23-24).
35-42 Vì cớ ngươi rập theo thói hoang dâm và những nghi thức tập tục của tôn giáo ngoại bang nên ta sẽ hạ nhục ngươi và hình phạt ngươi trước mặt đám tình nhân của ngươi. Họ sẽ thay phiên lột trần ngươi và ném đá ngươi. Rồi ngươi sẽ ngưng bỏ hoang dâm đàng điếm rồi cơn giận của Ta sẽ lắng nguôi. 44-58 Hành vi của ngươi là nếp sống của gia đình. Các chị em của ngươi là Sa-ma-ri và Sô-đôm cũng chẳng khác chi ngươi. Tuy vậy, ngươi sa đọa hơn họ nhiều. Ta sẽ khôi phục sự nghiệp của Sa-ma-ri và Sô-đôm để tăng mức nhục nhã của ngươi. Ngay cả hiện nay láng giềng của ngươi đã chế nhạo ngươi rồi. 59-63 Dù ngươi xé giao ước giữa Ta với ngươi, Ta vẫn nhớ giao ước đó và Ta sẽ lập một giao ước đời đời với ngươi. Rồi ngươi sẽ nhớ lại những việc mà ngươi làm cách nhục nhã.
Chú giải. 3 “Dân A-mô-rít... dân Hê-tít” - Giê-ru-sa-lem có từ lâu đời trước khi trở thành một thành của dân Y-sơ-ra-ên. 4 “Xát muối” - có lẽ một biện pháp khử trùng. Câu này nhằm nói rằng trẻ sơ sinh không được quan tâm săn sóc. 5-6 Bé bị bỏ rơi ngoài trời chân tay vung vẩy mình còn vấy máu sau khi lọt lòng mẹ. Trong xã hội thời xưa không hiếm cảnh này. 8 “Lấy áo choàng đắp trùm cho ngươi” - cử chỉ này nói lên lời cầu hôn (so sánh Ru 3:9). 9 “Rửa ráy máu” - các câu này nhằm tả vẽ tình trạng của Giê-ru-sa-lem hoàn toàn được thay đổi. Vừa chào đời đã bị bỏ rơi, không ai tắm rửa cho, không có mảnh vải che thân, nằm bất lực trong máu huyết nhớp nhúa. Giờ đây sắp bước vào hôn nhân, thân thể đã sạch hết máu và nước dơ bẩn mặc trên người y phục sang trọng quí giá. 15-19 Cô dâu dùng chính những quà tặng là xiêm y và nữ trang vào chuyện hoang dâm điếm đĩ. 27 “Thu hẹp lãnh thổ của ngươi” - bài ngụ ngôn đưa ra một chi tiết điển hình phũ phàng về sự kiện trong thực tế: năm 701 T.C. San-chê-ríp cắt phần lãnh thổ của Giê-ru-sa-lem cho người Phi-li-tin. 35-42 Giê-ru-sa-lem bị hình phạt tương tự như một gái điếm - ô nhục và huỷ diệt. 60-63 Dầu vậy lời hứa về một giao ước đời đời vẫn còn đó, dù rằng Giê-ru-sa-lem sẽ không khỏi xấu hổ về quá khứ của mình.
14. Mấy con chim ưng, cây hương bách và cây nho - một ẩn dụ về chính trị (Exe 17:1-24)
Chương này gồm ba phần: 3-10 là ẩn dụ về chim ưng và cây nho 11-21 ý nghĩa của ẩn dụ và 22-24 là một lời hứa gói ghém trong ẩn dụ.
Ẩn dụ nói về diễn biến chính trị đương thời. Con chim ưng thứ nhất là Nê-bu-cát-nết-sa và con thứ hai là Pha-ra-ôn. Cây hương nam ở Li-ban tượng trưng cho hoàng gia ở Giê-ru-sa-lem, nhánh non trên cành cao nhất là giới quí tộc. “Giống của đất” là một thành viên trong hoàng gia, chính là vua Xê-đê-kia, là người được đưa lên làm vua, cai trị Giê-ru-sa-lem. Trong ẩn dụ, vua không còn là cây hương bách, mà chỉ là cây nho thấp lè tè, ngụ ý là quyền lực của vua rất giới hạn. Dầu vậy, dựa vào Ai Cập vua Xê-đê-kia vẫn tìm cách nổi lên chống lại Nê-bu-cát-nết-sa. Nỗ lực này thất bại nặng nề.
Ẩn dụ này minh hoạ cho ý chủ chốt là chính trường không nằm ngoài quyền hạn của luật pháp của Đức Chúa Trời. Trong một hiệp ước với vua Nê-bu-cát-nết-sa, vua Xê-đê-kia đã nhân danh Đức Chúa Trời mà thề. Thực tế cho thấy đúng là vua Nê-bu-cát-nết-sa là một tay ngoại đạo bạo ngược, dầu vậy vua Xê-đê-kia vẫn có trách nhiệm trung thành với lời thề của mình.
1-8 Tiên tri Ê-xê-chi-ên được lịnh kể cho dân sự nghe chuyện ẩn dụ này: Một con chim non lẫy lừng cắp một nhành non trên ngọn cây hương bách ở Li-ban rồi đem trồng tại một thành hoạt động mạnh mẽ trong thương trường (2-4). Con chim cũng lấy hạt giống, đem trồng trong một vùng đất tốt. Hạt giống nẩy mầm, mọc lên thành một cây nho rậm lá. Thoạt đầu các cành nho chĩa về hướng con chim ưng (5-6). Nhưng khi có một chim ưng thứ hai xuất hiện thì cây nho chĩa cành về phía chim ưng thứ hai (7-8).
9-21 Đức Giê-hô-va đặt vấn đề: “Liệu cây nho có được sống sót không? Liệu cây nho có bị nhổ lên và bỏ cho khô héo không?” (9-10). Biết ý nghĩa chuyện ngụ ngôn này là gì không? Vua Ba-by-lôn đem vua và giới quí tộc ở Giê-ru-sa-lem đi đày (11-12). Rồi bắt một thành viên trong hoàng gia tại Giê-ru-sa-lem ký kết với mình một hiệp ước kèm với một lời thề trung thành, rồi bắt toàn bộ thành phần lãnh đạo đi đày. Nhờ đường lối đó vua làm cho Giê-ru-sa-lem bị suy yếu đến độ phải chịu sự kiểm soát của mình (13-14). Tuy nhiên, vua này xin Ai Cập viện binh trợ giúp về mặt quân sự để nổi loạn chống Ba-by-lôn. Vua có thành công không? Không, vua sẽ bỏ mạng ở Ba-by-lôn. Ai Cập chẳng giúp đỡ gì cả. Vua sẽ bị hành hạ vì đã phản bội lời thề (15-21).
22-24 “Ta, Đức Giê-hô-va, sẽ lấy đoạt cây hương bách cao nhất, ta sẽ trồng nó trên núi non của Y-xơ-ra-ên. Nó sẽ trở nên một cây hương bách hùng vĩ. Mọi người khác sẽ nhận biết rằng Ta có quyền thực hiện việc này (22-24).
Chú giải. 11-14 Dân Ba-by-lôn đã áp dụng một chính sách bài bản để biến dân Y-xơ-ra-ên thành một nước bù nhìn. Họ đày toàn bộ hoàng gia, ngoại trừ một người kém cỏi nhất, cho người này lên ngôi cai trị. Đó là vua Xê-đê-kia, vua buộc phải ký một hiệp ước với Ba-by-lôn, bảo đảm là Y-xơ-ra-ên sẽ trung thành với Ba-by-lôn. Bất cứ ai để lộ đôi chút tài năng cai trị đều bị lưu đày. Chính sách này bảo đảm là khó có thể hình thành một âm mưu (và tổ chức) kháng chiến. 16 “Chết ở Ba-by-lôn” IIVua 25:1-7 chép về cuộc vây hãm Giê-ru-sa-lem với kết cuộc là vua Nê-bu-cát-nết-sa bắt được vua Xê-đê-kia móc mắt vua, xiềng lại và đưa về Ba-by-lôn. 22-24 Một sứ điệp khác, đầy hi vọng: rồi đây đến thời điểm sẽ xuất hiện một tân vương và vương quốc sẽ được khôi phục.
15. Trách nhiệm của từng cá nhân (Exe 18:1-32)
Bài tiên tri này nhằm thẳng tay đả phá, niềm tin tưởng rằng dân sự liên đới chịu trách nhiệm về tội lỗi của cha mẹ tổ tiên, (hoặc hưởng phước nhờ công đức của họ). Niềm tin tưởng này được gói ghém trong một câu ngạn ngữ (c.2). Tin tưởng như vậy tác động hai chiều. Bài tiên tri đưa ra một thí dụ trong mỗi chiều: a) một người con tội lỗi không thể nhờ đời sống công nghĩa của cha mẹ mà thoát khỏi sự hình phạt (5-13), và b) một người con công nghĩa sẽ không bị hình phạt vì cớ tội lỗi của cha mình (14-18). Câu 4 cô đọng nguyên tắc: “Linh hồn nào phạm tội thì linh hồn đó sẽ chết”. Tiên tri Ê-xê-chi-ên cũng đả phá quan niệm cho rằng số lượng việc làm tốt của một người trong suốt đời sống có thể cân đối lại những việc tội lỗi của người đó. Tiên tri Ê-xê-chi-ên cương quyết bác bỏ quan niệm này. Nếu một người tội lỗi biết xây bỏ đường lối tội lỗi thì người đó sẽ sống. Nếu một người công nghĩa lao vào tội lỗi, thì người đó sẽ bị hình phạt (21-28). Dân sự cho rằng toàn bộ chủ trương này là bất công (29).
2-4 Lời truyền dạy của Đức Chúa Trời nghe trái hẳn quan niệm phổ cập. Ngài dạy rằng ai phạm tội thì người đó sẽ bị hình phạt. 5-9 Nếu người công nghĩa làm điều phải lẽ và công bình chính trực thì người đó sẽ sống. 10-13 Nếu người đó có con hung dữ bạo tàn và bất khiết thì người con đó sẽ chết vì cớ tội lỗi của chính mình. 14-18 Nếu đến phiên con người đó có con, con lại biết tránh những tội lỗi của cha và lo làm điều công bình chính trực, người con này sẽ không bị hình phạt vì cớ tội lỗi của cha mình. Mà sẽ sống. 19-20 Người con không chịu trách nhiệm về tội của cha mình, người cha cũng không chịu trách nhiệm về tội của con mình. 21-22 Tuy nhiên, nếu một người tội lỗi quay lại, từ bỏ tội lỗi, lo làm điều công bình chính trực thì người đó sẽ sống. 24 Nếu một người công bình bỏ nếp sống ngay lành thánh thiện và khởi sự phạm điều gian ác xấu xa, người đó sẽ chết. 25-29 Bất chấp mọi nhận xét của dân Y-xơ-ra-ên, những lời dạy này không bất công chút nào. 30-31 Mỗi người sẽ chịu xét xử tuỳ theo việc mình đã làm, nam cũng như nữ. Vì vậy hãy ăn năn - đổi mới tâm hồn và tâm trí. Đức Giê-hô-va không vui sướng về cái chết của bất cứ người nào (23, 32).
Chú giải. 2 (so sánh Gie 31:29) - Tiên tri Giê-rê-mi cũng dạy dân sự hãy từ bỏ quan điểm của câu ngạn ngữ này. Câu ngạn ngữ này chủ ý nói rằng có thể vì cớ tội lỗi của ông bà tổ tiên mà người ta phải chịu tai hoạ khốn khổ. 6-9 Ở đây liệt kê một số tội lỗi. Tội lỗi trong bản liệt kê này song song với những tội lỗi trong 11-13 và 15-17. 19 Dường như đây là cơ sở khiến cho người ta không tin vào kết luận của tiên tri Ê-xê-chi-ên. Trong xã hội Trung Đông thời xưa cuộc sống cộng đồng và tục lệ thừa kế gia sản rất có ý nghĩa cho nên dân sự thời đó khó lòng chấp nhận kết luận của tiên tri Ê-xê-chi-ên hơn chúng ta trong thời đại theo chủ nghĩa cá nhân hiện nay. Không như người xưa khi lâm cảnh khốn đốn tai ương chúng ta đổ tội cho “xã hội”. Dầu đổ tội cho ai đi nữa chủ ý của chúng ta cũng là chối bỏ trách nhiệm, không chịu nhận tội.
16. Than khóc cho các vua Y-xơ-ra-ên (Exe 19:1-14)
Chương này than khóc sự suy sụp của triều đại Đa-vít qua câu chuyện ngụ ngôn. Một con sư tử cái (Y-xơ-ra-ên) cho ra đời mấy sư tử con (vua) sư tử con lớn lên trở thành những con sư tử mạnh mẽ. Tuy nhiên, một trong các vị vua bị bắt và bị dẫn qua Ai Cập. Một vị vua khác cũng bị bắt, bỏ cũi đem qua Ba-by-lôn (năm 597 T.C., so sánh IIVua 25:1-7).
Đến câu 10 hình ảnh thay đổi, Y-xơ-ra-ên được ví với một cây nho. Có một thời cây nho này đầy sinh lực, nhưng nay bị nhổ lên và bị trồng lại trong nơi hoang mạc (tức là Ba-by-lôn). Một cành nho phát cháy, nên trái cũng cháy luôn. Chẳng còn cành nho nào mạnh cả. Đây là hình ảnh ví von về vụ vua Nê-bu-cát-nết-sa bắt vua và các hoàng tử đi đày qua Ba-by-lôn. Cuộc nổi dậy của vua Xê-đê-kia (một cành nho phát cháy) khiến cho người Ba-by-lôn áp dụng một biện pháp trừng trị cứng rắn kết thúc luôn triều đại của nhà Đa-vít.
Lời than khóc nhấn mạnh sự kiện là thời vàng son quá khứ không thể bảo đảm cho tương lai vững bền. Xã hội phương tây xây dựng nếp sống trên gia sản truyền thống Cơ đốc nhưng đức tin thật không còn nữa. Gia sản truyền thống cũng sắp tàn lụi.
1-9 Tiên tri Ê-xê-chi-ên trình bày bài ai ca này vì các vua Y-xơ-ra-ên: “Có một thời hoàng gia đã sản sinh được con sư tử sau này trở nên dũng mãnh và săn bắt người. Các dân tộc khác cũng nghe danh tiếng của vị vua này, đến bắt vua và dùng móc sắt dẫn vua qua Ai Cập (2-4). Một con sư tử thứ hai cũng trở nên dũng mãnh cũng săn bắt người, đe dọa các thành trì, làm dân cư trong xứ hoảng sợ. Các dân tộc đến giăng bẫy bắt vua và giao cho vua Ba-by-lôn giam giữ (5-9).
10-14 “Có một thời hoàng gia ngươi tương tự như cây nho xanh um với nhiều cành tốt. Cây nho bị nhổ lên gió đông thổi làm khô héo cả cây lẫn cành. Rồi cây được đem trồng trong hoang mạc. Lửa thiêu rụi cành và trái. Cây nho chẳng còn một cành nào đủ sức nhận cây phủ việt để làm vua nữa”.
Chú giải. 12 “Gió đông” - tức là người Ba-by-lôn.
17. Y-sơ-ra-ên miệt mài trong phản loạn (Exe 20:1-44)
Một nhóm các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đến cầu vấn tiên tri Ê-xê-chi-ên như trong Exe 14:1-11. Một lần nữa Đức Chúa Trời báo cho tiên tri Ê-xê-chi-ên về tình trạng bắt cá hai tay của họ, họ không hết lòng trung thành với Ngài. Tiên tri Ê-xê-chi-ên giảng một bài dài nhắc lại những lần họ chạy theo thói tục thờ hình tượng.
Nay họ còn đến cầu hỏi ý của Đức Chúa Trời nơi tiên tri Ê-xê-chi-ên chứng tỏ dầu sao các trưởng lão cũng chưa hoàn toàn ngưng thờ phượng Đức Chúa Trời để chỉ thờ các thần khác. Dầu vậy áp lực bỏ Chúa sờ sờ ra đó. Đám tàn dân bị lưu đày là một thành phần thiểu số nhỏ nhoi ở giữa một xã hội đông đảo với nhiều nền văn hoá đan xen vào nhau. Tôn giáo Ba-by-lôn thờ vô số thần. Chắc chắn đối với một số người lưu đày - quyền lực của Ba-by-lôn lẫn của cải vật chất - kể cả những toà nhà đồ sộ có vẻ là lời làm chứng hùng hồn về quyền năng của các thần Ba-by-lôn. Hẳn là họ thấy là đáng thờ các thần đó lắm và con đường hoà nhập với Ba-by-lôn hẳn là dễ dàng thôi (Xem phần bình giải Đa-ni-ên chương 1 về vấn đề này).
Bài giảng của tiên tri Ê-xê-chi-ên mở đầu rất thoả đáng với phần nhắc lại thời kỳ người Y-sơ-ra-ên buộc lòng phải cư ngụ trong lãnh thổ của một cường quốc khác - Ai Cập. Trình tự cảnh báo, nổi loạn và phục hồi diễn ra nhiều lần. Ngay cả khi bị tổn hại, người Y-sơ-ra-ên vẫn muốn theo tôn giáo của các dân tộc khác (24,32). Tận cùng lời hứa và lời cảnh báo đan kết với nhau. Y-sơ-ra-ên sẽ được gom về từ các nước họ bị đày đến, nhưng họ sẽ ghê tởm chính mình vì có những việc họ đã làm trước kia.
Bài giảng này minh hoạ về lòng kiên nhẫn chịu đựng của Đức Chúa Trời trong quan hệ của Ngài với dân sự suốt qua nhiều thế kỷ. Ngài vẫn thành tín bất chấp tánh tình ương ngạnh phản loạn của họ.
1-17 Vài vị trưởng lão Y-sơ-ra-ên đến cầu hỏi ý của Đức Chúa Trời qua tiên tri Ê-xê-chi-ên. Tiên tri Ê-xê-chi-ên được lịnh chuyển đạt lại sứ điệp như sau: “Ta không để cho các ngươi cầu vấn Ta (2,3). Khi Ta chọn Y-sơ-ra-ên và bày tỏ chính mình Ta cho họ ở Ai Cập, Ta có thề rằng Ta sẽ đem họ ra khỏi Ai Cập đến một xứ giàu có phong phú (5,6). Ta truyền lịnh cho họ từ bỏ hình tượng của Ai Cập, nhưng họ không từ bỏ. Thay vì hình phạt họ, Ta vẫn hành động vì cớ danh Ta, và đem họ ra khỏi Ai Cập (7-10). Ta cũng bày tỏ luật pháp của Ta cho họ tại sa mạc (11,12). Ngay cả khi ở trong sa mạc họ cũng nổi loạn, nhưng Ta không huỷ diệt họ, dù có cảnh báo (13-17).
18-26 “Ta cũng thuyết phục và cảnh báo con cái của họ (18-20) nhưng Ta không huỷ diệt họ dù họ cũng không vâng lời (21-22). Ở tại sa mạc Ta thề rằng vì cớ họ không vâng lời nên Ta sẽ phân tán trong khắp xứ (23,24). Ta bỏ mặc cho họ những luật lệ bất công và quá quắt (25). Ta để mặc họ tự làm ô uế bằng những tập tục dâng con đầu lòng làm của lễ. Ta xử sự như vậy để họ biết ghê tởm rồi họ mới nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va” (26).
27-28 “Tổ tiên ngươi cũng làm nhục Ta bằng cách biến mọi đỉnh cao hoặc mọi lùm cây um tùm thành đền miếu (27-28). Phải chăng các ngươi cũng muốn tự làm ô uế mình như họ vậy (30)? Ta sẽ không để cho các ngươi cầu hỏi ý Ta (31). Có thể các ngươi mong muốn được như các dân tộc khác để thờ thần gỗ và thần đá, nhưng chuyện đó chẳng bao giờ xảy ra đâu (32). Ta sẽ cai trị trên các ngươi và xét xử các ngươi. Ta sẽ thanh lọc trừng trị những người nổi loạn chống nghịch Ta. Rồi các ngươi sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va” (33-38).
39-44 “Y-sơ-ra-ên cứ thờ hình tượng đi, nhưng sau này ngươi sẽ trở về với Ta. Toàn thể nhân dân Y-sơ-ra-ên sẽ thờ phượng Ta trên núi thánh Ta (39-41). Các ngươi sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va khi Ta đem các ngươi vào xứ Y-sơ-ra-ên (42). Các ngươi sẽ kinh tởm chính mình khi hồi tưởng lại hành vi của mình lúc trước. Các ngươi sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va khi Ta đối xử với ngươi vì cớ danh Ta” (43-44).
Chú giải. 1 “Năm thứ bảy” - tức là năm 591 T.C. “Cầu vấn” so sánh Exe 8:1 14:1. 9 Vì cớ danh Ta - danh của Đức Chúa Trời tức là toàn bộ thần cách của Ngài chớ không phải chỉ có tiếng tăm. 25 “Bỏ mặc” Đức Chúa Trời buông bỏ cho họ đi vào đường lối riêng của họ, dù đường lối đó dẫn đến những thói tục bất công ghê tởm (thí dụ như dâng trẻ con làm của tế lễ). 29 ‘Bamah’ (nơi dâng sinh tế) - ở đây có một hình thức chơi chữ nhẹ nhàng. Từ bmâ nghĩa là nơi cao. Những chữ cái ở phần đầu từ này tương tự như phần đầu từ b’im nghĩa là góc. 37 Ta sẽ đếm các ngươi bằng gậy (so sánh Le 27:32 Gie 33:13). Liên quan đến hình ảnh từng con chiên đi qua dưới cây gậy của người chăn trong lúc ông vừa đếm vừa quan sát kỹ từng con.
18. Hình phạt bằng lửa (Exe 20:45-49)
Bài tiên tri này là một trong chuỗi bốn bài cảnh báo dân Y-sơ-ra-ên về tai hoạ sắp rơi xuống trên xứ. Bài tiên tri giảng sau cụ thể và rõ ràng hơn bài tiên tri giảng trước.
Tương tự như mấy lần trước (thí dụ: Exe 12:26-28) dân sự nhất định không chịu tin sứ điệp của tiên tri Ê-xê-chi-ên. Họ cho rằng bài tiên tri của ông chỉ là mấy mẫu chuyện ngụ ngôn - những hình ảnh ví von quá tối tăm về một thực tế mà họ hi vọng là sáng sủa hơn. Chúng ta luôn luôn muốn biết tương lai sẽ ra sao, nhưng chỉ chấp nhận một khi lời tiên báo khớp với mơ ước của chúng ta. Bằng không, chúng ta gạt bỏ dù là những lời tiên báo đó có đưa ra những dấu hiệu hết sức rõ ràng.
46-49 Tiên tri Ê-xê-chi-ên phải truyền rao cho miền nam và vùng rừng núi phía nam rằng (46): “Đức Giê-hô-va phán rằng Ngài sắp châm lửa đốt ngươi, không thể nào dập tắt đám cháy này được. Mặt mày ai nấy đều cháy nám. Rồi họ sẽ nhận biết là Đức Chúa Trời đã gây ra đám cháy này” (47-48). Nghe tiên tri Ê-xê-chi-ên giảng xong mọi người nhận xét rằng ông kể chuyện ngụ ngôn (49).
Chú giải. 46 Miền “nam” ở đây chỉ về Giê-ru-sa-lem và Giu-đa. 47 “Từ bắc chí nam” - thật vậy, lời tiên tri cảnh báo về đại hoạ sẽ hủy hoại toàn bộ đất đai của Y-sơ-ra-ên. 49 Đôi khi tiên tri Ê-xê-chi-ên xem ra phải đối diện với một khoảng cách đầy tính toán của dân sự. Họ cho rằng những lời tiên tri về tai hoạ đó chỉ là một “biểu trưng” thôi.
19. Hình phạt bằng gươm giáo (Exe 21:1-7)
Bài tiên tri thứ hai này dùng hình ảnh ví von rõ ràng hơn. Gươm - biểu trưng cho chiến tranh - minh định rõ tai họa sẽ đến dưới dạng chiến sự. Chúng ta biết rằng tiên tri Ê-xê-chi-ên đặt nặng vấn đề trách nhiệm và phần thưởng của cá nhân (so sánh Exe 3:16-21 33:1-20), vì vậy cần ghi nhận là ở đây ông tuyên bố rằng thảm hoạ sắp đến sẽ ảnh hưởng cả người công bình lẫn người gian ác. Người công bình không được miễn trừ khỏi những nỗi khổ đau. Những ai cho rằng Đức Chúa Trời bảo vệ họ hoàn toàn, đương nhiên là phải có đức tin rất lớn nhưng cùng lúc họ cũng gạt bỏ nhiều lời cảnh báo trong Kinh Thánh.
Tiên tri Ê-xê-chi-ên phải truyền rao về Giê-ru-sa-lem rằng: “Đức Giê-hô-va chống nghịch ngươi. Ngài sẽ tuốt gươm và chém xuống trên cả người tốt lẫn người xấu” (2-4).
Đức Chúa Trời phán với tiên tri Ê-xê-chi-ên rằng: “Hãy thở than đau buồn! Khi dân sự hỏi ngươi vì sao chúng tôi phải làm như vậy thì trả lời cho họ rằng vì những tin tức kinh khủng về những chuyện sắp xảy ra (6-7). Chắc chắn những chuyện đó sẽ xảy ra”.
Chú giải. 3 “Gươm” - cũng là hình ảnh ví von trong hai bài tiên tri kế tiếp. 6 “Thở than đau buồn!” - bài giảng của tiên tri Ê-xê-chi-ên sẽ có cử chỉ biểu trưng diễn kèm (lần thứ bảy).
20. Mài bén lưỡi gươm (Exe 21:8-17)
Bài tiên tri thứ ba trong loạt bài này được trình bày trong thể thơ - hầu như là một bài thơ trước khi ra trận. Chủ đề của bài ca là thanh gươm sẵn sàng làm nhiệm vụ.
Tiên tri Ê-xê-chi-ên rao giảng rằng chiến tranh là một biện pháp hình phạt của Đức Chúa Trời. Ngày nay không mấy ai chấp nhận như vậy, còn vào thời tiên tri Ê-xê-chi-ên người ta càng không chấp nhận một chuyện như vậy. Họ hi vọng rằng chẳng bao lâu cơn giận của Đức Chúa Trời sẽ lắng xuống.
9-11 Thanh gươm sắc bén đã sẵn sàng. 12 Thanh gươm sẵn sàng chém xuống trên dân sự và bậc vua chúa của Y-sơ-ra-ên. 14-16 Thanh gươm sẽ vung lên chém xuống mãi thôi. 17 Rồi Đức Chúa Trời sẽ nguôi giận. Đức Giê-hô-va đã phán vậy.
Chú giải. 10,12,13 “Cây phủ việt... vua” - hai bài tiên tri đầu chưa cụ thể đề cập đến sự hình phạt dành cho thành phần lãnh đạo. Bài tiên tri kế tiếp sẽ triển khai vấn đề này rõ hơn.
21. Gươm của vua Ba-by-lôn (Exe 21:18-32)
Bài tiên tri cuối trong nhóm bốn bài này nói rõ hơn về những chuyện sẽ xảy ra. Vua Ba-by-lôn (Nê-bu-cát-nết-sa) sẽ kéo quân đi chinh phục các nước phía tây Ba-by-lôn. Vua ngừng dọc đường và coi bói xem nên tấn công thành nào: Giê-ru-sa-lem hoặc Ráp-ba. Bài bói nói là Giê-ru-sa-lem. Thế là Nê-bu-cát-nết-sa vây hãm Giê-ru-sa-lem. Giới cai trị Y-sơ-ra-ên sẽ bị lật đổ và bị bắt.
Dân A-mô-rít cũng không thoát vì đã đến lúc họ cũng phải chịu hình phạt. Người ta sẽ không còn nhớ đến dân này nữa.
Bài tiên tri gồm ba phần: 18-23 Những việc làm của Nê-bu-cát-nết-sa 24-27 Sứ điệp truyền cho Y-sơ-ra-ên 28-32 Sứ điệp truyền cho Am-môn.
Bài tiên tri này khiến chúng ta phải thận trọng khi vội vã kết luận về người đáng bị hình phạt, về lý do phải phạt và người thi hành án phạt.
Xem ra vua Nê-bu-cát-nết-sa gian ác mới đáng bị hình phạt còn Y-sơ-ra-ên thì có thể chỉ bị sửa trị. Dầu vậy tiên tri Ê-xê-chi-ên được Đức Chúa Trời cho biết rằng Nê-bu-cát-nết-sa lại là công cụ được Đức Chúa Trời dùng để hình phạt sự sai phạm trong Y-sơ-ra-ên.
19-20 Tiên tri Ê-xê-chi-ên được lịnh vẽ một bản đồ biểu thị lộ trình mà vua sẽ đi qua. Ở ngã ba ông làm một bảng chỉ đường một hướng chỉ về Ráp-ba, một hướng chỉ về Giê-ru-sa-lem. 21-23 Vua Ba-by-lôn sẽ ngừng ở ngã ba và coi bói. Bài bói trả lời là Giê-ru-sa-lem, thế là vua vây hãm Giê-ru-sa-lem.
24-27 Lời của Đức Chúa Trời phán với người cai trị trên Y-sơ-ra-ên rằng: “Dân ngươi sẽ bị bắt chỉ vì ngươi ngang nhiên phạm tội (24). Còn ngươi là vua gian ác của dân Y-sơ-ra-ên, ngươi sẽ bị lật đổ” (25-27).
28-32 Tiên tri phải truyền rao về dân Am-môn rằng: “Đến thời điểm của các ngươi rồi. Bất chấp những lời tiên tri bảo đảm bình yên các ngươi sẽ bị phó cho sự huỷ diệt tại quê hương của mình (28-31). Rồi các ngươi sẽ rơi vào quên lãng. Ta là Đức Giê-hô-va đã phán như vậy” (32).
Chú giải. 20 Ráp-ba (nay là Am-man) - thủ đô của Am-môn. Sau này ông Ê-xê-chi-ên còn tiên tri về Am-môn nữa (Exe 25:1-7). 21 “Xem xét lá gan” - người Ba-by-lôn có thuật đoán tương lai bằng cách xem xét gan của các con thú làm sinh tế. 23 “Thề nguyền trung thành” - cấp lãnh đạo Y-sơ-ra-ên đã từng bị ép phải thề một lòng trung thành với Ba-by-lôn, nhưng họ đã làm phản (so sánh 17:11-13). 26 “Dẹp bỏ vương miện” - nền quân chủ sụp đổ. 28-29 Dân Am-môn ngỡ là họ đã tránh được đại hoạ. Dường như các tiên tri giả đã củng cố cho niềm tin tưởng hão huyền là họ được an toàn.
22. Tội lỗi của Giê-ru-sa-lem (Exe 22:1-16)
Bài tiên tri này tập trung vạch trần tội lỗi của Giê-ru-sa-lem chứng minh rằng chính sự vi phạm của họ nhanh chóng đẩy họ đến bước đường cùng. Những việc làm sai quấy trải từ môi trường xã hội đến lãnh vực thờ tụng: làm đổ máu (3,9), thờ hình tượng (3, 4), lạm dụng quyền hành (6), xử tệ đối với nhiều nhóm người cô thế trong xã hội (7), không tôn trọng ngày Sa-bát (8), ngoại giáo hoá (9), quan hệ tình dục bậy bạ và loạn dâm (10-11), hối lộ và bóc lột (12), càng quên lãng Đức Chúa Trời (12). Khi biện pháp hình phạt xảy đến dân sự sẽ bị phân tán đến khắp các nước.
1-16 Tiên tri Ê-xê-chi-ên phải tố giác Giê-ru-sa-lem về tội ác đáng kinh sợ của dân sự (2) và truyền rao cho họ sứ điệp như sau: “Các ngươi tự dấn thân vào con đường tội lỗi bằng những việc đổ máu và tự làm ô uế bằng sự thờ hình tượng. Làm như vậy các ngươi nhanh chóng đến chỗ tận chung mà thôi. Các ngươi sẽ bị các dân tộc chê bai chế nhạo (3-5). Các ngươi thối nát trong nhiều mặt, nhưng Ta sẽ chấm dứt hết mọi chuyện đó (6-13). Các ngươi sẽ bị phân tán giữa các dân tộc. Rồi các ngươi sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va” (14-16).
Chú giải. 2 “Thói tục đáng gớm ghê” - tiên tri Ê-xê-chi-ên thường dùng cụm từ này để nói về những hành vi gây ô uế cho đương sự về mặt nghi thức tôn giáo (c.10). 9 “Ăn tại các đền miếu trên núi” - tức là ăn thịt các sinh tế đã dâng cho các thần tượng tại những nơi cao (so sánh Exe 18:6 6:3). 10 “Bất khiết” - vốn là thầy tế lễ nên đương nhiên Ê-xê-chi-ên chú trọng đến sự thánh sạch hoặc ô uế về nghi thức tế lễ. Nhiều tội danh trong các câu này đặc biệt được liệt kê trong luật pháp (so sánh Le 18:1-20:27). 16 Ô nhục - Tự thân sự hình phạt Y-sơ-ra-ên là nỗi ô nhục.
23. Sự trau luyện Y-sơ-ra-ên (Exe 22:17-22)
Biện pháp hình phạt Y-sơ-ra-ên ví như lửa trong lò luyện kim khí: Lửa sẽ loại trừ thành phần cặn bã vô giá trị.
Nhân loại thời nay quan niệm về chiến tranh hoặc một biện pháp trừng phạt thường bao gồm vấn đề báo trả và (hoặc) cải tạo. Chủ trương ở đây là thanh tẩy. Tình trạng thối nát ăn sâu đến độ cải tạo sơ sài về mặt xã hội không hữu hiệu gì. Cần tẩy bỏ tất cả rồi mới có thể bắt đầu từ đầu trở lại.
Đức Chúa Trời cho tiên tri Ê-xê-chi-ên biết rằng Y-sơ-ra-ên đã trở nên tương tự như cặn bã trong vàng bạc chưa tinh luyện (18), nên ông phải truyền rao cho họ rằng: “Vì vậy ta sẽ gom các ngươi vào Giê-ru-sa-lem như người ta bỏ vàng bạc lẫn với cặn bã vào trong lò luyện. Cơn giận của ta có sức làm cho ngươi tan chảy ra y như lửa làm chảy kim khí trong lò luyện... Rồi các ngươi sẽ nhận biết chính ta đã giáng cơn giận của ta trên các ngươi (19-22).
Chú giải. 19 “Gom các ngươi vào Giê-ru-sa-lem” ở câu này cũng như câu 20 đều ngụ ý nói về cuộc vây hãm thành Giê-ru-sa-lem.
24. Tình trạng bất công trong xứ: Thối nát trong mọi tầng lớp (Exe 22:23-31)
Tình trạng thối nát trong xã hội Y-sơ-ra-ên vượt ra ngoài phạm vi địa vị hoặc giai cấp của xã hội và cũng biểu thị qua nhiều hình thức.
Sự thối nát của một xã hội có thể vượt ra ngoài phạm vi của từng cá nhân, có thể trở nên một phần của các cơ chế trong xã hội đó, cả trong đạo lẫn ngoài đời - người ta dễ chấp nhận nhiều thói tục với lý do là “ai nấy cũng đều làm như thế” hoặc là guồng máy quyền lực ủng hộ cho thói tục này. Nhưng những lý do đó không đủ sức biện minh thỏa đáng. Đôi khi nạn hối lộ là một phần trong công việc làm ăn hàng ngày. Nạn bất công đối với thành phần yếu đuối cô thế trong xã hội cũng rất phổ biến. Người ta cảm thấy bất lực trước mức độ thối nát này.
Tiên tri Ê-xê-chi-ên phải truyền rao cho xứ này: Đất đai của các ngươi khô cằn (24) giới cầm quyền áp bức dân chúng (25) các thầy tế lễ vi phạm luật pháp của ta (26). Các viên chức trong chính quyền giết hại người khác để làm tiền (27), các tiên tri giảng những lời giả mạo (28) dân chúng bóc lột, chèn ép, trộm cắp (29). Ta tìm một người có đủ sức đứng mũi chịu sào cho toàn dân nhưng tìm chẳng được một người nào cả. Vì vậy ta sẽ đổ cơn giận của ta trên toàn dân (30-31).
Chú giải. 30 “xây bức tường” - không có một người nào xứng đáng để cầu thay cho dân sự
25. Ô-hô-la và Ô-hô-li-ba - hai chị em gian dâm (Exe 23:1-49)
Chủ đề của chương này rất tương tự như chủ đề của chương 16: Giê-ru-sa-lem và chị em mình là Sa-ma-ri đã hiến thân làm điếm với những tập tục của những dân tộc ngoại bang láng giềng đặc biệt là Ai Cập, A-si-ri và Ba-by-lôn. Họ phải gánh chịu hậu quả của việc mình làm. Hai chương này chỉ khác nhau ở những điểm nhấn mạnh. Y-sơ-ra-ên liên kết với A-si-ri và Ba-by-lôn về phương diện quân sự và chính trị nên chương này mô tả A-si-ri và Ba-by-lôn là những người tình trong vai người chiến sĩ với quân phục tươm tất đủ bộ (5,14,15). Họ sẽ thi hành sự báo trả trên Giê-ru-sa-lem. Cuộc báo trả này được mô tả là một cuộc tấn công bằng quân lực và chiếm đoạt cướp bóc tài sản của cải (24-26,46-47).
Tự thân những mối quan hệ chính trị của Y-sơ-ra-ên không bị lên án ở đây. Nhưng những quan hệ đó tạo cơ sở cho niềm tin ngoại giáo xâm nhập vào xã hội và tín ngưỡng của Y-sơ-ra-ên, dân chúng Y-sơ-ra-ên lại sẵn sàng tiếp nhận những niềm tin tưởng đó.
Đức Chúa Trời không xét về tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên với một thái độ dửng dưng, vô tình. Trái lại, Ngài xem xét tội lỗi của họ trong vị thế của một người chồng vừa buồn khổ vừa tức giận trước tình trạng bất trung của vợ (so sánh Exe 16:1-63).
1-10 Đức Chúa Trời phán với tiên tri Ê-xê-chi-ên rằng: Có hai chị em, một người tên là Ô-hô-la tức là Sa-ma-ri, một người tên là Ô-hô-li-ba, tức là Giê-ru-sa-lem. Trong thời gian ở Ai Cập, hồi còn trẻ trung, họ đã đắm chìm trong nếp sống điếm đĩ (3,4). Họ là vợ của Ta, nhưng Ô-hô-la thèm muốn A-si-ri, và đàng điếm với họ (5-8). Rốt cuộc Ta giao Ô-hô-la cho A-si-ri, người A-si-ri lột trần và giết chết Ô-hô-la luôn (9-10).
11-12 Ô-hô-li-ba còn tệ hại hơn chị em của mình. Ô-hô-li-ba cũng thèm muốn A-si-ri, rồi sinh si mê Ba-by-lôn. Sau khi Ba-by-lôn làm ô uế Ô-hô-li-ba, Ô-hô-li-ba thù cay ghét đắng Ba-by-lôn. Còn Ta, Ta cũng đoạn tuyệt với Ô-hô-li-ba (như Ta đã từng đoạn tuyệt với Ô-hô-la) khi cuộc sống đĩ thõa của nàng càng lộng hơn. Rồi nàng tiếc nuối thời gian ở Ai Cập, với những người tình giàu có tài ba (11-21).
22-35 Tiên tri Ê-xê-chi-ên phải tuyên rao cho Ô-hô-li-ba rằng: “Ta sẽ giục lòng những người tình cũ của ngươi chống lại ngươi. Người Ba-by-lôn và người A-si-ri sẽ vây hãm ngươi và trừng phạt ngươi. Cơn giận của ta sẽ nổ tung ra chống nghịch ngươi, sẽ chấm dứt lối sống trụy lạc của ngươi (22-27). Ta sẽ giao ngươi cho người tình cũ của ngươi mà nay người ghét cay ghét đắng (28). Họ sẽ hạ nhục ngươi (29-30) y như chị em ngươi là Sa-ma-ri, ngươi sẽ uống cạn chén hoang vu tàn tạ (31-34) vì ngươi đã quay lưng chống Ta nên ngươi phải mang gánh nặng tội lỗi của mình (35)”
36-49 Tiên tri Ê-xê-chi-ên phải vạch trần những việc sai phạm của Ô-hô-la và Ô-hô-li-ba: Tà dâm, giết người, quan hệ tình dục trong khuôn khổ nghi thức ngoại giáo, dâng trẻ con làm của lễ, làm ô uế đền thờ của Đức Chúa Trời và ngày Sa-bát (36-39). Họ đeo đuổi quyến rũ người nước ngoài (40-42) để rồi rơi vào lối sống đàng điếm tà dâm và làm đổ máu (43-45). Ông phải tuyên rao rằng: “Cần giết họ hết đi mới chấm dứt sự lăng loàn trong xứ được (46-49). Rồi các ngươi sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va”.
Chú giải. 4 Cả hai tên riêng Ô-hô-la và Ô-hô-li-ba dường như đều liên quan đến từ “lều trại” trong nguyên ngữ Hi Bá Lai. Dù nhiều nhà bình giải gợi ý là hai tên riêng đó liên quan đến vấn đề thờ phượng (thí dụ thờ phượng trong một cái miễu làm bằng lều trại), nhưng cũng có thể hai tên riêng này chỉ nhằm nhắc lại rằng dân Y-sơ-ra-ên thoạt tiên là dân du mục. “Cho ta” dù bản văn không xác định rõ ràng các nàng là vợ của Ngài nhưng câu này và câu 5 có hàm ý đó (so sánh Exe 16:8,9). Cho nên, Y-sơ-ra-ên làm điếm thì cũng phạm tội gian dâm luôn. 5-10 Sa-ma-ri si mê A-si-ri nên sụp đổ, rơi vào tay A-si-ri năm 722-721 T.C.. 14 Canh-đê - dù sau này Canh-đê đồng nghĩa với “Ba-by-lôn”, nhưng thật ra dân Canh-đê là giống dân riêng ở phía nam Ba-by-lôn (so sánh 23). 23 “Phê-cốt” một vùng về phía đông Ba-by-lôn. Không định vị được Soa và Cô-a. 24 “đông đảo” trong sách Ê-xê-chi-ên từ này (so sánh 46-47 - đạo quân đông đảo) thường được dùng để mô tả một đoàn người có chủ ý tàn phá. 36-39 Ở đây liệt kê một số các tập tục của dân ngoại bang mà dân Y-sơ-ra-ên đã học đòi làm theo. 42 “Đám đông ở rỗi” , người say sưa chỉ về những người rảnh rang, vui chơi ở khắp nơi, lợi dụng tình cảnh của hai nàng.
26. Ẩn dụ về cái nồi: Giê-ru-sa-lem bị vây hãm (Exe 24:1-14)
Với bài tiên tri này sách Ê-xê-chi-ên chuyển hướng. Từ đầu đến đây tiên tri Ê-xê-chi-ên chú trọng cảnh báo về tai hoạ sắp đến. Giờ đây những lời tiên tri đã khởi sự ứng nghiệm, không còn cơ hội trở lại. Giê-ru-sa-lem đã bắt đầu bị bao vây. Ngày tháng nêu trong bài tiên tri thật chính xác: ngày 15 tháng giêng 588 T.C., là ngày vua Nê-bu-cát-nết-sa khởi sự vây hãm thành. Mười tám tháng sau quân Ba-by-lôn chiếm được thành và nổi lửa thiêu huỷ thành. Đây là lần thứ hai Giê-ru-sa-lem bị vây hãm, huỷ diệt trong vòng thời gian mười hai năm. Chính tiên tri Ê-xê-chi-ên bị bắt đi lưu đày sau cuộc vây hãm lần trước.
Bài tiên tri này rao một sứ điệp dưới hình thức một chuyện ẩn dụ. Giê-ru-sa-lem bị ví như một cái nồi, còn dân cư ví như những thứ đựng trong nồi. Sau khi bị lửa đốt lần trước cái nồi vẫn còn cáu bẩn, tức là dù đã bị vây hãm hủy phá trong lần thứ nhất, Y-sơ-ra-ên vẫn còn tội lỗi, bất khiết. Vì vậy, bếp lửa cần nóng hơn nữa (kỳ vây hãm lần thứ hai) để đốt hết những bất khiết cáu bẩn, tức là trừng phạt dân sự về tội lỗi của họ. Một lần nữa, sự hình phạt được mô tả dưới dạng thanh tẩy (so sánh Exe 22:17-22).
Tiên tri Ê-xê-chi-ên được lịnh ghi lại ngày tháng này vì đúng ngàynày vua Nê-bu-cát-nết-sa vây Giê-ru-sa-lem (2). Ông phải truyền rao rằng: “Đổ nước đầy nồi, bỏ thịt vào, nổi lửa lên nấu. Những chất lắng đọng trong nồi không bay đi. Chất cáu cặn bã tương tự như những sự bất khiết của Giê-ru-sa-lem (3-7,13). Nổi lửa cháy to hơn, cháy luôn cả xương. Hãy làm cho nồi rực đỏ cho đến nỗi chất cáu cặn bị cháy tiêu (9-12). Hỡi Giê-ru-sa-lem, giờ đây không còn có thể tránh được sự hình phạt nữa (13-14)”.
Chú giải. 6 ‘Ten rỉ’ - Khi chất lỏng trong nồi sôi sục rồi cạn khô, cáu cặn nằm ở đáy nồi. “Không cần bắt thăm” nếu giải đúng câu này ra thì ý nghĩa gói ghém trong câu này có thể là những vật chứa trong nồi tức là dân sự sẽ bị phân tán đi các nơi không theo một trật tự nào hết. 12 Nội dung câu này theo như bản dịch NIV có thể hàm ý rằng ngay cả sau khi nổi lửa to dữ dội để dốt cái nồi đến đỏ rực thì các chất cáu cặn, ten rỉ vẫn còn đó. Dòng ý tưởng sẽ nhất quán hơn khi chúng ta hiểu rằng câu này tóm tắt nhắc lại nỗ lực đã qua: “Mọi nỗ lực (trước đây) đều bị thất bại (cho đến bây giờ)”.
27. Vợ của tiên tri Ê-xê-chi-ên qua đời và ý nghĩa của sự đau buồn mất mát này (Exe 24:15-27)
Hẳn là tiên tri Ê-xê-chi-ên đau lòng lắm khi Đức Chúa Trời cho ông biết là vợ ông sắp qua đời. Dầu vậy, Ngài phải dùng việc này để chuyển đạt một sứ điệp quyết liệt về số phận của Giê-ru-sa-lem và đền thờ. Ngay cả trong nỗi đau riêng tư, ông Ê-xê-chi-ên vẫn làm trọn trách nhiệm một tiên tri của Đức Chúa Trời.
Hành vi của một người tin Chúa trong những khoảnh khắc khủng hoảng riêng đôi khi nói còn lớn tiếng hơn cả tiếng nói, dù rằng có khi vì từ chối không biểu thị đầy đủ mọi hình thức đau thương nhớ tiếc mà đương sự phải chịu nhiều tổn hại, thiệt thòi. Mạng lịnh này đặt biệt truyền cho tiên tri Ê-xê-chi-ên chớ không phải có tính cách phổ thông áp dụng cho mọi người.
15-24 Tiên tri Ê-xê-chi-ên được tin là vợ ông sắp chết và không được phép thể hiện những hình thức khóc than người quá cố như thường tình (16-17). Khi dân chúng hỏi ông về ý nghĩa của những việc đó đối với họ thì ông chuyển đạt cho Y-sơ-ra-ên lời của Ngài rằng: “Ta sắp sửa làm ô uế thành Giê-ru-sa-lem. Đám bà con của các ngươi còn ở tại Giê-ru-sa-lem sẽ bị giết bằng gươm. Dầu vậy, như tiên tri Ê-xê-chi-ên, ngươi sẽ không than khóc họ theo lề thói thông thường. Rồi các ngươi sẽ nhận biết ta là Đức Giê-hô-va (20-24).
25-27 Hơn nữa Đức Chúa Trời phán với tiên tri Ê-xê-chi-ên rằng: “Khi thành thất thủ, có một người trốn thoát, người đó sẽ đến gặp ngươi ở đây và nói chuyện. Lúc đó ngươi sẽ nói năng lưu loát trở lại, ngươi sẽ trở nên một dấu chứng cho họ, và họ sẽ nhận biết ta là Đức Giê-hô-va”.
Chú giải. 17 Có một loạt nhiều nghi thức trong tang chế (so sánh 27:30-32). 27 “Ngươi sẽ nói được” Tiên tri Ê-xê-chi-ên sẽ nói được trở lại khi ông nhận được tin thành Giê-ru-sa-lem thất thủ. Chương 33:21-22 có chép chuyện này và sự kiện này cũng là một dấu chứng cho dân sự.
3. TIÊN TRI CHỐNG LẠI CÁC DÂN TỘC LÁNG GIỀNG (Exe 25:1-17)
Phần này mở đầu một loạt những bài tiên tri chống lại các dân tộc ngoại bang chung quanh Y-sơ-ra-ên (chương 25-32) đặc biệt là Ai Cập và Ty-rơ. Tuy nhiên bài tiên tri này tập trung lên án các láng giềng sát nách Giu-đa: Am-môn, Mô-áp, Ê-đôm và Phi-li-tin. Dường như các nước này vui mừng (Am-môn) và hả hê (Mô-áp) khi chứng kiến sự sụp đổ của dân Y-sơ-ra-ên. Họ còn lợi dụng cơ hội hiếm có này để trả thù Giu-đa (Ê-đôm và Phi-li-tin). Ông Ê-xê-chi-ên tiên tri rằng họ sẽ bị báo trả.
Mở đầu là bài tiên tri về nước Am-môn nằm về phía đông Y-sơ-ra-ên rồi theo chiều kim đồng hồ đến nước Mô-áp, Ê-đôm rồi Phi-li-tin.
Xem ra dễ đi đến chỗ lên án thái độ của các dân tộc này. Tuy nhiên, biết đâu chính chúng ta cũng có thái độ đó khi tai hoạ đổ xuống trên láng giềng của chúng ta. Trong khi đó Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của toàn thế giới này và Ngài cầm quyền kiểm soát tối cao trên số phận của mọi dân tộc và của từng cá nhân.
Am-môn Vì cớ dân Am-môn hả hê chế nhạo dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa khi hai dân tộc này sụp đổ nên các dân tộc từ phương đông sẽ chiếm xứ của họ và bóc lột họ (1-5). Vì họ nhẫn tâm vui mừng trước cảnh ngộ đen tối của Y-sơ-ra-ên nên họ cũng sẽ bị sụp đổ (6-7).
Mô-áp Vì Mô-áp nhìn Giu-đa đầy vẻ coi thường nên họ sẽ bị dân phương đông xâm chiếm (8-11).
Ê-đôm Vì Ê-đôm trả thù Giu-đa nên họ sẽ bị Y-sơ-ra-ên tàn phá.
Phi-li-tin Vì dân Phi-li-tin lập tâm trả thù dân Giu-đa nên người Kê-rê-thít và những dân khác ở dọc bờ biển sẽ bị tiêu diệt.
Chú giải. 4 “Dân phương đông” - dân du mục trong vùng hoang mạc. 5 “Ráp-ba” - Thủ đô của Am-môn (so sánh Exe 21:20). 8 “Sê-i-rơ” - Một tên gọi khác của Ê-đôm. 16 “Kê- rê- thít” - Một sắc tộc có liên hệ chặt chẽ với người Phi-li-tin.
4. TIÊN TRY CHỐNG LẠI TY-RƠ (Exe 26:1-28:19)
Trên bình diện địa lý, Ty-rơ là một nước tí hon. Nhưng trên bình diện kinh tế Ty-rơ chiếm một vai trò quan trọng cho nên cũng là một lực lượng chính trị đáng kể trong vùng Trung đông thời cổ.
Thành phố Ty-rơ ngày xưa là một cảng biển quan trọng trong một vùng nay là nam Li-ban. (Ty-rơ nằm khoảng giữa Beirut về phía bắc và Haifa phía nam). Thành phố này có hai cảng, một cảng toạ lạc trên một hòn đảo ngay bên bờ biển. Trong sách Ê-xê-chi-ên có nhiều chi tiết nói về mối liên hệ chặt chẽ giữa Ty-rơ và biển cả. Ông Ê-xê-chi-ên công nhận năng lực đặc biệt của họ và tiên tri về sự sụp đổ của họ với những chi tiết liên quan đến biển cả - Phần lớn năng lực của Ty-rơ nằm trong khả năng chống chọi biển cả cách tài ba của dân chúng.
Ty-rơ giàu có thịnh vượng nhờ thương mại. Người Ty-rơ đi buôn đường dài toả khắp thế giới thời cổ và xử lý vô số loại hàng hoá. Họ nổi tiếng về tài kinh doanh và nhờ đó mà họ thịnh vượng.
Ty-rơ có một lịch sử dài và nhiều ý nghĩa. Các bản văn rủa sả của Ai Cập đề cập tới Ty-rơ khoảng năm 1850 T.C.. Theo Herodotus, chính người Phê-nê-xi với vua Cadmus, vua của Ty-rơ đã du nhập lối viết bằng chữ cái vào Hi Lạp. Thành quốc này cũng có được một thuộc địa là thành phố Carthage trong khoảng năm 825-815 T.C..
Ty-rơ quan hệ với Y-sơ-ra-ên thường là trên phương diện kinh tế. Vua Hi-ram cung ứng cho vua Đa-vít vật liệu để xây cung điện tại Giê-ru-sa-lem (IISa 5:11 ISu 14:1). Vua này cũng cung ứng cho vua Sa-lô-môn vật liệu xây dựng đền thờ và ký kết một hiệp ước với vua Sa-lô-môn. Hơn một thế kỷ sau, vua A-háp cưới Giê-sa-bên, công chúa của Ty-rơ (IVua 16:31). Giê-sa-bên du nhập vào Y-sơ-ra-ên tôn giáo thờ thần Ty-rơ là Ba-anh Mên-ka (Baal Melqart).
Ty-rơ đã hưởng một thời kỳ thịnh vượng trước thời của tiên tri Ê-xê-chi-ên. Tuy nhiên, cả ba ông Ê-xê-chi-ên, Giê-rê-mi (Exe 25:22 27:1-11) và Xa-cha-ri đều tiên tri về việc quân Ba-by-lôn sẽ huỷ diệt Ty-rơ. Cuộc bao vây Ty-rơ từ khoảng 587 đến 574 T.C. dường như rất khó khăn (29:18). Dầu vậy cuối cùng Ty-rơ phải công nhận quyền đô hộ của Ba-by-lôn.
Những bài tiên tri chống Ty-rơ và Ai Cập giúp chúng ta hiểu tính kiêu hãnh của dân tộc. Hầu hết mọi người đều ấp ủ một niềm kiêu hãnh về dân tộc của mình, và ủng hộ cho sự thăng tiến của đất nước. Trong trường hợp của Ty-rơ, chúng ta chứng kiến tánh ngạo nghễ tự tin về những thành quả kinh tế mà họ đã tự tạo cách thành công. Những của cải mà họ đã tom góp chất chứa là dấu chứng tỏ họ hơn các nước khác. Họ sẵn sàng ủng hộ chiêu gian trá trong kinh doanh miễn duy trì được thế thượng của họ. Đối với họ, việc Y-sơ-ra-ên sụp đổ đơn giản chỉ là cơ hội kinh doanh cho họ.
Ty-rơ bị lên án vì cớ những thái độ đó, thế nhưng trong xã hội thời nay lắm người vẫn có thái độ này. Không nên biến thành quả về mặt vật chất thành tiêu chuẩn căn bản đo sự thành công của đất nước dân tộc chúng ta.
1. Tố cáo tánh tự mãn (Exe 26:1-21)
Bài tiên tri này lên án Ty-rơ vì nỡ xem sự suy sụp của Giê-ru-sa-lem là cơ hội tăng gia mức thịnh vượng của mình. Cho nên quân Ba-by-lôn dưới quyền của vua Nê-bu-cát-nết-sa sẽ vây hãm và huỷ hoại thành. Vui sướng trên sự gãy đổ của người khác là một cảm xúc mà Cơ-đốc nhân và những người khác cần xử lý kỹ vì nó lan tỏa khắp nơi nhưng lại không ai chịu công nhận là mình có thái độ đó.
1-21 Đức Chúa Trời phán với tiên tri Ê-xê-chi-ên rằng: “Ty-rơ cho rằng sự tan nát của Giê-ru-sa-lem sẽ bảo đảm cho nền kinh tế của họ được phát đạt thịnh vượng” (1-2). Vì vậy tiên tri Ê-xê-chi-ên phải tuyên rao cho họ rằng: “Nhiều dân tộc sẽ cướp phá Ty-rơ và nơi ở của dân ngươi. Rồi họ sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va (3-6). Vua Nê-bu-cát-nết-sa sẽ tàn phá thành Ty-rơ và nơi cư trú của dân cư. Rồi đây chẳng có ai xây dựng lại Ty-rơ (7-14). Các bộ tộc sống dọc bờ biển sẽ kinh ngạc khi ngươi sụp đổ và sẽ than khóc ngươi (15-18).Ngươi sẽ rơi xuống vực sâu và chẳng hề trở lên được nữa (19-21).
Chú giải. 1 “Năm thứ mười một” - tức là 587/6 T.C. 2 Ty-rơ cho rằng sự sụp đổ của Giê-ru-sa-lem là cơ hội tăng tốc kinh doanh của mình. Do vị trí địa lý xứ Pa-lét-tin là nơi tiếp giáp của nhiều thông lộ cho phép công việc làm ăn buôn bán giữa Phi Châu và Âu, Á Châu. 3-5 Nhiều chi tiết mô tả Ty-rơ nằm bên bờ biển và liên quan đến đại dương. 6 “Nơi cư trú trong đất liền” - Ty-rơ mở rộng phạm vi kiểm soát vào xa trong đất liền chớ không phải chỉ giới hạn nơi đảo và thành phố cảng ở sát bờ biển. 7-14 Lần thứ nhất trong sách tiên tri Ê-xê-chi-ên nêu đích danh vua Nê-bu-cát-nết-sa. Ty-rơ bị quân của vua vây hãm suốt mười ba năm trời. Chiến dịch này xem ra khá cam go dù là đối với quân đội Ba-by-lôn tinh nhuệ và đông đảo (Exe 29:18). Chung cuộc thành quốc này phải qui phục và công nhận quyền cai trị của Ba-by-lôn. 15 “Miền trung châu” - tức là các thành quốc khác ở quanh vùng Địa Trung Hải, có lẽ có quan hệ kinh doanh với Ty-rơ. 19 Câu này mô tả Ty-rơ qua hình ảnh một hòn đảo chìm dần dưới lớp lớp các làn sóng. 20 Ta sẽ kéo ngươi... xuống vực sâu”. Vực sâu và vùng bên dưới mặt đất là huyệt mả hoặc âm phủ tức là chỉ về nơi trú ngụ của sự chết.
2. Một bài ai ca (Exe 27:1-36)
Bài tiên tri này được trình bày dưới dạng một bài ai ca. Ty-rơ tương tự như một chiếc tàu buôn được chế tác rất ngoạn mục. Các bên hợp tác kinh doanh với Ty-rơ cung ứng gỗ và hàng hoá. Bản liệt kê dài về các quốc gia cung ứng các loại hàng hoá cho thấy vì sao Ty-rơ nổi danh trong kinh doanh như thế. Ty-rơ liên hệ với hầu hết các nước trong vùng Địa Trung Hải, Bắc Phi, Tiểu Á và Trung Đông - Ty-rơ sử dụng người ngoại quốc trong kỹ nghệ lẫn trong quân đội. Tuy vậy, con tàu thành quốc này sắp chìm tức là Ty-rơ sắp sụp đổ.
Khi một xưởng chế tạo lớn hoạt động nhiều năm bị phá sản và đóng cửa thì không những công nhân trong xưởng thất nghiệp mà thường thường hàng ngàn ngành kỹ nghệ vệ tinh, lẫn các cơ sở cung ứng hàng hoá tại địa phương và các loại dịch vụ cũng điêu đứng. Một quốc gia thời nay có thể phải gánh chịu một hậu quả đại loại như kinh tế suy thoái rồi sụp đổ.
Tiên tri Ê-xê-chi-ên được lịnh truyền rao cho Ty-rơ rằng:”Ngươi tự cao tự đại vì sắc đẹp của mình (3-4). Ngươi thoát thân từ những vật liệu có giá trị nhất (5-7). Ngươi sử dụng người dân của nhiều quốc gia vào lãnh vực xây dựng, quân sự và điều hành (8-11). Ngươi có nhiều bạn hàng gần xa, hàng hoá của ngươi thuộc loại cao cấp nhất và bao gồm nhiều chủng loại (12-25). Nhưng rồi đây, nội trong một ngày vì đắm tàu ngươi sẽ mất tất cả (26-27). Các bạn hàng cùng hợp tác kinh doanh với ngươi lẫn láng giềng ai ai cũng kinh hãi (28-36). Ngươi sẽ không còn nữa (36).
Chú giải. 3 ‘Sắc đẹp của ta hoàn hảo’ - Nhờ giàu nứt vách đổ tường nên Ty-rơ có thể trang sức lộng lẫy và tỏ vẻ rất hãnh diện (so sánh Exe 28:12). 5,6 Gỗ được cung ứng cho Ty-rơ là loại gỗ tốt nhất. “Sê-nia” là tên của Hẹt-môn giữa vòng người A-mô-rít (so sánh Phu 3:9). 7 “E-li-sa” có lẽ chỉ về Chip-rơ. 8 Si-đôn và A-vát - hai thành phố này nằm ở phía bắc Ty-rơ. 9 Ghê-banh - cảng biển của thành phố Biblos, một hải cảng quan trọng của xứ Phê-nê-xi. Dòng nhân lực từ tứ xứ đổ về làm công cho Ty-rơ chứng tỏ Ty-rơ có sức mạnh kinh tế. 10 “Phút” tức là Li-by. Bảng liệt kê này kể ra ba dân tộc ở ba nơi rất xa nhau nhằm chứng tỏ lính đánh thuê cho Ty-rơ đến từ khắp các nơi trong thế giới thời cổ hoặc từ Li-by (Phút) ở phía tây, hoặc từ Li-by ở phía bắc, hoặc từ Ba-tư ở phía đông. 11 A-vát cũng cung ứng binh sĩ (8). Không thể định vị được Hê-lết... Gha-mát. Có lẽ Hê-lết nằm trong vùng Si-li-si, còn Gha-mát nằm trong vùng Cáp-ba-đốc. (Cả hai đều ở về phía tây Tiểu Á. 12 Bảng liệt kê các nơi có người hợp tác kinh doanh với Ty-rơ đi theo một thứ tự địa lý khá trật tự, khởi từ Ta-rê-si phía tây Địa Trung Hải đến sa mạc A-ra-bi và Mê-sô-bô-ta-mi. 16 “A-ram” - có lẽ ở đây nên đọc là Ê-đôm. 23 “Ê-đen” không phải là vườn Ê-đen, trong nguyên ngữ Hi Bá Lai chính tả của hai từ này không giống nhau. Ê-đen được đề cập ở đây nằm trong vùng Mê-sô-bô-ta-mi. 26 “Ngọn gió đông” không phải chỉ nhằm nói về một trận bão ngoài biển khơi (so sánh Thi 48:7) mà còn nhằm chỉ về mối nguy đe doạ Ty-rơ nằm ở hướng nào: Ba-by-lôn nằm ở phía tây Ty-rơ. 30-31 Bảy hành vi nhằm biểu lộ nỗi đau thương trong tang tóc đều được liệt kê ở đây: lớn tiếng khóc than, rắc bụi đất trên đầu, lăn lóc trong tro hoặc bụi đất, trên mặt đất, cạo đầu, mặc áo bao gai, khóc lóc thảm thiết và hát bài ai ca.
3. Chống lại tánh ngạo mạn (Exe 28:1-10)
Thành quả thương mại đem lại của cải và giàu sang rồi sinh ra tính kiêu hãnh. Câu 5 tóm lược tiến trình này - tài ba trong thương trường đem lại lợi nhuận lớn, tài sản khổng lồ dẫn đến lòng kiêu ngạo. Ở đây mô tả vua Ty-rơ tin rằng vua khôn ngoan sáng suốt như một vị thần - Lời tiên tri cảnh báo rằng ngạo mạn kiểu đó sẽ bị hạ nhục và hủy diệt. Qua dòng lịch sử và ngay trong thời đại này chúng ta dễ dàng tìm thấy những trường hợp ngạo mạn kiểu đó cùng với hậu quả là gãy đổ.
1-10 Tiên tri Ê-xê-chi-ên phải tuyên rao cho vua Ty-rơ rằng “Ngươi tưởng ngươi là thần, nhưng thật ra ngươi không phải là thần” (1-2). Nhờ tinh khôn nhạy bén trong kinh doanh ngươi đã gặt hái được thành quả kinh tế lớn lao (3-5a), nhưng rồi ngươi sinh ra gian lận (5b). Vì cớ ngươi gian dối xảo trá nên ngươi sẽ chết cách nhục nhã trong tay dân ngoại quốc. Khi họ tấn công ngươi thì sẽ lộ nguyên hình ngươi chỉ là một con người chớ không phải là thần thánh gì cả (7-10).
Chú giải. 2 “Trong lòng biển cả” Thành quốc Ty-rơ gồm có một phần lãnh thổ là một hòn đảo (xem bình giải ở trên). 3 “Đa-ni-ên”, xem chú giải Exe 14:14,20. 7 Dân ngoại quốc - dân tộc tàn nhẫn nhất - chỉ về dân Ba-by-lôn. 10 Dân Ty-rơ có tục cắt bì và như vậy, phải “chết như một người không cắt bì” là chết nhục.
4. Trục xuất khỏi thiên đàng (Exe 28:11-19)
Bài ai ca này mô tả bước thăng trầm của chính thành quốc Ty-rơ. Những hình ảnh so sánh ví von gợi nhớ lại bài mô tả cảnh vườn Ê-đen. Tuy nhiên, tác giả không có chủ ý mô tả mọi chi tiết y như trong Sáng Thế Ký. Phương thức của tiên tri Ê-xê-chi-ên thường là phóng khoáng vận dụng các hình ảnh so sánh ví von, sửa đổi, xén tỉa cho phù hợp với văn chương tiên tri. Ông dùng thể thơ để làm nổi bật tình trạng sụp đổ trầm trọng của Ty-rơ, cứ y như là bị trục xuất khỏi thiên đàng.
Đại cương bài ai ca dành cho vua Ty-rơ là “Có một thời ngươi là một tấm gương về sự khôn ngoan và về vẻ đẹp (12), trú ngụ trong một thiên đàng trang sức bằng châu ngọc rực rỡ (13-14) và có những hành vi hoàn hảo, không chê trách vào đâu được (15). Dầu vậy, khi thương trường ngươi mở rộng, hoạt động của ngươi dẫn đến áp bức, bóc lột, sự rực rỡ của ngươi khiến cho ngươi tư duy gian manh thối nát, vô số mánh khoé buôn gian bán lận của ngươi dẫn đến việc làm ô uế nơi thờ phượng. Do đó ngươi đã bị trục xuất khỏi thiên đàng của ngươi và bị hạ bệ (16-18). những người chứng kiến cảnh tượng này đều sững sờ” (19).
Chú giải. 13 Các thứ đá quý được liệt kê nơi đây khiến liên tưởng đến bộ lễ phục của thầy tế lễ (Xu 28:17-20). Dầu vậy, các tượng thần của ngoại giáo đôi khi cũng có áo quần đính đầy châu ngọc. Chủ ý ở đây là làm nổi bật mức độ giàu sang của vua (và của Ty-rơ). 14-16 Thiên binh. Ý của tác giả khi dùng từ này ở đây không được rõ ràng lắm và cũng còn tùy bản dịch chuyển ngữ theo văn bản nào trong nguyên ngữ. Theo bản dịch NIV thì vua Ty-rơ được đưa lên vị trí của một thiên binh, hoặc theo bản khác thì một thiên binh được chỉ định để bảo hộ vua. Dù sao thì cả hai bản này đều muốn bày tỏ ý chính là vua có một địa vị cao trọng. “Đá mã não” nghĩa đen là “đá chiếu ra lửa”, có lẽ chỉ về đá quý mà câu 13 có đề cập đến. Cũng có thể từ này được dùng để chỉ về loại ánh sáng rực rỡ chói loà, ở trên núi của Đức Chúa Trời. 15 “Hoàn hảo” - không chê vào đâu được. Lại thêm một chi tiết khiến chúng ta liên tưởng đến bài mô tả về vườn Ê-đen. 18-19 Trong hai câu này nhân vật chính là thành Ty-rơ thay vì vua Ty-rơ.
5. TIÊN TRI CHỐNG SI-ĐÔN: “HÃY NHẬN BIẾT ĐỨC GIÊ-HÔ-VA” (Exe 28:20-26)
Si-đôn là một tiểu quốc sát nách Ty-rơ cũng sẽ bị hình phạt xứng đáng. Một chi tiết đáng chú ý trong bài tiên tri ngắn ngủi này là câu rồi họ sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va được dùng nhiều lần. Ngoài ra, lời tiên tri cũng gói ghém lời hứa phục hồi cho dân của Đức Chúa Trời (25-26), những bài tiên tri sau này sẽ nói nhiều hơn về vấn đề đó.
Tiên tri Ê-xê-chi-ên phải rao truyền cho Si-đôn rằng: “Ta chống nghịch ngươi - nhưng Ta sẽ được vinh hiển qua ngươi. Khi Ta hình phạt ngươi họ sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va (22). Khi Ta làm cho ngươi khốn khổ họ sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va (23). Khi dân Y-sơ-ra-ên không còn những dân láng giềng mưu lược quỷ quyệt nữa thì họ sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va (24). Khi Ta gom từ Y-sơ-ra-ên giữa vòng các dân sự thánh khiết của Ta sẽ được chứng tỏ cho các dân tộc. Y-sơ-ra-ên sẽ cư ngụ an ổn trong xứ, và họ sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va của họ (25-26).
Chú giải. 25 “Gia-cốp tôi tớ của Ta” - so sánh Exe 37:25.
6. NHỮNG BÀI TIÊN TRI VỀ AI-CẬP (Exe 29:1-32:32)
Sách Ê-xê-chi-ên có tất cả bảy bài tiên tri chống nghịch Ai Cập - đây là số lượng lớn nhất so với các bài tiên tri chống lại các nước khác. Vấn đề phát sinh từ chi tiết này là vì sao một vị tiên tri Giu-đa trú ngụ tại Ba-by-lôn lại quan tâm đến một đất nước ở cách xa hàng ngàn cây số như vậy. Nếu lần giở lại lịch sử thời kỳ này và thứ tự theo thời gian của các bài tiên tri chúng ta sẽ nắm được câu trả lời.
Trong thời của tiên tri Ê-xê-chi-ên, Ai Cập là một cường quốc từ từ trên đà tuột dốc. Khi quyền thế năng lực ở đỉnh cao Ai Cập phủ trùm ảnh hưởng của mình lên khắp vùng tới tận miền đông Địa Trung Hải, gồm tóm vùng Palestin, cùng phần đất nay là Li-băng và miền tây nước Sy-ri. Khi Ba-by-lôn nổi lên trở thành thế lực mạnh chiếm vị trí của A-si-ri về mặt chính trị quân sự của vùng Trung Đông, Ai Cập liên kết với A-si-ri với hi vọng chận đứng bước tiến của Ba-by-lôn. Hậu quả là một cuộc tranh giành quyền lực phức tạp, các quốc gia nhỏ bé trong vùng như Giê-ru-sa-lem/Giu-đa phải hết sức thận trọng khi chọn đồng minh.
Dưới đây là bảng phối hợp một số mốc lịch sử của Ai Cập và Ba-by-lôn:
605 T.C. Quân Ba-by-lôn chiến thắng quân Ai Cập tại Cạt-kê-mít (so sánh Gie 46:2) và nhanh chóng tiến về phương nam (Cạt-kê-mít nằm trong vùng phía tây nam Sy-ri) và thực hiện những cuộc càn quét.
601 T.C. Quân Ba-by-lôn và quân Ai Cập lại giao tranh. Cả hai phía đều chịu tổn thất nặng nề.
597 T.C. Vua Nê-bu-cát-nết-sa nắm được quyền kiểm soát Giê-ru-sa-lem. Đưa Xê-đê-kia lên làm vua bù nhìn, tòng phục mình. Ai Cập đứng ngoài không can thiệp.
589 T.C. Vua Xê-đê-kia lãnh đạo dân Giê-ru-sa-lem nổi dậy chống Ba-by-lôn.
588 T.C. (Tháng giêng) - Quân Ba-by-lôn kéo đến vây hãm Giê-ru-sa-lem.
588 T.C. Quân Ba-by-lôn tạm mở vòng vây lui quân vì phải lo dàn quân đối phó với viện binh từ Ai Cập (vua Xê-đê-kia cầu viện Ai Cập). Dầu vậy chẳng bao lâu quân Ai Cập thất bại, và quân Ba-by-lôn trở lại vây hãm Giê-ru-sa-lem.
587 T.C. (Tháng 7) Thành Giê-ru-sa-lem bị vỡ. Đền thờ và thành phố bị đốt. Vương quốc Giu-đa cáo chung. Toàn xứ tan hoang.
Các bài tiên tri về Ai Cập trong sách Ê-xê-chi-ên có điểm khác thường là tất cả đều có cho biết niên đại ngoại trừ một bài. Trong số 13 niên đại có ghi trong sách thì non phân nửa nằm trong nhóm những bài tiên tri về Ai Cập. Dưới đây là bảng liệt kê các bài tiên tri này theo thứ tự thời gian:
(Tháng giêng) 587 T.C. - Exe 29:1-16 (Tháng tư) 587 T.C. - 30:20-26 (Tháng sáu) 587 T.C. - 31:1-18 586/585 - 32:17-32 (Tháng ba) 585 - 32:1-16 (Tháng tư) 571 - 29:17-21. Bài tiên tri 30:1-19 không có ghi ngày tháng nhưng nội dung thì tương tự với nội dung các bài trong bảng liệt kê trên đây.
Như Ty-rơ, niềm hãnh diện về dân tộc của người Ai Cập cũng cao lắm. Nếu xem Ty-rơ như là “loại tiền mới”, thì Ai Cập vốn là “loại tiền xưa”. Ai Cập kiêu hãnh về những điều mình đã thừa hưởng và chắc sẽ lưu giữ mãi mãi. Ai Cập có lãnh thổ rộng lớn mênh mông cùng với vô số nguồn lợi (nhất là sông Ni-lơ). Trong lịch sử Ai Cập có một nền quân chủ sáng chói, một quân đội đông đảo, và ảnh hưởng rộng rãi trên chính trường tại Trung Đông. Dầu vậy Ai Cập sai lầm khi đặt niềm tự tin trên quá khứ vinh quang của mình. Ai Cập phải chịu một số phận hẩm hiu hơn. Cũng vậy, trong thời đại này, chúng ta không nên nhớ về vinh quang của đất nước, trong quá khứ (hoặc hiện tại hoặc một điều gì khác) đến nỗi không nhận thức đúng đắn những nhu cầu hiện tại của dân tộc. Rất dễ cảm thấy tin tưởng rằng những cơn khủng hoảng và thảm họa đang vây bủa người khác sẽ không thể nào xảy đến cho chúng ta. Tin tưởng và vững lòng kiểu đó thật là viễn vông.
1. Ai Cập suy vi và sụp đổ (Exe 29:1-16)
Khi chúng ta so sánh thời gian ghi trong bài tiên tri và những biến cố diễn tiến trong lịch sử, chúng ta thấy rằng các bài tiên tri này được giảng ra trong thời gian Giu-đa phân vân giữa Ai Cập và sự đô hộ của Ba-by-lôn. Trong hai mươi năm qua vương quốc Giu-đa đã tự ý tự nguyện (hoặc miễn cưỡng) liên kết với các cường quốc có thế lực quân sự mạnh, hết cường quốc này đến cường quốc kia trước khi những biến cố có tính cách quyết định diễn ra trong năm 588-587 TC.
Ông Ê-xê-chi-ên bắt đầu giảng loạt bài tiên tri chống lại Ai Cập trong thời kỳ Giê-ru-sa-lem lâm vào cảnh tăm tối nhất. Viện binh của Ai Cập không thành công trong việc giải vây Giê-ru-sa-lem. Còn ông Ê-xê-chi-ên đã báo trước là Giê-ru-sa-lem sẽ sụp đổ. Giờ đây ông báo hung tin cho Ai Cập là vị cứu tinh mà Giê-ru-sa-lem hằng mong đợi. Đại ý các bài tiên tri này là chung cuộc Ai Cập sẽ sụp đổ vào tay Ba-by-lôn và sẽ không còn là một cường quốc như xưa nữa.
Giê-ru-sa-lem bị vây hãm suốt một năm qua. Quân Ba-by-lôn tạm tháo vòng vây trong một thời gian ngắn trước viện binh Ai Cập. Nội dung bài tiên tri của ông Ê-xê-chi-ên phản ánh phần nào nỗi niềm cay đắng của dân cư Giê-ru-sa-lem trước tin báo chiến bại của viện binh Ai Cập: Ai Cập chỉ là một cây gậy làm bằng sậy (6) nên từ nay dân tộc Y-sơ-ra-ên chẳng còn tin tưởng nơi Ai Cập được nữa (16). Khi chúng ta tin tưởng vào sức mạnh quân sự và kinh tế thì về lâu về dài chúng ta sẽ khám phá rằng tin tưởng như thế là không đúng chỗ.
Ý của bài tiên tri này là Ai Cập sẽ bại trận và bị tiêu diệt. Dân tộc Ai Cập sẽ được phục hồi nhưng đất nước của họ chẳng bao giờ hùng cường như trước nữa (14-15).
Đức Chúa Trời phán truyền về Pha-ra-ôn rằng: “Vì cớ ngươi ngạo mạn, ngươi sẽ bị hạ xuống. Rồi dân Ai Cập sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va (3-6). Vì ngươi tỏ ra bất lực khi trợ giúp Y-sơ-ra-ên, nên Ai Cập sẽ bị chiến tranh tàn phá, dân Ai Cập sẽ bị phân tán (9-12). Dầu vậy sau một thời gian dân Ai Cập sẽ được trở về định cư ở vùng thượng Ai Cập, nhưng đất nước của họ sẽ thuộc hàng thứ yếu mà thôi. Ai Cập sẽ là một bài học nhắc nhở cho dân Y-sơ-ra-ên. Rồi họ sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va (13-16)”.
Chú giải. 1 Thời điểm là tháng giêng 587 T.C.. 3 “Con rồng lớn” (bản Diễn Ý) - một con cá sấu hoặc có lẽ là một con thú to lớn như “Lê-a-vi-than” (so sánh Es 27:1). 6,7 Cây gậy bằng sậy - so sánh 36:6. Cây gậy bằng sậy dễ gãy và gây thương tích cho người chống gậy. Cũng vậy, Giê-ru-sa-lem trông vào Ai Cập nhưng Ai Cập thất bại trong việc cứu giúp, khiến cho dân cư Giê-ru-sa-lem càng thêm tuyệt vọng. 10 “Từ Mít-đôn đến Át-van” - một cụm từ chỉ toàn bộ lãnh thổ Ai Cập: (từ bắc chí nam). “Cúc” - một vùng lãnh thổ ở phía nam Ai Cập (Ê-thi-ô-pi).
2. Phần thưởng của Nê-bu-cát-nết-sa (Exe 29:17-21)
Bài tiên tri này (rơi vào thời gian là tháng 4 năm 571 T.C. hoá ra là ngày cuối cùng trong loạt bài tiên tri về Ai Cập) là mối nối giữa loạt bài này với loạt bài tiên tri về Ty-rơ.
17-20 Đức Chúa Trời phán với tiên tri Ê-xê-chi-ên rằng: “Nê-bu-cát-nết-sa đã bày binh bố trận đánh chiếm Ty-rơ một cách khó nhọc mà không có phần thưởng gì cả” (18). Vì vậy tiên tri Ê-xê-chi-ên phải truyền rao rằng: “Ai Cập sẽ là phần thưởng cho Ba-by-lôn. Nê-bu-cát-nết-sa sẽ càn quét Ai Cập để trả lương cho binh sĩ của mình. Ta sẽ lấy Ai Cập làm phần thưởng cho Nê-bu-cát-nết-sa về công khó phục vụ”.
“Ta sẽ phục hồi năng lực cho Y-sơ-ra-ên, và Ta sẽ mở miệng ngươi (Ê-xê-chi-ên). Rồi họ sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va” (21).
Chú giải. 18 “Trọc đầu” - Quân phục quân trang khiến cho binh sĩ bị phồng da (hiện nay cũng còn là một vấn đề đối với quân nhân). 21 “Sừng” - biểu tượng cho sức mạnh. Dân Y-sơ-ra-ên sẽ mạnh mẽ trở lại. “Mở miệng” - tiên tri Ê-xê-chi-ên hết câm (so sánh Exe 3:26 33:22).
3. Một ngày tăm tối đối với Ai Cập (Exe 30:1-26)
1-19 Bài tiên tri này không có ghi thời gian được giảng ra, nhưng chủ đề tương tự như những bài tiên tri khác được giảng ra từ năm 587 T.C.: Ai Cập và đồng minh sẽ rơi vào tay Nê-bu-cát-nết-sa.
2-9 Ai Cập sẽ lâm cảnh chiến tranh. Ai Cập, các nước láng giềng và đồng minh sẽ bị tan hoang. 10-12 Quân lực của Ai Cập sẽ bị quân Ba-by-lôn đập tan. Đất đai sẽ bị phá tan hoang. 13-19 Dân tộc không có người lãnh đạo. Hình tượng của Ai Cập sẽ bị tiêu hủy, còn bão tố sẽ vây phủ các thành phố của Ai Cập.
Chú giải. 5 Các quốc gia và các dân tộc có nêu danh ở đây đều là đồng minh của Ai Cập. “Cúc” - một vùng ở cực nam Ai Cập. “Phút” - Li-by “dân tộc của xứ giao ước” - có lẽ là thành phần doanh thương Do Thái định cư ở Ai Cập. 6 “Từ Mi-đôn đến At-van” - so sánh Exe 29:10. 15-18 Bảng liệt kê các vùng và các thành phố Ai Cập nhấn mạnh sự tàn phá bao trùm một vùng rộng lớn.
(Exe 30:20-26) Pha-ra-ôn và đôi cánh tay gãy Khi tiên tri Ê-xê-chi-ên giảng bài tiên tri này - (Tháng 4 năm 587 T.C.) - thì quân Ba-by-lôn đã bao vây Giê-ru-sa-lem suốt một năm rồi. Bài giảng này đập tan mọi hi vọng về việc Ai Cập đem viện binh đến đối phó với Ba-by-lôn lần thứ hai. Quân Ai Cập đã bị đẩy lui năm 588 (21 Ta đã đánh gãy cánh tay của Pha-ra-ôn), và sẽ còn bại trận nữa (22 Ta sẽ đánh gãy cả hai tay của Pha-ra-ôn).
Đức Chúa Trời phán với tiên tri Ê-xê-chi-ên rằng: “Thế lực của Pha-ra-ôn đã bị thu hẹp (21), và còn bị thu hẹp hơn nữa. Dân Ai Cập sẽ bị lưu đày và tản lạc. Vua Nê-bu-cát-nết-sa và quân Ba-by-lôn sẽ trở nên hùng mạnh hơn trong khi Ai Cập sụp đổ. Rồi họ sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va (22-25). Khi dân Ai Cập bị phân tán, thì họ sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va (26).
Chú giải. 26 “Ta sẽ phân tán người Ai Cập đến các nước” - có thể câu này mô tả sự trốn chạy của binh sĩ Ai Cập sau khi bại trận, chớ không phải nói về toàn bộ dân tộc Ai Cập.
4. Bài học cho Ai Cập về một cây bách hương bị đốn hạ (Exe 31:1-18)
Chuyện cây bách hương bị đốn hạ làm ẩn dụ cho Ai Cập trong thời vàng son và trong thời sụp đổ.
Tiên tri Ê-xê-chi-ên được lịnh tuyên rao cho Ai Cập rằng:”Sự vĩ đại của ngươi có thể đem ví với dáng hiên ngang của một cây bách hương (2-3). Cây này có một nguồn nước dồi dào (3-4) vươn cao trên các cây cùng loại, tàng lá toả rộng chiếm một khoảng không gian rộng lớn (5). Dưới bóng cây này người ta, thú vật và chim chóc tìm nơi trú ẩn an toàn (6). Cây này tồn tại trong huy hoàng cực độ (7), có một không hai (8), không ai sánh bằng khiến các cây khác đều thèm thuồng ganh tị (9). Vì cớ cây cao to vươn lên trên tất cả và sinh lòng kiêu ngạo trong vị trí này, nên cây bị giao cho một nhà cầm quyền xử lý (10-11). Cây bị đốn hạ. Tất cả những ai trông cậy nơi cây này đều bỏ đi (12). Chẳng một nước nào tìm được sự vĩ đại như Ai Cập (14). Ngày mà Ai Cập bị huỷ hoại là một ngày đen tối đối với nhiều người (15-16). Những ai trông cậy vào sự bảo vệ của Ai Cập đều rơi vào cùng một số phận đó (17). Ngươi và quân lực ngươi cũng gãy đổ như vậy (18).
Chú giải 3 “Hãy xem A-si-ri” - có bản văn dùng cây bách thay vì A-si-ri. “Hãy xem cây bách, cây tuyết tùng trong Li-ban”. Theo cách này chuyện ẩn dụ giữ được tính nhất quán, trong khi đó ý tứ vẫn không thay đổi. 10 Sự kiêu ngạo đã đốn ngã cây bách hương - và ở đây ngụ ý là Ai Cập. 12 “Dân tộc tàn nhẫn nhất trong các dân” - cụm từ này được dùng trong (Exe 30:11) chỉ về người Ba-by-lôn. 18 “Ngươi sẽ nằm giữa những người không chịu cắt bì, với những người bị giết bằng gươm”. Người Ai Cập có tục cắt bì và đặt nặng vấn đề mai táng đàng hoàng nên hai chi tiết này trong bài tiên tri làm họ rất ghê sợ.
5. Than khóc về Pha-ra-ôn (Exe 32:1-16)
Bài tiên tri này cảnh báo Ai Cập một lần nữa về việc Ai Cập sẽ bị Ba-by-lôn huỷ diệt.
Nội dung bài ai ca như sau: “Ngươi chẳng khác gì con thú to lớn ở dưới biển sắp sa lưới và bị bỏ cho thối rữa trên mặt đất (2-4). Những gì còn lại sẽ bị xâu xé hết (4-6). Khi chuyện diễn ra thì bóng tối tăm phủ trùm cả xứ (7-8). Nhiều nước sẽ kinh hoàng trước biến cố này (9-10). Đức Giê-hô-va phán rằng “Bộ máy chiến tranh của Ba-by-lôn sẽ lật đổ ngươi (11-12). Ai Cập sẽ bị hoang phế”” (13-15).
Chú giải. 2 “Con quái vật” - so sánh Exe 29:3-5 cũng nói ví von tương tự.
6. Ai Cập xuống thế giới của sự chết (Exe 32:17-32)
Bài ai ca này triển khai hai chủ đề đã được nhắc đến trong các bài tiên tri về Ai Cập: (1) Ai Cập sẽ nằm bên cạnh những nước “tử trận” khác, và (2) Ai Cập sẽ chung chịu số phận với những người không cắt bì (so sánh 31:18).
Tiên tri Ê-xê-chi-ên dùng hình ảnh ví von để mô tả Ai Cập trong tình trạng chết. Ai Cập nằm trong một vùng đất với những quốc gia “tử trận” khác nằm chung quanh. Hình ảnh ví von này không có ý mô tả thế giới bên kia cái chết trên phương diện thần đạo. Nhưng lối nói này giúp tiên tri dễ dàng chuyển đạt tình trạng suy sụp của Ai Cập.
Tiên tri Ê-xê-chi-ên được lệnh than khóc về Ai Cập trong khi Ai Cập rơi vào tình trạng chết. Ai Cập sẽ đồng hội đồng thuyền với thành phần không cắt bì. Các nước khác đã có mặt ở đó: A-si-ri (22-23) Ê-lam (24-25) Mê-siếc và Tu-banh (26-27) Ê-đôm (29) các vua phương bắc (30) người Si-đôn (30). Pha-ra-ôn và binh đội của vua sẽ nhập bọn với họ (28,32).
Những điều này phảng phất hơi hướm khá “hiện đại”, nhiều thể chế, chế độ lớn có, nhỏ có đã tan rã trong thế kỷ vừa qua chẳng hạn. Dầu vậy, một cuộc nghiên cứu lịch sử sẽ cho thấy đà tiến bình thường của các nước là như vậy, hết hưng thịnh đến suy vi. “Đất bằng” và sự vững chãi mà chúng ta vẫn thường kỳ vọng vì xem là cuộc sống ổn định chỉ là một niềm hy vọng bất thành. Trong Chúa có sự an toàn đời đời ngoài ra toàn là chuyện hão huyền.
Chú giải. 24 “Ê-lam” - Một nước ở về phía đông Ba-by-lôn. 26 “Mê-siếc và Tu-banh” hai nước ở Tiểu Á (so sánh 27:13). 27 “Gươm kê dưới đầu” họ không được an táng theo nghi lễ trọng thể của quân đội, mà chỉ được chôn trong huyệt dã chiến.
7. PHẠM VI TRÁCH NHIỆM (Exe 33:1-20)
Bài tiên tri thoạt đầu cũng cùng một chủ đề như trong 3:16-21. Tiên tri Ê-xê-chi-ên đang giữ vai trò canh gác cho Y-sơ-ra-ên, đi đôi với vai trò đó là trách nhiệm và sự hình phạt. (Có thể ghi nhận ở đây là không đả động đến phần thưởng). Tiên tri Ê-xê-chi-ên được lệnh chuyển đạt cho Y-sơ-ra-ên nội dung công tác của ông. Tiếp đến bài tiên tri đả phá hai quan điểm về bản chất tội lỗi của Y-sơ-ra-ên.
Quan điểm thứ nhất (10-11) theo thuyết định mệnh. Thành phần này chủ trương rằng những việc sai quấy lầm lỗi như lưới, như bẫy đã phủ chụp họ, còn Đức Chúa Trời thì vui thích nhìn thấy họ trong cảnh ngộ đó (và như vậy nếu Đức Chúa Trời muốn cho sự việc phải như thế thì có nỗ lực thay đổi cũng như không. Tiên tri Ê-xê-chi-ên phản bác như sau: “Đức Chúa Trời không vui về cái chết của kẻ ác, muốn thay đổi nếp sống hay không là tùy ý họ.
Quan điểm thứ hai cho rằng người ta cần tạo dựng và chất chứa cho mình những điểm tốt, những việc làm đáng khen (so sánh 18:21-32) vì một số lượng lớn việc lành tích tụ có thể nhấc bổng đầu cân của những việc gian ác. Quan niệm như thế nghĩa là đối với một người sống ở đời chỉ chuyên lo làm việc ác thì người đó không còn hy vọng gì vì người đó không thể nào có đủ việc tốt để bù trừ cho việc ác đã làm. Hơn nữa chủ trương như thế khiến cho một số người nghĩ rằng họ đã tích lũy đủ việc tốt nên họ buông mình thực hiện mọi hành động tội lỗi nào miễn là đừng vượt quá số lượng việc tốt đã tích lũy, chủ trương này cũng bị loại bỏ. Một thái độ thành tâm ăn năn có thể xoá nhoè mọi việc sai trái trong quá khứ, nhưng những việc lành việc thiện trong quá khứ không thể nào cân bằng những việc gian ác mà đượng sự cố ý thực hiện.
1-6 Tiên tri Ê-xê-chi-ên phải chỉ ra cho đồng bào của ông rằng: “Thí dụ một quốc gia bị chiến tranh đe doạ, và có một người được chọn để canh chừng và báo động khi quân thù tấn công (2). Nếu đương sự thấy kẻ thù tiến đến gần để tấn công và lo thông báo thì chính dân chúng chịu trách nhiệm nếu xảy ra tổn thất (3-5). Nhưng nếu kẻ thù sắp tấn công mà đương sự không báo động, đương sự hoàn toàn chịu trách nhiệm về cái chết của bất cứ cư dân nào (6).
7-9 Việc báo động này được giao phó cho Ê-xê-chi-ên, ông phải truyền lại cho người Y-sơ-ra-ên những sự báo động của Đức Chúa Trời (7). Nếu ông không truyền đạt lại những lời cảnh báo đó cho ai thì ông chịu trách nhiệm về số phận của người đó. Nhưng nếu ông đã cảnh báo, thì ông không còn trách nhiệm gì về người đó nữa (8-9).
10-20 Tiên tri Ê-xê-chi-ên cũng phải tuyên rao thêm cho Y-sơ-ra-ên rằng: “Các ngươi nói rằng tội lỗi đè nặng trên các ngươi đến chết. Ta không vui sướng gì về cái chết của kẻ ác (10-11). Nếu một người công nghĩa bỏ nếp sống ngay lành và khởi sự làm việc ác thì chẳng có một việc tốt nào trong số những việc tốt của đương sự đã làm thời trước còn đáng giá nữa đương sự sẽ chết vì tội lỗi của mình (12-13). Còn nếu một người xấu xa gian ác từ bỏ nếp sống đó và khởi sự hành động ngay lành chánh trực, thì những việc xấu xa ngày trước sẽ được xoá bỏ đương sự sẽ sống (14-16). Dù rằng các ngươi, dân Y-sơ-ra-ên, nói rằng: Ta phán xét không công bằng nhưng thật ra là tại vì các ngươi không chủ trương công bằng. Ta sẽ xét xử các ngươi tuỳ theo việc làm của các ngươi” (17-20).
Chú giải. 2 “Kẻ cảnh giác” - xem chú giải về 3:16-21.
8. TIÊN TRI Ê-XÊ-CHI-ÊN HẾT CÂM (Exe 33:21-22)
Đây là một trường hợp duy nhất trong sách Ê-xê-chi-ên về kinh nghiệm tiên tri. Ấy là khi “tay Chúa đặt trên tôi” thì không ban cho ông khải tượng hoặc lời tiên tri mà khiến cho ông hết câm, vì từ khi bắt đầu chức vụ thì ông không nói được (3:26-27).
Thời điểm của sự kiện này rất có ý nghĩa vì ngay ngày hôm sau ông nhận được tin thành Giê-ru-sa-lem thất thủ. Lời cảnh báo của tiên tri Ê-xê-chi-ên đã thành sự thật.
Chú giải. 21 “Năm thứ mười hai” - Thành Giê-ru-sa-lem thất thủ vào năm 587 T.C.. Một số bản cổ và thủ bản ghi là “vào năm thứ 11”. Nếu đúng là năm thứ 11 của thời trị vì của vua Xê-đê-kia thì thời gian từ khi thành Giê-ru-sa-lem thất thủ đến lúc có người chạy loạn đến gặp tiên tri Ê-xê-chi-ên là khoảng sáu tháng. So sánh Exo 7:9 cho thấy cuộc hành trình công khai thuận lợi từ Ba-by-lôn đến Giê-ru-sa-lem mất bốn tháng trọn.
9. Y-SƠ-RA-ÊN SỞ HỮU BẤT HỢP PHÁP (Exe 33:23-33)
Cuộc vây hãm kết thúc, thành Giê-ru-sa-lem đã thất thủ, còn toàn xứ bị hoang phế. Vô số người bị giết, vô số bị lưu đày hoặc buộc lòng phải chạy trốn. Dầu vậy cũng có một số sống sót.
Thường thường đại hoạ không làm lộ rõ được điểm tối ưu nơi con người. Vì sau cuộc vây hãm thành lần thứ I, năm 597 T.C. một nhóm người hả hê sung sướng trong khi mưu tính con đường thẳng tiến đến vị trí chóp bu (11:2-12). Sau cuộc vây hãm lần thứ II xứ mất dân cư, số ít người còn sống sót và được cho ở lại vẫn duy trì con đường thờ hình tượng thay vì trở về với Đức Chúa Trời. Hơn nữa, họ tự ý tiếp thu tài sản và đất đai của láng giềng, lạm dụng tình dục đối với các phụ nữ còn sống sót và còn được lưu cư (24-26). Tiên tri Ê-xê-chi-ên cảnh báo rằng xứ sẽ còn tiếp tục bị phá hoại vì cớ những hành vi đó.
Đến cuối bài giảng Đức Chúa Trời cảnh báo tiên tri Ê-xê-chi-ên một vấn đề mà nhiều vị truyền giảng lời Chúa cũng kinh nghiệm. Người ta thích nghe giảng nhưng không thực hành theo. Người ta có thể đánh giá cao một diễn giả nhưng không có nghĩa là họ làm theo lời ông giảng thuyết.
Sự mất mát, thiếu thốn tương tự như đại hoạ vậy, thì cũng không khiến cho người ta để lộ điểm tốt nhất nơi họ. Đôi khi cảnh ngộ đen tối tột cùng xui giục người ta hành động cách tuyệt vọng. Chúng ta phải cảm thông với những trưòng hợp này. Tuy nhiên, đôi khi như trong bài giảng này, tình trạng hỗn loạn và đổ nát chỉ là cơ hội tạo sẵn cho bọn tham lam vô liêm sỉ thừa cơ nước đục thả câu.
23-29 Lời của Đức Chúa Trời phán với Ê-xê-chi-ên rằng: Cư dân trong những tàn tích của xứ Y-sơ-ra-ên tưởng đâu nay họ là sở hữu chủ của những nơi đó (24-25). Hãy tuyên ra cho họ biết rằng: “Có nên cho các ngươi sở hữu xứ sở trong khi các ngươi cứ duy trì những tập tục ngoại đạo và hung bạo chăng (25-26)? Vì cớ những việc các ngươi đã làm nên xứ sẽ bị hoang phế thêm nữa. Rồi các ngươi sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va (27-29).
30-33 Đức Chúa Trời lại phán với tiên tri Ê-xê-chi-ên rằng: “Ngươi là đầu đề câu chuyện giữa vòng đồng bào của mình. Họ tụ họp để nghe ngươi nhưng chỉ ậm ừ ngoài miệng đối với những lời ngươi giảng. Đối với họ ngươi chẳng khác gì một người hoạt náo góp vui. Dù vậy, khi những điều ngươi cảnh báo tuyên rao trở thành sự thật họ sẽ nhận biết rằng có một tiên tri ở giữa vòng họ”.
Chú giải. 24 “Chỉ một mình Áp-ra-ham” - Họ lý luận rằng nếu chỉ một mình Áp-ra-ham đã có thể sở hữu cả xứ, thì họ cũng có thể sở hữu cả xứ cách dễ dàng, không có trục trặc gì vì họ đông đảo hơn. 33 Chứng minh tính cách chân chính của tiên tri là những điều ông tiên tri thành sự thật.
10. TIÊN TRI VỀ SỰ KHÔI PHỤC (Exe 34:1-48:35)
Những lời tiên tri ở chương 34-38 triển khai một chủ đề khác hẳn những bài giảng trong phần trước. Chương 1-33 gồm những bài giảng chính yếu cảnh báo về đại hoạ sắp đổ xuống trên dân Y-sơ-ra-ên và trên những dân láng giềng. Còn chương 34-38 đặt nặng vấn đề khôi phục và hy vọng. Giê-ru-sa-lem và đền thờ đã bị hủy hoại. Dân chúng đã bị lưu đày. Dầu vậy, vẫn còn hy vọng.
Độc giả thời nay cảm thấy khó lòng thông giải những chương này, một phần vì cớ những hình ảnh ví von quá xa lạ, một phần vì cớ lo tìm những biến cố cụ thể trong thời hiện đại có vẻ liên hệ đến những chi tiết trong phần tiên tri này. Điều quan trọng cần nhớ là trên căn bản các bài giảng này không khác gì các bài giảng trong phần trước. Nhiều chi tiết trong bài tiên tri này đối ứng với những chi tiết trong các bài tiên tri ở phần trước. Thí dụ: Lời hứa về một giao ước mới (16:60), sự hồi hương (28:25), tính cách tượng trưng của các con số (4:5-6 14:21 29:13) và lối nói đồng hoá dân tộc với quốc trưởng (29:1-16 31:2-18). Có những chỗ dường như có ý nói một cách mơ hồ tượng trưng (thí dụ Đa-vít và Gót, hoặc nói về thời chung cuộc (thí dụ Đa-vít sẽ làm vua trên họ đời đời 37:25). Căn cứ vào những nét đặc thù này, các nhà bình giải xem tiên tri Ê-xê-chi-ên là một nhà tiên phong trong lãnh vực khải thị.
Đối với chúng ta những hình ảnh có thể rất xa lạ và khó lòng hình dung. Dầu vậy, đối với thành phần sống lưu đày những hình ảnh đó gợi lại một ký ức đau thương - Chúng ta khó lòng theo dõi phần mô tả đền thờ (40-48), nhưng đối với những người đã từng chiêm ngưỡng đền thờ và thờ phượng trong đền thờ thì phần mô tả này kéo họ trở về với dòng ký ức cuồn cuộn - Thung lũng đầy hài cốt khô (37), chiên tản lạc (34), nhà cửa điêu tàn và hoang phế (35,36), đất đai vương vãi vũ khí của địch quân thất trận (39), của binh sĩ tử trận (39), đều là những cảnh tượng về chiến tranh. Đó là hình ảnh của một đất nước bị tê liệt đến độ không có người chôn cất xác chết, xác chết la liệt trong tình trạng thối rữa, vũ khí vương vãi trong tình trạng mục nát ten rét. Những hình ảnh này chắc hẳn là một thực tế đau thương phũ phàng đối với những người đã chứng kiến cảnh Y-sơ-ra-ên bị chiến tranh tàn phá.
Những bài tiên tri này thoạt tiên dành cho dân Y-sơ-ra-ên trong thời tiên tri Ê-xê-chi-ên. Nội dung được trình bày bằng những lời lẽ quen thuộc và dễ hiểu đối với họ. Không nên giải mã những bài tiên tri này bằng những biến cố rời rạc riêng lẻ, nhưng dưới dạng một tiến trình. Những bài này nhằm mục đích nhen lại hy vọng trong khi niềm hy vọng đã tiêu tan và định hướng cho cuộc sống trong khi lẽ sống đã mờ nhoè. Những lời tiên tri này bắt đầu ứng nghiệm vào ngày được rao truyền ra. Dân của Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ bị bỏ rơi cho dù họ phải đối phó với đại hoạ nào đi nữa.
Nói như thế không phải là chủ trương về những lời tiên tri này không có nghĩa gì với chúng ta ngày nay. Như chúng ta đã thấy sự sụp đổ của các quốc gia và sự tàn phá của chiến tranh là những mẫu tin quen thuộc trên màn ảnh TV hiện nay cũng là những vấn đề quen thuộc trong các bài giảng của tiên tri Ê-xê-chi-ên. Dầu vậy bao trùm trên tất cả mọi sự cũng chính Đức Chúa Trời đó ban chúng ta một niềm hy vọng tương tự về sự phục hồi trong tương lai.
1. Thành phần lãnh đạo chăn dắt Y-sơ-ra-ên bị tố cáo (Exe 34:1-31)
Nhiều lần Kinh Thánh dùng hình ảnh một bầy chiên để nói ví về dân của Đức Chúa Trời. Trong bài giảng này những người chăn chiên đương thời - tức là giới cầm quyền trong Y-sơ-ra-ên bị trách cứ về tội vụ lợi và không lo chăm sóc nhân dân. Ngoài ra còn có nạn một số chiên phát phì trên sự thiệt thòi của những con chiên khác, tức là một số người thâu tóm của cải và quyền hành bằng cách áp bức người khác là thành phần nghèo khổ yếu thế hơn. Tiên tri Ê-xê-chi-ên cảnh báo rằng lẽ công bình sẽ được tái lập thôi.
Sau lời cảnh cáo đến lời hứa về tương lai (21-24). Chẳng những Đức Chúa Trời sẽ cứu chiên của mình, Ngài còn chỉ định tôi tớ Ngài là Đa-vít làm người chăn dắt họ và lập một giao ước hoà bình với họ. Cũng như trong những bài giảng khác, ở đây dùng tên riêng với nghĩa bóng. Ví dụ như khi đề cập đến Đa-vít, không có nghĩa là vị vua Đa-vít trong thời xa xưa sẽ sống lại và cầm quyền cai trị (theo nghĩa đen). Thật ra ý căn bản là người lãnh đạo tương lai sẽ có các đức tính gương mẫu của Đa-vít - được Đức Chúa Trời hài lòng và là người chiến thắng trên kẻ thù của Y-sơ-ra-ên. Chương 37:24-26 cũng đề cập đến Đa-vít, và quyền cai trị tồn tại đời đời. Khúc văn đó cũng chép về giao ước hoà bình đời đời mà Chúa sẽ lập với dân của Ngài, chủ đề này hầu như giống hệt chủ đề trong 34:25-30
Rõ ràng cả hai khúc văn không chỉ nói về tương lai gần cận của dân Y-sơ-ra-ên mà còn nói về tương lai xa nữa. Đức Chúa Trời sẽ làm hoà với dân sự, và Ngài sẽ chỉ định một người chăn để dẫn dắt cai trị họ.
Bài giảng chứa một lời hứa đầy hi vọng, Dù rằng dân của Đức Chúa Trời bị tản lạc và bị áp bức nhưng rồi đây sẽ đến ngày họ sẽ được xử theo lẽ công bằng. Khi đọc Kinh Thánh Cựu Ước chúng ta sẽ thấy ngày đó là lúc Chúa Giê-xu tái lâm, một lời hứa có đóng ấn bằng sự giáng sinh, sự chết và sự sống lại của Ngài.
Tiên tri phải tuyên rao cho thành phần chăn dắt Y-sơ-ra-ên rằng: “Khốn cho các ngươi là những người chăn dắt Y-sơ-ra-ên. Các ngươi không chăm sóc bầy. Họ đã bị tan tác trong các nước. Các ngươi chỉ lo chính mình (2,5-8). Ta chống là những người chăn loại đó. Họ chịu trách nhiệm về bầy, nhưng họ sẽ bị sa thải. Họ sẽ không còn dùng bầy làm lợi cho họ nữa (10). Ta sẽ giải cứu bầy đã bị tan tác của Ta. Ta sẽ gom họ lại từ các nước và đem họ trở về đồng cỏ tốt trong xứ Y-sơ-ra-ên. Ta sẽ đích thân chăm sóc họ và Ta sẽ là một người chăn công bình (11-15). Ta sẽ phân xử giữa chiên này với chiên nọ. Một số chiên đã phát phì nhờ lấn át gây tổn hại cho người khác. Bầy của Ta sẽ không còn bị càn quét cướp bóc nữa (17-22). Ta sẽ lập tôi tớ Ta là Đa-vít làm người chăn duy nhất của họ. Ta sẽ là Đức Chúa Trời của họ, và Đa-vít sẽ là vua của họ (23-24). Ta sẽ lập một giao ước hoà bình với họ. Họ sẽ an cư lạc nghiệp trong một xứ phì nhiêu và an ninh. Họ sẽ được giải phóng khỏi ách nô lệ. Rồi họ sẽ nhận biết Ta là Đức Chúa Trời của họ, vẫn ở với họ và họ là dân của Ta (25-31).
Chú giải. 13 “Đem họ về ... gom họ lại” - Lời hứa về sự phục hồi được nhấn mạnh đặc biệt trong chương 34-38. Tuy nhiên những chương trước cũng có đề cập đến: 11:17 16:60 20:34,42 28:25. 25 “Giao ước hoà bình” - là giao ước mới mà Đức Chúa Trời đã hứa (so sánh Gie 31:31-34).
2. Tiên tri về những ngọn núi: Cảnh báo Ê-đôm và khuyến khích Y-sơ-ra-ên (Exe 35:1-36:15)
(Exe 35:1-15). Cần lưu ý là chương 35 và Exe 36:1-15 thuộc về một bài giảng. Hình ảnh ví von trong suốt bài giảng này là ngọn núi. Ngọn núi của Ê-đôm, núi Sê-i-rơ sẽ bị hoang phế (35:7,14), trong khi đó các ngọn núi của Y-sơ-ra-ên sẽ đơm hoa kết quả (36:8,9) và sẽ có dân cư (36:10-12).
Ê-đôm vốn là một láng giềng và địch thủ lâu đời của Y-sơ-ra-ên. Về mặt nguồn gốc thì hai dân tộc này xuất phát một ông tổ nhưng mối ác cảm từ thời xa xưa vẫn còn tồn tại. Lãnh thổ Ê-đôm giáp biên giới phía đông của Y-sơ-ra-ên, từ Biển Chết Ê-đôm bọc biên giới phía nam của Y-sơ-ra-ên. Ngọn núi biểu trưng cho Ê-đôm - núi Sê-i-rơ đối diện với sườn phía đông của Y-sơ-ra-ên. Do đó người Ê-đôm có thể theo dõi những nỗi khốn đốn của Y-sơ-ra-ên khi đại hoạ đổ xuống.
Ê-đôm bị lên án về nhiều chuyện. Thứ nhất, dường như Ê-đôm phản bội Y-sơ-ra-ên khi Y-sơ-ra-ên lâm nguy (35:5). Thứ hai, người Ê-đôm tỏ ý hân hoan, hả dạ khi Y-sơ-ra-ên bị hủy phá (35:12,15 36:5). Thứ ba, họ đã lợi dụng cơ hội đó mà cướp bóc trấn lột một số vùng trong lãnh thổ Y-sơ-ra-ên (35:12 36:2,5). Oán thù lâu đời giữa láng giềng với nhau thường là khó lòng xoá bỏ. Cho nên người ta dễ cảm thấy hả hê khi tai ương xảy đến cho đối tượng đang bị thù ghét, đến nỗi có khi người ta còn lợi dụng cơ hội đó để trục lợi. Dầu sao đi nữa chúng ta phải xử sự cách công bằng dù là khi chúng ta cảm thấy khó lòng.
Có thể Giu-đa được dùng làm biểu tượng về ác cảm triền miên giữa dân của Đức Chúa Trời với “thế gian”. Trong khi Đa-vít là vị vua đã chinh phục được Ê-đôm (xem bình giải 34:21-24 IISa 8:12-14), Đa-vít lại tiêu biểu cho sự đắc thắng của Y-sơ-ra-ên. Vì vậy, sự gãy đổ của Ê-đôm tượng trưng cho sự khởi đầu của một thể chế mới. Sự trở lại của Đa-vít sẽ nhắc nhở chúng ta về sự giáng trần của Đấng Cứu Thế và sự thiết lập một thể chế mới, nước thiên đàng mà Chúa Giê-xu đến trần gian để rao báo.
Tiên tri Ê-xê-chi-ên phải tuyên rao chống nghịch Ê-đôm: “Ta chống nghịch ngươi, hỡi Ê-đôm. Khi Ta khiến cho ngươi bị hoang phế, ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va (3-4). Ác cảm lâu đời trong ngươi đã xui khiến ngươi phản bội Y-sơ-ra-ên trong giây phút họ lâm chung (5). Vì vậy, sự chết chóc còn đuổi theo ngươi, và ngươi sẽ trở nên một vùng đất hoang. Rồi ngươi sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va (6-9). Ngươi tưởng ngươi có thể chiếm cứ lãnh thổ của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa trong thời gian đất nước này bị bỏ hoang. Ngươi cũng tự cao tự đại chống Ta. Vì cớ ngươi vui sướng khi Y-sơ-ra-ên trở thành hoang mạc (10-15). Rồi ngươi sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va” (4,9,15).
(Exe 36:1-15). Nhưng tiên tri Ê-xê-chi-ên được lệnh tuyên rao cho các núi của Y-sơ-ra-ên như sau: “Quân thù tưởng đâu có thể chiếm cứ ngươi và cướp phá ngươi (36:1-4). Ngươi đã khổ nhục vì những sự khinh khi miệt thị của các dân tộc, nhưng các dân tộc chung quanh ngươi cũng sẽ bị khinh khi miệt thị (36:5-7). Dầu vậy, ngươi sẽ trở nên phì nhiêu và thịnh vượng với nhiều làng mạc, khu định cư. Rồi ngươi sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va. Dân của Ta sẽ chiếm hữu ngươi làm sản nghiệp (36:8-12). Các núi của Y-sơ-ra-ên sẽ không bao giờ bị sát hại dân của đất nước nữa” (36:12-15).
Chú giải. 35:10 “Hai nước” - tức là Y-sơ-ra-ên và Giu-đa. 36:2 “Các gò cao đời xưa - phần lớn lãnh thổ Y-sơ-ra-ên và Giu-đa là vùng núi non nằm giữa Biển Chết và Địa Trung Hải. 36:12-13 “Ngươi... làm mất con cái của chúng nó” “Ngươi nuốt người ta” - ở đây mô tả núi non như thể góp phần sát hại dân cư . Có thể đơn thuần chỉ là một lối nói văn vẻ, chắc chắn có nhiều người bỏ mạng trong những trận phục kích trên vùng núi non hiểm trở.
3. Khôi phục Y-sơ-ra-ên (Exe 36:16-38)
Bài giảng này là cốt lõi của sách Ê-xê-chi-ên. Sứ điệp của bài này tóm tắt nội dung sách. Y-sơ-ra-ên đã chọc giận Đức Chúa Trời qua những hành vi gây đổ máu và thờ hình tượng (18)., nên Ngài hình phạt họ bằng cách phân tán họ đến các nước khác - lưu đày (19). Dầu vậy, Đức Chúa Trời không bỏ rơi họ ở những nơi đó. Họ sẽ được hồi hương (24). Ngài sẽ tẩy sạch họ và biến đổi họ rồi họ sẽ theo Ngài (25-28). Đất nước và dân tộc sẽ lại phồn thịnh (29-38). Các dân tộc chung quanh sẽ nhận biết rằng Đức Chúa Trời đã hành động (36).
Ở đây xác định rõ lý do khiến Đức Chúa Trời gom dân sự của Ngài từ các xứ lưu đày. Chẳng phải vì dân sự có tâm tánh tốt lành hoặc vì họ mong mỏi trông đợi hồi hương, nhưng vì Đức Chúa Trời muốn rằng danh của Ngài không bị gièm pha, dè biểu. Nội sự kiện Y-sơ-ra-ên bị lưu đày đủ khiến cho những dân tộc khác nghĩ rằng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên không có khả năng hoặc không muốn chăm sóc bảo vệ dân của Ngài. Như vậy là bôi nhọ bản tánh của Ngài chính vì vậy mà Ngài khôi phục dân sự (20-23).
Bài giảng này nhen nhúm niềm hy vọng cho tất cả chúng ta. Đức Chúa Trời ra tay hành động để giải cứu, không phải vì chúng ta xứng đáng nhưng vì lòng thương xót vô biên của Ngài.
Đức Chúa Trời phán với tiên tri Ê-xê-chi-ên rằng: “Khi Y-sơ-ra-ên cư ngụ trong xứ thuộc về thuộc về họ, đất đai bị ô uế vì cớ tội lỗi của họ. Thế là Ta phân tán họ đến các xứ khác. Dầu vậy việc đó làm ô danh Ta, sự kiện này làm ta bận tâm (16-21). Vì thế có lời của Đức Chúa Trời phán cho Y-sơ-ra-ên rằng: “Vì cớ danh của Ta, Ta sẽ chứng tỏ cho các dân tộc biết rằng danh Ta là danh Thánh. Rồi họ sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va (22-23). Ta sẽ đem các ngươi về quê hương và sẽ tẩy sạch các ngươi. Ta sẽ thay tấm lòng bằng đá trong các ngươi bằng tấm lòng bằng thịt. Ta sẽ cho Thần Ta ngự trong các ngươi và khiến cho các ngươi tuân thủ luật lệ của Ta. Đất đai sẽ rất trù phú và các ngươi sẽ cảm thấy hổ thẹn và gớm ghiếc hành vi ngày trước của mình. Ta làm việc này chẳng phải vì các ngươi (24-32). Khi Ta tẩy sạch mọi tội lỗi các ngươi, các thành sẽ được tái thiết và đất đai lại được trồng trọt. Các quốc gia dân tộc còn tồn tại sẽ nhận biết rằng Ta thực hiện hết mọi khâu khôi phục này (33-36). Dân Y-sơ-ra-ên sẽ đông đúc như bầy chiên. Rồi họ sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va (37-38)”.
Chú giải. 25 “Rảy nước sạch” - một nghi thức trong việc tẩy uế. 26 “Tấm lòng bằng thịt” - không nên lẫn lộn từ thịt ở đây với từ thịt được dùng ở những chỗ khác trong Kinh Thánh. Từ xác thịt ở những chỗ đó có ý chỉ về sự mong manh hoặc sự hư hỏng thối nát. Ở đây, “tấm lòng bằng thịt” trái ngược với “tấm lòng bằng đá”, ngụ ý là tâm linh nồng ấm mềm mại sẽ thay thế bản tánh cứng cỏi lạnh lùng chai lì trong nội tâm của dân Y-sơ-ra-ên.
4. Thung lũng la liệt hài cốt khô (Exe 37:1-14)
Sau khi thành Giê-ru-sa-lem thất thủ, dân chúng tản lạc với tinh thần kiệt quệ. Bài giảng này chuyển tải một chủ đề đơn giản là sẽ có ngày quốc gia Y-sơ-ra-ên sẽ được khôi phục, dân sự sẽ trở về xứ của họ. Hài cốt khô sẽ trở nên những chiến sĩ sống động. Sẽ có ngày một cuộc biến đổi triệt để không kém sẽ xảy đến cho Y-sơ-ra-ên.
Năng lực của khải tượng này đem lại hy vọng cho vô số người trải qua nhiều thế kỷ. Quyền năng của Đức Chúa Trời có thể thay đổi những cuộc đời tồi tệ nhất và những hoàn cảnh vô vọng nhất.
1-11 Tiên tri Ê-xê-chi-ên thấy một khải tượng. Trong khải tượng này ông thấy mình được đưa tới một thung lũng đầy hài cốt khô. Chúa bảo ông nói tiên tri với các hài cốt khô, báo tin rằng hài cốt sẽ được phủ bắp thịt và trở nên con người sống động. Ông vâng lời và trong khi ông đang nói tiên tri thì các khúc xương tập hợp lại với nhau thành bộ xương. Bắp thịt, gân cốt và da lần lượt xuất hiện phủ kín bộ xương, nhưng những hình hài đó vẫn là xác chết (1-8). Ông được lệnh truyền cho gió thổi qua xác chết. Trong khi ông vâng lời làm theo thì hơi thở vào xác chết và xác chết sống lại họp thành một đạo quân đông đảo (9-10). Đức Chúa Trời giải thích cho ông rằng: “Xương khô tiêu biểu cho Y-sơ-ra-ên. Họ than vãn rằng niềm hy vọng cho họ cạn khô rồi” (11).
12-14 Tiên tri Ê-xê-chi-ên phải tuyên rao cho tất cả dân Y-sơ-ra-ên rằng: “Ta sẽ đem ngươi ra khỏi mộ của ngươi để trở về xứ Y-sơ-ra-ên. Rồi ngươi sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va (12-13). Ta sẽ đặt Thần Ta ngự trong ngươi và cho ngươi an cư trong đất. Rồi ngươi sẽ nhận biết Ta là Chúa, Ta sẽ nói và sẽ làm việc này” (14).
Chú giải. 1 “Tay của Chúa” - Cụm từ này báo hiệu là tiên tri Ê-xê-chi-ên sắp kinh nghiệm một khải tượng rất căng thay vì nhận được một sứ điệp chuyển tải qua lời nói. 5,14 “Hơi thở” - trong nguyên văn Hi Bá Lai từ này cũng có thể có nghĩa là “linh” hoặc “Linh”.
5. Sự thống nhất của Y-sơ-ra-ên (Exe 37:15-28)
Dân tộc Y-sơ-ra-ên vốn bị phân chia làm hai quốc gia - Y-sơ-ra-ên và Giu-đa - từ cuối đời trị vì của vua Sa-lô-môn đến nay là gần ba trăm năm. Trong bài giảng trước chẳng những họ sẽ được phục hồi mà còn được thống nhất thành một quốc gia duy nhất.
Ở đây xác định là họ sẽ có một vị lãnh đạo, “Đa-vít, kẻ tôi tớ của Ta”. (Xem Bình giải Exe 34:1-31, cụm từ này cũng được dùng trong chương đó ). Bài tiên tri xưng vị lãnh đạo mới là “Đa-vít” với ngụ ý là vị lãnh đạo này có tất cả những thuộc tính xứng đáng của vua Đa-vít và những quyền lợi của tổ tiên, có quyền kế thừa ngai vàng và trước mặt Đức Chúa Trời thì đây là vị lãnh đạo mà Ngài đã hứa. Nước Y-sơ-ra-ên trong tương lai được hình dung là một nước lý tưởng mô phỏng theo nước Y-sơ-ra-ên ngày xưa - Vết thương trong lịch sử dù có sâu đến thế nào cũng co lành và liền lại nhờ quyền năng của Đức Chúa Trời.
15-23 Tiên tri Ê-xê-chi-ên được lệnh lấy hai cây gậy, một cây gậy viết dòng chữ: “Thuộc về Giu-đa và khối đồng hội đồng thuyền”, và trên cây gậy thứ hai viết dòng chữ “Thuộc về Y-sơ-ra-ên và người đồng hội đồng thuyền”. Nắm cả hai cây gậy trong tay ngươi sao cho hai cây thành một (16-17). Khi có người thắc mắc thì ngươi hãy giải thích rằng: “Ta là Đức Chúa Trời sẽ thống nhất Y-sơ-ra-ên và Giu-đa để họ trở nên một (18-19). Hãy cho họ xem hai cây gậy đó (20) và rao rằng: “Ta sẽ gom dân Y-sơ-ra-ên từ các nước và đem họ về quê cha đất tổ. Họ sẽ có chung một vua và sẽ chẳng bao giờ chia cắt thành hai nước nữa. Họ sẽ chẳng còn tự làm ô uế mình nữa - Ta sẽ tẩy sạch họ. Họ sẽ làm dân Ta, và Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ” (21-23).
24-28 Đa-vít, tôi tớ Ta sẽ làm vua trên họ đời đời. Họ sẽ tuân thủ luật lệ của Ta. Họ và hậu duệ sẽ mãi mãi sống tại quê cha đất tổ (24-25). Ta sẽ lập với họ một giao ước đời đời. Ta sẽ là Đức Chúa Trời của họ và họ sẽ là dân của Ta. Dân sự của họ sẽ tăng thêm (26). Nơi thánh Ta sẽ được đặt giữa họ đời đời. Các dân tộc sẽ biết rằng Ta là Chúa đã khiến cho Y-sơ-ra-ên nên thánh vì đền thánh của Ta sẽ ở với họ đời đời (27-28).
Chú giải. 16 “Cây gậy của Ép-ra-im” - Ép-ra-im có ý nghĩa rõ ràng hơn là Y-sơ-ra-ên. Ép-ra-im đương nhiên chỉ về vương quốc phía bắc, còn “Y-sơ-ra-ên” có thể chỉ về dân của cả hai vương quốc. 26 “Đền thờ” - chương 40-48 sẽ triển khai cụ thể lời hứa về đền thờ.
6. Tiên tri chống lại những ai đối nghịch Y-sơ-ra-ên (Exe 38:1-39:29)
(Exe 38:1-23). Không rõ trong lịch sử có một vị lãnh đạo nào tên là Gót. Ông này cai trị các lãnh thổ tên là Ma-gót, Mê-siếc và Tu-banh - có lẽ nằm trong vùng trải giữa Tiểu Á và Biển Chết - xem chú giải câu 1. Như vậy, những vùng này nằm ở những phương trời xa xăm nhất của thế giới vùng Trung Đông. Có thể lắm Gót và các dân tộc dưới quyền của ông tiêu biểu cho những người trên thế gian liên kết với nhau chống lại dân của Đức Chúa Trời (sách Khải Thị đề cập đến Gót và Ma-gót trong ý nghĩa này, Kh 20:8). Hiểu theo khía cạnh đó thì bài tiên tri trở nên một lời cảnh cáo rằng ngay cả khi họ hồi hương từ nơi lưu đày, dân Y-sơ-ra-ên vẫn phải đối diện với những lực lượng địch thù đông đảo. Dầu vậy, những lực lượng này sẽ thất trận và chịu tổn thất rất nặng nề.
Hình ảnh ví von trong bài giảng này rất nghiêm trọng, đạo quân đông đảo và số quân tử trận rất lớn - khiến cho vài nhà bình giải cho rằng bài giảng này tiên tri về một trận đánh cụ thể trong ngày chung cuộc. Tuy nhiên, nếu so sánh bài tiên tri này với những bài tiên tri chống Ai Cập chẳng hạn (Exe 32:1-16) và chống Ty-rơ (28:11-19) thì chúng ta cũng thấy những con số lớn không tưởng.
Bài tiên tri hàm ý rằng trong tương lai dân của Đức Chúa Trời sẽ phải đối diện với những lực lượng gian ác xấu xa dàn hàng đông đảo chống nghịch họ. Sự khó khăn tưởng chừng bất khả khắc phục, nhưng quyền năng của Đức Chúa Trời sẽ bảo vệ dân sự Ngài, quân thù sẽ bại trận. Thắng lợi chờ chúng ta trong tương lai, nhưng đòn chí mạng đã tung ra giáng xuống tại thập tự giá ở Gô-gô-tha.
Đức Chúa Trời truyền cho tiên tri Ê-xê-chi-ên báo cho Gót rằng: “Hỡi Gót, Ta chống nghịch ngươi. Ngươi và đồng minh sẽ thất trận (38:2-5). Hãy chuẩn bị sẵn, vì trong thời gian sắp tới ngươi và quân binh của ngươi sẽ xâm lăng Y-sơ-ra-ên (38:7-9). Lúc đó ngươi đề ra kế hoạch cướp bóc vơ vét một xứ trù phú và an ổn (10-13). Ngươi và vô số đồng minh của ngươi sẽ tiến quân từ phương bắc xa xôi. Ta sẽ đem ngươi đến để các dân tộc nhận biết Ta (14-16). Trong quá khứ Ta đã từng phán bảo ngươi qua các tiên tri là người phục vụ Ta (17). Khi ngươi tấn công Y-sơ-ra-ên, động đất dữ dội sẽ xảy ra, kèm cuồng phong bão tố kinh thiên động địa. Ta giáng trên ngươi những thiên tai đó để bày tỏ chính mình Ta cho các dân tộc, rồi họ sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va” (18-23).
(Exe 39:1-29)
1-16 Ta sẽ khiến cho vũ khí rơi khỏi tay ngươi trên các rặng núi Y-sơ-ra-ên. Ngươi sẽ ngã chết nơi đó và thân xác ngươi sẽ làm thực phẩm cho chim trời và thú dữ (39:1-5). Ta sẽ bày tỏ danh Ta cho Y-sơ-ra-ên. Các dân tộc sẽ nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng Thánh tại Y-sơ-ra-ên. Chắc chắn việc sẽ xảy ra (6-8). Dân Y-sơ-ra-ên phải mất đến bảy năm trời mới chụm hết những vũ khí của quân thất trận bỏ vương vãi trong xứ (8-10). Mảnh đất an táng Gót sẽ mang tên là Trũng Ha-môn-Gót. Dân cư Y-sơ-ra-ên mất bảy tháng trời để chôn xác chết và tẩy uế đất (11-16).
17-29 Tiên tri Ê-xê-chi-ên cũng phải truyền rao cho chim trời và thú rừng rằng: “Hãy chuẩn bị cho cuộc tế lễ vĩ đại. Các ngươi sẽ ăn thịt và uống máu của các đạo quân này cho đến chừng các ngươi no ứ mà còn thừa mứa (17-20). Các dân sẽ chứng kiến mọi chuyện Ta đã làm. Y-sơ-ra-ên sẽ nhận biết Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ, và các dân sẽ nhận biết họ (Y-sơ-ra-ên) bị lưu đày vì cớ tội lỗi của họ (21-24). Từ chốn lưu đày Ta sẽ đưa Y-sơ-ra-ên về và phục hồi họ, và như thế chứng tỏ Ta là Thánh. Rồi họ sẽ nhận biết Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ. Ta sẽ đổ Thần Ta trên họ” (25-29).
Chú giải. 38:1 Có lẽ Mê-siếc và Tu-banh nằm trong Tiểu Á (so sánh 6). Một trong các con trai của Gia-phết có tên là Ma-gót (Sa 10:2 ISu 1:5) và như vậy Ma-gót là tên của một dân tộc. Từ “Ma-gót” đơn giản có nghĩa là “xứ của Gót”. 38:5 “Cút” - vùng thượng Ai Cập. “Phút” - Li-bi. 38:6 “Gô-me” - một xứ trong Tiểu Á. “Bết-tô-ga-ma” - Ác-mê-ni. Cũng nên ghi nhận là trong số các con trai của Gia-phết trong Sa 10:2 có Gô-me, Ma-gót, Tu-banh, Mê-siếc. 38:12 “giữa thế gian” (trung tâm của đất nước) - Giê-ru-sa-lem (so sánh Exe 5:5). 38:17 “Ấy há chẳng phải là ta đã phán với các ngươi sao...?” - Có thể xem câu hỏi này là một bằng cớ chứng tỏ Gót được dùng trong ý tiêu biểu - ở đây hàm ý là Y-sơ-ra-ên đã được cảnh báo trước về biến cố này. 39:9 “Bảy năm” - số bảy (39:12 - bảy tháng) tượng trưng cho biến cố đã xảy ra xong rồi, đã thật sự xảy ra và hoàn tất. 39:12 “Chân chúng nó đã tẩy sạch đất” - hễ ai đụng vào xác chết là bị ô uế về mặt nghi thức (Dan 19:11). 39:18 “Ba-san” - một vùng phía đông Ga-li-lê nổi tiếng về bầy gia súc giá trị và những cây sồi. 39:25-29 Phần này chưa có ý nói về một cuộc gom dân Y-sơ-ra-ên một lần nữa. Có thể hiểu phần này tóm tắt ý định của Đức Chúa Trời đối với dân của Ngài.
11. KHẢI TƯỢNG VỀ ĐỀN THỜ MỚI VÀ ĐẤT ĐAI MỚI (Exe 40:1- 48:35)
Bài tiên tri này là bài dài nhất trong toàn bộ sách Ê-xê-chi-ên, nằm trong nhóm những bài tiên tri được dẫn nhập với câu “Tay của Đức Giê-hô-va ở trên Ta” (Exe 40:1). Trong những khải tượng này thể xác của tiên tri Ê-xê-chi-ên cảm nhận tác động của Đức Chúa Trời trên mình, trong khải tượng ông thấy ông được đưa đến một nơi khác.
Ông thấy khải tượng này vào khoảng tháng 4/573 T.C. (40:1). Cả Y-sơ-ra-ên lẫn đền thờ đã bị phá hủy hơn 12 năm về trước. Dân Y-sơ-ra-ên bị tản lạc tại nhiều nơi ở ngoại quốc. Cũng có một số được lưu cư tại quê hương tan hoang sống qua chuỗi ngày lầm than đói khổ. Hoàng tộc thì biến mất rồi. Không có tín hiệu gì chứng tỏ họ sắp được phục hồi như xưa.
Giữa tình cảnh đó, tiên tri Ê-xê-chi-ên nhận được khải tượng này. Nội dung khải tượng là một tổng hợp giữa lý tưởng với thực tế. Ông được đưa đi tham quan một đền thờ mới. Ông thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời ngự vào đền thờ và ông nghe Đức Chúa Trời tuyên bố là Ngài sẽ ngự tại đó đời đời. Ông nhìn thấy đền thờ và nghe chỉ dẫn về những quy định liên quan tới vua, các thầy tế lễ, các của lễ đặc biệt và các ngày lễ. Ông quan sát một con sông lạ kỳ tuôn tràn từ phía dưới đền thờ, càng ngày càng to và rộng ra, tưới dẫm đất đai trong xứ, và hồi sinh cho cả Biển Chết. Đất đai trong xứ được phân chia và có ranh giới cụ thể rõ ràng. Bài tiên tri kết thúc với chi tiết hết sức phấn khích vì thành sẽ mang tên là “nơi ngự của Đức Giê-hô-va” (48:35).
Cần nhớ là nội dung trong những chương này là một khải tượng. Bài tiên tri này không phải đơn thuần dạy về những điều mới mẻ, cũng không phải đơn thuần tiên báo những biến cố sắp đến trong tương lai (dù có người tin rằng rồi đây có ngày đền thờ này sẽ được xây dựng). Trái lại, bài tiên tri này là một bài nhắc nhở về tín ngưỡng của dân Y-sơ-ra-ên ngày xưa và trong tương lai phải ra sao.
Bài tiên tri chuyển động từ hình thức miêu tả đến chỉ thị, đến biểu tượng rồi đến khải thị. Xen giữa những chi tiết về kích thước của đền thờ và những quy định dành cho các thầy tế lễ là phần mô tả về sự vinh quang của Đức Chúa Trời ngự vào đền thờ trở lại. Những quy định về của lễ và cách thức phân phối đất đai đan xen. Phần mô tả về con sông lạ kỳ chảy từ ngưỡng cửa đền thờ và hồi sinh đến cả Biển Chết.
Sở dĩ nội dung bài tiên tri đan xen những chi tiết biểu trưng với những chi tiết thực tiễn là có lẽ căn cứ trên sự kiện người Y-sơ-ra-ên ngẫm nghĩ về quá khứ của mình và quyết định thay đổi hiện tại. Khi họ chịu từ bỏ thần của các dân đã chiến thắng trên họ và trở về với niềm tin của tổ tiên thì Y-sơ-ra-ên mới hy vọng nắm được lời hứa về thành Giê-ru-sa-lem.
1. Mô tả khuôn viên đền thờ mới (Exe 40:1-46:24)
(Ex 40:1-49)
1-4 Tiên tri Ê-xê-chi-ên thấy một khải tượng trong đó ông được đưa lên một ngọn núi cao. Một người đàn ông tay cầm thước bảo ông chuyển đạt lại cho Y-sơ-ra-ên những điều ông sẽ trông thấy.
5-16 Ông này đo bức tường bao quanh khuôn viên đền thờ. Rồi ông đi đến cổng hướng đông (cổng ra vào) và đo kích thước của mọi bộ phận liên quan đến cổng. 17-27 Ông đưa tiên tri Ê-xê-chi-ên đi qua cổng vào sân ngoài của đền thờ. Còn hai cổng vào sân nữa, một cổng bắc và một cổng nam, cùng một kích thước như cổng đông. 28-37 Lọt trong sân ngoài là sân trong, cũng có ba cổng nam, đông và bắc, cùng một kích thước như ba cổng vào sân ngoài. 38-43 bên cạnh những cổng vào sân trong là những phòng rửa ráy những con sinh sắp dâng làm của lễ. Trong phòng có bàn và những dụng cụ dùng để giết con sinh. 44-47 Hai phòng khác nữa được phân phối cho các thầy tế lễ đặc trách đền thờ và bàn thờ.
48-49 (40:48-41:4) Toạ lạc ở sân trong là đền thờ và bàn thờ (bàn thờ nằm ngay trước mặt đền thờ). Người đàn ông đưa tiên tri Ê-xê-chi-ên đến cửa chính của đền thờ và đo kích thước của cửa này. Rồi ông đưa tiên tri Ê-xê-chi-ên vào gian trước của đền thờ và đo kích thước của tiền sảnh. Ông đi xa hơn vào gian trong của đền thờ và đo kích thước của phần này. Phần này là nơi chí thánh.
Exe 41:1-4; xem giải nghĩa 40:48-49
5-26 Rồi ông đo cả tường của đền thờ lẫn những phần liên hệ. Đền thờ được xây trên một nền cao, mặt sàn làm bằng gỗ. Trên tường và cửa có khắc hình Chê-ru-bim và cây chà là. Trong gian trước của đền thờ có một cái bàn thờ bằng gỗ. 1-20 Dọc hai bên hông đền thờ, đối diện với sân, có phòng dành cho các thầy tế lễ. Các thầy tế lễ ăn những của lễ rất thánh tại các phòng đó nên các phòng này cũng thánh.
(Exe 43:1-12).
1-11 Ông này đưa tiên tri Ê-xê-chi-ên đến cổng đông. Tiên tri Ê-xê-chi-ên nhìn thấy vinh quang của Đức Chúa Trời tiến đến từ hướng đông đi qua cổng đông và đầy dẫy đền thờ. Tiên tri Ê-xê-chi-ên nghe tiếng Chúa phán rằng: “Đây là nơi đặt ngai của Ta. Ta sẽ ngự ở đây với dân Y-sơ-ra-ên mãi mãi. Họ sẽ không làm ô uế danh Thánh của Ta nữa. Họ hãy từ bỏ tội lỗi rồi Ta sẽ sống với họ đời đời. Hãy mô tả đền thờ cho dân Y-sơ-ra-ên. Nếu họ cảm thấy hổ thẹn về tội lỗi của mình thì hãy mô tả chi tiết sơ đồ của đền thờ và những quy định về đền thờ. Hãy ghi chép những điều này lại để họ tuân thủ một cách kết quả.”
(Exe 43:13-27) Quy định về sự thờ phượng tại đền thờ: Vai trò của vua và thầy tế lễ Sau khi xác định kích thước của bàn thờ Chúa phán bảo về cách thức cung hiến bàn thờ.
(Exe 44:1-31)
1-4 Cổng đông luôn luôn ở tình trạng đóng kín. Tiên tri Ê-xê-chi-ên được đưa ra phía trước đền thờ. Tại đó ông nhìn thấy sự vinh quang của Đức Chúa Trời đầy dẫy đền thờ. 5-9 Không một người ngoại quốc nào được đặt chân vào đền thánh, khác hẳn những hành động gây phàm hoá, tục hoá ngày xưa. 10-16 Người Lê-vi trước kia theo thói tục thờ hình tượng nay được phép phục vụ tại đền thờ, nhưng chỉ có các thầy tế lễ dòng Xa-đốc được phép đến gần Đức Chúa Trời để dâng của lễ. 17-31 Mấy câu này đề ra những quy định về trang phục và hành vi của các thầy tế lễ.
(Exe 45:1-25)
1-9 Các thầy tế lễ phải cư ngụ trong phần đất được biệt riêng cho Chúa. Vua cũng được cấp cho một miếng đất , như vậy vua không còn đàn áp dân Y-sơ-ra-ên để giành giựt sản nghiệp của họ nữa.
10-25 (45:10-46:15) Chúa truyền bảo là phải sử dụng những dụng cụ cân đo chính xác Ngài ấn định vấn đề phân phối của lễ. Ngài đề ra những cách thức cho các thầy tế lễ, vua và dân giữ ngày thánh và ngày lễ.
Exe 46:1-15 xem giải nghĩa 45:10-25
Ex 46:16-18 Vua chỉ có thể lấy phần đất của riêng mình mà cho con cháu hậu duệ của mình.
Ex 46:19-24 Mấy câu này mô tả chỗ nấu nướng và nhà bếp của thầy tế lễ.
2. Đất đai ngoài khuôn viên đền thờ (Exe 47:1-48:35)
(Exe 47:1-12) Sau đó tiên tri nhìn thấy một dòng sông lớn chảy từ đền thờ ra Biển Chết. Nước của Biển Chết nhờ dòng sông này trở nên ngọt, trong veo và có lắm cá, cây ăn trái mọc xum xuê hai bên bờ, nhưng nước ở vùng đầm lầy còn mặn chát.
13-23 Sau đó Chúa mô tả cho tiên tri Ê-xê-chi-ên ranh giới của những lô đất chia cho các chi phái Y-sơ-ra-ên.
(Exe 48:1-35)
1-29 Ngoài ra, còn có phần đất chia cho dòng họ Xa-đốc, dòng Lê-vi đất của thành phố và vùng phụ cận. 30-34 Thành sẽ có mười hai cổng, ba cổng mỗi hướng. Mỗi cổng mang tên một chi phái của Y-sơ-ra-ên. 35 Thành sẽ được đặt tên là “Chúa ngự nơi đây”
Chú giải. 40 “Khải tượng của Đức Chúa Trời” Một cụm từ chỉ về những bài tiên tri mà tiên tri Ê-xê-chi-ên nhận được nội dung qua khải tượng (1:1 8:3). 40:3 “Dây bằng vải” - dùng làm thước dây để đo đạc (so sánh 47:3). 40:6 - 43:17 Tiên tri Ê-xê-chi-ên được đưa đi tham quan đền thờ mới, dù ông không được vào nơi chí thánh, chỉ thầy tế lễ thượng phẩm mới được vào nơi chí thánh (Le 16:1-34 so sánh He 9:7). Exe 43:2 Trong khải tượng này ông thấy vinh quang của Đức Chúa Trời ngự vào đền thờ trở lại. Trong một khải tượng trước (11:22-23) vinh quang của Đức Chúa Trời đã rời khỏi đền thờ. Như vậy, ở đây ngụ ý là Đức Chúa Trời trở lại làm hoà với dân của Ngài. 43:10-11 Hai câu này làm sáng tỏ ý nghĩa của chương 40-48. Dân Y-sơ-ra-ên phải chiêm nghiệm sơ đồ của đền thờ. Nếu họ cảm thấy hổ thẹn về hành vi đã qua của mình, thì hãy khuyến khích họ tuân thủ những luật lệ và quy định kèm theo sơ đồ của đền thờ. Ở đây không xác định rõ là họ phải tái thiết một ngôi đền theo sơ đồ đã phác thảo. 43:19 44:15 Xa-đốc, ông này làm thầy tế lễ trong thời Đa-vít trị vì (IISa 15:24-29). Còn các thầy tế lễ ngoài dòng họ Xa-đốc sẽ bị phạt về những hành vi bất vâng phục của họ trong quá khứ, họ không được thi hành chức vụ tế lễ ở cấp cao nữa - Exe 45:1-48:27 Ở đây đề ra một phương án mới để chia đất cho dân Y-sơ-ra-ên. 47:10 “Ên-ghê-đi” một thành trên bờ phía tây của Biển Chết. Ên Ê-Lam có lẽ nằm về phía bắc Ên-ghê-đi. 48:35 “Chúa ngự ở đây” - lời cuối của sách là tên của thành Giê-ru-sa-lem mới và là niềm hy vọng sáng chói đối với dân sự của Đức Chúa Trời. Không những Ngài ở trong đền thờ, và thành Giê-ru-sa-lem mà bởi Thần của Ngài, Ngài còn ngự trong lòng của mỗi một người thành tâm thờ phượng Ngài trên khắp thế giới, trong mọi thời đại và cho đến đời đời về sau.