DÂN SỐ KÝ

MỤC LỤC

DÂN SỐ KÝ

1. SỰ CHUẨN BỊ ĐỂ ĐẾN ĐẤT HỨA (Dan 1:1-10:36)

Phần đầu tiên của Dân Số Ký là phần tường thuật về sự chuẩn bị cuối cùng của dân Y-sơ-ra-ên trước khi rời Si-na-i đi đến Ca-na-an.  Cần phải đọc mười chương này theo văn mạch của chúng trong Ngũ Kinh.  Dân Y-sơ-ra-ên lưu lại Si-na-i khoảng một năm (Dan 10:11  Xu 19:1).  Đức Chúa Trời lập giao ước với họ (20:1-24:18), và họ chế tạo một cái đền tạm (25:1-31:18  35:1-40:38).  Vào đầu năm thứ hai, nếp sinh hoạt bỗng trở nên sôi động: dựng đền tạm (40:34-38  Dan 7:1), tấn phong các thầy tế lễ (Le 8:1-10:20) và trong suốt mười hai ngày, các chi phái mang lễ vật đến dâng (Dan 7:1-89).  Vào ngày thứ mười bốn, họ giữ Lễ Vượt Qua (suốt bảy ngày, 9:1-14), có đợt kiểm kê dân số và các chi phái được bố trí quanh đền tạm (chương 1-4).  Trong suốt thời gian này Môi-se tiếp nhận các luật lệ (Le 1:1-7:28  11:1-27:34) và tẩy uế trại quân (Dan 5:1-4).  Một tháng hai mươi ngày sau, dân Y-sơ-ra-ên sẵn sàng để lên đường đi đến xứ Ca-na-an (10:11-12).

Trong nội dung của phần này cần chú ý đến những điểm sau đây: đất hứa là mục tiêu của dân Y-sơ-ra-ên ngay lúc họ ra khỏi Ai Cập (Xu 13:11).  Đức Chúa Trời đem họ ra khỏi Ai Cập để đến đất hứa mà phụng sự Ngài (6:6-8).  Sau khi dân Y-sơ-ra-ên phạm tội thờ tượng con bò bằng vàng, Đức Chúa Trời bảo Môi-se đi đến xứ Ca-na-an nhưng không có Ngài cùng đi (33:3).  Nếu Môi-se ra đi vào thời điểm nghiêm trọng đó thì chẳng bao giờ có Lê-vi Ký và Dân Số Ký, dân Y-sơ-ra-ên không có sự chuẩn bị nào, không có đền tạm, không có chức vụ tế lễ cũng không có một điều răn nào.  Tóm lại là họ ra đi ‘không có Đức Chúa Trời’, và vào xứ Ca-na-an (hoặc không vào được) trong tư cách là một dân tộc thường tình.  Việc này bày tỏ rằng những sự chuẩn bị mô tả trong chương 1-10 đều nhắm vào một mục đích, đó là để Đức Chúa Trời có thể ở với dân sự Ngài khi họ rời Si-na-i.  Sự kiện này làm cho dân Y-sơ-ra-ên khác biệt với mọi dân tộc khác.  Thật là một sự rủa sả khủng khiếp đối với dân Y-sơ-ra-ên nếu họ rời khỏi Si-na-i mà không có Đức Chúa Trời họ sẽ chẳng khác gì dân ngoại, là ‘đối tượng của sự thạnh nộ’, ‘ở thế gian không có sự trông cậy và không có Đức Chúa Trời’ (Eph 2:3,12).

Như vậy sự chuẩn bị đã lên đến đỉnh cao.  Trong khi dân Y-sơ-ra-ên rời Si-na-i đi đến Ca-na-an, Môi-se đã tổng kết hoàn cảnh với câu này: ‘Hỡi Đức Giê-hô-va, xin chổi dậy, để kẻ thù nghịch Ngài bị tản lạc, và kẻ ghét Ngài chạy trốn trước mặt Ngài...  Hỡi Đức Giê-hô-va, xin trở lại cùng muôn vàn của Y-sơ-ra-ên’ (Dan 10:35-36).  Đức Chúa Trời đã ở với dân sự Ngài và dẫn dắt họ trong sự đắc thắng để đến xứ mà Ngài đã thề ban cho họ.  Ai nấy đều ngụp lặn trong cảm nghĩ sôi động về sự đắc thắng.

Phần này được viết theo một hướng không hoàn toàn theo thứ tự thời gian.  Bố cục này dựa theo sơ đồ đóng trại ở chương 2.  Trước hết có sự kiểm kê dân số và bố trí thứ tự đóng trại cho dân Y-sơ-ra-ên (chương 1-2), rồi đến người Lê-vi và các thầy tế lễ (chương 7-8) chót hết là sự chuẩn bị cuối rồi khởi hành (chương 9-10).  Cần hiểu những chi tiết trình bày trong phần này nương theo khung dạng căn bản này.

1. Kiểm kê dân số và bố trí thứ tự đóng trại cho dân Y-sơ-ra-ên (kiểm tra dân số lần thứ nhất) (Dan 1:1-2:34)

(Dan 1:1-3). Chúa ra lịnh cho Môi-se kiểm tra dân số. Những lời đầu tiên của sách là ‘Đức Giê-hô-va phán’ cho thấy lời của Đức Chúa Trời hướng dẫn dân sự làm mọi sự để chuẩn bị cho cuộc hành trình (4:49  7:89  9:18-23).  Trong phần dẫn nhập có bàn đến vấn đề sách này gồm có lời của Đức Chúa Trời xen lẫn lời phát biểu của con người.  Hễ dân Y-sơ-ra-ên còn bước đi theo lời Đức Chúa Trời, mọi sự đều tốt đẹp.  Hễ họ bắt đầu lên tiếng thì sự vô tín và bất mãn trong lòng họ lộ ra, dẫn đến rối loạn (11:1-3).  Những chi tiết về Hội Mạc hoặc đền tạm được chép trong Xu 25:1-31:18 và 35:1-40:38 (Dan 4:1-33).  Đây là nơi Đức Chúa Trời ngự giữa dân Ngài (Xu 25:8).

Chúng ta biết rằng khi rời khỏi Ai Cập, họ có khoảng 600.000 người nam cùng với phụ nữ, trẻ em và những người ngoại bang nhập bọn với họ (12:37-38).  Giờ đây đến lúc phải kiểm kê mọi người.  Có một số qui định căn bản cho sự kiểm kê này.  Qui định trước tiên là tôn trọng cơ cấu chi tộc và gia đình.  Chỉ có nam giới trên hai mươi tuổi mới được kiểm kê.  Dường như là đến tuổi hai mươi, họ mới được kể là trưởng thành (3).  Không kiểm kê giới nữ vì họ không có địa vị độc lập.  Trái lại họ thuộc quyền của cha hoặc chồng (chương 30).  Qua điều này chúng ta thấy rõ rằng người đàn ông có quyền trên đàn bà là điều hiển nhiên.  Trẻ em cũng phải ở dưới quyền của cha mẹ.  Xã hội người Y-sơ-ra-ên không phải là một xã hội mà mọi người đều đồng đẳng, chủ trương này hoàn toàn xa lạ với Kinh Thánh.  Giữa đàn ông với nhau, họ phải biết có người lãnh đạo và giữa vòng người Lê-vi, chúng ta thấy có các thứ bậc.  Đức Chúa Trời đòi hỏi dân sự của Ngài phải tôn trọng những khác biệt mà Ngài đã đặt ra giữa họ.  Hội Thánh ngày hôm nay cũng vậy, mỗi chi thể đều có những ân tứ khác nhau theo ý chỉ của Đức Chúa Trời (Ro 12:3-8).  Tuy nhiên chúng ta không nên lợi dụng điều này để bào chữa cho việc áp đặt những sự phân biệt do con người tạo ra chớ không phải do Đức Chúa Trời qui định.

Xu 30:12-16 cho thấy cách thức thực hiện kiểm kê này : khi đã được vào sổ, đương sự kể như bước qua lằn ranh, sung vào hàng ngũ những người đã được liệt kê là dân của Y-sơ-ra-ên (38:25-28).  Đây là một bức tranh rất sống động.  Ở một mức độ nào đó bản liệt kê dân số này tương tự như quyển sách sự sống mà Môi-se có nói đến.  Kinh khủng biết bao nếu bị xoá khỏi danh sách làm dân của Đức Chúa Trời (32:32-33  Thi 69:28).  Kinh Thánh nhắc đến sách sự sống chỉ vài lần.  Về sau sách này được gọi là sách sự sống của Chiên Con.  Hễ ai không có tên trong sách đó thì không được vào nơi Đức Chúa Trời hiện diện, nhưng bị ném ra ngoài đời đời (Kh 13:8  20:11-15).  Hình ảnh dân Y-sơ-ra-ên chuẩn bị vào xứ Ca-na-an tương tự với hình ảnh dân sự của Đức Chúa Trời ngày hôm nay chuẩn bị vào vương quốc không hề lay chuyển.  Tất cả những người ô uế đều bị đuổi khỏi trại quân (Dan 5:1-4).  Cũng vậy, chỉ những người thánh khiết mới được ghi vào sách sự sống và vào thành ở trên trời (Kh 3:5  21:27).  Sự kiểm kê dân số cũng nhắm mục tiêu là thành lập lực lượng quân sự, là công cụ đem dân sự vào sản nghiệp của họ trong đất hứa.  Như vậy việc kiểm kê dân số biểu thị liền ngay mục đích tối hậu của Dân Số Ký, được xác định bởi lời hứa của Đức Chúa Trời.  Từ quân đội cũng có nghĩa là ‘rất đông đúc’ (host), thêm một chi tiết nhắc họ nhớ rằng Đức Chúa Trời vẫn giữ lời hứa của Ngài là gia tăng dòng dõi của Áp-ra-ham.  Dân Y-sơ-ra-ên đông đúc đến nỗi người Ai Cập phải lo ngại.  Lời hứa của Đức Chúa Trời là họ sẽ đông đúc đến mức không thể đếm được.  Như vậy sự kiểm kê dân số cho thấy rằng lời hứa vẫn chưa thành tựu, nhưng làm hình bóng về một cuộc kiểm kê vĩ đại hơn khi mà Đức Chúa Trời gom tất cả dân của Ngài lại (Kh 7:4,9).

(Dan 1:4-16). Thành phần lãnh đạo các chi phái. Những người được chỉ định làm công tác kiểm kê dân số là những người trưởng chi phái, những trưởng tộc (4).  Các chi phái Y-sơ-ra-ên được tổ chức theo đại tộc và gia đình (20).  Đức Chúa Trời bày tỏ Ngài tôn trọng sự trật tự mà Ngài tạo nên khi Ngài chọn thành phần này để thực hiện việc kiểm kê này.  Mặc dù Đức Chúa Trời đối xử với dân sự theo địa vị của họ (thí dụ giáo sự bị xét nghiêm khắc hơn), dầu vậy với sự vô tư tuyệt đối.  Kinh Thánh cảnh cáo rằng Đức Chúa Trời không thiên vị, một sự thật mà một số người đã kinh nghiệm bằng chính mạng sống của họ (chương 16-17  Le 10:1-20).  Trong danh sách những người lãnh đạo có những tên rất hay.  Tên riêng của tám người ghép với từ El, nghĩa là ‘Đức Chúa Trời’ (thí dụ Ê-lít-su có nghĩa là ‘Đức Chúa Trời tôi là vầng đá’), những tên riêng khác ghép với danh Đức Chúa Trời, Shaddai (thí dụ A-mi-sa-đai trong câu 12).  Không có tên riêng nào ghép với danh mà Chúa đã khải thị cho Môi-se nơi bụi gai cháy, nhưng tên riêng của những người ở những thời đại sau này thì có ghép với danh đó thí dụ như Giô-sa-phát (Yeho-shaphat) hặc Giê-rê-mi (Jeremi-Yah).  Danh của Đức Chúa Trời khải thị cho Môi-se trong Xu 3:13-15 trong tiếng Hi Bá Lai viết bằng bốn mẫu tự YHWH.  Vì vậy không rõ cách phát âm của từ này, nên các bản Kinh Thánh đều dịch từ này là Chúa (Lord).  Sự kiện không có một người lãnh đạo nào có tên ghép với danh xưng này chứng tỏ rằng bản danh sách này rất cổ.  Điều đáng chú ý là sau đó những người này đem lễ vật của các chi phái đến Hội Mạc (Dan 7:1-89).

(Dan 1:17-46). Sự kiểm dân số. Tổng số dân lớn đến lạ lùng.  Ngày xưa chỉ có một nhóm bảy mươi người vào Ai Cập (Xu 1:1-5), thế mà con số này đã gia tăng đến mức Pha-ra-ôn phải lo sợ (1:7-9).  Đức Chúa Trời vẫn giữ lời hứa của Ngài là làm cho dòng dõi Áp-ra-ham đông như sao trên trời, không thể đếm được, dù trong thời gian họ phải làm nô lệ với cuộc sống lam lũ, cực nhọc.  Tuy nhiên, đợt kiểm kê dân số lần thứ hai bốn mươi năm sau cho thấy con số này từ 603.550 người giảm xuống còn 601.730 (Dan 1:46  26:51).  Sự kiện này có lẽ hàm ý rằng Đức Chúa Trời không ban phước cho thế hệ gian ác đáng bị huỷ diệt trong sa mạc.  Dầu vậy Đức Chúa Trời không ruồng bỏ họ hoàn toàn, và khi Môi-se nhìn lại lịch sử, ông có thể nhắc họ nhớ rằng: ‘Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã ban phước cho mọi công việc làm của tay người Ngài đã biết cuộc hành trình của ngươi ngang qua đồng vắng lớn lao này.  Trong bốn mươi năm này, Giê-hô-va Đức Chúa Trời vẫn ở cùng ngươi, ngươi không thiếu chi hết’ (Phu 2:7).  Thật vậy, kể từ ngày rời khỏi Ai Cập, họ được nuôi bằng ma-na từ trời ban xuống (Xu 16:35).  Cũng cần chú ý là số dân trong vài chi phái giảm trong khi những chi phái khác thì tăng, nhưng chi phái Giu-đa vẫn đông dân nhất.  Trải qua suốt lịch sử Y-sơ-ra-ên, chi phái Giu-đa được Đức Chúa Trời yêu mến.  Cuối cùng Đấng Mê-si ra đời từ chi phái này (Dan 2:1-34).  Một mẫu câu lặp đi lặp lại nhiều lần cho mỗi chi phái tường trình số liệu của công cuộc kiểm kê.  Đối với mỗi chi phái đều có câu những người này có thể phục vụ trong quân đội.  Đây là một lời nhắc nhở về bổn phận.  Kinh Thánh luôn luôn gắn quyền lợi với nghĩa vụ.  Được vào xứ Ca-na-an là một quyền lợi, nhưng khi mỗi người được ghi danh vào sổ và được sung vào hàng ngũ thì họ biết rằng họ trở thành một người lính (Xu 23:20-33).  Cũng vậy, Hội Thánh trong thời Tân Ước cũng có trách nhiệm trở nên một người lính thuộc linh (Eph 6:10-17  ITi 6:12  He 4:11).  Không có một chi thể nào được miễn khỏi trách nhiệm này.  Con đường đến nước Đức Chúa Trời nhỏ hẹp và khó khăn lắm thay (Mat 7:14).

               Hai đợt kiểm kê dân số

Chi phái                             Kiểm kê đợt I                          Kiểm kê đợt II

(1:20-46)                                 (26:5-51)

Ru-bên                                  46.500                                     43.730

Si-mê-ôn                                59.300                                     22.200

Gát                                        45.650                                     40.500

Giu-đa                                   74.600                                     76.500

Y-sa-ca                                  54.400                                     64.300

Sa-bu-lôn                               57.400                                     60.500

Ép-ra-im                                40.500                                     32.500*

Ma-na-se                               32.200                                     52.700*

Bên-gia-min                          35.400                                     45.600

Đan                                       62.700                                     64.400

A-se                                       41.500                                     53.400

Nép-ta-li                                53.400                                     45.400

Tổng cộng                             603.550                                   601.730

* thứ tự này bị đảo ngược trong đợt kiểm kê thứ hai

Đối với những số liệu lớn như vậy, các học giả đã nêu lên bốn nan đề.

1.  Vấn đề dân số.  Nếu có trên 600.000 người có thể chiến đấu thì toàn thể dân số có thể hơn hai triệu người.  Làm thế nào mà số người này có thể sống sót trong sa mạc bốn mươi năm?  Ngay từ đầu, dân Y-sơ-ra-ên đã phải đối diện với vấn đề thực tế này (Xu 16:3) và trải qua suốt lịch sử, họ luôn luôn nhớ là ma-na được Đức Chúa Trời cung cấp trong thời gian ở sa mạc (Phu 29:5-6  Gi 6:31).  Ngoài ra, khi rời Ai Cập họ còn mang theo rất nhiều gia súc đủ để dâng nhiều tế lễ (Xu 12:32  Dan 32:16  7:1-89), họ uống nước nơi vầng đá và thường di chuyển đến nơi mới.  Họ cũng thu được nhiều chiến lợi phẩm (31:25-54  Xu 17:8-16).

2.  Những chi tiết ghi trong Kinh Thánh vẻ như không nhất quán.  Một số chỗ ghi rằng họ là một dân ít người, ít nhất so với các dân tộc khác (23:29-30  Phu 7:7).  Những câu này không phải chỉ về số dân trong sổ kiểm kê, nhưng chỉ là những nhận định tổng quát để dạy dân Y-sơ-ra-ên biết khiêm nhường - họ không xứng đáng với tình yêu thương của Đức Chúa Trời.  Tuy nhiên, bù lại những câu này thì cũng có những câu khác cho thấy rằng dân Y-sơ-ra-ên là một lực lượng đông đúc (Xu 1:7).

3.  Cả hai con số tổng kết đều những con số tròn, nên vẻ giả tạo.  Bản văn Kinh Thánh cho biết rằng những người đàn ông được kiểm kê đều ‘có thể phục vụ trong quân đội’.  Có thể họ được chia thành nhiều đơn vị và không cần tính số lẻ, nhưng chúng ta đừng vội võ đoán.  Đơn giản là Kinh Thánh không cho chúng ta biết tại sao những con số này lại tròn.  Tuy nhiên, có một điều rất rõ: vào lúc này, Môi-se đã phân bố dân Y-sơ-ra-ên thành những đơn vị một ngàn người, một trăm người, năm mươi người và mười người, có người làm ‘trưởng ngàn người, trăm người, năm mươi người và mười người’ (18:21).  Có lẽ điều này là cách lý giải rõ ràng nhất những con số kết quả sát với số trăm, năm mươi và mười nhất.

4.  Số con trưởng nam tương đối nhỏ.  Có 22.273 con trưởng nam (3:34) trong tổng số 603.550 người nam trưởng thành, tỉ lệ 1/27.  Nếu số con gái tương đương như vậy thì những con số này cho thấy mỗi gia đình có đến năm mươi con hoặc hơn, nhưng chỉ có một ‘con đầu lòng’.  Có nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ vấn đề này.  Thí dụ có ý kiến cho rằng chỉ kiểm kê những người ra đời kể từ Lễ Vượt Qua, hoặc toàn gia bao gồm cả con trai ruột lẫn con trai của người nô lệ ra đời trong nhà và những người đầy tớ được mua bằng tiền (thí dụ toàn thể người nhà của Áp-ra-ham trong Sa 14:14  15:2  17:13 bao gồm tất cả những người này, nhưng chỉ có Y-sác là người thừa kế Áp-ra-ham).  Từ ‘trưởng nam’ dùng để chỉ người con trai sẽ kế tục cha mình vào một thời điểm thích hợp để lãnh đạo toàn gia đình.  Những ý kiến khác đặt nặng chính sách của người Ai Cập giết trẻ sơ sinh nam, nhưng sự kiện này xảy ra nhiều năm trước và vốn đã cũng không làm giảm số lượng dân Y-sơ-ra-ên (Xu 1:22).

Một số người bối rối trước những nan đề hiển nhiên về số dân quá lớn nên họ cho rằng cần có một cách giải nghĩa những con số này chứ không thể hiểu theo nghĩa đen.  Thí dụ từ ‘ngàn’ có thể có nghĩa là một tập thể hoặc một nhóm người chứ không hẳn là 1.000 người.  Tuy nhiên, Xu 38:25-28 không nhất trí với quan điểm này vì Xuất Ê-díp-tô Ký xác quyết tổng số là 603.550 người.  Hơn nữa, trong Dân Số Ký chỗ nào có ghi về số lượng hoặc số đo thì dường như những con số đó đều có tính chính xác và nhất quán về mặt toán học (Dan 3:21-22  31:32-47  35:4-5).  Thế thì có nên hiểu những con số này theo nghĩa đen không?  Nếu không có một bằng chứng nào đủ vững để phản bác thì một khi kiểm kê là phải có những con số theo nghĩa đen.  Không nên đánh giá quá cao bốn điểm phản đối đã nêu ở trên.  Hai điểm đầu không đủ vững chắc để bác bỏ những con số kết quả của những đợt kiểm kê là những con số tròn.  Đặc điểm này có thể thúc đẩy chúng ta tìm cho ra một yếu tố nào đó mà dân Y-sơ-ra-ên vào thời cổ xem là đương nhiên, bình thường mà đến nay chúng ta vẫn chưa nắm được.  Xu 18:21 là bằng chứng.  Điểm thứ tư nêu thắc mắc về tỷ lệ con đầu lòng không tương xứng.  Cũng có thể giải toả trong cùng một chiều hướng như vậy.  Chúng ta phải cẩn thận không nên bác bỏ nghĩa đen của một số liệu chỉ vì chúng ta chưa thể hiểu thấu đáo vấn đề.  Một điều rất rõ ràng.  Kinh Thánh không hề tìm cách làm cho những con số này hài hoà.  Đối với tác giả, điều đó không thành vấn đề.

(Dan 1:47-54). Chi phái -vi. Lê-vi là một trong mười hai con trai của Gia-cốp (Sa 29:34), nổi tiếng về bạo lực (34:25-31  49:5-7).  Sự hung dữ của người Lê-vi vì chính nghĩa đã biệt họ riêng ra làm thầy tế lễ.  Sau khi dân sự phạm tội thờ tượng con bò bằng vàng, họ đã sẵn sàng dùng gươm giết chết 3.000 người bà con của mình (Xu 32:25-29).  Bây giờ việc biệt riêng họ giữ chức vụ tế lễ đã được xác nhận.  Cuộc kiểm kê dân số chừa họ ra, quân đội cũng không tuyển họ.  Thay vào đó, họ lãnh nhiệm vụ phụng sự ở đền tạm.  Đây là một nhiệm vụ trọng đại đến nỗi không được phép giữ thêm nhiệm vụ nào khác nữa.  Sứ đồ Phao-lô đã ứng dụng chính nguyên tắc này cho những người hầu việc trong Hội Thánh Chúa (IITi 2:1-7).  Người Lê-vi không đóng trại chung với những chi phái khác, nhưng đóng trại chung quanh Hội Mạc (53).  Hội Mạc này được gọi là đền tạm chứng cơ (chỉ về những bảng chứng cớ,  Xu 34:29).

Mặc dù dân Y-sơ-ra-ên được gọi là vương quốc thầy tế lễ nhưng không phải tất cả mọi người đều có thể đến gần Hội Mạc.  Chỉ có chi phái Lê-vi được kêu gọi vào nhiệm vụ này.  Bất kỳ người nào khác (tiếng Hi Bá Lai gọi là ‘kẻ xa lạ’ với chi phái Lê-vi) đến gần Hội Mạc thì sẽ bị xử tử (51).  Đức Chúa Trời không bao giờ chấp nhận cho họ quên sự thánh khiết của Ngài.  Dân sự của Đức Chúa Trời phải luôn luôn kính sợ Ngài.  Xem thường Đức Chúa Trời là hết sức dại dột và là một tội lỗi.  Chính vì thế mà họ không được đụng đến núi Si-na-i (19:11-13,21-24) và Môi-se phải cởi giày chỗ bụi gai đương cháy (3:5-6).  Có lẽ chúng ta phải ngạc nhiên vì hầu hết dân Y-sơ-ra-ên đều không được nhìn thấy sự đẹp đẽ trong nơi thánh.  Ngay cả trong thành phần các thầy tế lễ chỉ có thầy tế lễ thượng phẩm mới được vào nơi Chí Thánh mỗi năm một lần (Le 16:2).  Tân Ước đã vận dụng điểm này để chứng minh rằng chức vụ tế lễ thượng phẩm của Đấng Christ cao trọng hơn của A-rôn, Đấng Christ đã mở đường vào tận  thiên đàng.  Dầu vậy, sự kiện này không nhằm loại bỏ lòng kính sợ Đức Chúa Trời, trái lại củng cố lòng kính sợ càng thêm (He 10:19-22  12:18-29).  Tuy nhiên sự biệt riêng chi phái Lê-vi không làm suy suyển số các chi phái.  Hai con trai của Giô-sép là Ép-ra-im và Ma-na-se tạo thành hai chi phái, nên số chi phái vẫn là mười hai.

(Le 2:1-34) Sự bố trí trại quân. Đức Chúa Trời toàn năng quan tâm đến trật tự đóng trại của dân Y-sơ-ra-ên.  Các vị sứ đồ vẫn luôn luôn ghi nhớ rằng Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của sự trật tự chứ không phải sự lộn xộn (ICo 14:33).  Sơ đồ đóng trại dạy chúng ta ba bài học.  Thứ nhất, Hội Mạc ở trung tâm làm hình bóng về sự hiện diện của Đức Chúa Trời giữa dân sự của Ngài.  Đức Chúa Trời vẫn giữ lời Ngài phán với các tổ phụ là Ngài sẽ là Đức Chúa Trời của con cháu họ.  Mọi mắt đều hướng về Ngài.  Đây là chủ đề thường xuyên của Kinh Thánh (Thi 46:5,7,10-11) và là mục tiêu cuối cùng của Kinh Thánh (Kh 21:3,22-23  22:1-5).  Bởi sự nhập thể, Chúa Giê-xu cũng đã ở giữa dân của Ngài.  Giăng đã dùng hình ảnh về sự đóng trại khi ông nói rằng Chúa Giê-xu đóng trại giữa chúng ta (Gi 1:14).  Chúa Giê-xu hứa với các môn đồ Ngài rằng: ‘Ta hằng ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế’ (Mat 28:20).

Bài học thứ hai là sự thánh khiết của Đức Chúa Trời, các chi phái phải giữ một khoảng cách đối với Hội Mạc.  Chúng ta không được biết khoảng cách đó là bao nhiêu nhưng phải đủ rộng cho toàn thể chi phái Lê-vi đóng trại.  Sau này, khi đi qua sông Giô-đanh, dân Y-sơ-ra-ên đi sau hòm giao ước cách một khoảng là 1.000 mét (Gios 3:4).

đồ đóng trại

Bài học thứ ba, phía đông của Hội Mạc là nơi tôn nghiêm, Môi-se và A-rôn đóng trại ở nơi này, đối diện với lối vào (Dan 3:38).  Chi phái Giu-đa đóng trại ở phía đông chứ không phải chi phái Ru-bên là con trưởng nam của Gia-cốp.  Điều này có nghĩa là chi phái Giu-đa dẫn đầu trong cuộc hành trình từ Si-na-i đến Ca-na-an.  Trong cuộc hành trình đó, đền tạm đi sau sáu chi phái đầu, ở ngay chính giữa (17), nhưng hòm giao ước thì lại đi đầu (10:33-36).  Sau khi mô tả sự bố trí trại quân, Kinh Thánh kết luận tóm lược rằng: con số kiểm tra dân Y-sơ-ra-ên là 603.550 người không kể người Lê-vi, và tất cả những điều này đều được thực hiện theo mạng lịnh của Chúa.

Chú giải.  Mười hai chi phái.  Trong Kinh Thánh có nhiều bản danh sách về các chi phái (thí dụ Sa 29:1-30:43  49:1-25  Phu 33:1-29  Gios 13:21  Kh 7:5-8).  Những bản danh sách này đã làm nổi lên nhiều vấn đề đáng lưu ý.  Thí dụ thứ tự thay đổi và đôi khi có một chi phái bị bỏ rơi (như trong 7:5-8 không có chi phái Đan.  Trong thế kỷ thứ hai S.C. Irenaeus đã chú ý đến chi tiết này).  Chúng ta cũng thấy những danh sách khác trong tác phẩm của Josephus, những Cuộn Kinh Thánh ở Biển Chết và một số sách cổ như The Testament of the Twelve Patriarchs cũng có những bản danh sách này.  Khải tượng của Ê-xê-chi-ên về sự khôi phục Y-sơ-ra-ên cũng có một bản danh sách về các chi phái (Exe 48:1-35), và trong Giê-ru-sa-lem mới có mười hai cổng, mỗi cổng mang tên một chi phái (48:30-35  Kh 21:10-21).  Cuộn sách ở Qumran tên là Luật Chiến Tranh (War Rule) cũng có hướng dẫn về việc ‘tung ra cuộc tấn công của các con trai sự sáng chống lại đạo quân của các con trai sự tối tăm’.  Điều này chịu ảnh hưởng của sự tổ chức trại quân.  Trong nhiều phương diện, sự chuẩn bị chiến tranh giống với sự chuẩn bị ở Si-na-i.

Vị trí của chi phái Giu-đa.  Trong bảng kiểm kê dân số, chi phái Ru-bên được liệt kê đầu tiên (Dan 1:20), nhưng Gia-cốp nói rằng Ru-bên sẽ đánh mất niềm tự hào về địa vị của mình và Giu-đa sẽ nhận được sự khen ngợi của anh em mình, và rằng Đấng Mê-si sẽ từ Giu-đa mà ra (Sa 49:4,8-12.  Theo dòng lịch sử, Giu-đa được cất nhắc lên, trại quân của Giu-đa đóng ở phía đông của Hội Mạc.  Khi cung hiến Hội Mạc, chi phái Giu-đa được mang lễ vật trong ngày đầu tiên (Dan 7:12).  Giu-đa là chi phái đầu tiên được lâm trận đánh người Ca-na-an (Cac 1:1).  Giu-đa đã nhận sản nghiệp của mình đầu tiên (Gios 15:1) trong khi sản nghiệp của Ru-bên nằm ở bờ bên kia của sông Giô-đanh.  Vua Đa-vít là người Giu-đa và thành Giê-ru-sa-lem nằm trong lãnh thổ của Giu-đa.  Mười chi phái của Y-sơ-ra-ên đi phu tù vào năm 721 T.C. nhưng Giu-đa thì không (Dan 4:34-39).  Chúa chúng ta xuất thân từ chi phái Giu-đa, là ‘sư tử của chi phái Giu-đa, chồi của Đa-vít’ (Kh 5:5).

2. Kiểm kê dân số và qui định trật tự đặc trưng cho người Lê-vi và các thầy tế lễ (Dan 3:1-4:49)

(Dan 3:1-4). Gia đình A-rôn Môi-se. Chức vụ tế lễ là tiêu điểm quan tâm xuyên suốt Dân Số Ký.  A-rôn và các con trai ông là những thầy tế lễ được xức dầu được lập lên làm chức tế lễ (3), được giữ chức cao nhất trong vòng người Lê-vi (Xu 28:1-29:46  Le 8:1-9:24).  Lửa từ nơi Đức Chúa Trời đã thiêu hoá của lễ đầu tiên của họ, đó là dấu hiệu Ngài công nhận họ (9:23-24).  Về sau Ê-li cũng cầu xin dấu hiệu này để bày tỏ rằng ông thật sự là tôi tớ của Ngài (IVua 18:36-39).  Mặc dù A-rôn và các con trai ông giữ địa vị cao trọng này nhưng Kinh Thánh cũng nhắc chúng ta nhớ rằng hai con trai đầu tiên của ông đã chết khi họ dâng một thứ lửa lạ (Le 10:1-4).  Sự cố này làm cho ai nấy phải lưu tâm tôn trọng uy quyền của Đức Chúa Trời.  Đó là một vấn đề nổi cộm trong Dân Số Ký.

Đức Chúa Trời quyết tâm thiết lập một chức vụ tế lễ có thẩm quyền trong dân Y-sơ-ra-ên.  Trong suốt những năm ở sa mạc, nhiều lần dân sự thách thức Môi-se và A-rôn.  Nhưng lần nào Đức Chúa Trời cũng ủng hộ hai ông và loại trừ những người khác (chương 12,16-18).  Vì tuyệt đối cần phải có quyền hạn của Đức Chúa Trời nên tác giả thơ Hê-bơ-rơ nhấn mạnh rằng chức vụ tế lễ thượng phẩm của Đấng Christ là hợp pháp vì ‘không ai chiếm lấy chức trọng đó cho mình, phải được Đức Chúa Trời kêu gọi như A-rôn ngày xưa’ (He 5:4).  Đấng Christ không tự chỉ định mình, nhưng được Đức Chúa Trời chỉ định một cách hợp pháp mặc dù có một sự thay đổi trong luật pháp vì Đấng Christ không xuất thân từ chi phái Lê-vi (7:12).  Do đó điều tối quan trọng là phải biết Đấng Christ được Đức Chúa Trời chỉ định làm thầy tế lễ thượng phẩm.  Ngoài ra, Đấng Christ còn vượt trội hơn: Ngài được chỉ định kèm theo một lời thề (không giống như A-rôn) và chức vụ tế lễ của Ngài có giá trị vĩnh cữu vì Ngài sống đời đời.

Cái chết của các con trai A-rôn dạy chúng ta thêm một bài học nữa, đó là quyền lợi phát sinh trách nhiệm.  Những người phụng sự Đức Chúa Trời chịu trách nhiệm nhiều hơn dân sự.  Khi hai con trai của A-rôn chết, Môi-se nói: “Ấy là điều Đức Giê-hô-va đã tỏ ra khi Ngài phán rằng: Ta sẽ nhờ những kẻ lại gần Ta mà được tôn thánh và vinh hiển trước mặt cả dân sự” (Le 10:3).  Cũng vậy, Gia-cơ cảnh cáo rằng: ‘Hỡi anh em, trong vòng anh em chớ có nhiều người tự lập làm thầy, vì biết như vậy, mình sẽ phải chịu xét đoán càng nghiêm hơn’ (Gia 1:3).  Do đó Kinh Thánh khuyến cáo rằng trước mặt Đức Chúa Trời, con người ở trong một địa vị nguy hiểm đến tính mạng, vì vậy những tôi tớ của Ngài phải hết sức vâng lời Ngài trong mọi khía cạnh (ISa 15:19  IVua 22:28  Es 6:1-7  Cong 5:1-11  ICo 11:27-34).  Luther có dạy về chức vụ tế lễ của tất cả tín đồ.  Mọi Cơ Đốc nhân đều phải hầu việc Đức Chúa Trời trong đời sống của mình (Ro 12:1-8  IPhi 2:9).  Trong vấn đề này, cần cẩn thận phân biệt vì Kinh Thánh vẫn không phủ nhận là thành phần rao giảng Tin Lành và lãnh đạo phải là người được kêu gọi và chỉ định rõ ràng.  Họ vẫn phải hết lòng phụng sự Ngài theo đường lối Ngài truyền dạy (Ro 10:15) để tránh khỏi bị lên án là ‘Ta chẳng sai những tiên tri này, mà chúng nó đã chạy Ta chẳng phán với, mà đã nói tiên tri’ (Gie 23:21).  Trường hợp tồi tệ hơn là những người tự xưng mình là những người hầu việc Chúa nhưng họ lầm, họ không được kêu gọi hoặc chỉ định.  Họ sẽ lãnh một cái án như: ‘Ngày đó sẽ có nhiều người thưa cùng Ta rằng: “Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn danh Chúa mà nói tiên tri sao? và lại nhơn danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao?  nhơn danh Chúa mà trừ quỉ sao?”  Khi ấy, Ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng:  “Hỡi kẻ làm gian ác, Ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi Ta”’ (Mat 7:22-23).

(Dan 3:5-10). Người -vi được giao cho A-rôn. Toàn thể chi phái Lê-vi đều phải phụ tá A-rôn trong việc phục vụ đền tạm.  Đây là một hướng điều phối rất thiết thực, vì cần phải có nhiều người di chuyển đền tạm và các vật dụng liên quan đến đền tạm.  Giữa các thầy tế lễ (gia đình A-rôn) và người Lê-vi (10) có sự phân biệt.  Chỉ có thầy tế lễ mới được phép đến gần nơi thánh, bất kỳ người nào khác đến gần nơi thánh sẽ chết.  Thứ bậc này nhằm tôn cao sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.  Khi một số người Lê-vi khích bác mạng lịnh nghiêm khắc này, họ đã mất mạng (Dan 16:1-33).  Trong giai đoạn đầu của thời Tân Ước, các sứ đồ đã chỉ định bảy người phụ giúp họ, về sau gọi là chấp sự (Cong 6:1-15).  Do đó người ta thường so sánh trưởng lão và chấp sự với thầy tế lễ và người Lê-vi.  Thân phận và đời sống của người Lê-vi được gói trọn trong câu 9.

(Dan 3:11-13). Người -vi thay cho những con đầu lòng. Mặc dù người Lê-vi được giao cho A-rôn và các con trai của ông, nhưng họ vẫn thuộc về Chúa.  Theo luật thì con đầu lòng (và hoa quả đầu mùa) thuộc về Chúa (13).  Vào đêm Vượt Qua, Đức Chúa Trời tuyên bố rằng con đầu lòng thuộc về Ngài (Xu 13:1-6).  Bây giờ người Lê-vi thay cho con đầu lòng.  Có thể qui định này nhằm góp phần xây dựng sự thờ phượng trên bình diện quốc gia dân tộc thay vì tại gia như trước.  Trong thời các tổ phụ, người đứng đầu gia đình (như Nô-ê, Gióp) đóng vai trò một thầy tế lễ của gia đình (Sa 8:20  Giop 1:5), có lẽ đến lúc nào đó, con đầu lòng sẽ kế tục họ.  Bây giờ dân Y-sơ-ra-ên đã trở thành một dân tộc, mặc dù một số lễ lược tôn giáo vẫn còn được tổ chức trong phạm vi gia đình (như Lễ Vượt Qua), nhưng đã đến lúc cần tổ chức cuộc thờ phượng cách thống nhất ở một đền thánh (so với Phu 12:5-14).

(Dan 3:14-39). Đợt kiểm người -vi lần thứ nhất. Người Lê-vi gồm có ba tộc: Ghẹt-sôn, Kê-hát và Mê-ra-ri, mỗi tộc đều có những chi tộc.  Mọi người nam, từ một tháng tuổi trở lên đều được vào danh bộ để tính một người Lê-vi thay cho một người con đầu lòng Y-sơ-ra-ên (40-51).  Nơi đây chỉ trình bày tóm tắt nhiệm vụ của mỗi chi tộc, trong phần sau có những chỉ dẫn chi tiết hơn (Dan 4:4-33).

Vị trí đóng trại cũng được ấn định cho người Lê-vi.  A-rôn và các con trai của ông phải đóng trại đối diện với cửa đền tạm về phía đông.  Họ là những thầy tế lễ và không có một người nào khác được phép đến gần nơi thánh (c.38).  Trong số người Lê-vi, họ Kê-hát có những nhiệm vụ thiêng liêng nhất.  Lãnh đạo họ là tộc trưởng Ê-lê-a-sa (tiếng Hi Bá Lai gọi là ‘vua của các vua’, c.32).  Sau này ông trở thành thầy tế lễ thượng phẩm thay cho A-rôn (20:26-28).  Những người Lê-vi khác do Y-tha-ma lãnh đạo (4:28,33).  Tổng số ba họ của người Lê-vi lên đến 22.300 chứ không phải 22.000 (c.39).  Tuy nhiên, 22.000 không phải là một con số tròn vì nếu tương xứng với 22.273 người con đầu lòng thì vẫn còn thiếu 273 người (c.43).  Nhiều học giả chấp nhận là có sự sai sót nhỏ trong bản văn, có lẽ đã xảy ra rất sớm qua việc sao chép các thủ bản tiếng Hi Bá Lai vì sót mất một mẫu tự Hi Bá Lai là ‘l’ (tức là sh-l-sh là ‘số ba’ đã trở thành sh-sh ‘số sáu’), vì vậy con số 8.300 người thuộc họ Kê-hát đã bị đổi thành 8.600 người.

(Dan 3:40-51). Sự kiểm dân số chuộc con đầu lòng. Số con đầu lòng nhiều hơn người Lê-vi là 273 người.  giá chuộc mỗi người là năm siếc-lơ bạc, tương đương với tiền công của một người lao động trong khoảng sáu tháng.  Việc chuộc bằng tiền là một tập tục phổ biến (Le 25:1-55).  Giá này được xác định bằng quả cân chính thức siếc-lơ nơi thánh (47 so với Xu 30:13).  Có lẽ các thầy tế lễ có một quả cân chuẩn trong nơi thánh để bảo đảm các đơn vị cân đo lường cho đúng (Le 19:35-36).  Yêu thương người lân cận trong thực tế đã đi vào niềm tin của người Y-sơ-ra-ên: ‘Cây cân giả lấy làm gớm ghiếc cho Đức Giê-hô-va nhưng trái cân đúng được đẹp lòng Ngài’ (Ch 11:1  16:11  20:23  Exe 45:10).  Điều lệ của người Methodist thuộc Calvin (Calcinistic Methodists) hoặc người Trưởng Lão Xứ Wales (được thông qua năm 1823), đã đưa ra cùng một nguyên tắc này cho các thành viên của họ: ‘Phải là người ít lời trong việc mua bán...  Không được lợi dụng sự không biết của người khác để định hai mức giá cả cho một món hàng, nhưng trong mức độ họ nhận biết giá trị của món hàng và tình hình thị trường, họ sẽ bán hoặc bằng lòng bỏ tiền mua các thứ hàng hoá với giá tương xứng’ (XIV).  Người Lê-vi được giao cho A-rôn nên số tiền chuộc cũng được giao cho A-rôn và các con trai ông.

(Dan 4:1-33). Nhiệm vụ của người -vi. Người Lê-vi từ ba mươi tuổi đến năm mươi tuổi đều phải nhận công tác và ghi danh vào sổ.  Từ công tác (4), có thể có nghĩa là đánh trận, công việc nặng nhọc hoặc những thử thách.  Do đó giới hạn tuổi tác là chuyện thực tiễn, những người đầy tớ của Đức Chúa Trời có thể thích hợp với nhiệm vụ của họ.  Vì người Kê-hát có nhiệm vụ coi sóc những vật trong nơi chí thánh (Dan 3:31) nên bây giờ họ được đặt trước người Ghẹt-sôn.  Có những chỉ dẫn chi tiết dạy họ cách thức bảo toàn hòm Bảng Chứng (bức màn luôn luôn che phủ hòm giao ước hoặc trùm lên hòm giao ước khi di chuyển), bàn bánh trần thiết, chân đèn và bàn thờ bằng vàng.  Tất cả những món này cùng với những vật dụng liên quan và bình chậu đều bằng vàng.  Trước khi người Kê-hát vào Nơi Chí Thánh để khiêng hòm giao ước, A-rôn và các con trai của ông phải dùng những tấm vải nhiều màu phủ các vật này lại.  Ngay cả khi di chuyển trại, người Kê-hát cũng không được phép nhìn hoặc đụng đến những vật thánh này kẻo mất mạng (15,20).

Tóm lược trách  nhiệm của người -vi

Họ Ghẹt-sôn                                  Họ Kê-hát                                           Họ Mê-ra-ri

(3:21-26)                                       (3:27-32)                                             (3:33-37)

Y-tha-ma lãnh đạo                         Ê-lê-a-sa lãnh đạo                                Y-tha-ma lãnh đạo

Đền tạm và trại:                             Nơi thánh: hòm, bàn,                          Đền tạm và sân ngoài:

những tấm phủ,                             chân đèn, bàn thờ,                               khung, xà ngang, cột,

màn, dây thừng.                            những vật dụng liên                            đế, móc và dây.

                                                      quan, bức màn ngăn

                                                      nơi Chí Thánh.

Những tấm màn phủ các vật thánh này có màu sắc rất ý nghĩa.  Đó là màu xanh da trời, có lẽ nhắc họ nhớ đến sự hiện diện của Đức Chúa Trời.  Khi Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài cho thành phần lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên tại núi Si-na-i, chúng ta đọc thấy rằng: ‘Môi-se và A-rôn, Na-dáp và A-bi-hu cùng bảy mươi trưởng lão Y-sơ-ra-ên đều lên núi, ngó thấy Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên dưới chân Ngài có vật giống bích ngọc trong ngần, khác nào như sắc trời thanh quang’ (Xu 24:9-10).  Chọn màu xanh cho tấm vải này

đồ đền tạm

cũng vì mục đích thực tiễn, đó là để phân biệt những khí dụng chí thánh với những món khác được phủ bằng vải đỏ điều hoặc đỏ sặm (Dan 4:8,13).  Chỉ thoáng thấy là ai nấy đều biết dưới lớp phủ màu xanh có cái gì.  Bất cứ ai nhìn hoặc đụng chạm vào sẽ không được tha thứ mà chắc chắn phải chết.

Những chỉ dẫn dành cho người Lê-vi nhằm dạy họ biết tôn kính Đức Chúa Trời.  Mỗi người đều phải thực hiện nhiệm vụ qui định cho mình và không được vượt quá quyền hạn đó.  Đức Chúa Trời sẽ được vinh hiển và kính giữa vòng những người hầu việc Ngài.  Đôi khi có người thắc mắc như sau: ‘Làm thế nào điều này có thể hoà hợp với tình yêu thương của Đức Chúa Trời?  Vì sao những điều đáng sợ này ngày nay không còn xảy ra?’  Hơn thế nữa, họ còn đặt vấn đề như sau: ‘Phải chăng Cựu Ước không được hoàn chỉnh?’  ‘Có thể nào Đức Chúa Trời này cũng chính là Đức Chúa Cha của Đức Chúa Giê-xu Christ chúng ta không?’  Những thắc mắc này biểu lộ sự hiểu biết sai về bản tánh của Đức Chúa Trời.  Cả Cựu Ước lẫn Tân Ước đều hoàn toàn nhất quán với nhau: Đức Chúa Trời là đám lửa tiêu diệt, không nên coi thường Ngài (Cong 5:1-11  Ga 6:7  He 12:29).  Mặc dù Đức Chúa Trời yêu thương và tha thứ cách không giới hạn, nhưng Ngài vẫn không cho phép con người coi thường Ngài.  Sự vinh hiển của Ngài là chuyện hàng đầu, sự lợi ích cho con người ở hàng thứ hai.  Chính nhờ phép lạ của ân điển Ngài mà cả hai điều này mới được đáp ứng thoả đáng trong công tác của Đấng Christ.  Trong bộ tiểu sử của tiến sĩ Martyn Lloyd-Jones, quyền hai, do Iain Murray viết, có một bài bình luận lý thú về vấn đề này (I.H. Marray, David Martyn Lloyd-Jones.  The Fight of Faith (1939-1981) (The Banner of Truth Trust, 1990, quyển hai, trang 319).  Sứ điệp này làm cho những ai yêu Chúa phải mừng rỡ cách run rẩy (Thi 2:11).  Và sau đây là bài học thứ hai.  Khi ân tứ của Đức Chúa Trời ban cho dân sự Ngài đúng như Ngài dự liệu thì mọi ân tứ đều có giá trị.  Mỗi ân tứ hoạt động đúng trong vị trí của mình thì có thể phục vụ cho toàn thể.  Sứ đồ Phao-lô đã nhấn mạnh điều này cho Hội Thánh Cô-rinh-tô.  Hội Thánh giống như một thân thể có những chi thể khác nhau sẽ giúp đỡ lẫn nhau và mọi chi thể đều cần thiết (ICo 12-14  Eph 4:7-16).

(Dan 4:34-49). Hoàn tất cuộc kiểm . Tổng số người Lê-vi được chỉ định để phụng sự là 8.580 người.  Nhiệm vụ chính là di chuyển đền tạm và các vật dụng của đền tạm.

Chú giải.  Thế hệ đầu tiên trong chi phái Lê-vi dành trọn cuộc đời làm theo những điều chỉ dạy này khi họ đi qua sa mạc.  Tuy nhiên sau khi dân Y-sơ-ra-ên định cư trong xứ Ca-na-an, vai trò của họ được nâng cao.  Họ sống rải rác trong khắp nước (Dan 35:6-34).  Khi Giê-ru-sa-lem trở thành nơi toạ lạc cố định cho đền tạm (sau này là đền thờ), thì những chi tộc người Lê-vi nhận nhiệm vụ mới.  Đa-vít giao cho họ nhiệm vụ về âm nhạc và những nhiệm vụ khác các thầy tế lễ thuộc dòng A-rôn vẫn dâng của lễ (ISu 6:31-49).

3. Cung hiến trại quân Y-sơ-ra-ên (Dan 5:1-6:27)

Hai chương này chép một nhóm những luật đầu tiên của Dân Số Ký.  Thoáng nhìn qua, các luật này có vẻ hoàn toàn khác nhau và không liên quan gì đến với nhau: bịnh ngoài da, tội lừa đảo, tà dâm, lời hứa nguyện Na-xi-rê, và sự chúc phước của thầy tế lễ.  Tuy nhiên, những luật này có liên quan với nhau bởi một chủ đề chung và chúng hoàn toàn phù hợp với văn mạch.  Chủ đề chung là sự phân cách khỏi những điều ô uế để biệt riêng cho Chúa hầu cho toàn thể dân Y-sơ-ra-ên có thể nhận được phước hạnh của Ngài.  Giờ đây đã kiểm kê xong dân Y-sơ-ra-ên và các thầy tế lễ, và ổn định vị trí đóng trại, họ phải thực hiện bước tiếp theo: phải tẩy uế trước khi nhận được phước hạnh và sự hiện diện của Đức Chúa Trời.  Biệt riêng dân Y-sơ-ra-ên có hai giai đoạn.  Trước hết phải tẩy uế toàn bộ trại quân (chương 5-6), sau đó là cung hiến đền tạm và tấn phong các thầy tế lễ (chương 7-8).  Những luật này (Dan 5:1-6:27) nhấn mạnh rằng tẩy uế và tận hiến hoàn toàn theo yêu cầu thì phước hạnh lớn sẽ đến.

(Dan 5:1-4). Trục xuất những người ô uế. Phần này tóm lược vấn đề chính của chương 5-6: toàn thể trại quân phải được tinh sạch để Chúa hiện diện.  Vấn đề tinh sạch đã được nói rõ từ lúc đầu trong khi dân Y-sơ-ra-ên mới đến núi Si-na-i (Xu 19:10,14-15).  Những luật này được đưa ra để giải thích những điều gây ra ô uế, thí dụ bịnh lây nhiễm ngoài da (Le 13:1-14:57), những bài tiết của thân thể (15:2-25) và việc đụng đến xác chết (11:39  21:1-4).  Theo truyền thống bệnh lây nhiễm ngoài da được xem là bệnh phung, nhưng các học giả hiện đại cho rằng đó là bệnh vảy nến hoặc một chứng bệnh tương tự.  Thú vật cũng có loại sạch và không sạch, và chỉ được ăn những thú vật sạch (11:1-47  Cong 10:9-16,28-29).   ‘Tinh sạch’ và ‘không tinh sạch’ là những thuật ngữ thích hợp để biểu thị sự thánh khiết và ô uế thuộc linh.  Do đó sự thánh khiết của Đức Chúa Trời đòi hỏi phải có sự tinh sạch, hầu cho họ không làm trại quân bị ô uế, là nơi Ta ngự giữa họ (3).  Chúng ta nên lưu ý rằng lệnh này có tính cách toàn diện: trong câu 2, theo tiếng Hi Bá Lai, từ ‘hết thảy’ được lặp lại ba lần - (bản RSV dùng từ ‘mọi’ (every) - nhưng bản dịch NIV không dùng từ này.

Cái vực phân cách thánh khiết và ô uế vẫn tồn tại trong toàn cõi vũ trụ.  Hai thế lực của sự sáng và sự tối tăm, nước thiên đàng và vương quốc của kẻ ác vẫn đối nghịch với nhau.  Giao ước với Áp-ra-ham phân biệt dân tộc thánh với những dân tộc ô uế là những dân xa lạ với giao ước của lời hứa, không có Đức Chúa Trời và không có hi vọng trong thế giới.  Sự phân cách giữa hai vương quốc này bắt đầu ở Sa 3:1-24 (Đức Chúa Trời đã đuổi A-đam và Ê-va ra khỏi Ê-đen vì sự ô uế của tội lỗi) và cuối cùng ‘Không có sự ô uế nào được vào’ Giê-ru-sa-lem mới (Kh 21:27).  Do đó Dan 5:1-4 là một lời khuyến cáo nghiêm trọng trước đối với những người còn ở trong tội lỗi về sự khai trừ cuối cùng vào thời kỳ tận thế (Mat 25:4  IITe 1:9-10).

Việc trục xuất những người mắc các chứng bệnh này ra khỏi trại quân Y-sơ-ra-ên có vẻ như là quá tàn nhẫn và thiếu yêu thương.  Tuy nhiên nhờ việc này, chúng ta học biết rằng Đức Chúa Trời sẽ không hạ thấp tiêu chuẩn của Ngài cho hợp tình hợp lý của con người.  Chắc chắn Ngài rất đau xót về sự yếu đuối của chúng ta, nhưng Ngài chẳng bao giờ vì vậy mà hạ thấp tiêu chuẩn của Ngài.  Ngài luôn luôn duy trì đúng mức sự thánh khiết và sự công bình của Ngài.  Ngài chẳng bao giờ chấp nhận cho những người bất khiết được tương giao với Ngài (IGi 1:5-7).  Họ phải quan tâm trên hết đến sự uy nghi của Đức Chúa Trời và sự uy nghi đó đòi hỏi họ phải loại bỏ những người ô uế.  Làm thế nào mà sự thánh khiết tuyệt đối của Đức Chúa Trời lại có thể hài hoà với lòng thương xót của Ngài đối với tội nhân là những người đáng thương, những người bị hất hủi?  Đức Chúa Trời bày tỏ lòng thương xót đó bằng cách ban cho con người giải pháp làm sạch sự ô uế và nhờ đó họ không còn bị loại nữa.  Giải pháp đó là Đấng Christ.

Một nguyên tắc khác xuất hiện từ việc này.  Đó là phải đặt quyền lợi của toàn dân trên quyền lợi cá nhân.  quyền lợi của một số cá nhân không được phép phương hại đến tương lai của dân tộc.  Nếu những người ô uế không bị đuổi ra ngoài thì toàn thể dân Y-sơ-ra-ên đều bị ô uế và Đức Chúa Trời chẳng bao giờ ngự giữa họ.  Đây là một bài học cho Hội Thánh ngày nay để không dung dưỡng sự bất khiết.  Hội Thánh không nên dung dưỡng những điều xấu xa gian ác, cũng không chứa chấp tội lỗi của những nhóm người cứ khăng khăng theo con đường của mình mà có lẽ núp bóng dưới sự yêu thương giả dối!

Chú ý là người ngoại bang bị xem là ô uế nhưng Tân Ước không liệt họ là những người ô uế nữa.  Sự hiện thấy của Phi-e-rơ có ý nghĩa là giờ đây có thể đưa người ngoại bang vào Hội Thánh (Cong 10:1-48).  Phao-lô nói rằng con cái của một gia đình chỉ có cha hoặc mẹ tin Chúa vẫn được xem là tinh sạch (ICo 7:14).  Người Do-thái cũng như ngoại bang đều nhờ Đấng Christ màđược tinh sạch (He 9:11-14).  Ngài đã bị đóng đinh ‘ngoài trại quân’ vì mục đích này (He 1:12-14).

(Dan 5:5-10). Sự xưng tội bồi thường thiệt hại. Họ phải trả lại vật đã ăn cắp (so với Le 6:1-7) và bồi thường thêm một phần năm giá trị của vật đó.  Ý tưởng sâu xa ở đây là vật bị ăn cắp làm ô uế người giữ nó.  có thể đưa ra hai cách giải thích về điều này.  Thứ nhất mạch văn liên kết sự bất trung với sự ô uế (12-31), thứ hai có trường hợp như A-can là người trở nên ‘đáng diệt’ vì đã lấy những ‘vật đáng diệt’ (Gios 7:1-26).  Đoạn này không bàn đến những hậu quả của tội ăn cắp, nhưng chắc chắn là những hành vi đó sẽ gây ra nhiều sự sứt mẻ trong dân của Đức Chúa Trời và phá hoại sự yên ổn của họ.  Sau này tiên tri Ê-sai mô tả tình trạng này là sự ô uế của những vết thương đang rỉ máu (Es 1:5-6).  Ở đây Dân Số Ký tập trung vào tính cách của hành động không trung tín với Chúa chứ không phải chỉ với con người.  Cần hiểu tính cách thuộc linh trong tội lừa đảo và ăn cắp.  Người nào ăn cắp của anh em mình là lấy đi phần mà Đức Chúa Trời đã ban cho người đó, không tin rằng Đức Chúa Trời nhân từ sẽ cung cấp cho mình vào những lúc có cần và làm cho mình được giàu có bởi lòng rộng lượng của Ngài.  Thái độ vô tín này dẫn đương sự đến chỗ ghét anh em mình và thèm muốn những vật sở hữu của người đó rồi lén lấy đi.  Hành vi này cũng phơi bày tấm lòng đương sự ra, đương sự yêu mến vật chất thay vì kính mến Đức Chúa Trời.  Càng phân tích càng thấy rõ chiều sâu tội lỗi này trong lòng của người ăn cắp.  Cuối cùng chúng ta có thể nhắc lại lời Chúa Giê-xu dạy rằng nếu giữa dân của Chúa có những điều sai trái chưa giải quyết được thì Đức Chúa Trời không nhận của lễ mà họ dâng lên (Mat 5:23-24).  Chú ý là thầy tế lễ có nhiệm vụ giải quyết tội lỗi này và yêu cầu đương sự phải xưng tội.

(Dan 5:11-31). Người vợ bị nghi ngờ không chung thủy. Đây là một trường hợp nứt rạn khác trong đức tin, vi phạm này xảy ra giữa vợ chồng.  Trong trường hợp này người chồng nghi vợ mình phạm tội gian dâm tức là sự không chung thuỷ gây nên sự bất khiết, phá hoại mối tương giao với Đức Chúa Trời.  Nếu có người làm chứng, người phạm tội bị xử tử (Sa 20:3  Le 20:10  Phu 22:22).  Nhưng nếu không có người làm chứng thì không thể căn cứ vào sự nghi ngờ mà kết án.  Nếu có sự nghi ngờ thì phải giao trường hợp đó cho Đức Chúa Trời là Đấng biết hết mọi sự.  Thầy tế lễ phải thực hiện một nghi lễ bảo bị cáo tỏ ý nhận lấy một lời rủa sả.  Lời đáp A-men của bị cáo có nghĩa là ‘Nguyện điều đó thành tựu cho tôi’ (Phu 27:14-26).  Nếu có phạm tội, người phụ nữ gánh chịu sự rủa sả.  Bản RSV dịch câu 21 là ‘Chúa sẽ làm cho người trở nên một sự ghen ghét và một lời nguyền rủa giữa dân sự ngươi’.  Nghi lễ thực hiện trong câu 23-28 hàm ý rằng bị cáo là một hiện thân của sự rủa sả - thầy tế lễ viết lời rủa sả trên một giấy da, rồi rửa cuộn giấy cho sạch mực rồi cho bị cáo uống nước rửa đó.  đây không phải là phép thuật, còn trong mực cũng không có chất độc.  Cuộn giấy viết là một cuộn da, còn mực làm bằng muội đèn hoặc bồ hóng hoà trong nước có chất keo đây là những vật liệu dễ tìm thấy trong sa mạc.  Lời rủa sả này có hiệu lực vì được công bố trước mặt Chúa (16), là Đấng biết trong lòng, và nếu bị cáo thật sự có phạm tội, Ngài sẽ khiến cho lời rủa sả thành sự thật đối với bị cáo.

Chú giải.  Ngôn từ dùng trong câu 23 giúp chúng ta hiểu ý nghĩa của những đoạn Kinh Thánh được viết sau này.  Chúng ta thấy có câu này ‘Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã nên sự rủa sả vì chúng ta’ (Ga 3:13).  Mặc dù không hề phạm tội, Ngài vẫn mang lấy sự rủa sả trên thân thể Ngài.  Cũng vậy Ê-sai tiên tri rằng Tôi tớ của Đức Giê-hô-va sẽ làm ‘giao ước cho dân này’ (Es 42:6  49:8).  Vì người tôi tớ này là hiện thân của giao ước nên Phao-lô tin chắc rằng tất cả những lời hứa của Đức Chúa Trời đều được xác nhận ‘trong Đức Chúa Giê-xu Christ’ (IICo 1:20).

(Dan 6:1-21). Lời hứa nguyện Na-xi-. Lời hứa nguyện Na-xi-rê là một lời hứa nguyện đặc biệt (2) tức là một lời hứa hết sức khác thường không được xem nhẹ.  Kinh Thánh thừa nhận rằng lời hứa nguyện này chỉ kéo dài trong một khoảng thời gian có hạn.  Có ba dấu hiệu về sự biệt riêng của người Na-xi-rê: kiêng cử rượu và những sản phẩm làm từ nho (3-4).  (Sau này dân Y-sơ-ra-ên phạm tội cho người Na-xi-rê uống rượu (Am 2:11-12), không được đụng đến xác chết (6-8) và không được hớt tóc (5).  Hai qui định đầu tương tự như những qui định dành cho thầy tế lễ trong thời gian phục vụ.  Các thầy tế lễ không được uống rượu vì họ sẽ không còn sáng suốt để tuân thủ luật pháp và giảng dạy luật pháp (Le 10:6-11).  Thậm chí thầy tế lễ thượng phẩm cũng không được vào chỗ đặt xác chết dù là xác của cha hoặc mẹ mình, còn các thầy tế lễ thường có thể chăm sóc cho người thân thuộc của mình (21:1-4,11).  Không hớt tóc là một dấu hiệu riêng biệt của người Na-xi-rê và là dấu hiệu tượng trưng cho Đức Chúa Trời (7).  Từ ‘Na-xi-rê’ có liên quan đến một từ Hi Bá Lai là nèzer, có hai ý nghĩa: ‘lời hứa nguyện’ và ‘vương miện’.  Do đó bản Kinh Thánh tiếng Hi Bá Lai viết rằng: nèzer của Đức Chúa Trời ở trên đầu ngươi.  Câu này có thể chủ ý muốn nói rằng tóc dài dùng làm dấu hiệu cho lời hứa nguyện (nèzer) tương tự như một vương miện (nèzer).  Nếu lời hứa nguyện bị vi phạm (tức là nếu có người nào đó ‘chết trên người’) thì đương sự phải nộp phạt và bắt đầu lại từ đầu (9-12).  Khi thời kỳ biệt riêng kết thúc, người Na-xi-rê phải cạo đầu và đốt tóc mình trong lửa của của lễ thù ân (13-21).  Sam-sôn là một người Na-xi-rê từ lúc ra đời (Cac 13:1-25 so với 16:17-20) và dường như Phao-lô cũng có lần hứa nguyện tương tự (Cong 18:18  21:20-26).  Ngoại trừ chức vụ thầy tế lễ, Na-xi-rê là hình thức biệt riêng cao nhất cho Chúa.  Người Na-xi-rê là biểu tượng về sự tận hiến của dân Y-sơ-ra-ên cho Đức Chúa Trời.  Luật pháp dạy rõ là phải làm cho trọn những lời hứa nguyện (Phu 23:21-23  Cac 11:30-39  Thi 56:12  65:1  116:18 so với Mat 5:33-37).

(Dan 6:22-27). Lời chúc phước của thầy tế lễ. Lời chúc phước này đặt rất đúng vị trí trong sách.  Dân Y-sơ-ra-ên đã ổn định trong trật tự và biệt riêng cho Chúa, bây giờ Đức Chúa Trời ban phước hạnh cho họ sau khi họ vâng lời.  Lời chúc phước không phải là một lời sáo rỗng trên môi miệng nhưng chứa nhiều ý nghĩa.  Lời chúc phước này được chia làm sáu phần.

1.  Đức Giê--va ban phước cho ngươi  Phước gói trọn những quyền lợi của giao ước mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho dân Ngài (Phu 28:1-14).  Những người con trai đương nhiên nhận được sự chúc phước của cha (thí dụ Sa 27:27-29,38  49:1-28).  Đức Chúa Trời ban phước cho A-đam, Lu-ca gọi ông là ‘con của Đức Chúa Trời’ (1:28  5:1-3  Lu 3:38).  Vì A-đam sa ngã nên mới có rủa sả (Sa 3:14-10) nhưng phước này được hứa lại cho Áp-ra-ham và dòng dõi ông (12:1-3).  Phước này mang đến nhiều kết quả (hậu duệ, bầy súc vật, mùa màng), nhưng những quyền lợi này chỉ là những dấu hiệu của một phước hạnh thật, đó là sự tương quan với Đức Chúa Trời.  Chỉ khi nào Đức Chúa Trời là cha của chúng ta thì chúng ta mới thật sự được ban phước (17:16  22:17-18  Le 26:3-13  Phu 28:2-14).

2.  Phù hộ ngươi  Mục đích của sự bảo vệ là để giữ dân Y-sơ-ra-ên trong mối quan hệ giao ước với Đức Chúa Trời.  Chúa là Đấng giữ gìn Y-sơ-ra-ên (Thi 121:7-8 so với He 13:6).  Đấng Christ, Đấng chăn chiên hiền lành, đã giữ gìn bầy chiên của Ngài không để mất một con nào ngoại trừ Giu-đa Ích-ca-ri-ốt (Gi 6:37-40  10:11-16 18:9).

3.  Đức Giê--va chiếu sáng mặt Ngài trên ngươi  Mặt Chúa nghĩa là sự hiện diện của Ngài, được biểu thị qua đám mây bằng lửa (Xu 40:34 và những câu tiếp theo) chiếu sáng trên ngươi nghĩa là Đức Chúa Trời hài lòng với dân của Ngài và cứu họ (Ch 16:15  Thi 31:16  67:1  80:3,7,19).

4  làm ơn cho ngươi  Kết quả sự hài lòng của Đức Chúa Trời là ân điển của Ngài, sự thương xót trong giao ước của Ngài.  Điều căn bản của sự cứu rỗi là họ không xứng đáng với ân huệ của Đức Chúa Trời.  Họ không xứng đáng gì cả, hoặc đúng hơn là Đức Chúa Trời bày tỏ sự thương xót và tình yêu thương và vì sự thành tín của Ngài đối với lời thề của Ngài (Phu 7:7-8).  Nguyên tắc này được tìm thấy trong suốt Kinh Thánh (Exe 16:1 và những câu tiếp theo Ro 5:1-11  9:10-13,18  11:5  ICo 1:26 và những câu tiếp theo).

5.  Đức Giê--va đoái xem ngươi  Câu này được nhấn mạnh hơn và xin Đức Chúa Trời chú ý đến dân Y-sơ-ra-ên.  Điều này cho thấy rằng Ngài đã chọn họ mà không chọn các dân tộc khác.  Nếu Đức Chúa Trời giấu mặt Ngài, dân Y-sơ-ra-ên sẽ khốn khổ và bị huỷ diệt (Thi 30:7  44:24  104:29).

6.  ban sự bình an cho ngươi  Sự bình an có nghĩa là sự toàn vẹn và yên lành.  Từ lâu câu này được công nhận là ngôn từ của giao ước.  Những giao ước được lập nhằm bảo đảm một sự yên ổn thông qua một mối quan hệ tốt.  Nhưng Đức Chúa Trời ban sự bình an thì sự bình an đó có giá trị cho toàn thể đời sống ngay cả những kẻ thù của con người cũng được dẹp yên (Le 26:6  Ch 16:7).  Về sau, những câu này được xem là lời hứa về Đấng Mê-si, là ‘vua của sự bình an’ (Es 9:6), và ý nghĩa sâu xa đích thực của những câu này được thành tựu trong Đấng Christ (Gi 14:27  Eph 2:14-18).

Chúng ta nên chú ý đến hai điều về hình thức của lời chúc phước này.  Thứ nhất, lời chúc phước được viết trong thể thơ gồm có ba dòng được chia làm hai phần, dòng sau dài hơn dòng trước, làm cho sự chúc phước mạnh mẽ hơn và xác quyết hơn.  Thứ hai, có sử dụng điệp từ.  Có hai lần đề cập đến mặt của Đức Chúa Trời (sự hiện diện của Ngài).  Mục tiêu của sự cứu chuộc là khiến cho chúng ta có thể bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời.  Danh Đức Giê-hô-va (tiếng Hi Bá Lai là YHWH) được lặp lại ba lần.  Một số người cho rằng chi tiết này hàm ý trước về Ba Ngôi (Ro 10:9  IICo 3:17).  Các học giả xem lời chúc phước này là một bài thơ rất cổ.  Vào năm 1979 có hai cuộn giấy nhỏ bằng bạc từ thế kỷ thứ VII T.C. được khai quật ở Giê-ru-sa-lem.  Người ta thấy trong đó có những lời của Dan 6:24 với hình thức hầu như giống hệt với bản văn tiếng Hi Bá Lai.

Những lời này có ảnh hưởng trong suốt Kinh Thánh (Thi 67:17  121:1-8  122:1-9  124:1-8  128:1-6).  các thư tín của Phao-lô bắt đầu bằng lời chào mừng và luôn luôn dùng từ ‘ân điển’ và ‘bình an’ (thí dụ Ro 1:7  ICo 1:3 còn IITi 1:2 có thêm từ ‘sự thương xót’).  Trong hầu hết các trường hợp Phao-lô đều nói rằng ân điển và sự bình an từ Đức Chúa Trời Cha của chúng ta và Đức Chúa Giê-xu Christ rõ ràng ông dùng lời chúc phước của thầy tế lễ.

Đức Chúa Trời phán họ phải đặt danh Ta trên dân Y-sơ-ra-ên như vậy (27), là dấu hiệu về quyền sở hữu.  Ý tưởng này xuất hiện ở hai chỗ trong Kinh Thánh.  Lần thứ nhất trong lời tiên tri của Ê-sai nói về sự khôi phục dân Y-sơ-ra-ên:  ‘Người này sẽ nói rằng: Ta thuộc về Đức Giê-hô-va ...  Kẻ khác nữa lấy tay mình viết rằng: “Ta thuộc về Đức Giê-hô-va”’ (Es 44:5).  Đây là thời kỳ phước hạnh nhất vì dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa từ chốn lưu đày trở về.  Thứ hai là trong lần gom nhóm cuối cùng của dân sự Đức Chúa Trời báo trước trong Khải Thị: ‘Họ sẽ được thấy mặt Chúa và danh Chúa sẽ ở trên trán họ’ (Kh 22:4  Dan 2:17  14:1).  Kinh Thánh kết thúc với cái nhìn thoáng qua về tình trạng phước hạnh chung cuộc của các thánh đồ (Kh 22:1-5), với những lời tiên tri gồm những ngôn từ phản ảnh lời chúc phước của thầy tế lễ ‘chẳng còn có sự nguyền rủa nữa’ (22:3 so với Dan 6:24,27), ‘Đức Chúa Trời sẽ soi sáng cho họ’ và họ sẽ không cần ánh sáng đèn hoặc ánh mặt trời (Kh 22:5 so với Dan 6:25).  Như vậy những lời chúc phước cổ xưa này chứa đựng lời hứa về sự chung cuộc của phước hạnh đầy trọn trong giao ước mà con cái Đức Chúa Trời qua mọi thời đại hằng mong mỏi và phước hạnh đó sẽ được ban cho cách toàn vẹn vào thời điểm Đức Chúa Trời đã định.

2. BIỆT RIÊNG ĐỀN TẠM VÀ PHONG CHỨC TẾ LỄ. (Dan 7:1-8:26)

Chủ đề chính của hai chương này là sự thánh khiết và tẩy sạch.  Đền tạm được biệt ra thánh còn các thầy tế lễ được tẩy sạch.  Tất cả những điều này đều được thực hiện bằng cách giết nhiều con sinh.

1. Cung hiến đền tạm (Dan 7:1-89)

Từ ngữ dùng ở đây rất chính xác: Môi-se biệt ra thánh đền tạm (tức là khiến ra thánh) và ‘cung hiến’ bàn thờ (1,10-11).  Từ cung hiến (dedication) chỉ xuất hiện một vài chỗ trong Kinh Thánh.  Cũng vậy Sa-lô-môn biệt ra thánh sân giữa và cung hiến bàn thờ (IISu 7:7,9).  Nhưng buổi lễ được gọi là lễ ‘cung hiến’ đền thờ (khánh thành)  (7:5).  Trong Nguỵ Kinh IIMaccabeus 2:19 có chép: ‘Câu chuyện về Giu-đa Ma-ca-bê và anh em người, việc tẩy sạch bàn thờ vĩ đại và cung hiến đền thờ’.  Lễ này được tổ chức vào ngày lễ Hanukkah, nhằm ngày 25 tháng Kít-l7 (tháng 12 Tây lịch), một kỳ lễ được nói đến trong Gi 10:22.  Lễ biệt riêng đền tạm là lễ đầu tiên trong những lễ này.  Cấp lãnh đạo Y-sơ-ra-ên đem đến buổi lễ những lễ vật, của lễ chuộc tội và của lễ thù ân.  Họ không được nêu đích danh nhưng câu 2 chép rằng họ là những người giám sát cuộc kiểm kê dân số.  Thật ra, sau khi đền tạm được dựng lên một tháng mới đến cuộc kiểm kê (Dan 1:1), nhưng tác giả lại viết về chuyện này trước.  Câu 6-8 cũng viết về một chuyện xảy ra sau như thế: các xe cộ và bò được giao cho người Lê-vi, nhưng lúc này người Lê-vi chưa được phân ban thứ (3-4  8:5-26).  Các lễ vật và của dâng được mang đến hai lần: lần thứ nhất gồm có bò và những cỗ xe để dùng cho đền tạm (3-9) lần thứ hai gồm có đĩa, chậu, chén bằng bạc và những của lễ dùng cho bàn thờ (10-88).  Người Kê-hát không nhận được xe hoặc bò vì những phương tiện này chỉ dùng để chở trại, trong khi nhiệm vụ của họ là lo di dời những vật thánh (9).  Khi Đa-vít rước hòm giao ước đến Giê-ru-sa-lem, vua dùng một chiếc xe mới (IISa 6:3-4).  Tuy nhiên sau khi U-xa chết, chúng ta không nghe nói đến xe nữa mà chỉ có ‘người khiêng hòm giao ước’ (6:13  15:24).  Cái chết của U-xa làm cho họ khám phá được điều luật pháp yêu cầu (ISu 15:11-15).  Phần ghi chép số lễ vật của các chi phái dâng hiến (10-88) cho thấy có lúc Kinh Thánh lặp đi lặp lại nhiều lần lắm (có lẽ đây là một lời nhắc nhở rằng không phải Kinh Thánh được viết ra để tiêu khiển nhưng để dạy dỗ chúng ta).

Lưu ý là chi phái Giu-đa lại được sắp dẫn đầu (xem lại Dan 2:1-34).  Nhờ phần ghi lại lễ vật của mỗi chi phái dâng hiến trong ngày ấn định cho họ, chúng ta thấy rằng họ dâng lễ vật rất hào phóng và đồng đều nhau.  Trong khi quyên góp để giúp đỡ các thánh đồ ở Giê-ru-sa-lem, sứ đồ Phao-lô cũng đã yêu cầu phải có một sự đồng đều như vậy tại các Hội Thánh ở Ma-xê-đoan.  Ông nói ‘Tôi chẳng khuyên bảo anh em chịu túng thiếu để giúp đỡ kẻ khác, nhưng tôi muốn có sự bằng nhau’ (IICo 8:13).

Câu 84-88 ghi tổng số lễ vật dâng cho việc cung hiến bàn thờ.  Trong mười hai ngày đó, huyết của các sinh tế chảy như sông.  Không có sự đổ huyết của sinh tế thì không có sự tẩy sạch (He 9:22).  Trong suốt mười hai ngày đó cũng có dâng những sinh tế khác (thí dụ khi A-rôn được phong chức, Le 8:1-9:24).  Và trước khi kết thúc mười hai ngày đó, họ chọn con sinh của lễ Vượt Qua để giết vào ngày thứ mười bốn.

Phần cuối của lễ cung hiến được trình bày dưới ba hình thức khác nhau (Dan 7:89  Xu 40:34-35  Le 8:1-9:24), nhắm phản ảnh hướng quan tâm của sách đó.  Xu 40:34-35 mô tả đám mây phủ Hội Mạc và vinh quang của Chúa không ngớt đầy dẫy đền tạm, phù hợp chủ đề của sách này là sự hiện diện vinh hiển của Đức Chúa Trời giữa dân sự Ngài.  Le 9:23-24 thuật lại việc Môi-se và A-rôn chúc phước cho dân sự và lửa loè ra thiêu hoá của lễ.  Cách kết thúc này phù hợp với chủ đề của sách là chức vụ tế lễ được Đức Chúa Trời chấp nhận.  Còn ở đây (89) chép rằng Chúa phán với Môi-se, phản ảnh chủ đề của Dân Số Ký là lời của Đức Chúa Trời.  Tuy nhiên Dân Số Ký cũng không bỏ qua những khía cạnh khác.  Thật vậy, mối quan tâm kế tiếp trong sách là chức vụ tế lễ của người Lê-vi (Dan 8:5-26) và sau đó là đám mây (9:15-23).

Trọng tâm của mười chương đầu là lời của Đức Chúa Trời và nội dung của mười chương này có ý nói đến phước hạnh lớn lao khi có Lời Chúa.  Đức Chúa Trời đã ban ơn duy nhất cho Môi-se khi nói chuyện giáp mặt với ông (12:6-8).  Thật ra, ngay cả bản Kinh Thánh tiếng Hi Bá Lai cũng không nêu đích danh Đức Chúa Trời nhưng chỉ nói rằng Môi-se đã vào Hội Mạc và nói chuyện ‘với Ngài’ (bản NIV thêm từ Chúa dưới dạng diễn ý).  Lời của Đức Chúa Trời phát ra từ trên nắp chuộc tội (theo truyền thống gọi là ‘ngôi thương xót’) trên hòm bảng chứng.  sự kiện này bày tỏ sự thương xót lớn lao của Ngài và đặc ân trong giao ước.  Hơn nữa Ngài phán từ giữa hai Chê-ru-bim.  Sau khi loài người sa ngã các chê-ru-bim chận con đường đến cây sự sống và đến lạc viên của Đức Chúa Trời (Sa 3:24).  Lời của Đức Chúa Trời là sự sống.  Đây là một tương quan không hề biến đổi hoặc mất giá trị, trái lại sự giảng dạy của Đấng Christ trong các sách Phúc Âm giãi bày mối tương quan này càng rõ ràng hơn bao giờ hết (Gi 1:4  6:63).

2. Bảy ngọn đèn. (Dan 8:1-4)

Những ngọn đèn này được chế tạo theo mẫu mã mà Đức Chúa Trời đã chỉ dẫn cho Môi-se (4  Xu 25:31-40  He 8:5) và chiếu sáng về phía trước chân đèn.  Trong vị trí này, những ngọn đèn đó sẽ hắt ánh sáng trên bàn bày bánh trần thiết có mười hai ổ bánh.  Phải giữ cho đèn cháy liên tục (Le 24:2-4).  Trong khải tượng của Giăng, chân đèn có bảy ngọn đại diện cho bảy Hội Thánh (Kh 1:12 và các câu tiếp theo).

3. Tẩy sạch và bố trí công tác cho người Lê-vi. (Dan 8:5-26)

Phải tẩy sạch người Lê-vi theo nghi thức tẩy bằng nước tẩy uế (nguyên văn) tức là ‘nước rửa tội’ (7).  Dân Y-sơ-ra-ên đặt tay lên người Lê-vi (10) và sau đó người Lê-vi đặt tay lên của lễ chuộc tội.  Cử chỉ này kèm với lời xưng tội thường có, và cử chỉ này cũng biểu thị rằng con thú là vật thay thế (12).  Dường như cử chỉ này có nghĩa căn bản là ‘chuyển giao’ một quyền hạn hoặc địa vị cho đối tượng thay thế:  chuyển giao phước hạnh cho người thừa kế (Sa 48:14), chuyển giao quyền hành trong lễ bổ nhiệm (Dan 27:23), chuyển giao tội lỗi qua cho sinh tế.  Sự bổ nhiệm bằng cách đặt tay được thực hiện trong Hội Thánh thời Tân Ước (Cong 6:6  13:3  Mac 5:23  Cong 8:15-18  He 6:2).  Dường như sự đặt tay cũng ngụ ý bày tỏ sự dự phần của đương sự với đối tượng trong công tác.  Vì vậy Phao-lô khuyên không nên vội đặt tay (ITi 5:22).  Văn mạch của chương 8 cho thấy người Lê-vi là lễ vật của dân Y-sơ-ra-ên dâng cho Chúa (11,15).  Họ được biệt riêng cho Chúa (14,16) và thay cho con đầu lòng (17).  Mặc dù ở đây nhấn mạnh ý này nhưng cũng không bỏ qua ý người Lê-vi được ban cho A-rôn (19,22).  Cuối cùng giới hạn tuổi tác được nhắc đến, tức là từ hai mươi lăm đến năm mươi tuổi (24-26).  Cuộc kiểm kê dân số chỉ tính nam giới từ ba mươi đến năm mươi tuổi (Dan 4:3, nhưng ở đây bản LXX cũng ghi là hai mươi lăm).  Trong thời Đa-vít, khi đền tạm tọa lạc ở Si-ôn, giới hạn tuổi được hạ thấp xuống hai mươi tuổi (ISu 23:24-27) mặc dù Đa-vít chỉ tính những người trên ba mươi tuổi (23:3).  Các thế hệ về sau cũng theo lệ này (IISu 31:17  Exo 3:8).  Hưu hạ không có nghĩa là rời khỏi chức vụ.  Đến tuổi năm mươi, người Lê-vi vẫn tiếp tục phục vụ anh em mình.  Nói chung, coi như cho đến già lão các tôi tớ Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục hầu việc Ngài và hầu việc cho đến chết tuỳ theo sức lực Ngài ban cho (Phu 34:7  ISa 4:14  12:2  IITi 4:6-8  IIPhi 1:13-15).

3. KHỞI HÀNH ĐI ĐẾN ĐẤT HỨA, CÓ SỰ HIỆN DIỆN CỦA CHÚA DẪN DẮT (Dan 9:1-10:36)

(Dan 9:1-14). Lễ Vượt Qua. Nhờ sự kiện vượt qua, dân Y-sơ-ra-ên được phép rời khỏi Ai Cập.  Bây giờ họ tổ chức Lễ Vượt Qua để kỷ niệm đệ nhất chu niên ngày đó trước khi rời khỏi Si-na-i.  Chúng ta đã nhận định ở trên là một số sự kiện trong Dân Số Ký không theo thứ tự lịch sử.  Vì vậy ở đây tác giả đem đặt Lễ Vượt Qua ngay trước khi khởi hành.  Với cách sắp xếp này tác giả muốn nhắc chúng ta nhớ rằng Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục giải cứu và lãnh đạo dân của Ngài.  Vấn đề ô uế khiến vài người không được giữ Lễ Vượt Qua đã được giải quyết (6-13, so với Gi 18:28).  Vấn đề này rất nghiêm trọng: những người đụng đến xác chết không được hiệp chung với dân sự mang của lễ dâng cho Chúa.  Họ thực sự sợ bị trục xuất khỏi dân sự.  Do đó Chúa ban hành thêm một luật cho phép họ giữ Lễ Vượt Qua vào tháng sau.  Dầu vậy tầm quan trọng của lễ này không bị giảm vì họ vẫn phải tuân thủ các qui định liên hệ đến lễ đó (11-12).  Tuy nhiên nếu không có lý do chính đáng nào mà một người tự tiện bỏ không dự Lễ Vượt Qua thì sẽ bị trục xuất khỏi dân sự.  Đương sự không được tha thứ vì đã cố ý gạt bỏ luật pháp của Đức Chúa Trời.  Hễ yếu đuối thì được giúp đỡ nhưng phản loạn thì không bao giờ được tha thứ.  Cũng có qui định cho phép người ngoại bang dự lễ nhưng không phải một cách cẩu thả.  Trái lại đương sự buộc phải chịu cắt bì (12:48-49).  Qua qui định này, Kinh Thánh tiên báo về địa vị của người ngoại bang trong sự cứu chuộc.  Như vậy chúng ta thấy quan điểm của Kinh Thánh về Lễ Vượt Qua là quan trọng đến mức nào.  Đối với Giăng, Lễ Vượt Qua rất quan trọng vì ông hiểu rằng sự chết của Chúa Giê-xu làm ứng nghiệm mọi chi tiết của lễ Vượt Qua (Gi 19:17-37). Thật vậy, Giăng đã đưa ra một kết luận rằng Chúa Giê-xu, Chiên Con đúng nghĩa của lễ Vượt Qua của Đức Chúa Trời, sẽ cất tội lỗi ‘của thế gian đi’ (Gi 1:29 so với ICo 5:7).

(Dan 9:15-23). Đám mây. Theo Xuất Ê-díp-tô Ký, trụ mây bao phủ đền tạm biểu thị sự vinh quang của Chúa (Xu 40:34-38).  Tuy nhiên Dân Số Ký không viết gì về vinh quang đó nhưng chú ý đến sự kiện đám mây đã dẫn dân Y-sơ-ra-ên tiến tới.  Đoạn Kinh Thánh này lặp đi lặp lại rằng dân Y-sơ-ra-ên ra đi và đóng trại theo mạng lịnh của Chúa và dấu hiệu của mạng lịnh này là sự di chuyển của đám mây.  Sự lặp đi lặp lại cho chúng ta những ý tưởng như sau: từ ban đầu trụ mây đã hiện diện (15), về ban đêm trụ mây giống như trụ lửa (16) dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên (17-18) thời gian đóng trại từ vài ngày đến cả năm báo hiệu trước rằng dân Y-sơ-ra-ên sẽ lưu lại lâu dài trong sa mạc (19-22), phần kết của đoạn Kinh Thánh nhấn mạnh sự kiện dân Y-sơ-ra-ên làm theo mạng lịnh của Chúa (23).  Sau này dân Y-sơ-ra-ên cung hiến đền thờ thì trụ mây cũng xuất hiện (IVua 8:10-12).  Đám mây đã bao phủ Chúa Giê-xu Christ khi Ngài biến hình trên núi (Lu 9:34) và lúc Ngài thăng thiên (Cong 1:9).  Sự hiện diện của Đức Chúa Trời và đền thờ của Ngài được biểu thị qua đám mây nay được biểu thị trong Đấng Christ.  Chúa Giê-xu là đền thờ (Kh 21:22) và trong Ngài có sự vinh quang đầy dẫy của Đức Chúa Trời (Gi 17:21  Co 1:19).  Nhờ sự hiện diện của Thánh Linh, tín đồ trở thành những viên đá sống trong đền thờ (Gi 7:37-39  ICo 6:19  IPhi 2:4-5).  Do đó Đức Chúa Trời thấy cần phải bày tỏ vinh quang của Ngài trong ngôi nhà thuộc linh là Hội Thánh (Eph 2:22  3:10-11,21).

(Dan 10:1-10). Hai cây kèn bằng bạc. Đây là sự chuẩn bị cuối cùng trước khi rời Si-na-i.  Hai cây kèn này được làm bằng bạc đập gò cho thành hình (người ta đã biết luyện bạc và sử dụng bạc nhiều thế kỷ về trước).  Sử gia Josephus mô tả những cây kèn này có dạng hình ống hẹp, dài khoảng 45cm (18 in), phần đuôi có dạng như cái chuông.  Loại kèn này góp phần trang trí khải hoàn môn của Titus ở La Mã.  Không giống với loại kèn bằng sừng dê khá phổ biến, loại kèn này có âm thanh rõ ràng hơn.  Những tiếng kèn khác nhau báo hiệu triệu tập những thành phần khác nhau (thành phần lãnh đạo, toàn thể hội chúng và khởi hành).  Lúc lâm trận và lúc khai mạc những kỳ lễ lớn cũng có thổi kèn.  Các thầy tế lễ là những người có quyền lãnh đạo, quản lý và sử dụng mấy cây kèn này (họ cũng lãnh đạo bằng những chỉ dẫn).  Tiếng kèn triệu tập của Đức Chúa Trời còn vang lên thì dân Y-sơ-ra-ên còn được an lành.  Thế nên kèn được tiếp tục sử dụng qua nhiều thế hệ (IIVua 11:14  Exo 3:10  Thi 98:6).  Sứ đồ Phao-lô dùng tiếng kèn làm hình bóng về sự rao giảng.  Ông nói rằng phải rao giảng rõ ràng dứt khoát (ICo 14:8) bằng không người nghe sẽ không hiểu để chuẩn bị cho chiến trận thuộc linh.  Những cây kèn này được giao cho những đầy tớ của Đức Chúa Trời, và đặc biệt là cho các trưởng lão (Cong 20:17-35  Tit 1:5  He 13:17  IPhi 5:1-4).  Nếu kèn rơi vào tay những kẻ giả mạo, họ sẽ phá hoại Hội Thánh của Đấng Christ như lũ chó độc ác không buông tha bầy chiên.  Tân Ước đưa ra một hình ảnh thứ hai rất sinh động về chiếc kèn này: như tiếng kèn triệu tập dân Y-sơ-ra-ên đến dự lễ thì tiếng kèn cũng gọi kẻ chết sống lại (Mat 24:31  ICo 15:21  ITe 4:16  Kh 8:1-9:21).  Tiếng kèn mời dự lễ nghe thật rộn ràng (Thi 98:6), vì vậy hình ảnh này nói lên niềm vui của những người sống lại để sống đời đời và dự tiệc đã được chuẩn bị sẵn trong vương quốc của Đấng Christ.

(Dan 10:11-34). Dân Y--ra-ên rời Si-na-i. Đây là đỉnh điểm của phần đầu tiên trong Dân Số Ký (chương 1-10).  Toàn bộ mục đích của sự chuẩn bị ở Si-na-i là để Đức Chúa Trời có thể hiện diện giữa dân của Ngài và dẫn dắt họ đến Ca-na-an.  Đoạn này cho chúng ta những thông tin mới về thứ tự hành trình của họ: đền tạm đi sau tốp đầu chớ không ở giữa cùng với những vật thánh.  Có lẽ đây là một cách sắp xếp thiết thực để khi đến một nơi đóng trại mới, đền tạm sẽ được dựng lên trước khi những vật thánh đến nơi.  Hòm giao ước dẫn đầu (33), Giu-đa là chi phái đi trước tiên (14) và Đan là chi phái tập hậu (25).  Môi-se muốn Hô-báp, con trai Rê-u-ên, là anh vợ ông cùng đi với họ vì Hô-báp biết địa hình sa mạc.  Môi-se giải thích cho Hô-báp về cuộc hành trình của dân Y-sơ-ra-ên: lời hứa của Đức Chúa Trời dành cho Áp-ra-ham là lý do của cuộc hành trình, còn đất hứa là đích đến.

(Dan 10:35-36). Kết luận. Những lời nói của Môi-se bày tỏ hai chủ đề then chốt của Kinh Thánh: sự chiến thắng của Chúa đối với người thù nghịch Ngài và sự hiện diện vĩnh cữu của Chúa với dân sự Ngài.  Khi người ta khiêng hòm giao ước đi và khi họ đặt hòm giao ước ở giữa trại quân thì Môi-se  nói những câu này.  vì đây là đỉnh điểm của gần một năm chuẩn bị (Xu 19:1) nên chúng ta phải xem xét cẩn thận.

Kinh Thánh thường nói về sự chiến thắng của Đức Chúa Trời trên kẻ thù của Ngài.  Trong vườn Ê-đen, Đức Chúa Trời hứa rằng kẻ thù chí tử của con người là con rắn sẽ bị đánh bại (Sa 3:15).  Ba-by-lôn (cũng là Ba-bên) trở thành ‘thủ đô’ của kẻ thù Đức Chúa Trời, còn tháp Ba-bên là biểu tượng của sự liên minh phản loạn chống lại Đấng Chí Cao (11:1-9).  Sau đó Ba-by-lôn là nơi dân của Đức Chúa Trời bị đưa đến làm phu tù.  Ba-by-lôn là kẻ thù đáng ghét của họ (Thi 137:1-9) và bị định cho sự huỷ diệt (Es 13:1-14:52).  Trong sách Khải Thị sự sụp đổ của Ba-by-lôn là sự chiến thắng của Đức Chúa Trời, là nguyên nhân của ca ngợi rầm rộ (Kh 12:7-17  14:8  17:4-6  18:1-19:5).

Đức Chúa Trời đã thề rằng mọi đầu gối sẽ quì trước mặt Ngài (Es 45:23).  Tất cả những kẻ thù của Ngài sẽ làm điều này, họ sẽ quì với sự sợ hãi thay vì lòng cung kính khiêm nhường, nhưng dù sao, họ cũng phải quì xuống.  Trong kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời Ba Ngôi từ trước khi sáng thế đã có quyết định về sự huỷ diệt vương quốc của thế gian.  Rồi Ngài cũng ấn định dòng lịch sử kể cả cuộc chiến thuộc linh.  Kế hoạch này sẽ tôn vinh danh Ngài, sẽ chứng tỏ Ngài vượt trên tất cả mọi sự, là Đấng cai trị toàn năng trên vũ trụ này.  Đức Chúa Cha sẽ tôn cao Đức Chúa Con, ban cho Con danh cao nhất, còn Đức Chúa Con sẽ tôn kính Đức Chúa cha.  Mục đích là để cho ai nấy đều thấy rằng Đức Chúa Trời đầy dẫy trong vạn vật.  Kế hoạch này bao gồm sự sáng tạo, sự sa ngã của con người và sự cứu chuộc.  Kế hoạch này không được bày tỏ ngay từ đầu nhưng được khải thị dần dần qua những giao ước trong lịch sử và qua dòng lịch sử của sự cứu chuộc.  Đến lúc tận thế kế hoạch sẽ lộ ra đầy đủ, khi đó mọi vật sẽ khâm phục sự khôn ngoan vô cùng tận và lòng thương xót vô bờ bến của Đức Chúa Trời.

Chủ đề thứ hai trong những lời Môi-se nói là sự thương xót và ân điển cao cả của Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời ở giữa muôn vàn Y-sơ-ra-ên.  Đây là mối tương giao mà các thánh đồ trong mọi thời đại đều mong ước.  Đây là vương quốc của Đức Chúa Trời.  Warfield viết rằng ‘Có thể nói sự thiết lập và phát triển vương quốc của Đức Chúa Trời là chủ đề chính của Cựu Ước’ (B.B Warfield, Biblical Doctrines - Banner of Truth Trust, 1988, xuất bản lần thứ nhất năm 1929 - trang 11).  Như vậy những lời cuối của phần thứ nhất của Dân Số Ký đem chúng ta vào trọng tâm của sứ điệp Kinh Thánh.  Phần thứ hai và phần thứ ba chủ yếu cũng viết về chủ đề then chốt này: việc dân của Chúa vào đất hứa.

4. CUỘC HÀNH TRÌNH ĐI ĐẾN ĐẤT HỨA (Dan 11:1-25:18)

Phần thứ hai của sách (từ chương 11-25) viết về cuộc hành trình từ Si-na-i đến biên giới xứ Ca-na-an, sự kiện dân Y-sơ-ra-ên không chịu chiếm lấy xứ và những năm lang thang trong sa mạc.  Trước hết là sự phản loạn của dân Y-sơ-ra-ên (chương 11-19), sau đó chuyển thẳng vào phần kết giai đoạn này, tức là lúc dân Y-sơ-ra-ên lại tiếp cận xứ Ca-na-an và chẳng bao lâu họ sẽ chiếm xứ (chương 20-25).  Phần thứ hai tương phản rõ rệt với phần thứ nhất.  Từ lời Đức Chúa Trời chuẩn bị dân sự chuyển thẳng đến những lời lằm bằm của họ và việc họ không chịu tin và tiến vào xứ.

1. Sự lằm bằm (Dan 11:1-12:16)

Nếu đọc luôn từ những câu ở phần trên (Dan 10:35-36) chung với câu mở đầu của phần này chúng ta sẽ thấy sự thay đổi đột ngột.  Môi-se vừa mới cầu khẩn Đức Chúa Trời đánh bại kẻ thù của Ngài và ở với dân sự Ngài, rồi không có câu hoặc sự việc chuyển tiếp gì cả, chúng ta đọc luôn, Bây giờ dân sự phàn nàn về sự gian khổ của họ (tiếng Hi Bá Lai là ‘tai ương, thảm hoạ’) Đức Giê-hô-va có nghe (1).  Như vậy là tương phản rất rõ với những điều tốt đẹp mà Chúa vừa mới làm cho họ.  Trong bản Kinh Thánh tiếng Hi Bá Lai cấu trúc của câu văn cố ý làm nổi bật sự tương phản này: họ phàn nàn ‘về tai ương’ trong khi trước đó họ đã nhận những điều tốt đẹp.  Chủ đề nổi bật của chương 11-25 là ‘phàn nàn, lằm bằm’.  Bản Kinh Thánh tiếng Hi Bá Lai dùng nhiều từ để diễn tả vấn đề này nhưng bản Septuagint của tiếng Hi Lạp chỉ dùng một từ là gonguz½ (bản NIV dịch là ‘lằm bằm’), Giăng và Phao-lô vận dụng từ này rất thâm thuý (Dan 11:4-15).

(Dan 11:1-3) Lằm bằm lần thứ nhất Tha--ra  Đoạn tường thuật ngắn ngủi về sự lằm bằm lần thứ nhất trở nên mẫu cho những lần lằm bằm khác về sau: dân sự lằm bằm, Đức Giê-hô-va nghe và nổi giận, Môi-se cầu thay và hình phạt dừng lại.  Môi-se thường đóng vai trò cầu thay cho họ (như ông đã cầu thay tại Hô-rếp khi họ phạm tội thờ con bò bằng vàng, Xu 32:1-35).  Sự trừng phạt nhắc chúng ta nhớ rằng Đức Chúa Trời là đám lửa thiêu đốt.  Lửa thường làm hình bóng về sự hiện diện và sự vận hành của Đức Chúa Trời (Sa 15:17-18 viết về ngọn lửa cháy phừng giữa xác các con sinh bị chẻ đôi Xu 3:1-22 nói đến bụi gai cháy, so với He 12:29).  Dân Y-sơ-ra-ên đã từng trải bài học này với giá đắt, là cái chết của hai con trai A-rôn là Na-đáp và A-bi-hu (Le 10:1-20). 

(Dan 11:4-15). Lằm bằm lần thứ hai. Theo tiếng Hi Bá Lai, từ dân tạp có ý nói đến một tập thể lớn, còn bản dịch tiếng Hi Lạp (dùng từ epimikios) có nghĩa là đám đông hỗn tạp.  Có lẽ chỉ về người ngoại bang.  Do đó Kinh Thánh viết thêm rằng dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu than khóc.  Đây là một bài học thực tế cho thấy rằng dân sự của Đức Chúa Trời có thể bị những người chung quanh ảnh hưởng và đẩy họ vào tội lỗi.  Lời nói của họ cho thấy rằng họ coi khinh Đức Chúa Trời, ‘Phải chi chúng tôi có thịt để ăn!’ (nguyên văn là ‘Ai sẽ cho chúng tôi ăn thịt?’).  Đột nhiên bản văn chuyển dạng giống như một bản thực đơn - cá, dưa chuột, dưa gang (5) - vì lúc đó dân Y-sơ-ra-ên so sánh ma-na của Đức Chúa Trời ban cho với các loại thực phẩm ở Ai Cập.  Họ quên rằng họ được giải phóng khỏi nơi áp bức đó và họ coi khinh sự nhân từ của Đức Chúa Trời qua sự ban cho từ trời.  Thi Thiên 78 đã mô tả đầy đủ tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên (so với Xu 16:3), họ không có đức tin, họ quên những việc Đức Chúa Trời đã làm cho họ và họ nói dối về Ngài (Thi 78:22,32,36,42).  Chính sự vô tín và mau quên đã dẫn đến sự bất mãn và lằm bằm.  Dân Số Ký đã vẽ nên bức tranh chính xác về hành vi của họ.  Họ về nhà gieo sự bất mãn cho cả gia đình (10), gây tác hại hoàn toàn.  Bằng cách nhen nhúm sự bất mãn trong gia đình, họ đã dẫn gia đình đến chỗ chết.  Trong Tân Ước, cho chúng ta thấy rằng từ ‘lằm bằm’ ít được dùng đến, nhưng Giăng đã dùng từ này trong một trường hợp đặc biệt.  Đó là lúc Chúa Giê-xu nói với người Do-thái rằng Ngài là bánh từ trời xuống còn hơn cả ma-na (Gi 6:35,41-61).  Qua sự ‘lằm bằm về Ngài’ những người Do-thái hồi đó đã lặp lại tội lỗi của tổ phụ của họ, được chép trong Dân Số Ký - và sự lằm bằm này cũng xuất phát từ một lý do tương tự, đó là ‘vô tín’ (Gi 6:64).  Những tấm gương này là sự cảnh cáo cho Hội Thánh ngày nay (ICo 10:10-11).  Sự lằm bằm có thể dẫn đến sự sa ngã và cũng có thể làm tiêu tan đức tin của những người khác.  Biết đâu có nhiều thanh niên bỏ Hội Thánh và rốt cuộc hư mất vì những lời than van oán trách ngay trong gia đình của họ.  Thật vậy, những lời nói tiêu cực tàn phá lòng tin của người nghe.  Đến đây Dân Số Ký trình bày gánh nặng mà Môi-se đang cảm nhận (11), dân Y-sơ-ra-ên tương tự một em bé cần được chăm sóc.

(Dan 11:16-35). Chỉ định các trưởng lão cung cấp thịt.  Sự cố này được giải quyết trên hai phương diện.  Trước hết có bảy mươi trưởng lão được chỉ định để phụ tá Môi-se.  Giê-trô đã từng nhận thấy Môi-se cần phụ tá nên hồi đó Môi-se đã lập nhiều người lo xử kiện (Xu 18:13-26).  Bây giờ Môi-se lập một hội đồng quản trị gồm bảy mươi trưởng lão.  Có lẽ những trưởng lão này là những người đã lên núi Si-na-i với Môi-se, tức là những người đứng đầu dân sự (24:9-11).  Về sau trong lịch sử vẫn có những cơ chế lãnh đạo tương tự như vậy, thí dụ toà Công hội (Sanhedrin) trong các sách Phúc Âm.  Cũng vậy chẳng bao lâu sau khi hình thành, Hội Thánh của Chúa cũng triệu tập hội đồng để giải quyết những vấn đề liên quan đến Hội Thánh toàn thế giới (Cong 15:1-41 chép về hội đồng đầu tiên).  Như vậy từ thuở đầu, guồng máy cai trị trên dân Y-sơ-ra-ên gồm các trưởng lão.  Xem ra đây là hướng phát triển tự nhiên trong xã hội mà người cha là chủ gia đình và gia đình này gồm có con cái và nô lệ.  Hình thức này được duy trì suốt thời Cựu Ước (Ru 4:2  Ch 31:23), vẫn còn tồn tại trong thời Chúa Giê-xu (Mat 16:21  Lu 7:3), còn các sứ đồ vận dụng hình thức này vào sự quản lý các Hội Thánh địa phương (Cong 20:17  ITi 4:14  5:17  Tit 1:5  Gia 5:14  IPhi 5:1) và có lẽ sẽ tồn tại cho đến kỳ sau rốt (Kh 4:4  19:4).  Trong thời Môi-se, những người này được chọn để đồng công với Môi-se làm người chăn bầy của Đức Chúa Trời.  Tân Ước gọi những trưởng lão là người chăn bầy, phụ tá cho người chăn trưởng (IPhi 5:1-4) và chịu trách nhiệm với người chăn trưởng (He 13:17).  Vì vậy họ phải vâng lời người chăn trưởng.  Các trưởng lão được bổ nhiệm để Môi-se không còn phải mang gánh nặng một mình và dường như các thế hệ sau đều noi theo khuôn mẫu này đến nỗi trong thời Tân Ước, các trưởng lão quản trị Hội Thánh được xem là chuyện bình thường tất nhiên (hoặc gọi là giám mục Phil 1:1).  Đức Chúa Trời ban Thần của Ngài cho các trưởng lão để họ phụ tá Môi-se (24-30).  Dấu hiệu có Thần của Đức Chúa Trời vận hành trong một người là người đó nói tiên tri tương tự như những trường hợp khác (ISa 10:6-13  Gio 2:28  Cong 2:4  ICo 12:10).  Trong suốt Kinh Thánh, những người lãnh đạo dân Đức Chúa Trời nhận năng lực để thi hành trách nhiệm từ Thánh Linh và chỉ nhờ đó mà họ có thể hoạt động.  Các quan xét, Sau-lơ, Đa-vít, các tiên tri, các sứ đồ và các trưởng lão ở Hội Thánh Ê-phê-sô là những thí dụ cụ thể.

Ngoài việc ban cho Môi-se những trưởng lão thuộc linh, Đức Chúa Trời giải quyết khía cạnh còn lại của vấn đề, đó là nội dung lằm bằm của dân sự.  Rõ ràng trong sa mạc, dường như không có cách nào cung ứng đủ thịt để thỏa mãn sự thèm thuồng của dân sự.  (Có 600.000 người đàn ông, Dan 11:21-22.  Lại thêm một bằng chứng ủng hộ việc hiểu theo nghĩa đen kết quả đợt kiểm kê dân số dù con số quá lớn (1:17-46).  Môi-se cũng phản ứng tương tự như các môn đồ trong dịp Chúa Giê-xu cho năm ngàn người ăn (Gi 6:7).  Hễ khi có điều gì bất năng đối với con người thì Kinh Thánh đưa ra cùng một lời giải đáp: cánh tay Đức Giê-hô-va không ngắn! (Sa 18:14  Es 50:2  59:1  Gie 32:17,27).  Không có gì Đức Chúa Trời không thể làm được.  Đấng tể trị toàn năng trên trời và đất là nơi ẩn nấp cho những người tin cậy Ngài (Da 1:1-6:28).  Đức Chúa Trời sẽ bày tỏ quyền năng để xác nhận lời của Ngài (23).  Sự cung cấp chim cút là một thí dụ về quyền kiểm soát của Đức Chúa Trời trên cõi thọ tạo.  Loài chim này thuộc họ chim trĩ và gà gô.  Chúng trú đông ở Châu Phi và thường di trú về phương bắc khoảng tháng ba, tháng tư.  Vào năm đó, một số rất lớn bị gió thổi giạt đến chỗ dân Y-sơ-ra-ên đóng trại.  Tuy nhiên, kèm theo sự ban cho này là một cơn thạnh nộ.  Khi dân sự đang ăn thì họ chết vì một tai vạ.  Như vậy, trạm đầu tiên trong lộ trình của dân Y-sơ-ra-ên mang tên là Tha-bê-ra (‘đốt cháy’, Dan 11:3) và Kíp-rốt Ha-tha-va (‘mồ chôn sự tham muốn’ 11:34).  Cuộc hành trình trở thành con đường chết.  Không rõ hai địa điểm này đích xác nằm ở đâu, nhưng chắc chắn là đâu đó giữa núi Si-na-i và Hát-sê-rốt (33:1-56).

(Dan 12:1-16) Mi-ri-am va A-rôn chống đối Môi-se. Ở điểm đóng trại tiếp theo là Hát-sê-rốt lại có một cuộc phản loạn thứ ba.  Môi-se cưới một người Cút làm vợ, có lẽ là một người Ê-thi-ô-bi (trong Sa 10:6 Cút có nghĩa là Ê-thi-ô-bi) và có lẽ đây là người vợ thứ hai (người vợ đầu của ông là Sê-phô-ra, người Ma-đi-an, Xu 2:16-21).  Vin vào chuyện này, Mi-ri-am và A-rôn đã nói nghịch Môi-se.  Họ muốn lãnh đạo Y-sơ-ra-ên ngang hàng với Môi-se.  Dường như Mi-ri-am là thủ phạm chính nên bà bị trừng phạt.  Kể ra cũng lạ vì bà là một phụ nữ mà lại thách thức uy quyền của em mình.  Dầu sao bà cũng là nữ tiên tri, một người lãnh đạo phụ nữ Y-sơ-ra-ên (15:20-21).

Một lần nữa Kinh Thánh chép rằng Chúa nghe những lời phản đối của họ.  Phản ứng của Ngài là xác nhận Ngài lựa chọn Môi-se (6-8) và sau đó Ngài lên án Mi-ri-am và A-rôn (9-10).  Có nhiều điểm tương đồng giữa chuyện Mi-ri-am phản loạn và chuyện dân Y-sơ-ra-ên đòi ăn thịt (11:4-35).  Trong cả hai trường hợp họ đều từ chối sự cung cấp của Đức Chúa Trời (ma-na, quyền lãnh đạo của Môi-se) và để đáp ứng, Đức Chúa Trời xác nhận địa vị của Môi-se (bằng cách ban cho ông các trưởng lão và lời của Ngài) và trừng phạt họ (tai vạ, Mi-ri-am bị phung).  Tác giả nhận định về tính khiêm nhường của Môi-se (3).  Sự khiêm nhường thật là hết lòng vâng phục ý chỉ của Đức Chúa Trời đến mức từ chối chính mình.  Một sự từ bỏ chính mình đến độ đó khiến cho đương sự dễ bị hại.  Đương sự phải trông cậy vào Đức Chúa Trời để được che chở và gìn giữ.  Hơn nữa, trong khi hết lòng vâng phục Đức Chúa Trời, đương sự sẽ khám phá ra sự yếu đuối và thất bại của chính mình và nhờ đó có cái nhìn đúng đắn về mình.  Sự khiêm nhường không có tính cách tiêu cực (tự hạ giá trị của mình), nhưng là một thái độ tích cực, dấn thân phục vụ, Đấng Christ là tấm gương điển hình (Phi 2:3-8).  Môi-se biểu thị tánh khiêm nhường khi ông tiếp tục dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên đi qua sa mạc trong bốn mươi năm, mặc dù đó là một gánh nặng.  Ông không tự binh vực nhưng hướng về Đức Chúa Trời, Đấng bảo vệ và giúp đỡ người khiêm nhường (Thi 147:6  149:4  Mat 5:5  IPhi 5:6).  Trong trường hợp này Đức Chúa Trời công khai ủng hộ Môi-se khiến cho Mi-ri-am và A-rôn không còn hồ nghi chút nào nữa.  Thế là dân Y-sơ-ra-ên đi chưa được nửa đường mà Dân Số Ký đã ghi lại ba lần ‘lằm bằm’.

2. Dân Y-sơ-ra-ên từ chối đất hứa (Dan 13:1-14:45)

Sa mạc Pha-ran nằm ở phía nam xứ Ca-na-an, và từ đây các thám tử ra đi do thám xứ.  Cuộc hành trình vốn là chuyến đi đầy lằm bằm nhưng khi các thám tử quay trở về, sự phản loạn của dân Y-sơ-ra-ên mới là thảm hoạ chung cuộc.

(Dan 13:1-16). Các thám . Đoạn Kinh Thánh mở đầu bằng lời phán của Đức Chúa Trời.  Mạng lịnh do thám xứ là một lời nhắc họ biết rằng Ngài sắp sửa ban cho họ xứ này.  Mỗi chi phái có một người lãnh đạo đại diện, không phải là những người thực hiện cuộc kiểm kê dân số và đem dâng lễ vật vào dịp cung hiến đền tạm.  Có lẽ họ là những người trẻ tuổi hơn.  Trong đám họ có Giô-suê chẳng hạn, là tôi tớ của Môi-se và là một thanh niên (Xu 33:11  Dan 11:28).  Môi-se đã đổi tên ông từ Hô-sê thành Giô-suê, nên ý nghĩa cũng đổi từ ‘Ngài cứu’ thành ‘Đức Giê-hô-va cứu’ (16).  Có lẽ đây là lần đầu tiên tên riêng của một người Y-sơ-ra-ên có dùng đến danh của Chúa.  Trong tiếng Hi Lạp tên riêng này có dạng là Giê-xu.

(Dan 13:17-25). Bốn mươi ngày do thám. Những thám tử được sai đi để do thám hai khu vực trong xứ Ca-na-an, vùng Negev ở phía nam và vùng đồi núi ở phía bắc (17).  Họ đi đến tận biên giới phía bắc là đi hết vùng đất được nói đến trong lời hứa của Đức Chúa Trời (21).  Câu bấy giờ nhằm đầu mùa hái nho (tức là cuối tháng bảy) cho thấy rằng họ rời khỏi Si-na-i khoảng hai tháng rồi.  Các thám tử đi qua một quãng đường khoảng 400km (250dặm) và đến giữa tháng chín mới trở về.  Họ đến Hếp-rôn (22) nơi an táng các tổ phụ (Sa 23:17-20  49:29-33  50:13).  Dân Số Ký cho chúng ta biết rằng thành Hếp-rôn được xây dựng trước thành Xô-an (Tanis hoặc Avaris) bảy năm, là thủ đô của các vua Hyksos ở Ai Cập được xây dựng khoảng năm 1700 T.C. (22).  Có lẽ tác giả Dân Số Ký biết việc xây dựng thành Xô-an của người Ai Cập vì dân Y-sơ-ra-ên có tham gia vào việc này.  Hếp-rôn là một lời nhắc nhở sống động về lời hứa của Đức Chúa Trời.  Nhưng mục tiêu của dân Y-sơ-ra-ên lại bị người A-na-kim chiếm giữ, họ là những chiến sĩ nổi tiếng (Phu 9:2).  Họ cũng được đề cập đến trong những văn bản của người Ai Cập vào khoảng năm 1800-1700 T.C..  Sau này Ca-lép chiến thắng họ (Gios 15:14  Cac 1:10).

(Dan 13:26-33). Lời báo cáo gây tác hại. Những lời mở đầu của các thám tử đã để lộ họ là người như thế nào.  Câu họ nói xứ mà người sai chúng tôi đi không hề có ý nói rằng Chúa đã sai họ đi và cũng không bày tỏ lòng biết ơn đối với lời hứa của Ngài (so với Dan 10:29).  Họ trưng bày hoa quả tươi tốt và xác nhận rằng đó là một xứ đượm sữa và mật.  (Trong tác phẩm Story of Sinuhe của người Ai Cập về vùng Ga-li-lê cũng được mô tả với những lời lẽ này).  Lời mô tả này xác nhận rằng lời hứa của Đức Chúa Trời về vùng đất ấy là rất chính xác (Xu 3:8,17).  Tuy nhiên các thám tử lại nặng lòng về những thành kiên cố và số dân cư hùng mạnh, trong số đó có một số dân giống như người khổng lồ, và họ kết luận rằng sự chinh phục xứ này là chuyện không thể được.  Ca-lép phải làm cho dân sự im tiếng (30).  Sau này cho chúng ta thấy Giô-suê đứng về phía Ca-lép (Dan 14:6).  Dân sự lại bắt đầu lằm bằm.  Điều trớ trêu là các thám tử tường trình về những dân tộc mà Đức Chúa Trời đã nêu tên trong lời hứa của Ngài đối với Áp-ra-ham (Sa 15:18).  Đức Chúa Trời có phán rằng tội ác của người A-mô-rít sẽ ‘đầy trọn’ để chờ sự đoán phạt của Ngài.  Và Ngài giao cho dân Y-sơ-ra-ên việc thi hành bản án đó (15:1-21  16:1-16).

(Dan 14:1-10). Dân sự phản loạn. Dân Y-sơ-ra-ên lằm bằm (tức là ‘phàn nàn’) và như vậy chẳng khác gì phản loạn (9).  Bản chất tội lỗi của họ càng gia tăng trong chương này: lằm bằm chống lại Chúa (27,29,36), khước từ đất hứa có nghĩa là khước từ giao ước (31), và từ bỏ Chúa (43).  Họ chất vấn mục đích của Đức Chúa Trời (3) và khước từ Môi-se (4).  Lưu ý đến ước muốn dại dột của họ là được chết trong sa mạc (2) đã được chấp thuận (28).  Sự kiện này nhắc chúng ta nhớ đến lời cảnh cáo sau này là con người sẽ phải khai trình mọi lời bất cẩn mà họ đã nói (Mat 12:36-37).  Giô-suê và Ca-lép đủ sáng suốt để hiểu tội lỗi nghiêm trọng của dân Y-sơ-ra-ên.  Họ xé áo để biểu lộ nỗi đau đớn và tức giận.  Cứ như thể họ thương tiếc người chết.  Họ tái xác nhận niềm tin quyết của họ  rằng Đức Chúa Trời sẽ làm thành những điều Ngài đã hứa và sẽ dẫn dắt họ vào xứ (8).

(Dan 14:11-25). Sự thương xót sự hình phạt của Chúa. Đức Chúa Trời mở lời với phần phân tích chính xác về tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên.  Đó là sự vô tín.  Họ không chịu tin nơi Đức Chúa Trời và khinh Ngài (11).  ‘Ai không tin Đức Chúa Trời, thì cho Ngài là nói dối’ (IGi 5:10).  Lỗi lầm chính của dân Y-sơ-ra-ên là nghĩ rằng Đức Chúa Trời không đủ khả năng làm đúng theo lời phán của Ngài.  Thực chất của đức tin là biết chắc rằng Đức Chúa Trời sẽ hoàn thành những điều Ngài đã phán.  Lòng vô tín của dân Y-sơ-ra-ên trong thời điểm này tương phản với đức tin của Áp-ra-ham là tổ phụ của họ (Sa 15:6).  Phản ứng của Đức Chúa Trời gồm hai mặt: bản NIV dịch là ‘Ta sẽ đánh gục họ bằng dịch lệ và huỷ diệt họ’.  Huỷ diệt có nghĩa là ‘tước quyền thừa kế’, tức là họ không được nhận sản nghiệp của đất hứa.  Môi-se cầu thay cho họ dựa trên giao ước (16) và sự thương xót của Đức Chúa Trời (18-19).  Khi dân Y-sơ-ra-ên làm tượng bò bằng vàng ở Hô-rếp, ông cũng cầu thay cho họ dựa trên nền tảng này (Xu 32:11-14).  Lời cầu nguyện thật phải có đặc điểm này: đặt cơ sở trên những lời hứa của Đức Chúa Trời và cầu xin Ngài làm trọn lời hứa đó.  Đây là ý nghĩa của sự cầu nguyện bởi đức tin, cầu nguyện theo ý muốn của Đức Chúa Trời (IGi 5:14).  Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời trên thế giới này bị ràng buộc với giao ước và sự hoàn thành giao ước.  Việc Chúa đáp lời cầu nguyện của Môi-se dạy dỗ chúng ta nhiều về trọng tâm của thần học Kinh Thánh.  Trước hết là sự tha thứ.  Vì Đức Chúa Trời tha thứ nên Ngài còn tiếp tục ở với dân Y-sơ-ra-ên, coi họ là dân sự của Ngài và thực hiện lời hứa của Ngài với thế hệ kế tiếp (24).  Thứ hai là sự đoán phạt.  Tha thứ không phải là chuyện tuỳ hứng tuỳ tiện bao giờ, mà cũng không nên vì cớ tha thứ mà phương hại đến sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.  Lời thề của Ngài (21-25) cho thấy rằng sự vinh hiển của Ngài là mối quan tâm của chính Ngài.  Do đó những người coi thường Ngài chẳng bao giờ nhìn thấy đất hứa.  Qua ngày hôm sau, họ phải đi lộn ngược hướng về Biển Đỏ.  Thế là bước tiến đột ngột ngưng ngang và trở thành bước lùi.

(Dan 14:26-28). Chết chóc trong sa mạc. Lời thề thứ hai đi liền theo lời thề thứ nhất (28).  Những người có tên trong sổ kiểm tra ở núi Si-na-i mà lằm bằm chống lại Chúa đều bị chết trong sa mạc theo như họ ước, còn con cháu của họ thì long đong cực khổ trong sa mạc suốt bốn mươi năm nữa.  Ở đây chúng ta thấy một trường hợp điển hình về chuyện con cái chịu sự hình phạt về tội lỗi của cha mẹ.  Họ phải mất thêm bốn mươi năm nữa mới được vào đất hứa.  Mục đích của giao ước được xác lập với thế hệ con cháu và thường được nhắc đến trong chương này (31), vì Đức Chúa Trời sẽ ban cho họ xứ đó.  Cuối cùng toàn thể đám người chống Chúa gánh đòn phản công của Ngài (34).  Sự trừng phạt xảy ra cấp tốc, nạn dịch giết liền mười thám tử đã báo cáo tai hại cho dân Y-sơ-ra-ên.

(Dan 14:39-45). Một số người mạo muội tiến vào xứ. Còn phải học một bài học khác nữa.  Dân chúng nhận biết quá trễ sự sai lầm của mình.  Họ tìm cách cứu vãn tình hình nên tìm cách tiến công vào đất hứa.  Trước hết đây là một trường hợp ăn năn quá trễ.  Việc này nhắc chúng ta nhớ lại chuyện Ê-sau bán quyền trưởng tử, đánh mất phước hạnh rồi than khóc.  Cũng là quá trễ rồi (He 12:17).  Thứ hai, họ lại coi thường lời của Đức Chúa Trời.  Ngài đã ra lịnh cho họ đi trở vào sa mạc (25).  Do đó khi họ tiến vào xứ Ca-na-an, Ngài không đi với họ, hòm giao ước không rời khỏi trại quân (42,44).  Lời họ nói ‘Chúng tôi đây sẽ đi lên tới chỗ mà Đức Giê-hô-va đã phán’ (40) cho thấy đức tin của họ kém cỏi.  Họ không đếm xỉa gì đến lời đã thề với các tổ phụ.  Kinh Thánh chép rằng họ bị đánh đuổi tận Họt-ma ở Negev (vị trí chính xác của nơi này vẫn còn đang bàn cãi).  Địa danh này có quan hệ đến một từ Hi Bá Lai là hèrem (‘bị tận diệt’), một kết cuộc thích đáng với cuộc phiêu lưu kinh khủng này.  (Xem mục ‘Bội đạo’ trong phần dẫn nhập).

3. Những luật lệ dành cho thời gian vào cư trú trong xứ:  các của lễ và sự tha thứ (Dan 15:1-41)

Sau khi những người phản loạn bị huỷ diệt thì Đức Chúa Trời lại truyền dạy và lập tức có sự yên ủi.  Mặc dù Đức Chúa Trời thề đóng cánh cửa vào xứ Ca-na-an lại trong bốn mươi năm, nhưng Ngài vẫn xác nhận rằng dân Y-sơ-ra-ên sẽ sống ở Ca-na-an:  Sau khi các ngươi vào xứ mà Ta ban cho ... (2).  Do đó những luật sau đấy có liên quan đến những việc mới xảy ra.

(Dan 15:1-21). Những của dâng sản xuất từ đất đai trong xứ. Tất cả những của lễ dùng lửa dâng trên bàn thờ đều phải kèm theo bột mịn trộn với dầu và rưới rượu lên.  Mỗi loại sinh tế đều có qui định một số lượng khác nhau.  Một ê-pha chứa khoảng 22 lít và một hin khoảng 3,6 lít.  Trong luật này có một chi tiết quan trọng làm yên lòng mọi người.  Đó là cụm từ cam đoan rằng mùi thơm của lễ vật sẽ làm hài lòng Đức Chúa Trời, ngụ ý là Ngài sẽ tiếp nhận dân Y-sơ-ra-ên trở lại.  Bột, dầu và rượu là ba nông sản chính của xứ Ca-na-an.  Trong thực tế, lúc đó là vào khoảng trung tuần tháng chín, qua tin tức của các thám tử vừa thăm dò đất hứa về dân Y-sơ-ra-ên biết rằng dân cư trong xứ đang thu hoạch trái ô-liu rồi sẽ chế tạo dầu ô -liu.  Vì vậy có yếu tố cảm tạ trong luật này.  Dân Y-sơ-ra-ên phải dâng lại cho Chúa một của lễ lấy trong mớ hoa lợi của đất đai mà Ngài ban cho họ.  Đó là tinh thần của luật này, hoàn toàn trái ngược với sự lằm bằm và phàn nàn của họ.

Cũng nên lưu ý đến phần cuối của luật này (13-16).  Vì luật này nhắc chúng ta nhớ rằng trong dân Y-sơ-ra-ên cũng có những khách lạ (người ngoại bang) và cho phép họ dâng của lễ như dân Y-sơ-ra-ên.  Họ cũng phải tuân thủ cùng những qui định và luật lệ đó.  Luật này phản ảnh lại mục đích trong giao ước của Đức Chúa Trời lập với Áp-ra-ham là các dân tộc sẽ nhờ dòng dõi ông mà được phước (Sa 12:3  17:12).  Do đó ở một số điểm, luật này bao gồm cả người ngoại bang và như vậy luật này ăn khớp với những lời hứa của Đức Chúa Trời.  Sau khi nói điều này, Đức Chúa Trời truyền lịnh cho dân Y-sơ-ra-ên dâng một của lễ từ ngũ cốc đầu mùa (17-21).  Việc này đề cao một nguyên tắc là trước hết dân của Đức Chúa Trời phải biết dâng hiến cho Ngài trước khi thoả mãn nhu cầu của mình.  Dân sự của Đức Chúa Trời phải duy trì những nghi thức này mãi mãi (15,21).

(Dan 15:22-31). Tội tình cố ý. Những luật trên đây xác nhận lời hứa của Đức Chúa Trời về xứ Ca-na-an, trong khi đó phần này bàn về sự cản trở vì cớ tội lỗi.  Giữa tội vô tình (lầm lỡ) và tội cố ý (‘ngang nhiên phạm tội’ thành ngữ Hi Bá Lai) có điểm khác biệt quan trọng.  Tội vô tình là một hành vi sai trái một cách không ngờ, không biết là sai do cả tập thể hoặc một cá nhân phạm (24,27).  Đương sự được hưởng sự tha thứ về những hành vi lầm lỡ này, cả thành phần khách lạ (ngoại bang) cũng được hưởng sự tha thứ.  Hễ vô ý phạm tội thì được tha thứ.  Nhưng bất cứ ai cố tình phạm tội đều không được tha thứ (30-31).

Sự phân biệt này có giá trị trong toàn bộ Kinh Thánh.  Đối với tội lộng ngôn chống Đức Thánh Linh thì không có sự tha thứ trong đời này và trong cõi đời đời (Mat 12:22-32).  Tội này liên quan đến sự chối bỏ lời làm chứng về Đấng Christ của Thánh Linh.  Thật vậy Chúa Giê-xu Christ cảnh cáo những người Do-thái không tin Ngài rằng tội lỗi của họ vẫn còn vì họ nói rằng họ biết (Gi 9:39-41).  Tội của họ là vô tín, không chịu tin Con của Đức Chúa Trời.  Hơn nữa He 6:4-8 cảnh cáo về tội không thể tha thứ, còn Giăng dạy cầu nguyện cho những anh em phạm tội ‘không đến nỗi chết’ mà thôi (IGi 5:13-17).  Như vậy rõ ràng đây là vấn đề hết sức nghiêm trọng đối với dân của Chúa trong mọi thời đại.  Tính cách nghiêm trọng này thúc giục chúng ta trưởng thành trong đức tin, ‘lột bỏ bản chất cũ’ cùng với tánh than van và lòng vô tín.

(Dan 15:32-36). Người phạm ngày sa-bát. Tác giả đặt chuyện này ở đây để minh hoạ về tội cố ý.  Tác giả nói trắng ra là người này cố ý vi phạm ngày sa-bát, cũng không thể nói khác được vì cả hội chúng đang nghỉ ngơi.  Chắc hẳn đương sự biết rõ luật về ngày sa-bát, hơn nữa hành vi của mọi người chung quanh đủ báo cho đương sự biết.  Vì vậy án phạt đương nhiên là tử hình (35) và pháp trường nằm ngoài trại quân.  Hội chúng dẫn đương sự ra ngoài trại quân, có lẽ để diễn tả một cách cụ thể việc loại trừ người đó khỏi dân Y-sơ-ra-ên (trục xuất khỏi dân sự).

(Dan 15:37-41). Tua áo màu xanh dương. Những tua áo này nhắc nhở việc giữ các điều răn.  Có lẽ người ta kết những tua này nơi bốn góc áo khoác (Phu 22:12).  Một lần nữa màu xanh dương xuất hiện.  Tấm màn trong đền tạm dùng để phủ hòm giao ước cũng màu xanh dương và có lẽ vì cớ đó mà tua áo cũng là màu xanh dương.

Có một sự kiện lý thú trong cuộc đời của vua Đa-vít liên quan đến những tua này.  Khi Sau-lơ vây bắt ông trong hang đá Ên-ghê-đi, Đa-vít lén cắt vạt áo của Sau-lơ (ISa 24:1-15) để chứng tỏ rằng ông không tìm cách giết Sau-lơ.  Ông quyết định cắt vạt áo có lẽ chỉ là một việc tượng trưng.  Một số người cho rằng đó là dấu hiệu chiếm lấy ngôi nước.  Nhưng nếu nơi chéo áo của Sau-lơ đính tua áo màu xanh dương thì việc đó nhằm nhắn nhủ Sau-lơ rằng khi vua tìm cách sát hại Đa-vít là vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời.  Vạt áo có đính tua màu xanh dương trở thành một lệ thường trong đời sống của người Do-thái.  Người Pha-ri-si thích đính tua áo cho dài để thể hiện lòng mộ dạo và để người khác khen ngợi (Mat 23:5).

Câu kết là một lời nhắc nhở về mục đích căn bản của luật pháp: luật pháp được ban bố vì Chúa là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên và để họ thật sự là dân của Ngài (41).

4. Sự phản loạn của Cô-rê - Chức vụ tế lễ của A-rôn được xác nhận (Dan 16:1-17:13)

Kinh Thánh không cho chúng ta biết sự phản loạn này xảy ra khi nào và ở đâu.  Tuy nhiên có một số chi tiết chứng tỏ nhóm người phản loạn này bất mãn vì Môi-se không đưa họ vào xứ Ca-na-an (14).  Như thế nghĩa là vụ này nổ ra ngay sau khi họ không chịu vào xứ Ca-na-an.  Mối quan tâm chính trong chương 16-19 là chức vụ tế lễ thượng phẩm của A-rôn.

(Dan 16:1-15). Sự phản loạn chống lại Môi-se A-rôn. Lãnh đạo đám phản loạn là một người có địa vị hẳn hoi.  Cô-rê là một người Lê-vi thuộc họ Kê-hát, là họ chịu trách nhiệm chăm sóc hòm giao ước và những khí dụng của nơi thánh.  Đồng đảng với ông là một người Ru-bên cũng thuộc một gia đình danh giá.  Có 250 quan tướng của dân kết bè với họ, toàn là những nghị viên của hội đồng, nổi tiếng trong dân sự.  Họ than phiền chống lại chế độ ngôi thứ trong thể chế.  Họ đòi đồng đẳng với Môi-se và A-rôn.  Như vậy, họ chống lại trật tự mà Đức Chúa Trời đã thiết lập ở Si-na-i (chương 3-4).  Họ còn muốn giữ chức vụ tế lễ nữa (10).  Câu nói của Môi-se, ngươi và toàn bè đảng ngươi đều hiệp lại (11) có ngụ ý chơi chữ.  Trong tiếng Hi Bá Lai ‘hiệp lại với nhau’ là một từ liên quan tới danh từ riêng Lê-vi.  Khi Môi-se triệu tập họ, họ biểu thị sự kháng cự.  Họ chống lại những lời hứa giao ước của Đức Chúa Trời thể hiện trong hai điều (13-14): họ mô tả Ai Cập là một xứ đượm sữa và mật (đúng như lời Đức Chúa Trời mô tả xứ Ca-na-an), và than phiền rằng Môi-se và A-rôn đã không dẫn họ vào sản nghiệp đã hứa.

(Dan 16:16-35). Sự đoán phạt những kẻ phản loạn. Chỉ một mình Đức Chúa Trời nắm quyền chọn thầy tế lễ.  Dâng hương là một hành động đến trước mặt Đức Chúa Trời để xin Ngài chấp nhận.  Kinh Thánh ví lời cầu nguyện của các thánh đồ với hương (Thi 141:2  Kh 8:3).  Khi đền tạm được dựng lên, hai con trai của A-rôn là Na-đáp và A-bi-hu đã dâng hương không theo lịnh truyền của Đức Chúa Trời.  Ngài không chấp nhận nên họ mất mạng (Le 10:1-20), cho nên lẽ ra Cô-rê và đồng đảng phải nhận biết tính cách nghiêm trọng của việc dâng hương cho Đức Chúa Trời.  Tình trạng nguy hiểm của họ lộ rõ khi vinh quang của Chúa hiện ra trước cửa Hội Mạc.  Đó là dấu hiệu báo trước sự đoán phạt (so với Dan 12:5  14:10).  Chắc hẳn hình ảnh này ảnh hưởng đến Gia-cơ khi ông khuyên Hội Thánh: ‘Hỡi anh em, chớ oán trách nhau, hầu cho khỏi bị đoán xét kìa Đấng đoán xét đứng trước cửa!’ (Gia 5:9).  Chúa không chấp nhận đảng của Cô-rê.  Ngài chỉ phán với Môi-se và A-rôn.  Sau đó câu chuyện cho chúng ta thấy các trưởng lão đứng với Môi-se (25).  Còn dân chúng nhận được chỉ thị là phải tránh xa trại của những kẻ phản loạn ‘kẻo các ngươi sẽ bị quét sạch vì tội của họ’ (26).  Dầu vậy, khi sự đoán phạt của Chúa xảy ra, dân chúng thấy tránh xa cũng chưa đủ.  Họ trốn chạy trong hãi hùng (34), tương tự như chuyện Lót chạy trốn Sô-đôm và Gô-mô-rơ khi hai thành này bị huỷ diệt (Sa 19:17).

Sự đoán phạt Cô-rê và đồng đảng đã xảy ra tức thì.  Cách tường thuật của tác giả về cái chết này cho thấy rằng họ hư mất về phần thuộc linh.  Âm phủ đã nuốt sống họ.  Âm phủ (‘thế giới bên kia’) được xem là một nơi ở dưới đất cho người chết.  Tài sản của họ cũng bị huỷ diệt chung với họ như trong trường hợp của A-can khi ông ta lấy những vật đã bị phú cho sự huỷ diệt ở Giê-ri-cô (Gios 7:1-26).  Cuối cùng Kinh Thánh kết luận rằng họ bị huỷ diệt khỏi dân sự, ngụ ý là họ không còn chỗ đứng ở giữa dân sự của Đức Chúa Trời (33).  250 người ủng hộ Cô-rê cũng chết như Na-dáp và A-bi-hu.  Một số học giả cho rằng đất nứt ra là hiện tượng tự nhiên, căn cứ vào tình trạng của một vài vùng trong sa mạc thì chuyện này có thể xảy ra.  Lối giải thích này dù với ý gì đi nữa cũng không thể làm lu mờ sự thật là Đức Chúa Trời đoán phạt những kẻ thù của hai đầy tớ Ngài là Môi-se và A-rôn.

(Dan 16:36-40). Lấy đồng bọc bàn thờ. Bây giờ sự chú ý chuyển từ Môi-se qua A-rôn.  Từ đây cho đến cuối chương 19, chức vụ tế lễ của A-rôn là chủ đề chính.  Các lư hương đồng được dùng để bọc bàn thờ nhằm nhắc rằng chỉ có các con trai của A-rôn mới được phép đốt hương (Dan 3:1-4).

(Dan 16:41-50). Dân sự oán trách. Qua hôm sau, dân chúng bày tỏ họ đồng tình với Cô-rê.  Họ nói về đảng của Cô-rê là dân của Chúa (41).  Sự trừng phạt kinh khiếp mới xảy ra ngày hôm trước thôi, sao họ chóng quên đến thế?  Thật ra, vấn đề tệ hại hơn là quên.  Thái độ của họ là không tin rằng chính Đức Chúa Trời đã làm điều đó.  Họ đổ tội cho Môi-se giết hại dân lành.  Đây là một trường hợp cụ thể minh chứng thêm về lòng vô tín của thế hệ này.  Cũng như trước đây, đám mây vinh quang xuất hiện báo hiệu cơn thạnh nộ sắp xảy ra.  Mặc dù dường như Môi-se có cầu thay cho họ một lần nữa (45) nhưng chính A-rôn là người đã dâng của lễ chuộc tội để tai vạ ngừng lại.  Do đó A-rôn đã hành động đúng là một thầy tế lễ thượng phẩm của dân Y-sơ-ra-ên.  Tai vạ ngừng lại là một dấu hiệu nữa chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời đã chọn ông.  Có một hình ảnh sống động về A-rôn khi ông đứng giữa người chết và người sống.  Đó là hình ảnh mà toàn thể dân sự của Đức Chúa Trời cần ghi nhớ vì A-rôn là hình bóng về Đấng Christ, là thầy tế lễ thượng phẩm đứng giữa chúng ta và sự chết đời đời.  Bởi sự cầu thay và chuộc tội của Ngài, chúng ta được cứu.  Bài học chính ở đây là phải gắn bó với những đầy tớ được chọn của Đức Chúa Trời.  Chúng ta có thể so sánh bài học này với tín đồ trong Hội Thánh đầu tiên, họ hết lòng giữ sự tương giao của các sứ đồ (Cong 2:42  ITi 4:16).  Lý do thật rõ ràng: qua sự tương giao của các sứ đồ, họ bước vào sự tương giao với Đức Chúa Trời và Đấng Christ (IGi 1:1-4).  Ngày hôm nay cũng vậy, chúng ta phải bước vào một sự tương giao bởi đức tin (Gi 17:20-23).

(Dan 17:1-13) Dấu lạ của Đức Chúa Trời xác nhận sự lựa chọn A-rôn  Đức Chúa Trời trả lời cho sự vô tín và sự oán trách liên tục của dân Y-sơ-ra-ên bằng một dấu lạ.  Dường như dấu lạ không dành cho người có lòng tin nhưng cho kẻ vô tín và phản loạn (10).  Thí dụ mục đích của ân tứ tiếng lạ (ICo 14:22) và những dấu lạ do Chúa Giê-xu làm (Gi 6:30), còn A-cha không xin dấu lạ vì ông không muốn thử Chúa (Es 7:10-14).  Dấu lạ này nhằm mục đích bịt miệng những lời lằm bằm thường xuyên chống lại A-rôn.  Thật ra, đây là dấu lạ thứ hai, dấu lạ đầu tiên là những lư hương bằng đồng bọc bàn thờ.  Dấu lạ thứ hai là một phép lạ.  Mười hai cây gậy đại diện cho mười hai chi phái (từ Hi Bá Lai có nghĩa là ‘cây gậy, chi họ hoặc chi phái’).  Mỗi cây gậy đều có chạm tên người lãnh đạo và được đặt trước hòm bảng chứng trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời.  Cây gậy của A-rôn đột nhiên có sự sống, đâm chồi, nở hoa và ra trái hạnh nhân.  Không những biểu thị về sự lựa chọn thiên thượng mà còn bày tỏ một sức sống dư dật.  Sứ điệp Ngài muốn truyền đạt cho họ là: qua đầy tớ được chọn của Ta, các ngươi sẽ tìm thấy sự sống.   Khi A-rôn đứng giữa người chết và người sống họ đã kinh nghiệm điều này rồi (Dan 16:48).  Cây gậy trổ hoa được gìn giữ suốt qua nhiều thế hệ (He 9:4), trở nên bằng chứng cho thấy rằng Đức Chúa Trời đã xác quyết lời của Ngài.  Có lẽ câu chuyện này làm cơ sở cho những sự đề cập đến Nhánh Công Bình sau này (Gie 23:5  33:15-16  Xa 3:8  6:12).  Chương 17 kết thúc với sự kiện dân Y-sơ-ra-ên sợ là họ sẽ chết hết vì không được đến gần Chúa.  Nỗi lo sợ này là một lời xưng nhận: họ cần một người trung gian (như ở núi Si-na-i, Xu 20:18-21), và những luật theo sau (chương 18-19)  đáp ứng yêu cầu này.  Đối với mọi người cũng vậy, nhu cầu của họ chỉ được thoả mãn trong Đức Chúa Giê-xu Christ.  Sách Hê-bơ-rơ bày tỏ rõ điều này.

Sứ điệp trong chương 16-17 khẳng định một sứ điệp là phải tôn trọng chức vụ tế lễ thượng phẩm của A-rôn.  Trước hết, chức vụ này bày tỏ sự thánh khiết của Đức Chúa Trời - chỉ có người Ngài kêu gọi mới được phép đến gần Ngài.  Sự kiện này báo trước giao ước mới - chúng ta chỉ có thể đến gần Đức Chúa Trời trong Đấng Christ, thầy tế lễ thượng phẩm của chúng ta là Đấng được Đức Chúa Trời chỉ định.  Thứ hai, cho chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời sẽ không để cho người ta truất phế các tôi tớ của Ngài, Ngài sẽ bảo vệ họ.  Trong thời đại Cơ Đốc này, Ngài có bổ nhiệm những người hầu việc Ngài, không phải là để làm chủ, nhưng là đầy tớ chịu trách nhiệm chăm sóc bầy.  Họ là các trưởng lão (chức vụ tương đương là giám mục, xin xem Institutes of the Christian Religion, IV.3.8 của J. Calvin và Tit 1:5-7).  Hội Thánh nên tôn trọng những người lãnh đạo xuất phát từ sự tôn kính Chúa, là Đấng đã lập họ lên.  Nhiệm vụ duy nhất của họ là hầu việc Chúa và họ không có một uy quyền nào ngoài Lời của Ngài.  Họ gánh vác một trách nhiệm lớn mà chỉ có thể hoàn thành bằng sự thánh khiết, trung tín và tình yêu thương.  Mặc dù trong Tân Ước cũng có nhiều chỗ dạy về vấn đề này, nhưng vấn đề đâm rễ đến tận những đoạn Kinh Thánh trong Cựu Ước như đoạn Kinh Thánh này.

5. Bổn phận của thầy tế lễ (Dan 18:1-19:22)

Hai chương tiếp theo nhằm giải toả nỗi lo sợ của dân Y-sơ-ra-ên là ‘Tất cả chúng tôi phải chết hết sao?’  Giải pháp nằm trong chức vụ tế lễ, nhiệm vụ của chức vụ đó (chương 18) và sự tẩy sạch dân Y-sơ-ra-ên (chương 19).

(Dan 18:1-7). Trách nhiệm của thầy tế lễ người -vi. Chức vụ và trách nhiệm đi đôi với nhau.  Gia đình A-rôn phải mang lấy những tội phạm đến đền tạm trong sự phục vụ đền tạm.  Người Lê-vi được ban cho các thầy tế lễ để phụ giúp và họ cùng gánh chiụ trách nhiệm về mọi sự vi phạm (3).  Chúa bảo người Lê-vi là phải ‘hiệp với A-rôn’.  Trong tiếng Hi Bá Lai từ ‘hiệp’ có cùng một ngữ căn với tên riêng Lê-vi.  Chúa làm cho người Lê-vi thành một món quà cho A-rôn.  Đồng thời vẫn có sự khác biệt giữa thầy tế lễ và người Lê-vi.

(Dan 18:8-32). Một phần mười. Khi Cô-rê, Đa-than và A-bi-ram định chiếm quyền Môi-se, Môi-se sẽ khẳng định rằng ông không đối xử  trịch thượng với ai.  Cụ thể là ông không lấy gì của ai dù ‘một con lừa’ cũng không (Dan 16:15).  Bây giờ Chúa truyền lịnh là A-rôn phải nhận một phần mười trong của dâng của người Y-sơ-ra-ên.  đây là một lệ định đời đời (19).  Mạng lịnh này vừa công bình vừa thực tế.  Người làm việc nhận tiền lương là điều công bình.  Ngay cả con bò còn không bị khớp miệng trong khi đạp lúa vì Đức Chúa Trời chăm sóc đến các tạo vật của Ngài (Phu 25:4).  Để bảo đảm cho các thầy tế lễ có thể phục vụ trọn thì giờ trong chức vụ thì việc cung cấp thực phẩm cho họ là điều hết sức thiết thực.  Hệ thống phần mười này rất hợp lý.  Người Lê-vi không được sở hữu đất đai canh tác trong xứ Ca-na-an.  Thay vào đó, Đức Chúa Trời sẽ là cơ nghiệp của họ, còn họ sẽ phục vụ Ngài mà không bị phân tâm vì dân chúng sẽ dâng một phần mười để nuôi dưỡng họ.  Mỗi người trong số 600.000 đều phải dâng một phần mười và những của lễ để nuôi khoảng 22.000 người Lê-vi (26).  Dân sự sẽ nhận không đất đai này nên họ phải nộp lại một phần mười những sản phẩm mà Đức Chúa Trời ban cho họ.  Đến lượt mình, người Lê-vi lại phải dâng một phần mười cho Chúa.  Gia đình A-rôn sẽ nhận được phần của họ (28) trong số một phần mười của người Lê-vi.  Bằng cách này, các thầy tế lễ sẽ được cấp dưỡng đầy đủ.

Luật dâng một phần mười này không phải do luật pháp khởi xướng.  Áp-ra-ham đã nhận biết bổn phận này trước khi luật pháp được ban bố.  Dâng lại một phần mười về những món Đức Chúa Trời đã ban là một nguyên tắc trong lẽ công bình (Sa 14:20  He 7:4).  Sau này với thời gian, dân chúng bỏ bê người Lê-vi, và một trong những điều Nê-hê-mi cải cách là tái lập lệ dâng một phần mười (Ne 10:32-39).  Tiên tri Ma-la-chi đã lên án dân Y-sơ-ra-ên rằng vì cớ lòng vô tín mà họ ăn trộm Đức Chúa Trời.  Ông thách thức họ đem dâng tất cả phần mười rồi sau đó phước hạnh của Đức Chúa Trời sẽ đổ xuống dồi dào đến nỗi họ ‘không đủ chỗ chứa’ (Ma 3:6-12).  Luật lệ phần mười được thiết lập vĩnh viễn.  Cho nên, cũng như chức vụ tế lễ của A-rôn được thành tựu trong Đấng Christ, thì chắc chắn phần mười của Hội Thánh cũng thuộc về Ngài.  Luật lệ này vẫn tiếp tục có giá trị trong Tân Ước.  Phao-lô đã lên tiếng binh vực quyền nhận sự cấp dưỡng vì ông rao truyền Phúc Âm (ICo 9:3-14).  Nếu chúng ta coi thường luật lệ này thì hậu quả là công tác bị bỏ bê dẫn đến sự sa sút thuộc linh (Mat 10:9-10  Ga 6:6-7  ITi 5:17-18).

(Dan 19:22). Nước tẩy uế Luật pháp đòi hỏi phải tinh sạch và thánh khiết.  Trước khi rời Si-na-i, dân Y-sơ-ra-ên đã đuổi tất cả những người ô uế ra khỏi trại quân.  Ở chỗ này có qui định về cách tẩy sạch khỏi tội lỗi và sự ô uế.  Lý do của luật này ở trong câu 20: nếu có người nào bị ô uế, họ sẽ làm ô uế nơi thánh.  Do đó trọng tâm của chương này cũng giống như chương 18: những tội phạm đến nơi thánh sẽ làm cho Đức Chúa Trời nổi thạnh nộ với dân Y-sơ-ra-ên, vì đã phạm đến sự thánh khiết của Đức Chúa Trời.  Tro của con bò tơ đỏ được trộn với nước và nước đó được dùng để tẩy uế.  Điều này không có gì mới.  Môi-se đã trộn huyết con bò đực với dê dực, dùng chùm ngưu tất và nước để rảy trên toàn dân và sách giao ước (Xu 24:6-8 so với He 9:19-22).  Sách Hê-bơ-rơ  dạy rằng không đổ huyết thì không có sự tha thứ tội lỗi (9:22).  Tuy nhiên sự rảy huyết với tro của con bò đực chỉ tẩy sạch thể xác, còn huyết của Chúa Giê-xu tẩy sạch lương tâm (9:13-14).  Nếu người nào coi thường nước tẩy uế sẽ bị trục xuất khỏi dân sự.  người ấy cố ý bác bỏ những điều Đức Chúa Trời đã qui định và vì thế cố ý phạm tội, vì đã biết rõ luật pháp của Đức Chúa Trời.  Nguyên tắc này cũng được áp dụng đối với sự hy sinh của Đấng Christ.  Nếu người nào không chịu tin Ngài, người đó đã bị đoán phạt rồi, vì đã không tin đến Con của Đức Chúa Trời (Gi 3:18).  Người ấy đã xoay lưng lại với giải pháp mà Đức Chúa Trời đã ban cho để cất bỏ tội lỗi của mình.

6. Cuộc hành trình đến Ca-na-an một lần nữa (Dan 20:1-21:35)

Tháng giêng có nghĩa là giữa tháng ba.  Ba mươi tám năm đã trôi qua và năm thứ bốn mươi đã đến.  Tác giả xác định rõ thời gian.  Nếu chúng ta so sánh bảng liệt kê các vị trí đóng trại của Môi-se (Dan 20:1 tương ứng với 33:38, chú ý câu 38) thì chúng ta có thể thấy rằng tác giả đã bỏ qua khoảng thời gian ba mươi tám năm trong sa mạc - đây là một cách biểu thị lặng lẽ rằng những năm đó là uổng phí.  Vào khoảng tháng mười, sau ba mươi tám năm kể từ khi rời khỏi Ca-đe Ba-nê-a ở sa mạc Pha-ran, dân Y-sơ-ra-ên đã băng qua khe Xê-rết (Phu 2:14  Dan 14:25).  Môi-se, sau này đến phiên Giép-thê, ôn lại giai đoạn lịch sử này (Phu 2:2-15  Cac 11:15-27).

(Dan 20:1). Mi-ri-am qua đời. A-rôn và Môi-se cũng qua đời trong năm này sau Mi-ri-am.  Sự qua đời của ba vị này là dấu hiệu báo thế hệ không được vào xứ Ca-na-an đã qua đời hết rồi.

(Dan 20:2-13). Sự lằm bằm -ri-ba. Những năm ở sa mạc kết thúc và khởi đầu cùng một cách, đó là sự lằm bằm.  Có thể thế hệ thứ hai đang bắt chước theo kiểu cách của thế hệ trước.  Phục Truyền Luật Lệ Ký thuật lại việc Môi-se cảnh cáo họ về sự kiện họ cứng lòng và sớm từ bỏ Đức Chúa Trời.  Cũng như những lần khác, vinh quang của Chúa lại hiện ra để đối đầu với những kẻ phản loạn.  Môi-se và A-rôn cầm theo cây gậy trổ hoa, là dấu chứng về việc Đức Chúa Trời chính thức bổ nhiệm A-rôn (Dan 17:1-13).  Nhưng Môi-se không làm theo mạng lịnh của Chúa một cách chính xác.  Ông không nói với hòn đá mà đập vào đó hai lần, và những lời nói của ông ngụ ý rằng ông làm cho nước từ hòn đá chảy ra (10).  Vì ông không tôn trọng Chúa nên không thể dẫn dân Y-sơ-ra-ên vào đất hứa được.

(Dan 20:14-21). Dân Ê-đôm không cho dân Y--ra-ên đi qua lãnh thổ của họ. Dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu tiếp cận với những dân tộc sống quanh xứ Ca-na-an.  Trải qua nhiều thế kỷ, lịch sử của họ bị chi phối nặng nề vì những sự liên hệ với các nước này trong trao đổi ngoại giao và chiến tranh.  Ca-đe nằm nơi biên giới của Ê-đôm.  Nếu dân Y-sơ-ra-ên tiến vào Ca-na-an từ phía nam thì buộc họ phải đi ngang qua nước Ê-đôm.  Chú ý đến nội dung của những lời trao đổi giữa hai nước trong đoạn Kinh Thánh này.  Dân Y-sơ-ra-ên không được phép đi qua nước Ê-đôm.

(Dan 20:22-29). A-rôn qua đời. (so với Dan 33:37-39).  Không định vị được núi Hô-rơ chỉ biết nó nằm nơi biên giới của Ê-đôm (Phu 10:6 gọi là Mô-sê-ra).  A-rôn qua đời sau Mi-ri-am bốn tháng, khoảng giữa tháng bảy của năm thứ bốn mươi (Dan 33:38).  Sự qua đời của những người này báo hiệu thế hệ thứ hai đã qua đi.  Bây giờ chỉ còn lại một mình Môi-se, nhưng chẳng bao lâu nữa ông cũng phải qua đời vì thời hạn bốn mươi năm sắp kết thúc và ông không được vào chiếm vùng đất đã hứa.  Mặc dù đoạn này nhuộm màu tang tóc, nhưng cũng báo trước ngưỡng cửa đất hứa đang đến gần.  Ê-lê-a-sa thay thế A-rôn.

(Dan 21:1-3). A-rát bị huỷ diệt. A-rát là một thành của người Ca-na-an.  Chính cư dân của thành này cùng với người A-ma-léc đã tiêu diệt một số người Y-sơ-ra-ên cũng tại Họt-ma này cách đây ba mươi tám năm (14:45).  Bây giờ họ lại tấn công dân Y-sơ-ra-ên.  Chuyến này dân Y-sơ-ra-ên tin cậy nơi Đức Chúa Trời.  Sự kiện dân Y-sơ-ra-ên thề hứa sẽ ‘tận diệt’ thành A-rát là xứng hợp với lời hứa của Đức Chúa Trời, phải truất diệt những người Ca-na-an này.

(Dan 21:4-9). Con rắn bằng đồng  Vì không được phép băng qua lãnh thổ của dân Ê-đôm nên dân Y-sơ-ra-ên phải đi vòng, nghĩa là đi về phía Biển Đỏ một lần nữa (điều này xảy ra vào giữa năm thứ bốn mươi).  Thiếu lòng kiên nhẫn khiến cho sự phản loạn có điều kiện nổ ra một lần nữa và lời coi thường ma-na mà Đức Chúa Trời ban cho lại vang lên.  Rắn lửa có thể là một loại rắn độc nhỏ rất nổi tiếng trong vùng hoang mạc cát đá ở Si-na-i, chúng rất độc.  Thuốc giải độc là nhìn con rắn bằng đồng được treo trên cây.  Sau này vua Ê-xê-chia phá huỷ con rắn đồng, vì dân chúng thờ nó như một hình tượng (IIVua 18:4).  Sự kiện Đấng Christ chịu treo trên thập tự giá được ví với biến cố xảy ra ở sa mạc này, vì ai nhìn Ngài sẽ được sống (Gi 3:14-15).  Sự giải cứu trong cả hai trường hợp đều là bởi lòng tin.

(Dan 21:10-20). Cuộc hành trình đến -áp. Nhịp điệu của câu chuyện càng nhanh dần.  Các chi phái đang tiến đến biên giới Ca-na-an.  Đây là những giai đoạn cuối của cuộc hành trình.  Tác giả đã mô tả những giai đoạn này một cách ngắn gọn và mau lẹ.  Bản NIV dùng nhiều loại từ ở những chỗ mà bản Hi Bá Lai lặp đi lặp lại cùng một từ.  Bản Hi Bá Lai thường lặp lại từ ‘họ đi từ’ và ‘họ đóng trại’ (Dan 21:10,11,12,13).  Ngược dòng bản văn, cụm từ ‘họ đi từ ...’ nhắc lại điểm đóng trại vừa qua (20:22  21:4).  Sự lặp đi lặp lại là một phép tu từ nhằm nhấn mạnh ý khẩn trương.  Dân Y-sơ-ra-ên đang khẩn trương tiến đến đất hứa.  Phân đoạn ghi lại cuộc hành trình này có hai câu trích dẫn.  Câu thứ nhất trích từ một sách cổ gọi là sách chiến trận của Đức Giê-hô-va (c.14-15, so sánh với những câu trích từ sách Gia-sa trong Gios 10:13  IISa 1:18).  Nội dung câu trích dẫn như trong bản dịch NIV, là một bản liệt kê dang dở về các địa danh.  Có những bản dịch khác sát với bản Hi Bá Lai thí dụ bản AV.  Bản LXX dịch là: ‘Do đó như có chép trong một sách, một trận chiến của Chúa đã phóng hoả Zoob và những con suối ở Ạt-nôn.  Ngài đã ấn định những con suối cho người A-rơ ở đó, và nó nằm gần biên giới Mô-áp’.

Phần trích thứ hai là một bài ca.  Bây giờ dân Y-sơ-ra-ên hát ca vui mừng vì Chúa đã giúp họ trong cuộc hành trình.  Bài ca này hoàn toàn thích hợp với ấn tượng mà tác giả đang cố tạo ra về sự nhanh chóng tiến đến mục tiêu.

(Dan 21:21-35). Chiến thắng Si-hôn Oc. Dân Y-sơ-ra-ên bị kẹt giữa biên giới Mô-áp và A-mô-rít (Dan 21:13).  Đường đến xứ Ca-na-an bị chận ngang.  Thông điệp họ gửi đến Si-hôn, vua A-mô-rít cũng tương tự như thông điệp gửi đến dân Ê-đôm (22  20:17), và phản ứng của A-mô-rít cũng tương tự như Ê-đôm: tập trung quân để đẩy lùi dân Y-sơ-ra-ên.  Lần này dân Y-sơ-ra-ên không rút đi nhưng đã tranh chiến và chiến thắng kẻ gây hấn và chiếm lấy thành của họ.  Một lần nữa tác giả trích những câu thơ cổ để đánh dấu sự chiến thắng này.  Các thi sĩ (27) là ‘những người dùng châm ngôn’, (theo nguyên văn) có lẽ ám chỉ những người thông thái của Y-sơ-ra-ên, họ đã lược thuật chiến công này bằng lối nói bóng bẩy.  Những câu thơ này báo trước sự thất bại sắp tới của Mô-áp và thần của họ là Kê-móc (29, IVua 11:33).  Óc, vua Ba-san là kẻ thù tiếp theo bị đánh bại (32-35, Phục Truyền tường thuật đầy đủ hơn về cuộc chiến này, Phu 3:1-11).  Sau khi chiến thắng, dân Y-sơ-ra-ên chiếm đóng các vùng đất của các dân tộc này (25,31,35).  Phần sau của sách ghi đầy đủ chi tiết về cuộc định cư của hai chi phái rưỡi phía đông sông Giô-đanh (chương 32).

7. Lời tiên tri của Ba-la-am (Dan 22:1-24:25)

Phần này bắt đầu thuật lại giai đoạn cuối cùng của cuộc hành trình, dân Y-sơ-ra-ên đóng trại dọc theo sông Giô-đanh đối diện Giê-ri-cô, sẵn sàng tiến vào Ca-na-an (1, Dan 33:48).  Giê-ri-cô bị chiếm trước tiên (Gios 5:13-6:27).  Những sự kiện xảy ra tại đồng bằng Mô-áp có lẽ nằm trọn trong năm tháng cuối cùng của năm thứ bốn mươi (giữa tháng mười đến giữa tháng ba), chiếm hết phần còn lại của Dân Số Ký và cả Phục Truyền Luật Lệ Ký.  Phục Truyền Luật Lệ Ký hầu như không đề cập đến chuyện Ba-la-am (Phu 4:3 23:4-5).

(Dan 22:1-20). Ba-la-am được mời. Dân Mô-áp liên minh với người Ma-đi-an sống ở Si-na-i và phía đông sông Giô-đanh (Xu 2:15-17  Cac 6:1-32).  Họ hiệp nhau mời Ba-la-am từ Phê-thô-rơ trên mé sông (tức sông Ơ-phơ-rát) đến để rủa sả dân Y-sơ-ra-ên.  Bây giờ dân Y-sơ-ra-ên đang ở vào một thời điểm quan trọng, có lẽ còn bốn tháng nữa là kết thúc cuộc lưu đày bốn mươi năm trong sa mạc.  Trong khi họ sắp sửa chiếm xứ Ca-na-an thì kẻ thù không đội trời chung này được triệu đến.  Sứ điệp chính của chương 22-24 là chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ chúc phước cho dân sự Ngài và xác nhận những lời hứa giao ước của Ngài với họ.  Chuyện Ba-lác mời Ba-la-am xoáy vào việc này qua ba cách.

Thứ nhất, nội dung lời mời của Ba-lác nêu ra một vấn đề hệ trọng: Dân Y-sơ-ra-ên đáng được chúc phước hay rủa sả?  Lời của Ba-lác nhắn với Ba-la-am là ‘Vì ta biết rằng kẻ nào ngươi chúc phước cho, thì được phước còn kẻ nào ngươi rủa sả, thì bị rủa sả’ (6), khiến chúng ta nhớ đến lời hứa của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham ‘Ta sẽ ban phước kẻ nào chúc phước ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi’ (Sa 12:2-3 so với 27:33).  Do đó lời nói của Ba-lác khiến chúng ta chú ý chờ xem kết quả của cuộc thử nghiệm những lời Đức Chúa Trời đã hứa với Y-sơ-ra-ên.  Ba-lác đã mời một tiên tri giả nổi tiếng về khả năng rủa sả của ông để đối phó với những lời chúc phước của Đức Chúa Trời.  Do đó sứ điệp chính của những chương này nổi bật hẳn lên: sự chúc phước của Đức Chúa Trời là không thể thay đổi được.  Toàn bộ câu chuyện hoá ra quan trọng vì lý do: chính môi miệng của kẻ thù đáng gờm nhất xác chứng về phước hạnh của Đức Chúa Trời dành cho Y-sơ-ra-ên (12).

Thứ hai, Đức Chúa Trời cấm Ba-la-am không được đi rủa sả dân Y-sơ-ra-ên (12) hoặc không được nói bất kỳ điều gì ngoài điều Ngài cho phép (20,38).  Trong khi Ba-la-am cỡi lừa đi gặp Ba-lác thì thiên sứ của Chúa ngăn cản ông (21-35).

Thứ ba, ngay cả những kẻ thù của dân Y-sơ-ra-ên cũng nhận biết rằng phước hạnh của Đức Chúa Trời là điều rất chắc chắn (3-5,11).  Nói cách khác, dân Y-sơ-ra-ên đang được phước và họ rất đông đúc - đúng như Đức Chúa Trời đã hứa.  Do đó toàn bộ câu chuyện này xoáy vào tính chắc chắn của phước hạnh mà Đức Chúa Trời đã hứa trong giao ước.  Trong Kinh Thánh, Ba-la-am được xem như là một người xấu xa.  Sứ đồ Phi-e-rơ nhận định về Ba-la-am là ‘Kẻ ham tiền công bất nghĩa’ (IIPhi 2:15-16  Giu 1:11).  Lòng tham tiền của đã đẩy Ba-la-am đến chỗ chống lại Đức Chúa Trời và dân của Ngài.  Bản văn lặp lại nhiều lần tiền thù lao dành cho công tác của Ba-la-am (Dan 22:7,17-18  24:11).  Khi dân Y-sơ-ra-ên báo thù người Ma-đi-an, Ba-la-am cũng bị giết chung với họ (31:8).

(Dan 22:21-41). Ba-la-am nhận mạng lịnh chỉ được nói lời của Đức Chúa Trời. Sự kiện con lừa biết nói làm cho câu chuyện trở nên khác thường.  Mặc dù theo tự nhiên, con lừa không thể nói được nhưng bởi quyền năng của Đức Chúa Trời, nó đã quở trách sự dại dột quá mức của vị tiên tri.  Thậm chí, chính con lừa cũng là một lời quở trách sống động đối với Ba-la-am vì sự tương phản giữa ông và con lừa.  Nó thấy thiên sứ đứng cản đường và khôn ngoan lùi trở lại, còn Ba-la-am không thấy gì cả cứ hùng hổ ép buộc nó đi tới.  Con lừa trung thành phục vụ Ba-la-am và cứu mạng ông, còn Ba-la-am lại đánh đập nó dã man (so với Ch 12:10).  Ba-la-am thấy rằng Đức Chúa Trời là kẻ thù của ông.  Mục đích của mọi diễn biến bất thường này là nhằm buộc Ba-la-am không được nói một lời nào quá điều Đức Chúa Trời cho phép (35,38).  Ba-lác hết sức trông mong Ba-la-am giúp đỡ.  Thái độ này lộ rõ trong câu chuyện.  Vua đón Ba-la-am ở tận biên giới, chỉ nhẹ nhàng trách Ba-la-am vì đã trì hoãn và một lần nữa nhắc lại những phần thưởng sẽ dành cho Ba-la-am (36-37).  Ngay sáng hôm sau, cả hai cùng lên đỉnh Ba-mốt Ba-anh (nơi cao của Ba-anh) để rủa sả (41).

(Dan 23:1-24:25) Lời tiên tri của Ba-la-am chúc phước cho Y--ra-ên

Dan 23:1-30. Ba-la-am nói bốn lời tiên tri về Y-sơ-ra-ên và ba lời tiên tri về các dân tộc.  Kinh Thánh chép rõ ràng Đức Chúa Trời đã đặt lời vào miệng Ba-la-am (Dan 23:5,12,16,17,26  24:2,13,16).  Có một điều chúng ta phải hiểu về những lời tiên tri của Đức Chúa Trời ban cho đây.  Mỗi một lời tiên tri trong số bốn lời tiên tri xác quyết về một trong những lời hứa mà Đức Chúa Trời đã hứa với Áp-ra-ham.  Lời tiên tri thứ nhất (23:7-10) nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời không rủa sả dân Y-sơ-ra-ên và xác nhận rằng dân Y-sơ-ra-ên giống như bụi trên đất.  Ai đếm được bụi cát của Gia-cốp, ai tu bộ được phần tư của Y-sơ-ra-ên? (23:10).  Lời tiên tri thứ hai (23:18-24) nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời không thể thay đổi lời hứa của Ngài và xác nhận rằng Đức Chúa Trời hiện diện giữa dân sự của Ngài (rõ ràng đây là nội dung của lời hứa về mối tương giao với Đức Chúa Trời).  Giê-hô-va Đức Chúa Trời ở cùng ngươi (23:21).  Lời tiên tri thứ ba (24:3-9), một sự hiện thấy từ Đấng Toàn Năng.  Đây là một danh xưng mà Đức Chúa Trời dùng khi hiện ra với Áp-ra-ham, xác nhận rằng dân Y-sơ-ra-ên sẽ thừa hưởng vùng đất đã hứa (24:5,6).  Lời tiên tri về sự chiến thắng A-gát, vua A-ma-léc cho thấy rằng xứ Ca-na-an cũng được đề cập ở đây (ISa 15:8).  Cuối cùng lời tiên tri cho thấy rằng dân Y-sơ-ra-ên sẽ nuốt những dân tộc thù địch (Dan 24:8) để làm ứng nghiệm lời hứa là họ sẽ chiếm các thành của kẻ thù (22:17)  Những lời cuối cùng của câu 9 đề cập rõ hơn về giao ước của Áp-ra-ham, Ban phước cho kẻ nào chúc phước ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi (so với Sa 12:3).

Đáng chú ý nhất có lẽ là lời tiên tri thứ tư (Dan 24:15-19).  Đó là lời tiên tri từ Đấng Chí Cao (24:16) là Đấng mà Mên-chi-xê-đéc đã nhơn danh để chúc phước cho Áp-ra-ham (Sa 14:18-20).  Trong Tân Ước Mên-chi-xê-đéc có liên hệ đến Đức Chúa Giê-xu Christ (He 7:1-7  Thi 110:4).  Lời tiên tri này hứa hẹn một vị vua trong tương lai chiến thắng quân thù của dân Y-sơ-ra-ên (câu 17-19).  Câu Người sẽ đâm lủng Mô-áp từ đầu này đến đầu kia (17) xem như báo trước những thắng lợi của Đa-vít (IISa 8:2).  Tuy nhiên, lời hứa dành cho Áp-ra-ham (Sa 12:3  22:18) cùng phần Kinh Thánh còn lại dạy chúng ta thấy rằng trong lời hứa về ngôi Đa-vít là lời hứa về Đấng Mê-si mà dân ngoại sẽ vâng phục (49:10).  Ba-la-am xác nhận những lời hứa mà Đức Chúa Trời dành cho Áp-ra-ham là như vậy.

Ba-lác càng lúc càng giận dữ khi Ba-la-am cứ tiếp tục tuôn ra những lời tiên tri vì thật ra ông này không kềm lại được.  Ông bị buộc phải tuôn ra những lời chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên.  Sau đó ông lại tự động tiếp tục nói tiên tri về tương lai của những dân tộc khác như: A-ma-léc (20), Kê-nít (21-22), A-su-rơ và Hê-be (24).  Dân A-ma-léc, kẻ thù khốc liệt của dân Y-sơ-ra-ên bị tiêu diệt trong thời vua Ê-xê-chia (ISu 4:43).  Một số người Kê-nít sống chung với dân Y-sơ-ra-ên nhưng Ca-na-an là vùng đất của họ và họ là dân tộc đầu tiên trong bảng liệt kê các dân tộc bị truất diệt khỏi xứ (Sa 15:19).  A-su-rơ có nghĩa là A-si-ri.  Hê-be có lẽ ám chỉ Ba-by-lôn và Kít-tim (tức Hi Lạp).  Như vậy Ba-la-am đã nhìn thấy tương lai rất xa trong dòng lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên.

Dan 24:1-25; xem giải nghĩa Dan 23:1-30

8. Người Mô-áp quyến dụ dân Y-sơ-ra-ên. (Dan 25:1-18)

Dầu dân Y-sơ-ra-ên không bị rủa sả vì lời của Đức Chúa Trời rất quyền năng, nhưng họ lại thua sự dụ dỗ vì họ rất yếu đuối.  Một lần nữa chúng ta lại thấy rõ đặc điểm của Dân Số Ký.  Sách nêu lên sự tương phản giữa lời của Đức Chúa Trời với sự phản loạn của con người.  Lời của Đức Chúa Trời chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên, còn họ thì phản loạn.  Mặc dù Dân Số Ký không chép, nhưng những chỗ khác trong Kinh Thánh về sau này cho chúng ta biết rằng chính Ba-la-am bày mưu dụ dỗ dân Y-sơ-ra-ên thờ lạy hình tượng và gian dâm (IIPhi 2:13-16  Kh 2:14).  Hai tội này có quan hệ với nhau.  Hoặc là nghi thức tế lễ cho Ba-anh có mục sinh hoạt tình dục, một nghi thức cầu xin khả năng sinh sản, hoặc dân Mô-áp dùng mỹ nhân kế để dụ dân Y-sơ-ra-ên tham gia thờ lạy hình tượng với họ.  Đây là kinh nghiệm đầu tiên báo trước về mối hiểm hoạ từ người Ca-na-an.  Sau này dân Y-sơ-ra-ên sa vào con đường này.  Dân sự của Đức Chúa Trời thường xuyên được khuyến cáo đừng kết hôn với những dân tộc chung quanh vì họ có thể dẫn dụ người Y-sơ-ra-ên bỏ Đức Chúa Trời.

Khi dân Y-sơ-ra-ên phạm tội thờ con bò vàng ở Si-na-i, người Lê-vi đã tự biệt mình riêng ra để hầu việc Đức Chúa Trời bằng cách giết chết chính họ hàng của họ (Xu 32:25-29).  Giờ đây, cháu nội của A-rôn là Phi-nê-a đã sốt sắng tự biệt mình riêng ra cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.  Vừa thấy một người Y-sơ-ra-ên dẫn con gái của một quan trưởng người Ma-đi-an vào trại, ông đã đi theo và dùng giáo đâm xuyên qua cả hai người.  Họ can tội trắng trợn thách thức lời của Đức Chúa Trời bất chấp dân sự đang than khóc.  Hành động của Phi-nê-a chấm dứt một tai vạ đã cướp đi 24.000 sinh mạng (Phao-lô nói rằng 23.000 người trong một ngày, ICo 10:8, so với hành động của A-rôn vài năm trước Dan 16:47-48).  Nhận thấy Phi-nê-a có lòng sốt sắng, Đức Chúa Trời đã xác nhận chức vụ tế lễ của ông bằng một giao ước đời đời (25:13  Ne 12:29).  Đức Chúa Trời đã bày tỏ lòng thương xót của Ngài trong việc ban cho giao ước này vì nó bảo đảm rằng trong tương lai sẽ có các thầy tế lễ chuộc tội cho dân Y-sơ-ra-ên.  Kinh Thánh Tân Ước tuyên bố rằng công tác của Đấng Christ thay thế chức vụ tế lễ của A-rôn (He 7:11-12).  Ở đây không có sự mâu thuẫn nào.  Qua công tác của các tiên tri, chúng ta thấy rõ rằng cuối cùng chức vụ tế lễ sẽ thành tựu hoàn toàn trong Đấng Christ.

Cuối cùng, ở tại sa mạc, Đức Chúa Trời đã truyền lịnh cho người Y-sơ-ra-ên xem dân Ma-đi-an như kẻ thù vì cớ sự việc này.  Dân Y-sơ-ra-ên nhanh chóng diệt trừ dân Ma-đi-an (chương 31).

5. SỰ CHUẨN BỊ MỚI ĐỂ THỪA HƯỞNG ĐẤT HỨA (Dan 26:1-36:13)

Phần thứ ba của sách xoay quanh chủ đề sản nghiệp.  Thời gian lưu lạc trong sa mạc đã kết thúc, dân Y-sơ-ra-ên đang đóng trại tại trạm cuối cùng.  Cần chuẩn bị lại một lần nữa để thừa hưởng vùng đất mà Đức Chúa Trời thề ban cho họ.  Sự phân chia xứ và những luật lệ phải giữ trong xứ là vấn đề được chú trọng.

1. Kiểm kê dân số Y-sơ-ra-ên (lần thứ hai) và sự phân chia đất hứa (Dan 26:1-27:23)

(Dan 26:1-4). Chúa truyền lịnh kiểm dân số lần thứ hai  Cuộc chuẩn bị lần thứ nhất cũng khởi đầu bằng sự kiểm kê dân số.  Cuộc kiểm kê dân số lần này là dấu báo hiệu rằng thời kỳ đoán phạt sắp kết thúc và một lần nữa cần chuẩn bị để tiến vào đất hứa.  Cuộc kiểm kê này được tiến hành theo cùng một căn bản như đợt trước (Dan 26:2 lập lại 1:2 một cách ngắn gọn).

(Dan 26:5-51). Dân Y--ra-ên được kiểm theo họ hàng  Cần chú ý đến ba đặc điểm của bản báo cáo đợt kiểm kê này: trải qua bốn mươi năm tổng số dân Y-sơ-ra-ên hơi giảm đi (1:17-46).  Một số chi phái có gia tăng, một số khác sút giảm đi.  Lần này có nêu tên các họ hàng trong mỗi chi phái.  Cũng có lời bình luận về sự phản loạn của Cô-rê (để làm lời khuyên, so với ICo 10:6,11), cái chết của hai con trai Giu-đa (19) và sự kiện Xê-lô-phát thuộc chi phái Ma-na-se chỉ có con gái (33).

Quan trọng là phải hiểu vì sao kết quả cuộc kiểm kê được ghi lại dưới dạng này.  Trước hết số dân giảm sút một ít cho thấy rằng Đức Chúa Trời thu hồi phước hạnh đối với thế hệ qua dời trong sa mạc vì sự phản loạn của họ.  Dân số gia tăng là phước hạnh của Đức Chúa Trời.  Nhưng đây là những năm uổng phí vì dân Y-sơ-ra-ên chỉ dẫm chân tại chỗ.  Những đặc điểm khác phản ảnh mối quan tâm chủ yếu của tác giả trong các chương từ 26-36, đó là sản nghiệp.  Mỗi đặc điểm vạch ra đường hướng dân Y-sơ-ra-ên sở hữu đất đai đã hứa ban cho họ.  Phần thứ ba của Dân Số Ký sẽ trình bày đầy đủ rõ ràng.  cụ thể là đất sẽ được chia cho mỗi chi phái tuỳ theo số nhân khẩu trong chi phái, và cách thức này quyết định mức thịnh vượng và phát triển của họ suốt qua nhiều thế kỷ.  Đáng lưu ý là tác giả dành riêng hai phần để giải quyết vấn đề hưởng sản nghiệp của các con gái Xê-lô-phát, một vấn đề quan trọng vì thông thường sản nghiệp chỉ được chuyển giao qua cho con trai (27:1-11  36:1-13).

(Dan 26:52-56). Sự phân chia đất đai  Mối quan tâm chính trong phần thứ ba của Dân Số Ký là sản nghiệp ở Ca-na-an.  Mỗi chi phái nhận được đất đai tương xứng với số người trong chi phái mình bằng cách bốc thăm.  Làm như thế không có nghĩa là dựa vào sự may rủi, vì Đức Chúa Trời vẫn nắm quyền ấn định kết quả bốc thăm (Ch 16:33).

(Dan 26:57-62). Kiểm người -vi  Trong đợt kiểm kê thứ nhất, người Lê-vi được kiểm kê riêng vì họ không phục vụ quân đội nhưng để làm thầy tế lễ.  Trong đợt thứ hai này người ta cũng không tính số người Lê-vi trong đợt kiểm kê chính vì họ sẽ không có sản nghiệp.  Đây không phải là một lý do mới lạ khác.  Nếu họ nhận đất đai như những chi phái khác thì họ sẽ bận lo canh tác rồi lơ là hầu việc Chúa (Dan 18:8-32).  Cách sắp xếp này bày tỏ một nguyên tắc là những người hầu việc Đức Chúa Trời không nên vướng bận vào những chuyện làm ăn ở đời, nhưng nên hoàn toàn hiến trọn thì giờ hầu việc Đức Chúa Trời (IITi 2:4).

(Dan 26:63-65). Không còn lại một người nào của thế hệ thứ nhất  Đây là lý do khiến có lịnh kiểm kê dân số.  Điều này là một lời nhắc nhở nghiêm túc rằng sự đoán phạt của Đức Chúa Trời là chắc chắn và dứt khoát.  Ngài đã thề rằng không có một người nào trong thế hệ phản loạn này còn sống sót ngoại trừ Giô-suê và Ca-lép.  Và chúng ta cũng đừng bao giờ quên rằng Đức Chúa Trời luôn luôn làm trọn lời của Ngài.  Nói rõ hơn là không có một lời thề nào của Đức Chúa Trời không thành tựu hoặc sẽ không thành tựu.

(Dan 27:1-11). Sản nghiệp của các con gái --phát. Theo luật phải chuyển giao sản nghiệp cho con trai (Sa 27:1-46  Phu 21:15-17  Lu 15:11-32).  Các bản gia phổ hầu như không đề cập đến phụ nữ (Mat 1:3-5 là một ngoại lệ)  rõ ràng phụ nữ không có tư cách độc lập mà phải ở dưới quyền làm đầu của cha hoặc chồng (xem chương 30).  Các sứ đồ vẫn duy trì quyền làm đầu của nam giới trong Hội Thánh (ICo 11:2-16  14:34-37  ITi 2:9-15  IPhi 3:1-6).  Do đó các con gái Xê-lô-phát sợ rằng họ không có sản nghiệp vì cha họ đã chết mà họ thì không có anh em trai.  Hành động của họ rất có ý nghĩa.  Họ đến cửa Hội Mạc (2).  (Đây là nơi cấp lãnh đạo của dân họp để xét xử, nhưng quan trọng hơn nữa đó là nơi vị thẩm phán của toàn thế giới đang ngự trị (Dan 16:16-35).  Do đó họ nài xin Đức Chúa Trời là Đấng bảo vệ thành phần cô thế, mồ côi và goá bụa (Gia 1:27).  Điều Ngài luôn luôn quan tâm là bảo vệ quyền lợi của dân sự Ngài về phần sản nghiệp của họ trong đất hứa (IVua 21:1-29  Es 5:8).

Lời kêu cầu của các con gái Xê-lô-phát đã được giải quyết công bằng và từ đó một luật cố định đã được ban hành để bảo vệ những người có cùng cảnh ngộ như họ (6-11).  Đây không phải là một tình tiết ngẫu nhiên trong đời sống của dân Y-sơ-ra-ên.  Địa vị của con gái Xê-lô-phát đã được ám chỉ trong Dan 26:33 rồi, và đó là vấn đề bao gồm cả sách (36:1-13).  Ý nghĩa thuộc linh của vấn đề này rất rộng lớn.  Ca-na-an là nơi Đức Chúa Trời thiết lập sự tương giao với dân sự Ngài.  Nếu có ai bị ngăn không cho vào xứ này thì người đó không được tương giao với Đức Chúa Trời.  Ca-na-an không chỉ là nơi để sinh sống, cũng không chỉ là hình bóng về đất mới và Giê-ru-sa-lem mới, mà về phương diện lịch sử nó còn là vương quốc của Đức Chúa Trời và là nơi duy nhất để cả trái đất biết đến Đức Chúa Trời (Phu 4:7).  Qua sự dạy dỗ ở đây, mọi người nam và nữ đều được bước vào vương quốc của Đức Chúa Trời.  Do đó đây không phải là vấn đề tầm thường.

(Dan 27:12-23). Giô-suê được chỉ định kế vị Môi-se. Chẳng bao lâu sau, Môi-se sẽ lên núi Nê-bô và qua đời tại đó (Phu 32:48-52  34:1-12).  Công tác cuối cùng của ông là bổ nhiệm Giô-suê, báo thù người Ma-đi-an và rao giảng luật pháp của Đức Chúa Trời một lần chót.  Ngay cả vị đầy tớ vĩ đại của Đức Chúa Trời, là người đã ‘trung tín trong cả nhà của Đức Chúa Trời’ (He 3:2), cũng không được vào Ca-na-an, vì có một lần ông không tôn vinh Đức Chúa Trời là thánh.  Sự kiện này dạy dân Đức Chúa Trời biết kính sợ danh thánh của Ngài (Es 6:1-5).  Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời là tuyệt đối.  Không thể du di biến đổi sự thánh khiết của Đức Chúa Trời, dù chỉ một chút để phù hợp với con người tội lỗi.  Đây là một lời nghiêm túc nhắc nhở chúng ta chú ý vâng theo ý của Đức Chúa Trời từng lời, từng câu.  Nhưng dù vậy, hầu như con người vẫn không có cách nào vào được nước của Đức Chúa Trời, do đó điều đáng vui mừng là chính Đức Chúa Giê-xu Christ đã vào tận thiên đàng vì cớ chúng ta (9:24).  Ngài đã vào nơi mà con người không thể đến được.

Dù Môi-se biết rằng ông sắp chết, nhưng ông vẫn tỏ ra có lòng quan tâm đến dân sự, không bỏ rơi họ như chiên không có người chăn (so với IVua 22:17  Exe 34:5  Mat 9:36).  Ông đã xin Đức Chúa Trời chỉ định một người lãnh đạo mới vì chỉ một mình Đức Chúa Trời biết lòng của con người và là Đức Chúa Trời của thần linh mọi người (16  Dan 16:22).  Các sứ đồ cũng mang nặng một mối ưu tư này khi họ chọn người thay thế Giu-đa Ích-ca-ri-ốt (Cong 1:24).  Dân sự của Đức Chúa Trời cần có một người lãnh đạo được Đức Chúa Trời chấp nhận.  Những người lãnh đạo được Đức Chúa Trời chọn lựa luôn luôn tìm hiểu ý muốn của Đức Chúa Trời và làm theo (ISa 30:7-8 Cong 16:6-10).  Giô-suê được xem là người có Thánh Linh (18).  Chỉ có Linh của Đức Chúa Trời mới dẫn dắt được cấp lãnh đạo Y-sơ-ra-ên (Dan 11:25  ISa 16:1-13  Cong 20:28).  Cử chỉ đặt tay là một cử chỉ tượng trưng bày tỏ là Giô-suê được biệt riêng (Dan 8:5-26).

2. Những của lễ và lời hứa nguyện (Dan 28:1-30:16)

(Dan 28:1-8). Của-lễ thiêu hằng ngày  Nơi đây nhắc lại luật lệ đã được ban bố trong Xu 29:38-43.  Phần này cũng bao gồm những luật lệ khác (Le 1:1-7:28  23:1-44  Dan 15:1-41).  Mỗi sáng và chiều phải dâng một con chiên con.  Mục đích điều này hết sức quan trọng: ‘Ta sẽ ở giữa dân Y-sơ-ra-ên, làm Đức Chúa Trời dân ấy.  Dân ấy sẽ biết Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng nó’ (Xu 29:45-46).  Ê-li dâng của lễ ở núi Cạt-mên đúng vào giờ dâng của lễ buổi chiều và mục đích của ông đúng như mục đích luật pháp đề ra: ‘Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, của Y-sác, và của Y-sơ-ra-ên, ngày nay xin tỏ cho người ta biết rằng Ngài là Đức Chúa Trời trong Y-sơ-ra-ên’ (IVua 18:36).  Những luật này được nhắc lại vào thời điểm này vì chủ đề chính là sản nghiệp.  Nguyên nhân duy nhất khiến dân sự thật lòng mong muốn nhận được sản nghiệp vì nơi đó có Đức Chúa Trời ở giữa họ.  Lúc nào tác giả cũng quan tâm đến sự thành tựu của giao ước với Áp-ra-ham.  Sở hữu đất hứa và trở thành một dân lớn là mục tiêu cuối cùng trong việc Đức Chúa Trời lập nên một dân tộc biết tôn vinh Ngài.  Như vậy, việc dâng những con chiên làm tế lễ là phương tiện để đạt đến mục tiêu này.

Kinh Thánh Tân Ước dạy rằng những của lễ này là ‘hình bóng’ báo trước về sự chết của Đấng Christ.  Ngài là Chiên Con không tì vết cất tội lỗi của thế gian đi (Gi 1:29).  Thật vậy, Ngài đã chết vào giờ dâng của lễ buổi chiều lúc các chiên con của lễ Vượt Qua cũng bị giết.  Sự chết của Ngài đã huỷ bỏ những của lễ này và chẳng bao lâu, khi đền thờ bị phá huỷ vào năm 70 S.C. thì những của lễ này cũng không còn được dâng nữa.

Cần phải dâng một số lượng lớn sinh tế cho thấy số lớn tội lỗi cần được dẹp đi trước khi có thể đến gần Đức Chúa Trời.  Số lớn các con sinh cũng nói lên ân điển lớn lao của Đức Chúa Trời khi Ngài cho dân Y-sơ-ra-ên được giàu có, nhiều bầy súc vật lớn để họ có khả năng đem dâng cho Ngài.  Họ chỉ dâng một phần những điều Đức Chúa Trời đã ban cho họ trước.  Nguyên tắc dâng hiến này cũng được áp dụng cho Cơ Đốc nhân ngày nay.  Họ chỉ dâng lại cho Đức Chúa Trời một phần nhỏ trong những điều họ nhận được.  Việc dâng của lễ buổi sáng và buổi chiều cũng được dùng làm mẫu mực cho thì giờ cầu nguyện trong Hội Thánh.  Chắc chắn các sứ đồ trong Hội Thánh đầu tiên đã tuân giữ những giờ cầu nguyện ở đền thờ (Cong 3:1).  Chúng ta không biết Hội Thánh có duy trì lệ này không, nhưng chúng ta biết rằng các sứ đồ có dạy các Hội Thánh phải thường xuyên cầu nguyện (ITe 5:17).

(Dan 28:9-10). Của-lễ thiêu trong ngày sa-bát. Đây là những của lễ dâng thêm bên cạnh những của lễ hằng ngày.  Ngày sa-bát được biệt riêng ra thánh cho Chúa (Xu 20:8-11  Phu 5:12-15).

(Dan 28:11-15). Của-lễ thiêu vào ngày đầu tháng  Người Y-sơ-ra-ên dùng âm lịch nên ngày đầu tháng được ấn định theo tuần trăng.  Mỗi tháng kéo dài từ hai mươi chín đến ba mươi ngày cho nên năm âm lịch ngắn hơn năm dương lịch khoảng mười một ngày.  Do đó phải có chu kỳ nhuần một tháng để điều chỉnh theo dương lịch.  Ngày mồng một của mỗi tháng phải được giữ như ngày sa-bát.  Vào ngày này, họ phải dâng hai con bò đực tơ, một con chiên đực và bảy chiên con cùng với một con dê đực làm của lễ chuộc tội.  Có vẻ như là không thể khởi đầu một tháng mới mà không có sự bảo hiểm bằng của lễ.

(Dan 28:16-25). Của-lễ thiêu trong Lễ Vượt Qua. Những của lễ trong Lễ Vượt Qua cũng tương tự như của lễ trong ngày trăng mới, chỉ có điều phải dâng liên tiếp trong bảy ngày.  Lễ Vượt Qua cũng được đánh dấu bằng bánh không men.  Lễ này được cử hành vào tháng đầu tiên Nisan (hoặc Abib), tức khoảng tháng ba, tháng tư dương lịch (Xu 12:1-50  Dan 9:1-14  Phu 16:1-22  Gios 5:10  IIVua 23:21).  Đây là lúc Đức Chúa Giê-xu Christ hi sinh chịu chết làm chiên con của Lễ Vượt Qua (Gi 19:17-37  ICo 5:7).

(Dan 28:26-31). Của-lễ thiêu trong Lễ Các Tuần. Đây là một lễ lớn thứ hai, cũng được gọi là ngày hoa quả đầu mùa, được cử hành vào cuối vụ mùa lúa mạch (Xu 23:16  Le 23:15-21  Phu 16:9-12).  Lễ này kéo dài bảy tuần (năm mươi ngày) sau Lễ Vượt Qua, gần cuối tháng năm (bắt đầu tháng Siwan), còn gọi là Lễ Ngũ Tuần. Vào thời gian diễn ra lễ này Thánh Linh được ban cho các môn đồ đầu tiên của Chúa Giê-xu, họ được kể như trái đầu mùa của mùa gặt Phúc Âm (Cong 2:1-47).

(Dan 29:1-6) Của-lễ thiêu trong Lễ Thổi n. Ba kỳ lễ còn lại được cử hành vào tháng thứ bảy (tháng Tishri, tháng chín/ mười tây lịch).  Phải thổi kèn vào ngày mồng một tháng này (so với Le 23:23-25).  Của-lễ đem dâng cũng tương tự như hai kỳ lễ đầu nhưng chỉ cần dâng một con bò đực tơ thôi.  Tiếng kèn rất có ý nghĩa.  Tiếng kèn triệu tập dân sự và kêu cầu Đức Chúa Trời nhớ đến dân sự của Ngài  (Dan 10:1-10).

(Dan 29:7-11). Của-lễ thiêu trong ngày Lễ Chuộc Tội. Mồng mười tháng bảy là ngày Lễ Chuộc Tội nhằm cất bỏ đi tất cả mọi tội lỗi (Le 16:1-34  23:26-32).  Đây là thời điểm duy nhất trong năm mà thầy tế lễ thượng phẩm được phép vào Nơi Chí Thánh.  Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời và tội lỗi của con người hoàn toàn không thể hoà hợp được (Le 16:1-34  He 9:7).  Vào ngày này dân Y-sơ-ra-ên phải ép mình hoặc từ chối chính mình.  Trong tiếng Hi Bá Lai động từ này có nghĩa là ‘tự hạ mình xuống’ và dường như ngụ ý kiêng ăn.  Của-lễ này được thiêu trong lửa chứ không ăn (con chiên Lễ Vượt Qua được ăn) và đuổi con dê gánh tội vào sa mạc.  Sau này, khi nói về ngày kiêng ăn, có lẽ Ê-sai đề cập đến điều này (Es 58:1-14).  Lý do chính yếu về việc từ chối mình là để dân Y-sơ-ra-ên nhớ lại tội lỗi của mình và lo ăn năn.

(Dan 29:12-38). Của-lễ thiêu trong Lễ Lều Tạm. Tên ‘Lễ Lều Tạm’ xuất xứ từ Le 23:33-43 nhưng ở đây không dùng đến tên đó.  Đây là kỳ lễ lớn cuối cùng trong năm, được tổ chức vào ngày thứ mười lăm của tháng thứ bảy.  Vào ngày thứ nhất phải dâng mười ba con bò đực tơ, hai con chiên đực và mười bốn con chiên con.  Dâng của lễ với số lượng này trong bảy ngày, nhưng giảm số bò đực xuống, mỗi ngày qua là giảm một con.  Đến ngày thứ tám thì dâng của lễ tương tự như những ngày khác.  Dân Số Ký quan tâm đến các của lễ.  Chúng ta học được nhiều điều về ý nghĩa của lễ Lều Tạm trong Lê-vi Ký và Phu 16:13-17 (Ne 8:13-18).  Đó là thời gian có vụ thu hoạch cuối cùng, một khoảng thời gian để vui mừng, là lúc dân Y-sơ-ra-ên đem dâng nhiều lễ vật lạc ý (39).  Sa-lô-môn cung hiến đền thờ vào dịp lễ này.  Vua đã dâng 22.000 con bò và 120.000 con chiên và dê trong suốt mười bốn ngày (IVua 8:2,62-66).

Những kỳ lễ này tương ứng với những biến cố quan trọng trong phần thuộc linh.  Lễ Vượt Qua (kỷ niệm sự giải phóng khỏi Ai Cập và sự chết) tương ứng với việc Chúa Giê-xu chịu chết Lễ Các Tuần hoặc Ngũ Tuần (ngày hoa quả đầu mùa) tương ứng với biến cố Thánh Linh giáng lâm và kỳ thu hoạch những trái đầu mùa của mùa gặt Phúc Âm (Cong 2:1-47).  Vì vậy ngày Lễ Lều Tạm tương ứng với sự hiện đến lần thứ hai của Đấng Christ vào thời kỳ sau rốt, kết thúc mùa gặt.  Khoảng thời gian giữa Lễ Ngũ Tuần và Lễ Lều Tạm là một giai đoạn bận rộn, dân Y-sơ-ra-ên lo trồng tỉa cho vụ mùa.  Cũng vậy, giữa Lễ Ngũ Tuần và sự hiện đến lần thứ hai của Chúa thì Ngài sai phái thợ gặt đi thu hoạch giữa dân ngoại (Mat 9:37-38  13:30-39  Lu 10:2  Gi 4:35).  Đến ngày sau rốt sẽ có sự thu hoạch rồi cỏ khô sẽ bị ném vào lửa (Mat 13:39  Mac 4:29  Kh 14:15).

Kỳ thu hoạch cũng là thời gian để họ nhớ rằng Đức Chúa Trời đã đem họ vào đất hứa và ban phước dư dật cho họ ở đó (đây là lý do vào kỳ lễ họ sống trong những lều nhỏ, để nhớ lại cuộc hành trình đến đất hứa).  Cũng vậy, vào ngày sau rốt dân của Đức Chúa Trời sẽ vui mừng trong Ngài, Đấng đem họ vào vương quốc đời đời.  Như vậy Lễ Lều Tạm được tổ chức để mừng sản nghiệp, sản nghiệp là vấn đề then chốt trong chương 26-36.  Cuối cùng có một số điểm tương ứng nữa.  Cũng như tiếng kèn đã triệu tập dân chúng lại trong ngày lễ lớn nầy thì trong ngày sau rốt, kèn sẽ triệu tập mọi người nhóm hiệp trước mặt Đức Chúa Trời là Đấng xét xử kẻ sống và kẻ chết.

(Dan 29:39). Những lễ vật dâng thêm. Tất cả những của lễ thiêu này là để thêm vào những của lễ lạc ý và của lễ hoàn thành lời hứa nguyện.  Nhiều của lễ được dâng lên để bày tỏ tấm lòng cảm tạ sâu xa.  Cốt lõi của những của lễ này được tóm gọn trong Tân Ước - ‘Đức Chúa Trời yêu mến kẻ vui lòng dâng hiến’ (IICo 9:7).  Thậm chí sau khi chúng ta làm tất cả những điều này, chúng ta vẫn là những đầy tớ không xứng đáng, vì chúng ta mới chỉ làm những việc trong phạm vi bổn phận của chúng ta (Lu 17:10).

(Dan 30:1-16). Luật về lời hứa nguyện Luật về lời hứa nguyện được đặt tiếp theo sau luật về các của lễ thiêu là hợp lý và tự nhiên (Dan 29:39).  Nguyên tắc căn bản là phải làm trọn lời hứa nguyện (Phu 23:21-23  Tr 5:4).  Trong Kinh Thánh có nhiều trường hợp hứa nguyện điển hình, trong đó có những trường hợp hứa nguyện quá đáng (Cac 11:30-40).  Nếu không làm tròn lời hứa nguyện thì Lê-vi Ký đoạn 27 cho biết phải làm gì.  Tuy nhiên, nơi đây quan tâm đến lời hứa nguyện của nữ giới.  Điểm quan hệ trong vấn đề này là nữ giới ở dưới quyền hành của cha hoặc chồng, nên cha hoặc chồng có thể huỷ bỏ lời thề của một người nữ trong nhà mình.  Đương sự không có quyền hạn tuyệt đối trong vấn đề này.  Tuy nhiên nếu đương sự là một goá phụ, không ở dưới quyền của người nam, nếu đã hứa nguyện thì phải bị ràng buộc với lời hứa đó.  Kinh Thánh Tân Ước qui định những người vợ Cơ Đốc phải thuận phục chồng như Sa-ra vâng phục Áp-ra-ham, gọi ông là ‘chủ’ (Eph 5:24  IPhi 3:1-7).  Thời nay thiên hạ ở khắp nơi phản đối chuyện này, một sự kiện củng cố lẽ thật trong Kinh Thánh (IITi 4:3 so với Ch 31:10  Tr 7:28) và cũng là lời bình luận xác đáng về thời đại này (IITi 3:1-9).  Kinh Thánh Tân Ước dạy rất đúng đắn về vấn đề này và không cho phép người chồng trở nên độc đoán.  Trái lại, Kinh Thánh dạy người chồng phải có tình yêu sâu đậm và hi sinh đối với vợ, nhưng chỉ trong những giới hạn hợp lý của Kinh Thánh và không đến nỗi từ bỏ uy quyền mà Kinh Thánh ban cho họ (Eph 5:25-33).

3. Báo thù người Ma-đi-an và sự định cư ở phía đông sông Giô-đanh (Dan 31:1-32:42)

Cần nhận thấy rằng chương 31 không phải là bài tường thuật về một trận đánh.  Chương này khác Gios 8:1-35 (trận đánh chiếm thành A-hi), cũng khác ISa 14:1-52 (Giô-na-than tấn công người Phi-li-tin).  Tác giả không quan tâm lắm đến chính trận đánh vì ông chỉ dành cho trận đánh một câu duy nhất (7).  Trái lại, tác giả quan tâm tới ba điều: chiến lợi phẩm (chiếm 46 câu, từ câu 9-54), những qui định về chiến tranh (như trước đây ông đã quan tâm đến trật tự khi hành quân, Dan 10:11-36) và sự tẩy sạch (19-24).  Đây là những quan tâm thường xuyên của Dân Số Ký.  Những vấn đề đó có liên hệ đến thuộc tính của Đức Chúa Trời.  Đó là sự thánh khiết của Ngài và sự trật tự, vì Ngài là Đức Chúa Trời của sự trật tự, chứ không phải lộn xộn (so sánh với ICo 14:33, bản RSV).  Đức Chúa Trời vẫn bày tỏ sự thánh khiết trong khi báo thù, qua sự tổ chức quân đội của Ngài, qua việc thu chiến lợi phẩm và qua việc yêu cầu binh sĩ của Ngài phải tự tẩy sạch.

(Dan 31:1-24). Báo thù người Ma-đi-an. Đoạn này mở đầu bằng một lời nhắc nhở rằng Đức Chúa Trời có quyền cất sự sống đi.  Sự huỷ diệt người Ma-đi-an là một sự báo thù xứng đáng với tội ác mà họ gây ra đối với dân của Đức Chúa Trời, khiến họ không tôn trọng Đức Chúa Trời (Dan 25:1-18).  Cũng vào lúc này Đức Chúa Trời nhắc Môi-se rằng ông sắp qua đời.  Việc này cũng bày tỏ sự công bình trọn vẹn của Đức Chúa Trời.  Không những Ngài báo trả kẻ thù của Ngài, mà Ngài cũng không bỏ qua tội lỗi nơi người tôi tớ yêu mến nhất.  Sở dĩ như vậy là vì sự thánh khiết và vinh hiển của Ngài quan trọng hơn sự sống của con người.  Môi-se đã dạy cho dân Y-sơ-ra-ên bài học này ‘Đức Chúa Trời không thiên vị ai, không nhận của hối lộ’ (Phu 10:17  Exe 18:1-32 so với Cong 10:34-35).  Những qui định về chiến tranh cũng được ấn định theo những nguyên tắc rất mạch lạc phản ánh sự thánh khiết và trật tự của Đức Chúa Trời.  Mỗi chi phái đều góp phần như nhau.  Phi-nê-a, con trai của thầy tế lễ thượng phẩm ra trận với 12.000 quân.  Ông là nhân vật nổi bật qua hành động của ông trong chương Dan 25:6-13, và chắc chắn binh sĩ rất phấn khởi khi ông hiện diện giữa vòng họ, vì Đức Chúa Trời hứa rằng ông sẽ đảm nhiệm lâu dài chức vụ thầy tế lễ (25:10-13).  Ông đem kèn theo để chỉ đạo trận đánh và để khẩn cầu Đức Chúa Trời nhớ đến dân sự của Ngài tại trận địa (10:9) và cũng đem theo những vật dụng thánh là những biểu tượng về sự hiện diện của Đức Chúa Trời (6).  Đoạn Kinh Thánh này ghi lại một cuộc chiến thắng.  Dân Y-sơ-ra-ên giết tất cả những người đàn ông Ma-đi-an, kể cả Ba-la-am, là người chỉ đạo cho dân Mô-áp con đường dẫn dân Y-sơ-ra-ên đến chỗ thất bại (8).  Trong dòng lịch sử sau này, người Ma-đi-an lại vùng lên đối địch với dân Y-sơ-ra-ên (Cac 6:1-8:35).  Sự kiện này không gây ra mối nghi hoặc nào đối với cuộc chiến thắng này.  Vì đúng ra từ Ma-đi-an chỉ về một liên minh đông đảo nhiều chi phái người A-ma-léc, Mô-áp, Ích-ma-ên và những dân khác.  Quân Ma-đi-an trong trận này là đám người liên minh với Mô-áp.

Môi-se không cho phép binh sĩ ở chiến trường về đem tù binh vào trại quân.  Ông nổi giận khi binh sĩ không giết phụ nữ vì họ chính là thành phần cám dỗ dân Y-sơ-ra-ên phạm tội thờ hình tượng và gian dâm.  Theo chỉ thị của ông, chỉ thành phần trinh nữ được sống và hoà nhập vào dân Y-sơ-ra-ên.  Quan trọng là cần hiểu đúng biện pháp tàn sát phụ nữ và phái nam.  Đây là một sự trừ diệt chớ không phải tận diệt như trường hợp thành A-rát (Dan 21:1-3) và thành Giê-ri-cô sau này (Gios 7:1-26) hoặc trường hợp người A-ma-léc (ISa 15:3).  (Đã bàn đến vấn đề này trong Dan 14:39-45).  Tận diệt tức là giết mọi người lẫn mọi thú vật, thậm chí đốt cả thành quách và vật dụng hoặc đem vào kho của nơi thánh.  Cuộc tấn công người Ma-đi-an thì khác: đó là một sự báo thù hoặc ‘trừng phạt’ (3).  Do đó không huỷ chiến lợi phẩm.  Sau khi tẩy sạch chiến lợi phẩm thì dân Y-sơ-ra-ên có thể chia cho nhau (so với Gios 6:21,24  7:1-26  ISa 15:13-33).  Phải giết đàn bà và phái nam vì chính các bà này đã dụ dỗ dân Y-sơ-ra-ên bỏ Chúa.  Nếu để cho họ sống, họ sẽ là mối đe doạ cho lòng trung tín của dân Y-sơ-ra-ên (Dan 25:1-18).  Chính các bà đã dụ dỗ Sa-lô-môn sa ngã (IVua 11:1-13).

Các binh sĩ bị ô uế vì tiếp xúc với sự chết.  Họ không được vào trại quân trong bảy ngày (19-24).  Môi-se quan tâm duy trì tình trạng tinh sạch của trại quân.  Ông không chấp nhận cho phụ nữ Ma-đi-an vào trại quân.

Chú giải.  ‘Sự trừng phạt’ bao hàm công lý, còn báo thu bao hàm cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời.  Nhiều người trong thời đại này bất bình khi nghe đến sự thạnh nộ và sự báo thù của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời mà nổi thạnh nộ và báo thù là không hợp lý, thiếu ý thức, thiếu tự chủ.  Nhưng Kinh Thánh dạy rằng Đức Chúa Trời bày tỏ sự thạnh nộ để chống lại tội lỗi của con người (Ro 1:18), và Chúa phán rằng ‘sự báo thù thuộc về Ta, Ta sẽ báo ứng’ (12:19 (AVKJV)).  sự thạnh nộ và báo thù của Ngài biểu lộ sự bất bình công bình của Ngài, không phải là hậu quả của một sự nóng tính.

(Dan 31:25-54). Phân chia chiến lợi phẩm. Tác giả quan tâm đến chiến lợi phẩm nhiều hơn cuộc chiến vì chiến lợi phẩm là một phần sản nghiệp trong xứ ở bên kia sông Giô-đanh.  chiến lợi phẩm (cừu, bò, lừa và các thiếu nữ) được chia ra để tỏ lòng tôn trọng các thầy tế lễ và để thưởng cho quân binh đã chiến đấu vất vả.  Quân binh nhận phân nửa chiến lợi phẩm và đóng một phần năm trăm cho thầy tế lễ thượng phẩm.  Còn hội chúng nhận một nửa và dâng một phần năm mươi cho người Lê-vi.  Như vậy hộ thầy tế lễ Ê-lê-a-sa nhận được 675 con cừu, mỗi binh sĩ (trong đạo quân 12.000) nhận khoảng hai mươi tám con cừu, và cứ khoảng bốn người Lê-vi (số người Lê-vi là 23.000) nhận một con cừu, và cứ hai người trong hội chúng (số người của hội chúng là 587.730, không kể 12.000 người lính) nhận một con cừu.  Kinh Thánh không ghi lại số chiến lợi phẩm bằng bạc và vàng.  Mỗi người lính đều lấy phần của họ (53).  Vì không có người lính nào tử trận nên họ đã dâng vàng cho Chúa (49-50).  Đây cũng là của dâng làm của lễ chuộc tội cho chính họ.  Họ đã giết nhiều nhân mạng, sự tàn sát đó làm cho họ ô uế (19-24).  Nhiều học giả đặt vấn đề về những con số này.  Họ không tin rằng 12.000 người lại có thể chiến thắng một dân tộc đông đảo như dân Ma-đi-an, vì căn cứ vào số 32.000 trinh nữ bị bắt thì số binh sĩ Ma-đi-an hẳn là đông lắm.  Một số học giả khác cho rằng những con số này giả tạo.  Tuy nhiên, thật là sai lầm nếu bỏ qua sự kiện là trong suốt lịch sử, dân sự Đức Chúa Trời đã đánh thắng nhiều trận rất tầm cỡ (thí dụ Cac 7:1-25  ISa 30:1-31).  Họ chiến thắng cách lạ lùng như vậy vì một lý do duy nhất, đó là Chúa đã chiến đấu cho họ như Ngài đã hứa (Phu 28:7  32:30).

(Dan 32:1-41) Định bờ đông sông Giô-đanh Vùng đất Gia-ê-xe và Ga-la-át nằm bên bờ phía đông sông Giô-đanh.  Đây là vùng cao nguyên (trên 700 m) nhiều mưa và rất lý tưởng cho việc chăn nuôi (4).  Tuy nhiên, vùng này nằm ngoài xứ đã hứa cho Áp-ra-ham.  Do đó điều hết sức ngạc nhiên là các chi phái này lại muốn định cư ở đó.  Rõ ràng điều này làm Môi-se thật sự chấn động, ông nhớ lại sự phản loạn ở Ca-đe Ba-nê-a khoảng bốn mươi năm trước (11-12  Dan 14:21-35).  Ông sợ rằng họ sẽ làm nản lòng toàn thể dân sự khiến họ không muốn tiến vào xứ Ca-na-an.  Môi-se hiểu biết chính xác bản tánh của con người.  Khuynh hướng tự nhiên của họ là nhìn người chung quanh thay vì chăm chú vào Đức Chúa Trời và lời của Ngài (Gi 21:20-21).  Khi nhìn người chung quanh, mức độ vâng lời giữa vòng dân sự của Chúa bị suy sụp.

Trong tình trạng này chi phái Ru-bên và Gát cùng phân nửa chi phái Ma-na-se đều hứa là sẽ vượt qua sông Giô-đanh, thậm chí còn đi tiền vệ để hoàn tất trách nhiệm của họ là bảo đảm cho dân Y-sơ-ra-ên chiếm hữu được đất hứa.  Môi-se buộc họ giữ lời hứa này, ông căn dặn Giô-suê và Ê-lê-a-sa không ban sản nghiệp cho họ nếu họ không giữ lời hứa (28-30).  Hễ không giữ trọn lời hứa là phạm tội: Hãy biết rằng tội các ngươi sẽ đổ lại trên các ngươi (23).  Những lời này đã trở thành một câu cách ngôn trong tiếng Anh.  Sau này họ đồng ý để cho chi phái Ru-bên, Gát và phân nửa chi phái Ma-na-se định cư ở bờ đông sông Giô-đanh (33) còn các chiến sĩ thì tham gia vào việc chinh phục đất hứa (39-42).  Câu chuyện kết thúc với một chú thích ngắn gọn về công tác xây dựng.

Nếu chúng ta chấp nhận rằng những sự kiện của chương 20-36, bắt đầu lúc Mi-ri-am qua đời, đều xảy ra trong năm thứ bốn mươi thì chuyện định cư ở bờ đông sông Giô-đanh hẳn đã thực hiện vào khoảng tháng mười hai (tây lịch (tức là khoảng tháng thứ chín).  Chắc hẳn điều này xảy ra sau những trận mưa đầu mùa và đồng cỏ hẳn là rất xanh tươi hấp dẫn (1,4).  Trước khi năm đó kết thúc, vào ngày mồng một tháng thứ mười một (Phu 1:3), Môi-se triệu tập toàn thể dân Y-sơ-ra-ên lại để nghe luật pháp một lần nữa trước khi ông lên núi Nê-bô để qua đời.  Như vậy, những chi phái này có một tháng để tổ chức sắp xếp ổn định nơi cư trú, nhưng thời gian này không đủ dài cho một công trình xây dựng nào đáng kể.  Vì vậy mấy câu cuối đoạn (34-42) có lẽ đề cập đến những công trình thực hiện vào thời điểm sau (sau cả những biến cố trong Dan 13:1-33  22:1-41).  Thật vậy, tên của những thành này đã được thay đổi và có lẽ là thay đổi sau khi cuộc định cư đã hoàn tất.  Sự kiện được ghi nơi đây bao hàm ý là sau khi các chi phái đã ổn định trong đất đai của mình thì bản tường thuật rốt cuộc được thành hình.  Đây không phải là bằng chứng duy nhất gợi ý là Ngũ Kinh được hoàn tất vào một thời điểm rất gần với thời gian sau khi Môi-se qua đời (xem Dẫn nhập).

4. Tóm lược cuộc hành trình (Dan 33:1-49)

Bản liệt kê những địa điểm dừng chân đóng trại trong suốt cuộc hành trình là phần Môi-se ghi chép (2).  Rất khó định vị một số địa danh trong bảng liệt kê này.  Vì vậy với vốn hiểu biết hiện tại của chúng ta, xem như chúng ta không thể vẽ ra lộ trình cách chính xác được.  Trong bảng liệt kê có nhiều chỗ lặp lại, thỉnh thoảng xen thêm vào lời bình luận (c.4,8,9,14,38,40).  Tác giả đặt bản tổng lược này tại đây với lý do hết sức rõ ràng: để dẫn đến kết luận câu chuyện.  Phần còn lại trong Dân Số Ký đặc biệt chú trọng về sản nghiệp: sự sở hữu, sự phân chia đất đai, sự truất diệt cư dân cũ (Dan 33:50-56), biên giới đất hứa (34:1-15), các thành và đất đai dành cho người Lê-vi (35:1-34), đất đai là sản nghiệp có tính cách vĩnh viễn (36:1-13).

Bản tổng lược này chỉ liệt kê các địa điểm đóng trại, không phải là một bản lược sử, do đó chỉ viết thoáng qua về biến cố ra khỏi Ai Cập (3-4), vượt Hồng Hải (8) và không đề cập đến thời gian lưu trú lâu dài ở Si-na-i (15-16).  Bản tóm lược này nối khoảng trống giữa chương 19 và 20, trình bày lộ trình của dân Y-sơ-ra-ên (19-35).  Ngày A-rôn qua đời, ngày mồng một tháng thứ năm, năm thứ năm mươi là một mốc quan trọng để xác định thời gian của các sự việc (38).  Bắt đầu với Lễ Vượt Qua đầu tiên, bảng tổng lược này nhìn suốt qua bốn mươi năm hành trình và kết thúc với bức tranh dân Y-sơ-ra-ên đóng trại dọc theo sông Giô-đanh, trải dài giữa hai địa danh cách nhau nhiều dặm, Bết Giê-si-mốt (ngày nay là Tell el-Azeimeh) và A-bên Sít-tim (ngày nay là Tell Kefrain).  Địa bàn đóng trại rộng lớn hàm ý là dân số đông đúc.  Hàng ngàn, hàng ngàn người Y-sơ-ra-ên đang chờ đợi ở ngưỡng cửa đất hứa.  Trước khi vào đó, họ phải học luật pháp.

5. Những mạng lịnh về sản nghiệp (Dan 33:50-36:13)

Những luật trong đoạn này cùng toàn bộ nội dung sách Phục Truyền Luật Lệ Ký được ban bố tại đồng bằng Mô-áp, đối diện Giê-ri-cô (Dan 36:13).

(Dan 33:50-56). Lịnh truất diệt những dân Ca-na-an Lịnh chiếm cứ Ca-na-an bao gồm ba phần: vùng đất này được ban cho người Y-sơ-ra-ên như đã hứa trong giao ước với Áp-ra-ham (Sa 15:18-21), tóm lược cách phân chia đất hứa (lập lại Dan 26:52-56) và lịnh truất diệt tất cả cư dân trong xứ, phá huỷ những hình tượng và nơi cao của họ.  Lịnh này cũng có trong Xuất Ê-díp-tô Ký, Lê-vi Ký và Phục Truyền Luật Lệ Ký (Dan 23:23-33  34:11-17  Le 20:1-5,22-26  Phu 7:1-5  12:29-30  13:6-18  29:16-28).

(Dan 34:1-15). Biên giới của đất hứa. Vùng đất được hứa cho Áp-ra-ham trải dài giữa sông Ai Cập và sông Ơ-phơ-rát, được xem là ‘xứ của người Kê-nít, Kê-nê-sít, Cát-mô-nít, Hê-tít’ (Sa 15:18-21 so với Phu 11:24).  Biên giới mô tả ở đây ăn khớp với biên giới mô tả trong những văn bản của Ai Cập vào thiên niên kỷ thứ II T.C.  Sự kiện này cho thấy rằng văn bản xác lập biên giới xứ Ca-na-an ở đây thật sự là một văn bản rất cổ.  Vào lúc dân Y-sơ-ra-ên đến Mô-áp, có thể những đường biên giới này đã được ấn định dựa vào thành quách và địa danh.  Giô-suê đã giữ đúng theo đường biên giới này (Gios 15:1-19:51).  Vùng này được chia cho chín chi phái rưỡi và hai chi phái rưỡi đã dịnh cư ở bờ đông sông Giô-đanh (32).  Tuy nhiên dường như dân Y-sơ-ra-ên chẳng bao giờ chiếm đóng toàn bộ xứ đã hứa.  Chỉ có một thời gian ngắn dưới triều đại Đa-vít và Sa-lô-môn, lãnh thổ của họ chiếm một vùng trải từ sông Ơ-phơ-rát đến dải Ga-xa, hoặc từ Đan đến Bê-e-sê-ba (IVua 4:24-25), nhưng chẳng bao lâu sau đã bị thu hẹp.  Dầu vậy dân Y-sơ-ra-ên không quên biên giới lý tưởng này (Exe 47:15-20).  Ngay cả ngày nay, dù ở mức độ hạn chế, người Y-sơ-ra-ên vẫn còn tuyên bố quyền sở hữu của họ về lãnh thổ này.  Sau nhiều thế kỷ bị các dân tộc khác chiếm đóng, quốc gia Y-sơ-ra-ên được tái lập vào nửa đêm ngày 14 tháng 5 năm 1948.  Đây là một biến cố lạ lùng trong lịch sử hiện đại.  Nhưng người ta vẫn chờ ngày lời hứa dành cho Áp-ra-ham được thành tựu hoàn toàn.

(Dan 34:16-29). Những người lãnh đạo việc phân chia đất đai. Giô-suê và Ê-lê-a-sa được giao quyền thực hiện việc phân chia đất đai (17).  Gios 14:1-19:51 có ghi lại công tác này.  Có mười người lãnh đạo các chi phái được chỉ định để phụ tá cho họ (18-29).  Nhiều người trong họ có tên riêng bắt đầu với chữ El (nghĩa là Đức Chúa Trời).  Đây là một chi tiết chứng tỏ bảng danh sách đó cổ xưa lắm vì những tên riêng trong thời đại về sau thường ghép với danh ‘Đức Giê-hô-va’ (Dan 1:4-16).  Chi tiết này cho thấy có một số người lãnh đạo khá cao tuổi, thí dụ Ca-lép khoảng tám mươi tuổi (Gios 14:10).  Mặc dù đây là những người đứng đầu các chi phái nhưng họ vẫn hoàn toàn vâng phục Giô-suê và Ê-lê-a-sa.  Thí dụ như Ca-lép năm năm sau đó xin Giô-suê cấp phần sản nghiệp đã hứa cho ông.  Sự công nhận người có thẩm quyền cao hơn là một điều rất quan trọng để không xảy ra sự tranh chấp lãnh thổ giữa các chi phái.  Cần nhận thức rõ rằng đất hứa đã được phân chia theo ý của Đức Chúa Trời qua những đầy tớ mà Ngài chỉ định, và không ai được phép sửa đổi ranh giới của đất đai (Ch 22:28  23:10).

(Dan 35:1-5). Các thành của người -vi. Gia tộc A-rôn và người Lê-vi sẽ không có sản nghiệp riêng (Dan 18:20-24).  Họ sống dựa vào của dâng một phần mười của các chi phái khác.  Dầu vậy để duy trì danh tính của chi phái Lê-vi trong dân Y-sơ-ra-ên, họ cũng sống hợp quần trong một số thành cấp riêng cho họ.  Sau khi các chi phái đã nhận phần đất của mình, mỗi chi phái phải nhường lại cho người Lê-vi một số thành (Gios 21:1-45) và một diện tích đất đai chung quanh thành để trồng trọt và chăn nuôi.  Vùng đất bao quanh thành với chiều rộng là 450m (1.500 ft) kể từ tường thành (4), và dài khoảng 900m (3.000 ft, c.5).  Thế là nảy sinh một thắc mắc nhỏ về hình học.  Nếu các cạnh dài 900m (300 ft) và cạnh của hình vuông dài 450m (1500 ft) kể từ tường thành thì bốn cánh của vạt đất không dính liền nhau.  Nếu tính từ tâm điểm thì mới tạo thành một hình vuông.  Bằng chứng khảo cổ cho thấy rằng Bết Sê-mết, một trong những thành được chọn cho người Lê-vi (21:16), chiếm một vùng đất khoảng bảy acres (tức tương đương với ba hécta).  Các học giả đã nghĩ ra cách giải quyết hình dáng của vạt đất.  Dường như trước tiên người ta vẽ một hình vuông hoặc hình chữ nhật bao quanh tường thành trước, rồi sau đó mới đo từ góc ra 450m (1500 ft) để ấn định ranh giới vạt đất.

đồ thành của người -vi

Dầu sao, có một nguyên tắc rõ ràng là người Lê-vi phải có một vùng đất chăn nuôi có giới hạn quanh thành của họ.

(Dan 35:6-34). Những thành trú ẩn. Những thành của người Lê-vi được phân bố rải rác trong khắp xứ tương ứng với đất đai của mỗi chi phái (8).  Phân bố như vậy để bảo đảm luật pháp được dạy dỗ đều đặn trong tất cả các chi phái (Phu 31:9  Ma 2:6-7).  Người Lê-vi cần bốn mươi tám thành.  Vài năm sau số thành này được chọn ra đầy đủ bằng cách bốc thăm (Gios 21:1-42).  Trong tương lai, các thầy tế lễ thuộc dòng A-rôn định cư trong địa phận của chi phái Giu-đa (cùng với chi phái Si-mê-ôn và Bên-gia-min) tạo ảnh hưởng đáng kể.  Các dòng Lê-vi còn lại là Kê-hát, Ghẹt-sôn và Mê-ra-ri định cư trong các chi phái khác.  Đức Chúa Trời ưu ái chi phái Giu-đa bằng cách đặt những tôi tớ tốt nhất của Ngài trong địa phận của họ.  Có lẽ đây là lý do chính khiến cho Giu-đa chậm xa rời luật pháp hơn Y-sơ-ra-ên ở phía bắc.  Nhờ vậy họ thoát khỏi sự xâm lược của A-si-ri là đế quốc đã lật đổ Sa-ma-ri vào năm 721 T.C..  Hậu duệ của A-rôn, những nhân vật cỡ Giê-rê-mi đã góp phần kềm chế đà suy sụp của Giu-đa.  Dầu vậy, cuối cùng dân Giu-đa cũng bị lưu đày vào năm 586 T.C.  Giai đoạn lịch sử này dạy chúng ta rằng khi Hội Thánh có những người rao giảng trung tín thì đó là dấu hiệu Hội Thánh đang được Chúa ưu ái.  Hội Thánh nên cầu nguyện thường xuyên để Đức Chúa Trời dấy lên những người hầu việc Chúa trung tín rao giảng sự cứu rỗi.

Trong số những thành của người Lê-vi, sáu thành sẽ trở nên thành trú ẩn (6), mỗi bên bờ sông Giô-đanh có ba thành (14).  Kẻ sát nhân có thể chạy trốn đến một trong các thành đó, tránh khỏi kẻ báo thù huyết.  Theo tiếng Hi Bá Lai từ gò’èl kẻ báo thu có nghĩa là ‘người bà con, người cứu chuộc’ (12,19,21,24,25,27).  Phong tục xưa cho phép bà con thân thích của nạn nhân bị giết được trả thù cho bà con của mình.  Tục này dẫn đến một sự tàn sát trả đũa dây dưa.  Một trường hợp điển hình là trường hợp của Áp-ne (IISa 2:8-28  3:19-39).  Oái ăm một phần là ông bị giết ngay bên ngoài cổng thành Hếp-rôn là một thành trú ẩn.  Những thành ẩn náu bảo vệ mạng sống của người ngộ sát cho đến khi có phiên toà xét xử họ.

Việc thành lập những thành trú ẩn chứng tỏ Đức Chúa Trời yêu sự công bình.  Với biện pháp này, Ngài hoá giải tập tục trả nợ máu và xử lý vấn đề bằng pháp luật.  Theo tục trả nợ máu, người ngộ sát có thể bị ám sát bất cứ lúc nào.  Vì vậy buộc phải phân biệt giữa cố sát và ngộ sát.  Cố sát là một hành vi có trù tính, xuất phát từ mối căm thù và tìm cơ hội ra tay (16-21).  Ngộ sát là lỡ giết người, không có chủ tâm (22-24).  Cũng giống như sự khác biệt giữa cố ý phạm tội và vô tình lầm lỡ (Dan 15:22-31).  Người lỡ tay giết người được bảo vệ khỏi kẻ trả nợ máu mặc dù mất tự do (28-32).  Ngược lại kẻ cố sát đương nhiên là bị xử tử (21,31).  Không có giá chuộc mạng cho kẻ cố sát cũng như  không có sự cứu chuộc cho kẻ cố ý phạm tội (15:30-31).  Luật pháp không cấm người thân của nạn nhân báo thù trong những trường hợp hợp pháp.  Thật vậy, gặp trường hợp của người vợ goá bụa không còn người thân để báo thù thì chính Đức Chúa Trời đảm nhiệm vai trò đó (Xu 22:22-24).  Kinh Thánh Tân Ước không cho phép người tin Chúa tự ý báo thù nhưng để Đức Chúa Trời đảm nhiệm việc đó (Ro 12:19).  Ngài sẽ báo thù cho họ (Lu 18:7-8  Kh 6:10  19:2).  Cần có ít nhất là hai nhân chứng để sự phán quyết được chính xác và công bằng (30  Phu 17:6  19:15  Mat 18:16  IICo 13:1  He 10:28).  Đây là một nguyên tắc bền vững mà Chúa Giê-xu cũng áp dụng (Gi 8:16-18  5:32-41  IGi 5:6-8).  Có lẽ vì vậy mà các sứ đồ không đi rao giảng Tin Lành một mình mà đi từng đôi, vì họ là chứng nhân của Đấng Christ nên lời làm chứng của họ phải có giá trị đúng theo pháp lý (Lu 10:1  Cong 13:2 chú ý đến số nhiều trong 2:32  10:23 và môn đồ ra đi từng cặp trong Mat 10:1-4).

Giao ước của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham có nêu lý do chính về việc thành lập những thành trú ẩn (câu 33-34 có hàm ý về điều này), đó là sự đổ máu sẽ làm ô uế đất.  Dân Y-sơ-ra-ên không được làm ô uế xứ có Đức Chúa Trời ngự trị.  Cũng vì lý do này mà bốn mươi năm trước, họ phải tẩy uế trại quân ở Si-na-i (Dan 5:3).  Do đó lý do sâu xa nhất không phải là vì công lý nhưng là để giữ vững những mục đích của Đức Chúa Trời đã nêu trong giao ước với Áp-ra-ham.  Trước hết là duy trì sự tương giao của dân Y-sơ-ra-ên với Đức Chúa Trời, Đấng có đôi mắt thánh sạch, chẳng nhìn sự dữ (Ha 1:12-13), thứ hai là để dân Y-sơ-ra-ên được ở trong đất hứa.  Việc này kết hợp hai trong số các lời hứa (34).

Không phải ngẫu nhiên mà Đức Chúa Trời dự liệu các thành trú ẩn.  Đây là việc trọng yếu và thiết thực đụng đến trọng tâm của chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời.  Quan trọng hơn nữa là phải hiểu tinh thần của luật pháp.  Luật pháp được tóm gọn trong lòng yêu thương đối với Đức Chúa Trời và dân sự của Ngài (Mat 22:34-40).  Giết người tức có liên hệ chặt chẽ với ghen ghét, như vậy là trái hẳn với tình yêu thương (IGi 3:11-15).

(Dan 36:1-13). Bảo vệ sản nghiệp.  Các luật lệ được truyền ra cho dân Y-sơ-ra-ên tại đồng bằng Mô-áp (13) kết thúc với mạng lịnh bảo toàn sản nghiệp của dân Y-sơ-ra-ên.  Phục Truyền Luật Lệ Ký xử lý vấn đề này theo một quan điểm khác, dạy dân Y-sơ-ra-ên phải sống như thế nào để cứ được ở trong xứ.

Các con gái Xê-lô-phát nhận được sản nghiệp của cha họ (27).  Tuy nhiên còn một sự thiệt hại còn đe doạ chi phái Ma-na-se trong trường hợp những cô gái này lấy chồng thuộc chi phái khác rồi đem theo phần sản nghiệp về nhà chồng (3).  Hai giải pháp được đề ra. Trước hết giải pháp liên quan đến cá nhân: họ phải lập gia đình với người cùng chi phái (6).  Điều quan trọng cần lưu ý là trong hôn nhân không có tự do lựa chọn tuyệt đối mà tự do trong ý chỉ của Đức Chúa Trời.  Nếu các cô gái này biện bạch rằng họ đã yêu một anh nào đó trong chi phái khác thì thật là lố bịch.  Không hề có điều đó!  Họ đã vâng lời Chúa (10-12).  Sự kiện này cũng đề ra một nguyên tắc cho ngày hôm nay: người Cơ Đốc nên lập gia đình trong tinh thần thuận phục ý chỉ của Đức Chúa Trời đã được bày tỏ cho họ.

Đoạn Kinh Thánh này tiếp tục thiết lập một nguyên tắc chung cho dân Y-sơ-ra-ên, đó là không có một sản nghiệp nào bị chuyển từ chi phái này sang chi phái khác (7).  Câu 9 xoáy mạnh vào vấn đề này dưới dạng lặp lại.  Kết luận như thế là thích hợp với Dân Số Ký.  Chúa đã truyền ra mạng lịnh phải giữ gìn sản nghiệp mãi mãi.  Mạng lịnh này có một giá trị hết sức to lớn đối với người tin Chúa.  Vì sản nghiệp trong xứ Ca-na-an là hình bóng về sự hiện đến của vương quốc Đức Chúa Trời nên luật này cũng là một lời bảo đảm rằng Đức Chúa Trời sẽ không để cho ai cướp đi sản nghiệp của dân Ngài.  Mỗi người dân của Ngài được dành riêng một chỗ.  Sự dạy dỗ của Đấng Christ bày tỏ rõ ý này (Lu 12:32  Gi 6:37,40  10:28).  điều gì bảo đảm rằng sản nghiệp đã hứa là đời đời?  Đó là giao ước và lời thề mà Đức Chúa Trời đã ban cho Áp-ra-ham và được Đức Chúa Giê-xu Christ xác nhận là vĩnh cữu.

Lên đầu trang