QUYỂN BA - LUẬN VỀ ĐỨC CHÚA TRỜI

Vào thời cận đại của lịch sử thế giới nầy,văn hóa càng thạnh, học thức càng tới, tài trí càng cao, lý luận càng mới, sự nghiên cứu khoa học càng rộng rãi, sự phẩm bình của các nhà tư tưởng càng trổi hơn. Những bậc danh sĩ của các nước khắp địa cầu ai ai cũng muốn đem học lực lý tưởng mình mà giải quyết các vấn đề lớn lao khó hiểu trong vũ trụ nầy. Nhưng than ôi! Học thuyết lẫn lộn, sự lý hổn hào, đến đỗi càng cứu ra càng đui mù,càng diễn tới lại càng sai lạc!

Trải xưa nay đã có vô số nhà học thức thử giãi bày vấn đề lớn hơn hết, là Đức Chúa Trời có thực hữu không? Vô thần đảng và duy vật phái đều hiệp xướng rằng Đức Chúa Trời chẳng thực hữu đâu. Họ đồng thinh rộ lên rằng, những hình hình sắc sắc trong vũ trụ đều tự nhiên mà có. Sự tín ngưỡng về Đấng Chủ tể trời đất, họ cho là dị đoan hư ảo, không xứng hiệp với lý tánh mở mang của người đời văn minh nầy. Còn hoài nghi đảng đối với vấn đề nầy lại đáp rằng: “Chúng ta không biết, cũng chẳng có thể biết được hoặc có Đức Chúa Trời hay không.”

Nghe qua câu kết luận của mấy nhà đó,lòng ta chẳng thỏa mãn chút nào, chỉ mong sao cho biết chắc hoặc Đức Chúa Trời thực hữu hay là không? Bản tánh của Ngài là thể nào? Công vụ Ngài là làm sao?Ngài có tương quan gì với loài người không? Biết được những vấn đề ấy mới an tâm. Quả thật, ấy là các vấn đề quan hệ nhứt của mọi người. Hễ giải đáp được các vấn đề ấy cho đúng đắn, thì mới có hy vọng được cứu rỗi trong đời nầy và đời sau nữa. Bằng chẳng giãi bày được, tất phải cứ ở trong sự tối tăm mù mịt cho đến vô cùng vô tận vậy. Thế thì, chúng ta há có thể biết được Đức Chúa Trời thực hữu hay không chăng? Có thể hiểu rõ bản tành Ngài, công việc Ngài, thái độ Ngài đối với ta là thế nào không? Trong các bài sau đây xin giải đáp những vấn đề ấy,mong nhờ đó ta sẽ được thỏa nỗi ước vọng.

Quyển nầy luận về vị cách và công vụ của Đức Chúa Trời, được chia ra làm 8 chương, tức là 1) Luận về sự nhận biết Đức Chúa Trời do nguyên tri; 2) Luận về bằng chứng về Đức Chúa Trời thực hữu; 3) Luận về Đức Chúa Trời độc nhứt vô nhị; 4) Luận về Đức Chúa Trời thành vị; 5) Luận về các thuộc tánh của Đức Chúa Trời; 6) Luận về các đức của Đức Chúa Trời; 7) Luận về Ba Ngôi hiệp một Đức Chúa Trời; 8) Luận về công tác của Đức Chúa Trời.

Chương 1: LUẬN VỀ SỰ NHẬN BIẾT ĐỨC CHÚA TRỜI DO NGUYÊN TRI

Đức Chúa Trời vốn một Đấng thuộc linh tự hữu hằng hữu, vô thỉ vô chung, toàn tri toàn năng, toàn thiện, toàn nghĩa. Đạo Ngài là thần kỳ mạc trắc, huyền diệu vô song, nên chẳng lạ gì mà sự khôn ngoan hữu hạn của người trần tục không những không biết nổi sự mầu nhiệm ấy được, mà lại cũng không biết được đến Đức Chúa Trời nữa. Các đạo thế gian suy tưởng về Đức Chúa Trời nhiều cách kỳ cục lạ thường, đến nỗi sai lạc rất xa. Ví bằng chẳng có sự khải thị của Đức Chúa Trời ở trong Kinh Thánh để làm bằng cớ mà nghiên cứu đến nguồn ngọn của thần đạo, thì ắt ta cũng không có thể nào hiểu biết được yếu chỉ của đạo ấy cho minh bạch trọn vẹn, hầu mong khỏi lầm đường lạc lối vậy.

Tuy thế, Đức Chúa Trời cũng đã khải thị Ngài ra như ẩn như hiện trong cõi thiên nhiên nầy rồi. Như xưa Vua Đa-vít chứng trong Thi 19:1-3. Ai suy gẫm đến thì đều có thể biết được về Đức Chúa Trời, vì Phao-lô dạy trong Ro 1:19-20.

I. NGUỒN GỐC LÒNG KÍNH THỜ ĐỨC CHÚA TRỜI

Muôn vật trong cõi thiên nhiên vẫn có đủ bằng cớ chứng thực cho sự thực hữu của Đức Chúa Trời. Các bằng chứng ấy thần đạo gọi là thiên nhiên thần học. Trước khi kê cứu qua những bằng chứng ấy, rất cần yếu cho ta phải tìm kiếm ra cái gốc rễ của lòng kính thờ Đức Chúa Trời.

1. CÁC LÝ THUYẾT TỰ THỊ NHI PHI

Kê cứu qua lịch sử nhân loại, ta thấy mọi dân tộc trên địa cầu, ai nấy đều có lòng kính vì một Đấng Cao cả, mà chúng ta gọi là Đức Chúa Trời. Tuy họ thờ có khác nhau, tín nhận có nhiều thần hay là chỉ có một Chúa, hữu hình hay vô hình, thì tựu trung hết thảy đều có một tấm lòng hay kính thờ một Đấng Cao cả đó vậy. Thế thì, xin hỏi, tấm lòng ấy đến từ đâu? Trước hết xin kể lại các lý thuyết tự thị nhi phi về vấn đề nầy, rồi sau sẽ chỉ dẫn ra cái thuyết chánh đáng.

a) Tổ tiên di truyền.— Có nhà luận rằng nguồn gốc của sự kính thờ Đức Chúa Trời là do tổ tiên lưu truyền.Họ dạy rằng nhằm đời thượng cổ Đức Chúa Trời có lẽ bày tỏ ra cho tổ tiên ta rằng chính Ngài đã phú tấm lòng kính thờ Đức Chúa Trời cho loài người, rồi từ đó về sau họ lưu truyền cái quan niệm về sự thờ lạy Đức Chúa Trời cho hậu tự, đến đỗi ai ai cũng biết rằng ở trong trời đất nầy có một Đấng Cao cả đáng kính đáng thờ vậy. Kịp lâu đời về sau loài người lần lần mất cái tôn chỉ kính thờ Đức Chúa Trời,bởi vì kẻ nói đi người truyền lại, chi cho khỏi tam sao thất bổn; thành thử cái quan niệm về sự kính thờ Đức Chúa Trời lần lần sai lạc tràn khắp mọi người nhiều nơi, đến đỗi như hiện có ngày nay vậy.

Lý thuyết nầy chẳng có giá trị bao nhiêu, bởi vì cổ truyện trong các dân các nước về nguồn gốc của lòng kính thờ Đức Chúa Trời và muôn vật là khác hẳn với ý kiến đó. Giả như cổ truyện của nước Tàu cho cội rễ muôn vật là bởi huyết, thịt, da và xương của ông Bàn-cổ biến hóa ra, bà Nữ-oa liệng đá năm sắc lên để vá trời xanh, chặt chơn con ngao để dựng bốn trụ cho trái đất vững vàng. Cổ truyện nầy với nhiều cổ truyện khác giống như nó, đều tỏ ra tổ tiên chẳng lưu truyền lòng kính thờ kia lại cho hậu tự đâu, trái lại có thể nói rằng đã khiến cho họ quên mất lòng ấy đi, chỉ truyền lại sự mê tín dị đoan thì có.

b) Bởi sự cảm tưởng.—Loài người ở trong vũ trụ nầy thật lấy làm nhỏ mọn, thường xem thấy trời cao lồng lộng, đất rộng thinh thinh, muôn vật hóa sanh đầy dẫy vũ trụ minh mông bát ngát nầy, bất giác phải hỏi rằng: “Vạn vật ấy từ đâu mà ra?” Kẻ khác thấy đôi vầng nhựt nguyệt vận hành, muôn vàn tinh tú lấp lánh, ầm ầm sóng biển, cuồn cuộn dòng sông, trăng khuyết lại tròn, nước ròng rồi lớn, núi phun lửa, đất nhả dâu,mưa trôi đá, bão trốc cây, thì tự hỏi: “Ai làm sự đó?” Cũng có khi thấy tai họa thình lình vụt đến, hạn hán quanh năm, hết ôn dịch lại cơ hàn, lại hỏi: “Các điều ấy há tự nhiên mà có sao?” Kẻ khác lại thấy người đời đau ốm chết mất, họa phước vô thường, thì nghĩ rằng: “Nếu không có một Đấng quyền phép lớn hơn loài người,cầm quyền tử sanh, họa phước, thì thể nào cho phải?” Thêm nữa có vô số vấn đề khác khó giải quyết cho rành mạch được. Hết thảy những điều đó có thể cảm động người ta suy tưởng về Đức Chúa Trời, sanh ra lòng kính thờ Ngài vậy.

Ta xin quả quyết rằng cái cảm tưởng ấy chẳng phải là cội rễ của lòng kính thờ Đức Chúa Trời đâu; bởi cái lòng kính thờ ấy đã sẵn có rồi, nên khi gặp các cảnh trạng như mới vẽ ở trên, thì tự nhiên bắt phải suy tưởng đến căn nguyên việc đó, chớ không do đó mà mới có cái đặc tài cảm tưởng về Đức Chúa Trời đâu.

c) Do sự từng trải.— Ý kiến nầy nói rằng từ xưa đến nay thường có thần trí, thần lực, thần quyền, thần năng rất là trổi hơn quyền phép khôn ngoan của loài người, khiến cho họ phải công nhận có một Đấng thiên địa Chơn chủ. Hoặc kẻ khác nói rằng: “Mọi sự vật đều có sự sắp đặt khéo léo, dường như sự vật nào có thần nấy cai trị, tỷ như thái dương thần, thái âm thần, hỏa thần, thổ thần, v...v...” Ý kiến nầy rất sai lầm vì hai cớ kể sau đây:

(1) Loài người không phải mãi về sau mới biết kính thờ Đức Chúa Trời, bèn là đã biết từ đời thượng cổ. Còn sự biết ấy chắc không do sự từng trải mà ra đâu, bèn vốn sẵn có trong bản tánh rồi. Loài người có ba đặc tánh khác với cầm thú, ấy là lý tánh, tài phân biệt phải quấy, và lòng kính thờ Đức Chúa Trời. Bất luận người dã man hay văn minh đều có ba đặc tánh ấy cả. Ví bằng do sự từng trải mà cấu tạo, mở mang ba đặc tánh ấy, thì làm sao các cầm thú không được ba tánh ấy nữa? Trái lại, ta thấy dầu có tập rèn dạy dỗ loài cầm thú đến đâu đi nữa, thì nó cũng chẳng có thể nào sanh ra lý tánh,tài phân biệt phải quấy hay là lòng kính thờ Đức Chúa Trời được đâu bao giờ.

(2) Lịch sử tôn giáo chứng thực rằng loài người không tấn hóa trong sự thờ lạy Đức Chúa Trời đâu, bèn là thoái hóa thì có. Các nước thế gian, bất luận dã man hay văn minh đều có lời cổ truyền chứng rằng ở đời thái cổ họ đều tin kính một Đấng Chủ tể. Kỳ thực, cái tư tưởng tôn giáo càng xưa bao nhiêu lại thấy càng thuần bấy nhiêu. Trong lúc thái sơ người ta chưa mất sự thờ phượng Đức Chúa Trời thuần nhứt, nhưng vì cớ tội lỗi xen vào làm tối tăm tư tưởng của họ, và nhơn vì đó mà sự truyền đi nói lại không thể tránh được cái họa tam sao thất bổn, nên khiến cho họ dần dần bỏ sự kính thờ độc thần mà sùng bái đa thần. Nhờ thực sự ấy ta biết rằng lòng kính thờ Đức Chúa Trời đã sẵn có từ ban đầu, chớ không bởi sự từng trải mở mang theo luật tiệm tấn mà ra đâu.

d) Do lý luận. — Có kẻ khác gọi lòng kính thờ Đức Chúa Trời là do lý luận mà ra. Bởi vì nếu lấy tài suy luận của mình mà thí nghiệm trong tinh thần, xem xét ngoài sự vật, thì phải nhìn nhận rằng quả có một Đấng Chủ tể độc nhứt đặng cho mình thờ phượng.Ta đáp rằng: chúng ta thật có nhờ lý luận mà làm chứng cho sự thực hữu của Đức Chúa Trời; nhưng lý luận hẳn chẳng phải là cái nguồn gốc của lòng kính thờ Đức Chúa Trời đâu, bởi vì:

(1) Lòng kính thờ Đức Chúa Trời là xuất ư ngẫu nhiên. Theo thói quen của người ta, hễ cùng cực thì kêu Trời. Tư tưởng ấy thình lình phát ra khi gặp cảnh cùng cực kia, chính cảnh ấy khiến cho họ nẩy sanh ý cần phải kính thờ Ngài. Kỳ thực, sự kêu Trời cứu đó chẳng phải là do lý luận mà ra đâu.

(2) Sự tin cậy của kẻ tầm thường trổi hơn các nhà lý tưởng. Ta thường thấy phần nhiều nhà đại lý luận, đại tư tưởng trong thế gian không tin kính thờ phượng Đức Chúa Trời đâu, bèn là những kẻ tầm thường không thường biết gì về lý luận, lại có lòng tin kính thờ phượng sốt sắng hơn thì có.

(3) Lý luận chẳng ăn thua gì cho đời sống của tín đồ Christ. Ta thường thấy nhiều nhà lý luận cao, tư tưởng rộng, nhưng chẳng có kết quả khả quan gì cho đời sống thuộc linh của họ; còn tín đồ Christ thì khác, họ có một quyền năng lạ lùng khiến cho đời thuộc linh họ càng tấn bộ càng thêm. Quyền ấy do sự giao thông với thần linh giới, chớ chẳng bởi lý luận mà ra đâu.

(4) Sự hiểu biết đạo thuộc linh vốn bởi linh tánh, chớ không bởi lý luận. Người nào cậy tài lý luận không thể nào hiểu thấu thần đạo bao giờ. Chúng ta biết được bao nhiêu về Đức Chúa Trời quả là nhờ sự khôn ngoan soi sáng của Thánh Linh ở trong linh tánh, chớ không bao giờ đến bởi lý luận hay giỏi của lý tánh đâu (ICo 2:14-15). Nếu có dùng lý luận chăng nữa,cũng chỉ mượn nó để phát minh yếu nghĩa của thần đạo đó thôi, chớ thực nó vốn chẳng phải là nguồn gốc của thần trí đâu.

e/ Do sự khải thị. – Cũng có người cho rằng lòng kính thờ Đức Chúa Trời do sự khải thị ở trong Kinh Thánh mà ra. Bởi nếu chẳng có sự khải thị riêng ở ngoài loài người, thì loài người không thể tự nhiên phát sanh tư tưởng tôn giáo được.

Lý thuyết nầy cũng sai lầm, bởi vì Kinh Thánh chẳng trực tiếp lợi dụng một bằng cớ nào để chứng thực cho sự thực hữu của Đức Chúa Trời. Trái lại, các trước giả Kinh Thánh đều vịn lấy lòng kính thờ Đức Chúa Trời làm căn cứ của sự khải thị, và làm nền tảng của sự tín nhận lời ấy. Nếu loài người đã không sẵn có lòng kính thờ Đức Chúa Trời là một Đấng có thể ban bố cho mình sự khải thị như Kinh Thánh, thì sự khải thị ấy chẳng có quyền gì đối với mình. Nhưng vì đã sẵn có một lòng như thế, nên Kinh Thánh rất có giá trị để tả vẽ minh bạch đức tánh và đạo lý của Đấng ấy cho loài người, hầu khiến họ có thể thờ phượng Ngài cách phải lẽ vậy.

2. LÒNG KÍNH THỜ ĐỨC CHÚA TRỜI DO NGUYÊN TRI

Sự kính thờ Đức Chúa Trời vốn gốc bởi thiên tánh của loài người; vì trong bản tánh họ tự nhiên có trực giác thúc giục họ phải kính phải sợ, phải cậy nơi Đức Chúa Trời. Vì cớ thúc giục nầy ta thường thấy người ta sợ Trời, và trong lúc nguy hiểm thì họ hay van vái rằng: “Trời ôi! Xin cứu tôi với!” Cái tấm lòng kính thờ Đức Chúa Trời như thế vốn thuộc về nguyên tri. Bởi vì nếu thử hỏi kẻ van vái ấy rằng: “Tại sao anh phải kêu trời cứu vớt?”thì chắc họ đáp rằng: “Tôi cũng không biết!” Thiết tưởng tự nhiên lương tâm bảo thế, đều đó xuất ư ngẫu nhiên vậy.

a/ Định nghĩa nguyên tri. – Vả, muốn chứng thực cho lòng kính thờ Đức Chúa Trời gốc bởi nguyên tri, ta cần phải định nghĩa danh từ nguyên tri trước đã. Vậy, danh từ ấy có nghĩa gì? Nói cách đại khái, phàm lẽ thật gì tuy không ai dạy mà loài người lại biết được đó gọi là nguyên tri. Tỷ như khái niệm tự giác, không gian, thời gian, vật chất,căn nguyên, hiệu quả, phải quấy, lòng kính thờ một Đấng Cao cả, đều là lẽ thật sẵn có trong nguyên tri cả, chẳng cần ai dạy cho mới biết, vì tự nhiên đã biết rồi. Suy nghĩ về đặc tánh của nguyên tri, xin theo hai phương diện là phản và chánh mà luận cho ra lẽ như sau đây.

(1) Phản diện. –Luận về mặt trái của đặc tánh nguyên tri thì nên rõ ba điều nầy: (a) Các lẽ nguyên tri chẳng phải là lẽ thật bởi tay ai ghi tạc vào nguyên tố của tâm linh loài người trước khi họ có sự tự giác, tức trước khi chưa tự biết mình thực hữu,bởi vì tâm linh ấy chẳng phải bằng một thể chất đâu. (b) Cũng không phải một sự hiểu biết mà tâm linh thọ lãnh lúc loài người lọt lòng mẹ; bởi vì không thể nào ai làm chứng rõ ràng được rằng những trẻ con mới đẻ ra đều có sự hiểu biết ấy.(c) Cũng chẳng phải một quan niệm vốn có lúc lọt lòng mẹ, nhưng chưa được phát triển, rồi sau tự khải phát ra ở ngoài sự từng trải suy nghĩ của loài người; vì sự phát triển như thế trái hẳn với mọi công lệ về sự mở mang tiến bộ của tâm trí loài người.

(2) Chánh diện. –Vả, luận về mặt phải, thì rõ ràng lẽ thật nguyên tri là một sự hiểu biết vẫn được tỏ ra trong tâm trí người bởi sự từng trải suy nghĩ, nhưng chẳng phải là hiệu quả của sự từng trải suy nghĩ đó đâu. Kỳ thực, các lẽ thật ấy (như lẽ thật về sự tự giác, không gian, thời gian, vật chất, căn nguyên, hiệu quả, phải quấy) vốn chính là nguyên nhơn của mọi sự từng trải suy nghĩ, cũng là cội rễ của mọi sự tri thức ta. Bằng chẳng có các lẽ thật nguyên tri ấy, ắt không thể nào từng trải hoặc suy nghĩ gì ra lẽ cả. Thế mà, thì giờ các lẽ thật ấy tỏ ra trong tâm trí cho rõ hiểu, có mau chậm tùy trình độ và trường hợp của mỗi người. Nhưng hoặc mau hay chậm cũng vẫn có tiềm tàng ở tâm linh, kịp khi gặp cơ hội vận dụng, thì được tỉnh ngộ tức thì, loài người liền bắt đầu suy nghĩ và cử chỉ theo các lẽ thật ấy.

Cứ đó mà suy, thì rõ lắm nguyên tri chẳng phải một tri thức ta thọ lãnh từ lúc lọt lòng mẹ, cũng chẳng phải gốc bởi sự từng trải mà ra, bèn là đã sẵn tiềm tàng ở nơi tâm linh từ khi được dựng nên vậy. Tỷ như nói rằng sự từng trải nhận biết không gian là căn nguyên của không gian, thì rất sai lầm. Hoặc quyết rằng cây sanh ở ngoài ruộng kia bởi đất mà ra, cũng rất là sai; vì nó nguyên từ hột giống mà có vậy. Song le hột giống ấy phải cần có chất liệu của đất để nuôi nấng nó, mới có thể nứt mộng, mọc lên thành cây được. Cũng một lẽ ấy, tuy trong tâm linh loài người đã có sẵn hột giống thuộc linh gọi là lẽ thật nguyên tri, thì cũng phải đợi đến cơ hội từng trải suy nghĩ mới tỉnh ngộ tỏ bày ra được. Hoặc lại tỷ dụ như con mắt ta, chúng ta ngó được nên tự biết mình có con mắt. Còn nhờ sự biết ấy ta lại nhận biết rằng phải có con mắt mới có thể thấy được. Cái nguyên tri cũng vậy, sau khi đã từng trải suy nghĩ rồi, mới nhận biết chỉ gốc bởi nguyên tri ấy sẵn có mà mình có thể từng trải suy nghĩ được vậy.

b/ Tiêu chuẩn chứng nghiệm nguyên tri. – Có người hỏi rằng: “Tại làm sao biết các lẽ thật gọi là nguyên tri là nguyên tri thật?” Nếu muốn đáp lẽ câu chất vấn ấy, cần phải dùng ba tiêu chuẩn kể sau đây mà chứng nghiệm cho.

(1) Nguyên tri là phổ thông. – Mọi người đều có nguyên tri, bất luận họ có nhận biết là nguyên tri hay không,hoặc có thấu hiểu đặc tánh nó thể nào mặc dầu; ấy nhơn ở lời nói, nết làm tình cờ đủ tỏ ra mọi điều tin nhận nguyên tri là nguồn gốc mọi sự tri thức của mình.

(2) Nguyên tri cần yếu. – Nguyên tri rất cần yếu cho loài người, nếu không có nó thì tâm trí không thể suy nghĩ gì, lý tánh không sao luận ra lẽ chi được. Tuy có thể từ chối nguyên tri, nhưng tâm trí chẳng có thể làm việc suy luận gì ở ngoài các lẽ thật nguyên tri, đến đỗi buộc phải mượn bằng cớ ở nơi đó mà chứng thực cho mọi sự. Tỷ như nói bề cao, bề ngang, và bề dài của vật gì, cũng phải mượn lý cớ ở nơi lẽ thật nguyên tri về không gian mới quyết định ba bề đó được.

(3) Nguyên tri được độc lập và có trước mọi sự biết khác. – Nguyên tri đứng riêng một mình, chẳng phải tự lý do nào mà sanh ra, cũng chẳng lấy lẽ khác mà chứng thực cho; nó vẫn có trước hết mọi lẽ khác, vốn tiềm tàng ở nơi tâm linh của cá nhơn từ lúc mới thành vị vậy.

Nói tóm lại, mọi người đều có nguyên tri.Nguyên tri chẳng nương dựa vào nơi nào, chỉ độc lập thôi. Tuy có kẻ chối rằng không có nguyên tri, thì nguyên tri vẫn còn, chẳng vì cớ chối ấy mà bị hại gì đâu. Tỷ như thực chứng luận1 chối luật nhân quả2; quan niệm luận3 chối vật chất;vạn hữu thần giáo4 không nhận vị cách của loài người; quyết định thuyết5 không nhận sự tự do của loài người; còn hư vô đảng6 lại không nhận ta là ta; chúng ta há có thể chịu lấy sự họ không nhận đó mà bỏ những lẽ thật kia sao? Tỷ như có một người nói rằng, trong vũ trụ không có dưỡng khí, mà kỳ thực sở dĩ họ có thể nói đó chỉ là tại vì họ vẫn hít dưỡng khí đó vậy. Hoặc có kẻ khác quyết không nhận rằng hai nhơn hai là bốn, thì chẳng phải tại đó mà lẽ ấy là sai đâu, chỉ chẳng qua vì lý tánh kẻ kia thiếu kém tri thức đó thôi.

Chú thích:

(1) Positivusne. (2) Loi de la causalité. (3) Idéalisme. (4) Panthéisme. (5) Déterminisme. (6) Parti nihiliste.

II. CHỨNG NGHIỆM TẤM LÒNG KÍNH THỜ ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ NGUYÊN TRI

Có kẻ hỏi: “Thế nào chứng nghiệm lòng kính thờ Đức Chúa Trời chắc là nguyên tri?” Đáp: Muốn nghiệm rõ về lòng kính thờ Đức Chúa Trời quả là nguyên tri, thì phải theo ba tiêu chuẩn kể ở trên mà xét nghiệm thì sẽ rõ.

1. LÒNG KÍNH THỜ ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ PHỔ THÔNG

a/ Tâm lý chung.– Lòng kính thờ Đức Chúa Trời là một tâm lý chung của loài người ai ai cũng có.Bởi vì các dân tộc trên địa cầu đại đa số đều thờ lạy một vị thần nào mà họ tôn kính là cao cả, đáng phải tin cậy. Vả, có kẻ hỏi rằng: “Người đời nầy đối với ý niệm Đức Chúa Trời há chẳng phải có nhiều lý thuyết và lắm ý huyền hoặc sao? Vậy,nếu lấy tâm lý sai hoặc ấy mà làm một lý thuyết đúng đắn để chứng thực về Đức Chúa Trời sao đặng?” Đáp: Chúng ta chẳng bao giờ nên căn cứ vào các hình tượng quái gở và ý tưởng vẩn vơ của dân ngoại tỏ ra trong sự tín ngưỡng về Đức Chúa Trời mà lường cái bản năng quan niệm về Đức Chúa Trời, rồi quyết đoán là thật như vậy đâu. Ví dụ như một em bé kia họa hình của cha nó, dầu nó vẽ quạch quạt không giống gì hết, thì cũng chẳng vì cớ ấy mà buộc ta phải đoán định rằng em bé kia vẫn suy tưởng cha nó thật hệt như bức ảnh nó đã vẽ đó đâu.

b/ Tâm lý ấy xưa nay vẫn có. – Tấm lòng kính thờ Đức Chúa Trời vốn là tâm lý công cộng của loài người từ muôn đời. Chẳng những là người đời nầy có lòng kính thờ Đức Chúa Trời mà thôi, thực ra từ đời thượng cổ vẫn đã có rồi. Lại nếu tra xét lịch sử của sự thờ phượng trong các nước và các lễ nghi về sự thờ phượng ấy thì thấy càng xưa chừng nào lại càng thuần chừng nấy. Thực sự ấy chứng rằng tấm lòng kính thờ Đức Chúa Trời chẳng phải bởi tổ tiên lưu truyền, bèn là một lẽ thật nguyên tri vốn tiềm tàng trong tâm linh, rồi nhờ sự từng trải suy nghĩ mà phát triển ra vậy.

2. LÒNG KÍNH THỜ ĐỨC CHÚA TRỜI CẦN YẾU

a/ Nghiệm sự ước ao của tâm linh loài người. – Bất luận dân tộc nào ở trong thế gian nầy, ai cũng công nhận loài người là một loài có linh tánh cao hơn muôn vật. Cũng như trong sách luân lý giáo khoa có câu rằng: “Thiên sanh vạn vật, duy nhơn tối linh”. Kìa xem, người ta sống trên địa cầu nầy, hễ bên trong ngũ quan tứ thể cần dùng điều gì, thì ở bên ngoài cũng được dự bị sẵn các điều ấy cho một cách rất thích hiệp. Ấy thế, sự cần dùng thuộc linh của họ há lại chẳng được dự bị cho sao? Vả sự cần dùng thuộc linh của loài người chúng ta là gì? Há chẳng phải là tâm linh ước ao được giao thông với một Đấng Thần linh cao siêu,không thuộc về thiên nhiên giới, nhưng thuộc về thần linh giới hay sao? Ví bằng loài người không thể giao thông với Đức Chúa Trời được, thì lấy chi làm cho toại nguyện tâm linh kia của ta ư? Kìa, có nhiều người chuyên lo lập ngôn, lập đức chép sách vở đạo giáo, lập đàn xây miếu, dựng am tự, cất giáo đường; họ làm vậy há chẳng vì muốn thờ lạy một Đấng mắt không thấy được, tai không nghe được, tay không rờ được, vốn ở ngoài thân thể và linh hồn của mình, mong được giao thông với Ngài để thỏa lòng ước ao hay sao? Thực sự nầy minh chứng cho tấm lòng kính thờ Đức Chúa Trời quả rất cần yếu vậy.

b/ Tánh chất loài người hay tin cậy. – Xem thử tánh chất của mọi người đều hay tin cậy. Hễ con thì cậy cha, trẻ nhỏ thì cậy người lớn, kẻ dưới cậy người trên. Còn mỗi người lớn khôn rồi tự suy nghĩ về hoàn cảnh vĩnh viễn, họa phước vô thường,và các việc lớn lao to tác tỏ ra trong trời đất, bèn cảm xúc rằng cậy sức phù hộ của những người hơn mình trong đời nầy chưa đủ, cần phải có một Đấng từ trên cao hơn hết, trọn khôn ngoan, trọn quyền năng, có thể chăm nom giúp đỡ mình mới được. Mọi người đều biết mình có lương năng thờ lạy tin cậy một Đấng như thế. Bằng vậy, ắt phải có một Đấng thích hiệp với lương năng ấy mới hữu lý.

3. LÒNG KÍNH THỜ ĐỨC CHÚA TRỜI VỐN ĐỘC LẬP

Sự tri thức về Đức Chúa Trời ở trong lòng loài người được gọi bằng sự tri thức thứ nhứt, gốc bởi trực giác mà ra (cũng gọi là trực giác nhận thức), chớ chẳng do sự suy nghiệm mà được. Nên chi cũng gọi là nguyên tri vậy. Nhưng có kẻ hỏi rằng: “Quả như lời ấy, thì đứa trẻ chưa đến lớn khôn cũng đã có sự tri thức ấy rồi, không cần đến sự dạy dỗ, bởi vì theo thuyết nầy, nó tự nhận biết Đức Chúa Trời rõ ràng rồi; thế nhưng ai ai cũng biết con trẻ mới lọt lòng mẹ chẳng biết gì hết, là làm sao? Nếu nói rằng sự tri thức về Đức Chúa Trời gốc bởi trực giác (intuition) mà ra, thì lấy làm khó tin quá”. Ta xin đáp: Sự tri thức thứ nhứt về Đức Chúa Trời gọi là nguyên tri,chẳng phải là biết đến đầu đuôi của Thần đạo đâu; bèn là nói về một cái điểm linh minh, một hột giống thuộc linh vốn ngấm ngầm trong tâm linh loài người, đứng riêng ra, chẳng phải nhờ sự chứng nghiệm suy xét mà được bao giờ. Suy luận về vấn đề nầy ta thấy lấy làm khó mà kiếm được ví dụ gì để minh chứng cho được. Nhưng xin xem qua những điều giải bày sau đây, tưởng cũng có thể rõ được một vài.

a/ Nguyên tri về lòng kính thờ Đức Chúa Trời là cội rễ của cả tri thức ta. – Sự học thức, sự khôn ngoan ta, thảy đều nhờ sự thị thính ngôn động của ngũ quan mà được. Song thế nào chúng ta biết được rằng nhờ cậy ngũ quan mà nó không lừa gạt mình? Lúc suy tưởng thì thế nào chắc được mình có thể đoán định phải quấy?Sự tin cậy ấy hẳn là do nơi nguyên tri mà ra vậy. Giả như mình nhờ ngũ quan mà biết có ngoại vật. Nguyên tri ấy mình tin mà không ngờ. Nhờ ngũ quan mà biết nó không gạt mình, đó vốn là cái nền tảng của các sự tri thức ta, cũng là căn nguyên về sự tin có Đức Chúa Trời. Bởi vì nếu tin chắc ngũ quan không dối gạt mình, thì tại trong tâm linh mình có sự tin chắc rằng Đấng tạo thành ngũ quan là một Đấng biết nghe, biết nói, biết thấy, biết suy tưởng, biết nhận biết phải quấy, mới tạo thành các cơ quan diệu kỳ ấy. Còn về sự tin nhận ấy vốn do nguyên tri mà ra, nên lòng không ngờ mà cậy ngũ quan không lừa gạt mình. Thế thì,nguyên tri vốn là nền của mọi sự hiểu biết ta, đứng riêng ra, không phải là nhờ sự tri thức khác mà có, bèn vốn là tiềm tàng trong tâm linh của mọi người vậy.

b/ Nguyên tri về lòng kính thờ Đức Chúa Trời thích hiệp với những sự lý trong muôn vật.– Khi suy luận về những sự lý trong muôn vật, thì trước phải luận về lẽ đương nhiên, sau mới nghiệm đến lẽ tất nhiên. Tỷ như, có kẻ thấy trái cam rớt xuống đất thì liền biết rằng có hấp lực, cai trị muôn vật. Sự thấy trái cam rớt xuống đất gọi là lẽ đương nhiên. Nhờ cái hiện tượng đó mới suy xét rằng phải có hấp lực cai trị muôn vật; còn sự ấy gọi là lẽ tất nhiên. Nhưng tại sao cái lý suy luận trong loài người lại tương ứng tương hiệp với sự lý ở trong muôn vật như thế?Há chẳng phải vì có một tay Thợ lớn của tạo hóa đã nhứt định sự lý trong muôn vật phải thích hiệp với nguyên lý trong tâm linh loài người đó sao? Hoặc luận về cội rễ của muôn vật cũng vậy, ta thấy muôn vật thực tại, tự nhiên phải hỏi rằng:“Muôn vật từ đâu mà có?” Tại cớ sao hỏi vậy? Há chẳng phải vì lẽ suy luận trong tâm trí mình dạy rằng hễ có công hiệu tất nhiên phải có căn nguyên đó sao? Còn cách suy lý ấy rất tương hiệp với sự lý trong muôn vật; vì chúng ta chưa biết điều gì không có căn nguyên.

TỔNG LUẬN

Nhờ lý luận ở trên, ta thấy loài người có lòng kính thờ Đức Chúa Trời gốc bởi nguyên tri mà ra. Lại loài người quả nhiên theo tấm lòng ấy mà tôn sùng một Đấng Cao cả nào đó, đặng cho mình phải thờ lạy. Vả, xem xét trong vòng loài người, thì rất dễ thấy cái nguyên tri nầy đã ra mờ tối, bị nhiều chỗ sai lầm, khiến cho người ta không còn biết thờ lạy Đức Chúa Trời cách xứng đáng được nữa. Ấy tại vì tội lỗi xen lẫn vào, khiến lòng kính thờ ấy càng ngày càng sai lạc, điểm linh mình vốn có đã bị vật dục che đậy,làm cho cả thế gian bị đắm chìm trong cảnh hắc ám thuộc linh. Dầu đời nào cũng có các bậc thánh hiền xuất hiện, song họ thảy đều chắp miệng than dài rằng: “Đạo Trời mầu nhiệm, rất là khó hiểu!” Ấy vậy, nếu không có Đức Chúa Trời khải thị đạo Ngài cho loài người, thì người đời biết đâu mà theo mà thờ.

Chương 2: LUẬN VỀ CÁC BẰNG CỚ CHỨNG VỀ ĐỨC CHÚA TRỜI THỰC HỮU

Trong Kinh Thánh chẳng có bằng cớ gì theo lối lý luận mà chứng thực cho sự thực hữu của Đức Chúa Trời. Các trước giả Kinh Thánh đều tự nhiên nhận rằng sự thực hữu của Đức Chúa Trời vốn là một tri thức phổ thông, chẳng cần vịn lấy lý nầy cớ nọ đặng giải quyết một sự mà mọi người tự nhiên đã nhận biết rồi. Môi-se khai đề Sáng-thế Ký bằng câu: “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất.” Ông chẳng hề bày tỏ một lý cớ nào để khiến cho độc giả phải tin nhận là có Đức Chúa Trời đâu; bèn ám chỉ rằng độc giả đã biết thực sự ấy rồi, nên chẳng cần phải chứng thực đến nữa. Phao-lô cố quyết rằng sự nhận biết Đức Chúa Trời vốn một tri thức phổ thông. Ông rằng: xem Ro 1:19,20.

Cái bằng chứng về lẽ thật quan hệ nhứt nầy thì Đức Chúa Trời đã để vào tâm linh của mọi người, “cho nên họ không thể chữa mình được”.

Tuy sự tri thức về sự thực hữu của Đức Chúa Trời vốn là một lẽ thật nguyên tri, thì cũng có thể dùng lý luận do sự lý muôn vật và tư tưởng của loài người mà giải quyết và chứng thực cho. Những chứng cớ ấy gọi là: (1) Căn nguyên vạn vật làm chứng, (2) Luân thứ vạn vật làm chứng,(3) Linh tánh đạo đức của loài người làm chứng, (4) Quan niệm loài người làm chứng,(5) Vị cách của Christ làm chứng.

Nếu vin lấy chỉ một trong năm chứng cớ nầy, thì có lẽ không đủ để minh chứng đích xác về sự thực hữu Đức Chúa Trời.Nhưng cả năm chứng cớ ấy hiệp thành một xác chứng không ai đánh đổ được để giải quyết cho lẽ thật nguyên tri về sự thực hữu Đức Chúa Trời vốn tiềm tàng ở nơi tâm linh loài người vậy.

I. CĂN NGUYÊN VẠN VẬT LÀM CHỨNG

1. PHÁT HUY LÝ CỚ

Phàm sự đều hữu thỉ, vô luận là vật chất hay biến động nào, phải có căn nguyên mới thực hữu được. Thử xem vũ trụ nầy thì biết nó vốn bằng những vật hữu thỉ. Trong thời kỳ thái sơ có một hồi đặc biệt mà vũ trụ bắt đầu thực hữu. Còn sự thực hữu của nó do một căn nguyên ít nữa là bình đẳng với nó; bởi vì theo lý tánh loài người hay luận đoán, thì căn nguyên chẳng hề kém hơn công hiệu, buộc phải bằng hoặc trổi hơn mới hợp lý. Vả, nghiệm xét vũ trụ nầy thì thấy thật cao xa, lớn rộng, chưa có ai dò xét cho thấu đáo nguồn ngọn mọi vật bao giờ. Nên lý tánh loài người bèn đoán định rằng cái Căn nguyên của nó hẳn là lớn lắm, rất xứng hiệp với hiệu quả nầy vậy.

2. KHUYẾT ĐIỂM CỦA LÝ CHỨNG NẦY

Tuy nhiên, lý chứng nầy vẫn còn nhiều khuyết điểm, chỉ có thể giải quyết đến được hai lẽ thật mà thôi, tức là: vũ trụ có Căn nguyên, và Căn nguyên ấy rất lớn. Ngoài hai lẽ ấy, lý chứng nầy chẳng giải luận điều gì thêm được. Lý chứng nầy chưa cho ta biết: (a) hoặc Căn nguyên của vũ trụ bằng vật chất hay là thuộc linh; (b) hoặc Căn nguyên nầy ở ngoài vũ trụ hay là thuộc trong vũ trụ; (c) hoặc Căn nguyên muôn vật tự nhiên mà có hay là phải nhờ một Căn nguyên khác mà sanh ra; (d) hoặc Căn nguyên nầy hữu hạn lượng hay là vô hạn lượng; (e) hoặc có ngộ tánh hay không ngộ tánh; (f) hoặc vũ trụ nầy được dựng nên chỉ bởi một hay là nhiều căn nguyên. Sáu điều trên đây, lý chứng nầy không thể đem đủ bằng cớ để giải minh cho ta rõ được.

3. LÝ THUYẾT PHẢN ĐỐI BẰNG CHỨNG CĂN NGUYÊN VẠN VẬT

a/ TẤN HÓA THUYẾT

(1) Phát huy tấn hóa thuyết.– Vào kim thời có nhiều nhà khoa học chủ trương rằng vũ trụ chẳng có căn nguyên, bèn là nhờ thiên diễn tấn hóa mà lần lần có. Họ dạy rằng muôn vật đều do một tế bào đơn sơ từ nơi hư vô nào đó mà tự nhiên tấn hóa, đến đỗi ở ngoài một Đấng chủ tể toàn tri toàn năng thì muôn vật đã đều được sắp đặt, có thứ tự y như ta thấy hiện có bây giờ vậy.

(2) Lời bác lại.– Đối với lý thuyết ta đáp rằng: Lý tánh loài người lấy làm khó tin cái thuyết ấy,bởi vì theo nguyên tri thì mọi sự, bất cứ sự gì, buộc phải có căn nguyên mới hữu lý. Kìa, muôn vật bài bố trong vũ trụ đều có hình chất cả. Ai dám gọi những vật đó được sanh ra bởi một lẽ hư vô, không ai biết là gì, chẳng ai rõ là đâu? Quả không thể tin được. Đến đỗi phàm vật mỗi ngày thường dùng, dầu vật rất hèn mọn,cũng chưa hề tự nhiên mà có bao giờ, thảy đều có người tạo ra cả. Mà nếu gọi vũ trụ cao xa rộng lớn nầy “xuất ư tự nhiên”, không có tay Đấng Tạo Hóa vận hành làm nên, thực lấy làm vô lý lắm. Vả, nhà khoa học thường xét rằng trong muôn vật có chừng 92 thứ nguyên chất. Các nguyên chất ấy nhờ các luật của trọng lượng, hấp lực, và ái lực mà hóa nên những chất gọi là muôn vật. Xin hỏi: Hơn 90 nguyên chất ấy há tự định là nguyên chất sao? Hoặc là nó tự bàn tính sắp đặt với nhau, đến đỗi cùng nhau tự chỉ định đây là tương quan, kia là loại biệt hay sao?

Tỷ như tiếng Pháp có 26 chữ cái. Lấy 26 chữ ấy mà sắp đặt theo giống tiếng ấy, thì thành ra chừng 30 vạn tiếng nói. Có ai dám gọi 26 chữ cái ấy có thể tự sắp đặt để thành 30 vạn tiếng nói chăng? Quả không ai dám bảo thế bao giờ. Mà nếu không ai dám nói như vậy về 26 chữ cái đó,tại sao lại cả gan dám quyết rằng hơn 90 nguyên chất kia tự phối hiệp, tự tiến hóa thành vạn vật trùng trùng điệp điệp hằng hà sa số đó sao?

Vả, cái vấn đề mà tấn hóa luận lấy làm khó giải quyết hơn hết, là vấn đề về cội rễ của sự sống. Xưa nay các nhà bác học chưa ai dám đoán định sự sống đã vào thế gian khi nào và bởi cách nào. Nghiên cứu sanh lý học thì thấy khoa học ấy gọi sự sống gốc bởi giống nguyên tân (protaplasme).

Cái giống ấy đã có trước khi chưa có cơ thể: rồi sau khi có cơ thể thì nó mới sanh hóa được. Nhưng ta xin hỏi: Cái cơ thể của nguyên tân từ đâu mà có? Vả lại, nếu nhà sanh lý học đem nguyên tân ấy lọc ra, thì thấy nó bằng thán lưu và dưỡng khí; rồi nếu chiếu đoán theo phép hóa học đem các nguyên chất ấy mà phối hiệp lại thì thể nào? Có sự sống không?Chẳng có chút nào. Vậy thì phải xét thể nào? Xét rằng nguyên tân chẳng phải là chính sự sống bèn ở trong nó có tiềm tàng nguyên sanh đó thôi. Cũng chẳng có người phàm nào tự nhiên biết cội rễ sự sống ở đâu, bởi vì nguyên sanh chẳng sanh ra bởi vật chất. Bằng chẳng có Đấng Chủ tể thuộc linh làm nguồn gốc nguyên sanh, thì loài người chẳng có thể tìm ra cái hột giống của sự sống được.

b/ VẠN VẬT TUẦN HOÀN VÔ THỈ THUYẾT

Cũng có nhà triết học chủ trương rằng vũ trụ vô thỉ, muôn vật chỉ là một cuộc tuần hoàn mà thôi. Tin như lời ấy, thì trước không có quá khứ, sau không có tương lai, không có đời xưa nay, không có vật cũ vật mới, hết thảy muôn vật dều là “châu nhi phục thỉ”, giáp một vòng, rồi lại cứ bắt vần vòng khác đến vô cùng. Theo thuyết ấy thì chính mình ta đây cũng là một vòng tròn xoay vần theo lẽ đó. Họ nói cội rễ của loài người bởi một động vật nhỏ hơn hết mà lần biến hóa ra đến bực thành nhơn như hiện có bây giờ. Bằng thực vậy, thì loài người chúng ta đáng buồn đáng tủi là dường nào! Vì sau mấy ức triệu năm nữa thì thân thể nầy khi giáp vòng rồi, lại phải từ gốc động vật nhỏ xíu kia mà biến hóa một lần nữa giống như từ loài sâu bò, cá lội, ếch nhảy, rồi lần tới địa vị thỏ chạy, chim bay vậy. Cái thuyết nầy quả phản đối cùng nguyên tri của cả người đời. Vì bản năng ấy trong mọi người đều chứng quyết rằng vạn vật mà mắt thấy buộc phải có gốc rễ mới hiệp lý cho. Còn vật gì có căn nguyên tự nhiên phải là vật hữu thỉ vậy. Kinh Thánh cũng chứng thực cho lẽ thật nầy mà rằng,- xem He 11:3.

II. LUÂN THỨ VẠN VẬT LÀM CHỨNG

1. PHÁT HUY LÝ CHỨNG

Thường tra xét trời đất muôn vật, thì thấy sự sắp đặt có luân thứ trọn vẹn, vật nầy vật nọ đều tương hiệp nhau một cách diệu kỳ. Như mặt trời mặt trăng, các ngôi sao vận hành trên không gian; bốn mùa luân chuyển, tám tiết hiệp nghi, thích tình của sanh vật, định lệ của nguyên chất, cả thảy đều có diệu dụng, có thứ tự, không hỗn hiệp, không phản đối bao giờ. Ví bằng gọi muôn vật tự nhiên mà có, không có Đấng Chủ tể nào dựng nên, sắp đặt và bảo tồn cả, thì ấy chẳng qua là lời tự khinh lý tánh mình và khinh cả lý tánh của mọi người khác nữa. Vì lý tánh không thể nào suy nghĩ được rằng có công hiệu nào ở ngoài cái căn nguyên vậy.

2. THỰC SỰ BIỂU MINH BẰNG CỚ NẦY

Trong muôn vật có rất nhiều điều biểu minh bằng chứng nầy.

a/ Sự diệu kỳ của muôn vật.– Nghiên cứu muôn vật thấy vật nào cũng có phương diện rất là diệu kỳ, bắt buộc ta phải tin nhận rằng quả do một Đấng toàn năng toàn tri mà có. Kìa, một cái đồng hồ, dầu có nhiều máy móc, song được sắp đặt có thứ tự chạy đúng giờ. Thấy nó, tự nhiên nghĩ rằng chắc có một tay thợ thiện nghệ đã chế tạo ra nó. Nay xem sự diệu kỳ của muôn vật, thật lấy làm khéo léo lạ lùng, khiến cho ta phải kính sợ, tự nhiên đoán rằng chắc có Đấng nào rất khôn ngoan mới tạo thành như vậy được.

Nói về máy móc trong thân thể loài người thì nó cực kỳ tinh xảo lạ dường. Coi như hình thức của con mắt, nó có thể nhìn xa ngó gần, luân ra hay luân vào, liếc qua liếc lại, tùy ý của người. Mí mắt cũng hay mở nhắm vừa chừng với sự sáng đậm hay là lợt. Còn theo lời nhà giải phẫu,thì cái áo ngoài tròng của con ngươi có mười lớp để làm cho ánh vật nên hình.Trong lớp thứ chín có ba ngàn vạn chỉ dọc, bảy trăm vạn chỉ ngang đan như mặt lưới, đặng chiếu những vật bề ngoài. Sự cấu tạo diệu kỳ của con mắt đó đủ khiến cho ta biết rằng buộc phải có một Đấng Tạo hóa khôn ngoan vô cùng mới có con mắt như thế được. Lại thử xem qua muôn vật muôn sự thì cũng dễ thấy đều được nên rất diệu kỳ, vẫn tương đương thích hiệp cả thảy. Như loài nầy thì có lông có cánh để bay, loài kia có vảy có vi để lội, còn vật nọ lại có chơn có móng để đi chạy.Các sự ấy há phải là tự nhiên mà có sao? Chắc là không! Bằng chẳng tự nhiên thì thể nào? Buộc cho chúng ta phải công nhận có tay của Đấng Tạo hóa quyền năng rất lớn, khôn ngoan rất mực để tạo thành các sự vật như thế mới hiệp lý vậy.

b/ Sự tương ứng của muôn vật.– Chúng ta thử xem những hiện trạng muôn vật chung quanh mình, thì thấy chẳng có một vật nào mà không có lẽ phối hiệp nhau. Như là lỗ tai với tiếng, con mắt với hình, miệng với vị ngon, lỗ mũi với mùi thơm, cái phổi với không khí, đều được dự bị thích hiệp nhau cả. Nói rộng ra nữa, hai vầng nhựt nguyệt, các vì tinh tú chiếu diệu khắp cõi trời, muôn vật sanh hóa sum sê đầy mặt đất, sự diệu dụng của các loài kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, sự lưu thông của các thứ tiếng vang, ánh sáng, không khí, điện khí, đều có những tài lý diệu kỳ, tương phối tương sanh với nhau. Các nhà triết học, khoa học, dầu dùng đến hết hơi đớ lưỡi,bút cùn mực cạn cũng không sao giải tỏ hết được. Hễ ai thử giải quyết căn do và nguyên lý của các sự tương ứng lạ lùng ấy, đều phải đồng thinh chứng rằng trong vũ trụ nầy có một Đấng Tạo hóa khôn ngoan, quyền năng vô cùng, tạo thành và sắp đặt các sự ấy, mới hữu lý vậy.

c/ Cái cơ thể trong vụ trụ.– Toàn bộ thiên nhiên giới được cai trị bởi một quy luật nhứt định không thể đổi thay, chẳng lúc nào sai chạy. Kỳ thực, nếu vũ trụ nầy không có một qui luật cai trị như thế, quả không còn có thể gọi là vũ trụ nữa, nhưng trái lại muôn vật thảy đều phải ra hư không đó thôi.

Nói đến vật lớn lao như các tinh tú ở trên không gian mà người ta phải dùng kính viễn vọng để dòm xem, thì nó vốn thật hằng hà sa số, lại còn gây nên vô số tinh thế giới khác nữa, mà mặc dầu nó cách xa thế giới chúng ta muôn trùng như thế, thì nó cũng phải chiếu theo quy luật nhứt định mà dọc ngang theo quỹ đạo của nó mãi mãi. Lại nếu cứ lấy lý tánh và tưởng tượng mà luận đến vật rất nhỏ như cái nguyên tử (atome), thì dầu nó vốn một chất điểm cực nhỏ, phải dùng đến kính hiển vi mới thấy đi nữa, thì rõ ràng nó cũng có sự tổ hiệp đồng kiểu mẫu thái dương thống hệ (système solaire), có luân thứ, có chuyển vận, và phối hiệp nhau một cách rập ràng.

Vả, vật rất nhỏ và vật rất lớn ở trong vũ trụ nầy đều theo lệ định mà phối hiệp với nhau cả. Như là hành tinh đi chung quanh mặt trời, mặt trời lại đi chung quanh trung tinh, cả đều y theo trình độ xa gần, có sức ở giữa khoảng không mà đi chậm hay là mau cũng vừa theo lượng thể lớn hay nhỏ, để luân chuyển luôn, không hề ngừng lại chút nào. Bởi vì nếu hễ ngừng lại dầu chỉ độ giây phút, thì cả vũ trụ nầy phải bị hư nát tức thì. Còn những nguyên tử kia cũng có khoảng cách nhau và vừa theo trình độ mà xây vần với nhau cách lẹ làng.

Ấy vậy, ta thấy cả muôn vật ở trong vũ trụ nầy từ chất điểm nhỏ đến tinh cầu lớn, đều có ý nghĩa ăn hiệp với nhau, thuận phục một quy luật chung để cùng xây đi vần lại. Vả, nếu quy luật ấy đã thông hành rồi, nhứt định rồi, thì chắc phải có một Chủ não để sáng tạo quy luật ấy,mới nên được cơ thể của vũ trụ dường ấy. Vì ai dám gọi những vật trong vũ trụ,từ vật thấy được cho đến vật không thấy được đều có thể tự quy định lấy quy luật cho mình nó đâu; muôn vật vô tri giác vô ý thức kia, thể nào tự làm nên công việc khôn ngoan vô cùng, quyền năng tuyệt đối như thế? Quả hẳn vũ trụ cực lớn hoặc vũ trụ cực nhỏ, cả thảy đều buộc phải có một Nguyên nhơn nào đủ lớn đủ khôn ngoan đặng sáng tạo các quy luật của muôn vật ấy mới hữu lý. Còn Nguyên nhơn ấy tức là Đức Chúa Trời, Chủ tể của trời đất muôn vật vậy.

3. KHUYẾT ĐIỂM CỦA BẰNG CỚ NẦY

Luân thứ vạn vật minh chứng rằng có một Chủ ý đã làm nên vũ trụ hiện tại. Chủ não ấy rất khôn ngoan, có tài năng tối cao để tạo thành những vật nhỏ và lớn, khiến cho có sự tương hiệp với nhau rất khắng khít và rập ràng vậy. Thế mà, bằng chứng nầy cũng chưa toàn vẹn, còn có khuyết điểm, bởi vì không thể nào dạy cho ta biết hoặc Chủ não ấy có vị cách hay không; hoặc đơn số hay đa số; hoặc vô thỉ vô chung hay là hữu thỉ hữu chung; hoặc tự nhiên mà có hay nhờ căn nguyên khác mà sanh ra; hoặc tự chủ hay phải phục quyền bính của đấng nào khác. Nhưng vấn đề ấy lý chứng luân thứ vạn vật không minh giải được.

III. LINH TÁNH LOÀI NGƯỜI LÀM CHỨNG

1. PHÁT HUY LÝ CHỨNG

Bằng cớ nầy vin lấy nguyên tố thuộc linh của bản tánh loài người, gọi là linh tánh, gồm lại lòng đạo đức, giác ngộ,cảm tình và ý dục, để xét ra phải có một Đấng Tạo hóa thuộc linh, cò lòng đạo đức,giác ngộ, cảm tình và ý dục, mới tạo ra loài người được. Bằng chứng nầy có năm điều như sau đây:

a/ Lòng phân biệt phải trái. – Trong lòng loài người có một chí lý biết phân biệt phải trái. Chí lý ấy không thể nào bởi vật vô tri giác mà ra, bèn phải có một Đấng có lòng đạo đức biết phân biệt phải trái, thưởng thiện phạt ác, mới có thể tạo nên cái chí lý ấy. Sách Nho rằng: “Thiên lý tại nhơn tâm” là đúng lắm;nhưng sở dĩ loài người không nhờ chí lý ấy mà nhận biết Đức Chúa Trời được, là chỉ tại phong hóa suy đồi, đạo đời xiêng vạy, nên tâm linh bị mờ tối, không còn có thể thấy sự khải thị từ tấm lòng phải trái kia mà ra được.

b/ Tánh đạo đức.– Loài người chẳng những là có tấm lòng nhận định thị phi, phân biệt thiện ác,mà lại có tánh đạo đức, để ăn ở cho thánh khiết, công nghĩa, hiền lành và yêu thương. Cũng có ý chí và cảm tình để quyết định làm việc nầy, bỏ việc kia. Gọi loài người bởi giống động vật không có tài đạo đức mà lần tấn hóa đến bực thành nhơn, thì thực phi lý lắm. Nếu cứ lấy lý tánh ta mà xét thì dễ thấy hễ loài người đã có tánh đạo đức có đủ lương năng để ở cho thánh khiết, công nghĩa, hiền lành và yêu thương, lại có ý chí và cảm tình để quyết định làm việc nầy, bỏ việc kia, thì tất nhiên phải có Đấng Tạo hóa có tánh đạo đức luôn với các lương năng ấy, mới tạo thành loài người như thế được. Bởi vì theo lý tánh, chúng ta biết rằng công hiệu không khi nào trổi hơn căn nguyên bao giờ.

c/ Lương tâm.– Trong loài người lại có một quan năng quý báu khác gọi là lương tâm. Ai ai cũng thường nghe tiếng nó xét đoán, biết rằng nó có quyền sai khiến mình được.So với luật pháp, thấy nó càng có quyền bính hơn, dầu khi chúng ta cượng biện với nó, cũng không thể khuất phục nó được. Có kẻ lấy luận tài của mình tranh biện với lương tâm, nhưng kết cuộc lương tâm cũng thường được phần hơn. Thế thì, dễ biết rằng phải có một Đấng có tài xét đoán và quyền sai khiến loài người, mới có thể dựng nên lương tâm của loài người được. Còn Đấng ấy là Đức Chúa Trời, Chủ tể của trời đất, Chúa của lương tâm ta có quyền xét đoán, cũng có quyền sai khiến ta tùy ý chỉ của Ngài vậy.

d/ Sự tự tri tự giác.– Mọi người đều có sự tự tri tự giác, cảm biết mình thực tại. Nhờ lương năng ấy loài người tự nhiên biết rằng có Đấng vũ trụ Chơn tể, vẫn thực tại ngoài thân thể mình, lớn hơn mình, cai trị mọi sự mọi vật, có quyền đòi mình phải đầu phục,kính sợ, thờ lạy Đấng ấy. Kỳ thực, hễ ai chối Đấng ấy, cũng chối luôn sự tự tri tự giác của mình, nghĩa là chối ta là ta vậy. Bởi vì sự tự tri tự giác chứng thực rằng phải có một Đấng Tạo hóa cũng tự tri trư giác như loài người vẫn có, để làm căn nguyên của họ, mới hữu lý.

e/ Lòng tin cậy.– Loài người ai ai cũng có thiên tánh kính thờ thần, tin nhận rằng có một Đấng giáng họa phước cho loài người. Xét thử các tôn giáo, nào là bái vật giáo hay là Thần đạo giáo, hết thảy đều bởi lòng tin kính một thần cao cả mà có. Dầu là người ta có tin tưởng nhiều sai lầm về Đấng ấy, thì lòng tin kính ấy vẫn chứng quyết rằng thiên tánh của loài người đều thầm nhận có một Đấng thiên địa Chơn tể vậy.

Vả, nếu lấy sự từng trải của loài người làm chứng, thì nhận biết lẽ thật ấy rõ hơn hết. Xét bất luận dân tộc nào, chi phái nào, cũng đều có lời tục ngữ hoặc câu ca dao chứng tỏ chỗ tương quan giữa trời và người, như tục ngữ Việt Nam rằng: “Trời cho ai nấy nên, trời khiến ai nấy mất.” “Ông trời có con mắt.” Lại như: “Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong.” “Ở lởi xởi trời gởi cho, ở bo bo trời lấy lại.” “Ví dầu trời hại mới hư,còn người có hại cũng như phấn dồi.”

Có một điều chứng quyết đích xác hơn nữa là sự từng trải của tín đồ Christ. Họ được sự vui vẻ giao thông với Đức Chúa Trời,được ân tứ trong sự cầu nguyện, nhận lãnh hạnh phước, bước tới trên con đường thuộc linh, càng ngày càng được gần gũi với thần linh giới. Họ không những biết rằng chắc có Đức Chúa Trời, mà lại cũng thương yêu Ngài, tin cậy Ngài, giao thông với Ngài cách thân mật nữa. Họ xin Ngài, Ngài cho, họ nhờ Ngài, Ngài giúp; Ngài nuôi linh mạng của họ, mở thần trí của họ, đổi tánh nết của họ, bổ dưỡng lòng đạo đức của họ được tấn bộ càng hơn. Các sự từng trải ấy minh chứng rằng có một linh lực thần quyền vận hành ở trong họ. Còn linh lực ấy là chính quyền năng của Đức Chúa Trời, Chủ tể của trời đất vậy.

2. KHUYẾT ĐIỂM CỦA BẰNG CỚ NẦY

Cái bằng cớ nầy dạy cho ta được biết Đức Chúa Trời rõ hơn bằng cớ trước, bày tỏ một Đấng có vị cách, hay dùng sự công nghĩa mà cai trị, rất đáng cho chúng ta đem lòng yêu mến vâng phục mọi bề.Nhưng mà bằng cớ nầy cũng chưa toàn vẹn, vì không thể bày tỏ cho ta biết hoặc Đấng ấy là Đấng Tạo hóa của cả muôn vật, hay là chỉ dựng nên loài người mà thôi.Cũng không giải quyết được hoặc Ngài vô thỉ vô chung, hoặc duy có sự công nghĩa, hay là cũng có sự thương yêu nữa chăng.

IV. QUAN NIỆM CỦA LOÀI NGƯỜI LÀM CHỨNG

1. PHÁT HUY NGHĨA LÝ BẰNG CỚ

Bằng cớ thứ nhứt, thứ hai và thứ ba đều do công hiệu mà xét ra căn nguyên; còn bằng cớ nầy do căn nguyên mà xét ra công hiệu. Yếu điểm của bằng cớ nầy như sau đây: Loài người tự nhiên có cái quan niệm về một Đấng vô thỉ vô chung, rất trọn vẹn, làm cội rễ muôn vật, rất đáng cho mình thờ lạy. Vả, cái quan niệm như thế không thể bởi sự gì hữu thỉ hữu chung mà ra, buộc phải do một Đấng vô thỉ vô chung, rất trọn vẹn làm căn nguyên của nó vậy.

2. KHUYẾT ĐIỂM CỦA BẰNG CỚ NẦY

Bằng cớ nầy yếu quá, vì các quan niệm của loài người dầu có can thiệp đến Đấng toàn năng vô cùng, thì cũng chẳng có thể gọi là trọn vẹn vô cùng đâu. Các quan niệm ây cũng không vô thỉ vô chung, vì cái gì thuộc về loài người đều bất toàn cả, đến nỗi quan niệm về Đức Chúa Trời cũng vậy.Thế thì, quan niệm về Đức Chúa Trời trong lòng loài người, nếu đứng độc lập, có lẽ không chắc minh chứng về sự thực hữu của Ngài được. Nhưng mà bằng chứng nầy quả có giúp đỡ cho ba bằng chứng kia, khiến cho ta thấy Đức Chúa Trời có những phẩm cách trọn vẹn vô cùng, như sự vô thỉ vô chung, sự toàn vẹn, và mọi thứ đức tánh trọn vẹn khác. Tuy bằng cớ nầy không thể quyết chứng cho những phẩm cách trọn vẹn đó, thì cũng rất giúp đỡ cho ba bằng chứng kia, thích hiệp với tâm lý của loài người mà chứng rằng Đấng Cao cả buộc phải có những phẩm cách trọn vẹn ấy,mới xứng đáng gọi là Đức Chúa Trời vậy.

V. PHẨM VỊ CHRIST LÀM CHỨNG

Bằng cớ nầy được xây dựng lên trên năm cây trụ, chứng quyết rằng Đức Chúa Trời thực hữu. Năm cây trụ ấy như sau đây:

1. Christ đối với Kinh Thánh. –Đấng Christ là trung tâm và châu vi của cả bộ Kinh Thánh. Bộ ấy khải thị và minh giải về phẩm vị và công việc của Ngài, quyết đoán rằng Christ quả một Đấng siêu nhiên từ Đức Chúa Trời đến, hiện ra trong cõi trần gian đặng cứu rỗi loài người. Sự giáng sanh, đời sống, công vụ, sự chết, sự sống lại của Ngài, đều minh chứng rằng mọi sự Kinh Thánh chứng cho Ngài đều là chơn thật cả. Vậy, nếu Christ quả từ Đức Chúa Trời mà đến, và chính phẩm vị và công vụ Ngài đều minh chứng vậy, thì thực sự ấy cũng là một xác cứ chứng rằng có Đức Chúa Trời.

Vả lại, Kinh Thánh cũng dạy rằng cả bộ ấy được biên thuật và tập thành cách siêu nhiên, đến đỗi tuy có đến 66 quyển đặc biệt,bởi chừng 36 trước giả rải rác trải gần hai ngàn năm, thì cũng vẫn có sự liên hiệp khắng khít, tôn chỉ và chủ ý của mỗi sách chỉ là Christ mà thôi, trước giả nầy chẳng phản đối với trước giả kia, nhưng cả thảy đều hiệp một ý để bày ra Chiên Con của Đức Chúa Trời là Đấng cất tội lỗi thế gian đi. Vả, nếu Kinh Thánh được nên cách siêu nhiên như thế, cũng dễ tin rằng phải có một Đại Trước giả siêu nhiên trước thuật mới hữu lý. Còn Đấng ấy là Đức Chúa Trời, Đấng siêu nhiên vô cùng vậy.

2. Sự dự ngôn được ứng nghiệm. –Sự dự ngôn của cả các tiên tri và của Chúa đều được ứng nghiệm rất nhiều cách đúng đắn với nguyên ngôn, là thực sự xưa nay chẳng ai cãi được. Giả như sự dự ngôn về nước A-si-ri và Ba-by-lôn bị đánh đổ, không còn thấy tên trong bản đồ nữa (Es 13:19-22; 14:22,23; Gie 50:13,39,40; Na 3:7; So 2:13,14); lời dự ngôn về nước Ai Cập, nói rằng “sẽ là một nước yếu hèn hơn hết các nước, và sẽ không dấy lên trên các nước nữa” (Exe 29:15), đều đã được ứng nghiệm trọn vẹn đến ngày nay.A-si-ri và Ba-by-lôn bị tuyệt diệt không còn nữa; còn Ai Cập, tuy bị hèn yếu,mà vẫn còn đến ngày nay, nhưng thật không “dấy lên trên các nước nữa”.

Kinh Thánh cũng dự ngôn nhiều về sự tan tác dân Y-sơ-ra-ên ở khắp trái đất (Exe 22:15; Os 9:17; Am 9:9); sự ấy cũng thật đã xảy đến cho họ y như các tiên tri đã dự cáo đó vậy. Trải qua mười mấy thế kỷ có nhiều tiên tri và bậc thánh dự ngôn về sự giáng sanh, sự sống, sự chết, và sự sống lại của Christ. Các lời họ đều được ứng nghiệm trọn vẹn, chẳng một lời nào sai chạy cả, cũng như chúng ta có thể biết ở lịch sử của Ngài chép trong Tân Ước vậy.

Vả, các lời dự ngôn ấy và sự ứng nghiệm trọn vẹn như thế, há chẳng chứng quyết rằng phải có một Đấng siêu nhiên vô sở bất tri, khải thị các điều ấy cho những trước giả Kinh Thánh được biết ư? Thật như lời; và Đấng siêu nhiên vô sở bất tri ấy là Đức Chúa Trời, Chủ tể của trời đất muôn vật vậy.

3. Các phép lạ dấu kỳ. –Kinh Thánh thuật lại nhiều biến động siêu việt xảy ra trong đời Cựu Ước và Tân Ước. Các biến động siêu nhiên đó đều can thiệp với cõi vật chất, cõi thuộc linh, và là những việc chẳng người phàm nào tự nhiên có thể làm được. Giả như sự giải cứu dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ai Cập, sự tuyệt diệt dân Ai Cập tại Hồng Hải,sự dùng ma-na mà nuôi nấng dân Y-sơ-ra-ên trải qua đồng vắng bốn mươi năm, sự đầu thai của Christ, các phép lạ Ngài, sự chết, sự sống lại Ngài, thảy đều là những biến động siêu việt, có nhiều chứng kiến làm chứng đích xác cho. Vậy các biến động ấy từ đâu mà có? Nhờ quyền năng gì mà xảy đến? Nếu không thể ra người phàm, thì há chẳng rõ lắm buộc phải do một Đấng siêu việt vô sở bất năng mà có đó ư?

4. Vị cách và công vụ của Christ. –Xét về vị cách và công vụ của Christ thì đễ biết Ngài không phải như người thường,vốn tánh rất đạo đức, lòng rất thánh khiết, hành vi rất hiền từ, ngộ tánh rất cao, trong cả loài người chẳng một ai sánh kịp. Chính mình Ngài tự xưng là Con Đức Chúa Trời từ trời giáng xuống đời. Vả, nếu sự tự xưng ấy không chân thật,thì Jêsus Christ bất quá một đứa làm chứng dối, mê hoặc người ta, thật ác tệ cực điểm đó thôi. Song xét hành vi Ngài quả không phải đứa giả dối ác tệ đâu. Bởi vì kẻ ác không thể nào làm các việc thiện như Ngài đã làm. Thành thử, nếu Ngài là thiện thì sự tự xưng của Ngài hẳn là chân thật, Ngài quả là Con Đức Chúa Trời bởi Đức Chúa Trời sai xuống thế gian. Mà lại, nếu Ngài là Con Đức Chúa Trời,thì chính Ngài là bằng cớ xác thực hơn hết chứng rằng Đức Chúa Trời quả thực hữu;thật như Giăng chép, - xem Gi 1:18.

5. Sự từng trải của tín đồ. –Có một bằng chứng đích xác hơn nữa về sự thực hữu Đức Chúa Trời, ấy là sự từng trải của tín đồ. Họ được tái sanh, được lòng mới, ghét sự ác, mến sự thiện, vui vẻ giao thông với Đức Chúa Trời, được ơn trong sự cầu nguyện, nhận lãnh nhiều hạnh phước thuộc linh, được sức hằng ngày tấn bộ trên thiên lộ, được càng gần gũi với thần linh giới càng hơn. Tín đồ Chúa không những biết Đức Chúa Trời chắc thực hữu,mà lại yêu mến Ngài, tin cậy Ngài, giao thông với Ngài. Họ xin Ngài, Ngài cho,nhờ Ngài, Ngài giúp mà ban linh lực cho, mở trí cho, thay đổi tánh xấu trở nên nết lành. Nghiệm thử trong họ dễ thấy thực có một thứ linh lực hành động ngấm ngầm, khiến họ cử chỉ quá tài lực và trí não thiên nhiên. Sự từng trải ấy không phải họ lập ý dối mình gạt người đâu, bèn là thật sự, xưa nay hiển hiện trong đời sống của muôn trùng người tin theo Christ. Vả, nếu không có Đức Chúa Trời làm Căn nguyên và Đối tượng của những sự từng trải ấy, thì ai là căn nguyên, ai là đối tượng đấy ư?

TỔNG ĐOÁN

Xét kỹ năm bằng cớ luận qua trên đây, ắt phải công nhận rằng có một Đấng thiên địa Chủ tể. Nếu vin lấy một trong 5 bằng cớ ấy,thì không đủ làm chứng đích xác về sự thực hữu Đức Chúa Trời. Nhưng nếu vin lấy hết cả 5 cái, thì lại là bằng cớ minh bạch đích đáng xác chứng rằng Đức Chúa Trời quả thực hữu. Năm lý chứng ấy giống như năm chiếc đũa nhập lại một bó cứng,không ai bẻ gãy được, nhưng nếu lấy ra từng chiếc một, thì bẻ gãy như chơi.Cũng một thể ấy, đem cả năm bằng cớ nầy hiệp lại mà chứng quyết rằng có Đức Chúa Trời thì rất mạnh. Nhưng nếu bỏ bớt đi một cái, thì bốn cái kia ra yếu ớt và thiếu mất giá trị, không còn đủ lý cớ xác chứng rằng Đức Chúa Trời thực hữu vậy.

CHƯƠNG 3: LUẬN VỀ ĐỨC CHÚA TRỜI ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ

Chương trên đã minh chứng rằng trong vũ trụ nầy có Đấng Thần minh, chắc chắn và đáng tin lắm. Nhưng người đời suy nghĩ về Đấng ấy thì có nhiều ý khác nhau lắm, người thì tưởng thế nầy, kẻ thì nghĩ thế kia,khiến cho loài người không thể nào rõ hoặc Đấng Thần Minh ấy có một Thần hay là nhiều, hoặc Ngài cao hơn muôn vật, hay là lẫn lộn trong muôn vật. Trước xin thử xem các nhà triết học và các nhà tôn giáo suy luận thể nào về các vấn đề quan hệ ấy; rồi sau đem những bằng cớ để chứng về lẽ đạo Đức Chúa Trời độc nhứt vô nhị.

I. SỰ ỨC ĐẠT LẨN THẨN CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC

Chúng ta xét xem vũ trụ rộng lớn, muôn vật bề bộn, tài tình diệu lý của sự vật, thì tâm lý ta không cần suy nghĩ lâu, nhưng rất dễ nhận biết phải có một căn nguyên của muôn vật mới hữu lý. Nhưng ta thấy đạo học và lý học bất đồng, linh trí và thể trí khác nhau, đến đỗi có khi đờn bà con nít bất học mà lại biết rõ sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời; còn những nhà văn học danh tiếng lại tối tăm không hiểu gì đến. Thực như Chúa Jêsus Christ đã phán: “Cha đã giấu những điều nầy với kẻ khôn ngoan, người sáng dạ, mà tỏ cho những con trẻ hay” (Mat 11:25). Kìa, nhiều người tự xưng là đạt nhơn triết sĩ ở đời nầy, mà vốn tối tăm không rõ Đức Chúa Trời là thể nào, rồi lại đem tư tưởng hư không mình mà ức đoán ý nầy lẽ nọ, nhưng kết cuộc, luận điệu của họ chẳng khác gà cồ ăn quẩn cối xay, suy luận mãi mà không ra lẽ gì cả. Sau đây xin lần lượt kể lại đại khái chủ ý của các nhà ấy.

1. DUY VẬT LUẬN

a/ Phát huy duy vật luận. –Thuyết nầy chủ trương rằng muôn vật chẳng do trí ngộ mà ra, bèn là bởi vật chất mà được nên. Trước khi chưa có một vật nào trong vũ trụ, thì duy có vật chất. Vật chất ấy bằng những nguyên điểm (atome), nhờ cái động lực ẩn ở trong mà tự nhiên sanh hóa ra muôn vật. Thế thì, duy chất điểm là thực tế, làm cội rễ của muôn vật,đến đỗi loài có tâm chí tự chủ hay là vật vô tri vô giác, đều chẳng qua là hiện trạng của các chất điểm hóa ra đó. Họ lại chủ trương rằng trí ngộ với các lương năng khác của loài người đều chỉ là tài liệu của vật chất, tức là người tài năng thuộc về vật chất do động lực trong nó mà tổ hiệp nên. Thành thử, trí ngộ không có trước muôn vật, cũng không phải là căn nguyên của sự tổ hiệp trật tự diệu kỳ ở trong vũ trụ đâu; bèn là sự tổ hiệp trật tự đó nhờ công lệ vốn tiềm tàng trong vật chất mà cấu tạo trí ngộ. Vậy, trí ngộ là con đòi của vật chất,chớ chẳng phải là chủ của nó. Vật chất vô tri vô giác đó làm căn nguyên của muôn vật đã có trật tự lạ lùng kia, cũng là nguồn gốc của loài người có sanh hoạt tự trị, tự chủ, đến đỗi không cần nhờ Đấng Cao cả làm Chủ não, trù hoạch và làm hoàn thành vũ trụ nầy làm chi.

b/ Chỗ sai lầm của duy vật luận. –Duy vật luận sai lầm vì những cớ kể sau đây:

(1) Chẳng cắt nghĩa về sự thực hữu của Đức Chúa Trời. – Thuyết duy vật chẳng cắt nghĩa về sự thực hữu của Đức Chúa Trời, duy chối hẳn Đức Chúa Trời đi mà thôi. Cái nguyên tri trong loài người hay chứng thực cho sự thực hữu Đức Chúa Trời thì thuyết nầy cho là do sự chuyển động của những chất điểm nhỏ xíu kia mà ra!

(2) Không cắt nghĩa căn nguyên muôn vật. –Thuyết nầy cũng không đủ cắt nghĩa cho căn nguyên của muôn vật. Nói rằng muôn vật sanh hóa ra bởi chất điểm và động lực tiềm tàng ở trong nó, thì lại nảy ra câu vấn nạn nầy: Chất điểm ấy là gì? Động lực tổ hiệp các chất điểm ấy lại để thành muôn vật của vũ trụ từ đâu mà ra? Nếu muôn vật bằng những chất điểm, thì các chất điểm ấy là muôn vật, và muôn vật là chất điểm đó. Mà luận như thế thì vô lý lắm,chẳng khác gì nói rằng con sanh cha và cha lại là con của con, không cắt nghĩa gì cả về nguồn gốc của muôn vật đâu. Ta nhận rằng các chất điểm chắc là nền tảng của vật chất, vật chất lại là nguyên liệu của muôn vật hữu hình, nhưng muôn vật tổ hiệp lại đó bất quá là hiện trạng sờ sờ về công việc của một Chủ não rất khôn ngoan đã trù hoạch mọi sự, rồi nhờ quyền năng tạo hóa mình mà khiến cho kế hoạch diệu kỳ ấy được thành công.

(3) Luận rất sai về trí ngộ. –Thuyết nầy chủ trương rằng trí ngộ với tư tưởng đều là những tư cách của vật chất.Những ý ấy là vô lý, vì trí ngộ tự xét mình là vượt quá vật chất, bằng nguyên liệu khác, và thuộc trong phạm vi cao hơn vật chất. Trí ngộ có những tư cách chẳng do vật chất mà ra, tức là tự tri, tự động, không bị không gian bó buộc. Ký ức làm chứng cho sự tự tri, vì trí ngộ có thể nhớ lại tôi bao giờ cũng là tôi mà thôi. Còn sự nhớ lại ấy không phải là nhờ các chất điểm của óc, vì chất điểm ấy hằng đổi ra khác, đến nỗi chất điểm nầy không thể nhớ lại chất điểm trước kia.

Sự không động đậy của vật chất và sự hoạt động của mọi sanh vật chứng rằng vật chất không tự động, duy động mỗi khi nào có năng lực gì ở ngoài nó đụng đến. Lại theo lời khoa học một chất điểm tự mình không thể nào cử động, phải có ít nữa là hai; còn hai chất điểm ấy cũng không tự động,bèn cần phải nhờ một chủ lực ở ngoài nó mà tổ hiệp lại, mới hoạt động được.Thành thử, chính sự tổ hiệp vật chất minh chứng rằng nếu không có một Chủ lực hành động trên nó, thì vật chất tự nó chẳng có thể trở nên vũ trụ bao giờ.

Vả lại, nếu tư tưởng là hiệu quả của óc vật chất, thì chẳng có thể vượt qua cao hơn giới hạn của vật chất. Nhưng nếu ta suy nghĩ cho kĩ, rất dễ thấy tư tưởng hẳn không bị hạn chế bởi vật chất đâu. Vì nó không bị hoặc không gian hay vật chất ngăn cản được, có thể tưởng tượng lui tới,lên xuống vượt qua các núi, trũng, sông, biển, nhảy từ đầu cùng trái đất đến tận chơn trời rất mau rất lẹ, chẳng gì bắt phục nó được. Ấy rõ ràng tư tưởng của trí ngộ trổi hơn vật chất mọi bề, ám chứng vũ trụ không thể do chất điểm mà ra đâu, bèn phải do một Đại trí ngộ, một Chủ não trù hoạch và làm hoàn thành mọi sự mới hữu lý.

(4) Không thể cắt nghĩa kế hoạch của vũ trụ. –Thuyết ấy không thể cắt nghĩa được kế hoạch lớn và diệu kỳ trong vũ trụ. Khảo cứu muôn vật thì thấy mọi sự có kế hoạch, có trật tự rất khéo léo phiền phức, không thể do vật chất vô tri vô giác mà ra. Lý tánh buộc ta phải nhận rằng có một Chủ não, một Đấng trọn khôn ngoan, trọn quyền năng rất lớn tính toan sắp đặt mọi việc,mới định được kế hoạch diệu kỳ dường ấy.

Nói như nhà duy vật luận rằng, trước có vật chất, sau mới có linh động, sự sống, tư tưởng v...v., thì rất vô lý; vì có lẽ nào muôn vật tự rập nhau lại vừa vẹn, mà gây nên một vũ trụ hoàn bị như thế nầy ư? Vậy, một lần nữa, ta tái quyết rằng: muôn vật với các kế hoạch trật tự đều chứng minh rằng phải có một Đấng Thần Linh đã trù liệu trước khi chưa có trời đất muôn vật, rồi sau dùng quyền năng vô hạn vô lượng mà tạo thành các vật ấy được nên hình trạng như hiện có vậy.

2. VẠN HỮU THẦN LUẬN

a/ Phát huy vạn hữu thần luận. –Thuyết duy vật luận chủ trương rằng trong vũ trụ không có Đấng Chơn tể, chỉ có vật chất mà thôi. Nhưng vạn hữu thần luận phản đối hẳn thuyết ấy, chủ trương rằng muôn vật đều là Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời là muôn vật. Những vật chung quanh và tư tưởng ở trong lòng đều là sự hiện diện của Đức Chúa Trời cả. Thuyết ấy lẫn lộn lắm, đã có từ thời cổ, vốn làm nền tảng của triết học Hy-lạp xưa kia, lại cũng là chủ nghĩa của nhiều bái vật giáo hiện nay nữa. Vậy, lấy làm quan hệ cho ta nên lược cứu qua để rõ đại ý của nó là thể nào. Thuyết này chủ trương rằng:

(1) Muôn vật bởi một nguyên chất tự nhiên mà có, thông ra muôn loài, có nhiều hình thức, cứ biến hóa vô cùng. Sự biến hóa vô số ấy có hai thứ, là linh chất và thể chất. Nguyên chất ấy là Đức Chúa Trời; mọi vật đều là một thể cùng bày ra Đức Chúa Trời. Các vật sống thuộc về linh chất,các vật chết thuộc về thể chất, cả thảy hiện tượng trong vũ trụ đều là hình thức của Đức Chúa Trời biến hóa ra cả. Khi các vật ấy hao mòn rồi mất biệt, ấy bất quá là sự quy nguyên, nó trở về cội nguồn của nó, cũng gọi là Đức Chúa Trời vậy.Vả, mọi vật ở vũ trụ chẳng có vật nào độc lập độc tôn cả. Ấy vậy, Đức Chúa Trời cũng chẳng có thể thành vị, vì như muôn vật Ngài chẳng có thể độc lập độc tôn được, nhưng Ngài còn bị chính vũ trụ hạn chế sự thực hữu của Ngài nữa.

Họ lại quyết rằng dầu Đức Chúa Trời không có vị cách mà vẫn có trí ngộ, hiện trạng trong vũ trụ, đạt đến sự tự tri trong tư tưởng của loài người, Đức Chúa Trời chỉ vận động trong sự xây vần của muôn vật,suy tưởng trong trí óc của loài người. Ngài chẳng thay đổi, duy các hiện trạng trong vũ trụ thay đổi đó thôi. Các hiện trạng ấy chẳng gì lượn sóng, còn nguyên chất tợ hồ nước biển. Hình trạng của lượn sóng dầu là thiên biến vạn hóa, mà nước biển vẫn còn y nguyên.

Luận về trong lòng người ta Đức Chúa Trời hiện ra trong sự tự tri. Khi thân thể chết rồi, thì ngoại thể nó thay đổi hẳn, nhưng tự tri ở trong lòng trở về nguồn gốc là Đức Chúa Trời. Thuyết nầy không công nhận Đức Chúa Trời dựng nên muôn vật, vì muôn vật tức là Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời tức là muôn vật, cũng như nói rằng thân thể không thể rạo ra cái tay được, vì tay vốn một phần tử của thân thể vậy.

(2) Thuyết nầy lại chủ trương rằng: “Có nguyên thần và có nguyên khí; nhưng nguyên thần chẳng tạo ra nguyên khí; bèn là nguyên khí đồng với nguyên thần từ trước vô cùng cho đến đời đời bất tận.Nguyên thần ở trong nguyên khí mới sanh hóa hược. Thần linh của loài người với phần linh của nguyên thần đều in nhau cả. Nhơn vì phần linh loài người do nguyên thần mà ra, khi người chết nó lại trở về nguyên thần. Ví như lấy nước đựng trong vò, bịt miệng lại, rồi thả xuống đáy biển; nước trong vò và nước biển phân rẽ nhau, kịp khi vò bể, thì nước trong vò cùng hiệp lại làm một với nước biển. Cũng một lẽ ấy, linh hồn loài người kiều cư trong thân thể ít mươi năm, rồi khi qua đời thì nó hiệp lại với nguyên thần mà trở về nguồn gốc vậy. Chúng ta có thể nói tóm tắt lại rằng giáo nầy có ba yếu điểm như sau đây:

(a) Muôn vật đều từ một gốc và cũng lại về một gốc. (b) Mọi việc đều chẳng qua là hiện trạng tạm thời; hình thể của muôn vật luôn với cả sự cực khổ, lo phiền, đau đớn của người đời, thảy như áng vân cẩu vẩn vơ giữa trời, không bao lâu lại tan đi không còn tăm dạng. (c) Đức Chúa Trời ở khắp muôn vật, vì chính muôn vật là Đức Chúa Trời, chẳng vật gì mà không có Ngài tham dự vào. Sự vô sở bất tại của Ngài lan đến nhai hạn của vũ trụ mới tận cùng vậy.

Ấn-độ giáo lấy thuyết vạn hữu thần làm tôn chỉ. Các thống hệ triết lý Hi-lạp dùng thuyết nầy làm nền tảng, nhứt là đảng Tân thuyết Platon (Neon Platonisme), dấy lên vào lối 205 S.C., do ông Plotenus thủ xướng. Phần nhiều bái vật giáo xưa nay đều lấy thuyết nầy làm kinh luận cho giáo lý của họ, nên nó đã thâm nhập lòng người ta nhiều lắm.

b/ Sự sai lầm của thuyết nầy. – Sự sai lầm của thuyết nầy như sau đây:

(1) Các quan niệm nó phản đối nhau. –Các quan niệm của thuyết nầy phản đối nhau cả. Vì nó xưng Đức Chúa Trời là vô hạn,lại cho thể yếu Ngài bằng các nguyên tố hữu hạn; quyết Ngài tự hữu, lại cho Ngài không thể thực hữu ở ngoài vụ trụ; dạy rằng Ngài cao cả, lại nhốt Ngài vào cõi tạo vật, đến đỗi phải nhờ loài người mới tự tri; chủ trương Ngài không tự định gì được, lại quyết rằng Ngài là căn nguyên của muôn vật. Một Thần như thế bất quá là Thần bất toàn, không thể nào sanh ra sự toàn vẹn vô cùng được. Thành thử,vạn hữu thần giáo kỳ thực chỉ chối Đức Chúa Trời đó thôi.

(2) Chối vị cách của Đức Chúa Trời. –Vạn hữu thần giáo chối hẳn vị cách của Đức Chúa Trời. Bởi vì hễ vị nào có vị cách thì tự tri, biết tôi là tôi, rõ vật gì ở ngoài mình không phải là tôi.Cũng vậy, Đức Chúa Trời là Đấng tự tri, nên phải có vật ở ngoài Ngài không phải là thuộc trong thể yếu Ngài, mới có thể gọi Ngài là Đấng tự tri Đấng Christ.Nhưng vạn hữu thần giáo dạy rằng muôn vật là Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời là muôn vật nên làm cho Đức Chúa Trời không thể nào tự tri, vì ở ngoài Ngài chẳng có gì nữa. Như thế theo thuyết nầy, Đức Chúa Trời chẳng có vị cách, bởi chỉ vị nào có vị cách mới là tự tri được.

(3) Quan ngại với luân lý. –Giáo nầy cũng có quan ngại với luân lý; bởi vì nếu loài người lẫn lộn với Đức Chúa Trời, thì tất nhiên mọi việc loài người làm tức là Đức Chúa Trời làm, hoặc sự lành sự dữ cũng vậy; đến nỗi ta không thể nào phân biệt thiện ác, phải trái,bởi cả hai đều cùng một gốc. Người hiền đức không cần khen, kẻ bất nhân cũng không đáng trách, vì hết thảy chẳng qua là sự đương nhiên. Nói như vậy, quả là lẫn lộn các quan niệm của luân lý, đến đỗi không còn nghĩa lý gì nữa; vì nếu thuyết nầy là đúng thì ăn ở xa xí là phận sự mình, sự tàn nhẫn là sự công chánh, tội lỗi là sự nhơn lành; hoặc Sa-tan hoặc thiên sứ Gáp-ri-ên cả hai đều là Đức Chúa Trời hiển hiện. Loài người không có ý chí tự do, chẳng có trách nhiệm đạo đức; sự cầu nguyện, cuộc thờ phượng đều ra vô vị cả, vì mình là Đức Chúa Trời,Đức Chúa Trời là mình. Hy vọng về sự sống đời đời và sự bất diệt cũng chỉ là ảo tưởng đó thôi.

(4) Phản đối lòng kính thờ Đức Chúa Trời. –Giáo nầy cũng phản đối lòng kính thờ Đức Chúa Trời. Vả, sự kính thờ Đức Chúa Trời ấy là sự giao thông của kẻ có vị cách với Đấng cũng có vị cách. Nhưng giáo nầy luận rằng Đức Chúa Trời chẳng có vị cách, nên kính thờ Ngài làm chi. Ấy vậy, hễ ai tin nhận chủ nghĩa vạn hữu thần, thì tôn vạn vật làm thần để thờ phượng. Vả,chính mình người cũng một phần tự thuộc trong phạm vi vạn vật; vậy, kẻ thờ lạy thần của giáo nầy chẳng qua là thờ lạy chính mình đó thôi. Mà sự ấy há chẳng phải là điên cuồng sao?

II. SỰ SUY TƯỞNG MỜ TỐI CỦA CÁC NHÀ TÔN GIÁO

Các tôn giáo bởi người ta lập ra đều có thiên tánh kính thờ Đức Chúa Trời, song thiên tánh ấy dầu là giống nhau mà lại rất khác nhau, bởi vì lòng nguyên tri tuy là nhận biết có Đức Chúa Trời mà vẫn chiếu theo hoàn cảnh, giáo dục, tập tục và phong hóa mà giải nghĩa và kính thờ Ngài vậy. Nay xin thuật lại những lý luận của các nhà tôn giáo về vấn đề Đức Chúa Trời.

1. HỖN NHIÊN NHỨT THẦN THUYẾT

Giáo Bà-la-môn (Brahmanisme) bên Ấn-độ, chủ trương rằng họ thờ Bà-la-môn, là thần tối cao, độc nhứt vô nhị. Nhưng xét cho kỹ thì dễ thấy thần ấy chẳng qua là thần trí lẫn lộn trong muôn vật. Giáo nầy cứ nói muôn vật đều có hiện tượng của thần khí ấy; có khi tụ lại mà nên người, rồi sau lại tan về nơi thần Bà-la-môn, là chỗ quy tục. Thần Bà-la-môn phân phú ở trong thân thể mọi người, cho nên loài người cũng được xưng là thần. Ấy vậy, từ một gốc tan ra muôn mối lại trở về một gốc. Giáo Bà-la-môn cũng tin nhận chủ nghĩa luân hồi, quyết rằng loài người vì có tội mà phải cứ luân hồi biến kiếp mãi, đến đỗi phải nhờ sự tu nhơn tích đức mình để hòa hiệp làm một với nguyên thần, mới không còn bị luân hồi đầu thai biến kiếp mãi mãi nữa.

Giáo Bà-la-môn cũng quyết rằng ở ngoài vị thần chí tôn ấy, lại có ba ức ba ngàn vạn thần nữa, là những thần từ Bà-la-môn lưu xuất. Vậy, xét cho kỹ thì thấy giáo Bà-la-môn chẳng qua là đa thần chủ nghĩa,chớ chẳng dạy về giáo lý độc thần đâu. Các thần Ấn-độ ấy chia ra từng hàng từng lớp, rồi trên hết cả có một thần chí tôn quản trị chúng đó vậy.

2. NHỊ NGUYÊN LUẬN

a/ Phát huy nhị nguyên luận. –Giáo nầy phát khởi từ nước Ba-tư. Xưa có người nước ấy đề xướng rằng: Muôn vật chẳng phải bởi một thần mà ra, bèn là bởi hai thần, gọi là Nhứt Thiện Nhứt Ác,hoặc Nhứt Âm, Nhứt Dương. Hai vị ấy đều có tâm chí quyền hoành, cùng sanh ra từ lúc vô cực, hằng phản nghịch nhau, đến đỗi giữa hai vị ấy có cuộc giao chiến không ngớt. Thiện thần không đủ quyền năng tuyệt diệt Ác thần mà Ác thần cũng chẳng biết sao trừ nỗi Thiện thần. Cũng dạy rằng những sự khổ nạn tà ác của loài người hết thảy đều là do Ác thần mà ra, và là sự phải có đời đời, người ta chẳng có phương pháp trừ bỏ được. Loài người tuy phải nhờ Thiện thần để cầu phước,mà cũng phải dua nịnh Ác thần để nhường tai.

b/ Sự sai lầm của giáo nầy. –Giáo nầy có một chút lẽ thật, là nhận ở trong vũ trụ có hai nguyên lý là thiện và ác chiến đấu với nhau mãi. Ngoài lẽ thật ấy thì mọi ý nghĩa khác đều sai lầm cả. Xin giải tỏ sau đây:

(1) Lẫn lộn ý niệm sự thiện với Đức Chúa Trời. –Giáo nầy lẫn lộn ý niệm thiện với Đức Chúa Trời. Sự thiện chẳng phải là Đức Chúa Trời, bèn là một sự thuộc tánh của Ngài; cũng như ta thường gọi người nầy kẻ kia là hiền lành, thì vẫn chẳng phải nói sự hiền lành ấy là bản ngã của người đó đâu, tuy nói về tâm tánh người ấy là hiền lành đó thôi.

(2) Lầm gọi sự ác có vị cách. –Sự ác cũng không phải là thần có vị cách đâu, bèn là sự thuộc tánh của vị Sa-tan kia đương phản loạn với Đức Chúa Trời đó thôi. Sự gian ác chẳng phải có từ trước vô cùng, lại cũng chẳng phải còn đến vĩnh viễn đâu. Sự ác bắt đầu có ở nơi Sa-tan lúc nó dấy nghịch cùng Đức Chúa Trời. Về sau Đức Chúa Trời sẽ diệt trừ sự ác khỏi vũ trụ nầy khi Ngài bắt Sa-tan bỏ vào hầm lửa đời đời (Es 14:12-17; Kh 20:10). Cho nên ý kiến của giáo nầy về Đức Chúa Trời bất quá là những lời ức đạt viễn vông, lẫn lộn vị cách (personnalité) với sự thuộc tánh (attribut) vậy.

3. ĐA THẦN GIÁO

Truy nguyên về lẽ thờ thần của loài người,thì thấy rõ lẽ ấy bắt đầu từ nhứt thần, rồi trải lâu đời về sau đạo độc thần lần lần mất đi. Dầu vậy, tấm lòng kính thờ Đức Chúa Trời vẫn còn chưa dứt. Bây giờ,các dân tộc thế gian đều đua nhau sáng lập đa thần giáo. Ấy cũng là lý thế tất nhiên, vì lòng kính thờ của họ dầu đã mất lẽ thờ nhứt thần, thì vẫn còn và buộc họ phải tự tạo ra những vị thần để thờ phượng. Các thần ấy vô số, có nhiều danh hiệu khác nhau. Người thì kính trời đất làm thần, kẻ thì tôn mặt trời mặt trăng làm thần, kẻ khác lại đề xướng rằng sông, biển, núi, rừng đều có thần làm chúa.Cũng gọi những người qua đời là thần mà thờ lạy nữa, thậm chí hạ mình xuống cực điểm mà thờ thần trâu, thần bò, thần ngựa, thần ếch, thần lằng, thần rắn, nhân ngư, bạch ho; cũng thờ tà ma quỷ mị theo ý họ tưởng tượng ra nữa.

Các thần ấy đều là hữu danh vô vị, hữu thể vô linh. Các lẽ dạy về họ đều là ức đạt, dị đoan, không giá trị gì cả. Dầu vậy,xưa nay vô số người vẫn mê tín sùng bái các thần vô hiệu ấy. Tại cớ sao vậy? Vì loài người dầu đã mất cái tôn chỉ thờ lạy Đức Chúa Trời, thì thiên tánh thờ lạy hãy còn, buộc họ phải thờ phượng. Tuy họ không còn biết thờ Đấng Chơn tể của trời đất, mà không thờ phượng ai hết cũng chẳng đành lòng; nên phải thờ phượng vô luận là thần nào, miễn là làm thỏa mãn ước vọng của linh tánh mình thì được.

Đa thần giáo rất vô lý, rất dị đoan chẳng chút gì giúp cho loài người biết được Đức Chúa Trời, lại khiến cho họ rất tôi tăm, càng ngày càng xa Ngài đến đỗi Kinh Thánh dạy rằng, - xem Ro 1:21-23.

4. THÁI CỰC THUYẾT

a/ Phát huy thái cực thuyết. –Đạo Nho dạy rằng lúc đầu ở trong vũ trụ chỉ có cái lý vô cực, cũng được gọi là thái cực. Thái cực ấy tuy linh diệu và cường kiện, thì vốn rất huyền bí, không thể hiểu thấu được cái chơn chánh và chơn tướng của lý ấy. Thái cực lúc động có lúc tịnh. Khi động thì sanh dương, khi tịnh thì sanh âm. Âm dương bèn hiệp lại biến hóa sanh ra trời đất và vạn vật; còn vạn vật cứ sanh sanh hóa hóa vô cùng vô tận. Song vạn vật tuy nhiều và cứ sanh hóa chừng nào đi nữa, cũng chỉ do một căn nguyên là âm và dương. Còn âm và dương lại từ thái cực mà ra, là cái bản nguyên của cả thảy.

Về sự tể trị muôn vật, thì đạo Nho lại chủ trương rằng Trời làm Chủ tể cả vũ trụ, nhờ ý chỉ rất mạnh gọi là thiên mạng, để khiến cho muôn vật cứ sanh hóa, tồn tại và hành động mãi. Những công việc người ta làm ở đời, bất cứ là tốt hay xấu, cũng đều do mạng Trời định vậy.

b/ Sự sai lầm của Nho giáo. –Tra xét đạo Nho thì thấy về một mặt giống như thiên diễn tấn hóa thuyết, bởi chủ trương rằng thái cực tức là vô cực là căn nguyên của muôn vật cũng như thuyết kia cho muôn vật do một tế bào nhỏ xíu, vốn ở trong khoảng hư vô mà ra. Mà nếu thử hỏi đạo Nho rằng thần họ thờ đó là ai, thì họ đáp rằng cao diệu quá, không thể nào biết được. Cho nên họ bỏ qua sự tìm kiếm nhận biết Ngài, mà xây qua thờ vạn vật thọ tạo kia, lý tưởng họ lầm lạc, khiến cho linh tánh đạo đức trở nên điên dồ. Lại đề xướng rằng mọi việc bất cứ ác hay thiện, đều do thiên mạng mà ra, ấy chỉn chẳng qua là thuyết vận mạng, cướp ý dục tự do của loài người, coi họ như máy móc, chẳng được tự chủ mà làm việc gì cả. Lại còn nói việc ác họ làm là do Đức Chúa Trời mà ra cả, ấy lại cho Đức Chúa Trời là căn nguyên của tội ác nữa. Ôi! Suy luận dường ấy há chẳng là gớm ghê không xiết kể đấy ru?

III. CÁC NGOẠI CHỨNG VỀ ĐỨC CHÚA TRỜI ĐỘC NHẤT

Khoảng trên, ta đã suy luận về ý tưởng mờ tối của các nhà triết học, lời ức đạt lẩn thẩn của các nhà tôn giáo ngoại về Đức Chúa Trời, thấy ý kiến của họ không những là không hiệp với lẽ thật của Kinh Thánh, mà lại phản đối với khoa học vật lý nữa, vì muôn vật trong vũ trụ quả tỏ ra phải có một Đấng Chơn tể độc nhứt. Xem những bằng cớ sau đây sẽ rõ.

(1) Sự hiệp hòa của vũ trụ làm chứng. –Ngửa xem vũ trụ thinh thang, liếc nhìn muôn vật trùng điệp, đều hòa hiệp dăng dính với nhau cả. Như mặt trời mặt trăng, các vì tinh tú sáng tỏa khắp bầu trời,đều noi theo quỹ đạo vần xây có chừng mực. Nếu không bởi Đấng Chơn tể sắp đặt bảo toàn, thì trời đất bao la kia chỉ cho khỏi bị hư hỏng. Kìa, mặt trời ở chính giữa,các hành tinh xây vần chung quanh, mau chậm xa gần đều vừa lệ định của thể chất nó lớn hay nhỏ, nặng hay nhẹ; cho nên đời đời nó khỏi bị thiên bên nầy hoặc lệch bên kia. Sự hòa hiệp rập ràng vững vàng dường ấy chứng thực rằng chắc phải có một thần độc nhứt làm Đấng căn nguyên và bảo tồn sự hòa hiệp ấy, cầm quyền tể trị muôn vật cho khỏi bị hư hỏng đó mới hữu lý.

(2) Công lý muôn vật làm chứng. –Kìa, loài người dầu có trắng đen vàng đỏ khác nhau, nhưng thất tình lục dục vẫn giống nhau. Loài vật dầu có lớn nhỏ sang hèn khác nhau, nhưng về sanh trưởng dưỡng dục thảy đều giống nhau. Xem trên mặt đất có bốn mùa luân chuyển, tám tiết đổi thay, mưa gió theo thì âm dương phải độ, nước lên ròng có cản, hoa nở rụng có lứa,muôn muôn sự vật há chẳng phải nhứt lý quán thông theo công lệ đã định sao? Nếu gọi trời đất lớn bực ấy, muôn vật nhiều ngần kia, mà không có một Đức Chúa Trời độc nhứt cai trị theo công lệ Ngài đã định, thì không thể cắt nghĩa công lý của muôn vật được. Giả như một nước kia đất đai dầu rộng, dân sự dầu đông, công việc dầu nhiều, thì cũng có một luật pháp thống nhứt để thông hành toàn quốc, do một chánh phủ thống trị mà thôi. Cũng vậy, công lệ muôn vật minh chứng có một Đấng cầm quyền thống trị ban bố và bảo tồn công lệ và muôn vật ấy, mới hữu lý vậy.

(3) Quyền năng của Đức Chúa Trời làm chứng. –Xem xét mọi vật thọ tạo, thì biết rõ có Đấng Tạo hóa thần thông quảng đại, vô sở bất năng, vô sở bất lý. Nên nếu ai gọi trong bầu trời đất còn có thần khác nữa thì Đức Chúa Trời tạo vạn vật chẳng phải là vô sở bất năng, bởi có vị khác chia quyền năng với Ngài; cũng chẳng phải là vô sở bất lý, vì ngoài Ngài còn có thần khác chia quyền chủ tể với Ngài. Nếu ở ngoài Đức Chúa Trời còn có thần khác,thì Ngài chẳng phải bao hàm mọi quyền bính, nhưng ai có quyền nấy, thì cái họa linh xuất đa môn, khiến cho cả bầu trời đất không còn nhứt luật, không có luân thứ, nhưng vô cùng hỗn độn vậy.

(4) Sự vô lượng của Đức Chúa Trời làm chứng. – Nếu nhà thiên văn dùng vọng viễn kính mà dòm xem trong khoảng không thì có thể thấy vô số vì sáng phát ra tại đó rất tinh xảo rực rỡ. Nhưng dầu họ thấy xa bao nhiêu, cũng chưa thấy được toàn thể vũ trụ đâu, duy thấy một phần rất nhỏ đó thôi; bởi vì bộ phận lớn của vũ trụ thì ở ngoài thế giới của loài người. Các nhà thiên văn biết rằng ở ngoài thị giới mình cũng có những vũ trụ vô cùng muôn lần lớn hơn vũ trụ ta ở nữa. Dầu họ rán hết sức bình sanh để nghiên cứu đi nữa,thì nào có ai hiểu thấy được đâu. Hoặc ở trong vũ trụ ta đây cũng có nhiều thế giới cực kỳlớn lao. Có vì sao rất lớn rất xa cách địa cầu nầy, đến nỗi đã phát ánh sáng ra từ buổi sáng thế, mà mãi đến bây giờ cũng chưa soi tới ta đây. Vả,ánh sáng đi rất mau, mỗi giây đồng hồ đi được ước chừng 300.000 ki-lô-mét. Dường ấy, vì sao ấy xa trái đất nầy biết là dường nào! Mà kìa, vũ trụ lại có vô số vì sao như thế nữa. Vậy, vũ trụ đối với lượng trí hiểu ta thật như vô hạn vô lượng,nhơn đó cũng phải đoán rằng Đức Chúa Trời là Đấng Tạo hóa, cũng vô hạn vô lượng vậy. Mà nếu lại gọi còn có vị thần khác ở ngoài Đức Chúa Trời cũng vô hạn vô lượng đương địch thể với Ngài quả là vô lý vậy.

(5) Đạo xưa làm chứng. –Các nhà tôn giáo truy nguyên sự bắt đầu kính thờ Đức Chúa Trời, thì đều công nhận rằng loài người từ buổi đầu tiên khỉ sự chỉ thờ Thần độc nhứt rồi về sau lần lần thoái hóa mà thờ đa thần, rồi lại từ đa thần mà trở lại thờ Thần độc nhứt như cũ. Ấy chẳng những riêng dân Do Thái như vậy, mà các nước thế gian cũng đều như thế. Kìa, các sách kinh truyện của nước Tàu xưa thường xưng Đức Chúa Trời là Thượng đế, tả Ngài là một Đấng tối cao cực diệu, có tâm chí ám hiệp với Giê-hô-va của đạo Do Thái đời xưa. Thực sự ấy minh chứng rằng ông bà về đời thượng cổ còn chưa mất tôn chỉ của thần đạo chánh đáng, tức là đạo về Đức Chúa Trời độc nhứt vô nhị vậy.

Chương 4: LUẬN VỀ ĐỨC CHÚA TRỜI THÀNH VỊ

Đức Chúa Trời chẳng như giáo Bà-la-môn kia mê tín mà bị hỗn độn với muôn vật như không khí làm đầy dẫy không trung cũng chẳng như duy vật luận chủ trương Đức Chúa Trời là muôn vật, muôn vật là Đức Chúa Trời.Nhưng Đức Chúa Trời của vũ trụ có vị cách, đứng độc lập toàn vẹn ở ngoài muôn vật,chẳng bị lẫn lộn với vị nào hoặc vật nào khác.

I. ĐỊNH NGHĨA DANH TỪ VỊ CÁCH

Vả, danh từ vị cách có nghĩa gì? Đáp: Vị nào có sự tự tri, tự giác, tự chủ gọi là vị có vị cách (personnalité). Nói cách khác, vị nào tự biết mình là thực hữu, có quan năng quyết định để lựa chọn làm việc nầy, chối việc kia, gọi là vị có vị cách vậy. Kỳ thực, điều phân biệt loài người với loài thú là điều nầy: loài người có bản quan tự tri, tự biết mình thực hữu; cũng có bản năng tự chủ, để quyết định theo tâm trí và ý dục dạy biểu. Còn thú vật thì khác hẳn, chẳng tự cảm biết nó thực tại, cũng không có tài quyết định làm việc nầy bỏ việc kia; vì nó cứ tự động theo công lệ của trực giác, chẳng thay đổi chẳng tẻ khỏi đường lối ấy chút nào.

Nói đại khái, vị cách có ba nguyên tố, tức là trí ngộ, cảm giác và ý dục. Nhờ trí ngộ mà vị có tài tư tưởng; nhờ cảm giác mà vị có tài cảm xúc; nhờ ý dục mà vị có tài muốn hay không muốn làm việc nầy việc kia. Ngoài ba nguyên tố ấy ra lại còn có hai bản năng rất quan hệ cho vị cách, ấy là lương tâm và tự nhiệm. Vị nào có những bản năng ấy gọi là vị có vị cách vậy.

II. VỊ CÁCH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Cái vấn đề quan hệ cho sự kê cứu nầy là: Đức Chúa Trời há có vị cách chăng? Đáp: Nếu chúng ta có thể minh chứng rằng Đức Chúa Trời đã có lợi dụng trí ngộ, cảm giác, và ý dục để thi hành việc gì, thì cũng có thể đoán dịnh Đức Chúa Trời có vị cách vậy. Sau đây xin kể ra ba bằng cớ chứng rằng Đức Chúa Trời quả có dùng cả ba bản năng ấy trong hành vi cử chỉ của Ngài.

(1) Muôn vật làm chứng. –Xét thử muôn vật thì thấy cuộc tạo hóa thực diệu kỳ vô song, sự sắp đặt theo luân thứ quả là lạ lùng vô cùng. Muôn vật ấy buộc phải gốc bởi một Đấng Tạo hóa có trí ngộ khôn ngoan tuyệt đối, mới làm nên muôn vật ấy được. Mà có trí ngộ khôn ngoan ấy không đủ, cũng cần phải có ý dục để quyết định thi hành công việc lạ lùng ấy mới hữu lý. Ấy vậy, cuộc tạo hóa muôn vật minh chứng rằng Đức Chúa Trời có vị cách vậy.

(2) Loài người làm chứng. –Chúng ta đã thấy loài người vốn thuộc về hạng sanh vật có vị cách, vì họ đều có bản năng trí ngộ, cảm giác, và ý dục; cũng có lương tâm và tự nhiệm nữa. Chính người lớn tiếng chứng rằng Đấng Tạo hóa của họ chắc là một Đấng có trí ngộ, cảm giác, và ý dục cũng như họ đã có, mới dựng nên họ được. Lại cái bản năng ấy trong Đức Chúa Trời chắc trổi hơn loài người vô cùng, bởi vì theo công lệ bất di bất dịch thì căn nguyên bao giờ cũng trổi hơn công hiệu vậy.

(3) Kinh Thánh làm chứng. –Kinh Thánh cũng dạy rõ ràng rằng Đức Chúa Trời có trí ngộ, cảm giác, và ý dục.Sau đây xin viện dẫn mấy câu để chứng thực cho lẽ ấy.

a. Về trí ngộ. – Những câu nầy chứng rằng Đức Chúa Trời có trí ngộ khôn ngoan để tư tưởng, suy hiểu và xem xét:

Ch 15:3; Gie 29:11; Cong 15:18; Ro 11:33

b. Về cảm giác. – Những câu nầy chứng rằng Đức Chúa Trời có cảm giác để yêu mến, thương xót, và buồn giận:

Thi 33:5; Thi 103:8; Gi 3:16; He 12:29

c. Về ý dục. – Những câu sau nầy cũng chứng rằng Đức Chúa Trời có bản năng ý dục để toan liệu, quyết định làm việc:

Thi 115:3; Es 46:10,11; Da 4:35; Mat 19:26

TỔNG LUẬN

Nhờ các lý chứng kể ra trên đây, ta có thể đoán rằng Đức Chúa Trời có chẳng phải một sự hư ảo, một ảnh hưởng, hoặc một quyền năng vô tri vô giác đâu, bèn là Ngài có vị cách tức là Ngài có trí ngộ, cảm giác và ý dục hiệp lại thành vị, có sự tự tri tự giác, và tự nhiệm, đến đỗi có tài hiểu biết mọi sự, cảm xúc mọi sự, thi hành mọi sự vậy.

Chương 5: LUẬN VỀ CÁC SỰ THUỘC TÁNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Vả, Đức Chúa Trời đã có vị cách, thì tự nhiên cũng có bản tánh và những phẩm cách tương xứng với bản tánh ấy. Nhưng mà người đời vốn hèn nhỏ, làm sao biết được Đức Chúa Trời vô lượng vô biên? Tâm trí của họ hữu hạn, làm thể nào hiểu được phẩm cách của Đấng toàn vẹn vô cùng?Thực, bản tánh Đức Chúa Trời rất mầu nhiệm, rất diệu kỳ, đến đỗi lý tánh người không thấu nỗi, lời phàm không tả được. Dầu vậy, Đức Chúa Trời không muốn ta cứ ở trong sự dốt nát, bèn là muốn ta hiểu biết các phẩm cách và đức tánh của Ngài, hầu cho ta nhờ đó mà được cứu rỗi. Bởi vì, - xem Gi 17:3.

Vả, nói đại khái, chúng ta nhờ ba điều mình biết các thuộc tánh của Đức Chúa Trời, là: (1) Nhơn tánh, vì loài người được dựng nên theo hình tượng Đức Chúa Trời, nên chắc ảnh tượng ấy cũng được chiếu ra cách mờ mờ; (2) Muôn vật, vì nó cũng bày tỏ bản tánh của Đức Chúa Trời, tiêu biểu các sự thuộc tánh oai nghiêm, vinh hiển của Ngài; (3) Kinh Thánh, vì bộ ấy khải thị bản tánh Đức Chúa Trời rõ hơn hết, không có chỗ nào sai lầm. Vậy, chẳng chi hay hơn là lấy Kinh Thánh làm chứng cớ của sự khảo cứu ta đây.

Chương thứ năm nầy luận về tám sự thuộc tánh của Đức Chúa Trời, tức là: (1) Đức Chúa Trời là Đấng thuộc linh; (2) Đức Chúa Trời tự hữu hằng hữu; (3) Đức Chúa Trời vô hạn vô lượng; (4) Đức Chúa Trời vô sở bất năng; (5) Đức Chúa Trời vô sở bất tại; (6) Đức Chúa Trời vô sở bất tri; (7) Đức Chúa Trời vô thời biến cải; (8) Đức Chúa Trời thuần nhứt vô phân.Xin nhờ Thánh Linh soi sáng để lần lượt kê cứu qua các sự thuộc tánh ấy.

I. ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ ĐẤNG THUỘC LINH

1. ĐỊNH NGHĨA

Nói rằng Đức Chúa Trời là Đấng thuộc linh thì có nghĩa gì? Xin đáp:

a/ Đức Chúa Trời là Thần Linh.

(1) Không có Hình thể vật chất.– Xưng Đức Chúa Trời là Thần Linh, ấy có nghĩa là gọi Ngài không có xác thịt,không bằng vật chất, bèn là một Đấng thuộc linh, vô hình vô tượng, mắt không thể thấy được, tay không thể rờ được, lời phàm không thể tả ra được. Kinh Thánh cũng minh chứng cho lẽ thật ấy mà rằng: Xem Gi 4:24; Lu 24:39; Co 1:15;ITi-mô-tHe 1:17.

(2) chẳng bị vật chất hạn chế.– Xưng Đức Chúa Trời là Thần Linh, tức là gọi Ngài không bị vật chất hạn chế.Loài người tuy có linh tánh, cũng không được tự do ngoài sự bó buộc của phạm vi vật chất. Sự động tịnh, hành chỉ của họ đều mãi bị nhốt trong sự hạn chế của vật chất. Nhưng Đức Chúa Trời chẳng phải vậy đâu. Ngài thực tại ở ngoài phạm vi vật chất, vượt cao hơn muôn vật, có trước muôn vật, dựng nên muôn vật, bắt phục muôn vật khiến làm con đòi Ngài để bày tỏ sự vinh hiển của Ngài. Nếu sự thực hữu Đức Chúa Trời can thiệp đến vật chất, thì Ngài không thể thực hữu trước lúc chưa có vật chất. Nhưng Kinh Thánh dạy rằng Đức Chúa Trời đã thực hữu trước khi chưa có vật chất nào cả. Thành thử sự thực hữu Ngài ở về cõi thuộc linh, không nương tựa vào vật chất, cũng không bị vật chất hạn chế. Sa 1:1; Gi 1:1; Eph 3:9; Kh 1:8.

b/ Đức Chúa Trời là Đấng sống.– Đức Chúa Trời chẳng phải là lý trí không hay không biết, bèn là Thần Linh hằng sống, tự tri tự chủ. Sự sống ấy vốn ở trong Ngài, không do căn nguyên nào ở ngoài chính Đức Chúa Trời mà đến, từ trước vô cùng vẫn có, và đến đời đời cũng còn có mãi. Sự sống nầy chẳng cần nhờ đồ ăn uống, hơi thở, ánh sáng mặt trời,hoặc vật gì khác bề ngoài mà tồn tại, bèn là tự hữu hằng hữu, và là cội rễ của mọi loài sống khác, hoặc thuộc về cõi siêu nhiên hay là cõi thiên nhiên cũng vậy.Gie 10:10; ITe 1:9; Gi 5:26; He 7:16.

2. LỜI KINH THÁNH TỪNG TẢ VẼ ĐỨC CHÚA TRỜI CÓ HÌNH THỂ NHƯ NGƯỜI TA

a/ Lời tả vẽ Đức Chúa Trời có tứ chi ngũ giác. – Có kẻ luận rằng, Đức Chúa Trời đã là Thần Linh, sao mà Kinh Thánh thường tả ra Đức Chúa Trời có tứ chi ngũ giác, như là mắt để ngó, tai để nghe, mũi để ngửi, tay và chơn để sờ mó? Giả như trong Thi 34:15 chép: “Mắt Giê-hô-va đoái xem người công nghĩa,lỗ tai Ngài nghe tiếng kêu cầu của họ”. Trong Phu 33:37 nói về “cánh tay đời đời của Ngài.” Lu 1:51 chép “Ngài đã lấy cánh tay mình thi hành quyền năng”. Trong tiên tri Es 66:1 Đức Chúa Trời phán “Trời là ngai ta, đất là bệ chơn ta”. Còn Đa-vít hay “nương náu mình dưới bóng cánh của Chúa”(Thi 57:1). Nếu Đức Chúa Trời không có hình thể vật chất, thì các câu ấy và nhiều câu khác giống như thế, có nghĩa gì?

Đáp: Những câu ấy chẳng có ý dạy rằng Đức Chúa Trời có hình thể vật chất đâu, duy là những ngụ ngôn Đức Chúa Trời dùng để dạy cho người trần giới những quan niệm về linh giới. Khi Đức Chúa Trời dạy loài người về việc vận động của Ngài, thì cần phải dùng lời nói thích hiệp trình độ của họ, mới mong họ hiểu được.

b/ Lời tả Đức Chúa Trời hiện ra như một người. – Kinh Thánh cũng thuật lại nhiều phen Đức Chúa Trời hiện ra với các thánh đồ đời xưa, đồng đi, đồng ăn uống,đàm đạo với họ (Sa 16:7, Sa 16:10, Sa 16:13; Sa 32:12; Sa 18:1-16; Xu 13:21; Xu 14:19). Chánh nghĩa của những truyện tích ấy là thể nào? Kê cứu cả Cựu Ước cho kỹ, thì thấy Đức Chúa Trời từng hồi từng lúc mượn hình dung của loài người mà hiện đến với họ. Các sự hiển hiện ấy thần đạo gọi là Hiển Thần (Théophonie).Môi-se và các quan trưởng của dân Y-sơ-ra-ên khi ở trên núi Si-nai cũng đều chỉ được thấy Đức Chúa Trời hiển hiện bằng hình thể vật chất, là sự hiển hiện họ có thể xem được và hiểu nỗi (Xu 24:9,10); họ chẳng hề được thấy thần thể yếu (essence divine) đâu. Vì Giăng chứng rằng: “Chẳng hề ai thấy Đức Chúa Trời bao giờ; duy Con độc sanh ở trong lòng Cha, là Đấng đã giãi bày Cha.” (Gi 1:18).Đương khi tín đồ còn ở trong xác thịt, thì chẳng thấy thần thể yếu của Đức Chúa Trời được; duy đến khi qua đời, hưởng được linh thể mới mong được thấy rõ mọi sự thuộc linh giới vậy.

3. ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ HÌNH TƯỢNG

Lẽ đạo về Đức Chúa Trời là Thần Linh,nghiêm huấn một điều rất quan hệ về vấn đề hình tượng. Ấy là, sự chế tạo những hình tượng để bày tỏ ra Đức Chúa Trời rất vô lý và nguy hiểm: vô lý, vì nếu chẳng hề ai thấy được Đức Chúa Trời, thì chế tạo hình tượng Ngài làm sao cho đúng được?Lại rất nguy hiểm, vì sự bày tỏ ra Đức Chúa Trời bằng hình tượng vật chất khiến cho Ngài trở nên rất hèn mạt, giống như các thần tượng của dân ngoại bang; cũng làm cho quan niệm Đức Chúa Trời trong tâm trí người thờ phượng ra đê tiện,không chút gì xứng hiệp với bản thể yếu oai nghi vinh hiển tối thượng của Ngài đó.

Vả lại, điều răn thứ hai nghiêm cấm tạo ra những hình tượng để thờ lạy (Xu 20:4,5). Cảm tạ Đức Chúa Trời! Tuy chúng ta không thể tạo ra tượng Đức Chúa Trời bằng vật chất, thì có thể được ghi tạc hình ảnh Ngài ở trong lòng ta bởi quyền năng của Thánh Linh, và hễ ai nhận Christ làm Chúa độc nhứt sẽ được nhờ Thánh Linh khiến cho tâm trí trở nên giống như Ngài (Ro 8:29); Con Ngài “là sự chói lói của vinh hiển Đức Chúa Trời, chân tượng của thể yếu Ngài” (He 1:3). Xu 20:2-4; Es 44:9-11, Es 44:17, Es 44:18; Ro 1:22, Ro 1:23; Ro 8:29.

II. ĐỨC CHÚA TRỜI TỰ HỮU HẰNG HỮU

1. Tự hữu.– Đức Chúa Trời vốn Đấng tự nhiên mà có. Sự tự hữu Ngài từ trong chính mình Ngài mà có, chẳng hề can thiệp đến ngoại vật nào cả. Xét về mọi vị thực hữu,thì thấy cần phải từ căn nguyên bề trong hay bề ngoài mà ra. Loài người từ căn nguyên ở ngoài mình mà có. Còn Đức Chúa Trời thì có từ trong chính mình Ngài.Nhưng chẳng có lúc nào gọi là lúc Ngài phải bắt đầu có từ trong căn nguyên ấy.Vì Ngài vốn vĩnh viễn tự hữu vậy. Danh Đức Giê-hô-va ám chứng về lẽ thật nầy (Xu 6:3), và chính Đức Chúa Trời tự chứng rằng: “Ta là Đấng tự hữu” (Xu 3:14).

2. Hằng hữu.– Đức Chúa Trời cũng hằng hữu, thể yếu của bản tánh Ngài vô thỉ vô chung, nên sự thực hữu Ngài chẳng bị thời gian hạn chế. Tâm trí ta không thể hiểu nỗi quan niệm đời đời, vì bị thời gian bó buộc. Tuy cõi đời đời không có kỳ quá khứ, hiện tại,hay tương lai, thì chúng ta cũng chỉ có thể suy tưởng quan niệm ấy ra theo ý ba kỳ ấy. Cho nên ta tính lui cho đến trước vô cùng, lại tính tới cho đến mãi về sau, thì số tổng cộng ấy ta gọi là đời đời vậy. Cũng một thể ấy, khi ta suy tưởng về Đức Chúa Trời là Đấng hằng hữu, thì cũng tính như vậy, kể Ngài thực hữu từ trước vô cùng, lại sẽ hằng còn đến đời đời, tức vô thỉ vô chung vậy. Nhưng nói cho đúng, thì sự hằng hữu của Đức Chúa Trời ở ngoài thời gian, chẳng có trước sau, mới cũ, bèn là thuộc về một cõi gọi là hiện tại luôn luôn. Có một cậu học trò câm điếc tả ra sự hằng hữu của Đức Chúa Trời như vầy: “Sự hằng hữu của Đức Chúa Trời là thời lâu không ban dầu không cuối cùng; là sự thực hữu vô hạn vô biên; là sự hiện tại không trước không sau; là sự thanh xuân không buổi thơ ấu,không lúc già nua; là sự sống không có kỳ sanh không có ngày chết; là ngày nay không có hôm qua, cũng không có ngày mai.” Kinh Thánh chứng thực cho sự hằng hữu của Đức Chúa Trời mà rằng: Xem Thi 90:2; Phu 32:39, Phu 32:40; Es 41:4; Thi 102:24-27; ITi 1:17; IIPhi 3:8; Kh 1:8

Xét những câu ấy và nhiều câu khác, thì biết Kinh Thánh dạy rằng Đức Chúa Trời hằng hữu. Vả lại, nếu Đức Chúa Trời thực hữu không do ai sanh Ngài ra, cũng chẳng có ai diệt Ngài được, thì rõ Ngài tự hữu hằng hữu. Trước vô cùng nguyên lai Ngài thể nào, nay Ngài vẫn thể ấy. Trời đất có khi cùng, muôn vật có lúc hết, nhưng Đức Chúa Trời hằng y nguyên, chẳng biến cải, chẳng tăng thọ, chẳng suy nhược, bèn hằng sống từ đời đời cho đến đời đời vô cùng vô tận vậy.

III. ĐỨC CHÚA TRỜI VÔ HẠN VÔ LƯỢNG

Đối với thời gian Đức Chúa Trời gọi là hằng hữu; đối với không gian Đức Chúa Trời gọi là vô hạn vô lượng. Đức Chúa Trời chẳng phải phục công lệ của không gian; vì sự thực hữu Ngài vẫn ở ngoài không gian. Chính Ngài hạn chế không gian nhưng không gian chẳng hạn chế Ngài được.Khoảng không gian, do Đức Chúa Trời mà có, để làm con đòi thi hành công việc Ngài. Nhưng không gian chẳng giúp đỡ, chẳng ngăn trở sự thực hữu của Ngài, cũng chẳng bao hàm Ngài; song Đức Chúa Trời bao hàm không gian luôn cả muôn vật hữu hình và vô hình, vì Ngài là Đấng vô hạn vô lượng vậy. Kinh Thánh chứng rằng:Xem IVua 8:27; Ro 8:38,39

IV. ĐỨC CHÚA TRỜI VÔ SỞ BẤT NĂNG

1. ĐỊNH NGHĨA

Bốn chữ vô sở bất năng, nghĩa đen là chẳng có việc gì không làm được. Cho nên xưng Đức Chúa Trời là vô sở bất năng, tức là dạy rằng quyền năng của Đức Chúa Trời đầy đủ, không chừng mực, việc gì Ngài cũng làm được, chẳng cần ai giúp đỡ, cũng không ai có thể ngăn trở, hễ Ngài muốn làm gì thì làm dễ như trở tay, vì Ngài là Đấng toàn quyền toàn năng có một không hai vậy.

2. CHỨNG CỚ

Có nhiều bằng cớ chứng thực cho sự vô sở bất năng của Đức Chúa Trời. Xin kể lại hai loại:

a/ Muôn vật thọ tạo làm chứng.– Kìa, vũ trụ rộng lớn, muôn vật gấm thêu đều là do ý chỉ khôn khéo và quyền năng vô hạn của Đức Chúa Trời mà ra. Địa cầu nầy to lớn dường nào, dương hải minh mông biết bao! Dầu vậy , sánh với mặt trời thì nó vẫn còn nhỏ quá; bởi vì quang cầu ấy lớn hơn quả đất gấp 1.300.000 lần và cách xa nó chừng 144.000.000 cây số. Ta coi thái dương thống hệ đã là lớn lao rồi, nhưng các nhà thiên văn còn dạy rằng ở trong không gian của vũ trụ còn có vô số thế giới khác, lớn hơn thái dương thế giới muôn phần. Có những tinh tú rất xa quả đất, đến đỗi ánh sáng từ nó chiếu ra, tuy chạy mỗi giây (second) 300 ngàn cây số, thì cũng phải chạy 8 triệu năm mới tới đây cho ta thấy được! Lại đường xích đạo của các vì sáng ấy rộng lớn quá, đến đỗi nó chạy mấy triệu năm mới giáp vòng được. Còn xét về sự bài bố phối hiệp của muôn vật ấy, khiến cho ta kinh ngạc khôn xiết, vì quyền tạo hóa của Đức Chúa Trời hẳn thật lớn lao vô cùng! Ngài quả là vô sở bất năng!

b/ Kinh Thánh làm chứng.– Kê cứu Kinh Thánh, thì thấy lắm đoạn sách đều minh chứng cho sự vô sở bất năng của Đức Chúa Trời sau đây:

(1) Ngài là Đức Chúa Trời toàn năng: Sa 17:1

(2) Ngài thi hành việc cả thể trong cõi thiên nhiên: Sa 1:1-3; Es 44:24;

He 1:3.

(3) Ngài thi hành dấu lạ trong cõi thuộc linh: IICo 4:6; Eph 1:19, Eph 1:20; Eph 3:20.

(4) Ngài có năng lực để dựng nên vật mới:Mat 3:9; Ro 4:17; Kh 21:5.

(5) Ngài làm mọi sự tùy ý định Ngài:Thi 115:3; Da 4:35; Eph 1:11.

(6) Chẳng có điều nào gọi là bất năng cho Ngài cả: Sa 18:14; Mat 19:26.

(7) Tin Lành hay cứu rỗi cũng tỏ ra quyền năng của Đức Chúa Trời: Ro 1:16.

3. SỰ BÀY TỎ QUYỀN NĂNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Đức Chúa Trời dùng nhiều cách tỏ ra quyền năng của Ngài. Nhưng nói đại khái, Ngài dùng hai cách để bày tỏ quyền ấy, tức là:

a/ Nguyên lực.– Nguyên lực tức là Đức Chúa Trời tự thi hành ngay vô luận một việc gì, chẳng nhờ cậy cái gì hết; như Ngài tạo thành muôn vật, cảm hóa lòng loài người, làm các phép lạ dấu kỳ, v...v. Các việc ấy Đức Chúa Trời làm cách trực tiếp không nhờ định lệ hay là cái gì tiên hữu mà làm nên vậy. Sa 1:1; Gi 3:8; Thi 33:9; Ro 4:17.

b/ Tá lực.– Tá lực là Đức Chúa Trời bày tỏ quyền năng của Ngài trong định lý và công lệ của muôn vật. Rồi muôn vật mãi cứ theo công lệ và định lý ấy mà hóa sanh, và nương tựa nhau mà tồn tại trong quyền bảo thủ của Đức Chúa Trời. Không những là cuộc tạo hóa minh chứng về toàn quyền toàn năng của Đức Chúa Trời thôi đâu, sự bảo tồn muôn vật đó cũng làm chứng đích xác lắm. Sa 1:28; Sa 8:22; Cong 17:26; Cong 14:17; He 1:3.

4. ĐỨC CHÚA TRỜI HẠN CHẾ QUYỀN NĂNG

Đức Chúa Trời thực là Đấng vô sở bất năng; song mà Ngài vận dụng quyền của Ngài có chừng mực hẳn hoi. Hỏi: Chừng mực ấy thể nào? Đáp:

a/ Không trái định luật.– Đức Chúa Trời không trái bản tánh của cõi thiên nhiên, chẳng phá hủy định luật trong muôn vật. Giả như Đức Chúa Trời không thể dựng nên hai hòn núi miễn là có cái trũng ở giữa. Cũng chẳng có thể làm cho hai gạch bình hành trặp nhau, vì hai vật ấy vốn phản đối bản tánh của muôn vật.

Có kẻ hỏi: “Dấu lạ há chẳng phá luật thiên nhiên sao?” Đáp: Dấu lạ hẳn chẳng phá luật thiên nhiên đâu; các dấu lạ thuộc về cõi siêu nhiên, tri thức ta không hiểu thấy đầu đuôi của nó. Huống hựu,ta cũng chưa hiểu hết sự huyền diệu của luật thiên nhiên nữa, thì làm sao có thể đoán định rằng dấu lạ trái luật ấy?

b/ Không trái bản tánh của Ngài. – Đức Chúa Trời rất thánh khiết, rất công bình, rất nhơn từ, rất thương yêu, Ngài chẳng có thể nào làm gì phản đối với các đức tánh ấy. Ngài không thể nói dối, phạm tội hay là chết, vì các điều ấy trái hẳn bản tánh của Ngài. Cái gì tương hiệp với bản tánh và đức phẩm Ngài thì Ngài làm cả; còn sự gì phản đối thì chẳng những Ngài không làm, mà lại còn dùng quyền năng vô hạn Ngài để hạn chế và ngăn trở nữa thì có. Ấy thật là công tác lớn hơn hết của Ngài vậy.

Vả, có kẻ hỏi: “Nếu Đức Chúa Trời là Đấng vô sở bất năng, tại sao không tiêu diệt tội lỗi đi?” Đáp: Đức Chúa Trời có quyền năng tiêu diệt tội lỗi đi, trong lai thế cũng chắc sẽ tiêu diệt hẳn; nhưng hiện nay Ngài không làm, vì Ngài đã dựng nên loài người có tự nhiệm tự do. Nếu Ngài tiêu diệt tội đi, thì cũng phải tiêu diệt luôn bản tánh tự do của loài người nữa;song điều ấy cũng trái hẳn với bản tánh của Ngài. Cho nên Đức Chúa Trời tự hạn chế quyền năng của Ngài mà không tiêu diệt tội lỗi liền, duy lợi dụng cơ hội cám dỗ của tội mà thí nghiệm loài người. Việc ấy xong, Ngài mới tuyệt diệt tội lỗi vậy.

V. ĐỨC CHÚA TRỜI VÔ SỞ BẤT TẠI

1. ĐỊNH NGHĨA

Đức Chúa Trời cũng vô sở bất tại. Ý nghĩa quan niệm ấy là trong vũ trụ nầy chẳng chỗ nào mà không có Đức Chúa Trời.Cả thể yếu toàn vẹn của Ngài vẫn hằng đầy dẫy mọi nơi mọi việc.

2. KINH THÁNH LÀM CHỨNG

Kinh Thánh làm chứng rất rõ ràng rằng Đức Chúa Trời vô sở bất tại.

a/ Đầy dẫy cả vụ trụ: IISu 2:6; Gie 23:23,24; Cong 17:27,28

b/ Ở trong tín đồ: Gi 14:23; Eph 4:6.

c/ Nghe mọi lời cầu nguyện của mọi người bất luận ở chỗ nào: Mat 18:19,20.

Sở dĩ tùy thời tùy chỗ mà Đức Chúa Trời nghe được cả mọi người cầu nguyện, là bởi vì Ngài vô sở bất tại vậy.

3. BA Ý KIẾN SAI LẦM

Trong tư tưởng giới có ba ý kiến sai lầm về Đức Chúa Trời vô sở bất tại. Xin lược luận qua sau đây:

a/ Nhờ quyền năng mà vô sở bất tại. –Có kẻ luận rằng, Đức Chúa Trời nhờ quyền năng Ngài thi hành khắp mọi nơi mà tỏ ra là vô sở bất tại. Xin đáp: Đức Chúa Trời chẳng những là thi hành quyền năng của Ngài khắp mọi nơi trong vũ trụ, mà lại chính thể yếu của Ngài vẫn ngự đầy dẫy mọi nơi nữa. Vẫn biết Kinh Thánh dạy rằng Đức Chúa Trời “ngự trên các từng trời”(Thi 123:1; Thi 113:5; Es 57:15); nhưng ý nghĩa câu ấy là tả sự cao xa của Ngài đối với trái đất, và dạy rằng Ngài tỏ mình Ngài ra với các vị linh ở trên trời trọn vẹn hơn hết. Phao-lô cũng minh giải về Đức Chúa Trời vô sở bất tại rằng: Ro 10:6-8.

Giả như linh hồn ở trong khắp thân thể ta, đến đỗi không chi thể nào mà không có cả linh hồn thể nào, thì Đức Chúa Trời ở khắp vũ trụ, chẳng một chỗ nào không có cả thể yếu của Ngài cũng thể ấy.

b/ Đức Chúa Trời ở chỗ nầy bằng một phần thể yếu nầy, ở chỗ kia một phần khác. – Có kẻ khác luận rằng, Đức Chúa Trời ở chỗ nầy bằng một phần thể yếu nầy, ở chỗ kia bằng một phần khác.Nhưng mà ý ấy rất sai, vì thể yếu Đức Chúa Trời chẳng bằng vật chất, không thể phân rẽ ra nhiều đoạn được. Nên cũng chẳng có thể lấy phần nầy để ở chỗ nầy, phần kia để ở chỗ khác. Sở dĩ Đức Chúa Trời gọi bằng vô sở bất tại, là vì Ngài đem cả thể yếu toàn vẹn của Ngài mà cùng một lượt ngự ở trong mọi nơi mọi chỗ. Cũng tại thực sự ấy Christ là Logos (Đạo) của Đức Chúa Trời có thể đem cả thể yếu Ngài mà cùng một lượt ngự vào Người Jêsus, luôn khắp vũ trụ để thống trị bảo tồn muôn vật. Cũng tại lẽ thật mầu nhiệm ấy mà Ngài có thể cùng một lượt ngự luôn trong lòng tín đồ rải khắp thế gian, ban cho mỗi cá nhân trong họ đều được đầy dẫy cả thể yếu của Ngài vậy.

c/ Đức Chúa Trời sở dĩ vô sở bất tại là vì Ngài vốn một Thần Linh. – Kẻ khác lại luận rằng sự vô sở bất tại của Đức Chúa Trời tại vì Ngài vốn một Thần Linh. Chỉ các vị có thể chất không được vô sở bất tại; chúng ở nhứt định hoặc chỗ nầy hay chỗ kia, không hề có thể cùng một lượt ở khắp nơi được, bởi vì bị thể chất hạn chế. Còn Đức Chúa Trời thì khác, Ngài là Đấng Thần Linh, nên mới có thể cùng một lượt ở khắp chỗ được.

Nhưng luận như vậy rất sai lầm. Vì nếu ấy là chơn lý, thì các linh hồn của kẻ qua đời, thiên sứ và ma quỷ cũng đều là vô sở bất tại, vì thảy đều là linh thể cả. Song Đức Chúa Trời chẳng vô sở bất tại vì Ngài có Linh thể đâu, bèn là một Đấng Thần Linh vô hạn vô lượng, cao quá trên muôn vật, suốt thông trong muôn vật, phẩm cách, trí ngộ, quyền năng và ý chỉ Ngài đều đầy dẫy cả vũ trụ. Duy một mình Ngài là vô sở bất tại, nên mới có thể cai trị muôn vật, ngự trong lòng các tín đồ Ngài, dạy dỗ, an ủi, dẫn dắt họ.Duy Ngài là vô sở bất tại, nên mới có thể khiến cho đứa ác rùng mình rởn óc,không dám toan mưu độc ác mà buông câu: “Ở đây không có Đức Chúa Trời, ta làm chi thì làm, không cần sợ ai.” Duy Ngài là vô sở bất tại, nên mới có thể giúp ích cho kẻ làm lành, nghe lời cầu nguyện của con cái Ngài, giáng lâm ở giữa họ,bất cứ họ nhóm ở chỗ nào trong thiên hạ. Cũng vì Ngài là vô sở bất tại, nên mới có thể nghe tiếng than khóc não nùng dưới đời mờ tối nầy mà cứu vớt kẻ hư mất,dắt đưa kẻ lạc đường, chữa kẻ đau yếu, an ủi kẻ buồn rầu, ban muôn ngàn ơn phước cho kẻ cậy nhờ danh thánh của Ngài vậy.

VI. ĐỨC CHÚA TRỜI VÔ SỞ BẤT TRI

1. ĐỊNH NGHĨA

Đức Chúa Trời vô sở bất tri là nghĩa gì? Nói đại khái, thì từ liệu ấy nghĩa là Đức Chúa Trời thông biết mọi sự, hiểu thấu mọi việc, đến đỗi chẳng có điều gì hoặc thuộc trong cõi vô hình hay cõi hữu hình,hoặc thuộc về thời quá khứ hiện tại, hay tương lai mà Ngài không biết rõ ràng,trọn vẹn.

2. LÝ DO VỀ ĐẠO ĐỨC CHÚA TRỜI VÔ SỞ BẤT TRI

Tại sao gọi Đức Chúa Trời là Đấng vô sở bất tri?

Đáp:

a/ Vì Ngài là căn nguyên mọi sự. –Đức Chúa Trời là vô sở bất tri, vì Ngài là căn nguyên của mọi sự. Muôn vật muôn sự trong vũ trụ đều do Đức Chúa Trời mà ra, được dựng nên bởi Ngài, cũng tồn tại bởi quyền năng Ngài. Vậy nên ai dám nói rằng có điều gì trong đó mà Ngài không thông biết ư?

b/ Vì Ngài trọn vẹn vô cùng. –Đức Chúa Trời vô sở bất tri, vì Ngài vốn là Đấng trọn vẹn vô cùng. Nếu gọi Đức Chúa Trời còn có chỗ không biết, có điều không hiểu, thì chắc Ngài không phải Chúa toàn vẹn vô cùng đâu.

c/ Vì Kinh Thánh khải thị Ngài là vô sở bất tri. – Kinh Thánh cũng khải thị Đức Chúa Trời ra là Đấng vô sở bất tri: Ro 11:33; He 4:13.

d/ Vì Ngài là Đấng phán xét. –Đức Chúa Trời là Đấng phán xét, đến đỗi phán xét sự kín giấu ở trong lòng của người ta, chiếu theo lẽ công bình và công việc làm của mọi người mà thưởng phạt cho. Vậy, nếu Đức Chúa Trời không vô sở bất tri, làm sao thi hành cuộc phán xét được?

e/ Vì Ngài vô sở bất tại. –Đức Chúa Trời là Đấng vô sở bất tại, nên cố nhiên cũng là Đấng vô sở bất tri.Vì chẳng chỗ nào không có Ngài, nên cũng chẳng sự gì Ngài không biết vậy. Phỏng khiến Ngài không phải là vô sở bất tại, mới chắc có sự Ngài không rõ vậy.

3. CĂN NGUYÊN CỦA SỰ HIỂU BIẾT CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Đức Chúa Trời bởi đâu mà biết mọi sự? Xin đáp:

a/ Sự hiểu biết của Đức Chúa Trời là bản tri. – Sự biết của loài người do sự từng trải mà ra; mọi sự nên công cũng chỉ bởi sự thí nghiệm đưa đến. Nhưng sự biết của Đức Chúa Trời là gốc bởi lương tri của Ngài, không học mà biết, chẳng thí nghiệm mà nên.

b/ Tự nhiên mà biết. –Sự biết của Đức Chúa Trời do sự tự nhiên mà biết. Ngài không cần viện lý mà suy, không cần lấy vật làm chứng, cũng không cần kê cứu, so sánh, suy nghĩ, bởi vì Ngài biết trước mọi sự mọi vật, chẳng cần nhờ ai dạy Ngài điều gì cả.

c/ Thời gian hoặc không gian chẳng ngăn trở sự biết của Đức Chúa Trời. – Sự biết của Đức Chúa Trời chẳng bị hoặc thời gian, hoặc không gian ngăn trở gì cả. Ngài vốn vô sở bất tri từ lúc vô thỉ cho đến vô chung. Những sự cổ vãng kim lai đều bày ra ở trước mặt Ngài rõ rệt như chánh ngọ, chẳng sự gì giấu kín, chẳng vật gì lẩn khuất. Khoảng không gian cũng không hạn chế sự biết của Ngài được, vì phàm sự gì ở trong vũ trụ Ngài đều thông biết và hiểu thấu cả.

4. NHỮNG ĐIỀU ĐỨC CHÚA TRỜI BIẾT

Theo sự dạy dỗ của Kinh Thánh, thì Đức Chúa Trời biết những điều kể ra sau đây:

a/ Ngài biết chính mình Ngài. Cũng chẳng chi lớn hơn sự biết ấy: Xu 3:14; Es 46:9; Kh 22:13.

b/ Ngài biết mọi vật vô sanh cơ: Thi 147:4.

c/ Ngài biết mọi vật hữu sanh cơ: Thi 50:11,12; Mat 10:29.

d/ Ngài biết công việc và đường lối của loài người: Thi 33:13-15; Ch 5:21.

e/ Ngài biết trong lòng và ý tưởng của loài người: Cong 15:8; Thi 139:2

f/ Ngài biết sự thiếu thốn của ta: Mat 6:8.

g/ Ngài biết những sự vật nhỏ mọn: Mat 10:30.

h/ Ngài biết việc quá khứ: Ma 3:16.

i/ Ngài biết việc tương lai: Es 46:9,10

j/ Ngài biết việc loài người sẽ tự chủ mà làm: Es 44:28

k/ Ngài biết việc ác mà người ta sẽ làm: Cong 2:23

l/ Ngài biết mọi việc có thể do việc khác mà xảy ra: ISa 23:12; Mat 11:21

m/ Ngài biết mọi sự từ trước vô cùng: Cong 15:18

5. NGƯỜI TA KHÔNG DÒ LƯỜNG SỰ BIẾT CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Loài người chỉ biết những sự ở trước mặt, những sự đã qua. Họ chỉ nhờ những sự người ta thuật lại hoặc biên lại mà biết được.Có khi vì sự thuật lại không rõ, sự chép lại sai mất nguyên bản, đến đỗi loài người cũng không chắc biết rõ việc quá khứ nữa. Đã vậy, sao biết được cuộc tương lai? Nhưng Đức Chúa Trời chẳng vậy đâu, vô luận là sự dĩ vãng hoặc tương lai đều bày ra trước mặt Ngài rõ ràng cả. Thi 139:6; Ro 11:33

6. SỰ VÔ SỞ BẤT TRI QUAN HỆ VỚI NGƯỜI TA

Đức Chúa Trời vô sở bất tri há có quan hệ với người ta chăng? Đáp: Có quan hệ lắm.

a/ Quan hệ với kẻ ác. –Đứa tiểu nhân kia ở dưng làm điều chẳng lành; họ tự giấu điều dữ trong cái vỏ để lừa dối thiên hạ. Nhưng Đức Chúa Trời là Đấng vô sở bất tri, con mắt Ngài sáng như chớp, biết cả mọi sự. Dầu có tài cao bay xa chạy đến đâu, cũng không sao tránh khỏi tầm tuệ nhãn của Ngài được; đúng như câu chạy trời đâu khỏi nắng.Nên có những trước giả Kinh Thánh chứng rằng: Thi 139:12; Ch 15:11; He 4:13;

b/ Quan hệ với người lành. –Lẽ đạo nầy khiến cho người lành vui vẻ, vì nhờ đó họ biết Đức Chúa Trời có thể thương xót sự yếu đuối của họ, nghe tiếng than thở của họ, đến đỗi cũng động lòng tự ái mà giúp đỡ họ trong cảnh khốn khổ nữa. Thi 103:13; Sa 16:13; Xu 3:7;Phu 2:7.

VII. ĐỨC CHÚA TRỜI VÔ THỜI BIẾN CẢI

1. ĐỊNH NGHĨA

Đức Chúa Trời vô thời biến cải, nghĩa là gì?Đáp: Đức Chúa Trời vốn một Đấng từ trước vô cùng cho đến đời đời về sau vẫn y nguyên. Nào đức tánh, nào bản năng, nào thể yếu, nào ý chỉ Ngài, thảy đều chẳng thay đổi chút nào. Về lý sự cũng dạy rằng nếu Đức Chúa Trời thay đổi thì thật phi lý; gọi vị cách Ngài gia thêm hay giảm bớt, tấn bộ hay thụt lui, tiến hóa hay thối hóa, thật đều là bất năng cả. Theo lẽ thường hễ chỗ nào có sự thay đổi,thì kết cuộc hoặc tốt hơn hay là xấu hơn. Đức Chúa Trời vốn Đấng toàn vẹn vô cùng, nên cũng chẳng có thể nào còn phải lần tới chỗ toàn vẹn hơn; bằng thối hóa, tất nhiên không còn là Đấng toàn vẹn nữa. Phàm người đời sở dĩ có thay đổi,là vì họ hoặc từ lành ra dữ, hoặc từ dữ ra lành. Nhưng Đức Chúa Trời chẳng vậy đâu, vì sự lành Ngài vốn tột bực, không còn có thể trở nên lành hơn nữa. Ngài đã là Đấng chí thiện, nên chẳng có thể thay đổi điều nào ra khác phản đối với đức tánh ấy. Kinh Thánh minh chứng cho lẽ thật nầy như các câu kể ra sau đây. Thi 102:27; Ma 3:6; Gia 1:17

2. CHỖ DỊ NGHỊ

a/ Về sự thay đổi lời phán. – Vả,trong Kinh Thánh cũng có mấy câu hình như dạy rằng Đức Chúa Trời có thể thay đổi.Tiên tri Giô-na có chép: xem Gion 3:10.

Có kẻ đọc qua truyện tích người Ni-ni-ve thì hỏi rằng: “Đức Chúa Trời đối với lời răn bảo thành Ni-ni-ve há chẳng đổi ý sao?” Đáp: Về phần bản tánh và ý định giáng hình phạt cho tội lỗi thì Đức Chúa Trời chẳng đổi ý chút nào. Ngài vẫn hết sức ghét tội, không thể dung nhượng nó được. Nói cho đúng thì sự thay đổi đây vốn ở nơi người Ni-ni-ve, chẳng phải ở nơi Đức Chúa Trời đâu. Họ đổi thái độ đối với tội lỗi và hết lòng ăn năn; nên Đức Chúa Trời cũng thay đổi thái độ Ngài đối với họ, không giáng hình phạt trên họ như Ngài đã phán. Đức Chúa Trời vẫn y nguyên mãi, bản tâm Ngài đối với tội, ý chỉ Ngài đối với sự công nghĩa bao giờ cũng y nguyên. Nhưng nếu người ta thay đổi thái độ mình đối với tội mà chịu ăn năn, thì Đức Chúa Trời cũng đổi phương cách đãi họ, không còn phạt họ vì cớ tội của họ nữa. Giả như ta lấy một viên sáp phơi ra nơi ánh sáng mặt trời, thì chẳng bao lâu viên sáp ấy tan đi. Nhưng nếu lấy một cục đất bùn phơi ra cũng tại chỗ ấy, chẳng bao lâu thì thấy nó khô và cứng lại. Ấy chẳng qua là tại tánh chất viên sáp và cục đất bùn kia thay đổi, chớ chẳng phải ánh sáng mặt trời có thay đổi đâu.

Lại ví như đứa trẻ kia hay ngỗ nghịch bất phục,đến đỗi cha mẹ phải trừng phạt nó. Khi sắp trách phạt, nếu đứa ấy nghìn muôn vạn lạy, xin cha tha lỗi cho, hứa từ rày về sau con chẳng dám ngỗ nghịch nữa, thì chắc cha tha liền, không trừng phạt theo lời ngăm đe nữa. Ấy chẳng phải cha thay đổi thái độ về sự ngỗ nghịch bất phục của con đâu, chỉn vì con thay đổi,chịu ăn năn, bỏ nết xấu ấy đó thôi, rồi nhân dịp ấy cha cũng có thể đổi phương cách đãi con mà tha tội cho vậy. Đức Chúa Trời cũng vậy, thái độ của bản tánh Ngài đối với tội lỗi chẳng hề thay đổi, bao giờ cũng rất ghen ghét, buộc phải đoán phạt nó mới yên tâm. Nhưng nếu loài người đổi bỏ hẳn lòng yêu tội ra lòng ghét tội, thì Đức Chúa Trời cũng thay đổi phương cách đãi họ, không còn trừng phạt, nhưng thương xót tha thứ cho vậy.

b/ Về sự thay đổi phương cách. –Vả lại, kê cứu các thời đại, thấy hình như Đức Chúa Trời lắm phen thay đổi phương cách thi hành ý chỉ của Ngài. Song sự thay đổi ấy chẳng ở nơi bản tánh hay ý chỉ của Ngài, bèn là ở tại chính công việc Ngài đã tiền định từ trước vô cùng mà nên vậy. Giả như Đức Chúa Trời trước lập đạo Môi-se, biểu dân Y-sơ-ra-ên phải tin theo, mới mong được ơn phước cứu rỗi. Rồi sau Ngài lại bỏ đạo Môi-se, mà lập đạo Christ bảo ai nấy phải tin theo, mới mong được cứu. Ấy há chẳng phải là sự thay đổi sao? Chẳng phải đâu. Sự lập đạo Môi-se, rồi sau lại bỏ đạo ấy mà lập đạo Christ, cả hai là hai phần tử quan trọng trong việc làm trọn ý định cứu rỗi mà Ngài đã dự định từ trước vô cùng vậy. Christ chẳng giáng sanh để sửa đổi khuyết điểm trong đạo Môi-se, bèn giáng sanh để làm ứng nghiệm các tiêu biểu dự ngôn của đạo ấy, và làm trọn ý định của Đức Chúa Trời về sự cứu rỗi loài người,như đã dự cáo trong các tiêu biểu ấy.

Chúng ta hay thay đổi, Đức Chúa Trời bất di bất dịch. Lẽ thật ấy an ủi lòng tín đồ lắm. Vì chẳng những thái độ Ngài đối với tội lỗi không thay đổi, mà các đức tánh của Ngài, như sự nhơn từ, sự chân thật,sự yêu thương, cũng chẳng hề thay đổi nữa; đến đỗi hễ ai làm theo ý muốn Ngài,thì được Ngài lấy các đức tốt quý báu ấy mà hậu đãi lại, ban cho người ấy được an nhiên kiên cố, khỏi phải day động đến bị hư mất vậy.

VIII. ĐỨC CHÚA TRỜI THUẦN NHỨT VÔ PHÂN

1. ĐỊNH NGHĨA

Đức Chúa Trời thuần nhứt vô phân nghĩa là gì? Đáp: Đức Chúa Trời thuần nhứt vô phân, nghĩa là bản tánh của Ngài chẳng chia ra, cũng không thể nào chia ra được, Đức Chúa Trời đã là một Đấng Thần Linh vô hạn vô lượng, nên linh tánh và linh chất Ngài cũng rất thuần nhứt không thể chia ra được. Chỉ có một Thần toàn vẹn vô cùng có một thể yếu, một bản tánh mà thôi. Kinh Thánh minh chứng cho lẽ đạo nầy, như tỏ ra trong những câu viện dẫn sau đây: Phu 6:4; Es 44:6; Gi 17:3; ICo 8:4; ITi-mô-tHe 1:17; ITi-mô-tHe 6:15; Eph 4:5,6.

2. CHỖ DỊ NGHỊ

Có kẻ hỏi rằng: “Đức Chúa Trời thuần nhứt vô phân, há chẳng phản đối với lẽ đạo Ba Ngôi sao? Đáp: Lẽ thật nầy chẳng phản đối với lẽ đạo Ba ngôi đâu; vì lẽ đạo ấy luận về Đức Chúa Trời có ba Ngôi hiệp nhứt,là một Chân Thần độc nhứt vô nhị. Còn bản tánh và thể yếu của ba Ngôi ấy đều là thuần nhứt vô phân. Cả ba Ngôi đều chỉ có một bản tánh toàn vẹn vô cùng, một thể yếu cũng toàn vẹn vô cùng. Thành thử, Ngôi nào trong ba Ngôi ấy cũng đều là Đức Chúa Trời hoàn toàn cả.”

3. CÁC TÀ THUYẾT PHẢN ĐỐI ĐẠO ĐỨC CHÚA TRỜI THUẦN NHỨT VÔ PHÂN

Các tà thuyết phản đối về Đức Chúa Trời thuần nhứt vô phân đa thần chủ nghĩa, tam thần luận, và nhị nguyên giáo. Ba thuyết ấy đều là sai cả, vì nếu Đức Chúa Trời đã là vô hạn vô lượng, thì tất nhiên trong vũ trụ không thể có hai hoặc nhiều thần khác cùng xưng là vô hạn vô lượng được.Ví thử có hai hoặc nhiều Chúa ngang nhau, có quyền đồng nhau không đấng nào lớn hơn hành quyền trên đấng nào, ắt không sao tránh khỏi cuộc tương tranh, sanh nhiều sự rối loạn vô kể trong linh giới luôn cả chất giới nữa. Nhưng mà trong vũ trụ nầy chỉ có một Chúa vô hạn vô lượng, là Đức Chúa Trời hằng sống của chúng ta; mọi sự đều theo ý chỉ khôn khéo và năng lực vô đối của Chúa ấy mà được sắp đặt sửa sang, đến đỗi muôn sự đều có công lệ nhứt định, loài người có chánh đạo độc nhứt, ai tín phục Ngài bèn được hạnh phúc cứu rỗi đời đời vậy.

Chương 6: LUẬN VỀ CÁC ĐỨC CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Chúng ta đã kêu cứu qua các sự thuộc tánh của Đức Chúa Trời, hiểu rõ hơn về các phẩm cách tối thượng của bản tánh Ngài là diệu kỳ dường nào! Nay xin kê cứu qua các mỹ đức của Ngài. Thần học thường chia các đức ấy ra làm bốn loại, là đức thánh khiết, đức công nghĩa, đức nhơn ái, và đức chân thành. Sau đây xin lần lượt kê cứu qua các đức ấy từng loại một.

I. ĐỨC THÁNH KHIẾT

1. ĐỊNH NGHĨA

a. Là sự thuần khiết tuyệt đích. _Đức thánh khiết có nghĩa gì? Nhà thần đạo A.H. Strong định nghĩa sự thánh khiết của Đức Chúa Trời mà luận rằng: “Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời là sự tinh sạch tự quyết của Ngài. Ngài nhờ đức ấy mà tự quyết hằng có hằng giữ lòng đạo đức tối cao tuyệt đích của Ngài.” Những câu Kinh Thánh viện dẫn sau đây minh giải rằng sự thánh khiết hoặc ở trong Đức Chúa Trời hay là ở trong người ta đều là sự trong sạch trọn vẹn, sự tinh bạch thuần nhứt, trái hẳn với mọi sự bất khiết.

Xu 15:11 (cũng xem Xu 19:10-16); Es 6:3.

Đây sự thánh khiết của Đức Chúa Trời tương phản với sự bất khiết của tiên tri; người cần phải nhờ than lửa đỏ nơi bàn thờ để làm cho tinh sạch, mới có thể đứng nổi trước mặt Đức Chúa Trời (Es 6:5-7).

IICo 7:1; ITe 3:13; ITe 4:7; He 12:29

b. Là cái tổng hiệp các đức phẩm của bản tánh Đức Chúa Trời.­_Nói cách khác, thì đức thánh khiết của Đức Chúa Trời không phải là một trong các đức của Ngài, bèn là sự tổng hiệp của cả các đức Ngài tập thành cái bản tánh oai nghiêm vinh hiển của Ngài. Cho nên ta có thể phân luận rằng:

(1) Nếu lấy bản tánh của Đức Chúa Trời mà luận thì phải đoán rằng: Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời can hệ với cả bản tánh của Ngài, đến đỗi bản tánh ấy, được hoàn thiện toàn mỹ, chẳng chút ô uế,ác tưởng hay tì vít bất khiết nào cả, bèn được tánh khiết thuần nhứt vô song vậy.

(2) Nếu lấy tâm chí của Đức Chúa Trời mà luận, thì phải đoán rằng: Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời là tâm chí Ngài ưa lành ghét dữ, đời đời chẳng hề thay đổi thái độ ấy.

(3) Nếu lấy các thuộc tánh trọn vẹn của Đức Chúa Trời mà luận, thì phải đoán rằng: Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời là sự chói lói của các đức tánh của Ngài tổng hiệp lại mà chiếu ra vậy. Giả như quang tuyến phân tích thí thấy ánh sáng được tỏ ra bằng bảy sắc, là đỏ, hồng,vàng, xanh, tím, tía, và bích (lục); bảy sắc ấy hòa hiệp lại trở nên sắc trắng,là ánh sáng mà con mắt ta thường thấy, do ở trong toàn bảy sắc kia mà được nên.Cũng một lẽ ấy, sự thánh khiết của Đức Chúa Trời do ở trong toàn các mỹ đức vô hạn vô lượng của Ngài tổng hiệp mà chiếu ra, làm cội gốc của mọi thiện hạnh mỹ đức của loài người nữa.

2. QUAN NIỆM SỰ THÁNH KHIẾT CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI LẦN LẦN PHÁT TRIỂN

Quan niệm về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời theo luật tiến hóa mà được khải thị cho loài người. Đức Chúa Trời khởi sự bày tỏ ý niệm ấy cho dân Y-sơ-ra-ên trong xứ Ai Cập và tại đồng vắng. Ban đầu ý niệm ấy chỉ can thiệp đến bề ngoài, chú trọng về sự phân rẽ những điều dơ dáy, đê hèn, uế tục của xác thịt. Lần lần về sau người ta áp dụng ý niệm thánh sạch đó cho Đức Chúa Trời, coi Ngài là tinh khiết thuần nhứt, chẳng chịu sự dơ dáy, đê hèn, uế tục gì cả, bất luận là thuộc thể hay thuộc linh cũng vậy; thậm chí người ta lần lần hiểu rằng hể ai muốn đẹp lòng Ngài, muốn đến gần để sùng bái Ngài, thì họ không những cần phải có xác thịt sạch sẽ thôi đâu, lại rất cần phải có lòng tinh sạch thánh khiết, mới mong được Ngài nhậm là xứng đáng đến gần Ngài vậy.

Các lễ nghi về vật bất khiết, lễ tẩy uế,nhà trại với nơi thánh và nơi chí thánh, các con thú tinh sạch và không tinh sạch,v…v., thảy đều là những tiêu biểu Đức Chúa Trời dùng để mở mang và ấn tượng ý niệm ấy ở trong Y-sơ-ra-ên. Ban đầu họ thọ giáo rất chậm, nhưng về sau nhờ cách Đức Chúa Trời đãi họ, và nhờ sự dạy dỗ của các tiên tri, thì ý niệm ấy phát triển hẳn, rồi đến khi Christ hiện ra thì được bày tỏ rõ ràng ở trong đời sống và lời dạy dỗ của Ngài.

Trong Xu 19:3-25 ta thấy vì có sự thánh khiết oai nghiêm của Đức Chúa Trời mà dân sự cần phải tắm rửa, giặt áo đặng dự bị mình cho tinh sạch, mới có thể đến gần Đức Chúa Trời. Ý niệm về sự thánh khiết vẫn còn đơn sơ, duy tiếp xúc với xác thịt mà thôi. Đến đời tiên tri Ê-sai thì khác hẳn. Hơn 30 lần chính ông ấy xưng Đức Chúa Trời là “Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên”; ấy cũng vì ông đã được nhận thấy sự thánh khiết ấy, hiểu thấu rằng hễ ai muốn đẹp lòng Ngài, muốn đến gần Ngài, thì chẳng còn phải chỉ cần tắm rửa giặt áo như trong đời Môise là được Ngài nhậm thôi đâu, lại cũng rất cần phải có lòng tinh sạch, mới mong đứng nổi ở trước mặt Ngài được (Es 6:1-7).

Đến đời Chúa Jesus Christ, sự khải thị về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời mới đạt đến cực điểm. Vì chính Ngài “là sự chói lói của vinh hiển Đức Chúa Trời, chân tượng của thể yếu Ngài” (He 1:3). Trải qua khoảng thời gian hơn 33 năm, Ngài dùng sự nói năng làm lụng, sự sống, sự chết,mà bày ra sự thánh khiết tuyệt đích của Đức Chúa Trời. Tôn chỉ của đạo Ngài là khiến người ta nên thánh. Mục đích cao thượng ấy là gốc bởi sự thánh khiết của Đức Chúa Trời; nên Phi-e-rơ khuyên rằng: -xem IPhi 1:15,16

3. CÁC BẰNG CỚ CHỨNG MINH ĐỨC CHÚA TRỜI THÁNH KHIẾT

Có nhiều bằng cớ chứng minh rằng Đức Chúa Trời rất thánh khiết. Sau đây chỉ xin viện lấy ba cái dễ hiểu hơn.

a) Lương tâm làm chứng:Bản năng của lương tâm loài người có tài phân biệt phải quấy, bảo phải làm lành lánh dữ. Hễ khi người ta vâng theo lời dặn bảo ấy, thì trong lòng cảm xúc vui vẻ bình an, được lương tâm khen ngợi; bằng chẳng vâng theo, thì sẽ thấy lương tâm trách móc. Vả, nếu Đấng Tạo Hóa đã dựng nên loài người có bản năng mến sự lành ghét sự dữ, ấy há chẳng chứng rằng vì chính Đấng ấy rất thánh khiết, nên cũng mến sự lành ghét sự dữ đó sao?

b) Luật đạo đức làm chứng:Luật đạo đức hoặc ghi trong lòng hoặc chép vào sách, đều minh chứng cho sự thánh khiết của Đức Chúa Trời. Nào mạng lệnh, nào điều răn, nào môi giới, bất cứ gián tiếp hay trực tiếp, đều bày tỏ bản tánh thánh khiết toàn vẹn vô cùng của Đấng Chấp pháp, cốt để khiến kẻ thủ pháp lánh ác làm thiện, trở nên thánh khiết tâm linh như chính Đấng Chấp pháp là thánh khiết vậy. Luật đạo đức dạy rõ ràng rằng loài người bị loại ra cách biệt sự hiện diện của Đức Chúa Trời, chẳng phải vì sự thiếu thốn của xác thịt đâu, duy bởi sự bất khiết ở tâm linh đó thôi. Luật đạo đức chứng minh rằng hễ ai không thánh khiết chẳng thấy được Đức Chúa Trời, chẳng được cư trú nơi trời mới đất mới, bèn bị ném ra ngoài chỗ tối tăm mù mịt mà bị khốn khổ đời đời vô cùng vậy.

Thi 24:3,4; Mat 5:8; Kh 22:27; Kh 22:14,15

c) Kinh Thánh làm chứng:Tra xét Kinh Thánh thì thấy thông suốt cả bộ ấy đều có ý niệm thánh khiết, có rất nhiều loại sách minh luận và thích nghĩa về đức thánh khiết, của Đức Chúa Trời.Tiên tri Êsai xưng Đức Chúa Trời là “Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên.” hơn 30 lần.Tiên tri Giê-rê-mi, Ê-xê-chi-ên, và các tiên tri khác cũng đều gọi như vậy.Trong Tân Ước, Con Đức Chúa Trời được xưng là “Đấng Thánh” (Cong 3:14). Còn Ngôi thứ ba trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời thường xưng là Thánh Linh vậy.

(1) Thực sự về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời: Các câu viện dẫn sau đây chứng thực rằng sự thánh khiết của Đức Chúa Trời vốn một sự thực tế.

Xu 15:11; Thi 99:9; Es 6:3; Ha 1:13; Gi 17:11; IPhi 1:15,16

(2) Hai phương diện của sự thánh khiết của Đức Chúa Trời: Kinh Thánh thường theo hai phương diện tiêu cực và tích cực mà tả ra sự thánh khiết của Đức Chúa Trời: Giop 34:10

Ấy là Gióp theo phương diện tiêu cực mà tả ra sự thánh khiết của Đức Chúa Trời. Lấy lý tánh mà suy xét, dễ thấy một Đức Chúa Trời làm ác thật phi lý. Có lắm việc Đức Chúa Trời làm mà chúng ta không hiểu nổi; dầu vậy, ta tự nhiên biết chắc rằng Ngài chẳng hề làm việc gì ác, chẳng xét đoán trái luật, chẳng trừng phạt bất công bao giờ, bèn thi hành mọi việc theo lẽ chí công chí chánh, tức là theo luật của bản tánh cực thánh khiết của Ngài vậy. Le 11:43-45

Ấy là theo phương diện tích cực mà tả ra đức thánh khiết của Đức Chúa Trời, ngầm chứng rằng ở trong Ngài tánh vốn tinh khiết thuần túy, lòng vốn trong sạch trọn vẹn, thậm chí chẳng có vết mảy may nào làm cho Ngài ra bất khiết, có thể làm mất sự thánh khiết thuần nhứt của Ngài bao giờ. IGi 1:15

Sự sáng ấy là sự thánh khiết chói lói tuyệt đích của Đức Chúa Trời, hễ soi đến đâu, thì mọi sự ô uế kín đáo phải lộ ra, mọi sự tối tăm của tội lỗi bị đuổi ra, hoặc để tẩy sạch, hoặc để trừng phạt cũng có. Đối với kẻ biết ăn năn thì lấy sự thương xót tha thứ cho, khiến nên tinh khiết như chính Ngài vậy; đối với kẻ bạn nghịch thì lấy sự công nghĩa mà trừng phạt. Bất cứ là sự tha thứ, hay là sự trừng phạt, cả hai đều do đức thánh khiết tuyệt đích của Đức Chúa Trời mà ra.

(3) Tiếp xúc với Đức Chúa Trời thì được thánh khiết như Ngài. Kinh Thánh cũng dạy rõ mọi vật, mọi người hễ tiếp xúc với Đức Chúa Trời đều được trở nên thánh khiết; đối với vật, thì chỉ can thiệp bề ngoài, còn đối với người thì can thiệp đến cả bề trong nữa. Cho nên lời của Ngài gọi là Kinh Thánh; đền thờ Ngài xưng là đền thánh; thành của Ngài kêu bằng thành thánh; dân Ngài cũng được xưng là dân thánh; thảy đều được gọi là thánh,vì được tiếp xúc với Đức Chúa Trời. Kia kìa, âm nhạc có định âm, luật pháp có định chỉ, định âm định chỉ của Đức Chúa Trời là đức thánh khiết của Ngài. Cho nên trong mọi sự, kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải lấy sự “Thánh cho Giêhôva” làm tôn chỉ (Xa 14:20), phải có lòng thánh khiết (Thi 24:3,4), lương tâm tưới sạch khỏi sự xấu (He 10:22), vì chỉ những kẻ có lòng trong sạch tinh khiết mới mong được thấy Đức Chúa Trời (Mat 5:8), được ơn theo Chiên Con mãi mãi (Kh 14:4,5). Mà sự thánh khiết của tín đồ cũng chỉ do sự tiếp xúc với Đức Chúa Trời bởi sự thánh khiết của Ngài nhờ Thánh Linh áp dụng cho mà nên vậy.

Xa 14:20; Thi 24:3,4; He 10:22; He 12:10

4. ĐỨC THÁNH KHIẾT VỐN NGUYÊN TỐ ĐẦU NHỨT CỦA VỊ CÁCH ĐỨC CHÚA TRỜI:

Lấy theo phương diện vị cách Đức Chúa Trời mà luận, thì các đức của Ngài vốn bằng nhau; nhưng đối với loài người, thì đức thánh khiết của Ngài đứng đầu, làm nền tảng của các đức khác. Khi chúng ta chụp hình, phần quan hệ ta muốn người khác thấy là mặt mày, chớ không phải là chơn hoặc tay. Cũng vậy, khi Đức Chúa Trời khải thị Ngài ra, thì trước sau Ngài chú trọng về đức thánh khiết của Ngài, muốn loài người hiểu rõ chính diện chân tướng của Ngài tất là đức thánh khiết hơn là thấu rõ hoặc tay hoặc chơn của Ngài tức là sự vô sở bất năng, vô sờ bất tri, vô sở bất tại của Ngài. Những bằng cớ kể sau đây minh chứng đức thánh khiết làm nguyên tố quan hệ nhất trong các sự thuộc tánh của Đức Chúa Trời .

a) Kinh Thánh làm chứng. Sứ mạng duy nhất của Kinh Thánh là sự thánh khiết của Đức Chúa Trời. Các trước giả của Kinh Thánh đều tin nhận và thường dùng đủ phương pháp để minh giải và ấn tượng cho tâm trí loài người nhận biết rằng Đức Chúa Trời thánh khiết thuần nhất.Cũng tỏ ra đức ấy ở trên trời vẫn là đề mục đầu nhứt của sự ngợi khen, là đối tượng vô song của sự thờ phượng của thiên sứ và các thánh vị ở đó.

Phi-e-rơ dạy rằng ta phải thánh khiết vì Đức Chúa Trời là thánh khiết (IPhi 1:16). Trước giả thơ Hê-bơ-rơ chứng rằng nếu không nên thánh ắt không ai thấy được Đức Chúa Trời (He 12:14). Sự từng trải của Phi-e-rơ (Lu 5:8) ám chỉ rằng khi tội nhân gặp Chúa, liền cảm xúc sự thánh khiết oai nghiêm tuyệt đích của Ngài, nên kinh hãi vô cùng, kêu la xin Ngài lìa khỏi mình, vì mình tự thấy rất bất khiết ở trước mặt Ngài cảm biết dường như mình sắp bị sự oai nghiêm kinh khiếp ấy tiêu diệt đi (xem Es 6:1-7).

IPhi 1:6; Lu 5:8; Es 6:3-5

Vả, chẵng những Kinh Thánh hằng đề xướng sự thánh khiết của Đức Chúa Trời thôi đâu; các vị thánh trên trời cũng hằng ngay hằng đêm kêu lên:”Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Giêhôva vạn quân!” (Es 6:3).Trước giả Thi 97:2 vẽ ra Vị cách màu nhiệm của Đức Chúa Trời thì nói rằng:” Sự công nghĩa và sự ngay thẳng làm nền của ngôi Ngài.” Còn sự công nghĩa ấy há chẳng là sự thánh khiết thực tế của Ngài ư?

b) Lòng đạo đức làm chứng.Lương tâm ta hành quyền trên hết các bản năng khác, bao giờ cũng đòi sự thánh khiết ở nơi lòng ta. Các mỹ đức khác, như nhân ái, chân thành, v..v..đều khả ái cả; duy đức thánh khiết thì bắt buộc. Nếu không có mỹ đức ấy, các đức kia cũng chẳng có nữa. Vả Đức Chúa Trời theo hình tượng Ngài mà dựng nên lòng đạo đức của ta, ban cho lương tâm nhận biết đức thánh khiết là đứng đầu hàng các mỹ đức khác. Nên nhân đó ta biết đạo đức của Ngài bao giờ cũng đặt đức thánh khiết đứng đầu, hằng thi hành theo đức ấy trước các đức kia. Ngài có thể thương xót, cũng có thể tùy ý Ngài lấy làm phải mà không thương xót, nhưng Ngài tự quyết phải thánh khiết luôn, tự bắt buộc hằng noi theo đức ấy mà thi hành mọi sự. Sự trừng phạt tội thi hành do đức thánh khiết bắt buộc; sự cứu rỗi thi hành do lòng thương xót giục giã. Đức thánh khiết bao giờ cũng bắt buộc hình phạt tội; còn lòng thương xót phải phục tùng mạng lịnh của đức thánh khiết mà áp dụng sự cứu rỗi cho kẻ này, hoặc không áp dụng cho kẻ kia vậy.

Ro 9:18; IIPhi 2:4

c) Cách Đức Chúa Trời đối đãi với loài người làm chứng. Xem xét cách Đức Chúa Trời đối đãi với loài người, thì thấy đức thánh khiết của Đức Chúa Trời quả làm điều kiện và giới hạn cho sự thực hành các đức khác. Giã như thử xem công việc cứu chuộc của Christ,ta nhận thấy dầu lòng thương yêu của Đức Chúa Trời làm ra sự cứu chuộc ấy, thì thật là sự thánh khiết của Ngài đã bị người đời xúc phạm đòi hỏi bắt buộc Đức Chúa Trời phải làm ra sự cứu chuộc như thế. Trong cuộc hình phạt kẻ ác, dầu Đức Chúa Trời yêu thương tội nhân, nhưng Ngài cũng không có thể vì cớ ấy bỏ được sự thánh khiết mình mà miễn hình phạt họ đâu; bởi vì trong sự đối đãi với loài người,sự thánh khiết bao giờ cũng phải đứng đầu các đức khác vậy. Tình yêu thương của Đức Chúa Trời thật như biển minh mông kia. Nhưng mà bờ của biển ấy là sự thánh khiết của Ngài, sự yêu thương của Ngài chẳng bao giờ tràn qua khỏi bờ ấy được.Trong khi yêu thương loài người, Đức Chúa Trời không thể trái phạm hoặc bãi bỏ sự thánh khiết của Ngài được. Bằng làm vậy, chính Ngài đã xúc phạm đến nguyên tắc của sự thực tại Ngài, không còn đáng gọi là Đức Chúa Trời nữa.

d) Sự cứu chuộc làm chứng. Từ trước vô cùng Đức Chúa Trời định dùng Christ để cứu chuộc loài người; nhờ đó sự công nghĩa và sự thương xót hòa hiệp với nhau. Christ được gọi là” Chiên con đã bị giết từ buổi sáng thế.” (Kh 13:8), ám chỉ rằng trong bản tánh Đức Chúa Trời vốn có một nguyên tắc đòi phải có sinh tế vãn hồi, mới chịu khởi sự thi hành việc cứu rỗi. Còn nguyên tắc ấy há chẳng phải là Đức thánh khiết của Ngài sao? Bởi vì từ trước vô cùng đã có Christ, Con Đức Chúa Trời, làm sinh tế vãn hồi, “bị giết từ buổi sáng thế”, nên Đức thánh khiết mới có thể cho Đức Chúa Trời theo tình yêu thương mà làm nên sự cứu chuộc đó. Thế thì, Đức Chúa Trời sỡ dĩ đòi sinh tế đền tội, ấy là Ngài là thánh khiết; lại Ngài tự mình làm ra cuộc đền tội đó, ấy là vì Ngài cũng là sự yêu thương vậy.

Ấy vậy, ta nhờ bốn bằng cớ ở trên mà quyết đoán ràng đức thánh khiết của Đức Chúa Trời là nguyên tố đầu nhứt của vị cách Ngài; và nguyên tắc bất di bất dịch về mọi sự thi hành của Ngài; các đức khác đều phục tùng đức ấy mà vận động cả.

5. ĐỨC THÁNH KHIẾT ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ CĂN CỨ CỦA TRÁCH NHIỆM ĐẠO ĐỨC LOÀI NGƯỜI:

Kìa, đạo đức ai cũng tôn chuộng, dầu là đứa trẻ cũng biết. Song tại cớ sao người ta tôn chuộng đạo đức? Căn cứ trách nhiệm nó ở đâu? Có nhiều ý kiến. Có kẻ gọi rằng, kẻ có đạo đức thì y quan tề chỉnh,dung mạo đoan nghiêm, khí tượng sáng suốt, cử chỉ ôn tồn, làm cho người ta khởi kỉnh. Kẻ khác rằng, người ta tôn trọng đạo đức là vì nhờ đó mới biết rõ phải quấy,định được chánh tà, mà xã hội được bình yên. Có kẻ nữa luận rằng. Đức Chúa Trời đã ban cho loài người lương tâm, để yêu chuộng đạo đức, nên họ cũng cho sự yêu chuộng ấy bất quá là lẽ tự nhiên, căn cứ nó là lương tâm đó thôi. Nhưng mà các sự suy luận đó chẳng qua là đều theo mỗi sở kiến, chớ chẳng nói đến căn cứ của trách nhiệm đaọ đức được đâu.

a) Luận về phương diện tiêu cực. Do luật đạo đức loài người cảm biết có những trách nhiệm buộc mình phải làm trọn.Các trách nhiệm đạo đức ấy đều từ đâu mà có? Đáp: Theo phương diện tiêu cực thì thấy:

(1) Chẳng phải do năng lực bề ngoài.

a. Trách nhiệm đạo đức chẳng do năng lực của cha mẹ ràng buộc con phải theo. Kẻ làm con vẫn nên vâng lời cha mẹ, ấy vốn là một trách nhiệm của lòng đạo đức đòi buộc. Dầu vậy, kẻ làm con vẫncó thiên lương, dạy rằng duy có lời phải nên vâng, củng có lời quấy phải bỏ; dầu cha mẹ bảo phải làm quấy, cũng chẳng nên làm. Và bởi vì lòng con vẫn có tài tùy cơ ứng biến, có tài lựa chon quyết định, nên chẳng cầnvì cớ sự thuận theo cha mẹ mà phải trái với thiên lương của mình đó.

b. Chẳng phài do năng lực của chánh quyền.Quyền bính của chánh phủ là bởi Đức Chúa Trời ban cho (Ro 13:1-3), bá tánh phải nên vâng phục. Song cũng có khi chánh phủ làm điều phi pháp, thì dân quả không nên trái lương tâm mình mà cử động theo sự phi pháp ấy.

c. Không phải do năng lực của quần chúng ràng buộc. Thật, mọi người hiệp lại thì quyền lực vẫn mạnh. Thế mà hễ lẽ phải,dầu chỉ một người cũng đáng theo; còn trái lại thì dầu muôn người thúc giục,cũng nên bỏ ngay, bởi trách nhiệm đạo đức nghiêm răn rằng không hề nên trái thiên lý mà theo quần chúng bao giờ.

d. Năng lực của Đức Chúa Trời cũng chẳng làm căn cứ của trách nhiệm đạo đức. Tuy chúng ta ở dưới quyền bính của Đức Chúa Trời , hễ không vâng lời ắt không khỏi bị thiệt hại; song chúng ta chẳng vì cớ năng lực Đức Chúa Trời mà buộc phải làm trọn trách nhiệm đạo đức đâu; duy tại vì nghe giọng nghiêm nghị của Đức Chúa Trời dạy rằng:” Hãy nên thánh vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi vốn là thánh.” (Le 19:2) đó thôi.

(2) Chẳng phải lấy ích lợi làm căn cứ.

Hễ có đạo đức thì tất nhiên có ích lợi. Giả như người biết tiết chế, xa bỏ tửu sắc, an cư lạc nghiệp, thì gia đạo phấn chấn,thân thể mạnh khỏe, danh giá càng cao, trong có ích cho gia đình, ngoài có lợi cho xả hội. Mà đạo đức chẵng những có ích cho đời nầy, cũng có ích cho đời sau nữa (IITi 4:8; Thi 16:1).

Chúng ta thường nghe người ta quả quyết đạo đức có ít lợi lắm. Thật vậy, song nếu chúng ta làm theo đạo đức, chỉ vì cớ ích lợi, thì chẳng còn là đạo đức nữa, bèn là sự ích kỷ mà thôi. Chúng ta chẳng nhận sự hành vi cử chỉ của ai là chánh đáng bởi vì là hữu ích; bèn là nhận nó hữu ích vì là chánh đáng vậy. Ví bằng chúng ta công nhận căn cứ của đạo đức là sự ích lợi, thì cũng buộc phải nhận rằng trong cõi đời đời trước kia Đức Chúa Trời sở dĩ thánh khiết là chỉ vì Ngài cũng vụ lợi đó thôi. Bằng vậy, sự thánh khiết bất quá là lợi kỷ chủ nghĩa, và Đức Chúa Trời chẳng còn có tánh đạo đức nữa.

b) Luận về phương diện tích cực.

Vậy, nếu căn cứ trách nhiệm đạo đức chẳng ở nơi năng lực, cũng chẳng ở nơi ích lợi, thì từ đâu mà có? Đáp theo phương diện tích cực thì thấy Kinh Thánh dạy rõ ràng rằng căn cứ của các trách nhiệm đạo đức đều ở nơi đức thánh khiết của Đức Chúa Trời, tức là ở nơi tánh đạo đức trọn vẹn của Ngài. Luật đạo đức ghi ở trong lòng ta và chép ở trong Kinh Thánh đều buộc chúng ta phải vâng theo đức tánh trọn vẹn ấy. Chúng ta nhờ ở ba bằng cớ mà biết.

(1) Điều răn.“Các ngươi phải thánh khiết” (IPhi 1:16). Điều răn ấy bảo chúng ta phải thánh khiết, chỉ bởi vì Đức Chúa Trời là thánh khiết. Trong Mat 5:48, Chúa cũng răn bảo rằng:”Thế thì các ngươi phải nên trọn vẹn như Thiên Phụ các ngươi là trọn vẹn vậy.”Trách nhiệm của lời ấy là phải nên trọn vẹn; còn duyên do của nó là vì chính Cha ở trên trời là trọn vẹn vậy. Thế thì ta đoán rằng: chỉn tại vì chính Đức Chúa Trời là thánh khiết trọn vẹn, nên loài người cũng cần phải thánh khiết trọn vẹn vậy.

(2) Sự yêu thương .Trong luật pháp tỏ ra cả trách nhiệm đạo đức của ta. Christ tóm tắt trách nhiệm ấy trong một điều răn nầy: Mat 22:37

Yêu mến Đức Chúa Trời là yêu mến các đức của Ngài. Đức đầu nhứt là sự thánh khiết. Chỉ kẻ yêu mến Đức Chúa Trời có thể làm trọn cả trách nhiệm của luật đạo đức, như Phao-lô chép rằng: Ro 13:10

Vậy, bổn phận yêu mến Đức Chúa Trời đó chứng minh rằng căn cứ và tiêu chuẩn của trách nhiệm đạo đức là đức thánh khiết của Đức Chúa Trời vậy.

(3) Gương của Christ. Đời sống của Christ biểu minh lòng kính mến Đức Chúa Trời đến điều, tỏ ra tâm chí yêu chuộng ý muốn Ngài hơn hết mọi sự. Ở ngoài Đức Chúa Trời, Christ chẳng còn nhận thấy có điều gì lành (Mac 10:18), và Ngài chỉ bắt chước làm theo điều Ngài thấy Cha làm trước đó thôi (Gi 5:19,30). Tuân theo ý chỉ Đức Chúa Trời trong mọi sự, ấy là cái tổng kê của cả bổn phận ta; còn sự thánh khiết tuyệt đích của Ngài là duyên do có một không hai, giục giã chúng ta phải theo ý chỉ ấy.

Mac 10:18; Gi 5:19,20

II. ĐỨC CÔNG NGHĨA

1. ĐỊNH NGHĨA

Mọi sự suy liệu, quyết định hành động của Đức Chúa Trời đối với muôn vật hữu hình và vô hình đều hiệp lý, chánh đáng và thánh khiết chẳng chỗ nào dư, chẳng nơi nào thiếu, nhưng được hoàn toàn tuyệt đích. Ấy gọi là đức công nghĩa của Đức Chúa Trời. Nói cách khác, đức công nghĩa của Đức Chúa Trời ấy là cách thức Ngài vin theo đức thánh khiết mà đối đãi với loài người.Vả, sự thánh khiết vốn là yếu tố đầu nhứt của bản tánh Đức Chúa Trời; đức công nghĩa là cơ quan biểu dương bản tánh ấy ra, bắt buộc các vị có tâm tánh đạo đức (như thiên sứ và loài người) phải có hạnh kiểm và hành vi xứng hiệp với bản tánh thánh khiết ấy; bằng bất hiệp, thì cứ phép gia hình để trừng phạt ngay.Cho nên điều gì xứng hiệp với bản tánh thánh khiết của Đức Chúa Trời thì luật đạo đức gọi là công nghĩa; điều gì không hiệp gọi là bất nghĩa vậy.

2. KINH THÁNH LÀM CHỨNG

Kinh Thánh có nhiều đoạn sách chứng thực cho đức công nghĩa của Đức Chúa Trời, tỏ ra Ngài mến người công nghĩa, ghét kẻ bất nghĩa. Sau đây xin dẫn ích câu để làm chứng:

Sa 18:25; Phu 32:4; Thi 5:5; Thi 7:9-12; Thi 18:24-26; Mat 5:48; Ro 2:6; IPhi 1:16

Các câu ấy tỏ ra rằng chính tội nhân mà Đức Chúa Trời ghét bỏ, thì Ngài lại cũng yêu thương nữa. Vậy, nói rằng Đức Chúa Trời ghét tội lỗi mà yêu thương tội nhân, không đúng. Kỳ thực, Ngài vẫn vừa thương vừa ghét: ghét vì tội nhân cố ý phản nghịch lẽ thật, xúc phạm sự thánh khiết của Ngài, thương là vì nó vốn là một nhân vật có những lương năng hay làm lành, mà nay lại đã bị tội lỗi làm hủ bại rồi. Kỳ thực, ghét tội ở ngoài cá tội nhân là việc bất năng. Đức Chúa Trời đối với tội nhân chẳng khác gì người cha kia đối với đứa con ngỗ nghịch, dầu cha vì thật yêu thương con, thấy con ngỗ nghịch mà phải đau lòng xót dạ, thì cũng phải đành đuổi nó ra khỏi nhà, mới giữ gia đạo trọn vẹn được.

3. SỰ BÀY TỎ ĐỨC CÔNG NGHĨA CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Đức công nghĩa của Đức Chúa Trời được bày tỏ ra trong ba điều kiện kể ra sau đây:

a) Trong cuộc tạo thành loài người.Chính bản tánh của loài người minh chứng cho sự công nghĩa của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời dựng nên bản tánh loài người là linh hơn muôn vật, và giống như bản tánh của Ngài. Trong bản tánh của loài người vẫn có quan niệm về sự công nghĩa.Kìa, hai đứa trẻ cãi nhau đứa nào cũng cho mình là phải; người đứng giải hòa cũng thường viện lấy vẻ công bình mà nói; hai người kiện nhau ai cũng viện lẽ này lý nọ để được kiện; ấy, thảy đều tỏ r a mình có bản tánh tự nhiên hướng về sự công nghĩa, có tài cân nhắc lý sự đặng đoán định sự gì công nghĩa, sự gì bất nghĩa vậy.Ấy chứng minh rằng Đấng Tạo Hóa có đức công nghĩa, vì loài người được dựng nên theo hình trạng của bản tánh Ngài. Vả lại, trật tự trong xã hội nhờ sự công nghĩa mà được tồn tại. Giềng mối của nước nhà cũng nhờ sự công ngĩa mà chỉnh đốn.Dầu lắm khi xã hội suy đồi, thị phi điên đảo mà cứu cánh lẽ công nghĩa trong lòng người ta vẫn không tắt; bởi vì trong thiên tánh mọi người đều có ấn tượng quan niệm về sự công nghĩa của Đức Chúa Trời.

b) Trong trường chính trị đạo đức.Trong trường chính trị đạo đức, Đức Chúa Trời theo ba phương diện mà bày tỏ đức công nghĩa của Ngài, tức là: (1) pháp luật, (2) thưởng phạt, (3) ghét điều ác mến điều thiện.

(1) Pháp luật. Đức Chúa Trời thiết lập luật đạo đức, ban bố những điều răn công bình, đòi người ta phải làm theo trọn vẹn. Ấy là đức thánh khiết Ngài được tỏ ra trong trường chính trị vậy. Chúng ta xem xét điều răn của Đức Chúa Trời, thì hẳn phải công nhận Ngài là Đấng công nghĩa chẳng sai; vì trong bản tánh mình có lương năng minh chứng rằng luật đạo đức có ghi trong bản ngã, hoặc tạc trong cõi thiên nhiên, hoặc chép trong Kinh Thánh, đều là chí công chí chánh, bắt buộc mọi người phải làm theo cả. Vả, chúng ta sở dĩ phục tùng luật đạo đức chẳng phải vì Đấng luật pháp có oai quyền vô song, bèn là vì luật pháp ấy bởi chính Chúa công nghĩa ban bố ra, lương tâm tự nhiên công nhận là chí công chí chánh, buộc mình phải vâng theo hết thảy.

(2) Sự thưởng phạt.Trong trường chính trị đạo đức Đức Chúa Trời cũng tỏ ra Đức công nghĩa Ngài bởi sự thưởng phạt. Hễ ai vâng theo luật pháp đều được thưởng; còn ai trái luật pháp phải bị phạt. Vả, Đức Chúa Trời đã là Đấng công nghĩa, thì Ngài cũng chiếu theo lẽ công nghĩa mà thi hành sự thưởng phạt. Dầu Ngài ban ân điển cho ai, thì cũng chẳng thiên vị ai đâu; dầu hình phạt ai cũng chẳng bất công; vì Đức thánh khiết Ngài hằng chủ trương phải theo sự công nghĩa tuyệt đối mà thi hành mọi sự.Khi thi ân, lúc gia hình, Ngài cũng chẳng tẽ đường công nghĩa chút nào. Còn luật pháp mà Ngài theo đễ phán đoán thưởng phạt đó; ấy là đức thánh khiết của Ngài;cái gì thích hiệp với đức ấy là công nghĩa; còn cái gì không thích hiệp là bất công bất nghĩa vậy. Những câu kể sau đây chứng rằng Đức Chúa Trời hằng theo nghĩa công lẽ công nghĩa mà thưởng người công nghĩa, phạt kẻ gian ác:

(a) Thưởng người công nghĩa:

IITi 4:8; He 6:10; (Cũng xem IVua 8:32; Thi 98:1-3;103:6.)

(b) Phạt kẻ gian ác:

IITe 1:6-7 (Cũng xem Thi 7:9-11; Thi 129:1-4; Da 9:12-14; Kh 16:5,6.)

Vả, có kẻ cãi rằng:”Từ xưa đến nay biết bao điều trong cách Đức Chúa Trời thưởng phạt người đời nay hình như là bất công bất nghĩa vậy. Kìa, ông thiện này buồn dười dượi, bà ác kia vui hỉ hả, bác bất nghĩa nọ giàu lút mặt, còn chú hiền lành kia nghèo cháy da. Như vậy sự công nghĩa của Đức Chúa Trời ở đâu?” Đáp: Những sự ấy bất quá là vì con mắt của chúng ta thấy được nửa mặt, nên không biết đầu đuôi trọn vẹn các sự ấy được.Duy một mình Đức Chúa Trời biết nguyên nhân của sự vui vẻ cực khổ, sự giàu sang nghèo hèn của người đời; ở ngoài Ngài chưa hề có ai lấy chí lý đích xác để tỏ bày cho người đời thông hiểu nguyên nhân ấy. Song kịp đến ngày phán xét ai nấy đều sẽ rõ mọi sự, biết rằng các sự thưởng phạt của Đức Chúa Trời hoặc trong đời nầy hay đời sau, thảy đều theo lẽ công bình nhân nghĩa trọn vẹn cả.

(3) Sự ghét điều ác mến điều thiện.Suy xét về Đức Chúa Trời dụng hình trong cuộc thống trị loài người, thì có nhiều kẻ lầm hiểu nguyên nhân của sự ấy. Có kẻ nói Đức Chúa Trời dụng hình:

(a) Cốt để khiến người ta ăn năn. Thuyết ấy không hiệp với lòng thị phi của người đời, bởi ai ai cũng kể kẻ có tội đáng chịu hình, chớ không ai luận đến sự gia hình đó có thể khiến người ấy ăn năn hay không. Mà kẻ thọ hình nếu tấm lòng phải quấy còn cử động, ắt cũng tự nhận rằng chịu hình phạt là phải lẽ lắm. Vả lại, nếu quả như thuyết nầy thì sự hình phạt địa ngục đặt ra làm chi? Còn kẻ có tội mà biết ăn năn rồi thì không phải chịu phạt gì cả. Song chúng ta thường thấy kẻ ăn năn chữa lỗi, cũng tình nguyện thú phục tội hình, rồi sau lòng mới bình an. Ấy há chẳng chứng rằng mục đích của sự dụng hình chẳng phải là sự để khiến ăn năn, bèn là để bày tỏ đức tánh Đức Chúa Trời cực điểm đối nghịch với tội lỗi cực điểm đó ư?

(b) Để làm cho người ta dời qua điều lành.Có kẻ luận rằng Đức Chúa Trời sở dĩ dụng hình vì muốn người ta dời qua điều lành; bởi vì hễ thấy sự hình phạt người ta đã chịu nếu là đúng luật, thì có thễ khiến cho họ sanh lòng ưa điều lành ghét điều dữ. Song điều tai nghe mắt thấy,thì lắm kẻ dầu chịu hình phạt bao nhiêu, lại càng cứng lòng mà nịch điều dữ bấy nhiêu (Xem Xu 9:23-27; Xu 9:34; Kh 9:20-21).

(c) Để bảo tồn luật đạo đức. Người ta sa vào tội lỗi, đều là can phạm đến luật đạo đức. Đức Chúa Trời cần vì ngôi nước Ngài mà phải hình phạt kẻ trái luật mới bảo toàn luật ấy được. Ý ấy dầu một mặt là chân thật, thì cũng chưa đủ lý tỏ ra nguyên nhân của sự dụng hình; bởi vì nếu quả như thuyết này, thì có thể bắt lẽ rằng loài người vì luật pháp mà tạo ra,chớ không phải luật pháp được lập ra vì cớ ích lợi cho loài người.

Vậy thì Đức Chúa Trời dụng hình vì duyên cớ nào? Nói tóm một lời, là vì Ngài ghét điều dữ mến điều lành. Bản tánh của Ngài bao giờ cũng phản đối sự dữ, đến đỗi hễ thấy chỗ nào có sự giữ, thì tự nhiên thấy phản động gia hình ngay. Còn sự dụng hình ấy là cực công nghĩa, vì xứng hiệp với đức thánh khiết của Ngài, biểu minh rằng Đức Chúa Trời hằng ghét sự ác mà mến sự thiện vậy (xem Xu 9:23-27; IISu 12:5,6)

c) Trong sự tha tội.

Giăng chép rằng: “Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công nghĩa, ắt tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi sự bất nghĩa” (IGi 1:8). Câu ấy minh chứng rằng sự tha tội bày tỏ sự công nghĩa của Đức Chúa Trời. Thế nào vậy? Ấy vì Christ đã chuộc hết tội của chúng ta rồi; và Đức Chúa Trời đã hứa hễ ai tin nhận Ngài, sẽ được tha tội. Cho nên hễ ai nhận tội mình mà nương cậy nơi Christ thì được Đức Chúa Trời tha tội cho; vì Ngài vốn Đấng thành tín giữ lời hứa, Đấng công nghĩa, không hề lại đòi tế lễ gì nữa để đền tội lỗi cho chúng ta.

d) Trong sự giữ lời hứa.

Tiên tri Nêhêmi chứng rằng Đức Chúa Trời nhờ sự giữ lời hứa với dân sự mà bày tỏ đức công nghĩa Ngài (Ne 9:7,8). Đức Chúa Trời đã là công nghĩa nên cũng chắc sẽ giữ lời hứa với chúng ta, cũng như xưa kia Ngài đã giữ lời hứa với Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp vậy. Hẳn chẳng có điều gì trên trời, dưới đất, hay là trong địa ngục có đủ quyền khiến cho Đức Chúa Trời thất tín với ta; Ngài chắc giữ vẹn lời hứa, vì lời ấy được đức công nghĩa Ngài bảo lãnh vậy.

e) Trong sự giải cứu kẻ công nghĩa.

Trước giả Thi 129:1-4 chép: “Từ khi tôi còn thơ ấu, chúng nó thường hà hiếp tôi, Y-sơ-ra-ên đáng nói, Từ khi tôi còn thơ ấu,chúng nó thường hà hiếp tôi, nhưng không thắng hơn tôi được. Các nông phu cày trên lưng tôi, Xẻ đường cày mình dài theo trên đó. Giêhôva là công bình; Ngài đã chặt những dây kẻ ác.” Câu ấy dạy rằng Đức Chúa Trời bày tỏ sự công nghĩa Ngài mà giải cứu dân sự khỏi tay kẻ ác. Trải qua các đời, dân sự Đức Chúa Trời thường bị kẻ ác hà hiếp áp chế, nhưng không sớm thì muộn họ chắc được toàn thắng,vì đức công nghĩa của Đức Chúa Trời giục giã Ngài phải chổi dậy, dùng lẽ công bình mà xử đoán duyên cớ của họ. Một mai dân Ngài được đứng vào địa vị mới, sẽ hát bài khải ca, hớn hở không xiết kể, vì “ở đó những kẻ hung ác thôi rầy rạc,và các người mỏn sức được yên nghỉ” (Giop 3:17).

III. ĐỨC NHÂN ÁI

Đức nhân ái của Đức Chúa Trời có hai phương diện, tức là sự nhân từ và sự yêu thương. Đức Chúa Trời thường dùng ai đức ấy mà đối đãi loài người, vô luận la người công nghĩa hay là kẻ bất nghĩa cũng vậy.Xin theo hai phương diện ấy mà kê cứu qua đức nhân ái.

1. SỰ NHÂN TỪ

a) Định nghĩa.Lòng nhân từ (thương xót) của Đức Chúa Trời là tâm đức khiến cho Ngài thương xót kẻ có tội, mà ban ơn thuộc linh và thuộc thể cho họ, đến đỗi dầu chính Ngài phải chịu khổ nạn đến điều trong khi ban ơn ấy, cũng chẳng chán nản đâu,Phao-lô chép:

Eph 2:4; Ro 5:8

Lại lòng nhân từ Ngài khiến cho Ngài giáng các hạnh phước tốt nhất cho con cái vâng phục của Ngài, Phao-lô lại chép: Ro 8:32.

b) Kinh Thánh làm chứng.Kinh Thánh minh tả và chứng thực cho lòng nhân từ (thương xót) của Đức Chúa Trời.Thi 103:8

Chúng ta đáng lẽ bị khổ, nghèo, và chết, vì ấy là lương hướng của tội lỗi. Nhưng Đức Chúa Trời đã dung thứ ta, cứu mạng sống ta, ban sức mạnh cho ta, thêm các hạnh phước an cư lạc nghiệp cho ta với sự sống đời đời nữa. Phu 4:31

Xưa Đức Chúa Trời sỡ dĩ không bỏ dân Y-sơ-ra-ên là vì lòng nhân từ (thương xót) của Ngài. Hiện nay Ngài chẳng bỏ chúng ta, cũng chỉ bởi lòng nhân từ ấy. Cũng nhân vì Đa-vít biết: “Chúa là Đức Chúa Trời hay thương xót và làm ơn, chậm nóng giận, có sự nhân từ và sự chân thật dư dật”, nên ông mới dám tin chắc rằng Đức Chúa Trời chẳng hề lìa bỏ mình trong cơn hoạn nạn quá khổ kia (Thi 86:15). Truyện tích về con hoang đàng trong Lu 15:11-32 cũng mô tả lòng nhân từ của Đức Chúa Trời, tỏ ra Ngài không những là vui tiếp kẻ ăn năn trở lại, nhưng lại có lòng rất mong mỏi ước ao kẻ có tội mau mau trở về với Cha hay thương xót đó vậy.

c) Sự bày tỏ lòng nhân từ của Đức Chúa Trời.Nói đại khái, thì Đức Chúa Trời sẵn lòng ban ơn phước cho muôn vật thọ tạo, nhứt là cho kẻ tận tâm tìm cầu Ngài. Trước giả Thi thiên chép rằng: Thi 86:5

Đức Chúa Trời cũng hành quyền cao cả mà ban ơn thương xót cho người ta tùy ý chỉ Ngài muốn cũng như Phao-lô đã chép: Ro 9:18

Kê cứu qua Kinh Thánh thì thấy Đức Chúa Trời thường tỏ lòng nhân từ Ngài mà thương xót tội nhân, và ban ơn cho tín đồ.

(1) Thương xót tội nhân: Lu 6:36; Mat 5:45

Hai câu ấy dạy rằng Đức Chúa Trời ban ơn thương xót cả người thiện cùng kẻ ác. Nếu Ngài ban ơn dư dật cho kẻ cứng lòng không chịu ăn năn đó, ấy cốt để khiến họ biết ơn mà ăn năn. Tiên tri Ê-sai dạy rằng hễ ai biết ăn năn thì Đức Chúa Trời sẵn lòng thương xót và tha thứ cho cách dồi dào. Es 55:7

Nhưng ta khá ghi nhớ rằng, ơn thương xót của Đức Chúa Trời do lòng thánh khiết chủ trị; nên Ngài chẳng hề bào chữa và che đậy tội lỗi đâu, bèn trông mong tội nhân ăn năn để Ngài có thể bày tỏ lòng nhân từ mà tha thứ họ. Lòng nhân từ của Đức Chúa Trời chẳng khác nào nơi trú ẩn của kẻ biết ăn năn: song kẻ cứng lòng chẳng thế nào nương cậy nơi đó hầu mong được cứu đâu (xem Gio 20). Kinh Thánh dạy rõ ràng lắm rằng hễ ai muốn được Đức Chúa Trời thương xót, phải thú tội, lìa bỏ nó, mới được như nguyện. Vì ai lìa bỏ tội,nương cậy nơi lòng nhân từ của Đức Chúa Trời chắc được ơn tha thứ dồi dào.

Ch 28:13; Thi 51:1

Vả lại, Kinh Thánh cũng dạy rằng Đức Chúa Trời bày tỏ lòng nhân từ mà Ngài khoan nhân đối với tội nhân. Kỳ thực, nếu Ngài lấy sự công bình mà xử họ, thì họ đã bị tận diệt rồi.

IIPhi 3:9; He 9:31

Than ôi! Đức Chúa Trời thấy loài người đầy dẫy gian ác, ô uế, tội lỗi tràn trề, khiến cho Ngài phải gớm ghê là dường nào! Tuy Ngài có quyền tuyệt diệt họ trong nháy mắt, thì Ngài cũng chẳng nỡ; trái lại Ngài khoan nhân, khuyên bảo, nài nỉ và hy sinh mình để tỏ cho họ biết lòng yêu thương của Ngài, mong rằng họ xúc cảm lòng ấy mà ăn năn. Chúng ta khá coi chừng,e chúng ta lạm dụng lòng nhân từ lớn lao ấy, mà cứ cứng lòng, e rằng Đức Chúa Trời phải theo nghĩa nộ phừng phừng mà trừng phạt chúng ta chăng; vì Đức Chúa Trời cũng là “đám lửa hay thiêu đốt” (He 12:29) vậy.

(2) Làm ơn cho tín đồ. Đức Chúa Trời cũng bày tỏ lòng nhân từ mà ban ơn cho tín đồ. Thi 32:10

Câu ấy dạy rằng hễ con cái Chúa nương cậy nơi Ngài, tức thì khiến cho lòng nhân từ Ngài phù hộ người như một cha tự nhiên phù hộ con dại biết nhờ cậy mình vậy. Hễ lúc nào ta phó mình cho Chúa, thì sự nhân từ Ngài liền vây phủ ta, đứng xung quanh ta một thành lũy kiên cố, chẳng có thù địch nào xô đổ thành ấy, hoặc ai tài nào xông vào làm hại ta được. Hễ ai chống cự Chúa ắt khó tránh khỏi nỗi đau đớn vây hãm; còn ai nương cậy nơi Ngài ắt được an nhiên vô sự ở trong lòng nhân từ của Ngài. Đức Chúa Trời cũng tỏ lòng thương xót mà chữa bệnh cho kẻ đau ốm (Phi 2:27), cả bệnh thuộc thể lẫn bệnh thuộc linh (Thi 6:2-4). Ngôi nước của các vua chúa được vững bền, cũng chỉ tại lòng thương xót của Đức Chúa Trời (Thi 21:7). Thực, ta có thể quyết đoán rằng,nếu sự cứu rỗi ta được còn đến đời đời, cũng chỉ tại lòng nhân từ của Đức Chúa Trời hằng đối với chúng ta đến vô cùng vô tận đó thôi (Thi 136).

Phil 2:27; Thi 6:2-4; Thi 21:7; Thi 136:23-24.

2. SỰ YÊU THƯƠNG

Duy đạo Christ lấy tình yêu thương làm trung tâm điểm. Đức Chúa Trời nhờ đạo ấy mà bày tỏ lòng yêu thương tối cao đối với loài người, đến đỗi cái động cơ của cách Ngài đối đãi họ chỉ là sự yêu thương mà thôi. Xét qua các đạo khác thì thấy tỏ ra nào những thần giận hờn ghen ghét,ganh tị, có tánh rất ghê gớm. Hễ ai thờ phượng các thần ấy, phải dùng lễ này vật kia để khẩn đảo cúng bái mới mong được nhậm. Thần của đạo Christ chẳng như vậy đâu, vì Ngài vốn là Đức Chúa Trời của sự yêu thương vậy.

a. Kinh Thánh thường chứng thực cho sự yêu thương của Đức Chúa Trời, minh huấn rằng Ngài không những là yêu thương mà lại chính Ngài là sự yêu thương. Sự yêu thương là nguyên tố của bán tánh Ngài. Ngài cư trú và hành động trong phạm vi yêu thương; cũng là nguồn gốc của sự yêu thương chân chính nữa. Giải nghĩa sự yêu thương thật khó, người phàm không tài nào tả nổi. Song nếu kê cứu hai câu viện dẫn ra dưới đây và nhiều câu khác nữa cũng chứng về sự yêu thương của Đức Chúa Trời, thì rõ ràng tình yêu thương hằng giục giã Ngài muốn ban phước hạnh thuộc linh và thuộc thể cho loài người, đến đỗi vui lòng hy sinh mình, chịu đau khổ vô cùng đặng làm việc ấy.

Gi 3:16; IGi 4:8,16 (Cũng xem Mat 5:44-45)

b. Đối tượng của sự yêu thương Đức Chúa Trời.Vả Đức Chúa Trời yêu thương những ai? Xin đáp:

(1) Con độc sanh của Ngài. Kinh Thánh chứng rằng Jesus Christ là Đối tượng đầu nhứt của tình yêu thương Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời yêu thương Ngài một cách riêng, vì Ngài là Con độc sanh đẹp lòng Đức Chúa Trời mọi đàng. Vả, bản tánh Đức Chúa Trời là vĩnh viễn. Mà nếu từ trước vô cùng đã có tình yêu thương của Đức Chúa Trời, thì rất hữu lý mà đoán rằng tình ấy phải có một đối tượng cũng vĩnh viễn. Kinh Thánh dạy rằng đối tượng ấy là Con độc sanh của Đức Chúa Trời. Thành thử, tình yêu thương của Cha đối với Con minh chứng rằng Con vĩnh hữu cũng như Cha vĩnh hữu vậy.

Mat 3:17; Gi 17:24

(2) Các tín đồ trong Jêsus Christ. Đức Chúa Trời vẫn yêu thương chung cả mọi người, nhưng Ngài yêu thương những kẻ bởi đức tin liên hiệp với Con Ngài cách đặc biệt. Jêsus Christ vốn Đối tượng đầu nhứt của sự yêu thương Đức Chúa Trời. Rồi kẻ nào tín nhận Con được đồng đứng trong một địa vị với Con, và được Đức Chúa Trời yêu thương bằng tình yêu thương Ngài đem mà yêu thương Con độc sanh của Ngài vậy. Chúa Jêsus chứng rằng: Gi 16:27; Gi 14:21-23; Gi 17:23

(3) Cả thế gian. Đức Chúa Trời không những chỉ yêu thương tín đồ, nhưng cũng yêu thương cả thế gian nữa. Chúa Jêsus phán cùng Ni-cô-đem rằng: Gi 3:16

Ni-cô-đem nghe lời ấy thì thấy làm lạ, vì ông tin rằng Đức Chúa Trời chỉ yêu thương dân Do Thái mà thôi. Nhưng nay Christ tỏ ra Đức Chúa Trời không những là yêu thương dân Do Thái theo như thành kiến sai lầm của họ thôi đâu, mà cũng yêu thương cả dân ngoại bang nữa. Ngài chẳng những yêu thương một phần của giồng giống loài người, mà lại thật yêu thương cả loài người, vô luận là thuộc về chủng nào, nước nào, hoặc người thiện kẻ ác, hoặc có tội ít hay nhiều; vì Ngài chẳng tây vị ai, song muốn mọi người được cứu rỗi và đạt đến sự thông biết lẽ thật (ITi 2:4).

c. Sự bày tỏ tình yêu thương của Đức Chúa Trời.Vả, tình yêu thương của Đức Chúa Trời được bày tỏ như thế nào? Nói đại khái thì được bày tỏ theo ba cách:

(1) Bởi sự hi sinh vô hạn vô lượng để cứu chuộc loài người. Thánh Giăng luận về vấn đề này có chép rằng: IGi 4:9-10

Tình yêu thương của Đức Chúa Trời chẳng những là thương hại chúng ta, nhưng tự bày tỏ mình ra trong sự hi sinh mình cách đau khổ để cứu chuộc chúng ta. Thập tự giá biểu minh cả lòng yêu thương của Đức Chúa Trời đối với tội nhân, Ngài không những là phó một con, bèn là phó Con độc sanh của Ngài để phó chúng ta khỏi tội. Ro 5:6-8

(2) Bởi sự tha thứ tội. Đức Chúa Trời cũng bày tỏ lòng yêu thương Ngài mà tha tội cho người ta. Tiên tri Ê-sai tường thuật sự từng trải mình mà rằng: Es 38:17

Đời sống của tiên tri bị lắm nỗi đắng cay;nhưng Đức Chúa Trời nhơn lòng yêu thương của Ngài ném mọi tội lỗi của người ra sau lưng Ngài, ban cho người được bình an êm dịu vô song. Phao Lô cũng dạy rằng: Eph 2:4-5

Trong Eph 2:1-3 Phao lô tỏ ra giống loài người đang kéo nhau đồng đi trên con đường hư mất chẳng chỗ nào nương cậy. Nhưng khi họ đến chỗ cùng vô sở xuất, vô phương khả đảo nữa, thì Đức Chúa Trời bèn can thiệp, giơ tay quyền năng Ngài ra mà cứu chuộc họ khỏi sự hư mất, tha tội cho họ,và ban cho họ đồng hưởng được một địa vị với Jêsus Christ ở trong nước của Ngài. Cái động cơ khiến cho Đức Chúa Trời thi hành cách diệu kỳ ấy là lòng yêu thương của Ngài vậy.

(3) Thi ân cho con cái Ngài. Đức Chúa Trời hằng tỏ lòng yêu thương Ngài mà ban ơn cứu rỗi con cái của Ngài. Tiên tri Ê-sai chép: Es 63:9

Trong câu ấy tiên tri tỏ ra Đức Chúa Trời yêu thương dân Ngài, đến nỗi hễ khi họ chịu khốn khổ, thì chính Ngài cũng đồng chịu khốn khổ với họ. Ngài đồng đi với họ, cứu họ, và phù hộ họ trong cả đường khó khăn hiểm trở của đời nầy. Ê-sai lại chứng rằng: Es 49:15,16

Người đời cho tình mẫu tử là cao hơn núi, rộng hơn biển, mạnh hơn dòng nước. Nhưng tình yêu thương của Đức Chúa Trời lại là lớn,rộng, và mạnh muôn phần hơn vậy. Vì người mẹ có thể quên con mình cho bú; nhưng Đức Chúa Trời chẳng hề quên được dân của Ngài đâu bao giờ.

Có khi tình yêu thương của Đức Chúa Trời dường như bị đám sương mù che khuất, vì trong vòng tín đồ chúng ta thường thấy ông nầy hay lâm hoạn nạn, bà nọ gặp nhiều nỗi ưu sầu; kẻ thì nghèo khổ cơ cực, người lại lưu lạc bơ vơ, đến nỗi ta muốn hỏi: Sự công bình của Đức Chúa Trời ở đâu? Làm sao Ngài vô tình như thế? Song nếu chúng ta kê cứu Kinh Thánh, thì thấy người đời chỉ được hạnh phước ấy cùng mất luôn với họ. Con đường của tín đồ dầu gặp lắm khúc eo hiểm đáng thương, dầu phải lâm cơn cùng khốn, thì vẫn có cánh tay Đức Chúa Trời gìn giữ dẫn dắt, tiêu trừ mọi sự ngăn trở, hằng cứu khỏi các sự thiệt hại. Sự cứu trợ ấy ta không thấy được, vì dường như Chúa giấu mình trong cơn hoạn nạn đó. Thế mà, khi ta đã vượt qua các sự khổ nạn rồi, xét lại thì thấy mình được toàn cứu là chỉ tại vì Đức Chúa Trời lấy lòng yêu thương mà giải cứu mình đó thôi.Tiên tri Sô-phô-ni chép: So 3:17

IV. ĐỨC CHÂN THÀNH

Đức chân thành của Đức Chúa Trời có hai mặt,tức là sự chân thật và sự thành tín. Ngài dùng cả hai sự ấy trong khi Ngài đối đãi với loài người. Hoặc tín đồ hay người ngoại đều dự phần đến sự chân thật và thành tín của Ngài cả.

1. SỰ CHÂN THẬT

Chúng ta thường thấy người đời không chân thật.Họ rất tối tăm về lẽ phải quấy, hay cưu mang ý riêng, nên vì cớ đó mà mất lẽ chân thật. Đức Chúa Trời là Đấng hay biết rất sáng, không tây vị, trong mọi việc hằng lấy lẽ chân thật làm chủ. Kinh Thánh làm chứng cho sự chân thật của Đức Chúa Trời rằng:

Thi 138:2; Gi 3:33; Ro 3:4; Gi 14:17

a) Định nghĩa. Vả,sự chân thật của Đức Chúa Trời có nghĩa gì? Xin đáp:

(1) Tánh chất của Đức Chúa Trời là chân thật. Đức Chúa Trời là chân thật không dối trá. Ngài chẳng những đối đãi loài người và muôn vật cách chân thật, mà chính bản tánh Ngài vẫn là chân thật; cho nên hoặc trong việc làm, hoặc trong lời nói thì Ngài là chân thật trọn vẹn. Kinh Thánh xưng Đức Chúa Trời là A-men (Kh 3:14), và dạy rằng trong Christ chúng ta cũng nhận sự ấy là như vậy (IICo 1:20); bởi vì sự chân thật là đức tánh cội rễ của Ngài, nên mới gọi Ngài là Chân Thần vậy.

Kh 3:14; IICo 1:20; Gi 17:3

(2) Lý luận của Đức Chúa Trời là chân thật. Chẵng những chính Đức Chúa Trời là chân thật, Ngài lại làm cội rễ của mọi lẽ chân thật.Vả, mọi sự vật trong vũ trụ đều có định lý chắc chắn cả. Ví như người đốn cây lớn,xem những thớ ở trong cây, thì biết được cây ấy đã sống bao nhiêu năm, bởi vì ở trong đó tỏ ra chân lý. Lại như thứ tự của bốn mùa đông đi xuân về, hè qua thu đến, muôn đời không hề thay đổi, cũng như Đức Chúa Trời đã hứa với Nôê rằng: Sa 8:2

Lời ấy rất đáng tin và có lý nghiệm lắm. Mà xét ra mọi sự vật trong bầu trời trái đất, thảy đều có định lý không hề thay đổi,chẳng hề sai chạy bao giờ. Còn thực sự ấy há chẳng minh chứng rằng Đức Chúa Trời mà đã định lý cho muôn vật như thế cũng là Đấng chân thật sao?

(3) Lời phán của Đức Chúa Trời là chân thật. Đức Chúa Trời đã là chân thật, thì lời phán của Ngài cũng là chân thật. Kinh Thánh chứng rằng:

Gio 23:14; Thi 89:34; Thi 119:89

Duy một mình Ngài là Đấng chân thật, nên hễ Ngài giao ước điều gì với loài người, thì thực hành cả thảy. Lời hứa của Ngài chẳng hề bỏ luống đâu. Phao lô chứng rằng:

IICo 1:19; Tit 1:2; He 10:23. (Cũng xem Thi 105:42; Lu 1:54-55)

Kinh Thánh chứa đầy những lời hứa rất quý. Hễ ai tín nhận và làm theo điều kiện Chúa đã chỉ cho, ắt hưởng được hết thảy, chẳng một lời nào sai chạy cả. Quả như thánh Giăng dạy rằng: IGi 1:9

(4) Sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời là chân thật. Sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời chẳng phải một sự mơ hồ huyền ảo không bằng cớ đâu;bèn là sự chắc chắn vững vàng, do bản tánh của Đức Chúa Trời, đời đời chẳng hề thay đổi. Kinh Thánh chứng

Thi 3:8; IITi 1:9; ITe 5:9; Thi 34:22. (Cũng xem Phu 32:15; IISa 22:47)

Chính Đức Chúa Trời là hòn đá của sự cứu rỗi ta, hễ ai nương cậy nơi Ngài chẳng hề bị hổ thẹn. Ngài đã nhờ Christ làm xong sự cứu rỗi ấy; nên trước giả thơ Hê-bơ-rơ cũng chứng rằng: He 7:25

Còn mọi lời hứa của Đức Chúa Trời về sự cứu rỗi ấy đều là phải và chân thật trong Christ Jêsus cả cho những kẻ công nhận Ngài; nên Phao Lô quyết rằng: IICo 1:18,20

b) Hạnh phước do sự chân thật của Đức Chúa Trời mà ra. Vả, đức chân thật của Đức Chúa Trời có hạnh phước gì cho loài người không? Có nhiều lắm, đây xin chỉ kể ra bốn điều thôi.

(1) Thiên tánh chân thật. Bởi sự chân thành của Đức Chúa Trời loài người nhận lãnh được thiên tánh chân thật.Thực sự ấy đều được thí nghiệm ở trong lương tri của mọi người. Dầu rằng trong trần thế có lắm kẻ giả dối lường gạt, thì bậc quân tử chân thật cũng chẳng thiếu.Thực, nếu trong thế gian chẳng có lẽ chân thật, thì xã hội chẳng được vững chãi. Vì như chẳng còn ai là chân thật, thì hành khách không một ai dám đi tàu đi xe, vì sợ e người tài công làm cho xe lật tàu đắm. Lại nếu đói thì chẳng ai dám ăn, khát chẳng ai dám uống, vì sợ e bồi bếp bỏ thuốc độc vào đồ ăn thức uống chăng. Nếu kẻ nầy dối gạt, người kia lường lận, ai nấy đều đua nhau sống trong sự gian trá, thì xã hội quả như tơ vò, chẳng ai ở đời được. Song may thay! Đức Chúa Trời là chân thật, khi Ngài dựng nên loài người thì ban cho họ cũng có lương năng chân thật như Ngài. Nhờ hạnh phước lớn lao ấy loài người mới ăn ở chung đụng trên địa cầu này được.

(2) Bản năng không lừa dối. Nếu biết Đức Chúa Trời là chân thật, thì cũng nhờ đó mà biết các bản năng mà Ngài đã ban cho mình không lừa dối mình. Hễ khi mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, miệng nếm, tay rờ, nếu ngũ quan ta không bịnh tật, thì biết nó chẳng lừa gạt mình đâu; đều mình xem, nghe, ngửi, nếm và rờ đó, đều có thật như ngũ quan đã cảm biết vậy. Khi lý tánh đoán rằng vũ trụ này phải có mục đích đặc biệt, công hiệu phải có căn nguyên, linh giới phải có luật thưởng phạt như trần giới, làm thiện được phước, làm ác bị họa, thì biết sự đoán định như thế rất đúng đắn, vì do bản năng bởi Đức Chúa Trời chân thật dựng nên vậy.

(3) Sự khải tị chân thật. Nhờ sự chân thật của Đức Chúa Trời mà loài người lãnh được sự khải thị rất chân thật.Sự khải thị hoặc trong cõi thiên nhiên, hoặc trong Kinh Thánh chẳng hề phản đối nhau, bèn là thảy đều tương hiệp cách rập ràng vậy. Lại nhờ sự chân thật của Đức Chúa Trời, ta có thể đoán rằng sự hiểu biết thêm về sau chẳng phản đối với sự khải thị quá khứ, nhưng nhờ sự hiểu biết sau đó ta sẽ càng thấy sự khải thị trước kia còn giấu nhiều lẽ thật sâu nhiệm mà mình chưa hề nghĩ đến bao giờ.

(4) Sự bình yên. Lắm điều trong công việc của Đức Chúa Trời chúng ta không hiểu nỗi, nhiều ý tưởng Ngài, trí khôn ta không giải tỏ được. Thấy vậy lòng vô tín có thể khiến cho mình bối rối sờn lòng, nản chí. Nhưng hễ nhớ lại Đức Chúa Trời là Đấng chân thật,thì biết chắc chắn rằng công việc Ngài làm đều phải cả, ý tưởng Ngài bày ra cũng rất chánh đáng, vì Ngài chẳng có thể làm quấy hay là bảo ai làm gì không xứng hiệp với sự chân thật đâu. Cho nên dầu ta không hiểu thấu việc làm, ý tưởng của Đức Chúa Trời , thì cũng nhờ biết sự nhận biết Đức Chúa Trời là chân thật mà linh hồn ta được bình an; vì ta đồng thinh với Apraham mà đoán rằng: “Đấng xét đoán toàn thế gian, há lại không làm sự công bình sao?” (Sa 18:25). Xưa kia chính Đức Chúa Trời cũng đã phán cùng tiên tri Êsai rằng: “Ý tưởng ta chẳng phải ý tưởng các ngươi, đường lối các ngươi chẳng phải đường lối ta. Vì các từng trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối ta cao hơn đường lối các ngươi, ý tưởng ta cao hơn ý tưởng các ngươi cũng bấy nhiêu” (Es 55:8,9). Sự biết chắc điều ấy làm cho lòng ta hằng được an lạc bình tịnh vậy.

2. SỰ THÀNH TÍN.

Đức Chúa Trời lấy lòng thành tín mà đối đãi với loài người, cả tín đồ lẫn kẻ không tin cũng vậy. Kinh Thánh làm chứng cho sự thành tín của Đức Chúa Trời rằng:

ICo 1:9; ITe 5:24; IPhi 4:19; IICo 1:20.(Cũng xem Dan 23:19; Tit 1:2; He 6:18; He 10:23)

Nhờ sự thành tín của Đức Chúa Trời chúng ta hưởng được những hạnh phước như sau đây:

a) Các lời hứa được ứng nghiệm.Nhân sự thành tín của Đức Chúa Trời, Ngài khiến cho các lời hứa được ứng nghiệm,vô luận lời đó được chép trong Kinh Thánh hay là được bày ra trong cõi thiên nhiên. Những điều Đức Chúa Trời đã hứa cho chúng ta, chúng ta hưởng được chẳng phải vì chúng ta xứng đáng hoặc có công lao gì đáng cho Đức Chúa Trời đoái thương chúng ta đâu, bèn là chỉ tại sự xứng đáng và bởi công lao của Christ đó thôi. Cho nên sự sai lầm của chúng ta chẳng hề khiến cho lời hứa của Đức Chúa Trời bị xóa đi đâu; hễ chúng ta biết ăn năn, nương cậy nơi sự thành tín của Ngài, thì các lời hứa của Ngài hẳn được ứng ngiệm cho ta cả. Giăng xưng Đức Chúa Trời “là thành tín công nghĩa” (IGi 1:9) thành tín đối với lời hứa, công nghĩa đối với Christ để tha tội cho ta.

b) Dự bị mọi sự cần dùng. Sự thành tín của Đức Chúa Trời cũng dự bị cho chúng ta mọi sự cần dùng thuộc thể và thuộc linh, hoặc trong cõi hiện tại hay là trong cõi tương lai cũng vậy.Kinh Thánh chứng rằng:

Thi 84:11; Thi 91:4; Mat 6:33; ICo 2:9

Loài người đã là kẻ có tội và rất bất toàn mọi bề, mà còn biết giữ lời hứa của mình, lấy làm khó chịu về sự thất tín thay, huống chi Đức Chúa Trời là Đấng cực chân thật thành tín, Ngài lại há chẳng giữ lời hứa của Ngài hơn loài người mà chẳng hề thất tín đối với chúng ta sao?

c) Lòng dạn dĩ trong khi cầu nguyện. Sự thành tín của Đức Chúa Trời cũng ban cho ta lòng dạn dĩ trong lúc cầu nguyện. Bởi vì khi chúng ta viện lấy lời hứa của Đức Chúa Trời mà cầu xin điều gì, thì lòng thành tín của Ngài khiến cho ta được đức tin mạnh, đến nỗi cứ nài xin cho đến kỳ nhận được. Bằng chẳng nương cậy nơi sự thành tín của Đức Chúa Trời, thì sự cầu nguyện mình nhận được hay không cũng hóa ra một sự mơ màng khó hiểu, chẳng ai dám chắc rằng lời hứa ấy Chúa sẽ làm ứng nghiệm cho mình hay không. Nhưng biết Ngài là chân thật không hề giả dối, lại là rất thành tín, thì lòng tự nhiên tin mình chắc nhận được điều mình cầu xin đó vậy. Kinh Thánh chứng rằng:

Es 65:24; Thi 50:15; Thi 91:15; IGi 5:14

Chương 7: LUẬN VỀ BA NGÔI HIỆP MỘT ĐỨC CHÚA TRỜI

Đức Chúa Trời là một thể, nhưng chia ra làm ba Ngôi. Lẽ đạo ấy rất sâu nhiệm, không thể lấy tri thức loài người mà đo lường được, cũng không thể nhờ vật lý mà chứng nghiệm được nữa; duy nhờ sự khải thị trực tiếp cũa Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh mới biết được thôi. Lẽ đạo Ba Ngôi chẳng luận về sự thật hữu cũa Đức Chúa Trời, bèn luận về trạng thái của thực hữu ấy (Modallité D’exist Ence). Tra cứu Kinh Thánh thì thấy trong đó theo hai phương diện mà luận về Đức Chúa Trời: mặt nầy thì bầy ra Đức Chúa Trời độc nhứt vô nhị: mặt kia thì tỏ ra ba Đấng đều được xưng là Đức Chúa Trời cả, gọi Cha,Con và Thánh Linh. Tuy ba Đấng ấy đặc biệt chẳng lẫn lộn nhau, thì cũng rõ lắm là ba Ngôi hiệp lại trong một thể yếu rất diệu rất cao. Lẽ đạo này, tuy ngộ tánh phàm nhân không thể thấu rõ nổi, thì nó cũng chẳng tự tương mâu thuẫn đâu, bèn là cái chìa khóa mở ra sự mầu nhiệm của các lẽ đạo khác, tín đồ có linh giác bao giờ cũng vui lòng công nhận là chánh giáo đáng tin đáng nhận mọi bề vậy.

I. KINH THÁNH LÀM CHỨNG CHO ĐẠO BA NGÔI

Muốn kiếm xác chứng về lẽ đạo Ba ngôi thì phải khảo cứu Kinh Thánh. Trong cõi thiên nhiên có bằng chứng về sự thực hữu của Đức Chúa Trời; nhưng chẳng có bằng cớ nào chứng cho lẽ đạo Ba ngôi. Chỉ Kinh Thánh đem xác cứ mà chứng rằng Đức Chúa Trời vốn độc nhất mà lại vẫn là tam vị. Dầu vậy,Kinh Thánh chẳng chỗ nào trực tiếp nói rằng Đức Chúa Trời có ba ngôi, duy ngụ ý dạy lẽ đạo ấy thôi. Nhưng chúng ta có thể nói chắc chắn rằng hễ ai chẳng nhận Kinh Thánh quả đã dạy lẽ đạo ấy, thì cũng chẳng có thể hiểu được Kinh Thánh dạy lẽ gì cả.

1. Cựu Ước làm chứng

Diệu nghĩa của lẽ đạo Ba ngôi là lẽ đạo khải thị, lần lần bày tỏ ra trong bộ Kinh Thánh. Trong Cựu Ước dầu chưa nói rõ ràng,cũng có nhiều đoạn ám chỉ đến, hoặc bằng lời nói hay là bằng hình bóng. Các bằng chứng của Cựu Ước như sau nầy:

a) Danh từ đa số.Chúng ta thử mở Kinh Thánh ra mà xem quyển đầu, đoạn đầu, câu đầu, thì thấy rằng:“ Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất.” Trong nguyên văn Hê-bơ-rơ danh Đức Chúa Trời đây là Elohim, một danh từ đa số (pluriel) ; chữ “dựng nên” là bara,một động từ đơn số (singulier). Danh từ Elohim ấy minh chứng rằng về phương diện trạng thái thực hữu, thì Đức Chúa Trời chẳng phải đơn vị, bèn là đa số, chia ra nhiều Ngôi; còn sự dùng động từ bara theo lối đơn số, ám chỉ rằng các Ngôi ấy đều đồng hiệp như một mà làm việc vậy.

b) Đại danh từ đa số.Trong Cựu Ước Đức Chúa Trời thường dùng đại danh từ đa số “chúng ta” mà tự xưng. Sa 1:26 có chép: “Đức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta.” (Cũng xem Sa 3:22; Sa 11:7; Es 6:8). Cách dùng đại danh từ ấy cũng ám chỉ về lẽ đạo Ba ngôi, chứng rằng trong thể yếu Đức Chúa Trời có đa số.

c) Thiên sứ của Giê-hô-va.Trong Cựu Ước có nói đến một Vị gọi là thiên sứ của Giê-hô-va. Vị ấy thường hiện ra cho các thánh tổ xưa, nhơn danh Giê-hô-va mà phán, tự xưng mình là chính Giê-hô-va; cũng được kẻ khác nhận là Giê-hô-va, và chịu cho họ thờ lạy mình nữa.Những câu Kinh Thánh kể sau đây luận về Vị ấy:

Sa 22:11, Sa 22:16,17; Sa 31:11,13 Sa 16:9,13. (Cũng xem Sa 48:15,16; Xu 3:2,4,5; Cac 13:20-22)

Vậy, thiên sứ của Giê-hô-va là ai? Kê cứu các đoạn sách nói đến Vị ấy, thì dễ biết rằng chẳng phải một vị thọ tạo đâu,bèn chắc là Ngôi thứ hai trong ba Ngôi Đức Chúa Trời, là Đạo (Logos), là Christ trước khi giáng sanh, đã từng hồi từng lúc mượn hình loài người mà hiện ra trong đời (Xem Sa 18:2,13; Dan 3:25,28). Trong Tân Ước cũng có một vị gọi là thiên sứ của Chúa, nhưng vị ấy khác với vị của Cựu Ước; vì vị của Cựu Ước đòi và nhận sự thờ phượng; còn vị trong Tân Ước không cho phép ai thờ lạy mình, chỉ bảo người ta phải thờ phượng Đức Chúa Trời mà thôi. (Xin sánh Xu 3:5 với Kh 22:8,9)

d) Sự khôn ngoan.Trong Châm ngôn đoạn 8 có nói về sự khôn ngoan, bày tỏ vị ấy như có vị cách, từ trước vô cùng đồng thực hữu với Đức Chúa Trời, có tánh cách và thể yếu của Ngài.

Ch 8:1 (Xin sánh với Mat 11:19; Lu 7:35; Lu 11:49).

Ch 8:22; Ch 8:30,31

Trong Ch 3:19 cũng chép rằng:“Giê-hô-va dùng sự khôn ngoan lập nên trái đất.” (Xin sánh với He 1:2). Xem kỹ những câu ấy, thì rõ lắm danh từ “khôn ngoan” đây chẳng nói về quan niệm khôn ngoan đâu; nhưng chắc ám chỉ về Christ, Ngôi thứ hai trong Ba ngôi Đức Chúa Trời.Vị ấy “là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm nên sự khôn ngoan… cho chúng ta” vậy (ICo 1:30).

e) Lời dự tả Mêsi.Cựu Ước có nhiều câu dự tả Đấng Mêsi, tỏ ra Ngài tuy hiệp nhứt với Giêhôva, thì cũng là một Đấng đặc biệt, có Ngôi riêng không lẫn lộn với Đức Chúa Trời. Các câu viện dẫn sau đây ám chỉ rằng Đức Chúa Trời và Đấng Mê-si là một mà lại là hai, tuy là nhứt thể mà lại phân vị, mỗi Đấng mỗi phẩm cách, mỗi ý chỉ riêng vậy.

Es 9:5,6; Mi 5:1; Thi 45:6,7; Mal 3:1

Tóm lại, điều Kinh Cựu Ước khải thị về lẽ đạo Ba ngôi, thì ta phải nhận rằng Cựu Ước chỉ ám chỉ đến lẽ thật ấy, chớ chẳng minh huấn Đức Chúa Trời có Ba ngôi đâu; nhưng lẽ đạo ấy, quả tiềm tàng trong đó như hột giống, chỉ nhờ cơ hội Tân Ước để nảy nở ra đó thôi.

2. Tân Ước làm chứng.

Duy Tân Ước khải thị rõ ràng lẽ đạo về Ba ngôi Đức Chúa Trời, nhận rằng có ba Đấng đặc biệt gọi là Đức Chúa Trời. Sau đây xin dẫn bằng cớ để chứng cho.

a) Cha được nhận là Đức Chúa Trời. Tân Ước luận rất rõ ràng Cha là Đức Chúa Trời, có nhiều câu làm chứng cho; sau đây xin chỉ viện dẫn hai câu mà thôi:

Gi 6:27; IPhi 1:2

b) Jêsus Christ được nhận là Đức Chúa Trời. Tân Ước cũng có nhiều câu hiển nhiên xưng Jêsus Christ là Đức Chúa Trời.

Gi 1:1; Ro 9:5; Tit 2:13; He 1:8; IGi 5:20

c) Thánh Linh được nhận là Đức Chúa Trời.Tân Ước lại có nhiều đoạn sách xưng Thánh Linh là Đức Chúa Trời, gọi Ngài là Thánh Linh của Đức Chúa Trời hay là của Jêsus Christ:

Cong 5:3-4; ICo 3:16; ICo 6:19. (Cũng xem ICo 12:4-6)

d) Lễ nghi Báp têm và lời chúc phước chỉ tỏ ba Ngôi. Khi Jêsus Christ dạy môn đồ về cách phải làm báp têm cho người ta, thì ngầm chứng cho lẽ đạo ba Ngôi, vì chỉ bảo nhân danh Cha, Con, và Thánh Linh mà làm lễ ấy (Mat 28:19). Lời Phao-lô chúc phước cho tín đồ Cô-rinh-tô cũng chứng cho lẽ đạo ấy nữa:

Mat 28:19; IICo 13:19. Cũng sánh các câu ấy với Dan 6:24-27 và Es 6:3.

Xem những bằng chứng ở trên, thì rõ lắm trong Tân Ước có giới thiệu ba Đấng, gọi là Cha, Con, và Thánh Linh; cả ba đều được xưng là Đức Chúa Trời, có đồng tánh, đồng cách, đồng thể, đồng căn, đồng đẳng với chính Đức Chúa Trời. Theo cách Kinh Thánh mô tả ba Đấng ấy, thì buộc phải nhận là luận về ba Ngôi đặc biệt hiệp nhất trong một thể yếu. Bằng chẳng nhận như thế, thì giáo huấn của Kinh Thánh rất mơ hồ, câu này phản đối với câu kia,không còn thể nào ai hiểu nổi được nữa.

II. BA NGÔI HIỆP MỘT THỂ

1. ĐỊNH NGHĨA

Căn nguyên của lẽ đạo ba Ngôi là Duy nhất thần chủ nghĩa. Ba ngôi Đức Chúa Trời chẳng phải là ba Thần đặc biệt, bèn là ba Ngôi ở trong một thể yếu. Chữ Ngôi đây chẳng đồng nghĩa mười phần với ý nghĩa chữ ngôi thường thông dụng cho cá nhân loài người. Bởi vì mỗi ngôi riêng trong vòng loài người là mỗi cá nhân đặc biệt, có bản tánh và thể yếu khác nhau. Nhưng Đức Chúa Trời có ba Ngôi ở trong một bản tánh, một thể yếu, và sự nhứt thể ấy định nghĩa riêng cho chữ “ngôi” đó, bất đồng với chữ “ngôi” của loài người. Có thể nói rằng ngôi của ông Xoài bất đồng mọi bề với ngôi của ông Mít, đến đỗi thể yếu của ông nầy chẳng tương quan với thể yếu của ông kia chút nào. Song trong Đức Chúa Trời ba Ngôi đều do trong một thể yếu mà ra, có một bản tánh và chính là trạng thái về sự thực hữu của Đức Chúa Trời duy nhứt. Dầu vậy, ba Ngôi ấy chẳng lẫn lộn nhau, mỗi Ngôi đều đặc biệt, đứng độc lập, có các nguyên tố của Ngôi riêng.

Bài tín điều Athanase (thế kỷ IV) minh chứng cho ý nầy rằng: “Cha là Đức Chúa Trời, Con là Đức Chúa Trời, Thánh Linh cũng là Đức Chúa Trời; dầu vậy, chẳng có ba Đức Chúa Trời, duy chỉ có một mà thôi. Cũng một thể ấy, Cha là Chúa, Con là Chúa, Thánh Linh cũng là Chúa; dầu vậy, chẳng có ba Chúa, duy có một mà thôi. Như lẽ thật của Cơ đốc giáo buộc chúng ta phải nhận rằng mỗi Ngôi trong ba Ngôi Đức Chúa Trời đều cả thảy là Đức Chúa Trời và là Chúa thể nào, thì chính lẽ thật ấy nghiêm cấm chúng ta nói rằng có ba Đức Chúa Trời hoặc ba Chúa cũng thể ấy.”

Xét về ba người riêng trong nhân loại, thì thấy họ có thể yếu chỉ giống như nhau mà thôi; còn ba Ngôi Đức Chúa Trời đồng có một thể yếu duy nhứt vô phân. Cả thể yếu duy nhứt ấy đều thuộc riêng về mỗi Ngôi, đến đỗi Ngôi nào cũng đều có cả thể yếu, cả thần cách, cả thần đức của Đức Chúa Trời vậy. Cho nên sự đa số trong Đức Chúa Trời chẳng thuộc về thể yếu, bèn là thuộc về Vị cách mà thôi. Chúng ta chẳng nên nói: Đức Chúa Trời là ba Ngôi và một thể yếu: bèn nên nói: Đức Chúa Trời là ba Ngôi trong một thể yếu. Còn thể yếu duy nhứt ấy thực hữu theo ba trạng thái gọi là Cha, Con, và Thánh Linh vậy.

2. CÁC CHỨNG CỚ VỀ BA NGÔI HIỆP MỘT THỂ:

Những bằng cớ sau đây minh chứng cho sự hiệp nhứt của ba Ngôi Đức Chúa Trời.

a. Kinh Thánh chứng rằng Đức Chúa Trời duy nhứt.

Kinh Thánh thường tả ra Đức Chúa Trời là độc nhứt vô nhị. Chính Ngài hằng bảo tuyển dân Ngài rằng:

Phu 6:4; IVua 8:60

Gia cơ cũng dạy rằng: Gia 2:19 “Ngươi tin rằng Đức Chúa Trời duy nhứt, ngươi tin phải; các quỉ cũng tin vậy mà run sợ.”

b. Jesus Christ làm chứng:Chúa Jesus Christ thường làm chứng rằng Ngài với Cha đều hiệp làm một:

Gi 10:30; Gi 17:23; Gi 14:9; Gi 14:11

Chúa Jesus Christ lại chứng rằng Thánh Linh cũng hiệp làm một với Cha và Con nữa:

Gi 14:18; Gi 15:26

c. Sự tương quan Ngôi nầy với Ngôi kia làm chứng: Ai ai cũng biết rằng mọi vật đều bởi Đức Chúa Trời (tức Cha) dựng nên, như có chép rằng: “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất.”(cũng xem Xu 20:8-11) Song nếu khảo cứu Kinh Thánh cho kỹ, thì lại thấy Con cũng dự phần đến cuộc tạo hóa, như trước giả thơ Hê-bơ-rơ đã dạy rằng: He 1:1-3

Thế mà, Con không những dự phần vào cuộc tạo hóa thôi đâu, lại dự đến mọi công việc khác của Cha làm nữa (Gi 5:17,19); hoặc việc bảo tồn muôn vật (He 1:3), hoặc việc cứu chuộc (IICo 5:19; Tit 2:10), hoặc việc phán xét (He 12:23; Gi 5:22; Cong 17:31), thì Ngài đều dự đến cả.

Gi 5:17,19; He 1:3 viện dẫn ở trên. IICo 5:19; Tit 2:10; He 12:23; Gi 5:22; Cong 17:31

Ấy vậy, ta thấy công việc Cha làm cũng gọi là công việc của Con, và công việc Con làm cũng gọi là công việc của Cha; lại chức nhiệm của Cha cũng đồng xưng là chức nhiệm của Con nữa. Thực sự ấy há chẳng chứng minh rằng Cha và Con dầu là hai lại là một, dầu là một lại là hai sao?

Kinh Thánh cũng có nhiều chỗ tỏ cái tương quan của Ngôi Cha với Ngôi Con là thế nào, thì cái tương quan của Ngôi Thánh Linh với Ngôi Cha Con cũng thế ấy. Giăng dạy rằng Con đến thế gian cốt để bày tỏ lẽ thật về Cha (Gi 1:18) Chính Chúa dạy Philip rằng thấy Con tức là thấy Cha vậy (Gi 14:9). Còn về Thánh Linh thì Chúa chứng rằng, Ngài đến cốt để bày ra lẽ thật về Con (Gi 16:13,14).

Gi 1:18; Gi 14:9; Gi 16:13,14;

Trong thơ Êphêsô cũng ám chỉ về sự tương quan của Ba Ngôi Đức Chúa Trời, tỏ ra mỗi Ngôi có tương quan với chúng ta nữa: Eph 4:6

Cũng vì sự tương quan ấy mà Phao-lô xưng Christ là Thần Linh, lại xưng Thánh Linh vừa là Linh của Christ, vừa là Linh của Đức Chúa Trời:

ICo 15:45; IICo 3:17; Ga 4:6; Phi 1:19; Kh 5:6

Ấy vậy, ta thấy rõ Cha, Con và Thánh Linh, cả ba đều đồng kêu tên, đồng một việc, có tương quan rất thân mật với nhau. Còn điều đó há chẳng chứng minh rằng Đức Chúa Trời là Ba mà Một, Một mà Ba sao?

III. BA NGÔI BÌNH ĐẲNG NHAU

Kê cứu Kinh Thánh thì thấy Ba Ngôi Đức Chúa Trời dường như có thứ bực, vì trong đó tỏ ra Cha là Ngôi thứ nhất, Con là Ngôi thứ hai, và Thánh Linh là Ngôi thứ ba. Vậy, về thời gian, về quyền năng, về chức vị, thì trong ba Ngôi ấy há có chia ra trước sau, lớn nhỏ, hơn kém không? Đáp:Chẳng có đâu; vì Đức Chúa Trời là duy nhứt, chia ra ba Ngôi trong một thể yếu,đến đỗi Ngôi nào cũng là Đức Chúa Trời trọn vẹn, nên giữa ba Ngôi ấy chẳng có thể có sự bất đồng, bèn phải có sự bình đẳng mọi bề mới hữu lý.

1. VỀ THỜI GIAN:

Luận về thời gian thì trong ba Ngôi Đức Chúa Trời chẳng có trước sau, vì cả ba đều đồng thực hữu từ trước vô cùng. Song có kẻ nói: “Nếu vậy, thì sao gọi Christ là Con độc sanh của Đức Chúa Trời? Bởi vì hễ gọi là Con, thì phải có lúc Con sanh ra chớ?”

Ta đáp rằng: Tuy Ngôi thứ nhứt gọi là Cha,và Ngôi thứ hai gọi là Con độc sanh của Cha (Gi 1:14–16), thì danh từ ấy chẳng ám chỉ về sự khởi đầu thực hữu, bèn chỉ về sự tương đối đời đời của Con với Cha. Nếu xem xét bản tánh của Đức Chúa Trời thì dễ hiểu hơn. Đức Chúa Trời thực hữu đời đời, chẳng có lúc nào mà Ngài không có. Vả, trong thể yếu Đức Chúa Trời đã có ba Ngôi, là Cha, Con và Thánh Linh. Nếu Đức Chúa Trời thực hữu đời đời,thì ba Ngôi ấy tự nhiên cũng thực hữu đời đời vậy. Nói cách khác, nếu Ngôi Cha chẳng khi nào khởi đầu thực hữu, bèn vẫn có từ trước vô cùng, thì Ngôi Con cũng chẳng hề bắt đầu sanh ra, bèn cũng thực hữu từ trước vô cùng vậy. Vì nếu chẳng có lúc nào mà không có Ngôi Cha, thì cũng chẳng khi nào mà không có Ngôi Con.Giả như nếu có một mặt trời gọi là mặt trời đời đời, thì tự nhiên cũng phải có ánh sáng đời đời để tỏ ra mặt trời ấy mới hữu lý. Vì nếu chẳng có ánh sáng, thì cũng chẳng có mặt trời. Cũng vậy, nếu Ngôi Cha, vốn là nguồn sự sáng đời đời,đã thực hữu từ đời đời, thì Ngôi Con, vốn là sự chói lói của sự sáng ấy, cũng đã thực hữu từ đời đời vô cùng vậy. Cho nên Ngôi thứ nhứt và Ngôi thứ hai đều là thực hữu đời đời cả, từ trước vô cùng Ngôi nầy vẫn là Cha, Ngôi kia vẫn là Con, chẳng chia ra trước sau gì cả.

Về Thánh Linh cũng vậy. Tuy Ngôi thứ ba từ Cha mà ra (Gi 15:26) và bởi Cha và Con mà sai xuống đời, thì lời ấy bất quá là luận về thời gian Ngôi thứ ba hiện ra cùng loài người, chớ chẳng dạy rằng lúc Ngài giáng lâm thì mới bắt đầu thực hữu đâu. Thánh Linh là một Ngôi trong ba Ngôi Đức Chúa Trời. Nếu Đức Chúa Trời, vốn chia ba Ngôi trong một thể yếu, đã thực hữu từ trước vô cùng, thì Thánh Linh là Ngôi thứ ba cũng thực hữu thể ấy.Thế thì, chúng ta thừa nhận rằng về phương diện thời gian, thì ba Ngôi Đức Chúa Trời chẳng chia ra trước sau trên dưới, bèn là đồng thời và bình đẳng nhau mọi bề.

ITi 1:17; Gi 1:1; Gi 8:58; He 9:14

2. VỀ QUYỀN NĂNG

Luận về quyền năng của ba Ngôi Đức Chúa Trời,thì Kinh Thánh dạy rõ chẳng có chia ra lớn nhỏ, cả ba đều có quyền năng bằng nhau. Song có kẻ hỏi rằng: “Chúa Jesus Christ đã xưng Cha là lớn hơn mình (Xem Gi 14:28; Mac 13:32). Vậy, trong ba Ngôi há chẳng có sự phân ra lớn nhỏ sao?”

Ta đáp: Chúa Jesus thật có xưng Cha là lớn hơn mình; nhưng sự lớn nhỏ ấy chẳng thuộc về thể yếu của thần tánh; bèn thuộc về phận sự và thứ tự trong động tác của Ba Ngôi vậy. Có thể nói rằng: Trong động tác của ba Ngôi mỗi Ngôi đều có bổn phận, mà thứ tự thực hành bổn phận của Ngôi nầy Ngôi kia thì có trước sau; nhưng sự trước sau ấy chẳng do sự hơn kém trong thể yếu đâu. Cả Kinh Thánh đều minh chứng rằng hoặc Cha, hoặc Con, hoặc Thánh Linh, cả Ba đều là vô sở bất năng, vốn không phân biệt lớn nhỏ chút nào, bèn bình đẳng nhau cả (Xem các câu Kinh Thánh viện dẫn trong phần II, c.).

3. VỀ CHỨC VỊ

Luận về chức vị của ba Ngôi Đức Chúa Trời, thì cũng chẳng có sự chia ra cao thấp. Cha, Con và Thánh Linh thật có tâm chí, vị cách và công việc khác nhau, song cả Ba đều đồng linh, đồng thể, đồng tánh, chớ chẳng có sang hèn, cao thấp khác nhau đâu. Song có kẻ hỏi: “Nếu trong Đức Chúa Trời có Cha, Con và Thánh Linh, thì há chẳng nhờ đó chia ra cao thấp sao?”

Ta đáp rằng: Chữ Cha Con đây không nên câu nệ theo nghĩa chữ cha con thế gian. Về cha con của loài người, thì cha vẫn có trước con; con thì bắt đầu mà có từ khi cha sanh hạ nó, có thể yếu khác với cha, và đối với đời thì con đứng về bực dưới cha. Nhưng về ba Ngôi Đức Chúa Trời thì khác.Cha và Con từ đời đời đồng thực hữu. Cha sanh Con từ trước vô cùng, cả hai Ngôi đều một thể yếu, đều gọi là Đức Chúa Trời trọn vẹn. Trong giống loài người con nhờ cha sanh mới có. Song trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời chẳng như vậy đâu; như Cha không nương dựa Con mà thực hữu thể nào, thì Con cũng không nương dựa Cha mà thực hữu cũng thể ấy, đến nỗi nếu là xứng hiệp cho Thần thể yếu làm Cha, thì cũng xứng hiệp cho Thần thể yếu làm Con vậy. Song nói cách khác, thì Cha cũng phải nương dựa Con để làm Cha, cũng như Con phải nương dựa Cha để làm Con vậy.Vì nếu trong Thần thể yếu chẳng có Con, thì cũng chẳng có thể có Cha. Cho nên chỗ tương quan Cha Con trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời đã chẳng tương tợ với sự sanh hóa của loài người, thì cũng chẳng tại danh từ ấy mà chúng ta dám đoán rằng trong chức vị Cha Con có sự sang hèn, cao thấp.

Về Thánh Linh cũng vậy, Ngôi ấy từ trước vô cùng là Ngôi thứ ba, từ Cha và Con mà lưu ra, từ vĩnh viễn vốn là Linh của Cha và của Con, gọi là Linh của Đức Chúa Trời và của Christ vậy. Cho nên chúng ta quyết rằng: Cha, Con và Thánh Linh về thể yếu, chức vị, thần tánh, thần đức, thần quyền, thì đều bình đẳng cả, chẳng có chỗ nào gọi là trước sau, cao thấp, hoặc khác nhau gì hết. Nhưng về Ngôi riêng, về bổn phận và việc làm thì có thứ tự trước sau: Cha là Ngôi thứ nhứt, Con là Ngôi thứ hai, Thánh Linh là Ngôi thứ ba. Cha dự định, Con thực hành, Thánh Linh thành toàn; trong cuộc hành động thì Cha dùng Con; rồi Cha và Con cùng dùng Thánh Linh để làm xong các sự dự định của Cha vậy.

IV. LẼ BA NGÔI HIỆP MỘT RẤT MẦU NHIỆM

Trước khi chưa luận về lẽ đạo Ba Ngôi Đức Chúa Trời, thì thấy huyền bí sâu nhiệm lắm; mà luận xong rồi, cũng vẫn còn thấy lẽ đạo rất cao siêu, khó cho ngộ tánh ta hiểu thấu nổi.

1. KHÔNG CÓ SỰ LÝ GÌ MÀ VÍ DỤ CHỈ RÕ ĐƯỢC

Có kẻ ví dụ Cha, Con và Thánh Linh như cây có gốc, nhánh, và quả; mặt trời có hình, ánh sáng và nóng; vật có hình, sắc có màu; không gian có bề dài, bề rộng, bề cao; loài người có ba nguyên tố, là xác,hồn và linh. Các ví dụ ấy cốt để phát biểu lẽ đạo Ba Ngôi hiệp một; nhưng các sự lý ấy tuy bày tỏ hình bóng của ý niệm ba trong một, một trong ba, thì cũng chẳng có thể biểu minh hết được đạo màu nhiệm ấy; trong cả cõi vật chất chẳng có cái gì làm ví dụ trọn vẹn về Ba Ngôi Đức Chúa Trời được. Nếu có dùng ví dụ nào, thì phải cẩn thận, dùng lấy nó làm căn cứ cho lẽ đạo ấy, e sai lầm lớn chăng.

2. KHÔNG THỂ LẤY LÝ TƯỞNG MÀ SUY HIỂU:

Ta cũng chẳng có thể lấy lý tưởng mà biết được lẽ đạo mầu nhiệm này; duy phải nhờ lời khải thị của Kinh Thánh, và đức tin nhận lời ấy, mới mong biết được. Bởi vì lẽ đạo này rất huyền diệu cao siêu, trí khôn của người đời suy xét không nổi. Nhưng mà dẫu là lẽ đạo huyền diệu thật, thì cũng không dám kể là huyền nghi vô bằng mà không đáng tin đâu. Ta thường thấy trong loài sanh vật, từ bực hạ lên đến bực trung, bực thượng; hễ vật loại có cơ quan càng nhiều chừng nào, thì tinh thần càng lớn chừng nấy, đến nỗi sanh vật hạng dưới khó hiểu bản tánh của sanh vật hạng trên.

Vả, Đức Chúa Trời về mọi phương diện đều là lớn hơn loài người khôn xiết kể. Thần tánh, thần cơ, thần linh của Ngài xứng hiệp với Thần cách Ngài, vượt quá ngộ tánh của ta, cũng như nhân cách của mình vượt quá trí hiểu của thú vật vậy. Cho nên, nếu ngộ tánh ta chẳng nhờ lý tưởng mà hiểu thấu lẽ đạo Ba Ngôi được, thì có lạ gì đâu? Trái lại điều ấy rất tự nhiên, vì nếu chúng ta hiểu thấu mọi sự của bản tánh Đức Chúa Trời, thì chúng ta đã đồng bực với Ngài rồi; mà nếu đồng bực với Ngài thì chính chúng ta là Đức Chúa Trời rồi.Vậy, thì còn thờ phượng Ngài làm chi?

3. KHOA HỌC CŨNG KHÔNG THỂ GIẢI NGHĨA:

Khoa học cũng chẳng cắt nghĩa về lẽ đạo Ba Ngôi được. Tuy có kẻ dám nói rằng hễ điều nào không lấy lẽ bác học thực nghiệm mà cắt nghĩa, vẫn vô bằng chẳng đáng tin, thì tín đồ cũng chẳng cần đến khoa học để giải bày sự lý về lẽ đạo ấy, vì thật điều đó hẳn bất năng mọi bề. Song đạo ấy chẳng phải là vô bằng vô lý đâu. Nó được khải thị cho ta cách thích hiệp với sự từng trải của ta.

Vả, chúng ta theo luật tiệm tấn mà học hiểu mọi sự mình có thể hiểu thấu được, hoặc là sự thuộc thể hay là sự thuộc linh cũng vậy. Tra xem Kinh Thánh thì rõ ràng lẽ đạo nào cũng từ rẽ đến mắc, từ cạn đến sâu. Cựu Ước khải thị Đức Chúa Trời duy nhứt vô phân. Từng hồi từng lúc các trước giả bộ ấy đều dường như ám chỉ về lẽ đạo Ba Ngôi, nhưng Cựu Ước chẳng minh huấn lẽ đạo đó đâu, chỉ nói đến cách lờ mờ mà thôi. Đến Tân Ước mới khải thị lẽ đạo ấy minh bạch. Trước hết có Jesus Christ tự xưng mình là Con Đức Chúa Trời, Đạo từ trời giáng sanh, nhận Đức Chúa Trời là Cha, và chính mình Ngài thì nhận quyền năng của Thánh Linh mà nói và làm. Đến khi chịu chết sống lại, mới được minh chứng rằng là Con Đức Chúa Trời có quyền năng. Trong Cựu Ước cũng nói về Linh của Đức Chúa Trời, nhưng đến Tân Ước mới rõ là Đấng có ngôi riêng, từ Cha và Con mà lưu ra. Còn từ ngày Lễ Ngũ tuần trở đi, Ngài được khải thị rõ là Ngôi thứ ba trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời.

Tín đồ chân thật cũng từng trải lẽ đạo nầy theo luật tiệm tấn dường ấy: trước hết lòng tín nhận Đức Chúa Trời độc nhất vô nhị, là Đấng dựng nên muôn vật, đáng cho mình thờ phượng. Kế sau tấn bộ đến sự tín nhận Jesus Christ, là Con Đức Chúa Trời, Cứu Chúa của mình. Sau nữa, tín đồ lại hiểu rằng muốn dự phần đến sự linh nghiệm của đạo Cứu rỗi, duy bởi nhờ Thánh Linh ứng dụng đạo ấy trong lòng của mình mới được thôi. Rồi từ đó trong lòng tín đồ chân thật lần lần có sự tấn bộ trong sự hiểu biết lẽ đạo về Cha,Con và Thánh Linh. Song dầu linh tánh thấu rõ đạo ấy, thì ngộ tánh có lẽ cũng chẳng có thể lấy lời nói mà cắt nghĩa được, vì lẽ đạo người thuộc linh khả năng tín, song bất năng minh thuyết vậy.

V. CÁC TÀ THUYẾT VỀ LẼ ĐẠO BA NGÔI

Từ cổ chí kim có lắm giáo sư xướng lên những tà thuyết về Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Sau đây xin luận qua những tà thuyết quan hệ hơn hết.

1. TÀ THUYẾT VỀ BA CÁCH THỨC HIỆN RA

Trong thế kỷ III có nhà thần đạo Sabellius xướng lên tà thuyết về Ba Ngôi Đức Chúa Trời , dạy rằng ba Ngôi một thể chỉ là ba cách thức Đức Chúa Trời bày tỏ mình ra với loài người, chớ trong thần thể yếu của Đức Chúa Trời chẳng có ba Ngôi đặc biệt đâu. Theo ý kiến nầy, trong cuộc tạo hóa Đức Chúa Trời tỏ mình ra bằng Cha; trong cuộc cứu chuộc Ngài tỏ mình ra bằng Con; còn trong việc ban sự sống, gây dựng Hội Thánh, thì Ngài lại tỏ mình ra bằng Thánh Linh.

Thuyết này rất sai lầm vì trái ý Kinh Thánh mọi bề. Kinh Thánh dạy rằng Christ, Ngôi thứ hai, thực hữu trước khi chưa giáng sanh (Gi 1:18; Phi 2:6; Co 1:17); kỳ thực, trước buổi sáng thế Cha Con đã giao thông với nhau, yêu thương nhau (Gi 17:5,24). Còn Thánh Linh, Ngôi thứ ba, cũng thực hữu trước khi chưa có tín đồ hay là Hội Thánh (Sa 1:2). Lại khi Cha phán cùng Con rằng: “Ngươi là Con yêu dấu của ta” (Lu 3:22), thì há phải Cha lại phán cho chính mình Cha sao? Còn khi Christ hứa sai Thánh Linh xuống, thì há lại hứa sai chính mình xuống đấy ư? Nói như vậy thật vô lý quá chừng.

Gi 1:18; Phi 2:6; Co 1:17; Gi 17:5,24

2. TÀ THUYẾT ARIUS

Arius (thế kỷ IV) quê ở Alexandrie, xướng rằng chỉ một mình Cha là Đấng vô thủy. Con và Thánh Linh không bằng Cha, bèn được dựng nên trước buổi sáng thế, Christ được xưng bằng Đức Chúa Trời, vì thứ bực Ngài là thứ hai đứng sau Đức Chúa Trời, được Đức Chúa Trời ban cho thần quyền để làm việc tạo hóa, cũng do Ngài mà muôn vật được dựng nên vậy.

Lý thuyết ấy rất phản đối Kinh Thánh. Vì nếu Con và Thánh Linh đều là Vị thọ tạo, thì chắc hữu thủy, có lẽ cũng hữu chung nữa chăng. Một thần thọ tạo tự nhiên hữu thủy, và được dựng nên bằng thể yếu khác với thể yếu của Cha. Mà nếu bằng thể yếu khác, thì rõ lắm Con chẳng phải là Đức Chúa Trời, bèn là một vị thọ tạo đó thôi. Nhưng Kinh Thánh dạy rõ lắm Con và Thánh Linh đều là Đấng vô thủy vô chung:

Gi 1:1; He 13:8;

Còn trong He 9:14 trước giả gọi Thánh Linh bằng “Thánh Linh đời đời.”

Tà thuyết Arius bị Công giáo nghị hội Nicée nhóm năm 325 S.C bài xích, cầm bằng tà giáo vậy.

3. DUY NHỨT THẦN GIÁO

Giáo nầy do hai chú cháu Lelio Socin (1525-1562) và Faust Socin (1539-1604) đề xướng. Hai nhà ấy chối thần tánh của Jesus Christ, coi Ngài chỉ là người, nhưng được xưng là Con của Đức Chúa Trời,vì trong sự sanh hạ của Ngài, mẹ Ngài được Thánh Linh cảm hóa cách riêng; như vậy Christ chỉ là người, chớ chẳng phải là Đức Chúa Trời đâu. Còn Đức Chúa Trời,theo ý kiến nầy, chỉ có một Ngôi mà thôi.

Lý thuyết nầy giống như lý thuyết Arius, vì chối thần tánh của Christ; song cũng là khác, vì thuyết kia cho Christ tuy không phải là Đức Chúa Trời, thì cũng khác với loài người, được dựng nên trước sáng thế; nhưng thuyết duy nhứt thần nầy lại coi Ngài chỉ là người, song kể Ngài là trọn vẹn đệ nhứt trong cả dòng giống loài người vậy. Hiện nay Giáo hội Duy nhứt thần chủ trương học thuyết nầy.

4. TAM THẦN THUYẾT:

Thuyết nầy chủ trương rằng Ba Ngôi Đức Chúa Trời tức là ba Thần đặc biệt, có sự hiệp nhứt về tổ chức, nhưng chẳng có sự hiệp nhứt trong một thể yếu đâu. Như vậy, chẳng còn là Đức Chúa Trời trọn vẹn nữa,vì không thể nào có sự trọn vẹn ở trong ba Thần. Vì nếu có ba Thần thì phải chia sự trọn vẹn của Đức Chúa Trời ra làm ba, còn sự ấy là sự bất toàn; vì theo sự lý, hễ chi gọi là trọn vẹn mà bị chia ra từng phần, thì đều mất sự trọn vẹn liền vậy.

VI. CÁI DIỆU DỤNG TRONG LẼ ĐẠO BA NGÔI

1. CHÌA KHÓA CẦN YẾU TRONG LẼ ĐẠO BA NGÔI:

Lẽ đạo Ba Ngôi là thần đạo ở trong thần đạo,là nguồn của lẽ thật, nền của ơn cứu rỗi, neo của đức tin. Nếu ta không tín nhận lẽ đạo Ba Ngôi, thì lời nói trong cả bộ Kinh Thánh chẳng qua là hoa trong gương, trăng dưới nước, chỉ thuộc về hư ảo đó thôi. Nhưng lẽ đạo nầy là gốc của đạo Christ, là chìa khóa của cả sự khải thị của Đức Chúa Trời. Hễ công nhận lẽ đạo nầy, thì bao nhiêu ảo lý khác đều dễ hiểu cả. Nếu Christ không phải là Đức Chúa Trời, thì Ngài không thể bày tỏ Đức Chúa Trời được, Cơ đốc giáo chẳng còn đáng gọi là sự khải thị chót, trọn vẹn, có một không hai của Đạo Đức Chúa Trời;duy là một tôn giáo trong nhiều tôn giáo bất đồng, phản đối nhau, bao hàm một ít lẽ thật, mà cũng lẫn lộn với nhiều sai lầm nữa đó thôi. Về Thánh Linh cũng vậy.Như chỉ có thể nhờ Đức Chúa Trời mà bày tỏ Đức Chúa Trời, thì người ta cũng chỉ có thể nhờ Đức Chúa Trời mà áp dụng Đức Chúa Trời cho mình. Nếu Thánh Linh không phải là Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời cũng chẳng có phương pháp nào đem tình yêu thương Ngài với các hạnh phước do bản ngã Ngài mà áp dụng vào lòng chúng ta được. Nói cách khác, nếu lẽ đạo Ba Ngôi không chân thật, thì chúng ta chỉ còn có thiên nhiên thần đạo, chỉ thờ phượng một Thần rất cao xa, không ai biết, nhờ cõi thiên nhiên tỏ ra cách lờ mờ khó hiểu; còn kết quả của sự thờ phượng ấy chỉ là dẫn chúng ta vào rừng rậm mù tối của tà giáo vạn hữu thần đó thôi.

2. CẦN YẾU CHO PHƯỚC LẠC VÔ CÙNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI:

Ta thường thấy, nếu một người bị nhốt trong một phòng riêng, thì thật là đơn cô buồn tẻ không thể chịu nổi. Ấy bởi vì người ta ai ai cũng có thiên tánh giao thông. Hễ ai không được thỏa mãn bản tánh ấy,không thể nào làm người trọn vẹn. Vả, loài người đã được dựng nên giống Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta chối lẽ đạo Ba Ngôi, thì cũng chối Đức Chúa Trời có nguyên tánh giao thông vậy. Xét ra một Đức Chúa Trời ở chốn thái hư một mình,không ai bạn hữu, không người thân yêu, thật là tình trạng khốn khổ vô cùng, ngộ tánh ta không sao nhận được ấy quả là nguyên trạng của Đức Chúa Trời trọn vẹn vô cùng đâu. Mà nếu trong Đức Chúa Trời không có Ba Ngôi, thì cũng chẳng có sự giao thông thân mật, chẳng ai bình đẳng với Ngài, cũng chẳng ai biết lòng Ngài,chẳng ai giúp việc Ngài, cũng chẳng ai bày tỏ Ngài ra cho ta hiểu biết được.Theo lẽ tự nhiên trong đời chẳng chi quý báu hơn tình yêu thương. Nếu trong cả thế giới chẳng có ai thương mình, thì mình há chẳng là người khốn khổ hơn hết sao? Dầu mình giàu có bốn biển mà chẳng có ai thương mình, thì chắc phải ngó núi cao mà tuôn lệ, trông biển rộng mà ngậm ngùi. Người như thế là lạc linh giữa thế gian đáng thương hại biết là dường nào! Song le nhờ đó chúng ta suy nghĩ ra: Đức Chúa Trời vốn là Đấng thương yêu vô hạn vô lượng; nếu không có Đấng khác cũng vô hạn vô lượng như Ngài, để cùng gần gũi, cùng yêu đương, thì ôi thôi, Đức Chúa Trời cũng là một vị Lạc Linh đáng thương thay! Song luận như vậy thật vô lý, lại là phạm thượng nữa! Trong Đức Chúa Trời có đủ Ba Ngôi bình đẳng nhau, vẫn giao thông nhau, yêu thương nhau, hiệp tác nhau cách thỏa lòng đồng ý. Kê cứu Ch 8:22-31 và Gi 17:5,24, thì biết được trước buổi sáng thế đã có sự giao thông, yêu thương cao xa thân mật của Ba Ngôi Đức Chúa Trời, làm cho Ba Ngôi ấy thỏa lòng phỉ chí vô cùng; về sau dầu tạo ra muôn ngàn thế giới, cũng không thêm bớt gì nữa.

Ch 8:22,30; Gi 17:5,24

3. CẦN YẾU CHO ĐẠO CỨU RỖI

Nếu Đức Chúa Trời chỉ độc nhứt chẳng có tam vị nhứt thể, thì làm sao nên công cứu rỗi? Vì ở giữa Đức Chúa Trời và vị thọ tạo cao hơn hết có cái vực rất rộng rất sâu; nếu Christ không phải là Đức Chúa Trời,ai sẽ làm trung bảo, chuộc tội ta, bắc cầu qua vực sâu ấy mà đem ta trở lại cùng Đức Chúa Trời? Christ đứng trong thứ bực nào, thì chỉ có thể đem chúng ta đến thứ bực ấy. Thứ bực ấy gần hay xa Đức Chúa Trời bao nhiêu, thì chúng ta nhờ Christ mà được gần hay xa Đức Chúa Trời cũng bấy nhiêu. Duy Đấng có thần tánh thật mới có thể khiến ta phục hòa với Đức Chúa Trời thôi. Ta vốn yếu đuối, có lòng bất khiết; song chỉ Đức Chúa Trời có thể ban sức cho ta, tẩy uế lòng ta. Một Đức Chúa Trời độc nhứt chẳng có phức số, có lẽ có thể làm Quan án ta, song chẳng có thể làm Cứu Chúa ta, khiến ta nên thánh bao giờ. Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời!Trong Ngài có phức số, là có Cha yêu thương vô hạn vô lượng; có Con làm Trung bảo,tỏ ra Cha, đem ta đến gần Đức Chúa Trời; có Thánh Linh thêm sức cho ta, lấy huyết của Christ mà tẩy uế lòng ta. Ba Ngôi ấy mới đủ nên công cứu rỗi ta vậy.

Gi 3:16; Gi 1:18; IICo 5:18,19; Gi 16:7-11

4. CẦN YẾU ĐỂ LÀM MÔ PHẠM CHO TA

Nếu trong Đức Chúa Trời chẳng có ba Ngôi,thì phận làm Cha của Đức Chúa Trời hữu thủy, có lẽ cũng hữu chung nữa; phận làm Con của Christ cũng tạm thời, về sau đây có lẽ sẽ hết chăng. Bằng vậy, phận làm Cha làm Con của Đức Chúa Trời đều bất toàn, chẳng có ích gì cho ta cả. Nhưng nếu phận làm Cha làm Con của Đức Chúa Trời đều thuộc về bản tánh vĩnh viễn của Ngài, thì làm mô phạm cho ta, chỉ dạy cho ta bổn phận của cha là hi sinh mình,ban mình nhưng không cho con; lại dạy ta bổn phận của con là vâng phục, yêu mến Cha. Còn luật yêu thương buộc ta phải giống như Đức Chúa Trời trong các sự ấy,coi phận sự đó là mục đích tối thượng của bản ngã mình. Nói cho đúng, nếu trong Đức Chúa Trời không có Cha, Con và Thánh Linh, thì chúng ta cũng chẳng có chỗ nào làm mô phạm về tình nghĩa cha con, về sự vì kẻ khác mà hi sinh mình, về sự yêu thương vâng phục, về sự giao thông thân mật hạnh phước.

TỔNG LUẬN

Ấy vậy, lẽ đạo Ba Ngôi dầu là cao xa khó thấu,chẳng có thể lấy khoa học mà giải quyết, hoặc dùng triết lý mà chứng minh vì thật là sự mầu nhiệm trong sự mầu nhiệm của thần đạo, thì cũng chẳng phải là hư ảo vô bằng đâu; Đức Chúa Trời đã khải thị đạo ấy ra cách rõ ràng đích xác, đáng tin lắm, nên chúng ta chẳng dám lấy trí khôn hữu hạn mà dò lượng cạn cợt, phán đoán sai lầm, song nếu lấy lòng tin mà công nhận, thì chắc nghiệm lẽ thật quý báu ấy trong sự từng trải của mình, đến nỗi được giao thông với Cha, Con và Thánh Linh cách thân mật phước lạc vô cùng, đến nỗi chẳng có tí gì hồ nghi khó tin trong lòng mình nữa.

CHƯƠNG 8: LUẬN VỀ CÁC CÔNG TÁC CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Hễ ai đem ngộ tánh mà suy xét về muôn vật đầy dẫy trong vũ trụ bao la rộng rãi nầy, quả không khỏi phải nhận có Đấng Tạo hóa mới hữu lý. Nói về trái đất tuần hoàn, trăng sao luân chuyển, các tinh tú vô ý thức kia làm sao có sự hành động hữu ý thức? Luận về sự gây nên vật chất và nguyên lý của nó, gọi là tình cờ mà nên, há có lý ư? Còn luận về thế giới hữu hình và vô hình, há chẳng buộc phải nhận rằng nó cũng cần có chỗ nương dựa sao?Quả vậy, nếu lấy mắt xem qua, hẳn không thể nào không nhận rằng chắc phải có Đấng tạo vật, gìn giữ, cai trị, sửa sang mọi sự hoặc thuộc vật giới, hoặc thuộc linh giới cũng vậy. Sự khôn ngoan, quyền năng của Đấng Chủ tể ấy đã là vô hạn vô lượng,thì công việc lạ lùng của Ngài ai hiểu cho hết, ai xét cho rõ được? Chúng ta chỉ nhận tích tượng của muôn vật mà luận qua về thần công của Đấng Tạo hóa đó thôi.Chương tám nầy chia ra làm bốn loại, là (1) Nguyên chỉ của Đức Chúa Trời, (2)Công cuộc tạo hóa, (3) Sự bảo tồn, và (4) Thần hựu.

I. NGUYÊN CHỈ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

1. ĐỊNH NGHĨA

Đức Chúa Trời là Đấng Tạo hóa, dựng nên và bảo tồn muôn vật. Song công cuộc dựng nên và bảo tồn ấy trước có ý định, rồi sau mới nên công. Ví như thợ cả kia sắp sửa xây nhà, trước phải nhắm đo rộng, hẹp, dài,ngắn, mà trù liệu bao nhiêu cây gỗ, ngói, gạch, vôi, cát, rồi sau mới khởi công xây cất. Chí như muôn vật bề bộn diệu kỳ trong vũ trụ nầy, nào là thiên sứ, nào là loài người, nào là tinh tú, nào là địa cầu, nào là sự cứu rỗi, nào là sự xét đoán, nào là mọi việc khác, thảy thảy đều từ trước vô cùng ở trong ý tưởng Đức Chúa Trời mà liệu lý, sắp đặt có kế hoạch hẳn hòi, rồi khi thời gian đến, mới nên công mỹ mãn như tỏ ra trong cuộc quá khứ, hiện tại, và sẽ còn thực hiện trong cuộc tương lai nữa. Cái kế hoạch ấy thần học gọi là nguyên chỉ của Đức Chúa Trời. Đối với ngộ tánh ta, nguyên chỉ Đức Chúa Trời dường như phiền phức lắm,có nhiều thứ, được tỏ ra theo nhiều cách; nhưng trong ý tưởng Đức Chúa Trời các công việc Ngài đều gồm lại trong một kế hoạch trọn vẹn mà Ngài đã định từ trước vô cùng vậy.

2. BẰNG CHỨNG VỀ NGUYÊN CHỈ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Có hai bằng cớ minh chứng cho nguyên chỉ của Đức Chúa Trời như sau đây.

a) Lý chứng. Lý chứng do ba gốc mà ra:

(1) Do sự biết trước của Đức Chúa Trời: Hễ chúng ta nhận Đức Chúa Trời biết trước mọi sự, thì cũng nhận rằng mọi sự từ trước vô cùng có sự cố định; còn sự cố định đó ám chỉ rằng phải có nguyên chỉ Đức Chúa Trời mới có sự cố định như thế. Từ trước vô cùng Đức Chúa Trời dự kiến các biến động của vũ trụ như là đã được cố định chắc chắn rồi. Sự cố định chắc chắn ấy không thể do vận mạng vô tình hoặc ý chỉ hay thay đổi của loài người mà nên;vì trong cõi từ trước vô cùng hai điều ấy chưa có. Duy có thể do tâm trí của Đức Chúa Trời, vì trong cõi đời đời chỉ có tâm trí của Ngài thực hữu và vận động mà thôi. Vả, sự cố định ấy cần phải có nguyên nhân; bởi vì nếu có điều gì thuộc về cuộc tương lai mà được nhứt định trước chắc chắn, thì há chẳng phải có một nguyên nhân nào nhứt định đó hay sao? Sự cố định ấy duy có thể do trong cái kế hoạch của Đức Chúa Trời dự định mà được nên đó thôi. Nói một lời, nếu Đức Chúa Trời dự kiến mọi sự thuộc về cuộc tương lai là những điều đã được quyết định chắc chắn rồi, thì há chẳng vì ý chỉ của Ngài đã khiến cho mọi sự ấy được quyết định chắc chắn như vậy ư? Vả, Đức Chúa Trời theo sự biết trước của Ngài mà dự định mọi sự như thế, ấy gọi là nguyên chỉ của Đức Chúa Trời, hay là kế hoạch mà Ngài đã liệu lý từ trước vô cùng. Hết thảy cuộc tạo hóa với sự kết quả của cuộc ấy, việc cứu chuộc với sự kết quả của việc ấy, đều ở trong kế hoạch đó, và gọi là do nguyên chỉ của Đức Chúa Trời mà được liệu lý và thành công cả.

(2) Do sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. Sự khôn ngoan dạy rằng hễ muốn làm việc gì, thì rất cần lập một kế hoạch trước, mới mong đạt đến mục đích sở nguyện. Hễ công việc mình muốn làm càng quan hệ bao nhiêu, thì kế hoạch mình dự định lại càng cần yếu bấy nhiêu. Sự khôn ngoan cũng dạy rằng trong một kế hoạch như thế phải định trước mọi sự lớn và nhỏ, và dự bị mọi điều cho các hoàn cảnh thường hay bất thường mà mình sẽ gặp trong khi thực hành kế hoạch ấy. Xem xét các kế hoạch của loài người, thì thấy bất toàn lắm, bởi vì không phòng bị đủ cho các tình thế trạng huống bất thường xảy ra trong khi thực hành nó. Ấy tại sao? Há chẳng vì sự khôn ngoan của loài người cũng bất toàn và hữu hạn sao? Đối với kế hoạch của Đức Chúa Trời thì khác hẳn. Ngài là khôn ngoan vô cùng, nên Ngài chẳng những là lập kế hoạch cho vũ trụ mà thôi, lại làm ra một kế hoạch trọn vẹn mọi bề, bao hàm mọi sự, mọi vật, mọi biến động, đến nỗi việc nhỏ mọn hơn hết cũng đều được dự định cả.

Giả như kiến trúc sư kia lãnh trách nhiệm xây cất một cung điện nguy nga nọ. Ông ấy chẳng ngu dại đến nỗi nếu chưa có kế hoạch mà lại dám khởi công xây cất; trái lại ông lập kế hoạch trước, rất kỹ lưỡng vẽ kiểu từng hòn đá, từng tấm ván, mọi điều nhỏ hoặc lớn, đâu đó hoàn toàn, rồi sau mới khởi công. Nhà họa sĩ trứ danh kia cũng chẳng vừa vẽ vừa định hình tượng mình muốn vẽ đâu; bèn là ý trước về hình tượng ấy, rồi mới mong làm việc may mắn tùy ý định ấy. Sự khôn ngoan của loài người còn dạy mình phải làm như thế thay,huống chi là sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời! Ngài đã lập kế hoạch trọn vẹn cho cả vũ trụ; Ngài vốn dự kiến mọi sự, nên cũng phòng bị mọi sự can thiệp đến công cuộc thực hành nó, đến đỗi chẳng việc gì nhỏ hay lớn xảy ra trong cõi thời gian mà không được thuộc trong kế hoạch Ngài đã dự định đó vậy.

(3) Do lòng từ ái của Đức Chúa Trời. Nếu các biến động của vũ trụ không do nguyên chỉ của Đức Chúa Trời dự định, thì chắc do cơ vận hay là ý chỉ của vật thọ tạo mà được nên. Nhưng xét qua lòng từ ái của Đức Chúa Trời, thì khó tin Ngài chịu cho năng lực gì vô ý thức, hay là ý chỉ rất bất toàn bất khiết của các vị thọ tạo được phép chủ trị các biến động của vũ trụ.Lòng từ ái của Đức Chúa Trời buộc Ngài không những là trù liệu mà tạo ra vạn vật thôi đâu, lại buộc Ngài khiến cho chúng nó phải kết quả trọn vẹn như ý Ngài đã định vậy. Nếu gọi vũ trụ nầy không do nguyên chỉ của Đức Chúa Trời mà được chủ trị, thì thật gớm ghê chẳng khác gì một đoàn xe lửa đầy hành khách kia chạy trong đêm tối mù mịt, không đèn lại không người cầm máy, chỉ cứ chạy mãi cho đến khi phải sa vào hầm sâu thẳm khốn nạn và tai hại vô cùng. Lòng từ ái của Đức Chúa Trời chẳng cho Ngài dựng nên vũ trụ, rồi sau đó bỏ mặc kệ cho nó chạy theo các cơ vận vô tình vô ý thức đó đâu, bèn buộc Ngài đem cả sự khôn ngoan, yêu thương, quyền năng của mình mà coi sóc, phù hộ, dẫn hướng, để nó theo thánh ý Ngài mà kết quả hạnh phước cho mọi loài thọ tạo vậy.

b) Kinh Thánh làm chứng. Kinh Thánh theo ba phương diện mà minh chứng cho lẽ đạo nguyên chỉ của Đức Chúa Trời.

(1) Đức Chúa Trời dự định mọi sự.Kinh Thánh chứng rằng mọi sự của vũ trụ đều được bao hàm trong nguyên chỉ của Đức Chúa Trời cả, ngoài liệu lý ấy ra, thì chẳng có việc gì lớn hay nhỏ xảy ra bao giờ; nhưng thảy đều xảy đến trong nguyên chỉ của Đức Chúa Trời đã dự định phải có như vậy. Những câu Kinh Thánh trưng dẫn sau nầy làm chứng cho:

Es 14:26,27; Es 46:10,11; Da 4:35; Eph 1:11

(2) Đức Chúa Trời dự định việc đặc biệt.Kinh Thánh lại minh chứng rằng các việc riêng và biến động đặc biệt cũng do nguyên chỉ của Đức Chúa Trời mà được quyết định liệu lý. Các sự kể ra sau đây đều ở trong nguyên chỉ của Đức Chúa Trời mà được định liệu cả:

(a). Muôn vật và công lệ của muôn vật

Sa 1:1-31; Sa 8:21-22

(b). Sự vững lập của muôn vật:

Thi 119:89-91

(c). Sự phân định trạng huống của các dân tộc:

Phu 32:8; Cong 17:26;

(d). Người đời sống lâu chết yểu:

Giop 14:5; Thi 139:16;

(e). Cách qua đời của người ta:

Gi 21:19. “Ngài nói điều đó để chỉ về Phierơ phải chết cách nào đặng làm vinh hiển Đức Chúa Trời.”

(f). Công việc thiện và ác mà loài người tự do thi thố.

Việc thiện:

Es 44:26,28; Eph 2:10;

Việc ác:

Sa 50:20; IVua 12:15; Lu 22:22; Cong 2:23; Cong 4:27-28; Ro 9:17; IPhi 2:8; Kh 17:17

(3) Đức Chúa Trời đã dự định sự cứu chuộc.Kinh Thánh cũng chứng rõ lắm Đức Chúa Trời đã dự định sự cứu chuộc và mọi sự thuộc về sự ấy là:

(a) Sự cứu rỗi tín đồ:

ICo 2:7; Eph 1:4; Eph 3:10,11;

Kỳ thực, cả thơ Êphêsô là một bài khen ngợi nguyên chỉ của Đức Chúa Trời.

(b) Sự quyết định ban thế gian cho Christ, vốn nguyên chỉ quan trọng hơn hết:

Thi 2:7,8; Thi 2:6; ICo 15:25

(c) Nguyên chỉ về sự cứu rỗi ta, nhân chúng ta công nhận mà được biến đổi ra ý chỉ của ta, mới cứu rỗi ta được; vì điều gì ý chỉ Đức Chúa Trời đã dự định cho ta cũng nhờ ý chỉ ta công nhận mà được nên ở trong ta vậy: Phil 2:12,13

(d) Chỉ Christ thực hành trọn vẹn nguyên chỉ của Đức Chúa Trời: Kh 5:1,7,9

Chỉ Christ vô sở bất tri, vô sở bất năng, thông biết và thực hành trọn vẹn các nguyên chỉ của Đức Chúa Trời ghi chép trong quyển ấy, Khi Giăng khóc dầm dề vì chẳng có ai trên trời dưới đất đáng tháo các ấn ra và xem sách của các nguyên chỉ ấy, thì có Sư tử thuộc chi phái Giuđa đã thắng hơn, mở các ấn ra và xem sách đó được. Duy Christ cầm chủ quyền tuyệt đối trên cõi lịch sử, khiến cho nó kết quả trọn vẹn theo ý chỉ của Đức Chúa Trời đã định vậy.

3. CÁC NGHI ĐỀ VỀ LẼ ĐẠO NGUYÊN CHỈ

a) Mâu thuẫn với sự tự chủ của loài người. Có kẻ bài bác lẽ đạo về nguyên chỉ của Đức Chúa Trời, nói rằng đạo ấy mâu thuẫn với sự tự chủ của loài người.

Lời bài bác nầy lẫn lộn nguyên chỉ của Đức Chúa Trời với sự thực hành nguyên chỉ ấy trong cuộc tạo hóa và sự tể trị vũ trụ. Như sự biết trước vốn thuộc về thần tánh vĩnh viễn của Đức Chúa Trời, mà chẳng mâu thuẫn với sự tự chủ của loài người thể nào, thì các nguyên chỉ (sự dự định mọi việc), vốn do thần tánh Ngài mà định liệu cũng chẳng mâu thuẫn với sự tự chủ của loài người thể ấy. Vả, ta đã thấy sự biết trước của Đức Chúa Trời ám chỉ rằng mọi sự mọi vật đã có sự cố định từ trước vô cùng rồi, nên mới dự kiến được. Mà ai dám nói rằng sự biết trước sự cố định ấy mâu thuẫn với sự tự chủ của loài người ư? Bằng chẳng có ai dám nói như vậy thay, huống hồ ai lại dám quyết rằng cái nguyên nhân kín giấu của sự cố định ấy – tức là nguyên chỉ của Đức Chúa Trời – vốn là mâu thuẫn với sự tự chủ đó! Đức Chúa Trời vốn toàn tại toàn tri, không thể nào làm việc gì bất định, hoặc trong lúc Ngài dự định, hoặc khi Ngài thực hành sự dự định ấy cũng không. Nếu Ngài dự định mọi sự trong vũ trụ,rồi sau thấy sự dự định ấy phá hủy sự tự chủ của loài người, thì sự ấy há chẳng làm chứng rằng Ngài là bất toàn sao? Mà một Thần bất toàn không còn đáng gọi là Chân Thần nữa!

b) Cướp lấy cớ tích của sự tự cường. Có kẻ khác bài bác rằng các nguyên chỉ của Đức Chúa Trời cướp lấy cớ tích của sự gắng công ra sức của loài người để đạt đến bực tối cao trong mọi việc mình muốn làm. Họ nói rằng nếu mọi sự đều do nguyên chỉ của Đức Chúa Trời dự định, thì cần chi gắng công ra sức để làm lành lánh dữ?Ví bằng Đức Chúa Trời đã dự định mình sẽ làm ác, thì dầu tự cường để làm thiện,cũng chỉ kết quả sự ác thôi. Ta xin đáp lẽ cho lời bài bác nầy rằng:

(1) Các nguyên chỉ của Đức Chúa Trời chẳng có thể ảnh hưởng đến loài người như thế, bởi vì họ không thể biết được nguyên chỉ ấy cho đến khi mọi việc đã xong, các biến động đã xảy đến rồi. Lời bài bác ấy bất quá là bào chữa tánh biếng nhác, che đậy lòng bất phục đó thôi. Khi kẻ nào rất muốn làm việc gì, thì chẳng nghe họ nói rằng họ không thể làm được, bởi vì Đức Chúa Trời dự định việc ấy không được may mắn đâu. Trái lại, ta thường thấy họ hết sức làm hầu cho việc ấy thành công may mắn. Chỉ khi can thiệp đến sự tin theo đạo Christ, thì người ta hay mượn những lời bài bác vu vơ vô lý đó đặng bào chữa lòng biếng nhác bất phục của mình đó thôi. Lại trong Kinh Thánh Đức Chúa Trời hứa cho kẻ gắng công ra sức làm việc lành ắt sẽ được may mắn dồi dào vậy.

(2) Lời bài bác ấy lẫn lộn nguyên chỉ của Đức Chúa Trời với vận mạng luận. Song le vận mạng là vô ý thức, còn nguyên chỉ của Đức Chúa Trời do sự khôn ngoan tuyệt đối của Ngài mà ra. Vận mạng, như vật chất vô tình, phá hủy sự tự chủ loài người. Còn nguyên chỉ của Đức Chúa Trời bao hàm sự tự chủ và sự tự cường của họ. Thực, Đức Chúa Trời đã dự định dùng quyền tự chủ và sự tự cường của loài người đặng làm nên nguyên chỉ của Ngài vậy.Thật thế, hễ Đức Chúa Trời đã dự định cứu rỗi ai, thì người ấy bởi lúc nghe Tin Lành, bèn nhận cảm lực của đạo ấy mà liền vận dụng quyền tự chủ, quyết định tin theo Jesus Christ, công nhận Ngài làm Cứu Chúa của mình. Vả, lương tâm và Kinh Thánh đều chứng minh rằng loài người thật có quyền tự chủ. Vậy, nếu quyền ấy thật có, há chẳng do nguyên chỉ của Đức Chúa Trời dự định mà có sao? Bằng vậy, sao lại gọi đạo về nguyên chỉ Đức Chúa Trời cướp lấy cớ tích của sự tự cường của loài người được? Hơn nữa, dầu chúng ta không rõ cách thức thực hành nguyên chỉ của Đức Chúa Trời, thì cũng không vì cớ đó mà ta được phép nghi ngờ nguyên chỉ ấy, hoặc chối bỏ sự tự chủ của loài người đâu.

c) Khiến cho Đức Chúa Trời trở nên nguyên nhân của tội lỗi. Kẻ khác lại biện bác rằng nguyên chỉ của Đức Chúa Trời khiến cho Ngài trở nên nguyên nhân của tội lỗi. Chúng ta đáp rằng:

(1) Nguyên chỉ của Đức Chúa Trời chẳng khiến Ngài nên nguyên nhân của tội lỗi đâu, bèn là khiến Ngài nên nguyên nhân của các vị tự chủ có thể gây nên tội lỗi; mà các vị ấy thật là nguyên nhân của tội lỗi đó. Đức Chúa Trời chẳng theo cách hiệu nghiệm mà dự định tội, bèn theo cách chuẩn hứa mà dự định nó vậy. Ngài dựng nên các vị tự do, ban cho họ được các lương năng có thể lựa chọn và làm theo hoặc thiện hoặc ác. Luận theo cách ấy,ta có thể nói rằng nguyên chỉ của Đức Chúa Trời cũng bao hàm sự phạm tội; song Ngài chỉ dự định cho tội lỗi được phép do các vị tự chủ mà xen vào vũ trụ, chớ nguyên chỉ của Ngài chẳng phải là hiệu nhân (cause dfficiente) của tội đâu. Ý chỉ loài người là hiệu nhân của tội lỗi; còn Đức Chúa Trời bao giờ cũng hằng ghen ghét, trách móc, cự địch và hình phạt tội không thôi.

Tuy Đức Chúa Trời dùng cơ hội phạm tội của anh em Giôsép mà ban phước cho thế gian, thì Ngài cũng vẫn cầm họ là kẻ có tội. Miễn tội khoán của giáo hoàng Léon X là hiệu nhân trực tiếp của sự Cải chánh; dầu vậy, miễn tội khoán ấy cũng vẫn là tội luôn. Có lắm công tác của người ta chẳng do ý chỉ hiệu nghiệm của Đức Chúa Trời mà ra, duy có ý chỉ loài người làm hiệu nhân, còn Đức Chúa Trời chỉ cho phép nó xảy ra như thế đó thôi. Trong Ma 26:24 có chép rằng: “Con người hẳn đi, như đã chép về Ngài; song khốn thay cho người nầy là kẻ phản Con Người! Thà nó chẳng sanh ra thì hơn.” Đã dự định rằng Christ phải chịu khổ; song điều ấy chẳng khiến cho tên Do Thái Íchcariốt mất quyền tự chủ, thậm chí bị ép buộc phải phản Ngài đâu; cũng chẳng giảm bớt tội trọng và gớm ghê ấy nữa. Nhà vô thần Ingersol có hỏi rằng: “Cớ sao Đức Chúa Trời dựng nên ma quỉ?” Ta đáp rằng: Đức Chúa Trời không dựng nên ma quỉ đâu; bèn chính ma quỉ dựng nên ma quỉ đó thôi. Đức Chúa Trời vốn dựng nên một vị linh thánh sạch, có quyền tự chủ; vị linh ấy bèn lạm dụng quyền tự chủ mình, phản loạn cùng Đức Chúa Trời mà gây nên tội lỗi, và vì thế mới trở nên ma quỉ vậy.

(2) Vả, Đức Chúa Trời thật đã cho phép tội lỗi vào vũ trụ rồi; nhưng chúng ta chẳng biết tại cớ sao Ngài cho phép như vậy. Ngài là Đấng rất thánh khiết, rất công nghĩa, rất thù nghịch với tội ác. Dầu vậy, ta thấy Ngài đã chuẩn hứa cho tội lỗi xảy đến, không ngăn trở Sa tan trở nên ma quỉ, cũng chẳng khiến cho loài người trở nên kẻ không thể phạm tội.Nhưng mà tuy chúng ta không thể hiểu tại cớ sao đã có như vậy, thì cũng vẫn có thể biết sự chuẩn hứa ấy là phải lắm, công bình lắm, xứng hiệp với tánh trọn vẹn của Đức Chúa Trời vậy.

Có bốn vấn đề mà Kinh Thánh và lý tánh chẳng giúp đỡ ta giải quyết được; dám chắc chỉ trí thức siêu việt của cõi lai sanh mới hiểu thấu được mà thôi. Bốn vấn đề ấy là: (1) Tại cớ sao Đức Chúa Trời thánh khiết chuẩn hứa cho tội ác xen vào cõi thọ tạo? (2) Vị nào được dựng nên thánh khiết, làm sa ngã trở nên vị bất khiết được? (3) Làm sao chúng ta phải chịu trách nhiệm về bản tánh hủ bại bởi tổ tiên lưu lại? (4) Christ chịu khổ và chết,làm sao gọi là công bình?

Chúng ta đương luận đến vấn đề thứ nhứt.Nếu chúng ta có thể dò xét lòng kín giấu của Đức Chúa Trời, thấu hiểu đức tánh công nghĩa của Ngài, suy xét tường tận được kế hoạch đời đời của Ngài, thì có lẽ giải quyết vấn đề ấy được. Song điều đó chúng ta không thể làm được. Dầu vậy,có bốn điều khác có thể giúp đỡ ta hiểu sơ sơ về vấn đề ấy:

(a) Ý dục tự do rất cần yếu cho lòng đạo đức. Bằng chẳng có lương năng ấy, cũng chẳng có thể tập rèn lòng đạo đức để trở nên giống như Đức Chúa Trời. Mà hễ có ý dục tự do, cũng có luôn cái khả năng phạm tội nữa.

(b) Đức Chúa Trời vì tội lỗi mà phải chịu khổ nạn muôn phần hơn tội nhân. Cho nên khi Ngài chuẩn hứa tội lỗi vào cõi thọ tạo, cũng dự định luôn cho chính Ngài phải chịu khổ vô cùng để giải cứu muôn vật khỏi sự khốn nạn của tội lỗi đó. Thực sự ấy cũng chứng rằng Đức Chúa Trời chẳng theo cớ tích ích kỷ gì mà chuẩn hứa cho tội lỗi vào vũ trụ đâu, chắc phải có cớ tích cao siêu, chí công chí thánh, là cớ tích vượt quá trí hiểu phàm trần của chúng ta, mới hữu lý vậy.

(c) Khi chuẩn hứa cho tội lỗi vào vũ trụ,thì cũng dự bị luôn phương pháp cứu rỗi bằng giá rất cao mà chính Ngài phải trả.

(d) Sau rốt Đức Chúa Trời sẽ toàn thắng tội ác, khiến nó nên dịp tác thiện cao thượng vô cùng cho các vị thọ tạo của Ngài, và làm vinh hiển cho Ngài đến đời đời vô cùng. Thế thì, ta có thể đoán rằng:Tội lỗi cần yếu để làm cơ hội cho Đức Chúa Trời bày tỏ lòng yêu thương vô hạn vô lượng của Ngài, để làm nên phương pháp cứu rỗi mà ban ơn phước lớn lao lạ lùng cho loài người vậy.

4. ÍCH LỢI VỀ LẼ ĐẠO NGUYÊN CHỈ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI:

Lẽ đạo nầy hữu dụng cho loài người lắm,như kể lược sau đây:

a) Sự suy gẫm về các mưu luận cao xa,các ý định không dò xét được, và quyền vô lượng vô biên của Đức Chúa Trời khiến cho lòng ta thêm khiêm nhường đối với Ngài.

b) Dạy cho tín đồ càng đem lòng tín nhiệm Đức Chúa Trời, là Đấng đã theo sự khôn ngoan tối thượng mà dự định sự sống sự chết, trạng huống của đời ta, lo sắm sẵn mọi sự nhỏ và lớn cho ta, khiến cho mọi sự hiệp lại làm cho nước Ngài đắc thắng và kẻ yêu mến Ngài được phước.

c) Chỉ dạy cho thù nghịch của Đức Chúa Trời rằng Ngài đã biết họ từ trước vô cùng, cũng đã dự bị cho họ có thể thoát khỏi vòng tội phản nghịch của họ. Hễ họ cứ phản nghịch mãi, không chịu lìa bỏ tội đó, ắt không thể thoát khỏi hình phạt mà Ngài dự định cho kẻ ác không chịu ăn năn.

d) Khuyên tội nhân phải mau mau nhờ phương pháp cứu rỗi của Christ cho được thoát khỏi sự hình phạt đã định rồi, mới mong được thuộc trong số người mà nguyên chỉ Đức Chúa Trời đã định sẵn cho được ơn cứu rỗi vậy.

Lẽ đạo về nguyên chỉ Đức Chúa Trời thường làm đã vấp váp cho tín đồ mới tin Chúa; vì ngộ tánh non nớt của họ rất khó hiểu.Cần phải có sự thông minh thuộc linh và sự từng trải sâu nhiệm, mới mong hiểu chút đỉnh. Song cho kẻ đã tin Chúa lâu, lẽ đạo nầy dường như chỗ đức tin nương dựa. Trải suốt những lúc Hội Thánh bị hoạn nạn, nhục mạ, bắt bớ, thì dân Đức Chúa Trời luôn luôn tìm được sự an ủi rất lớn trong lẽ đạo về nguyên chỉ của Đức Chúa Trời. Cũng chỉ khi chúng ta tín nhận lẽ đạo nầy mà chúng ta được biết chắc rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho mình (Ro 8:28), và được lòng dạn dĩ cầu nguyện rằng: “Xin ý Cha được nên” (Ma 6:10) đó thôi.

II. CÔNG CUỘC SÁNG TẠO

1. ĐỊNH NGHĨA

Sự sáng tạo là công việc tự do của Ba Ngôi Đức Chúa Trời hiệp nhau mà thi hành nhằm buổi ban đầu của khoảng thời gian. Đức Chúa Trời không dùng vật liệu gì tiền tại mà làm xong việc ấy: bèn lấy lời quyền năng của Ngài mà tạo ra cả vũ trụ hữu hình và vô hình, để làm sáng danh Ngài. Trong công cuộc nầy cả ba Ngôi đều dự phần đến. Ta có thể nói rằng,Cha là Động cơ khỉ nguyên, Con là Động cơ thực hành, và Thánh Linh là Động cơ thành toàn. Ví như kiến trúc sư vẽ họa đồ của nhà kia, rồi thợ nề theo họa đồ ấy mà xây cất; đoạn thợ sơn lo sơn phết trang hoàng cho chủ nhà vào ở. Sự tương đối cũa Ba Ngôi trong cuộc tạo hóa đại khái cũng như thế. Có kẻ nóISa 1:1-3 ám chỉ về Ba Ngôi Đức Chúa Trời cộng tác trong công cuộc sáng tạo: trong câu 1 nói về việc của Cha “Đức Chúa Trời dựng nên trời đất”, câu 2 nói về việc của Thánh Linh “Thần Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước”, còn câu 3 nói về việc của Con (lời “Đức Chúa Trời phán” chắc chỉ về Con).

2. BẰNG CHỨNG VỀ CUỘC SÁNG TẠO:

Cuộc sáng tạo vốn một lẽ thật diệu kỳ cao xa, thuộc về cõi siêu việt. Nên hễ muốn nhờ kiến thức mình mà luận về công tác lớn lao lạ lùng ấy, thì chẳng có thể hiểu thấu đầu đuôi được. Hoặc là muốn lấy nguyên lý khoa học để dò lường trình tự của sự tạo hóa, cũng khó thoát khỏi nhận lầm đoán sai, người cho cách nầy, kẻ tưởng cách khác. Sự kiến thức tự nhiên cũng chẳng có thể luận chứng hoặc cuộc tạo hóa là hữu thủy hay là vô thủy.Nhờ bác vật học ta có thể trắc lượng hiện tượng và diện tích của cõi muôn vật,nhưng chẳng có thể tìm ra nguồn gốc của muôn vật được đâu.

Các cổ tôn giáo ngoại và thống hệ triết lý đời xưa đều chủ trương nhiều ý kiến về cuộc tạo hóa, nhưng phần nhiều là lời ức đạt quanh quẩn, nói bông lông, pha lẫn với thần thoại và chuyện dị đoan mà ngộ tánh ta không thể nhận được. Truyện của nước Babylôn chạm vào bia đá luận về cuộc tạo hóa rõ hơn hết, đến đỗi có chỗ hơi giống chuyện chép trong Sáng Thế Ký; nhưng chuyện ấy rất lẫn lộn với thần thoại và sự dị đoan vô lý, không thể nào ai tin là lý sự đúng đắn về cuộc tạo hóa. Sự học thức Ai Cập xưa dậy rằng mặt trời như cái chậu úp, hình đất vuông tượng. Bên Tàu người ta thường nói: “Thiên viên địa phương”. Còn nước Hi Lạp quyết rằng dưới đất có thần tên là Atlas vác quả đất trên vai.

Nhưng các lời ấy đều vu khoát cả; nếu lấy khoa học đời nầy mà cân nhắc, thì không có giá trị gì hết. Dầu vậy, khoa học kim thời tuy phát minh đến đâu, cũng chưa chắc là một định luận không thay đổi đâu. Ta thường thấy người nầy với người kia phát minh điều gì, vẫn có chỗ phản đối nhau. Lại sự phát minh của đời nầy với đời xưa cũng đều là xa nhau lắm. Ta vẫn thường thấy có nhà khoa học đã tự tín một điều cho là định lý của muôn vật,đã hết sức chủ trương điều ấy kể là nguyên lý không hề thay đổi được. Rồi sau đó chẳng được bao lâu, thì lại đổi hẳn định luận của mình mà cho là lời không căn cứ, chẳng nên tín nhận nữa. Thế thì, vì tôn giáo, triết lý và khoa học xưa nay bất định như thế, nên chúng ta đáng phải xây khỏi hết sức các lý thuyết khả nghi ấy, chỉ nương dựa nơi Kinh Thánh là nguồn gốc chánh thức của các bằng chứng về cuộc tạo hóa mà thôi.

a) Kinh Thánh làm chứng trực tiếp.Kinh Thánh có nhiều câu trực tiếp minh chứng cho cuộc tạo hóa. Đây, chỉ xin dẫn ít câu mà thôi:

(1) Sa 1:1 chép rằng: “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất”. Câu ấy minh chứng rằng công cuộc tạo hóa là việc của chỉ một Đức Chúa Trời; Ngài không dùng vật liệu gì đã có, cũng không nhờ ai giúp đỡ mà tạo thành muôn vật hữu hình và vô hình. Trong hai đoạn đầu của Sáng thế ký, hoặc luận về sự dựng nên vũ trụ (Sa 1:1), hoặc luận về sự dựng nên các loài cá lớn (Sa 1:21), hoặc luận về sự dựng nên loài người (Sa 1:27), thì dùng động từ bara (dựng nên) mà nói cả. Các chỗ khác trước thuật dùng động từ asah (làm nên) đặng thuật lại về sự làm nên khoảng không (Sa 1:7), mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao (Sa 1:16), loài thú vật (Sa 1:25; Sa 2:19), và người nữ (Sa 2:22). Thế thì, ta thấy Thánh Linh hạn chế chữ bara mà chỉ dùng cho sự tạo thành ba cõi thực hữu lớn lao kia, là vật giới, sanh giới và linh giới (tức loài người). Khi Ngài nhận về các vật khác do vật liệu tiền tại mà làm nên, thì thường dùng động từ asah vậy.

(2) He 11:3 chép: “Bởi đức tin chúng ta hiểu rằng các thế giới được dựng nên bởi lời của Đức Chúa Trời, đến đỗi vật thấy được chẳng phải từ vật hiển nhiên mà ra.” Câu ấy minh chứng rằng Đức Chúa Trời dựng nên vũ trụ, thì chẳng dùng vật liệu tiền tại mà làm nên công tác cả thể ấy, bèn chỉ nhờ lời của Ngài phán, thì muôn vật liền có. Những câu kể ra sau đây cũng đồng chứng cho lẽ thật ấy.

Ro 4:17; ICo 1:20; IICo 4:6 Nghĩa là Đức Chúa Trời chẳng dùng vật gì tiền tại mà dựng nên sự sáng, vì sự tối tăm chẳng phải bằng vật chất.

Co 1:16,17; Thi 33:9; Thi 148:5

b) Kinh Thánh làm chứng gián tiếp.Kinh Thánh cũng có bằng cớ gián tiếp chứng cho công cuộc tạo hóa.

(1) Sự tồn tại của vũ trụ trong khoảng quá khứ có giới hạn:

Mac 13:19; Gi 17:5; Eph 1:4

(2) Trước khi sáng tạo thế giới, thì cả Ba Ngôi Đức Chúa Trời đều đã thực hữu rồi:

Thi 90:2; Ch 8:23; Gi 1:1; Co 1:17; He 9:14

(3) Căn nguyên của vũ trụ là Đức Chúa Trời,mỗi Ngôi trong ba Ngôi đều dự phần đến cả. Kê cứu Kinh Thánh cho kỹ, thì thấy mỗi trước giả đều hiệp ý mà dạy rằng vũ trụ được Đức Chúa Trời dựng nên không dùng vật liệu tiền tại; kỳ thực, nếu không nhận rằng họ dạy như thế, thì cũng chẳng có thể hiểu nỗi họ dạy cái gì về vấn đề ấy.

Eph 3:9; Ro 11:36; ICo 8:6; Gi 1:3; Co 1:16;He 1:2; Sa 1:2

Nhờ những câu viện dẫn như trên ta có thể đoán rằng: (1) Muôn vật đều nương dựa nơi Đức Chúa Trời cả; (2) Đức Chúa Trời thống trị mọi sự; (3) chỉ Đức Chúa Trời là Đấng vô lượng vô biên; (4) chỉ Đức Chúa Trời là Đấng thực hữu đời đời; (5) trong buổi thái sơ chẳng có vật chất gì mà Đức Chúa Trời có thể lợi dụng để dựng nên muôn vật; (6) muôn vật chẳng phải là theo luật tất nhiên mà từ Đức Chúa Trời lưu xuất đâu; bèn là do ý chỉ tự do của Ngài quyết định mà được nên vậy.

3. ĐẶC TÁNH CỦA TRUYỆN TẠO HÓA

Loài người trên mặt đất nầy ai ai cũng có tánh tò mò tọc mạch, rất muốn khảo cứu về cội rễ của muôn vật. Như đã thấy rằng chỉ Kinh Thánh làm nguồn gốc chánh đáng có một không hai để dạy về vấn đề ấy,thì ta muốn hỏi: Đức Chúa Trời há có khải thị công cuộc ấy một cách rõ ràng dễ hiểu không? Đáp: Có. Trong Sáng thế ký đoạn 1, và 2, Đức Chúa Trời mở mang tôn chỉ luận về công cuộc ấy bằng theo sức hiểu của người tầm thường, lấy lời đơn giản thông thường mà luận, đến đỗi ai ai cũng có thể hiểu được, chớ chẳng phải như lời luận của khoa học huyên thâm khó rõ kia; cũng chẳng như lời cổ truyền vô bằng hoặc thần thoại hoang đàng, đều phản đối với lý tánh đâu; bèn là rõ rệt đơn sơ và dễ hiểu mọi bề. Sau đây xin kê cứu cặn kẽ về đặc tánh của sự khải thị cuộc tạo hóa đã ký thuật trong cả Kinh Thánh.

a) Rất rõ rệt:Trong Sáng thế ký đoạn 1 và 2, cùng trong rất nhiều đoạn sách khác, Đức Chúa Trời khải thị rất rõ rệt cuộc sáng tạo muôn vật, như ta đã thấy ở trên trong phần 2 rồi. Hễ ai có lòng tin đều biết chắc chắn rằng Đức Chúa Trời là Căn nguyên của muôn vật. Ngoài những câu đã viện dẫn như trên kia, đây cũng xin thêm Xu 20:11;Ne 9:6; Giop 38:9,10; Thi 19:1,2; Es 40:12-18; Mac 10:6; Mac 13:19; Cong 4:24; Ro 1:20; IICo 4:6; He 2:10; Kh 4:11.

b) Nghĩa lý xác định:Kinh Thánh luận rõ ràng về nghĩa lý của cuộc sáng tạo muôn vật, tỏ ra có đặc tánh xác định lắm.

(1) Tất cả sự sống và vật chất đều gốc bởi lời Đức Chúa Trời mà có, không do vật liệu tiền tại mà được nên: He 11:3

(2) Công việc sáng tạo là bởi Đức Chúa Trời tự do theo ý chỉ thánh của Ngài mà làm nên: Thi 135:6; Kh 4:11

(3) Đức Chúa Trời dựng nên cả vật có thể thấy được, lẫn vật không thể thấy được: Co 1:16

(4) Công việc dựng nên là việc của Ba Ngôi hiệp một Đức Chúa Trời mà làm xong: ICo 8:6; Giop 26:13

c) Chép rất giản dị:Kinh Thánh chép lại cuộc tạo hóa rất giản dị. Hễ đọc qua đoạn đầu cũa Sáng Thế ký, thì thấy cách thuật lịch sử là lùng ấy thật đơn sơ dễ dàng, ai ai cũng hiểu được cả. Nếu Đức Chúa Trời lấy tiếng của khoa học mà dạy người ta về cuộc ấy,thì người tầm thường đời nầy đã khó hiểu rồi, huống chi là người đời xưa thế nào hiểu nổi được? Có lẽ những người học vấn ít nhiều còn hiểu được một ít;song kẻ bất học thì làm sao biết gì đến?

Huống hựu sự lý về cuộc dựng nên rất dài và phiền phức; cho nên dầu Đức Chúa Trời tường thuật cả truyện ấy, kể lại cho từng phần từng một cả nhỏ và lớn, thì người đời cũng không thể hiểu được muôn một về ý mầu nhiệm của việc ấy, và pho sách chép lại truyện ấy quá ư to tác, ai chép và đọc cho nổi? Chúng ta thử xem về một môn địa chất học, người ta phải chép biết bao nhiêu sách vở đến nỗi xe chở còn không hết thay, huống chi là mượn tiếng khoa học mà chép lại cả công trình vĩ đại dựng nên trời đất muôn vật! Nhưng may thay! Đức Chúa Trời không dùng từ liệu khoa học phiền phức khó hiểu kia mà dạy ta về công cuộc ấy, bèn dùng lời nói rẻ, dễ và chắc chắn, đến đỗi hoặc người đời xưa lúc khoa học chưa phát minh, hoặc kẻ bất học đời nầy cũng đều hiểu qua được cả.

Mà cả sự khải thị về cuộc sáng tạo giản dị dường ấy cũng rất có lý, vì thích hiệp với bản năng thọ giáo của loài người. Giả như nhà điện học muốn dạy cho trẻ con biết sơ qua về điện lý, thì người chẳng bao giờ đem nguyên lý cao xa mầu nhiệm của điện khí học mà dạy chúng trước hết đâu, duy lấy những hiện tượng đơn sơ mà chúng thường thấy như đèn điện, máy điện,vô tuyến điện, v.v… cắt nghĩa đơn sơ thế nào làm nên, thế nào phát ra, nói rẻ mà rõ, hầu cho chúng hiểu mau. Dám chắc rằng chẳng ai dám chê cách dạy ấy mà gọi là nói thiển cận đâu. Mà nếu loài người cần dạy con cái mình cách giản dị về món điện học dường ấy, huống chi Đức Chúa Trời lại cần lắm phải dạy loài người cách đơn sơ về công việc dựng nên lớn lao lạ lùng đó, mới mong họ hiểu một vài điều.

d) Biên chép cách chắc thật:Truyện tích chép trong Sáng thế ký về sự khai thiên lập địa cũng thích hiệp với sự từng trải của chúng ta, nên cũng giục giã lòng tin là rất chắc thật vậy.

(1) Muôn vật khác loài:Muôn vật lúc nhúc lao nhao có nhiều loài nhiều giống: phi, tiềm, động, thực, đều tùy theo loại mà sanh hóa cả. Kinh Thánh dạy đi dạy lại lẽ thật rõ ràng lắm,cũng rất thích hiệp với sự từng trải của chúng ta thường thấy trong cõi thiên nhiên vậy.

(2) Muôn vật tốt đẹp:Kinh Thánh tả ra Đức Chúa Trời đã dựng nên núi cao vòi vọi, lại tạo thành biển rộng thinh thinh, trời cao bát ngát, đất rộng mênh mông, hoa thơm, quả ngọt, rừng rậm cây xanh; nào là chim bay liệng trên khoảng không, nào là thú chạy nhảy trên mặt đất, nào là cá lội dưới nước, nào là sâu bò trên bờ, muôn hình nghìn trạng kể ra khôn xiết. Kế đó Ngài lại tạo thành loài người phong tư cốt cách thật là hay là lạ thay! Chúng ta lại thấy nhựt, nguyệt, tinh tú, ánh sáng, không khí, điện khí, đều là tương hiệp tương đương khéo léo không xiết kể. Rồi sau khi đã dựng nên mọi sự ấy Đức Chúa Trời thấy hết thảy mọi sự đều là tốt lành cả (Sa 1:25). Mà quả vậy, vũ trụ thật huy hoàng đẹp đẽ vô cùng, đáng cho mọi người hằng ngợi khen Đấng Tạo hóa không thôi.

(3) Sự phối hiệp của muôn vật:Kinh Thánh cũng ám chỉ về sự phối hiệp của muôn vật. Con mắt người ta đối với chừng sáng của mặt trời đều tương đương nhau, quả đất đi xung quanh mặt trời gần xa vẫn thích nghi, thứ tự của vật nầy với vật kia đều hòa hiệp nhau cách lạ kỳ,nhà khoa học thực nghiệm xét đến thì phải lấy làm kinh lạ về diệu lý tương phối tương hiệp của muôn vật, dầu giấy non mực biển cũng không thể tả xiết được.

(4) Không tỏ bày ra sự mầu nhiệm của muôn vật:Xem đoạn đầu của Sáng thế ký, thì thấy lời lẽ rất đơn sơ giản dị, không hề cắt nghĩa sự mầu nhiệm của muôn vật, cũng chẳng đáp lẽ những câu hỏi trong Giop 38:4-11 được. Người ta càng kê cứu sự mầu nhiệm của muôn vật chừng nào, lại càng rõ sự gây dựng lạ lùng của Đức Chúa Trời quá trí hiểu hữu hạn của mình chừng nấy. Thực như Chúa đã phán rằng: Es 55:8,9

Thường có những nhà thiên văn chuyên tâm khảo nghiệm về bầu trời cao xa, khoảng không rộng lớn kia, thì luôn luôn trằm trồ khen ngợi sự sắp đặt trong vũ trụ thật hay ho lạ lùng vô song, chắc chắn là công việc của Đấng Toàn năng, Toàn tri, trí ngộ phàm không thể dò lường được. Kẻ nào muốn nhờ trí lực riêng mà khảo cứu qua điều Đức Chúa Trời không khải thị,thì chỉ gây nên các tà thuyết về cuộc tạo hóa, như nhị nguyên thuyết, lưu xuất thuyết (muôn vật từ thể yếu Đức Chúa Trời mà lưu xuất), vĩnh cải tạo thuyết, tự sinh thuyết, tấn hóa thuyết, v.v… Điều Đức Chúa Trời đã bày ra đủ cho ai nấy hiểu được cuộc sáng tạo là công việc của Ngài; còn sự mầu nhiệm của việc ấy phần lớn Đức Chúa Trời chưa xủ lòng tỏ ra, duy đáng khiến lòng tin tôn vinh ca tụng Đấng Tạo hóa đó thôi.

(5) Giống linh hơn muôn vật:Kinh Thánh cũng bày ra rõ ràng loài người được dựng nên là linh hơn muôn vật.Tuy thân thể tạo ra bởi đất, thì linh tánh do Đức Chúa Trời ban cho; khi qua đời xác thịt bèn trở lại đất, mà linh hồn thì vẫn còn hoặc ở cùng Đức Chúa Trời,hay đồng số phận với Sa-tan. Khi được tạo thành thì bản tánh loài người giống như hình tượng Đức Chúa Trời, các bản quan, năng lực và tư cách đều theo kiểu mẫu của Ngài mà được nên. Dầu loài người đi dứng ăn ở dưới đất nầy, mà tâm tư cao xa vượt đến các từng trời, có tài giao thông với thần linh giới. Ấy là lời Kinh Thánh dạy chắc thật, cũng trọn theo kinh nghiệm ta, đáng cho ta tín nhận mọi bề.

4. SO SÁNH TRUYỆN SÁNG TẠO VỚI KHOA HỌC

Trong khoa học giới có bọn vô tín chuyên tâm lấy lý luận khoa học mà giải nghĩa căn nguyên muôn vật, bài xích đạo Christ cực điểm. Họ thường nhờ tầm con mắt của khoa học mà chủ trương rằng Kinh Thánh phản đối với khoa học, dạy những điều về cuộc tạo hóa không đáng tin. Nhưng mà ta có thể giải quyết rằng Kinh Thánh không những là không phản đối với khoa học thực nghiệm thôi đâu, mà khoa học lại làm tá chứng cho Kinh Thánh nữa thì có. Nếu ta viện lấy các thực sự của khoa học thực nghiệm mà sánh với Kinh Thánh, ắt sẽ rõ Kinh Thánh và khoa học chẳng có chỗ nào phản đối cả. Người ở nghìn xưa, khoa học tri thức còn chưa thông, nên sao cho khỏi mê tín lắm điều, dạy bậy bạ về các hiện tượng lạ lùng trong cõi thiên nhiên. Nhưng ở đời nầy vật lý phát minh, quan niệm trong vũ trụ càng thêm thống nhứt, khoa học càng thực nghiệm hơn, đến đỗi khoa học chân thật với tôn giáo chánh thống đều chẳng có sự trái nhau, bèn là giúp nhau thì có. Khoa học chân thật chẳng phải là một trở lực cho tôn giáo chánh thống đâu, duy là một trở lực để chứng minh cho sự xác thực của tôn giáo khải thị đó thôi. Sau đây xin lược đôi điều của khoa học thực nghiệm với bửu huấn của Kinh Thánh khải thị.

a) Muôn vật có thứ tự:Nhà khoa học khảo cứu muôn vật, thì thấy đều có thứ tự, chẳng có sự rối loạn vật nầy với vật kia bao giờ. Tuy tánh chất của muôn vật chẳng đồng, song rốt lại cũng chẳng phản đối nhau. Vậy, khoa học đoán định rằng thứ tự tức là công lệ đầu nhứt của muôn vật. Sự đoán định ấy rất thích hiệp với lời chép trong Sáng thế ký đoạn 1. Khoa học cũng xướng rằng có sự sáng trước khi có mặt trời; còn sự sáng ấy họ đoán là do tinh vân rải khắp khoảng không mà ra. Mà Kinh Thánh cũng dạy như thế; vì Đức Chúa Trời khiến cho có sự sáng ngày thứ nhứt (Sa 1:3), rồi đến ngày thứ tư mặt trời mới hiện ra (Sa 1:14–19). Khoa học cũng dạy rằng loài vật vô cơ có trước rồi sau mới có vật hữu cơ. Kinh Thánh cũng tỏ ra thứ tự như thế. Vì trong ngày thứ ba Đức Chúa Trời khiến cho đất khô ra khỏi nước, rồi sau làm cho thực vật mọc ra (Sa 1:6 -15). Khoa học lại chủ trương rằng động vật không có xương sống hiện ra trước, kế sau mới có động vật có xương sống. Kinh Thánh cũng dạy rõ như vậy. Khoa học lại xướng rằng động vật hiện ra trước ở trong nước, rồi từ nước lần lần lên đến đất khô. Kinh Thánh cũng ám chỉ ý ấy.Vì Sáng thế ký dạy rằng Đức Chúa Trời dựng nên động vật trong nước trước, kế sau mới đến động vật trên mặt đất (Sa 1:20-23)

b) Về niên tuế của cõi tạo vật: Có nhiều nhà khoa học quyết rằng không đáng tin Kinh Thánh, bởi Kinh Thánh dạy rằng vũ trụ nầy được dựng nên mới sáu ngàn năm trước đây; còn khoa học thực nghiệm cố quyết rằng vũ trụ rất cũ, bắt đầu có từ ức ức triệu triệu năm trước đây. Cứ như khoa học luận thì muôn vật hiện thời là do nguyên chất biến hóa mà nên. Từ xưa lúc hỗn mang sơ khai, có một khí nóng rất mạnh bao bọc cả nguyên chất thế giới hiện tại, khiến nó cứ xoay tịt mù, chẳng biết là trải qua mấy muôn năm. Đoạn các hành tinh, định tinh, mặt trời, địa cầu đều bởi nguyên chất hỗn độn ấy mà rơi ra. Rồi tự xây lấy tự đóng lại thành chất đặc. Địa cầu từ sau khi nóng chảy đóng lại thành chất cứng, chỗ cao gọi là đất liền, chỗ thấp gọi là biển. Lại chẳng mấy muôn năm sau đó nữa, thì trong biển có nguyên sanh vật, rồi từ đó về sau lại có động vật to tác, rừng cây xanh rậm, có hoa quả, có cầm thú, và sau rốt có loài người. Tóm lại, trước có thời đại nhiệt quang, kế đến thời đại có đá đất,thời đại thực vật, rồi sau rốt thời đại loài người. Các thời đại hỗn độn đó trải qua bao nhiêu năm chẳng ai nói chắc được, người thì ức đạt 10.000 năm, kẻ thì quyết là 10.000.000 năm và lâu hơn nữa.

Vả, kê cứu Kinh Thánh thì thấy không nói rõ về tuổi của vũ trụ, chỉ nói rằng: “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất.” (Sa 1:1). Cái lúc “ban đầu” đó dài ngắn thể nào khó đoán cho chắc, vì ấy thuộc về cách thức Đức Chúa Trời dùng mà sáng tạo muôn vật, là điều Đức Chúa Trời cũng chẳng từng tỏ bày ra cho ai biết rõ. Trong Sáng thế ký, đoạn đầu, có nói Đức Chúa Trời dựng nên muôn vật trong sáu ngày. Nhưng khó biết hoặc chữ ngày ấy có nghĩa là một ngày 24 giờ đồng hồ hay là khoảng thời gian dài hơn. Vì Kinh Thánh thường dùng chữ ngày theo hai cách, một là khoảng dài 24 giờ đồng hồ, hai là một thì giờ không nhứt định, như ngày phán xét (Ma 10:15), ngày cứu rỗi (IICô.6:2), ngày của Giê-hô-va (Xa 14:9), v...v… Phierơ cũng dạy rằng ở trước mặt Chúa một ngày như một năm, và một ngàn năm như một ngày vậy (IIPhi. 3:8).

Vả, chữ ngày dài 24 giờ đồng hồ định nghĩa theo địa cầu xây chung quanh mặt trời một vòng. Nhưng ta thấy ngày đầu tiên truyện sáng tạo không có mặt trời; đến ngày thứ tư mới có vì sáng ấy. Vậy, chữ ngày của truyện ấy có lẽ không chỉ về một khoảng 24 giờ đồng hồ, bèn chỉ về những khoảng thời đại khá dài, mỗi khoảng hoặc một ngàn năm, hoặc vạn năm, hoặc dài hơn nữa thì khó biết được. Song ta có thể đoán định chắc chắn rằng trong truyện tích thuật lại cuộc sáng tạo ấy chẳng có điều gì phản đối với ý kiến của khoa học về thì giờ dựng nên vũ trụ. Câu “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất” có thể gồm lại sáu ngày, một ngày dài 24 giờ đồng hồ, mà cũng có thể gồm lại mấy ức triệu năm nữa. Đức Chúa Trời là Đấng toàn năng, theo ý chỉ mình làm mọi sự, nên cũng có thể dựng nên muôn vật nội trong sáu ngày; cũng có thể dùng phương cách khác trải qua thời gian dài hơn mà làm xong việc lạ lùng ấy. Kinh Thánh chẳng nói thời gian ấy dài ngắn bao nhiêu, cũng chẳng có lời gì phản đối với khoa học.Duy Kinh Thánh có dạy rõ ràng điều nầy, Đức Chúa Trời dựng nên muôn vật theo loại:trước hết Ngài dựng nên vật chất, rồi đến loài thực vật, sau thì có loài động vật,rồi mới đến loài người. Các loài ấy chẳng theo luật tấn hóa mà có, đến đỗi loài nầy do loài kia mà ra; duy mỗi loài đều được Đức Chúa Trời dựng nên cách trực tiếp như ta đã thấy vậy.

c) Lý học có lẽ sai lầm, Kinh Thánh thì không: Khoa học chân thật và tôn giáo chánh thống đều là lẽ thật của Đức Chúa Trời, cho nên học vấn và đạo giáo chẳng có chỗ nào phản đối nhau được. Sự công kích của khoa học giới do thiên kiến của kẻ vô tín, chớ chẳng tại sự học vấn và đạo giáo không thích hiệp nhau đâu. Lắm nhà khoa học càng kê cứu tánh chất muôn vật, càng thấy đại quyền đại năng của Đấng Tạo hóa, công nhận Kinh Thánh bao giờ cũng mới mẽ, đúng đắn mọi bề; họ phát kiến vật lý của muôn vật bao nhiêu, cũng thấy chẳng phản đối với lẽ thật của Đức Chúa Trời bấy nhiêu.Nhưng mà nghị luận và lý tưởng của khoa học hay ức đạt nhiều, đoán án lắm khi bông lông huyền ảo không chắc chắn gì. Ta thường nghe ông nầy phát minh một điều phản đối hẳn với nhà kia. Đời nay tin điều kia là lệ định của muôn vật, rồi đến đời sau họ lại phủ quyết lời ấy, rồi lập lên những lời khác. Như lý thuyết dạy rằng loài người do loài khỉ tiến hóa, nhưng giữa con khỉ và loài người có vực sâu rất rộng lớn, nên họ lại xướng rằng ở giữa hai loài ấy chắc có vật gì chuyển qua. Nhưng trải qua bốn năm chục năm nay họ đã tìm khắp sông biển rừng núi trên mặt đất nầy mà chưa gặp một cái gì làm xác chứng cho ý kiến ấy.

Chúng ta xây bỏ các tư tưởng lẩn thẩn ức đạt vô lý đó mà xét qua Kinh Thánh, thì thấy lời khải thị của Đức Chúa Trời rất rõ rệt rất chắc chắn, không hề theo thời gian mà thay đổi bao giờ. Dầu trải năm nầy qua năm khác, đời nọ sang đời kia, thế sự có vần xây, người vật có biến đổi,thì đạo Kinh Thánh từ ngàn xưa cũng không hề thay đổi, đời đời hằng mới mẽ, làm thỏa mãn kẻ có lòng tin mọi bề. Vậy, ta đoán rằng Kinh Thánh chẳng phản đối khoa học thực nghiệm có bằng chứng xác thực đâu; duy phản đối với tư tưởng bông lông ức đạt do lòng dữ và chẳng tin mà ra đó thôi.

5. MỤC ĐÍCH VỀ CUỘC TẠO HÓA

Đức Chúa Trời vốn Đấng khôn ngoan vô cùng;nên Ngài dự định dựng nên vũ trụ thì phải có mục đích cũng cao thượng tuyệt đối,mới xứng hiệp với bản tánh của Ngài. Mục đích ấy phải bằng các sự ích lợi tốt nhứt, kết quả những điều thiện hảo vô song, hầu cho loài người nhờ đó mà hiểu biết Đức Chúa Trời càng thêm. Duy nhờ mục đích dường ấy ta có thể định giá cho công việc của Đức Chúa Trời, và phán đoán về bản tánh của Ngài được khải thị ở trong việc ấy là thể nào. Vậy, mục đích về cuộc tạo hóa là gì? Xem Kinh Thánh thì thấy có bốn mặt, tức là:

a) Chính mình Đức Chúa Trời:Các câu dẫn ra dưới đây chứng rằng Đức Chúa Trời vì chính mình Ngài mà dựng nên muôn vật:

Ro 11:36; Co 1:16; Es 48:11; ICo 15:28; Ch 16:4

b) Để làm nên thánh ý của Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời từ trước vô cùng định ý dựng nên vũ trụ. Ngài bèn trù liệu mọi sự, rồi dựng nên muôn vật đặng làm nên thánh ý ấy. Những câu dẫn dưới đây làm chứng:

Eph 1:5,6,9; Kh 4:11

c) Vì vinh hiển Đức Chúa Trời: Đại mục đích về cuộc tạo hóa là vì vinh hiển của Đức Chúa Trời. Kinh Thánh chứng rằng:

Es 43:7; Es 60:21; Es 61:3; Lu 2:14;

d) Để tỏ ra quyền năng, sự khôn ngoan và danh thánh của Đức Chúa Trời: Nhờ cuộc tạo hóa Đức Chúa Trời cũng muốn bày tỏ cho loài người quyền năng lớn lao, sự khôn ngoan tối thượng và danh chí thánh của Ngài. Kinh Thánh có lời chứng rằng:

Thi 143:11; Es 36:22,23; Ro 9:17; Ro 9:22,23; Eph 3:9,10

Ấy vậy, nhờ các câu viện dẫn trên kia ta biết đại mục đích của Đức Chúa Trời trong cuộc sáng tạo muôn vật là chính mình Ngài và vinh hiển của Ngài. Nhưng có kẻ bẻ rằng: Nếu Đức Chúa Trời chỉ lấy chính Ngài và vinh hiển Ngài mà làm mục đích của cuộc tạo hóa, thì há chẳng là Ngài cũng vì tư kỷ rồi ư? Loài người đã bị nghiêm cấm về lòng tư kỷ rồi, huống chi Đức Chúa Trời! Xin đáp: Dầu Đức Chúa Trời lấy chính Ngài và vinh hiển Ngài mà làm mục đích của cuộc tạo hóa, thì cũng chẳng bởi đó mà Ngài làm theo tư kỷ chút nào!Trái lại, nếu Đức Chúa Trời đạt đến mục đích của cuộc tạo hóa, thì cả vũ trụ và các vị thọ tạo cũng đều hưởng được phước trọn vẹn. Vì nơi nào chính Đức Chúa Trời là đối tượng của mọi sự, thánh ý Ngài được nên, danh Ngài được tôn vinh, quyền năng và sự khôn ngoan Ngài được bày ra, thì nơi ấy cũng có bình an, vui vẻ,công nghĩa, thánh khiết, và mọi sự thiện hảo khác nữa. Vậy mục đích của cuộc tạo hóa thật tối cao, rất xứng hiệp với bản tánh Đức Chúa Trời, làm ích lợi tốt nhứt cho loài người, và kết quả vinh cho Đức Chúa Trời đến đời đời vô cùng vậy.

III. SỰ BẢO TỒN

1. ĐỊNH NGHĨA

Đức Chúa Trời đã dùng quyền năng Ngài mà dựng nên muôn vật, hoặc vật thấy được hay là vật không thấy được. Nhưng Ngài chẳng dựng nên muôn vật rồi liền để mặc kệ cho nó hành động. Ngài bèn cứ lấy quyền năng và sự khôn ngoan mà gìn giữ muôn vật, hầu cho nó cứ tồn tại, không bị tuyệt diệt hoặc phải mất một nguyên chất nào hay một năng lực nào mà Ngài đã phú cho nó trong buổi sáng tạo. Đạo về công việc tạo hóa dạy thế nào Đức Chúa Trời dựng nên muôn vật; đạo về sự bảo tồn dạy thế nào Đức Chúa Trời gìn giữ muôn vật cho được tồn tại luôn.

2. BẰNG CHỨNG

a) Kinh Thánh làm chứng:Kinh Thánh phân biệt rõ ràng việc dựng nên với việc bảo tồn, dạy rằng Đức Chúa Trời dùng quyền năng và lời phán mà bảo tồn muôn vật, hầu cho nó khỏi bị băng kiệt hư hoại. Sau đây xin dẫn ra ít câu làm chứng:

Ne 9:6; Giop 7:20; Thi 36:6; Thi 100:29,30; Cong 17:28; Co 1:17; He 1:3; Gi 5:17 Việc ấy chắc chỉ về việc bảo tồn, vì việc dựng nên đã xong rồi. Xin sánh với:

Sa 2:2; Thi 66:9 Câu ấy dạy rằng Đức Chúa Trời bảo tồn mạng sống thuộc thể của loài người.

Ma 4:4 Câu ấy dạy rằng Đức Chúa Trời cũng bảo tồn sự sống thuộc linh nữa.

Cả Thi Thiên 104 là một bài ca tụng quyền năng bảo tồn của Đức Chúa Trời, vì Ngài gìn giữ các sanh vật trong biển trên đất được tồn tại mãi mãi không thôi.

b) Lý tánh làm chứng:Chúng ta cũng nhờ lý tánh mà đoán rằng Đức Chúa Trời bảo tồn muôn vật.

(1) Vật chất và tâm tánh chẳng hề tự nhiên mà có. Vì lý do của sự thực hữu nó chẳng ở nơi nó, nên sự tồn tại của nó luôn với căn nguyên nó đều phải ở nơi một Năng lực cao hơn nó mà ra mới hữu lý. Bởi vì nếu vũ trụ tự hữu, thì vũ trụ là Đức Chúa Trời, ở ngoài nó không thể có Thần nào nữa.Mà nếu nó không tự hữu, nhưng do quyền năng của Đức Chúa Trời mà ra, thì lý tánh dạy rằng nó cũng phải nhờ quyền năng ấy mà được tồn tại nữa.

(2) Trong vũ trụ có năng lực lạ lùng hành động,nâng đỡ, gìn giữ muôn vật. Vả, chúng ta biết rằng năng lực ấy không tự nó vận động được, bèn phải có một ý chỉ làm lý do của nó, mới kết quả sự bảo tồn lạ lùng như chúng ta thường thấy trong vũ trụ nầy.

(3) Chủ quyền tuyệt đối của Đức Chúa Trời cũng dạy rằng năng lực bảo tồn muôn vật quả là của Đức Chúa Trời. Ví bằng năng lực ấy không do chủ quyền của Ngài mà ra, nhưng do nguồn gốc khác, thì chủ quyền của Ngài không được tuyệt đối, vì có vị khác chia quyền với Ngài. Song điều ấy phản đối hẳn lẻ thật về bản tánh Đức Chúa Trời, vì Ngài là Đấng vô sở bất năng,căn nguyên duy nhứt của mọi thứ năng lực vận động ở trong vũ trụ nầy vậy.

3. CÁCH THỨC BẢO TỒN MUÔN VẬT

Vả Đức Chúa Trời dùng cách thức gì mà bảo tồn muôn vật? Trong vòng các học thuyết có nhiều ý kiến về vấn đề ấy. Đây xin chỉ ra ý kiến sai lầm trước, rồi sau sẽ luận đến ý kiến chánh đáng.

a) Ý kiến sai lầm:Trong học giới và giáo giới có nhiều tà thuyết về sự bảo tồn muôn vật. Nhưng sau đây chỉ kể lại đại ý của hai ý kiến quan hệ hơn hết mà thôi.

(1) Tự nhiên thần giáo: Ý kiến nầy chủ trương rằng vũ trụ vốn một cơ thể tự động tự bảo, mà Đức Chúa Trời đã tạo thành rồi bỏ đi, để nó cứ theo lẽ tự nhiên mà khai phát, xây đi vần lại cho đến vô cùng. Từ buổi sáng thế cho đến bây giờ Đức Chúa Trời chẳng hề để ý hoặc đoái hoài gì đến vũ trụ nữa. Theo ý kiến nầy thì vũ trụ giống như cái đồng hồ kia, khi thợ đã chế tạo xong, bèn lên giây rồi để mặc nó cứ chạy theo máy móc đã có, không còn để ý đến nó nữa. Thuyết nầy dấy lên bên nước Anh vào thế kỷ XVII, do chúa Herbert de Cherbury khởi xướng. Sau đây xin luận qua cái lý do phải liệt nó vào hàng tà thuyết.

(a) Phản đối Kinh Thánh:Trong phần II của chương nầy chúng ta đã thấy Kinh Thánh minh chứng rằng Đức Chúa Trời lấy quyền năng của Ngài mà bảo tồn muôn vật cách trực tiếp, đến đỗi muôn vật không bị băng kiệt hư hoại, mà lại đạt đến mục đích Đức Chúa Trời đã dự định cho nó.

(b) Do lẽ tương tợ sai mà ra:Thuyết nầy sánh công việc của Đức Chúa Trời với công việc loài người, quyết rằng hai công việc ấy có tương tợ mật thiết. Nhưng ý kiến ấy lầm to. Ví như đồng hồ kia, loài người có tài chế tạo nó bằng máy móc tự động, là vì chỉ tại loài người lợi dụng những năng lực đã có sẵn, như hấp lực, đàn lực, kết lực, v...v., mới chế tạo nó được. Chỉ như cuộc sáng tạo vũ trụ thì khác, vì các năng lực ấy vốn không có; khi dựng nên muôn vật xong xuôi rồi thì mới có, và vẫn còn đến ngày nay. Vậy, các năng lực ấy từ đâu mà có? Ai bảo thủ cho nó tồn tại mãi? Lý tánh dạy rằng năng lực vô tri vô giác chẳng tự động, phải có tâm trí dùng nó, mới vận động được. Mà nếu các năng lực ấy đương vận động trong vũ trụ mãi, há chẳng phải tại vì có Đại Tâm trí gọi là Đức Chúa Trời lợi dụng nó, chỉ dẫn và bảo tồn nó luôn sao? Vả lại, xét công việc loài người thì thấy chẳng việc gì thoát ly luật hao mòn hư mất, dầu có sự săn sóc sữa chữa đến đâu đi nữa, kết cuộc phải bị hư hoại đó thôi.

Về công việc của Đức Chúa Trời chẳng như vậy đâu, từ khi vũ trụ có đến bây giờ nó chẳng hao mòn, chẳng hư mất, cũng chẳng thấy có ai sửa lại gì, nhưng mọi sự dường như mới mẻ hoài. Ấy há chẳng vì có tay quyền năng của Đức Chúa Trời bảo tồn luôn, mới có như vậy ư? Thế thì, so sánh việc Đức Chúa Trời với việc loài người như thế, rồi chối Đức Chúa Trời bảo tồn muôn vật,thật lầm to, vì sự tương tợ ấy không hợp nghi.

(c) Chối sự vô sở bất tại của Đức Chúa Trời: Thuyết nầy cũng từ chối sự vô sở bất tại của Đức Chúa Trời, vì chủ trương rằng sự bảo tồn muôn vật bao hàm vô số việc mọn mạy, rất nhiều sự lo lắng nhỏ nhen, chẳng xứng hiệp với bản tánh tôn nghiêm của Đức Chúa Trời. Loài người vốn nhỏ nhen hèn mọn,nên chịu các sự lo lắng vụn vặt ấy vương vít cũng đáng, nhưng Đức Chúa Trời thì không. Theo thuyết nầy Đức Chúa Trời dường như một khách quan đứng ở ngoài vũ trụ, dòm xem nó xây đi vần lại thể nào, nhưng chẳng hề mó tay đến để phù trì bảo thủ nó chút nào cả. Nhưng Đức Chúa Trời vốn quyền năng vô hạn vô lượng, nên việc gì loài người coi là cực nhọc, thì Đức Chúa Trời vẫn cho là dễ như trở tay. Sự sống Ngài cũng chẳng hay hư hay hết, mạnh mẽ vô cùng, nên việc nâng đỡ vũ trụ mà loài người kể là nặng quá sức người phàm, một nguồn lo sợ buồn rầu, thì Đức Chúa Trời coi là nhẹ như lông hồng, làm cho biến ra nguồn vui sướng cực lạc. Vậy,ta có thể đoán chắc rằng Đức Chúa Trời không hề dựng nên vũ trụ rồi bỏ mặc kệ,song Ngài vẫn ở trong vũ trụ, lấy lời quyền năng của Ngài mà bảo thủ muôn vật cho được tồn tại luôn.

(d) Chối cả đạo Đức Chúa Trời: Nếu xét thuyết nầy cho cạn lẽ, thì rõ lắm nó không những chối về sự Đức Chúa Trời bảo tồn muôn vật mà thôi, lại chối đến đạo Đức Chúa Trời nữa. Vì nếu Đức Chúa Trời từ buổi sáng tạo xong, không hề can thiệp đến lịch sử của vũ trụnầy nữa, thì chắc cũng chẳng hề đem sự sống vào vũ trụ, hoặc dựng nên loài người, hoặc khiến Christ trở nên xác thịt, hoặc tái sanh người nào, hoặc cho ai giao thông với Ngài, hoặc cai trị trên muôn dân muôn nước, thảy đều không cả. Vả, chối các điều ấy, chẳng qua là chối nào đạo Đức Chúa Trời, nào thực tế của lịch sử toàn cầu,cho thay thảy đều là những ý tưởng ảo huyền đó thôi. Song các điều ấy không thể chối được, vì là những thực sự nhơn loại xưa nay, chép để đủ lý và rõ ràng,minh chứng rằng muôn vật được tồn tại sờ sờ đó đến ngày nay, quả hẳn là bởi có thần lực trực tiếp phù trì bảo tồn chẳng sai. Kẻ nào mãi say mê theo thuyết tự nhiên thần giáo, không sớm thì muộn chắc phải sa vào hầm vô thần thuyết mà chối hẳn chính Đức Chúa Trời nữa.

(2) Vĩnh viễn cải tạo thuyết:Thuyết nầy chủ trương rằng vũ trụ chẳng nhờ Đức Chúa Trời bảo thủ mà được tồn tại,nhưng nó vẫn được tái tạo và tự tân luôn.

Thuyết nầy cũng sai lầm nữa, vì cũng bỏ Đức Chúa Trời ra ngoài cõi thọ tạo, chỉ khi nào vũ trụ cần sự thay đổi hoặc sửa sang gì, thì mới mời Ngài trở vào để thi hành sự tu bổ ấy. Thuyết nầy cũng chối bỏ các phép tắc thiên nhiên để bảo thủ cho nó được tồn tại luôn. Giả như lúa gạo,Đức Chúa Trời chẳng hề dựng nên lúa mới mỗi năm đâu, nhưng Ngài lợi dụng nào là sức sanh hóa trong hạt giống, khí chất của đất, nào là hơi mưa, ánh nắng cùng khí hậu thay đổi của bốn mùa tám tiết, nào là sự gieo trồng, gặt hái mà ban cho nhơn loại ta quanh năm trải đời đều có lúa gạo ăn tiếp tục vậy.

b) Ý kiến chánh đáng: Vũ trụ nầy chẳng phải một cơ chế tự động tự bảo mà Đức Chúa Trời dựng nên, rồi liền lìa bỏ, chẳng còn đoái đến nữa; cũng chẳng nhờ năng lực vĩnh viễn cải tạo mà thực tại luôn đâu; bèn nhờ thần lực cùng công lệ trong muôn vật mà bảo thủ nó được tồn tại. Ý kiến ấy tương phù với Kinh Thánh, cũng thích hiệp với sự từng trải của loài người nữa. Khi Đức Chúa Trời tạo thành muôn vật, thì cũng phú cho những công lệ. Nhờ các công lệ ấy vận động trong muôn vật mà Đức Chúa Trời bảo tồn nó mãi mãi. Nhưng các công lệ ấy cũng chẳng tự nhiên vận động đâu, bèn phải nương dựa ở nơi lời quyền năng của Đấng Tạo hóa, mới gìn giữ nguyên lực nó được. Cho nên trước giả Hê-bơ-rơ chứng rằng: He 1:3

Nhờ lời ấy các công lệ cứ vận động, chính muôn vật được tồn tại để đạt đến mục đích y theo nguyên chỉ Đức Chúa Trời đã dự định vậy. Nếu Đức Chúa Trời rút “lời quyền năng” ấy đi, thì trong nháy mắt cả muôn vật đều phải băng hoại và tuyệt diệt chẳng còn phương cách cứu chữa được nữa.

IV. THẦN HỰU

1. ĐỊNH NGHĨA

Danh từ Thần hựu có hai nghĩa, hẹp và rộng.

a) Nghĩa hẹp: Thần hựu, nghĩa hẹp là Đức Chúa Trời giúp đỡ. Thần là Đức Chúa Trời; hựu là giúp đỡ.

b) Nghĩa rộng: Về nghĩa rộng thì danh từ Thần hựu chỉ về Đức Chúa Trời phù trì, điều độ và cai trị muôn vật. Tiếng Pháp và Anh gọi là Providence. Đạo về cuộc tạo hóa tỏ ra lý do về sự thực hữu của vũ trụ. Sự bảo tồn tỏ ra thế nào vũ trụ tồn tại luôn; còn Thần hựu dạy làm sao vũ trụ được mở mang, tấn bộ, và đạt đến mục đích chánh thức của nó. Trong vũ trụ nầy quyền năng của Đức Chúa Trời vẫn phù trì mọi sự, điều độ mọi vật, cai trị mọi biến động, hoặc thuộc thể hay thuộc linh, khiến cho mọi sự ấy hiệp lại làm cho muôn vật đạt đến mục đích y theo nguyên chỉ Ngài đã dự định từ trước vô cùng. Vả, như nguyên chỉ ấy bao hàm các vật thọ tạo, nhỏ và lớn, hữu hình và vô hình thể nào, thì Thần hựu bao hàm các vật đó cũng thể ấy. Nói cách khác, Đức Chúa Trời phù trì, điều độ và cai trị nào địa chất, nào thực vật, nào thú vật, nào cá nhân, nào đến cả mọi dân mọi nước nữa, chủ quyền tuyệt đối Ngài thống nhứt việc thiện, việc ác, khiến cho mọi sự thuộc thể thuộc linh phải hiệp lại làm trọn ý chỉ Ngài đã định.

2. BẰNG CHỨNG VỀ THẦN HỰU

a) Kinh Thánh làm chứng:

1) Đức Chúa Trời chăm nom muôn vật: Kinh Thánh dạy rõ rằng Đức Chúa Trời chăm nom cách phổ thông trên những điều kể sau đây:

(a) Cả vũ trụ:

Thi 103:19; Da 4:35; Eph 1:11;

(b) Cõi thiên nhiên:

Giop 37:5,10; Thi 104:14; Thi 135:6,7; Ma.5:45; Thi 104:16. Ấy chắc vì Đức Chúa Trời vun trồng sửa tỉa cẩn thận muôn phần hơn loài người. Ma. 6:30. Ấy dạy rằng nhờ lẽ thần hựu mà Đức Chúa Trời trang sức đẹp đẽ cho các loài thực vật ngoài đồng vậy.

(c) Cõi động vật:

Thi 104:21,28; Ma 6:26; Ma 10:29;

(d) Muôn dân muôn nước:

Giop 12:23; Thi 22:28; Thi 66:7; Cong 17:26

(e) Sự sanh trưởng và phận mạng của cá nhân:

ISa 16:1; Thi 139:16; Es 45:5; Gie 1:5;Ga 1:15,16

(f) Sự hưng vong của loài người:

Thi 75:6,7; Lu 1:51,52;

(g) Việc lặt vặt nhỏ nhoi:

Ch 16:33; Ma 10:30

(h) Người công nghĩa:

Thi 4:8; Thi 5:12; Thi 63:8; Thi 121:3; Ro 8:28

(i) Dự bị sự cần dùng cho dân sự Ngài:

Sa 22:8,14 (nghĩa là Giê-hô-va sẽ dự bị cho); Phu 8:3; Phi 4:19

(j) Sắm sửa trả lời cầu nguyện:

Thi 68:10; Es 64:4; Ma 6:8; Ma 6:32,33

(k) Việc hình phạt kẻ ác:

Thi 7:12,13; Thi 11:6

2) Đức Chúa Trời chủ trị trong công việc và tội lỗi của loài người: Kinh Thánh cũng làm chứng rằng Đức Chúa Trời chủ trị việc làm tự do và tội ác của loài người.

(a) Việc làm tự do của loài người

Xu 12:36; ISa 24:19; Thi 33:14,15; Ch 16:1; Ch 19:21; Ch 21:1-Nghĩa là Đức Chúa Trời khiến cho lòng của vua làm việc thì dễ như làm cho nước ở ngoài đồng chảy bên nầy hay bên kia vậy. Gie 10:23; Phil 2:13; Eph 2:10; Gia 4:13,15

Các câu ấy, và nhiều câu khác, đều minh chứng rằng các việc tự do của loài người đều do Đức Chúa Trời mà ra cả. Ngài chủ trị trên ý dục, cảm tình và ngộ tánh của người ta, đến nỗi họ làm thành ý chỉ của Ngài, mặc dầu chính họ vẫn không ngờ. Song ta khá hiểu rằng Ngài chẳng hề phá hủy ý dục tự do của người ta đâu, duy cảm hóa ý dục ấy để nó tình nguyện làm các việc theo ý chỉ của Ngài đó thôi.

(b) Các việc tội ác của loài người:

IISa 16:10; IISa 24:1; Ro 11:32; IITe 2:11,12

3) Cách Đức Chúa Trời chủ trị trong việc tội ác của loài người: Kinh Thánh chứng rằng Đức Chúa Trời thường theo bốn cách mà chủ trị trong việc tội ác của loài người.

(a) Ngăn ngừa tội ác: Nhờ sức Thần hựu của Đức Chúa Trời ngăn ngừa việc tội ác, mà người ta cố ý làm. Ngài ngăn ngừa tội ác,chẳng phải vì lý tất nhiên buộc phải làm, bèn vì ân điển rộng rãi của Ngài vậy.Kinh Thánh chứng rằng:

Sa 20:6; Sa 31:24; Thi 19:13; Os 2:6

“Gai gốc” và “bức tường” trong Os 2:6 đó ám chỉ về các sự đau đớn Ngài thường dùng đặng ngăn ngừa người ta đuổi theo tội ác. Cha mẹ, chánh phủ, Hội Thánh, phong tục, luật pháp, tuổi tác, chức nhiệm, tật bịnh, chết chóc, thảy đều có ảnh hưởng tốt, cảm lực mạnh để ngăn ngừa tội ác. Lắm khi có người bị cám dỗ quá chừng, phạm tội trọng, không còn thấy mình có sức gì để chống cự nó nổi, nghĩ rằng một hai chắc phải phạm tội đó thôi. Đương khi đứng trong địa vị nguy hiểm như thế, thình lình nghe trong mình đã mất sự muốn phạm tội rồi, chẳng còn thèm làm đến sự ghê gớm ấy nữa, mà lại ghét ý tưởng về tội đó cũng có. Tại sao người ấy được cứu khỏi phạm tội như thế? Há chẳng tại vì Đức Chúa Trời dùng lương tâm và Thánh Linh mà ngăn cản mình làm theo chước cám dỗ mà phạm tội đó hay sao? Đức Chúa Trời thường dùng hai cơ quan ấy mà thi hành lẽ Thần hựu để ngăn ngừa tội ác, đến đỗi vô số người đã nhờ đó mà thoát khỏi phạm tội trọng.

(b) Để mặc cho người ta phạm tội: Đức Chúa Trời để mặc cho kẻ ác có lòng cứng cứ yêu chuộng và làm tội ác. Ngài thật không ưng chịu tội ác của họ, cũng chẳng dung thứ mà bỏ qua đâu, duy không trực tiếp ngăn cản tôi nhơn cố ý theo đường lối gian ác của nó đó thôi. Dầu Ngài để mặc cho tội nhơn làm ác, thì vẫn ghen ghét tội, không sớm thì muộn chắc sẽ đoán phạt không sai. Kinh Thánh chứng rằng:

IISu 32:31 Xin sánh câu ấy với câu tiếp theo: Phu 8:2; Thi 81:12,13; Es 53:4,10.

Ấy là Ngài vừa ý cho dân Do Thái mặc kệ theo ác mưu trong lòng họ mà giết Chúa vậy.

Os 4:17; Cong 14:16; Ro 1:24,28; Ro 3:25.(Cũng xem ISa 18:10)

(c) Chỉ huy tội ác: Đức Chúa Trời vốn biết rõ mưu ác của người ta. Có khi Ngài trực tiếp làm cho ác mưu ấy bất thành, chỉ huy việc ác họ mưu làm đó trở lại làm trọn ý muốn của Ngài. Hễ lòng người nào cố ý chứa gian ác, ắt phải tràn ra, Đức Chúa Trời không ngăn ngừa được; nhưng Ngài lấy chủ quyền tuyệt đối mình mà chỉ huy, khiến cho sự ác đó phải chạy theo lối Ngài chỉ định, cốt để hạn chế nó làm thiệt hại ít hơn hết. Tội ác ở trong lòng chẳng khác gì phún thạch ở trong hỏa diệm sơn kia, khi nó nổ ra thì không thể ngăn cản nó phun lên và tràn chảy ra ngoài; nhưng nó chạy qua hướng đông hay hướng tây, ấy bởi ý chỉ Đức Chúa Trời chỉ huy hạn chế nó làm thiệt hại ít hơn hết.Cũng vậy, có khi Đức Chúa Trời không ngăn cản tội ác tràn ra, nhưng Ngài định hướng cho đường lối nó, để nó chỉ kết quả sự thiệt hại nhỏ hơn hết đó thôi. Những câu viện dẫn dưới đây làm chứng:

Sa 50:20; Thi 76:10; Es 10:5; Cong 4:27,28

(d) Hạn chế tội ác: Đức Chúa Trời hạn chế ác tính của các vị thọ tạo, hầu cho tội lỗi nó lan ra có chừng mực. Tội ác giống như hột giống kia, khi gieo rồi, có thể mọc lên, kết quả từ việc ác nầy ra việc ác khác cho đến mãi mãi. Nên Đức Chúa Trời đặt giới hạn cho nó, định sự kết quả nó không được tràn qua cái giới hạn ấy. Nhưng dầu Đức Chúa Trời làm vậy, thì chẳng phải thay đổi bản tánh của tội ác, hay là dự phần đến việc ác đâu; duy khiến cho nó không được ngăn trở ý chỉ Ngài thành tựu đó thôi. Kinh Thánh làm chứng như dẫn sau đây:

Giop 1:12; Giop 2:6; Thi 124:3; ICo 10:13; IITe 2:7,8; Kh 20:2,3

4) Trong lễ Thần hựu ý chí tự do của loài người và chủ quyền tuyệt đối của Đức Chúa Trời có sự tương đối nhau thể nào? Vả,lẽ Thần hựu có quan hệ với cả ý dục loài người và ý chỉ của Đức Chúa Trời. Xem xét công việc người ta thì thấy có hai mặt: mặt nầy hướng về Đức Chúa Trời, mặt kia hướng về loài người. Coi mặt hướng về Đức Chúa Trời thì dường như mọi việc làm của người ta duy do ý chỉ Đức Chúa Trời mà thành công. Song nếu xem mặt hướng về loài người, thì lại dường như cả thảy đều do ý dục họ mà được nên.

Song có kẻ hỏi: “Ý dục của loài người thế nào hiệp tác với ý chỉ của Đức Chúa Trời mà làm nên ý muốn của Ngài?” Ấy là một nan đề thật khó giải quyết, chắc chỉ Đức Chúa Trời hiểu rõ, cùng giải rõ đó thôi. Dầu vậy, ta có thể dùng sự tương đối của linh hồn với thân thể làm ví dụ:cánh tay vẫn cứ giữ vẹn công lệ của nó luôn, thế mà cũng thường vâng phục ý dục của linh hồn mà lạm dụng. Cũng vậy, loài người thật tự do, được tự ý mình làm việc; dầu vậy, Đức Chúa Trời vẫn chủ trị các động tác của họ hoặc thiện hoặc ác cũng vậy. Các vị tự do thật phải phục chủ quyền tuyệt đối của Đấng cao cả,nhưng Đấng ấy chủ trị họ ở trong sự tự do của họ. Cả hai ý dục tự do của loài người và chủ quyền tuyệt đối của Đức Chúa Trời đều tồn tại luôn, cái nầy chẳng giảm bớt hay là phá hủy cái kia; trong việc của loài người cả hai đều đi song song nhau như hai đường bình hành, hiệp tác làm nên ý tốt của Đức Chúa Trời. Đạo nào phủ nhận lẽ thật ấy là tà giáo, chỉ hủy hoại chánh đạo nó thôi.

b) Lịch sử làm chứng:

Kê cứu lịch sử của các nước thế gian, bất luận giáo hóa nước nào cạn hay sâu, đều dễ thấy có một cánh tay siêu nhiên chủ trị mọi sự của các nước ấy để thưởng thiện phạt ác, khiến ai gieo giống gì gặt giống ấy,chẳng sai một sợi tóc nào cả. Từ xưa đến nay sự hưng suy của các nước, bề ngoài dường như chỉ bởi người ta gây nên; song xét cho sâu hơn, thì rõ lắm phải có mạng lịnh của Đức Chúa Trời cai trị trên việc làm của người ta mới được nên thể ấy.

Ví như lúc Chúa Jesus giáng sanh thì Lamã đế quốc cầm quyền thống trị trên cả thiên hạ. Kinh Thánh đã dự ngôn rằng Christ phải chịu chết trên cây gỗ. Mà lúc đó chỉ Lamã dùng tử hình ấy. Cho nên nếu lúc Chúa Jesus tại thế, mà quyền thống trị thiên hạ ở trong tay một cường quốc khác ngoài nước Lamã, thì Ngài chịu tử hình ấy sao được? Vậy, rõ lắm Đức Chúa Trời hạ nước Hilạp xuống mà dấy nước Lamã lên đặng làm ứng nghiệm Kinh Thánh.

Vả lại, nhờ Alexandre đại đế chinh phục cả thế gian, mà văn tự Hilạp được thông lưu khắp nơi, dự bị sẵn sàng để làm lợi khí cho sự truyền bá Tin lành khắp chốn. Cũng nhờ nước Lamã chinh phục Hilạp mà các dân dã man được khai hóa, các xứ xa được giao thông nhau bởi đường sá mở thông suốt cả đế quốc, làm cho sự vãn lai tiện lợi mọi bề. Nên khi Tin lành hiện đến thì các nhà truyền giáo đầu tiên bèn nhờ văn tự Hilạp phổ thông, và đường sá Lamã thông suốt cả thiên hạ mà đi khắp nơi truyền rao ơn cứu rỗi của Jesus Christ. Các thực sự ấy há tình cờ mà có sao? Chắc không! Bèn là nhờ Thần hựu,Thần hựu của Đức Chúa Trời chủ trị và chỉ huy toàn cục các dân các nước, nên mới có như thế vậy.

c) Hội Thánh làm chứng

Nếu kê cứu về sự sáng lập và bành trướng của Hội Thánh, thì thấy đời nào cũng có tay của Đức Chúa Trời phù hộ, giúp đỡ. Dầu các thời đại các địa phương Hội Thánh trải qua nhiều nỗi bắt bớ ngăn trở, nhưng hễ bị bắt bớ ngăn trở chừng nào, thì Hội Thánh càng tấn bộ thêm chừng nấy. Có khi đời thuộc linh của Hội Thánh sa sút nguội lạnh, nhưng Đức Chúa Trời không cho hội chết hẳn, bèn dấy lên những sứ giả trung tín giảng lẽ thật, phấn hưng tín đồ, và lôi kéo Hội Thánh trở lại cùng Chúa. Đức Chúa Trời lắm khi vì Hội Thánh mà hạ vua nầy xuống, dấy vua kia lên, khiến nước nầy suy, nước kia thạnh.Julien I’Apostat (kẻ chối đạo) quyết ý diệt đạo Christ mà tái lập bái vật giáo trong Lamã đế quốc; nhưng Đức Chúa Trời không cho, bèn khiến cho vua ấy phải tử trận. Chính Julien cũng nhận rằng sự thất bại đó là tại nơi Chúa, vì lúc hấp hối vua kêu lên rằng: “Hỡi Ông Galilê, Ông đã thắng hơn tôi rồi!” Cừu địch Hội Thánh thường dấy lên đông như cát biển, hung bạo như thú dữ, hà hiếp hội hữu bốn bề, cốt quyết tuyệt diệt đi. Nhưng lạ thay! Hội Thánh vẫn còn, vẫn đứng vững rất có ích lợi quan hệ với đạo đỡi, lòng người, nước nhà và xã hội, đến đỗi cả toàn cầu phải nhận rằng Hội Thánh thật một cơ quan phi thường, được thực hữu và tồn tại duy bởi Thần hựu đó thôi.

3. LÝ THUYẾT PHẢN ĐỐI ĐẠO THẦN HỰU

Có những thuyết phản đối đạo Thần hựu lược kể như sau đây:

a) Túc mạng thuyết:Thuyết nầy chủ trương rằng mọi sự đều thuộc về vận mạng, không những là “tử sanh hữu mạng, phú quí tại thiên”, nhưng mọi sự mọi vật cũng đều bởi định mạng cả. Họ nhận rằng loài người có ý dục, song không thể dùng ý dục ấy cách tự do để quyết định làm việc gì được hết. Thuyết nầy có chỗ sai như sau đây:

(1) Phản đối sự tự tri tự giác:Túc mạng thuyết phản đối sự tự tri tự giác của loài người, vì lương năng ấy chứng rõ ràng rằng chúng ta quả được tự chủ, có quyền chọn làm theo bên nầy, chối làm theo bên kia vậy.

(2) Trở ngại thần cách Đức Chúa Trời:Túc mạng thuyết cũng trở ngại thần cách của Đức Chúa Trời, vì trọng về quyền năng Ngài mà khinh sự chân thật, sự khôn ngoan, sự thánh khiết, và sự yêu thương của Ngài. Họ nhận Đức Chúa Trời đã nhờ cuộc tạo thành muôn vật mà bày ra quyền năng lớn lao của Ngài. Song họ chối thần hựu, quả quyết rằng Đức Chúa Trời chẳng từng đoái hoài vũ trụ bao giờ. Thế mà hễ chối thần hựu, bất quá là chối Đức Chúa Trời lấy lẽ chân thật, sự khôn ngoan, sự thánh khiết và tình yêu thương mà tự bày tỏ mình cho loài người. Bởi vì trong việc thi hành Thần hựu, Đức Chúa Trời dùng các thần cách ấy để chăm nom săn sóc muôn vật. Hồi giáo và nhiều bái vật giáo đều chủ trương theo thuyết nầy.

b) Ngẫu nhiên chủ nghĩa:Thuyết nầy luận rằng hành tinh vận chuyển, nước nhà hưng suy, và mọi việc lớn lao cả thể khác ở trong vũ trụ đều nhờ Đức Chúa Trời chủ trị cả. Nhưng các việc nhỏ mọn xảy ra hằng ngày, Đức Chúa Trời chẳng từng biết đến, thảy đều xuất ư ngẫu nhiên đó thôi. Vậy, thuyết nầy bỏ Thần hựu đặc biệt mà đặt sự ngẫu nhiên thế cho. Xin tỏ chỗ sai lầm của thuyết nầy.

(1) Bỏ việc nhỏ khôn nên công lớn: Nếu Đức Chúa Trời không có quan tâm đến việc nhỏ mọn, thì chắc không thể nên việc to tát được. Giả như người thợ cả trù liệu làm đường xe lửa kia, chẳng những tính từ cái chốt sắt dài mà thôi, bèn đến một cái đinh rất nhỏ cũng tính toán tiêm tất. Cớ sao vậy? Ấy vì dầu là một đinh rất nhỏ, song nếu thiếu mất hay sắp đặt sai chỗ, thì ắt phải bị hại to, nên rất cần phải cẩn thận, không những về việc lớn, mà việc nhỏ cũng vậy; bằng không, ắt không có đường xe lửa hữu dụng được đâu. Mà nếu trong cõi loài người sự chăm nom săn sóc việc nhỏ mọn còn là quan hệ như thế thay, há dám nói trong vũ trụ Đức Chúa Trời chỉ chủ trị việc lớn mà không ngó ngàng đến việc nhỏ ư? Chúa Jesus phán rằng: Ma 10:29,30

Chim sẻ và sợi tóc loài người nhỏ mọn lắm,mà Chúa quả đoái đến, chăm nom săn sóc trọn vẹn.

(2) Không coi sóc đến việc nhỏ, không thể gọi Đức Chúa Trời là Đấng yêu thương trọn vẹn: Nếu Đức Chúa Trời chỉ đoái đến việc lớn mà không kể đến việc nhỏ, thì tình yêu thương Ngài vẫn bất toàn. Nhưng nếu xem xét bản tánh của tình yêu thương, thì biết rằng hễ ai yêu mến ai, không những là để ý đến việc lớn của họ, mà lại đoái hoài mọi việc nhỏ có quan hệ với sự yên ổn vui vẻ của kẻ ấy nữa, hằng chăm nom săn sóc, dự bị mọi sự cần dùng, dầu nhỏ đến đâu cũng chẳng hề bỏ qua. Mà nếu bản tánh tình yêu thương phàm tục còn như vậy thay, huống chi tình yêu thương trọn vẹn của Đức Chúa Trời,chắc khiến cho Ngài phải coi sóc muôn vật, sắm sửa mọi sự cần dùng, đến đỗi săn sóc cả việc nhỏ xíu cũng chẳng bỏ qua đâu! Kỳ thực, nếu không nhận có Thần hựu đặc biệt, thì cũng rất khó nhận có Thần hựu chung; mà lại nếu chẳng có Thần hựu đặc biệt, thì cũng chẳng có tôn giáo thực tế, vì loài người không thể thờ phượng Thần nào không trực tiếp coi sóc việc riêng của mình, đến đỗi dầu cùng cực thiếu thốn, nếu không có Thần hựu, thì kêu trời cũng vô ích vậy. Cho nên phủ nhận Thần hựu tức là phủ nhận Đức Chúa Trời có tình yêu thương trọn vẹn vậy.

(3) Chối Thần hựu đặc biệt cũng chối sự từng trải của tín đồ: Sự từng trải của tín đồ Christ chứng thực cho sự dạy dỗ của Kinh Thánh về sự Thần hựu đặc biệt. Bởi vì Kinh Thánh minh huấn rằng lắm biến động xảy ra, cốt ý để cứu trợ tín đồ. Có khi họ bị hoàn cảnh nguy hiểm, thiếu thốn, đau ốm, bắt bớ, v...v., mà cầu khẩn Chúa cứu trợ, thì thường thấy Chúa thương xót mà giải cứu liền. Tín đồ nào đã từng trải sự tái sanh, sự nên thánh, sự giao thông với Đức Chúa Trời, sự nhậm lời cầu nguyện, không thể nào hoài nghi “mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời” (Rô.8:28). Vậy, hễ chối Thần hựu đặc biệt, chắc cũng phải chối luôn sự từng trải của muôn trùng tín đồ nữa; vì họ đều đồng thinh chứng minh rằng: “Chúa là Đấng giúp đỡ tôi, tôi sẽ chẳng sợ chi; người ta làm chi tôi được?” (He 13:6).

4. THẦN HỰU QUAN HỆ

Công việc tể trị coi sóc của Đức Chúa Trời rất quan hệ, kể không xiết không cùng. Xin chỉ nói lược đôi điều cần yếu như sau nầy:

a) Quan hệ với thứ tự muôn vật: Một bầu trời đất bao la, đôi vừng nhựt nguyệt chiếu diệu, bốn mùa luân chuyển, muôn vật hóa sanh, năm tháng đúng, ngày giờ y, thảy đều có thứ tự, chẳng hề sai chạy chút nào. Nếu không có Đấng Tạo hóa chủ trị điều độ, vận dụng sự khôn ngoan quyền năng vô hạn của Ngài ở trong đó, mà muôn vật muôn tượng tự hiện tự thành, thì sự diệu hiệp của muôn vật, sự tấn hóa của các cơ thể, thế nào có được thứ tự nhịp nhàng như vậy ư? Tuy trí lực của chúng ta có chừng, không thể dò hết được định lệ trong vũ trụ chu toàn lạ lùng là thể nào; nhưng có một điều chúng ta biết được là nếu không có Đức Chúa Trời vận dụng ý chỉ khôn ngoan và tình yêu thương của Ngài mà đoái đến vũ trụ, làm hết công việc chăm nom săn sóc từ việc nhỏ đến việc lớn, thì trời đất muôn vật không thể có được hiện tượng như vậy.

b) Quan hệ với sự cầu nguyện: Lấy làm rõ ràng lắm cho ta nhận thấy Thần hựu có quan hệ với sự cầu nguyện. Nhưng suy nghĩ về vấn đề ấy lại nảy ra vấn đề khác nữa trong tâm trí ta rằng: Nếu các công lệ trong cõi thiên nhiên đã cố định rồi, thì Đức Chúa Trời thể nào trả lời sự cầu nguyện được ư?

(1) Có kẻ luận về vấn đề nầy rằng, ở ngoài sự cảm động linh tánh, thì sự cầu nguyện chẳng có linh nghiệm gì cả, nó bất quá là một thứ “thể tháo” thuộc linh đó thôi. Nhưng kinh nghiệm về sự từng trải tín đồ và sự dạy dỗ của Kinh Thánh thì rõ sự cầu nguyện chẳng những cảm động linh tánh người ta, mà lại có đủ sức cãm động đến chính Đức Chúa Trời nữa, đến đỗi Ngài phải giơ tay ra thi hành việc lớn ở trong cõi thiên nhiên để nhậm lời cầu nguyện đó. Giả như Ápraham cầu thay cho Sôđôm thì cảm động lòng Đức Chúa Trời,đến đỗi Ngài hứa làm theo lời ông cầu xin đó. Thành Sôđôm sở dĩ không được cứu khỏi hỏa hình, có lẽ tại vì Ápraham không cứ cầu nguyện đến tột bực (Sa 18:23-33). Duy lời cầu thay của Gióp khiến cho Đức Chúa Trời tha tội và ban phước cho ba bạn của ông (Giop 42:8). Trong Thi 91:15, Chúa phán: “Người sẽ kêu cầu ta, ta sẽ đáp lời người; trong sự gian truân, ta sẽ ở cùng người, giải cứu người và tôn vinh người.” Tay toàn năng của Đức Chúa Trời đủ sức xây trở bầu trời trái đất; mà sự cầu nguyện của tín đồ lại đủ sức xây trở tay toàn năng ấy. Bằng vậy, sự nhậm lời cầu nguyện ấy há chẳng phải là một phần rất quan hệ của Thần hựu ư?

(2) Có kẻ lại nói rằng, Đức Chúa Trời chỉ dùng cách thuộc linh mà trả lời sự cầu nguyện, như là ban cho Thánh Linh cảm động người ta, khiến cho bề trong được cảm xúc sự vui vẻ; chớ Ngài không hề nhậm sự cầu nguyện mà cho gì bằng vật chất bao giờ. Ngài cũng chẳng hề đụng đến công lệ thiên nhiên làm chi đâu. Song lời ấy do sở kiến quá ư thiển cận;vì cõi thuộc linh cũng phục các định lệ như cõi vật chất vậy. Vả lại, cả từng trải lẫn Kinh Thánh đều đồng chứng rằng lắm biến động thường xảy ra ở trong thế giới hữu hình chỉ tại vì cớ kẻ cầu nguyện; bằng chẳng có, chắc cũng chẳng từng xảy đến bao giờ. Giả như tiên tri Êli cầu Chúa trọn bảy năm có cơn hạn hán khắp xứ (Gia 5:17). Kế sau Êli cầu nguyện lại, thì Chúa ban cơn mưa tràn trề, cứu xứ khỏi tai hạn hán (IVua17:8-24). Các sự từng trải ấy chẳng thuộc về cõi thuộc linh, bèn thuộc về cõi thuộc thể; nào hạn hán, nào mưa dào, nào tiên tri ăn uống ở nhà bà góa kia, thảy đều xảy ra ở trong cõi thiên nhiên, can thiệp đến hiện tượng vậy.

(3) Có người khác lại hỏi rằng, nếu Đức Chúa Trời nhậm lời cầu nguyện của người ta, ấy há chẳng là trừ bỏ định lệ của muôn vật sao?Xin đáp: Có khi Đức Chúa Trời nhờ công lệ trong muôn vật mà nhậm lời cầu nguyện;có khi Ngài thi hành việc cả thể dường như là ở ngoài công lệ chúng ta thường biết, như khi Ngài kêu kẻ chết sống lại, hóa nước thành rượu, v...v. Nhưng trong cả hai cõi thuộc thể thuộc linh chắc có nhiều công lệ mà chúng ta chưa từng biết. Khi tín đồ cầu nguyện, Đức Chúa Trời chắc nhờ những công lệ cao thượng hơn mà nhậm lời cầu nguyện đó, không cần phải trừ bỏ lệ nào cả. Vì Đức Chúa Trời cai trị có nhiều cách thức, có khi theo lệ thường, có khi vượt qua lệ thường,tri thức ta có hạn, nên chẳng có thể thấy đến tột mực được hoặc cũng không dò xét thấu lý nổi bao giờ. Song dầu cách nhậm lời cầu nguyện vốn theo lẽ thường hay là vượt quá lẽ thường, chúng ta biết chắc rằng thảy đều do Thần hựu mà ra cả.

c) Quan hệ với công việc của tín đồ: Thần hựu cũng có quan hệ đến công việc của tín đồ, nhờ sự ấy Đức Chúa Trời dẫn dắt chỉ đường cho họ, giúp đỡ họ không xây bỏ ý muốn của Ngài mà làm theo ý riêng mình. Trong đời có hai phái thất trung dạy về vấn đề nầy. Phái thứ nhứt gọi là tịch tĩnh luận, chuyên trọng về sự mặc nhiệm, không dám nhờ nào là ý dục, nào là trí ngộ mà tìm cầu biết ý muốn của Đức Chúa Trời về việc làm của mình, duy chờ đợi sự cảm hóa siêu việt bề trong, kể sự cố ý giơ tay ra mà làm việc gì để biết ý ấy là phạm tội; nên chỉ nhờ Thần hựu theo lối siêu việt để làm mọi sự đó thôi.

Thuyết nầy có chỗ lầm, vì dầu Đức Chúa Trời có dùng Thần hựu cách siêu việt mà giúp đỡ tín đồ biết ý chỉ của Ngài, thì cũng có dùng đến nhiều cách thiên nhiên nữa, như là sự dạy dỗ của Kinh Thánh, lời khuyên lơn của người ta, sự luận đoán khôn ngoan của tâm trí, dịp tiện tốt, cảnh ngộ, tình thế, để giúp đỡ ta biểu quyết về ý chỉ Chúa và giục giã mình theo đó cho được may mắn trong mọi việc. Chúng ta thường khấn rằng: “Xin cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ dùng” (Ma 6:11). Rồi Đức Chúa Trời nhậm lời cầu nguyện ấy mà ban cho chúng ta sức mạnh và sự khôn ngoan làm việc để kiếm ăn đủ ngày. Hễ ai cẩu nguyện rồi khoanh tay ngồi đợi, chắc không được Thần hựu ban cho mình điều gì cả.Ai đau, muốn nhờ Thần hựu chữa lành, chắc cũng không được lành nếu cứ trái luật vệ sanh mãi, hoặc không dùng đồ ăn bổ sức. Ông George Muller có dạy rằng hễ muốn biết ý Chúa về việc gì thì phải nghiệm theo bốn điều nầy: 1) Quyết định làm theo ý ấy; 2) Cầu nguyện Thánh Linh chỉ cho mình biết ý ấy; 3) Kê cừu Kinh Thánh để rõ lời Chúa dạy thể nào về việc mình toan làm đó; 4) Để ý đến trường hợp và trạng huống để thử xem nếu tiện làm việc ấy hay không. Nhờ nghiệm theo bốn điều ấy, chắc sẽ biết ý Chúa; mà đã biết rồi thì lòng ắt được bình an dạn dĩ để theo ý ấy trọn vẹn.

Phái thứ hai gọi là tự nhiên luận (Naturalisme), chủ trương rằng không có Thần hựu gì cả, mọi việc mình làm thì tự mình mà làm; nếu được may mắn, thì do tài trí khôn ngoan của mình mà nên; không được may mắn, cũng tại mình bất tài ngu dại mà ra vậy. Duy vật luận, thiên diễn tấn hóa luận, tự nhiên tôn giáo luận đều đề xướng ý kiến ấy cả. Nhưng ý kiến nầy chẳng phải là đạo trung chánh đâu. Vì trong đời ta vẫn ở dưới quyền chủ trị của Đức Chúa Trời cả, muốn được may mắn thì phải vâng theo ý chỉ của Ngài. Song ta cũng chẳng bỏ ý dục của mình đâu, bèn đem nó hiệp tác với ý chỉ của Đức Chúa Trời,rồi nhờ Thánh Linh cảm hóa các bản năng mình, ban thần lực, thần trí cho, cũng giục giã mình chuyên tâm về việc muốn làm đó. Duy làm theo cách ấy mới mong theo ý chỉ Chúa mà được may mắn trong mọi việc làm của mình vậy. Kinh Thánh cũng dạy rõ tín đồ có thể nhờ Chúa chỉ dạy đưa dẫn luôn, chẳng như kẻ vô tín kia “không chờ đợi lời chỉ giáo Ngài” (Thi 106:13), bèn được Chúa ban sự khôn ngoan từ trên.

Thi 32:8; Ch 3:6; Phi 1:9,10; Gia 1:5; Gi 15:15; Co 1:9,10"