Chương 6 - SỰ BẢO TỒN TÂN ƯỚC

SỰ BẢO TỒN TÂN ƯỚC

"Lời Ta nói sẽ không qua đâu"
(Lu 21:33)

Nhiều Cơ Đốc Nhân không suy nghĩ cách nghiêm túc về vấn đề bảo tồn các tác phẩm Tân Ước. Họ có thể kiếm được vài bản sao Kinh Thánh cách dễ dàng và nghĩ rằng như vậy đủ rồi. Giống như những phước hạnh khác, việc này không phải chỉ đơn giản vậy thôi. Nhiều người đã bỏ mình để Kinh Thánh được bảo vệ, phiên dịch, và xuất bản. Ngay thời chúng ta vẫn có những nơi trên thế giới Kinh Thánh rất hiếm hoi. Lịch sử về việc bảo tồn Tân Ước có thể chia làm hai thời kỳ, trước và sau khi phát minh ra máy in. Vào thế kỷ 15, có ba biến cố lịch sử đã giúp ích cho thế giới tân tiến ngày nay mà khó ai đoán trước nổi. Columbus, năm 1492 đã khám phá ra tân thế giới và Hoa Kỳ đã trở thành cái nôi của nền tự do. Johann Guttenberg năm 1456 phát minh ra máy in. Và năm 1493 Martin Luther người khởi xướng Tin Lành Cải Chính đã ra đời. Các biến cố này đã ảnh hưởng đến tầm hoạt động và hiệu năng của Cơ Đốc Giáo một cách thâm sâu trong thời đại tân tiến hiện nay.

Ấn Loát Kinh Thánh

Cuốn sách đầu tiên ra từ máy in của Guttenberg là bản Kinh Thánh La Tinh. Những bản Kinh Thánh in lần đầu đó được giữ đến ngày nay. Chẳng bao lâu sau Tân Ước bằng tiếng Hy Lạp và Cựu Ước bằng Hê-bơ-rơ cũng được in ra. Sự bảo tồn Kinh Thánh sau đó tương đối dễ dãi hơn, vì Kinh Thánh đã được xuất bản hàng ngàn cuốn. Sau khi được dịch ra Anh ngữ bởi Tyndale, Kinh Thánh được in ở Hoà Lan rồi đem lén về Anh Quốc. Thoạt đầu các Giám Mục Anh muốn đốt hết Kinh Thánh nhưng họ đã thất bại. Chỉ vài năm sau, bản Kinh Thánh Tyndale và các bản kế tiếp đã được phổ biến khắp nới ở nước Anh.

Sự phát minh ra máy in là một yếu tố quan trọng vì việc sản xuất Kinh Thánh mà không có lỗi lầm chính tả gì đã trở nên tương đối dễ dàng. Trước đó, người ta đã chép tay lại từng trang cho nên rất dễ có sai sót. Khi phải liệng tờ chép tay đó đi vì lỡ lầm lỗi để chép lại từ đầu, thì người ấy có lẽ tránh được những lỗi mới phạm, nhưng có thể sẽ phạm những lỗi khác!

Ngày nay, trong việc in sách, chỉ cần sửa những chỗ nào lầm lỗi, còn để ý các chỗ kia, không đụng tới. Nếu đọc dò lại thật kỹ, Kinh Thánh có thể được xuất bản mà không có lầm lỗi nào. Khi chuẩn bị bản kẽm để in Kinh Thánh, bản nháp được đọc đi đọc lại rất nhiều lần. Việc đọc đó lại thường được thực hiện bởi hai người, một người đọc bản văn chính xác, một người dò kỹ trên bản nháp. Như thế nhiều người có thể đọc qua toàn bộ Kinh Thánh trước khi bắt đầu in hàng loạt. Mấy cuốn Kinh Thánh bán giá rẻ có thể có nhiều lầm lỗi vì không được dò kỹ. Hầu hết các sách thường không được dò kỹ, nên có thể có một ít lầm lỗi.

Đôi khi, không phải là vấn đề lầm lỗi khi in, mà là loại bút pháp được sử dụng. Trong thế kỷ sau năm 1611, bản King James đã được dịch, một thợ in phải là một nhà văn phạm để biết cách đánh vần hầu thay đổi các chữ trong những loạt ấn loát kế tiếp của bản King James đầu tiên.

Vì lý do này, một bản Kinh Thánh tiếng Anh cũ thì khác với bản về sau này. Sự khác biệt này không phải vì lỗi chính tả, cũng chẳng phải tại in sai, nhưng là phản ảnh sự điều chỉnh cho phù hợp với sự thay đổi của ngôn ngữ thôi.

Những thay đổi trong bút pháp này dẫn đến một điểm quan trọng. Hội Thánh của Chúa không bao giờ muốn thấy Kinh Thánh được bảo vệ trong bảo tàng viện nhưng muốn Kinh Thánh được các con cái Ngài sử dụng. Cho nên, Kinh Thánh đã được sao chép rồi tái sao chép, in rồi tái bản. Ngôn ngữ của Kinh Thánh luôn luôn được cập nhật hóa. Kinh Thánh được dịch đi dịch lại nhiều lần để thích hợp với ngôn ngữ của quần chúng. Từ Lễ Ngũ Tuần, các Cơ Đốc Nhân đã muốn nghe trong tiếng mẹ đẻ của mình các công việc diệu kỳ của Đức Chúa Trời (Công Vụ 2).

Trước khi phát minh máy in, chỉ có vài bản sao Kinh Thánh. Thật là khó mà có một bản sao toàn hảo, mặc dù có cẩn thận và sửa lại bằng tay, các bản sao tốt thì phổ thông hơn. Trước năm 1456, không có Kinh Thánh tiếng Đức, tiếng Pháp hay tiếng Tây Ban Nha, vì thời đó bên Âu Châu nếu có ai biết đọc thì chỉ đọc bằng tiếng La Tinh thôi.

Bên Anh, tiếng La Tinh không được phổ thông như bên lục địa Âu Châu. Có vài phần của Kinh Thánh được dịch ra tiếng cổ Anglo-Saxon do Bede và vài người khác thực hiên. Bản dịch mới của Wycliffe được hoàn tất năm 1375. Nhưng nói chung vùng Tây Âu sử dụng tiếng La Tinh trong thời trung cổ. Đông Âu gồm Hy Lạp và Tiểu Á vẫn còn dùng tiếng Hy Lạp ở nhiều nơi người Thổ Nhĩ Kỳ chiếm lấy. Trong thời đó, các tu viện của Giáo Hội chưa bị chia hai, tức không hoàn toàn theo Công Giáo hay Tin Lành cách tuyệt đối - đã chép tay lại Kinh Thánh trong tiếng La Tinh và Hy Lạp, nhiều bản sao được thực hiện thời đó vẫn còn giữ đến ngày nay.

Tiếng La Tinh cũng được thay đổi khá nhiều trong thời Trung Cổ như tiếng Hy Lạp thay đổi trước đó vậy. Đó là lí do tại sao chúng ta thấy có rất nhiều khác biệt trong bản chép tay tùy theo thời gian và thời điểm chép.

Các Bản Văn Sớm

Muốn hiểu rõ Tân Ước đã được bảo tồn thế nào, học viên cần phải biết lịch sử cổ của đế quốc La Mã. Trong thời các Sứ Đồ, đế quốc La Mã bao gồm toàn Vùng Địa Trung Hải - Tây Ban Nha, Pháp, Ý, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Syria, Palestine, Ai Cập và Bắc Phi Châu quanh vùng Algiers. Nó chạy dài đến Anh Quốc và một phần của nước Đức. La Tinh là ngôn ngữ dùng bởi chính quyền, nhưng hầu hết dân chúng đều dùng tiếng Hy Lạp.

Cơ Đốc Giáo rất mạnh ở vùng Ai Cập, Palestine, Tiểu Á, Rome và Bắc Phi. Nhưng Cơ Đốc Giáo lại là tôn giáo bị cấm, và ít nhất có mười cuộc bách hại khác nhau. Sách của họ bị đốt không biết bao nhiêu lần. Nhưng có nhiều tín đồ thà bị giết chứ không chịu tiết lộ chỗ giấu Kinh Thánh của họ để Kinh Thánh không bị đốt.

Cuối cùng, hoàng đế Constantine đã trở lại đầu phục Chúa năm 313 S.C. Sau đó ông ra một sắc lịnh rất nổi danh, sắc lịnh Milan, cho phép tự do tôn giáo. Trong những thập niên kế tiếp đế quốc La Mã yếu dần dưới sự tấn công của dân Goths ở Âu Châu và các dân tộc khác, từ Á Châu di chuyển đến Âu Châu. Năm 410 S.C. đế quốc La Mã sụp đổ. Đó là vào thời Jerome, người đã dịch Kinh Thánh ra tiếng La Tinh, gọi là bản dịch Vulgate. Augustine bấy giờ là lãnh tụ Hội Thánh mà đến nay danh tiếng vẫn vang lừng. Chẳng bao lâu sau Rome sụp đổ toàn đế quốc bị phân chia ra. Phía Đông chọn Constantinople thủ đô, trong khi phía Tây vẫn cứ tiếp tục chọn Rome làm thủ đô. Đế quốc phía đông dùng Hy Văn trong suốt thời Trung Cổ; đế quốc phía tây vẫn tiếp tục dùng tiếng La Tinh.

Các học giả muốn có Kinh Thánh Tân Ước gần với nguyên bản do các Sứ Đồ viết càng nhiều càng tốt thì phải sưu tầm nhiều bản sao trong tiếng Hy Lạp hơn là tiếng La Tinh. Có một số bản Kinh Thánh Hy Lap còn trước cả thời Jerome nữa.

Bởi ơn thần hựu của Đức Chúa Trời, những nhà nghiên cứu về Tân Ước thích có nhiều bản sao cổ. Các nguyên bản có lẽ được viết trên giấp chỉ thảo hay trên các cuộn gia. Tuy nhiên, khoảng 125 S.C. trở đi, người ta lại có thói quen viết từng tờ rời, đóng lại thành tập sách, gọi là "Codex", thay vì cuộn. Nhờ các sách này, nhiều tác phẩm đã được đóng chung lại với nhau thành một bộ. Rồi các sách đó được sao đi, sao lại nhiều lần trong Hy Văn. Chẳng bao lâu, khoảng 200 S.C., Hội Thánh vùng An-ti-ốt và vùng Mesopotamia trở qua hướng đông đã thích có Kinh Thánh bằng tiếng Syriac, là ngôn ngữ rất thông dụng trong vùng đó lúc bấy giờ. Tiếng Syriac cũng tương tự như tiếng Hê-bơ-rơ. Lúc này các Hội Thánh ở Bắc Phi cũng muốn có các sách Phúc Âm bằng tiếng La Tinh, nên các bản dịch Cổ La Tinh đã được thực hiện. Sau này bản dịch đó đã bị bản Vulgate của Jerome lấn át. Tuy nhiên, tiếng Hy Lạp vẫn là ngôn ngữ chính của Kinh Thánh cho đến năm 400 S.C.

Các bản sao của Tân Ước trước tiên đã được viết trong tiếng Hy Lạp với chữ khá nhỏ. Các bản sao Hy Lạp thời Trung Cổ cũng viết theo kiểu này. Các bản sao này gọi là "cursives" (kiểu chữ tháu). Trong thế kỷ thứ 4, các bản sao Kinh Thánh khá đẹp đã được thực hiện trên giấy da và được in bằng kiểu chữ viết hoa. Các bản sao này được gọi là "uncials," có nghĩa là kiểu chữ viết hoa.

Một số bản kiểu chữ viết hoa vẫn còn được bảo tồn đến ngày nay. Trải qua nhiều thế hệ, các bản sao đã được cất giữ trong thư viện của các tu viện cổ và chỉ còn vài bản là thoát được sự tàn phá của thời gian và các cuộc bắt bớ khủng khiếp. Khi những người Hồi Giáo xâm lăng Ai Cập vào thế kỷ thứ 7 S.C., họ đã đốt một thư viện lớn ở Alexandria, chứa khoảng 100.000 bộ sách, kể cả các kho tàng cổ. Cũng trong thời kỳ này, họ đốt tại thư viện Eusebian ở Ceaserea (thuộc Palestine) có chứa đựng các kho tàng của Cơ Đốc Giáo thời ban sơ. Nhưng nhờ ơn thần hựu của Đức Chúa Trời, một số khá lớn và các bản sao đã thoát được. Người ta bảo rằng khoảng 3000 bản sao Tân Ước trong Hy Văn hay một phần của Kinh Thánh Tân Ước đã được bảo toàn. Trong số này, có cả chục bản trên 1,500 tuổi.

Các Thủ Bản Cổ (The Old Manuscripts)

Các thủ bản cổ nhất của chúng ta là gì? Chúng như thế nào? Trong vòng hai thế kỷ qua, một số bản quan trọng đã được khám phá. Các thủ bản này đã cung cấp thêm dữ kiện về các bản văn Kinh Thánh cổ.

Bản văn Alexandrian (The Alexandrian Text)

Năm 1859 Constantine Tischendorf khám phá ra một thủ bản vô giá trong các văn kiện cổ tại tu viện St. Catherine, trên sườn núi Si-nai. Thủ bản này gọi là Codex Aleph, hay Codex Sinaiticus có niên đại vào khoảng thế kỷ thứ 4 S.C. Codex có nghĩa là cuốn sách, chứ không phải là cuộn giấy da, và Aleph là mẫu tự đầu tiên trong hệ thống mẫu tự Hy Bá Lai.

Năm 1868, thư viện Vatican cũng cho xuất bản một thủ bản cổ nữa, cũng khoảng thế kỷ thứ 4 S.C. gọi là Codex B (Đôi khi cũng gọi là Vaticanus vì được tìm thấy ở thư viện Vatican). Hai thủ bản cổ này, Codex Aleph và Codex B, giống hệt nhau về lối hành văn, chắc hẳn là chúng được chép lại từ một bản chính hay từ các bản chính giống nhau. Chúng thuộc về một nhóm thủ bản được gọi là Bản Văn Trung Dung (Neutral Text) mà sau này người ta gọi thủ bản Alexandrian.

Bản Văn Tây Phương (Western Text)

Có một bộ thủ bản cổ quan trọng là Codex Beza chỉ các sách Phúc Âm và Codex Claramontanus, chứa đựng các thư tín của Phao-lô. Các thủ bản này có niên đại khoảng thế kỷ 6 S.C. Các bản này do Jerome dịch ra tiếng La Tinh thực hiện vào khoảng 400 S.C., Các bằng chứng cho thấy các bản văn này có lối hành văn giống nhau. Các bản văn này tạo thành một nhóm gọi là Bản Văn Tây Phương.

Bản Văn Thông Dụng (Koine)

Hầu hết các bản sao thực hiện thời Trung Cổ lập thành một nhóm thứ ba có lối hành văn khác hơn hai nhóm kia. Nhóm này gọi là Koine, có nghĩa là thông dụng. Đôi khi cũng được gọi là Textus Receptus. Các dịch giả của bản King James sử dụng. nhóm bản văn này, trong khi các dịch giả bản Revised Version và Revised Standard Version dùng nhóm Trung Dung (Neutral Text). Để so sánh hai nhóm bản văn này, chỉ cần so sánh giữa bản King James và bản Revised Version là thấy ngay. Hầu hết các bản dịch Tân Ước gần đây đều theo bản Alexandrian (hay Trung Dung).

Các Thủ Bản Khác

Gần đây có những bản sao sớm hơn nữa đã tìm thấy trong các đống tàn vụn của giấy chỉ thảo tại Ai Cập. Tài liệu giấy chỉ thảo Chester Beatty gồm hầu hết Tân Ước và có vào khoảng thế kỷ thứ 3 S.C.

Tài liệu giấy chỉ thảo Rylands, khoảng 125 S.C. là một bằng chứng rất giá trị về các bản văn Tân Ước. Các tài liệu này hầu như giống hệt với bản văn Alexandrian.

Tài liệu giấy chỉ thảo Bodmer của Giăng như được đề cập trong chương 5, xác nhận ảnh hưởng của bản văn Trung Dung. Hầu hết những bản dịch mới sau này sử dụng những tài liệu từ các thủ bản mới được tìm thấy.

Phê Bình Bản Văn (Textual Criticism)

Việc nghiên cứu các thủ bản cổ gọi là phê bình bản văn, hay hạ phê bình (lower criticism), để phân biệt với thượng phê bình (higher criticism). Phê bình bản văn là khoa học cổ xưa và rất giá trị. Khoa học này đã được các học giả Cơ Đốc theo đuổi, ít nửa là từ Origen 250 S.C. và phải có kiến thức rất uyên bác về ngôn ngữ. Khoa phê bình bản văn Tân Ước đã có một nền tảng tốt hơn từ khi ra đời các công trình khảo học của Tischendorf, Westcott, Hort và những người khác.

Khoa phê bình bản văn, trước hết, có thể giúp chúng ta tìm lại trong hầu hết các đoạn văn, những chữ đã được các Sứ Đồ chép ra. Các bản sao chúng ta có ngày nay được sao chép qua nhiều thế hệ so với bản văn nguyên thủy. Nhờ so sánh bằng chứng của các nhóm thủ bản xưa, các học giả có thể quyết định chữ nào là chữ nguyên thủy. Thứ nhì, có nhiều chỗ không biết là bản văn nguyên thủy đã viết như thế nào. Không biết là "Si môn" hay là "Phi-e-rơ;" "Đức Chúa Giê-xu" hay "Đức Chúa Giê-xu Christ." Thật khó có thể quyết định lối dùng chữ nào là đúng, nhưng nhờ có nhiều nhóm thủ bản khác nhau và nhờ chúng đều tương đồng với nhau, nên dù có chọn lối dùng chữ nào cũng không có sự khác nhau nào quan trọng hết. Căn cứ vào các bằng chứng thích hợp đang có thì các bản văn của nhóm Trung Dung (Alexandrian) được coi là gần với bản nguyên thủy nhất. Nhóm Thông Dụng (Koine) được xem là nhiều khiếm khuyết nhất, còn nhóm Tây Phương thì cũng không xa mấy so với bản nguyên thủy. Đức tin nơi Kinh Thánh Tân Ước được củng cố khi biết rằng dù là bản văn trong nhóm khiếm khuyết nhất cũng vẫn còn tốt. Những chỗ khác biệt chỉ là những chi tiết vụn vặt. Những khác biệt chính giữa những bản dịch (tiếng Anh) không phải từ các thủ bản khác nhau, nhưng từ sự giải thích và lối hành văn của các dịch giả trong khi họ cố gắng dịch cho chính xác với các thủ bản. Năm 1881, Westcott và Hort đã nói một câu đáng cho chúng ta ghi nhớ:

"Nếu tất cả những cái tương đối vụn vặt... được để qua một bên thì những chữ mà theo ý kiến chúng tôi là đáng nghi ngờ cũng khó có thể lên đến hơn một phần ngàn của toàn bộ Tân Ước".

Các khám phá mới ở đây đã xác nhận và củng cố thêm lời kết luận của Westcott và Hort.

Kinh Thánh Tân Ước đã được bảo vệ bởi các tu sĩ và học giả, bởi những người tuận đạo và giáo sĩ, qua việc sao chép tay cách công phu cũng như ấn loát kỹ lưỡng. Qua những đoạn văn quan yếu và bao nhiêu bản dịch, lời của Đức Chúa Trời được các sứ đồ ghi chép đã được bảo tồn cẩn thận và chuyên cần phổ biến khắp nơi trên thế giới. Mỗi Cơ Đốc Nhân đều có thể đọc và học Kinh Thánh với lòng tự tin, biết chắc rằng đó là Lời của Đức Chúa Trời.

"Trời đất sẽ qua đi, nhưng Lời Ta sẽ không bao giờ qua đâu" (Mat 24:35).

Ngữ Vựng

  • Thủ bản (manuscripts);
  • kiểu viết tháu (cursives);
  • bản văn (text);
  • phê bình bản văn (textual criticism);
  • kiểu chữ hoa (uncials).

Sách Tham Khảo

  • Bruce, F. F. The New Testament Documents: Are They Reliable ? 5th revised edition. Grand Rapids: Wm. B. Eerdmans Pub. Co., 1960.
  • Harris, R Laird. Inspiration and Canonicity of the Bible . Revised edition. Grand Rapids: Zondervan Pub. House, 1969. Chapter 4.
  • Robertson, A. T. Introduction to the Textual Criticism of the New Testament . London: Hodder & Stoughton, 1925.