Tham Khảo

A-mốt

A-mốt\ Amos. Amos (Gánh nặng, kẻ mang gánh nặng).

A-mốt là kẻ chăn và quen nghề hái trái vả rừng. Ông ở riêng trên núi cao, cách phía Đông-nam Bết-lê-hem độ 11 cây số, thường giao thông với dân ngoại, quen biết việc ngoài. Ông là người ngay thẳng, mộc mạc, được soi sáng, đứng đầu việc cải cách tôn giáo. Thấy thị trường Bết-lê-hem đã quen tiêm nhiễm thói xấu, ông quở trách một cách nghiêm nhặt. Biết việc đó, thầy tế lễ A-ma-xia muốn đuổi ông trở về Do-thái nói tiên tri để kiếm ăn. Có lẽ ông lầm tưởng A-mốt là hạng người khua môi, múa mép để kiếm cơm, áo, chớ có biết đâu rằng ông được Đức Chúa Trời sai phái. Cho nên ông nói: "Ta không phải là đấng tiên tri", nhưng Chúa đã bắt lấy ông và bảo nói tiên tri về những tai nạn mà họ sẽ phải chịu thế nào, v.v... (Am 7:14-15).

Thời gian A-mốt truyền đạo khoảng vào thế kỷ thứ VIII TC., tức là đời trị vì của Ô-xia, vua Giu-đa, và của Giê-rô-bô-am II, vua Y-sơ-ra-ên. Khoảng một trăm năm về trước, dân Y-sơ-ra-ên bị quân Sy-ri đánh, mất hết đất đai ở phía Đông sông Giô-đanh (IICác 10:32) và bị họ nghiền như cát bụi (IICác 13:7). Đến bấy giờ mới thu phục lại được (IICác 13:25; 14:25). Người trong nước mừng rằng sự nguy biến đã qua rồi, không đáng lo nữa. Song A-mốt vẫn kiên trì cảnh tỉnh họ. Nhưng tai nạn mà ông nói đó đều chỉ về A-si-ri (Am 5:27; 7:17; 6:7). Sách A-mốt không dài lắm, vậy mà trong đó gồm chứa được bao tội ác của dân Y-sơ-ra-ên bấy giờ, như cúng tế không chánh đáng (4:5), giày đạp bàn thờ (2:8), xa xỉ không chừng mực (3:15; 5:11), uống rượu, xức dầu cho thơm mình (6:6), hiếp đáp kẻ nghèo nàn (4:1), bán người để kiếm lợi cho mình (2:6), không công bình, hung dữ, cướp giựt (3:8, 10), làm cong lẽ thẳng, nhận của hối lộ (5:12), dùng cân dối giả (8:5-6). Cho nên Đức Chúa Trời phán: "Ta ghét, Ta khinh dễ những kỳ lễ của các ngươi, Ta không đẹp lòng về những hội trọng thể của các ngươi đâu" (5:21, 22).

Đại ý trong sách A-mốt nói chắc Đức Chúa Trời phải giáng hình phạt để báo ứng những tội của các nước Đa-mách đã phạm (1:2-2:16). Từ đoạn 3 từ câu 1 đến đoạn 5 câu 27 cắt nghĩa kỹ về luật báo ứng; đoạn 6 quở nặng kẻ xa xỉ, buông lung; đoạn 7 đến đoạn 9 thuật sự hiện thấy năm lần: -- (1) nạn cào cào (7:1-3), -- (2) hỏa tai (7:4-6), -- (3) cầm dây nẩy mực (7:7-9) -- (4) trái mùa hạ (8:1-3), -- (5) phá hủy đền thờ (9:1-10). Đoạn 7:10-17 là trả lời sự vu khống của A-ma-xia. Đoạn 9:11-16 là lời hứa của Đức Chúa Trời, nói sau nầy nhà Đa-vít chắc sẽ được xây lại, dân Y-sơ-ra-ên chắc sẽ được hưng thạnh lại.

Về mặt thần học, A-mốt giàu lý tưởng, hiểu biết đến nơi đến chốn. Hồi đó, đối với Đức Chúa Trời, người ngoại đạo thường coi Đức Chúa Trời là vị thần riêng của dân tộc được lựa chọn, chớ không quan hệ gì đến mình. Ngay như người Y-sơ-ra-ên cũng cho rằng người ngoại đạo có riêng thần khác để cai trị họ. A-mốt thì cho rằng, ngoài Đức Chúa Trời độc nhứt ra, không có thần nào khác. Muôn nước trong thiên hạ, dù lành hay dữ, việc báo ứng đều do Đức Chúa Trời chủ trương hết. Sự Ngài hiện đến và soi xét chẳng những chỉ riêng hai nước Y-sơ-ra-ên và Giu-đa thôi đâu, mà cả đến các nước dân ngoại cũng không thoát được. Song Đức Chúa Trời đối với dân Y-sơ-ra-ên có mối quan hệ đặc biệt. Vậy thì A-mốt đối với người trong nước cũng cùng chung một tấm lòng đó. Song người nước Y-sơ-ra-ên cho rằng đã có quan hệ đặc biệt, lại dâng của lễ không thiếu, thì mối quan hệ đó không đến nỗi phải cắt đứt. A-mốt nói hễ có mối quan hệ đặc biệt, thì trách nhiệm cũng nặng nề cách đặc biệt hơn. Nếu chỉ cậy sự dâng của lễ là cái hư văn bề ngoài thì sự quan hệ đó chắc sẽ cắt đứt mất! (Am 3:2). Đó là vì A-mốt về mặt đạo đức thuộc linh, đã thấy rõ và nhận biết đích xác, nên biết rằng thế nào người ta cũng không tránh khỏi tai vạ do tội ác.

Văn pháp trong sách A-mốt, người xưa thường nói là thô xuất, thật thà, song coi nguyên văn Hê-bơ-rơ thì rất rõ ràng, gọn ghẽ; lại biết rõ cả phong tục bản quốc, tình thế nước ngoài; đến việc sông của Ai-cập cũng nói được cả (8:8; 9:6). Còn những thí dụ về động đất, nhật thực (8:8, 9), sư tử rống, chim sa lưới v.v... đều tỏ ra có sự hiểu biết về khoa học.

Chủ nghĩa của A-mốt là gánh trách nhiệm vì Đức Chúa Trời. Vì có lẽ ông cho rằng Đức Chúa Trời đã có mạng lịnh, thì ông không dám không tuyên bố cho người ta biết (3:8). Đức Chúa Trời độc nhất của muôn dân thiên hạ, đối với những người có nhân nghĩa, thì đoái thương kẻ đã được sự đoái thương đặc biệt. Lìa bỏ trách nhiệm thì có hình phạt đặc biệt. Đó là cái kết cuộc của cả sách A-mốt.