Tìm kiếm

NỖ LỰC TRUYỀN BÁ PHÚC ÂM CỦA D. JAMES KENNEDY

1.—Lời mở đầu

2.—Phúc Âm

3.—Sự tín thác

4.—Chăm sóc trực tiếp

5.—Trình bày Phúc Âm vắn tắt

6.—Nhận định về phương pháp "Nỗ Lực Truyền Bá Phúc Âm"

Nỗ Lực Truyền Bá Phúc Âm là chương trình cá nhân chứng đạo được bắt đầu tại Hội Thánh Trưởng lão Coral Ridge ở Fort Lauderdale, Florida do Mục sư Tiến sĩ James Kennedy quản nhiệm. Hội Thánh đã tăng trưởng từ 17 người đến hơn 7.000 hội viên trong 14 năm.86 Sự tăng trưởng lạ lùng đó không do tài giảng thuyết hùng hồn trên tòa giảng bèn là do chương trình giáo dân chứng đạo.

Câu chuyện bắt đầu với cuộc đời của vị Mục sư quản nhiệm D. James Kennedy trước kia chẳng phải là nhà truyền giảng Phúc Âm nhưng là người quản lý của khiêu vũ trường Arthur Murray. Ngày nọ chiếc máy thu thanh có gắn đồng hồ của Kennedy làm cho ông tỉnh ngộ trước câu hỏi của nhà truyền giảng Donald Gray Barnhouse: "Giả sử bạn qua đời đêm nay và đứng trước mặt Thượng Đế. Ngài hỏi bạn rằng: 'Tại sao ta cho con vào Thiên đàng?'Bạn sẽ thưa với Chúa thế nào?" Câu hỏi đó khiến cho Kennedy suy nghĩ đến số phận đời đời của ông và thúc đẩy ông tiếp nhận Chúa Cứu Thế.

Khi tốt nghiệp Chủng viện Thần học Columbia năm 1959, Kenedy được mời làm Mục sư của Hội Thánh Trưởng lão Corai Ridge. Sau một năm số tín hữu từ 45 người giảm xuống còn 17 người. Để cứu vãn tình trạng đó, Kennedy tiến hành chương trình thăm viếng. Tuy nhiên, với bản tính nhút nhát cố hữu cộng thêm việc không biết cách làm chứng về Chúa, chương trình thăm viếng ấy đã thất bại .

Giữa lúc Kennedy thất vọng và nghi ngờ về sự kêu gọi của chức vụ mình, ông nhận được thư của Mục sư Ken Smartt mời ông đến hầu việc Chúa cho chiến dịch truyền giảng mười ngày. Khi đến nơi Kennedy mới biết chương trình được chia như sau: ban ngày đi từ nhà này sang nhà khác thăm viếng và làm chứng, ban đêm truyền giảng, Kennedy viết:

Tôi sợ điếng hồn vì biết mình không có khả năng để làm việc đó. Tuy nhiên sáng hôm sau, chúng tôi ra đi. Sau chừng nửa giờ với những cố gắng vấp váp của tôi, ông Mục sư bèn tiếp tục cuộc đối thoại và chỉ trong 15 hay 20 phút sau đã dẫn người ấy đến với Chúa Cứu Thế.

Sau chiến dịch mười ngày ấy, Kennedy đã học được phương cách dắt đưa người hư mất về với Chúa Cứu Thế. Kinh nghiệm đó đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong chức vụ hầu việc Chúa của ông.

Trở về Coral Ridge, Kennedy bắt đầu đi làm chứng và thu gặt kết quả thật khích lệ. Ngay sau đó, ông nhận ra rằng dù đã hết sức cố gắng nhưng ông chỉ đi thăm và làm chứng được một ít người. Vì thế Kennedy nghĩ đến việc huấn luyện tín hữu cho công tác truyền bá Phúc Âm. Tại chỗ này, ông học được một nguyên tắc quan trọng khác cho việc huấn luyện và nó đã trở thành nguyên tắc căn bản cho chương trình Nỗ Lực Truyền Bá Phúc Âm.Kennedy viết:

Tôi làm một việc khờ dại như hàng ngàn người khác đã làm: tôi tổ chức một lớp học về chứng đạo. Tôi dạy họ sáu bài học và thúc giục các học viên đi ra. Họ thảy đều trở về kinh hoảng! Tôi chờ vài tháng và thử thêm lần nữa. Lần này tôi dạy mười hai bài học --lại thất bại...

Qua những lần không thành công, Kennedy mới nghĩ ra phương pháp hiện đang sử dụng là phối hợp lớp học với việc thực tập chứng đạo. Ông khám phá rằng phải dẫn học viên đi ra và cho họ thấy trưởng toán làm chứng. Nhờ vậy họ thắng được sự sợ hãi là ngăn trở lớn nhất trong việc truyền bá Phúc Âm. Trải qua nhiều năm Kennedy đã soạn thảo chương trình chứng đạo chi tiết gồm có: Phúc Âm, chương trình huấn luyện và phương pháp chăm sóc.

Triết lý truyền bá Phúc Âm của Kennedy được xây dựng trên bốn nguyên tắc: Thứ nhất, “Hội Thánh là đoàn thể theo lệnh Chúa Cứu Thế đi ra chia sẻ Phúc Âm cho toàn thế giới”. Huấn thị đầu tiên của Chúa Cứu Thế cho các môn đệ là “Các con hãy theo Ta. Ta sẽ đào luyện các con thành người cứu vớt đồng loại” (Mác 1:17 BDY). Huấn thị sau cùng của Chúa cho các môn đệ là “Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các con, các con sẽ nhận được quyền năng làm chứng cho Ta tại thành Giê-ru-sa-lem cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri và khắp thế giới” (Công vụ 1:8 BDY). Hội Thánh đầu tiên là Hội Thánh truyền giáo. “Tín đồ di tản khắp nơi, đi đâu cùng truyền bá Phúc Âm”(8:4 BDY). Theo văn mạch của câu Thánh Kinh này thì những người tản lạc là tín hữu.

Nguyên tắc thứ hai, “Công tác của các Mục sư là huấn luyện giáo dân chứng đạo”.

Nguyên tắc thứ ba, “Truyền bá Phúc Âm là dễ thâm nhập hơn dạy dỗ”. Chúa Cứu Thế đem môn đệ đi với Ngài trong lúc truyền bá Phúc Âm. “Người bình thường không thể học chứng đạo trong lớp, cũng giống như người ấy không thể học lái máy bay trong phòng khác”.

Nguyên tắc thứ tư, “Huấn luyện một người chinh phục linh hồn còn quan trọng hơn cứu vớt một linh hồn”. Nói cách khác,đưa dẫn một linh hồn về với Chúa là quan hệ, nhưng huấn luyện một người đi chinh Phục truyền 10 linh hồn hoặc 100 hay 1.000 linh hồn cho Chúa còn quan hệ hơn.

Chương trình huấn luyện gồm có ba loại: học tại lớp, những bài làm tại nhà và đi ra thực tập, phần trình bày Phúc Âm được thực hiện theo ba bước: trước hết ta học bố cục của sứ điệp Phúc Âm có thể coi như bộ xương. Kế đến ta học câu gốc để lấp thịt vào bộ xương. Sau cùng ta học các ví dụ soi sáng để thêm thịt, khiến cho bố cục Phúc Âm thêm sáng tỏ và dễ hiểu.

Có lẽ phần quan trọng trong chương trình Nỗ Lực Truyền Bá Phúc Âm là việc sử dụng hai câu hỏi chẩn đoán. Sau khi thảo luận về đời sống thế tục, về bối cảnh tôn giáo của thân hữu, về Hội Thánh chúng ta,và về lời chứng cá nhân hoặc của Hội Thánh, thì ta nêu ra hai câu chẩn đoán.Thứ nhất trong đời sống tâm linh hiện tại, bạn có chắc rằng nếu hôm nay qua đời, bạn sẽ vào Thiên đàng chăng? Nếu câu trả lời là không biết chắc, chứng đạo viên sẽ hỏi câu thứ hai, “Giả định bạn qua đời đêm nay và ứng hầu trước mặt Thượng Đế, rồi Ngài hỏi bạn “Tại sao ta cho con vào Thiên đàng? Bạn sẽ thưa với Ngài thế nào?”

Để thích ứng với văn hóa Việt Nam trong việc sử dụng hai câu hỏi chẩn đoán, ủy ban phiên dịch quyển “Nổ Lực Truyền Bá Phúc Âm” ra Việt ngữ, đề nghị ta nên đồng nhất ta với thân hữu và hỏi như vầy:

Câu hỏi 1: Giả định trong lúc chúng ta đang nói chuyện đây, một chuyện không may xảy đến (bom nguyên tử nổ v.v...) và cả hai chúng ta đều qua đời. Tôi biết chắc rằng sau khi chết tôi sẽ được lên thiên đàng, không rõ trong cuộc sống tâm linh hiện tại của ông, ông có biết chắc chắn rằng ông qua đời hôm nay ông sẽ được lên Thiên đàng không?

Câu hỏi 2: Nếu chúng ta qua đời hôm nay và ứng hầu trước mặt Thượng Đế, rồi Ngài hỏi chúng ta rằng: Tại sao ta cho con vào Thiên đàng? Tôi biết tôi sẽ trả lời với Chúa như thế nào, còn ông thì sao?

Hai câu hỏi chẩn đoán sẽ giúp ta dễ dàng chuyển tiếp qua phần Phúc Âm. Dưới đây là bố cục trình bày Phúc Âm.

BỐ CỤC TRÌNH BÀY PHÚC ÂM

I. LỜI MỞ ĐẦU

  1. Đời sống thế tục của họ
  2. Bối cảnh tôn giáo của họ
  3. Hội Thánh của chúng ta
  4. Lời chứng cá nhân và / hoặc của Hội Thánh
  5. Hai câu hỏi chẩn đoán

II. PHÚC ÂM

ÂN PHÚC

Thiên đàng là tặng phẩm biếu không (Rô-ma 6:23)

Chẳng thể nhờ công đức riêng hoặc vì xứng đáng mà được (Ê-phê-sô 2:8,Ê-phê-sô 2:9)

NGƯỜI

Là tội nhân (Ma-thi-ơ 5:48 Rô-ma 3:23 Gia-cơ 2:10)

Không thể tự cứu mình (Ê-phê-sô 2:8,Ê-phê-sô 2:9 Cô-lô-se 1:20-22)

THƯỢNG ĐẾ

Hay thương xót cho nên không muốn hình phạt chúng ta (Giăng 3:16 Rô-ma 5:8 2 Phi-e-rơ 3:9)

Công bình vì vậy phải hình phạt tội lỗi (Rô-ma 6:23 2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:9 Hê-bơ-rơ 9:27)

CHÚA CỨU THẾ

Ngài là ai - Thần Nhân vô hạn (Giăng 1:1,Giăng 1:14 10:30 20:28)

Ngài đã làm gì - Ngài đã trả giá tội lỗi cho chúng ta đồng thời sắm một chỗ ở thiên đàng và biếu cho chúng ta như một tặng phẩm (IICo 5:14,21 1 Phi-e-rơ 1:18,1 Phi-e-rơ 1:19)...

ĐỨC TIN

Không phải là gì - chẳng phải là sự thừa nhận theo trí khôn hoặc niềm tin tạm thời (Ê-phê-sô 2:9).

Nhưng là gì - duy tin cậy một mình Chúa Cứu Thế để được cứu rỗi (Giăng 3:16,Giăng 3:18,Giăng 3:36 6:47 Công vụ 4:12).

III. SỰ TÍN THÁC

1. CÂU HỎI ĐỂ BIẾT CHẮC: Bạn thấy những điều tôi vừa trình bày có rõ cho bạn không?

2. CÂU HỎI TÍN THÁC: Bạn có muốn nhận tặng phẩm này để được sự sống vĩnh viễn không?

3. LÀM SÁNG TỎ TỰ TÍN THÁC

    1. Thuyên chuyển lòng tin
    2. Nhận Đấng Christ phục sinh và hiện đang sống
    3. Nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa (Khải huyền 3:20)
    4. Nhận Đấng Christ là Chủ
    5. Ăn năn tội

4. LỜI CẦU NGUYỆN TÍN THÁC

    1. Cầu nguyện cho người - để hiểu, ăn năn và tin
    2. Cầu nguyện với người - từng câu ngắn
    3. Cầu nguyện cho người - để được bảo đảm

5. SỰ BẢO ĐẢM ƠN CỨU RỖI - xin cho phép tôi chỉ bạn một điều quan trọng mà Chúa Cứu Thế nói về việc bạn vừa thực hiện (Giăng 6:47)

IV. CHĂM SÓC TRỰC TIẾP

  1. THÁNH KINH - hẹn 7 ngày gặp lại
  2. CẦU NGUYỆN
  3. THỜ PHƯỢNG
  4. TƯƠNG GIAO
  5. LÀM CHỨNG

TRÌNH BÀY PHÚC ÂM VẮN TẮT

I. LỜI MỞ ĐẦU (A – D)

(Trình bày vắn tắt 10 phút khởi sự với hai câu hỏi chẩn đoán và kết thúc với câu hỏi tín thác)

HAI CÂU HỎI CHẨN ĐOÁN

Câu hỏi 1

- Thật là lý thú, Sung ạ. Nhưng xin cho biết: trong đời sống tâm linh của bạn hiện tại, bạn có biết chắc rằng hôm nay bạn qua đời, bạn sẽ vào thiên đàng chăng?

- Tôi tưởng không ai có thể biết chắc điều đó.

- Trải qua nhiều năm chính tôi cũng không biết, nhưng sau đó tôi khám phá được một điều kỳ diệu! Tôi khám phá ra rằng tôi có thể biết chắc chắn! Thậm chí tôi khám phá ra rằng đó là lý do tại sao Thánh Kinh được chép ra. Thánh Kinh dạy: “Tôi viết điều đó để anh em biết rõ nhờ tin Con Thượng Đế mà anh em được sự sống vĩnh viễn” (1 Giăng 5:13).

- Bạn có muốn tôi chia sẻ với bạn cách nào tôi biết chắc rằng tôi đang đi vào thiên đàng, và cách nào bạn cũng có thể biết được như vậy không?

- Có, tôi thật muốn biết.

Câu hỏi 2

- Được rồi. Tôi sẵn sàng chia sẻ với bạn,nhưng trước hết tôi xin hỏi bạn một câu khác mà tôi nghĩ sẽ đem chúng ta đến gần vấn đề và làm sáng tỏ tư tưởng chúng ta hơn. Giả định rằng bạn qua đời đêm nay và ứng hầu trước Thượng Đế và Ngài hỏi bạn: Tại sao Ta phải cho con vào thiên đàng? Bạn sẽ thưa với Chúa làm sao?

- Tôi không nghĩ ra được câu trả lời nào.

- Bạn không cần phải suy nghĩ nhiều chỉ nói điều gì thóang qua trong trí bạn.

- Ô, tôi đã cố gắng hết sức ăn ngay ở lành sống cuộc đời thánh thiện.

TIN MỪNG

- Được rồi, bạn ạ. Điều đó rất đáng khen.

Bạn biết không, khi bạn trả lời câu hỏi thứ nhất, tôi tưởng bạn đã có tin mừng cho bạn. Và sau khi nghe bạn trả lời câu hỏi thứ hai, tôi biết tôi thật có tin mừng đó. Thật thế, tôi còn dám quả quyết trong vòng 60 giây sắp tới, bạn được nghe Tin Vui lớn nhất mà chưa bao giờ trong đời bạn được nghe. Đó chắc hẳn là một điều lạ, phải không?

II. PHÚC ÂM

ÂN PHÚC

Thiên đàng là tặng phẩm biếu không

Chẳng phải làm lành lánh dữ hoặc xứng đáng mà được.

Tôi xin chứng minh điều đó. Tôi cảm thấy phần lớn đời tôi cũng sống đúng như bạn. Tôi đã nghĩ nếu tôi muốn vào thiên đàng thì tôi phải trả giá, hoặc giành chiếm cho được. Tôi phải trở nên người thánh thiện đủ, và làm việc cho xứng đáng để được vào nước thiên đàng. Sau đó tôi đã khám phá ra thiên đàng tuyệt đối là một tặng phẩm biếu không - chớ không phải giành chiếm, hoặc nhờ công đức riêng hoặc vì xứng đáng mà được. Hoàn toàn biếu không! Thế có kỳ lạ không?

Để tôi chỉ cho bạn câu Thánh Kinh Tân Ước: Rô-ma 6:23 đây này, bạn hãy tự đọc lấy:

“Vì tiền công của tội lỗi là sự chết,nhưng tặng phẩm của Thượng Đế là đời sống vĩnh viễn trong Chúa Cứu Thế Giê-xu,Chúa chúng ta”.

Tặng phẩm của Thượng Đế là đời sống vĩnh viễn... Thế có lạ lùng không?

Có lẽ bạn nghĩ: “Làm sao có thể như vậy được? Làm sao chúng ta có thể có được? Để xem thử tôi có thể chỉ cho bạn không?Tôi biết một phương pháp giúp bạn khám phá được điều này, chẳng những đây là phương pháp, mà còn là phương pháp duy nhất mà thôi.

NGƯỜI

Là tội nhân

Thánh Kinh dạy rằng mỗi người đều đã phạm tội, cho nên chẳng ai trong chúng ta thánh thiện đủ để được vào thiên đàng, vì tiêu chuẩn của Thượng Đế là toàn hảo. Nếu chúng ta phải thánh thiện đủ như Chúa Giê-xu phán: “Các con phải toàn hảo như Cha các con trên trời” (Ma-thi-ơ 5:48). Nhưng “vì mỗi người đều phạm tội, không còn phản chiếu vinh quang Thượng Đế”(Rô-ma 3:23). Trong tư tưởng, lời nói, việc làm của chúng ta --chúng ta đã thất bại không vâng giữ được điều luật của Chúa, kể cả tội mình đã phạm lẫn tội thiếu sót không làm --tức là những điều chúng ta đã làm và những điều chúng ta bỏ qua không làm.

Không thể tự cứu mình

Đây là lý do không một ai trong chúng ta có thể tự kiếm được con đường vào thiên đàng. Chúng ta không thể tự cứu mình,Thánh Kinh dạy: “Vậy, anh em được cứu nhờ ân phúc Thượng Đế .... Không phải là kết quả của công đức anh em, nên chẳng ai có thể khoe khoang” (Ê-phê-sô 2:8,Ê-phê-sô 2:9).

THƯỢNG ĐẾ

Hay thương xót --cho nên không muốn hình phạt chúng ta.

Công bình --bởi vậy phải hình phạt tội lỗi.

Vấn đề con người cố gắng tự cứu mình trở thành nghiêm trọng hơn khi chúng ta xem xét Thánh Kinh dạy gì về Thượng Đế.

Chúng ta biết Thượng Đế đầy lòng thương xót và thương yêu, đầy ơn và nhân từ, nhưng cũng chính Thánh Kinh dạy rằng Thượng Đế công bình, Thánh khiết và công chính; mắt Ngài Thánh sạch chẳng nhìn sự dữ,chẳng có thể nhìn được sự trái ngược (Ha 1:13). Ngài phải hình phạt tội. Thánh Kinh dạy rằng Thượng Đế mỗi ngày nổi giận cùng người ác và Ngài truyền cho mọi người ở khắp nơi hãy ăn năn. Cố nhiên chúng ta biết Thánh Kinh dạy Thượng Đế thương yêu, đầy ân phúc và hay thương xót. Ngài không muốn hình phạt chúng ta,vì Ngài thương yêu chúng ta. Vậy, câu giải đáp cho nan đề này là gì?

Với sự khôn ngoan vô hạn của Thượng Đế. Ngài đã hoạch định một giải pháp. Thượng Đế sai Con một Ngài vào thế gian để giải quyết vấn đề này.

CHÚA CỨU THẾ GIÊ-XU

Ngài là ai - Thần Nhân vô hạn

Vậy, Chúa Cứu Thế Giê-xu là ai? Theo lời Thánh Kinh Chúa Cứu Thế Giê-xu là Thượng Đế. Ngôi Hai trong Ba Ngôi Thiên Chúa,Đấng tạo hóa vũ trụ. Thánh kinh dạy, “Ban đầu có Chúa Cứu Thế, Chúa Cứu Thế ở với Thượng Đế từ nguyên thủy vì Ngài là Thượng Đế ngôi Hai. Chúa Cứu Thế đã mang lấy hình hài thể xác con người sinh họat giữa chúng ta” (Giăng 1:1,Giăng 1:3,Giăng 1:14).

Ngài đã làm gì? - Đã trả giá đền tội chúng ta, và mua sắm thiên đàng để làm tặng phẩm biếu chúng ta.

Ngài đến để làm gì? Cả Thánh Kinh luận về công lao cứu chuộc vĩ đại. Hãy tưởng tượng cuốn sách ở bên tay phải tôi chứa dựng bản ghi chép tỉ mỉ cuộc đời chúng ta, mọi việc chúng ta làm, tất cả mọi tội, mọi tư tưởng, mọi cớ tích của chúng ta, mọi điều chúng ta từng làm cách bí mật - thay thảy đều ghi chép trong sách này. Thánh Kinh dạy rằng một ngày kia các sách sẽ mở ra, và mọi người biết mọi điều về chúng ta. Ngày đó, nhiều người sẽ bị hổ thẹn! Tôi xin xác quyết một điều: nếu người nào bị đoán xét tùy theo những điều ghi trong sách của đời sống mình, chắc chắn người ấy sẽ bị kết tội.

Đây (nâng cuốn sách lên) là nan đề của chúng ta. Bạn thấy rõ, đó là tội lỗi đè nặng trên chúng ta như một gánh nặng to lớn.(Để cuốn sách trong lòng một bàn tay). Điều này ngăn trở chúng ta vào thiên đàng. Điều này ngăn trở chúng ta không lên gặp Thượng Đế được. Chúng ta phải làm gì với các tội đó?

Trong Cựu Ước sự dự tính của Thượng Đế đối với tội được mô tả bằng các hình bóng báo hiệu trước. Giăng Báp-tít loan báo đúng kỳ Chiên Con của Thượng Đế đã đến. Chúa Cứu Thế Giê-xu đã hoàn tất nhiệm vụ của Ngài. Đó là gì? Trong phân đoạn Thánh Kinh: “Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy, Đức Giê-hô-va và làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người” (Ê-sai 53:3,Ê-sai 53:6).

Giả định bàn tay kia của tôi tượng trưng cho Chúa Cứu Thế Giê-xu, Thánh Kinh dạy rằng Thượng Đế chất mọi tội lỗi của chúng ta trên Chúa Giê-xu (Chuyển cuốn sách qua tay “Giê-xu”). Chúa lấy tội lỗi chúng ta đem qua sổ kế toán của Chúa Cứu Thế Giê-xu mà Thượng Đế ghét. Chúa đã kể hoặc chất tội lỗi chúng ta trên Chúa Cứu Thế. Kế đó, tôi đọc một điều mà tôi là bậc làm cha mẹ phải sửng sốt. Tôi đọc: “Đức Giê-hô-va lấy làm vừa ý mà làm tổn thương người... Ngài đã bị Thượng Đế đánh và đập và làm cho khốn khổ.”Thượng Đế đã tuôn đổ cơn thạnh nộ đối với tội lỗi trên chính con Ngài.

Chính Chúa Giê-xu phán: Ngài đi chuẩn bị chỗ ở cho chúng ta. Ngài đã mua sắm một chỗ cho chúng ta ở thiên đàng.

Sung ạ, bạn biết điều diệu kỳ là Chúa Cứu Thế đã mua sắm chỗ ở trên thiên đàng và biếu cho chúng ta như một tặng phẩm.Tặng phẩm của Thượng Đế là đời sống vĩnh viễn. Do ân phúc Ngài ban cho chúng ta tặng phẩm về nước thiên đàng.

ĐỨC TIN

Không phải là gì - không phải chỉ là thừa nhận theo trí khôn. Làm sao chúng ta nhận được điều đó?

“Vậy, anh em được cứu nhờ ân phúc Thượng Đế,do đức tin...” Đức tin là chìa khóa mở cửa nước thiên đàng. Có người đã nói đức tin là bàn tay không của người hành khất tiếp nhận tặng phẩm của Vua.

Nhiều người nghĩ họ có đức tin, nhưng thật họ không rõ đức tin là gì. Chúng ta hãy xem đức tin không phải là gì. Nhiều người tin rằng Chúa Giê-xu đã sống, chết và sống lại. Và họ cho rằng đó là đức tin. Nhưng đây chỉ là sự thừa nhận của trí tuệ đối với những sự kiện lịch sử.Thánh Kinh dạy rằng cả đến quỉ cũng tin Chúa Cứu Thế theo cách đó. Nhưng như vậy chưa đủ (Cũng không phải là niềm tin tạm thời).

Người khác tưởng họ có đức tin trong Chúa Cứu Thế, nhưng khi bạn hỏi họ thật có nghĩa gì, họ chỉ tin cậy Chúa Cứu Thế vì những điều tạm bợ của đời sống, tỉ như sức khỏe hoặc con cái, hoặc tài chính,hoặc sức mạnh hay sự hướng dẫn - những điều đó chúng ta chỉ cần trong cuộc sống hiện đang ở thế hạ này.

Đức tin là gì - duy tin cậy Chúa Cứu Thế để được ơn cứu rỗi

Nhưng Thánh Kinh dạy đức tin là tin cậy một mình Chúa Giê-xu để được hưởng ơn cứu rỗi, đặt niềm tin hy vọng về đời sống vĩnh viễn trong Chúa Cứu Thế .

Chúa Cứu Thế không đến thế hạ chỉ để cho chúng ta được tai qua nạn khỏi khi mổ ruột dư, hoặc đi máy bay đến Nữu Ước bình an vô sự. Chúa Cứu Thế đến để đem chúng ta lên thiên đàng hầu chúng ta hưởng sự sống vĩnh viễn.

Người đời tin cậy một trong hai điều - hoặc tin cậy chính mình hoặc tin cậy Chúa Cứu Thế. Trước kia tôi đã từng tin cậy giống như bạn đang tin-- tin vào chính cố gắng của tôi để sống cuộc đời hoàn toàn Thánh thiện. Kế đó tôi đã nhận thấy nếu tôi có thể vào thiên đàng bằng cách này, tôi sẽ tự cứu mình: và nếu tôi có thể tự cứu mình, tất nhiên tôi sẽ là cứu chúa của tôi. Và nếu tôi là cứu chúa của tôi, tôi sẽ cạnh tranh với Chúa Cứu Thế Giê-xu, Đấng xưng mình là Cứu Tinh của cả thế giới.

Điều tôi cần làm là ngưng tin cậy chính mình và khởi sự tin cậy Chúa Cứu Thế Giê-xu. Vậy, trải qua nhiều năm, cách chân thành và ăn năn, tôi chỉ làm điều đó. Và tôi nhận được tặng phẩm của sự sống vĩnh viễn. Trước kia tôi không đáng được thì bây giờ tôi cũng không đáng được,nhưng chỉ nhờ ân phúc Chúa mà tôi có được.

- Bạn có tin ghế này thật có không? (chỉ một ghế trống)

- Có.

- Bạn có tin nó có thể giữ vững bạn không?

- Có.

- Hiện giờ nó chưa giữ vững bạn. Làm cách nào bạn có thể chứng minh rằng chiếc ghế thật có và có thể giữ vững bạn?

- Bằng cách ngồi lên đó.

- Chiếc ghế tượng trưng cho Chúa Cứu Thế.Trải qua một thời gian dài tôi tin ghế thật có và có thể giúp tôi, nhưng tôi không ngồi trên ghế đó, vậy nó chẳng ích lợi chi cho tôi. Tôi không có sự sống vĩnh viễn vì tôi đang tin cậy vào công đức của tôi để vào nước thiên đàng. Hãy nhớ điều bạn đã thưa với Thượng Đế nếu Ngài hỏi tại sao Ngài phải để cho bạn vào thiên đàng? Bạn đã thưa: “Tôi đã làm hết sức mình, ăn ngay ở lành...” Người duy nhất mà bạn viện dẫn đến trong câu trả lời này là ai?

- Tôi.

- Khi bạn nói điều đó thì bạn tin cậy vào ai để vào thiên đàng.

- Tôi.

- Muốn nhận sự sống vĩnh viễn bạn phải chuyển sự tin cậy nơi bạn qua sự tin cậy nơi Chúa Cứu Thế .

(Cớ tích để sống cuộc đời tin kính)

Vậy, cớ tích để sống cuộc đời tin kính là gì? Cớ tích để sống cuộc đời tin kính là lòng biết ơn điều Chúa Cứu Thế đã ban cho chúng ta. Kinh Thánh dạy rằng “tình yêu của Chúa Cứu Thế cảm thúc tôi”(IICo 5:14).

Vị nguyên viện trưởng Đại học Princeton đã nói cách này: “Khi còn thanh niên, tôi đã tiếp nhận Chúa Cứu Thế và tặng phẩm về sự sống vĩnh viễn. Tất cả phần sót lại của đời tôi chỉ là lời Tái bút cho ngày đó, mà rằng: Cám ơn Chúa về điều Ngài đã ban cho tôi lúc bấy giờ”.

III. SỰ TÍN THÁC

CÂU HỎI ĐỂ BIẾT CHẮC:

Những điều tôi vừa trình bày có rõ cho bạn không?

- Ô, có chứ, thật diệu kỳ.

- Bạn vừa nghe câu chuyện vĩ đại nhất về một sự cống hiến vĩ đại nhất, bởi Con người vĩ đại nhất từng sống trên thế gian.

CÂU HỎI TÍN THÁC

Bây giờ tới câu hỏi này: bạn có muốn tiếp nhận tặng phẩm về sự sống vĩnh viễn mà Chúa Cứu Thế đã từ bỏ cõi trời và chịu chết trên thập tự giá để ban cho bạn không?

NHẬN ĐỊNH VỀ PHƯƠNG PHÁP “NỖ LỰC TRUYỀN BÁ PHÚC ÂM”

Phương pháp Nỗ Lực Truyền Bá Phúc Âm có nhiều lợi điểm. Trước hết là nó chứa đựng căn bản thần học vững chắc. Có lẽ đạo về ân phúc, con người, Đức Chúa Trời, Chúa Cứu Thế Giê-xu, và đức tin được trình bày đầy đủ và rõ ràng.

Phương pháp này giống như kế họach truyền bá Phúc Âm của Chúa Cứu Thế Giê-xu là chọn giáo dân và huấn luyện họ qua việc đi ra thực tập.

Nỗ Lực Truyền Bá Phúc Âm nhấn mạnh việc sử dụng tín hữu, và vì vậy đã chia bớt gánh nặng mà trước đây chỉ nấy trên vai của Mục sư và một ít người lãnh đạo.

Nó tạo cơ hội cho giáo dân hầu việc Chúa.Nhiều Cơ Đốc nhân muốn thực hiện một việc gì cho Chúa nhưng không biết phải làm sao. Với chương trình này họ có thể trở thành chứng nhân của Chúa Cứu Thế .

Bố cục trình bày Phúc Âm rất tốt bao gồm các câu Thánh Kinh và ví dụ làm sáng tỏ chân lý cứu rỗi, ghi nhớ được nó, ta có thể đi ra làm chứng về Chúa cách tự tin.

Tuy nhiên, phương pháp Nỗ Lực Truyền Bá Phúc Âm cũng có nhiều điểm yếu. Trước hết là sự cứu rỗi được trình bày trong phương pháp này dường như nghiêng hẳn về một phía. Phần nói về Phúc Âm là rất đúng qua việc bày tỏ cho thân hữu biết lẽ cần của sự tha thứ và cứu khỏi tội lỗi. Cũng rất đúng khi tuyên bố rằng Chúa Cứu Thế Giê-xu đã thực thi việc giải hòa giữa Đức Chúa Trời và loài người qua sự chết của Ngài. Đồng thời không có gì sai khi nói với thân hữu rằng Chúa Cứu Thế Giê-xu là con đưòng duy nhất dẫn đến Đức Chúa Cha. Tuy nhiên phần trình bày đã không dành đủ thời gian cho phương diện khác của sự cứu rỗi. Phương pháp này không nhấn mạnh rằng mục đích của sự cứu rỗi là trọn vẹn; rằng đời sống bên trong con người đã được thay đổi và không còn bị nô lệ dưới tội lỗi. Bây giờ con người có thể sống cuộc đời theo ý muốn Đức Chúa Trời. Khi thân hữu bằng lòng tiếp nhận Chúa thì được chứng đạo viên dạy rằng, họ bây giờ là con cái Đức Chúa Trời --được tha thứ, cứu chuộc, phục hòa.Tuy nhiên phương pháp này không hướng dẫn cho tân tín hữu biết họ nên chứng tỏ dấu hiệu bên ngoài là đang bước đi với Đức Chúa Trời. Tân tín hữu phải nhận rõ là họ có một sứ mạng mới trong đời sống, và họ sống “giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian”.

Điểm yếu thứ hai của phương pháp này là thiếu nhấn mạnh về sự ăn năn. Kennedy có đề cập nhiều về ân phúc biếu không, về tình thương yêu của Đức Chúa Trời, về sự chết đền tội của Chúa Cứu Thế, về ý nghĩa đức tin: nhưng lại nói rất ít về lẽ đạo ăn năn. Phương pháp này có chỉ ra cho thân hữu biết “mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” (Rô-ma 3:23), song không giải thích cho thân hữu rằng họ đang có mối liên hệ sai trật với Đức Chúa Trời: rằng họ đang chống nghịch với Đấng Tạo Hóa, và “đã chết vì lầm lỗi và tội ác mình” (Ê-phê-sô 2:1). John R. Stort cũng nhận ra nguy cơ đó trong sự giảng dạy hay chứng đạo ngày nay. Ông viết: “sự ăn năn... đã thiếu vắng cách đáng tiếc trong lối giảng dạy hiện đại. Nếu biến động của sự tái sanh đang diễn ra, thì lòng của thân hữu sẽ như “kim châm”và kêu lên: “Hỡi anh em, chúng tôi phải làm chi?” (Công vụ 2:37 BNC). Nếu Thánh Linh không làm việc trong đời sống của thân hữu, sự quyết định của họ là vô nghĩa.

Điểm yếu thứ ba là thiếu quyền năng của Thánh Linh. Chương trình Nỗ Lực Truyền Bá Phúc Âm được soạn thảo công phu và có hệ thống. Tài liệu được nhuận chánh nhiều lần. Phần trình bày Phúc Âm cũng được cập nhật luôn luôn. Tuy nhiên tất cả sự cố gắng trên đều ra từ tâm trí con người, và vì vậy nguy cơ cho người sử dụng chương trình này là dễ quên công tác và quyền năng của Thánh Linh.

Điểm yếu thứ tư là chú trọng đến số lượng người tin Chúa. Thực sự này thúc ép chứng đạo viên cố gắng mang về một “chiến công của ân phúc” trong mỗi lần đi ra làm chứng. Khi các toán chứng đạo họp lại để tường trình, toán đưa dắt được người đến với Chúa hôm đó sẽ hãnh diện đứng lên kể lại chiến tích. Còn toán không đạt được kết quả bằng mắt thấy thì có cảm giác tội lỗi và thất bại. Trong khi sự thực của vấn đề là chỉ có Đức Chúa Trời mới biếât hạt giống nào gieo ra sẽ mang lại kết quả lớn hơn cho mùa gặt.

Điểm yếu thứ năm là thời gian huấn luyện và thời gian trình bày Phúc Âm. Người Việt có tâm hồn thực tế, muốn “thử nó” và kinh nghiệm kết quả tức thì. Nhiều học viên không thể theo trọn khóa học vì nó quá dài, những 16 tuần. Ngoài ra lúc trình bày Phúc Âm, chứng đạo viên muốn nói đầy đủ hết các phần của bố cục cũng mất khá nhiều thì giờ. Trong truyền thống gia đình Việt Nam, khó có thể giữ được không khí yên tĩnh liên tục trong lúc chứng đạo viên nói quá nhiều và quá...dài như thế.

Điểm yếu sau cùng là hai câu hỏi chẩn đoán.Hai câu hỏi này thường bị phản đối chẳng những về khía cạnh thần học mà còn về khía cạnh văn hóa. Về khía cạnh thần học, câu hỏi thứ hai không đặt nền tảng trên Thánh Kinh và cũng không dựa trên phương thức chứng đạo của các tín hữu đầu tiên. Nếu xem lại câu hỏi đó (dù chỉ là câu hỏi giả định) ta sẽ không tìm được một câu Thánh Kinh nói rằng Đức Chúa Trời sẽ đứng trước cổng thiên đàng để hỏi: “Tại sao ta cho con vào thiên đàng?” Hơn nữa, một người được vào thiên đàng hay không, tùy thuộc vào việc người đó bằng lòng đặa1 niềm tin nơi Chúa Cứu Thế hay chăng lúc còn trên đất chớ không phải được quyết định ở trước cổng thiên đàng. Đồng thời sự sống vĩnh viễn được ban cho ngay lúc ta vừa tin Chúa chớ không đợi đến lúc vào thiên đàng.

Về khía cạnh văn hóa, khi đem câu trên để hỏi người Việt, đặc biệt là người Việt cao niên, thì sẽ có vấn đề. Đối với văn hóa Việt tộc, câu hỏi “nếu ông/bà qua đời đêm nay...” hoặc “giả định ông/bà qua đời đêm nay...” là những câu hỏi xúi quẩy, trù ẻo. Để thích ứng với văn hóa Việt Nam, ta nên đổi câu hỏi trên như vầy: “Tất cả chúng ta phải từ giả cõi đời một ngày nào đó, và đôi khi ngày ấy đến sớm hơn chúng ta nghĩ. Nếu điều đó xảy đến cho tôi và ông/bà...” ta đổi chữ “chết”, “qua đời” trở thành “từ giã cõi đời” cho người Việt dễ chấp nhận hơn. Ngoài ra cũng nên đồng nhất chính mình vào câu hỏi, để không bị hiểu lầm là trù ẻo họ. Bản dịch tiếng Việt quyển Nỗ Lực Truyền Bá Phúc Âm” xuất bản lần thứ nhất có sửa đổi hai câu hỏi một ít cho thích hợp với văn hóa Việt tộc, tuy nhiên việc làm đó cần được tiếp tục."