Tìm kiếm

MUỐN CHỨNG ĐẠO CHO DÂN VIỆT

1.—Chấp nhận bối cảnh tôn giáo sẵn có của dân Việt

2.—Khởi đầu từ một nhu cầu

3.—Cởi mở ngay thật

4.—Tránh tranh biện

5.—Sử dụng từ ngữ thích hợp với bối cảnh tôn giáo của Việt tộc.

Để có thể chứng đạo hữu hiệu cho dân Việt,ta nên để ý các nguyên tắc quan trọng như sau:

CHẤP NHẬN BỐI CẢNH TÔN GIÁO SẴN CÓ CỦA DÂN VIỆT

Nguyên tắc quan trọng để bắt đầu việc làm chứng cho người khác tôn giáo là chấp nhận cả con người lẫn bối cảnh tôn giáo của họ. Ta thừa nhận rằng mỗi người có quyền suy nghĩ, cảm xúc, nhìn sự vật theo cách riêng của mình. Mỗi người đều có quyền tự do tín ngưỡng. Sự kính trọng đó sẽ giúp cho việc đối thoại thêm thân mật và hiệu quả.

Một trong những lầm lẫn trong quá khứ của việc truyền bá Phúc Âm cho người Việt là thiếu sự chấp nhận họ. Chứng đạo viên tiếp xúc với họ trong cương vị của một Thánh nhân nói chuyện với một tội nhân.Thái độ ấy không phải là thái độ của ngưòi Cơ Đốc. Chúa Giê-xu và các môn đệ không làm chứng theo cách đó. Thánh Kinh chép Chúa Giê-xu, mặc dù là người Do Thái, đã ngồi bên giếng chờ thiếu phụ Sa-ma-ri và xin nước uống. Ngài đến chuyện trò và sống hòa mình với viên thu thuế Lê-vi. Ngài cứu giúp người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội tà dâm. Nhà truyền giảng Phi-líp cũng chẳng ngần ngại chấp nhận thái giám Ê-thi-ô-bi.

KHỞI ĐẦU TỪ MỘT NHU CẦU

Mỗi người đều có nhu cầu hoặc nan đề riêng,chứng đạo viên phải biết và đáp ứng nhu cầu nầy. Hai môn đệ trên trường Em-ma-út đã bối rối trước vấn đề: sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu. Vì thế, Chúa khởi đầu từ nhu cầu của họ để truyền đạt sứ điệp thuộc linh mà họ cần phải biết.

Người Việt theo đạo Nho, đạo Lão, đạo Phật cũng có nan đề thuộc linh. Nan đề của họ là làm sao để tránh tội, diệt khổ hầu đạt đến sự giải thoát. Họ đang ép xác ngày đêm để mong diệt được tham, sân si hầu giữ tâm trí cho ngay chính sáng suốt.

Đây là nhu cầu của người Việt cần được giúp đỡ.

Tín ngưỡng của dân Việt còn có nan đề khác:tội nhân không có sự cứu rỗi, và thần của họ không giúp được họ về nan đề đó.“Đường giải thoát của Phật giáo chỉ có một, ai ai cũng buộc phải qua con đường đó... Đây là một định luật vô tri giác, không cảm tình. Ai tới được thì đến Niết Bàn. Ai chưa tới được thì cứ ở trong luân hồi muôn kiếp. Đường tu trọn vẹn của Đức Phật chỉ có thể giúp người khác nhận thấy đường tu cho chính mình,nhưng không có công nghiệp gì vào đường tu kẻ khác. Ai riêng phần nấy. Công nghiệp của đức Phật cũng chỉ giúp cho chính mình Ngài.” Trong khi đó Phúc Âm là tin mừng cho Chúa Cứu Thế, Đấng đã đến để tìm kiếm tội nhân, rồi chết thay cho người có tội và ban sự cứu rỗi cho họ.

CỞI MỞ NGAY THẬT

Có một luật quan trọng nhất mà ta phải theo khi làm chứng về Chúa cho người khác. Theo nó thì việc gì cũng hóa dễ, trở ngại gì cũng thắng được, ta sẽ có vô số người lắng nghe tin mừng cứu rỗi, sẽ đưa dẫn nhiều linh hồn về cho Chúa. Nếu làm trái luật đó tức thì nỗi khó khăn sẽ hiện ra. Luật đó là: Cởi mở ngay thật khi giao tiếp với ngưòi khác. Bạn muốn những người bạn gặp gỡ đồng ý với bạn? Bạn muốn người Việt tiếp nhận sứ điệp Phúc Âm?Hãy cởi mở ngay thật trong lúc làm chứng về Chúa.

TRÁNH TRANH BIỆN

Tiến sĩ James Kennedy đã giảng giải về việc tranh biện: “Khuynh hướng tự nhiên của chúng ta khi gặp chống đối là trực thị đương đầu và đánh hạ chúng hoặc là chạy trốn. Vì Phúc lợi vĩnh viễn của thân hữu, bạn phải kiềm chế khuynh hướng này. Chúng tôi xin nói: Đừng Bao Giờ Tranh Luận.

Trong quyển How to Win Friends and Influence People, Dale Carnegie đã kể lại ông học được bài học quý báu này: “Trong một bữa tiệc, ông khách ngồi bên tay mặt tôi quả quyết rằng câu ‘Có một vị thần nắm vận mạng của ta, ta cưỡng lại không được’ là ở trong Thánh Kinh. Ông ta lầm.Tôi biết vậy. Tôi chắc chắn vậy, không còn ngờ vực gì nữa. Cho nên để tỏ sự hơn người của tôi, sự quan trọng của tôi, tôi tự nhận việc cải chính. Mà có ai cầu tôi cải chính đâu! Tôi bảo ông ta rằng câu đó của thi hào Shakespear. Ông ta không chịu nhận mình lầm, cãi! “Sao? Câu đó mà của Shakespear sao? Không thể được; Thậm vô lý! Rõ ràng trong Thánh Kinh mà! Tôi biết”.

Ngồi bên trái tôi là ông Grammond, bạn cũ của tôi: ông này đã nhiều năm nghiên cứu Shakespear. Cho nên chúng tôi quay lại cùng xin ông Grammond phân giải xem ai phải ai trái. Ông Grammond đá mạnh vào chân tôi ở dưới bàn làm hiệu rồi tuyên bố: “Anh Dale lầm rồi: Ông nói đúng. Câu đó ở trong Thánh Kinh”.

Khi đi về, ông Grammond trả lời: “Dĩ nhiên,nó ở trong Kịch Hamlet, hồi I, màn II. Nhưng, này anh, chúng ta là khách trong một cuộc họp vui vẻ, tại sao muốn chứng minh rằng ông ấy lầm? Có phải làm như vậy mà người ta có thiện cảm với mình đâu? Sao không để ông ta giữ thể diện một chút? Ông ta không hỏi ý kiến của anh mà. Tại sao quả quyết tranh biện với ông ấy? Đừng gây với ai hết.”

Sau nhiều kinh nghiệm, Carnegie nhận thấy rằng: “Trong các cuộc tranh biện không ai thắng hết. Thực vậy, vì nếu bạn thua... thì là thua rồi. Mà nếu bạn thắng thì... bạn cũng thua nữa. Tại sao ư?Thì đây! Ví dụ bạn thắng đối thủ của bạn một cách rực rỡ và tỏ cho người đó thấy rằng y là một thằng ngu. Phải, rồi sao nữa? Bạn đã làm thương tổn lòng tự ái, lòng kiêu căng của người ta. Người ta tức giận lắm vì đã thua bạn. Rồi thì:Kẻ nào bắt buộc nghe ai; luôn luôn vẫn giữ ý sai của mình. Bạn biết điều đó chứ?”

Áp dụng vào việc chứng đạo, ta rút ra được bài học này: muốn đưa dẫn người khác đến với Chúa ta không bao giờ được tranh biện.

SỬ DỤNG TỪ NGỮ THÍCH HỢP VỚI BỐI CẢNH TÔN GIÁO CỦA VIỆT TỘC.

Khi trình bày Phúc Âm cho những người khác tôn giáo, ta có thể sử dụng danh từ Thánh Kinh và thần học, tuy nhiên phải biết chắc người nghe hiểu đúng điều ta muốn nói. Ta phải trình bày các từ ngữ và cả sứ điệp Phúc Âm theo bối cảnh tôn giáo và văn hóa của người nghe.

Đối với các bậc trưởng lão và phụ huynh là những người nhiều năm thờ cúng tổ tiên, ta phải sử dụng từ ngữ cho thích hợp trong lúc chứng đạo. Khi nghe các danh xưng như “Đấng Christ”, “Chúa Giê-xu”,hoặc “Cơ Đốc giáo”, họ liền cho rằng đó là “đạo bỏ ông bà”, “một vị thần ngoại quốc”, hoặc “một tôn giáo ngoại lai”. Vì thế để tránh những ngộ nhận đó, người Cơ Đốc thay vì sử dụng danh xưng “Đức Chúa Trời”, nên đổi lại “Thượng Đế”,“Cha”, hoặc “Thiên Phụ”.

Người Việt hiểu chữ “tội lỗi” là chỉ về sự phạm lớn như giết người, cướp của, hoặc phản bội. Với quan niệm đó nếu ta không giải nghĩa rõ ràng, hầu hết người Việt đều cho là họ vô tội và không cần sự cứu rỗi.

Ngoài ra ta phải phân biệt Đấng Tạo Hóa không phải là Đức Phật.

Tội ác chẳng phải là nhân quả báo ứng xấu,hoặc sự thiếu hiểu biết, hay sự vô ý.

Thánh Kinh không phải chỉ là cuốn sách dạy về đạo đức. Niết bàn chẳng phải là thiên đàng.

“Đạo” trong Lão giáo không phải là “Đạo”trong Thánh Kinh (“Đạo đã trở nên xác thịt”—  Giăng 1:14BNC)."