Tìm kiếm

THẦN HỌC VỀ CHỨNG ĐẠO

CHỨNG ĐẠO LÀ GÌ?

1.—Đặc tính thật của chứng đạo

2.—Những quan niệm khác nhau về chứng đạo

Chứng đạo là “trình bày về Chúa Giê-xu trong quyền năng của Thánh Linh hầu con người có thể đến đặt lòng tin cậy nơi Ngài,tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa và phục sự Ngài như là Vua của mình trong sự thông công với Hội Thánh Ngài” Schelling cho rằng: “Chứng đạo là công bố tin mừng về Chúa Cứu Thế Giê-xu qua lời nói và hành động, với mục đích chinh phục một sự đáp ứng tích cực.” Sweazey nói: “Chứng đạo là sự rao giảng bằng mọi cách có thể được, để dẫn đưa người ta đến đức tin trong Đấng Christ và trở nên thuộc viên của Hội Thánh Ngài.”

Tuy nhiên, ta cần xét qua vài từ liệu trong Thánh Kinh để hiểu đặc tính thật của việc chứng đạo như được bày tỏ trong Tân Ước.

ĐẶC TÍNH THẬT CỦA VIỆC CHỨNG ĐẠO

“Thuyết Phục, Làm Cho Tin, Hoặc Khuyên Dỗ”(peitho). Từ liệu này có nghĩa là “cố gắng để thúc đẩy một người chấp nhận một hành động hay thái độ đặc biệt.” Dưới đây là cách dùng từ liệu này.

“Hễ đến ngày Sa-bát, thì Phao-lô giảng luận trong nhà hội, khuyên dỗ người Giu-đa và người Gờ-réc” (Công vụ 18:4).

“Phao-lô vào nhà hội, và trong ba tháng giảng luận một cách dạn dĩ ở đó: giải bày những điều về nước Đức Chúa Trời mà khuyên dỗ các kẻ nghe mình” (19:8).

“Các ngươi lại thấy và nghe nói, không những tại thành Ê-phê-sô thôi, gần suốt hết cõi A-si nữa, rằng tên Phao-lô này đã khuyên dỗ và trở lòng nhiều người, mà nói rằng các thần bởi tay người ta làm ra chẳng phải là Chúa” (19:26).

“Vua Ạc-ríp-ba phán cùng Phao-lô rằng:Thiếu chút nữa ngươi khuyên ta trở nên tín đồ Đấng Christ” (Công vụ 26:28).

“Họ đã hẹn ngày với người, bèn đến thăm tại nhà trọ rất đông; từ buổi sáng đến chiều, người cứ làm chứng và giảng giải với họ về nước Đức Chúa Trời. Lấy luật pháp Môi-se và các Đấng tiên tri mà gắng sức khuyên bảo họ về Đức Chúa Giê-xu” (28:23).

“Vậy chúng tôi biết Chúa đáng kính sợ,nên tìm cách làm cho người ta đều tin; Đức Chúa Trời biết chúng tôi, và tôi mong anh em cũng biết chúng tôi trong lương tâm mình” (IICo 5:11).

“Ép Mời” (anagkazo). Từ liệu này có nghĩa là “bắt phải, hoặc ép mời do quyền lực hay sự thuyết phục.”

“Chủ nhà lại biểu rằng: Hãy ra ngoài đường và dọc hàng rào, gặp ai thì ép mời vào, cho được đầy nhà ta” (Lu-ca 14:23).

Đây là ngụ ngôn về Nước Nghìn Năm. Người được dự tiệc cũng được vào Nước Trời. Được vào Nước Trời bao hàm sự cứu rỗi.Bạn để ý Chúa muốn đầy tớ Ngài ép mời họ đến.

“Hoán cải” (epistrepho). Từ liệu này có nghĩa là “xây khỏi, hoặc khiến cho ai trở về”.

“Ta cũng sẽ giải cứu ngươi khỏi dân này và người Ngoại-bang mà ta sai ngươi đến để mở mắt họ, khiến họ xây khỏi tối tăm mà hướng về sự sáng, khỏi quyền bính của Sa-tan mà hướng về Đức Chúa Trời, hầu cho họ nhận được sự tha tội và cơ nghiệp trong vòng những kẻ được nên Thánh bởi đức tin đến ta” (Công vụ 26:17-18 NBC).

Phao-lô nói mục đích của việc Đức Chúa Trời sai ông đến là để khiến cho người ta trở về cùng Ngài. Theo  Lu-ca 1:16-17, đây cũng là lý do tại sao Đức Chúa Trời sai Con Ngài đến thế gian.

“Thuyết phục, Xúi giục” (anapeitho)

“...Người Giu-da đồng lòng nổi lên nghịch cùng Phao-lô và kéo người đến tòa án, mà nói rằng: Người này xui dân thờ Đức Chúa Trời một cách trái luật pháp” (Công vụ 18:13).

NHỮNG QUAN NIỆM KHÁC NHAU VỀ CHỨNG ĐẠO

“Chứng đạo” đã từng là một khẩu hiệu chính yếu trong đời sống người tín hữu Tin Lành Việt Nam. Tuy nhiên, những người Cơ Đốc hiểu từ liệu này không giống nhau.

Chứng Đạo Là Sự Hiện Diện Của Cơ Đốc Nhân

Đối với một số người, chứng đạo là “sự hiện diện của Cơ Đốc nhân”. Điều đó có nghĩa là các tín hữu sống giữa đồng bào mình và các chủng tộc khác để thiết lập mối quan hệ với họ qua những việc lành và sự cứu giúp, nhưng không bao giờ chia sẻ niềm tin do việc nói cho họ biết Đức Chúa Trời thương yêu họ (Giăng 3:16); hoặc tỏ bày cho họ thấy tội lỗi làm cho con người xa cách Đức Chúa Trời và trở nên thù nghịch cùng Ngài (Rô-ma 5:10), và Đức Chúa Trời đòi hỏi mọi người phải hối cải, phải tin Chúa Giê-xu để được tha tội (Công vụ 2:21,Công vụ 2:38  4:12).

Chứng Đạo Là Công Bố Sứ Điệp Phúc Âm

Một số người khác quan niệm rằng chứng đạo là công bố sứ điệp Phúc Âm cho mọi người, chỉ bấy nhiêu mà thôi. Họ căn cứ trên lời Chúa: “Hãy đi khắp thế gian giảng Tin Lành cho mọi người. Ai tin và chịu phép báp têm, sẽ được rỗi; nhưng ai chẳng tin sẽ bị đoán phạt” (Mác 16:15,Mác 16:16). Các tín hữu này nhấn mạnh ở những chữ “cho mọi người”. Họ quan niệm rằng công việc của mình là gieo hạt giống Phúc Âm qua vô tuyến truyền hình,truyền thanh, sách vở, báo chí và truyền đạo đơn cho mọi người. Một khi người ta được nghe Phúc Âm qua các hình thức này là đã hoàn tất việc chứng đạo, chẳng cần biết người ta có quan tâm hoặc đáp ứng hay không.

Chứng Đạo Là Trình Bày Phúc Âm Và Khuyên Mời Tội Nhân Đặt Đức Tin Nơi Chúa Cứu Thế.

Nhóm người sau cùng thì không thoả mãn với việc “chinh phục tội nhân do sự hiện diện,” hoặc không dừng lại qua việc “chinh phục tội nhân do sự công bố Phúc Âm.” Đối với những người này, chứng đạo là đưa dẫn một người nam hoặc một người nữ đến mối liên hệ mới với Chúa Cứu Thế –một kinh nghiệm hóan cải. Thiếu những yếu tố này thì chưa phải là chứng đạo.

Phần lớn tín hữu Tin Lành Việt Nam áp dụng loại thứ nhất và thứ hai trong việc chứng đạo. Theo văn hóa Việt tộc, chứng đạo theo hai lối trên là bày tỏ sự kính trọng đối với người khác. Dân Việt luôn tỏ ra khiêm tốn trước mặt người giỏi, người khá hơn mình và vì vậy rất khó để đứng ra khuyên mời người khác tin Chúa. Tuy nhiên, nếu muốn có kết quả trong việc chinh phục linh hồn người Việt cho Chúa Cứu Thế, các tín hữu phải tin tưởng và áp dụng loại thứ ba. Ta phải hăng hái đi ra đem người khác đến với Chúa Cứu Thế và nhất quyết đặt mục tiêu rõ ràng cho việc chinh phục linh hồn tội nhân, đặc biệt cho dân Việt, là người đang tìm kiếm sự bình an nội tâm và đang chờ đợi lời giải đáp về ý nghĩa của cuộc sống.

Vậy nếu bạn muốn làm chứng nhân cho Chúa,xin nhớ định nghĩa này: Chứng đạo là trình bày Phúc Âm và khuyên mời tội nhân đặt đức tin nơi Chúa Cứu Thế.

 

TẠI SAO CHỨNG ĐẠO?

1.—Kế họach cứu chuộc của Đức Chúa Trời.

2.—Tình yêu Đức Chúa Trời cảm thúc

3.—Yêu thương người lân cận

4.—Vâng theo mạng lịnh trọng yếu của Chúa Cứu Thế

5.—Sự vinh quang của Đức Chúa Trời

Một số tín hữu đi chứng đạo vì sợ tội. Họ nghe vị Mục sư quản nhiệm nói rằng nếu không chứng đạo, họ sẽ bị mất phần thưởng trên thiên đàng nên họ đi chứng đạo. Chứng đạo vì sợ tội là cớ tích thuộc mức độ thấp nhất.

Một số người khác đi chứng đạo vì phải theo những chương trình của Hội Thánh. Nếu họ không đi làm chứng, mọi người sẽ cho họ không thiêng liêng. Nhưng nếu họ tham gia chương trình của Hội Thánh để đi làm chứng và mời nhiều khách đến dự lễ thờ phượng, họ sẽ là tín hữu sốt sắng.Họ sẽ được nhiều người khen ngợi và... biết đâu sẽ được đề cử vào Ban Chấp Sự hoặc Ban Điều Hành!

Người khác nữa đi chứng đạo vì áp lực bạn hữu. Bạn mình đi làm chứng còn mình ngồi nhà coi sao được. Huống chi ta sẽ được tiếng khen nếu dắt đưa được người khác đến với Chúa, đặc biệt là lúc ta tường trình việc chứng đạo. Mọi người sẽ khen ngợi, cảm phục và kính trọng ta biết dường bao! Tuy nhiên, nếu bạn đi chứng đạo vì cớ tích này thì sẽ không lâu bền.Bởi lẽ khi bạn thoát khỏi áp lực đó, bạn sẽ không còn muốn làm một chứng nhân cho Chúa nữa.

Các cớ tích trên không ra từ Thánh Kinh và vì vậy nó không đem lại lợi ích hoặc phước hạnh gì cho bạn và người khác. Trong khi đó có nhiều cớ tích chính đáng thúc đẩy người Cơ Đốc đi truyền bá Phúc Âm.Các tín hữu đầu tiên đã nhận biết điều ấy và được thúc đẩy đi làm chứng vì những cớ tích đó. Green cho rằng: “Trong hai thế kỷ đầu, dường như có ba cớ tích chính yếu thúc đẩy các Cơ Đốc nhân đi chứng đạo: để bày tỏ lòng tri ân,tinh thần trách nhiệm và sự quan tâm.” Thánh Kinh cũng cho thấy có nhiều cớ tích quan trọng thúc đẩy ta truyền bá Phúc Âm.

KẾ HỌACH CỨU CHUỘC CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Động cơ thúc đẩy ta chứng đạo là vì Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho con người kế họach cứu chuộc do tình thương qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian; đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời” (Giăng 3:16).

Lời Đức Chúa Trời cho biết rằng mọi người cần được cứu khỏi tội lỗi và án phạt của tội lỗi. Nhưng con người không thể tự cứu lấy mình (Rô-ma 1:18-20  3:10-26  6:23  Ê-phê-sô 2:1-9). Việc giải cứu khỏi tội lỗi và sự chết chỉ được thực hiện qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. Bởi lẽ “chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu” (Công vụ 4:12). Chúa Cứu Thế Giê-xu là “đường đi, lẽ thật, và sự sống” chẳng bởi Ngài thì không ai được đến cùng Đức Chúa Cha (Giăng 14:6). Chỉ do đức tin nơi sự chết và sống lại của Chúa Cứu Thế mà ta được tha thứ tội và được sự sống vĩnh cữu (Rô-ma 3:22-26 6:23  Ê-phê-sô 1:7  1 Giăng 5:10-13  Tit 3:4-7).

TÌNH YÊU CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI CẢM THÚC

Thánh Kinh bày tỏ do cớ tích tình yêu mà chứng đạo viên Giê-xu đã động lòng thương xót người hư mất.

“Ngài đang đi, có một người chạy lại, quì trước mặt Ngài, mà hỏi rằng: Thưa Thầy nhơn lành, tôi phải làm chi cho được hưởng sự sống đời đời? Đức Chúa Giê-xu phán rằng: Sao ngươi gọi ta là nhơn lành? Chỉ có một Đấng nhơn lành, là Đức Chúa Trời. Người biết các điều răn:Đừng phạm tội tà dâm; đừng giết người; đừng trộm cướp; đừng làm chứng dối; đừng làm gian; hãy hiếu kính cha mẹ. Người thưa rằng: Lạy Thầy, tôi đã giữ mọi điều đó từ khi còn nhỏ. Đức Chúa Giê-xu ngó người mà yêu, nên phán rằng: Ngươi còn thiếu một điều. Hãy đi, bán hết gia tài mình, đem bố thí cho kẻ nghèo khổ, chắc sẽ được của báu ở trên trời, rồi hãy đến mà theo ta” (Mác 10:17-21).

Về sau Phao-lô viết: “Vì tình yêu thương của Đấng Christ cảm động chúng tôi” (IICo 5:14). Từ liệu “cảm động”là một chữ rất hay đã được dùng nhiều lần trong Tân Ước. Tình yêu Chúa Cứu Thế thúc ép Phao-lô, đến nỗi ông thấy như bị tình yêu này bao quanh và vây lấy, rồi nó cảm thúc ông đi chứng đạo. Chúa Cứu Thế đã yêu thương và chết thay cho ta.Tình yêu diệu kỳ này cảm động và ràng buộc ta lại với Ngài, đến nỗi ta muốn hiến dâng đời sống phục vụ Ngài.

Trong sự phục vụ Chúa, không có công việc nào quan trọng hơn việc truyền bá Phúc Âm. Thánh Kinh Tân Ước có nhiều lần nhấn mạnh rằng cớ tích thúc đẩy các Cơ Đốc nhân đi chứng đạo là vì tình yêu của Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu Thế cảm thúc họ.

Vì yêu Đức Chúa Trời và Chúa Cứu Thế Giê-xu mà các Cơ Đốc nhân kiên gan, bền chí khi đi chứng đạo; dù gặp thời hay không,họ vẫn giảng đạo, cố khuyên.

“Ngài dùng thí dụ mà giảng nhiều điều cùng họ. Ngài phán như vầy: Có người gieo giống đi ra đặng gieo. Khi đương gieo, một phần giống rơi dọc đường, chim bay xuống và ăn. Một phần khác rơi nhằm chỗ đất đá sỏi, chỉ có ít đất thịt, bị lấp không sâu, liền mọc lên; song khi mặt trời mọc lên, thì bị đốt, và vì không có rễ, nên phải héo. Một phần khác rơi nhằm bụi gai, gai mọc rậm lên, phải ngẹt ngòi. Một phần khác nữa rơi nhằm chỗ đất tốt, thì sanh trái; hoặc một hột ra được một trăm, hoặc một hột sáu chục, hoặc một hột ba chục” (Ma-thi-ơ 13:3-8).

Vì yêu Đức Chúa Trời và Chúa Cứu Thế Giê-xu mà các tín hữu có thể đứng vững trước sự bắt bớ trong khi đi làm chứng.

“Vậy, các sứ-đồ từ tòa công luận ra, đều hớn hở về mình đã được kể là xứng đáng chịu nhục vì danh Đức Chúa Giê-xu”(Công vụ 5:41).

Vì yêu Đức Chúa Trời và Chúa Cứu Thế Giê-xu mà người Cơ Đốc mạnh dạn đi truyền bá Phúc Âm, để dù ai ở nơi nào mỗi khi nghe danh Chúa Cứu Thế, đều tuyên xưng Ngài là Chúa Tể vũ trụ và tôn vinh Thượng Đế là Cha.

“Và mọi lưỡi thảy đều xưng Giê-xu Christ là Chúa, mà tôn vinh Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha” (Phi-líp 2:11).

YÊU THƯƠNG NGƯỜI LÂN CẬN

Thánh Kinh Tân Cựu Ước đều đề cập đến cớ tích quan trọng này trong việc chứng đạo. Chúa Giê-xu dạy trong điều răn lớn nhất: “Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình” (Ma-thi-ơ 22:37-39). Trong  Lu-ca 10:29-39, Chúa Cứu Thế Giê-xu, qua ngụ ngôn “Người Sa-ma-ri nhân từ”, đã cho biết tất cả người đồng loại là kẻ lân cận của ta, không phân biệt văn hóa,địa dư và tín ngưỡng.

Nhưng thầy dạy luật muốn tự bào chữa, nên hỏi lại: Ai là người lân cận tôi? Để trả lời, Chúa Giê-xu kể chuyện này: Một người Do Thái đi từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-cô, giữa đường bị cướp. Chúng lột hết quần áo, tiền bạc, đánh đập tàn nhẫn rỗi bỏ nằm dở sống dở chết bên vệ đường. Tình cờ, một thầy tế lễ đi ngang qua, thấy nạn nhân liền tránh sang bên kia đường, đi luôn. Một thầy phó tế đi qua trông thấy, cũng bỏ đi. Đến lượt một người Sa-ma-ri qua đường nhìn thấy nạn nhân thì động lòng trắc ẩn, nên lại gần,lấy thuốc thoa bóp và băng bó các vết thương, rồi đỡ nạn nhân lên lưng lừa mình chở đến quán trọ cấp cứu. Hôm sau, người ấy trao cho chủ quán một số tiền bảo lo săn sóc nạn nhân và dặn: Nếu còn thiếu, khi trở về tôi sẽ trả thêm. Vậy trong ba người đó, ai là người lân cận với kẻ bị cướp? Thầy dạy luật đáp: Người đã cứu giúp nạn nhân. Chúa dạy: Ông hãy thi hành đúng như thế.

Phao-lô bày tỏ sự quan tâm mình đối với đồng bào ruột thịt Do Thái và mong ước dân tộc mình được sự cứu rỗi. Tình yêu đó ngày một nhiều hơn qua việc chân thành bộc bạch là ông sẵn lòng chịu Chúa Cứu Thế khai trừ và bị khổ hình vĩnh viễn miễn là cứu vớt được người đồng chủng mình.

“Tôi nói thật trong Đấng Christ, tôi không nói dối, lương tâm tôi làm chứng cho tôi bởi Đức Thánh Linh: tôi buồn bực lắm, lòng tôi hằng đau đớn. Bởi tôi ước ao có thể chính mình bị dứt bỏ, lìa khỏi Christ, vì anh em bà con tôi theo phần xác” (Rô-ma 9:1-3). “Hỡi anh em, sự ước ao trong lòng tôi và lời tôi vì dân vì dân Y-sơ-ra-ên cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời, ấy là cho họ được cứu” (Rô-ma 10:1).

Tình yêu thương người lân cận của Phao-lô không dừng lại tại đó mà còn đến với tất cả người đồng loại.

“Tôi có bổn phận nặng nề với các dân tộc,thông minh lẫn dã man, tri thức lẫn thất học. Vì thế, tôi thiết tha mong ước đi La-mã truyền giảng Phúc Âm của Thượng Đế cho anh em” (1:14,15BDY).

Chúng ta đã hằng ao ước và luôn cầu xin Đức Chúa Trời cứu dân tộc Việt Nam thân yêu, thì chúng ta phải mang Phúc Âm đến cho họ. Giống như Phao-lô, ta phải yêu thương dân tộc mình, buồn rầu và đau xót đêm ngày vì cớ họ. Ta phải “sẵn lòng chịu Chúa Cứu Thế khai trừ và bị khổ hình vĩnh viễn, miễn là cứu vớt được anh em đồng bào ruột thịt” (9:2,3 BDY). Tại hải ngoại có gần hai triệu người Việt đang bị hư mất và “sống xa cách Chúa Cứu Thế ... không hy vọng, không Thượng Đế” (Ê-phê-sô 2:12 BDY). Nhu cầu lớn nhất của họ là biết đến tình yêu thương của Đức Chúa Trời và được hướng dẫn đến sự cứu rỗi trong Chúa Cứu Thế. Đây là trách nhiệm và đặc quyền của người Việt Cơ Đốc.

VÂNG THEO MẠNG LỊNH TRỌNG YẾU CỦA CHÚA CỨU THẾ

Sau khi hoàn tất kế hoạch cứu chuộc nhân loại, Chúa Cứu Thế truyền bảo các môn đệ:

“Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp têm cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và này, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến ngày tận thế” (Ma-thi-ơ 28:19,Ma-thi-ơ 28:20).

“Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin lành cho mọi người. Ai tin và chịu phép báp têm, sẽ được cứu rỗi; nhưng ai chẳng tin, sẽ bị đoán phạt” (Mác 16:15,Mác 16:16).

“Các ngươi làm chứng về mọi việc đó; ta đây, ta sẽ ban cho các ngươi điều Cha ta đã hứa, còn về phần các ngươi, hãy đợi trong thành cho đến khi được mặc lấy quyền phép từ trên cao” (Lu-ca 24:44-49).

“Ngài lại phán cùng môn đồ rằng: Bình an cho các ngươi! Cha đã sai ta thể nào, ta cũng sai các ngươi thể ấy” (Giăng 20:21).

“Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đêâ, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất” (Công vụ 1:8).

Theo mạng lịnh của Chúa Cứu Thế, sự truyền bá Phúc Âm là một diễn tiến không ngừng đến khi nào sứ mạng được hoàn tất trọn vẹn “... cho đến cùng trái đất”_nghĩa là mọi người trên đất đều được nghe Phúc Âm. Như thế công cuộc truyền bá Phúc Âm là một chương trình dài hạn, đặt trên bình diện rộng lớn cho “cả thế giới”, đòi hỏi Cơ Đốc nhân ở mọi thời đại cứ tiếp tục đến khi Chúa Cứu Thế trở lại thế gian.

Hiện nay dân số trên thế giới ước lượng hơn năm tỉ, trong đó khoảng một tỉ người thuộc Cơ Đốc giáo. Như vậy còn hơn bốn tỉ người cần nghe Phúc Âm. Thêm vào đó trên thế giới mỗi năm có hàng triệu hài nhi chào đời. Đây là một thách thức lớn cho người Cơ Đốc trong công tác đem ơn cứu rỗi của Chúa Cứu Thế cho thế giới mà dân số mỗi ngày một gia tăng.

Ta phải khẩn cấp đi ra nói cho mọi người biết “ai tin Con, thì được sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó”(Giăng 3:36). Trong tình yêu Thiên Chúa, ta phải mạnh dạn đi ra mang Phúc Âm đến cho con người hư mất trước khi quá trễ.

SỰ VINH QUANG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Sự vinh quang của Đức Chúa Trời là cớ tích khác được tìm thấy trong Tân Ước thúc đẩy ta đi chứng đạo. Mặc dù Chúa Giê-xu động lòng thương xót muốn cứu vớt con người, song động cơ quan trọng cảm thúc Ngài đi ra là sự vinh quang của Đức Chúa Cha. Các sách Phúc Âm cho ta thấy mục đích chính yếu trong mọi công việc của Chúa Giê-xu là làm theo ý chỉ Đức Chúa Cha và tôn vinh Cha trên đất. Chúa nói, “Hỡi Đức Chúa Trời, này tôi đến—trong sách có chép về tôi—Tôi đến để làm theo ý muốn Chúa” (Hê-bơ-rơ 10:7).Và rằng “Tôi luôn làm đẹp lòng Ngài” (Giăng 8:29 BDY). Khi sắp tình nguyện bước lên thập tự giá. Chúa Giê-xu đã tổng kết chức vụ Ngài bằng những lời này: “Con đã tôn vinh Cha trên đất, làm xong công việc Cha giao cho làm” (17:4).

Phao-lô cũng bị thúc đẩy bởi cớ tích trên trong việc truyền bá Phúc Âm. Ông nói với các tín hữu tại Tê-sa-lô-ni-ca: “Hỡi anh em, hãy cầu nguyện cho chúng tôi, hầu cho đạo Chúa được đồn ra và được sáng danh,” để cho “mọi lưỡi thảy đều xưng Giê-xu Christ là Chúa, mà tôn vinh Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha” (2 Tê-sa-lô-ni-ca 3:1  Phi-líp 2:11).

 

TỘI LỖI LÀ GÌ?

1.—Thần học minh giải về tội lỗi

2.—Thánh Kinh minh giải về tội lỗi

3.—Áp dụng vào việc chứng đạo

Kinh nghiệm sống dạy ta biết, không chuyện gì có thể làm ta xúc động cho đến khi ta chú ý đến nó. Và khi ta quan tâm đến một điều gì đó, là vì điều ấy có liên hệ đến nhu cầu, hoặc tình cảm của ta. Bạn có thể nghe hàng chục lần trên máy vô tuyến truyền hình về lời kêu gọi đóng góp cho các nhà chuyên môn để họ nghiên cứu chống lại bệnh “Cơ Thể Mất Sức Tự Kháng” (bệnh “Aids”), song bạn không để nó vào tai. Tuy nhiên, khi ta biết bạn hữu hoặc người thân mắc bệnh ấy, ta sẽ không còn làm ngơ trước lời kêu gọi đó.Tại sao? Vì nó có liên quan đến người nhà của ta, hoặc nói khác đi, nó có quan hệ đến nhu cầu của ta.

Cũng thế, người ta sẽ không bao giờ đặt niềm tin nơi Chúa Giê-xu cho đến khi họ thấy có nhu cầu. Nhiều Cơ Đốc nhân đã thực thi bí quyết này và lạm dụng nó. Nếu thấy ai sống cô đơn, họ sẽ khuyên người ấy nên đặt đức tin nơi Chúa Cứu Thế vì Ngài là người bạn thân thiết. Nếu biết ai đang có người thân qua đời, họ sẽ mời gọi người ấy đặt đức tin nơi Chúa Cứu Thế vì Ngài có thể mang đến sự an ủi. Nếu thấy gia đình nào đang đổ vỡ, họ sẽ cố gắng thuyết phục những người ấy đặt niềm tin nơi Chúa Cứu Thế vì Ngài là Đấng thiết lập hôn nhân và có thể ban cho hạnh phúc.

Các việc làm trên có đúng không? Dĩ nhiên là đúng. Tuy nhiên, có hai điều bạn cần để ý: (1) Thánh Kinh không dạy ta làm chứng theo lối đó, (2) Nó khiến người ta hiểu sai về Phúc Âm. Do đó, nếu đây không phải là động cơ thúc đẩy chính đáng khiến người ta đặt niềm tin nơi Chúa Cứu Thế, vậy như thế nào mới là đúng đắn? Khi một người nhận thức được rằng chỉ có phương cách duy nhất để được tha tội là đặt niềm tin nơi Chúa Cứu Thế, thì đó mới là động cơ chính đáng theo lời Thánh Kinh dạy. Câu hỏi đặt ra ở đây: Tội lỗi là gì?

THẦN HỌC MINH GIẢI VỀ TỘI LỖI

Ta nên phân biệt sự khác nhau của ý nghĩa thần học và ý nghĩa Thánh Kinh về tội lỗi. Ý nghĩa thần học nhắm vào sự tương quan giữa sự dạy dỗ của Lời Chúa và kinh nghiệm; trong khi ý nghĩa Thánh Kinh dựa vào cách dùng từ ngữ.

Vậy nếu ta hiểu theo nghĩa thần học, thì tội lỗi là bất cứ điều gì trong một tạo vật có lý trí mà không biểu lộ bản chất Thánh khiết của Đức Chúa Trời.

THÁNH KINH MINH GIẢI VỀ TỘI LỖI

Cựu Ước

Trong chuyên văn Hy-bá của Cựu Ước, Thánh Linh thườøng dùng nhiều chữ khác nhau để tỏ ra quan niệm của tội lỗi rất rõ rệt.

  1. Tội là phản loạn (pasha) cùng Đức Giê-hô-va

Ngài đã lập giao ước với dân sự Ngài. Tội là sự chống lại với giao ước đó. Trong bản văn Việt Ngữ, từ liệu pasha được dịch ra nhiều cách:

“Xin Chúa ở trên trời, tức nơi Chúa ngự,hãy dủ nghe lời cầu nguyện nài xin của họ, và binh vực quyền lợi của họ; tha cho dân Chúa tội lỗi và các sự trái mạng mà họ đã phạm cùng Ngài” (1 Các vua 8:50).

“Vì tôi nhận biết các sự vi phạm tôi, tội lỗi hằng trước mặt tôi” (Thi thiên 51:3).

  1. Tội là sai trật mục đích (chatta’ah)của Đức Chúa Trời

Chữ này gồm cả ý nghĩa tẻ tách, xây bỏ mục đích của Đức Chúa Trời. Nó không những chỉ về sự phạm tội, mà còn chỉ về địa vị hư họai, bản tánh gian ác của tâm trí do tội lỗi mà ra.

“Tôi đã phạm tội cùng Chúa, chỉ cùng một mình Chúa thôi, và làm điều ác trước mặt Chúa” (Thi thiên 51:4).

“Chúng nó sanh sản nhiều ra bao nhiêu,thì chúng nó phạm tội nghịch cùng ta bấy nhiêu” (Ô-sê 4:7).

  1. Tội là vặn cong (avah) điều ngay thẳng.

Chữ này không tả ra chính việc phạm tội,nhưng tả ra chính việc đặc tánh của việc ấy là cong quẹo, quanh co, gian tà và bại họai.

“Người nói cùng vua rằng; Cầu xin chúa tôi chớ kể tội ác cho tôi và đừng nhớ đến sự gian tà mà kẻ tôi tớ vua đã phạm trong ngày vua chúa tôi đi ra khỏi Giê-ru-sa-lem” (2 Sa-mu-ên 19:19).

“Nếu trong xứ mà họ bị dẫn đến làm phu tù, họ suy nghĩ lại, ăn năn, và cầu khẩn Chúa, mà rằng: Chúng tôi có phạm tội,làm điều gian ác và cư xử cách dữ tợn” (2 Sử ký 6:37).

  1. Tội là sự cứng lòng (chazaq).

Chữ này nghiã là “cứng lòng, cố chấp”.

“Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Khi trở về xứ Ê-díp-tô, hãy cẩn thận về các dấu lạ của ta đã giao nơi tay ngươi mà làm trước mặt Pha-ra-ôn: nhưng ta sẽ khiến người cứng lòng chẳng cho dân sự đi”(Xuất Ê-díp-tô 4:21).

  1. Tội là lừa dối (ma’al) Đức Chúa Trời

Nghĩa đen của chữ này là “che đậy” còn nghĩa bóng là phạm tội rồi che đậy tội ấy, cốt ý là lừa dối Đức Chúa Trời.

“Nhưng theo cách người ta, chúng nó đã phạm lời giao ước, và ở đó chúng nó đã phỉnh dối ta” (Ô-sê 6:7).

Còn ít nhất ba chữ căn bản khác minh giải về tội lỗi. Dân Y-sơ-ra-ên có thể phạm tội qua nhiều cách, mỗi cách được diễn đạt bằng một chữ khác nhau. Đồng thời, ta cũng nên biết rằng dưới ánh sáng của Cựu Ước thì “không có người chẳng phạm tội” (1 Các vua 8:46). “Không ai có thể nói: Ta đã luyện sạch lòng mình, ta đã trong sạch tội ta rồi” (Ch 20:9). Và “Chẳng có người công bình ở trên đất làm điều thiện, mà không hề phạm tội”(Truyền đạo 7:20).

Tân Ước

Có rất nhiều từ ngữ trong Tân Ước diễn đạt về tội lỗi. Tuy nhiên, ta chỉ xét qua bốn chữ chính yếu dưới đây:

  1. Tội lỗi (hamartia)

Chữ này có nghĩa là “thiếu hụt tiêu chuẩn”.Nó đồng nghĩa với chữ chatta’ah trong Cựu Ước, và được dùng nhiều hơn hết trong Tân Ước—275lần—để nói về tội lỗi. Tội là không biểu lộ tiêu chuẩn, vì chính Ngài là tiêu chuẩn. Nói cách khác, bất cứ điều gì trái ngược với Đức Chúa Trời là tội.

“Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” (Rô-ma 3:23).

  1. Vi phạm (paraptoma)

Nghĩa đen của chữ này là “trợt chân”, “vấp ngã” trong chỗ mình đáng nên đứng vững. Giống như một người đang đi trên đường,đột nhiên trợt chân té vào hầm và bị đau đớn. Cũng vậy, mỗi khi tội nhân trái ý Đức Chúa Trời thì vấp ngã, sa vào tội lỗi và bị thiệt hại.

“Tôi lại hỏi rằng: Có phải dân Y-sơ-ra-ên vấp chơn dường ấy hầu cho té xuống chăng? Chẳng hề như vậy” (Rô-ma 11:11).

  1. Phạm pháp (parabasis)

Chữ này có nghĩa là “vượt quá”. Tân Ước dùng chữ này để tỏ ra tội của kẻ phạm mạng lịnh Đức Chúa Trời.

“Vì pháp luật sanh ra sự giận; song đâu không có luật pháp, thì đó cũng không có sự phạm luật pháp” (Rô-ma 4:15).

  1. Bất pháp (anomos)

Tân Ước dùng chữ này để minh giải chân tánh của tội phản loạn. Nghĩa đen là “trái luật”, “không có luật pháp”.

“Vì người công bình này (ông Lót)ở giữa họ, mỗi ngày nghe thấy việc trái phép của họ, bèn cảm biết đau xót trong lòng công bình mình” (1 Phi-e-rơ 2:8)

ÁP DỤNG VÀO VIỆC CHỨNG ĐẠO

Xác Minh Rằng Mọi Người Đều Phạm Tội

  1. Cho người chưa từng đến nhà thờ

Những người này không biết nhiều về Cơ Đốc Giáo, ta cần giúp họ hiểu về thân vị của Đức Chúa Trời. Nói cho họ biết bản chất của Đức Chúa Trời chẳng những là Thánh khiết và công bình, mà còn toàn năng và toàn tri. Con người là tội nhân trước một Đức Chúa Trời Thánh khiết (Công vụ 17:1-34).

  1. Cho người mộ đạo

Những người này rất quen thuộc với lời Thánh Kinh dạy về Đức Chúa Trời, vì thế ta nên dùng luật Thánh Kinh để tỏ cho họ biết mọi người đều đã phạm tội. Ta nói rằng “người nào giữ toàn bộ luật pháp nhưng chỉ phạm một điều là coi như đã phạm tất cả” (Gia-cơ 2:10 BDY).

  1. Cho người vô đạo (người hay chống đối)

Ta khuyếân cáo họ và... đi khỏi đó! Theo Giu-đe những người này “cứ sống mãi cuộc đời gian ác, làm nhơ nhuốc thân thể, khinh bỉ mọi uy quyền... hễ điều gì không hiểu cũng đem ra nhạo cười chế giễu hết... để rồi hủy họai linh hồn mình. Thật khốn cho họ! Họ đã đi con đường sa đoạ của Ca-in, vì ham lợi mà theo vết xe đổ của Ba-la-am, và phản nghịch như Cô-rê để rồi bị tiêu diệt” (Giu-đe 1:7-8 BDY). Ta nên khuyên răn họ và rời xa họ.

Xác Minh Rằng Tội Lỗi Đã bị Xét Đoán

Án phạt của tội lỗi là sự chết. Thánh Kinh thường dùng chữ “chết” (“thanatos”) theo ba cách:

  1. Sự chết thể xác

Sự chết này là một phần của tội lỗi bị trừng phạt. Nếu không có tội lỗi, thì chẳng có sự chết của thể xác. Thánh Kinh chép,khi con người đầu tiên phạm tội tại vườn E-đen, thì họ nghe một lời phán kinh khiếp này: “Vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi” (Sáng thế 3:19). Từ đó đến nay, sự chết đã ngự trị ở thế gian. Thánh Phao-lô khẳng định rằng sự chết của thể xác là sự đoán phạt của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi (Rô-ma 8:10,Rô-ma 8:11).

  1. Sự chết thuộc linh

Chết thuộc linh không phải là sự tắt nghỉ,mà là linh hồn bị phân rẽ với Đức Chúa Trời, chẳng còn được giao thông với Ngài. Do tội lỗi của A-đam, tất cả mọi người đều bị án chết này. Hết thảy đều “chết vì lầm lỗi và tội ác mình” và “tự nhiên làm con của sự thạnh nộ”(Ê-phê-sô 2:1,Ê-phê-sô 2:3). Tâm trí con người “hư họai, lòng họ vô cùng đen tối, xa cách hẳn sự sống của Thượng Đế, tâm hồn họ đóng kín, không thể nhận biết Ngài”(Ê-phê-sô 4:17,Ê-phê-sô 4:19 BDY). Chỉ do sự ăn năn tội, sự tái sanh bởi quyền năng Thánh Linh mới có thể cứu linh hồn “vượt khỏi sự chết mà đến sự sống”.

  1. Sự chết đời đời

Chết đời đời là sự xa cách Đức Chúa Trời mãi mãi, sự tiêu diệt vĩnh viễn của linh hồn. “Chúa sẽ báo ứng những người không muốn biết Thượng Đế và khước từ Phúc Âm của Chúa Giê-xu chúng ta. Họ sẽ bị hình phạt đời đời trong địa ngục, vĩnh viễn xa cách mặt Chúa, không còn thấy vinh quang và quyền năng Ngài” (2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:8,2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:9 BDY).

Thánh Kinh cũng coi sự chết đời đời là sự chết thứ hai: “Những người được dự phần trong cuộc sống lại thứ nhất thật hạnh phúc và Thánh thiện biết bao! Vì sự chết thứ hai chẳng có quyền gì trên họ.” (Khải huyền 20:6 DBY). “Còn những kẻ hèn nhát, vô tín, hư hỏng, sát nhân,gian dâm, tà thuật, thờ thần tượng và dối trá, đều phải vào hồ lửa diêm sinh.Đó là chết lần thứ hai” (21:8 BDY).

 

PHÚC ÂM LÀ GÌ?

1.—Ý nghĩa từ liệu Phúc Âm

2.—Sự biểu lộ của Phúc Âm

3.—Giải nghĩa Phúc Âm

Khi bạn nghe những nhà truyền đạo giảng Thánh Kinh hoặc khi đọc các sách truyền đạo đơn, có lẽ bạn sẽ nhận thấy nghĩa của chữ “Phúc Âm” không giống nhau. Phúc Âm là “sự ăn năn tội” và “mời Chúa Cứu Thế vào đời sống”. Phúc Âm là “thừa nhận Chúa Cứu Thế là con đường duy nhất” và “đầu phục Ngài”. Sau đó bạn sẽ được dạy là phải bước đi trên đường hẹp và chịu Thánh lễ báp têm để được nhận vào đại gia đình Cơ Đốc.

Nếu bạn muốn trở thành chứng nhân của Chúa Cứu Thế, bạn phải biết rõ Phúc Âm là gì, nhiên hậu bạn mới có thể chia sẻ Phúc Âm cho người khác.

Ý NGHĨA TỪ LIỆU PHÚC ÂM

Từ liệu “Phúc Âm” xuất hiện 77 lần trong Tân Ước với nhiều nghĩa khác nhau: nghĩa thông thường, nghĩa chịu ảnh hưởng của văn hóa và nghĩa cứu thục.

Nghĩa Thông Thường

“Phúc Âm” hiểu theo nghĩa này là “tin mừng”.Đây là ý nghĩa rất thông dụng vào thời Chúa Cứu Thế. Bạn được điểm “A” trong bài khảo thí là “tin mừng”. Bạn thi đỗ là “tin mừng” vv... Phúc Âm có nghĩa đơn giản là “tin mừng”. Thánh Kinh đã dùng nó nhiều lần với nghĩa đó.

“Thiên sứ đáp: Tôi là Gáp-ri-ên, thường đứng trước mặt Thượng Đế. Chính Ngài sai tôi đến báo tin mừng cho ông” (Lu-ca 1:19 BDY).

“Thiên sứ liền trấn an: Đừng sợ, tôi đến báo cho các anh một tin mừng. Tin này sẽ đem lại niềm vui lớn cho mọi người”(2:10 BDY).

Nghĩa Chịu Ảnh Hưởng Của Văn Hóa

Theo văn hóa Hy-lạp, dân chúng sùng bái hoàng đế như thần Thánh. Các thông điệp, chiếu chỉ của hoàng đế hay những việc làm nào có liên quan đến hòa bình đều được mang nhãn hiệu “tin mừng”. Bất luận biến cố nào xảy ra với lời hứa đem lại hòa bình cho thế giới, đều được gọi là “tin mừng”. Chúa Cứu Thế Giê-xu truyền giảng Phúc Âm của Thượng Đế với mục đích mang lại bình an và hạnh phúc cho dân chúng, nên cũng được gọi là “Tin mừng”.

Nghĩa Cứu Thục

Nghĩa này có quan hệ đến sự giải cứu thuộc linh và liên quan đến chúng ta. Phao-lô dùng từ liệu “Phúc Âm” theo nghĩa này.Ta có thể tóm tắt như vầy: Phúc Âm là Tin mừng về Thân vị và Công vụ của Chúa Cứu Thế.

SỰ BIỂU LỘ CỦA PHÚC ÂM

Phao-lô bày tỏ Phúc Âm mà ông đã rao giảng:“Thưa anh em, tôi xin nhắc lại Phúc Âm tôi đã công bố; anh em đã tin nhận và đứng vững cho đến ngày nay. Nhờ Phúc Âm đó, anh em được cứu rỗi, nếu cứ giữ vững đức tin trừ phi anh em không thực lòng” (ICo 15:1-2 BDY). Phao-lô định rõ Phúc Âm qua các bước sau:

- Tôi công bố Phúc Âm cho anh em

- Anh em đã tin nhận Phúc Âm

- Anh em đứng vững trong Phúc Âm

- Nhờ Phúc Âm anh em được cứu rỗi

Các ý trên có thể tóm tắt như vầy: Tôi công bố Phúc Âm để nhờ đó anh em được cứu rỗi.

GIẢI NGHĨA PHÚC ÂM

 15:3-8 là lời giải nghĩa Phúc Âm đầy đủ và đúng đắn nhất: “Trước hết, tôi truyền lại cho anh em những chân lý tôi đã tin nhận: Chúa Cứu Thế chịu chết vì tội chúng ta theo lời Thánh Kinh. Chúa được mai táng, qua ngày thứ ba Ngài sống lại theo lời Thánh Kinh. Chúa hiện ra cho Phi-e-rơ, rồi cho các sứ-đồ. Ngài lại hiện ra cho hơn 500 anh em xem thấy cùng một lúc, phần đông vẫn còn sống, nhưng một vài người đã qua đời. Sau đó Chúa hiện ra cho Gia-cơ, rồi cho tất cả các sứ-đồ. Sau hết, Ngài cũng hiện ra cho tôi, như một hài nhi sinh non”.

CHÚA CỨU THẾ CHỊU CHẾT

Phúc Âm không chỉ là Chúa Cứu Thế chịu chết,vì như vậy chẳng có tin mừng trong đó. Tin mừng là Chúa Cứu Thế chịu chết vì tội chúng ta.

Vì tội chúng ta

Ta không cần phải làm gì để trả giá cho tội lỗi, Chúa Cứu Thế đã chịu chết và trả xong nợ tội cho ta.

Theo lời Thánh Kinh

Thực sự này làm nổi bật lẽ thật đã được công bố. Sự chết của Chúa Cứu Thế trên thập tự giá không phải tình cờ, ngẫu nhiên,bèn là sự ứng nghiệm lời Thánh Kinh Cựu Ước.

Chúa Được Mai Táng

Đây là bằng cớ Chúa Cứu Thế đã chết thật

CHÚA CỨU THẾ SỐNG LẠI

Sự sống lại là giấy biên nhận có dấu ấn của Đức Chúa Trời chứng rằng sự chết của Chúa Cứu Thế đã đủ.

Qua ngày thứ Ba

Theo lời Kinh Thánh

Sự sống lại của Chúa Cứu Thế đã làm ứng nghiệm Thánh Kinh Cựu Ước

Chúa hiện ra

Đây là chứng cớ Ngài đã sống lại

- Yếu tố thứ nhất của Phúc Âm: Chúa Cứu Thế chịu chết vì tội lỗi chúng ta.

- Yếu tố thứ hai của Phúc Âm: Chúa Cứu Thế đã từ kẻ chết sống lại.

 

ĂN NĂN LÀ GÌ?

1.—Lịch sử của từ liệu “ăn năn”

2.—Mối liên hệ giữa ăn năn và đức tin

Giăng Báp-tít, khi bắt đầu chức vụ trong đồng vắng Giu-de, đã rao giảng: “Các ngươi phải ăn năn, vì nước thiên đàng đã đến gần” (Ma-thi-ơ 3:2) Chúa Cứu Thế Giê-xu, lúc khởi đầu chức vụ công khai trên đất, đã tuyên giảng: “Các ngươi hãy ăn năn, vì nước Thiên đàng đã đến gần” (4:17). Phi-e-rơ, trong ngày lễ Ngũ tuần, đã đứng lên giảng giải: “Hãy ăn năn, ai nấy phải nhơn danh Giê-xu Christ chịu phép báp têm, để tội mình được tha, rồi sẽ nhận lãnh sự ban tứ là Thánh Linh” (Công vụ 2:38 BNC).

Ngày nay nếu bạn nghe các chương trình phát thanh hoặc xem các buổi truyền giảng trên vô tuyến truyền hình, bạn cũng thấy các nhà truyền đạo luôn rao giảng về lẽ cần của sự ăn năn. “Quý vị phải ăn năn để được cứu rỗi”. “Quý vị cần khóc lóc cho tội lỗi mình, đồng thời ăn năn và đặt đức tin nơi Chúa Cứu Thế để được cứu rỗi”.

Ta được nghe nói nhiều về sự ăn năn, và cũng biết lẽ đạo ăn năn rất quan trọng. Nhưng ăn năn là gì? Có nhiều sự lầm lẫn về phương diện lịch sử của các chữ được phiên dịch là “ăn năn” trong các bản Kinh Thánh Anh và Việt ngữ. Vậy, trước hết ta cần xét qua lịch sử của từ liệu này.

LỊCH SỬ CỦA TỪ LIỆU “ĂN NĂN”

Thời Cựu Ước

Chữ “sub”, được dùng vào thời Cựu Ước, nghĩa là “quay lại hoặc trở lại cùng Đức Chúa Trời” bao hàm một sự thay đổi ý chí.Trong khi chữ “nàham” dịch là “ăn năn” bao hàm ý niệm buồn rầu.

Giai đoạn năm 100 Trước Chúa Cứu Thế (Giai Đoạn Bản Bảy Mươi—LXX)

Trong thời kỳ này, bản Bảy Mươi (LXX)—bản dịch Kinh Thánh từ tiếng Hy-bá ra tiếng Hy-lạp—dùng chữ “metanoeòøø’ với nghĩa đen là “cảm thấy đau buồn”.

Thời Tân Ước

Qua giai đoạn này chữ “metanoeòøø” đã biến nghĩa thành “thay đổi thái độ”, chớ không còn là “cảm thấy đau buồn”.

Giai đoạn Bản Dịch Kinh Thánh La-tinh

Trong thời kỳ này, các dịch giả thay vì chọn chữ “metanoeòøø” với nghĩa của thời Tân Ước “thay đổi thái độ”, họ lại chọn chữ “metanoeòøø” với nghĩa của bản Bảy Mươi “cảm thấy đau buồn”. Vì thế, các vị ấy dịch chữ “ăn năn” là “hành xác để hối lỗi”.

Thời Kỳ Các Bản Dịch Kinh Thánh Anh và Việt Ngữ

Trong giai đoạn này, các bản dịch Kinh Thánh Anh và Việt Ngữ lại dựa vào bản La-tinh để chọn và dịch chữ “ăn năn” với nghĩa “cảm thấy đau buồn”. Chữ “metanoeòø” được dịch là “cảm thấy đau buồn”, thì chưa lột hết được nghĩa của nó. Khi bạn đọc Thánh Kinh, ngoại trừ năm lần không kể,còn lại tất cả thì phải hiểu chữ “ăn năn” là “thay đổi thái độ” hoặc “đổi ý”.

Điều quan trọng kế tiếp, trong thời Tân Ước có hai chữ Hy-lạp khác nhau được dịch là “ăn năn”. Chữ “metanoeòø”—thay đổi thái độ, và “metamelomai—cảm thấy đau buồn”. “Cảm thấy đau buồn” không giống như “thay đổi thái độ”. Ta có thể “cảm thấy đau buồn” về tội lỗi mình nhưng vẫn không có ý định từ bỏ phạm tội. Đó không phải là ăn năn. Ăn năn là hành động do đó một người nhận biết tội lỗi mình, xưng nó ra với Đức Chúa Trời và xây khỏi tội lỗi ấy (thay đổi thái độ khác hoặc đổi ý).

Dưới đây là những tội nhân chỉ cảm thấy đau buồn về tội lỗi mình chứ không ăn năn:

  1. Pha-ra-ôn: Khi Pha-ra-ôn cứng lòng không cho tuyển dân Đức Chúa Trời ra khỏi xứ nô lệ Ai-cập để đến đất hứa Ca-na-an thì Ngài giáng tại họa xuống. Pha-ra-ôn run sợ và trong hãi hùng đã thốt ra: “Trẫm đã phạm tội” nhưng không hề ăn năn (Xuất Ê-díp-tô 9:27).
  2. Ba-la-am: Trong Dân số 22:34, Ba-la-am đã thưa cùng thiên sứ của Đức Giê-hô-va: “Tôi có phạm tội.” Song sự đau buồn nông cạn như thế không ích lợi gì cả.
  3. A-can: Giô-suê chương 7 ghi chép lời A-can nói với Giô-suê: “Phải, tôi đã phạm tội cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên” nhưng không hề ăn năn.
  4. Sau-lơ: Sa-mu-ên nhìn thấy Sau-lơ phạm tội và bảo cho vua biết rằng sẽ chẳng được làm vua nữa. Sau-lơ bèn nói: “Tôi có phạm tội,” song chẳng bày tỏ sự ăn năn.
  5. Giu-đa Ích-ca-ri-ốt: Sau khi nộp Thầy mình cho thầy tế lễ và các trưởng lão. Giu-đa cảm thấy hối tiếc về việc làm mình, và nói “Tôi đã phạm tội vì nộp huyết vô tội.” Ông không hề ăn năn.

Và đây là những tội nhân đã bày tỏ sự ăn năn thật:

  1. Đa-vít: Đa-vít đã phạm tội tà dâm và giết người. Sau đó ông xưng tội, than khóc cầu xin sự tha thứ và ăn năn. Từ đó Đa-vít không bao giờ tái phạm. Ông đã thật lòng ăn năn.
  2. Đứa con phóng đãng: Ngụ ngôn này cho thấy sự đổi ý. Ta hãy nghe lời xưng tội của người con này: “Cha ơi, con đã phạm tội với Trời và với cha” (Lu-ca 15:21). Đứa con phóng đãng đã sống hư hỏng. Khi anh nhâïn thức điều ấy, anh hạ mình trong tro bụi và sẵn sàng quay về cùng cha mình. Nói cách khác, người ấy còn đổi ý về địa vị mình nên quyết định đứng dậy trở về nhà cha.
  3. Phi-e-rơ: Lu-ca 22:54-62 ghi chép việc Phi-e-rơ chối Chúa ba lần. Nhưng khi được Chúa thức tỉnh, ông bước ra ngoài khóc lóc đắng cay, cầu xin sự tha thứ và ăn năn. Về sau, Phi-e-rơ không hề tái phạm tội ấy.

MỐI LIÊN HỆ GIỮA ĂN NĂN VÀ ĐỨC TIN

Sự ăn năn đối với Đức Chúa Trời và đức tin đến Chúa Giê-xu cần phải đi đôi với nhau.  Công vụ 20:21 bày tỏ mối liên hệ đó:“Tôi kêu gọi cả người Do Thái lẫn Hy-lạp ăn năn quay về Thượng Đế và tin cậy Chúa Cứu Thế Giê-xu là Chúa chúng ta.”

Calvin cho rằng ăn năn và đức tin là hai hành động không thể tách rời nhau, tuy nhiên chúng có sự khác biệt về ý nghĩa.

Hastings, khi bàn về mối liên quan giữa đức tin và ăn năn, đã nói: “Chúng là vòng xích không thể tách rời được... đức tin thuộc về phía tích cực, và ăn năn thuộc về phía tiêu cực”.

Thiessen tuyên bố: “... sự ăn năn thật không bao tách rời khỏi đức tin... đức tin thật không bao giờ thiếu sự ăn năn. Cả hai ràng buộc nhau đến độ không thể chia lìa”.

Strong viết: “... đức tin không thể tách rời với sự ăn năn cũng như sự ăn năn không thể tách rời với đức tin” .

Loài người chẳng khác gì đứa con phóng đãng đã bỏ nhà cha mẹ mà đi phương xa sống đời hư hỏng. Khi người con tỉnh ngộ, nói rằng: “Ta sẽ đứng dậy trở về cùng cha” (Lu-ca 15:11-24). Hành động đó chứng tỏ người con tin nơi cha có sự tha thứ và sự cứu rỗi mới dám quyết định như vậy.Cũng thế, khi tội nhân cảm biết Chúa Cứu Thế có quyền cứu rỗi mình, mới dám quyết định đến cùng Chúa, đặt đức tin nơi Ngài, cầu khẩn Ngài thương xót mà cứu vớt mình.

Tóm lại, khi ta nói về sự ăn năn để được cứu rỗi, ta phải hiểu đó là một sự thay đổi thái độ đối với tội lỗi và đối với Đức Chúa Trời. Khi một người nói rằng muốn tin nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu, nhưng không chịu từ bỏ tội lỗi, thì đó không phải là sự ăn năn, và người ấy không thể được cứu rỗi.

 

ĐỨC TIN LÀ GÌ?

1.—Ý nghĩa từ liệu “đức tin”

2.—Các yếu tố của đức tin

3.—Phân loại đức tin

Bạn có bao giờ làm chứng cho một người nào đó, mà người ấy tỏ ra biết nhiều sự việc và đồng ý với mọi điều bạn nói, song bạn không cảm thấy người đó đã được cứu? Trong tận nơi sâu thẳm của linh hồn,bạn sợ cho số phận đời đời của người ấy. Bạn càng làm chứng cho người đó nhiều chừng nào, bạn càng cảm thấy dường như người ấy chưa được cứu. Tuy nhiên, bạn không thể khẳng định cách chính xác tại sao bạn có cảm nghĩ như thế.

Nếu điều đó đã từng xảy ra cho bạn trong lúc chứng đạo, hy vọng bài này sẽ là lời giải đáp cho bạn.

Ý NGHĨA TỪ LIỆU “ĐỨC TIN”

Từ liệu “pisteuo” của tiếng Hy-lạp được dịch là “tin cậy”. Chữ ấy có nghĩa là “tùy thuộc vào”, “dựa vào”, hoặc “tin cậy vào”. Một người đã được cứu là người đặt sự tin cậy vào Chúa Cứu Thế Giê-xu chớ không phải vào chính mình, gia đình, Hội Thánh hoặc vào việc làm.

Bạn có bao giờ nhìn thấy những người nhảy dù chưa? Họ đứng trên chiếc máy bay cho nó cất cánh khỏi mặt đất và họ... nhảy dù xuống! Những người này tin rằng chiếc dù sẽ cứu mình. Họ tin cậy đến độ biết rằng nếu chiếc dù không mở ra, họ sẽ chết. Đó là ví dụ về đức tin theo Thánh Kinh. Con người để được cứu rỗi, phải tin cậy Chúa Cứu Thế và chỉ tin một mình Ngài thôi.

CÁC YẾU TỐ CỦA ĐỨC TIN

Berkhof cho rằng đức tin có ba yếu tố[1]. Thiessen cũng đồng ý như thế. Ba yếu tố đó là: Trí năng, cảm tình và ý chí.

Yếu Tố Quan Hệ Với Trí Năng

Cách dùng từ liệu “đức tin” của Tân Ước bao hàm sự nhận biết. Trước khi có đức tin thật, tội nhân phải nhận biết:

  1. Chúa Cứu Thế là Con Thượng Đế

“Đức Chúa Giê-xu đã làm trước mặt môn đồ Ngài nhiều phép lạ khác nữa mà không có chép trong sách này. Nhưng các việc này đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Giê-xu là Đấng Christ, tức là con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống”(Giăng 20:30-31).

  1. Sự trở thành người, mang thân thể phàm nhân của Chúa Cứu Thế

“Anh em thân yêu, đừng vội tin những người tự cho mình được thần linh cảm ứng, trước hết phải thử xem có thật không.Vì hiện nay nhiều nơi đã có giáo sư giả xuất hiện. Muốn biết điều họ giảng dạy có thật do Thánh Linh cảm ứng không, chỉ cần xem nó có phù hợp với giáo lý Chúa Cứu Thế Giê-xu, Con Thượng Đế, đã trở thành người, mang thân thể phàm nhân hay không. Nếu có, đó là do Thượng Đế. Nếu không, lời giảng dạy họ không do Thượng Đế, nhưng do thần linh Kẻ Phản Chúa, như anh em đã nghe nó xuất hiện. Hiện nay,tinh thần phản Chúa đã biểu lộ trên thế giới” (1 Giăng 4:1-3 BDY).

  1. Sự chết của Chúa Cứu Thế

“Thượng Đế đã cho Chúa Giê-xu hi sinh chuộc tội chúng ta, những người tin cậy huyết Ngài. Việc cứu chuộc này chứng tỏ đức công chính của Thượng Đế đối với loài người trong quá khứ và hiện tại.Trong quá khứ, Ngài nhẫn nhục bỏ qua tội lỗi. Trong hiện tại, người tin Chúa Giê-xu được Ngài tha tội và nhìn nhận là công chính” (Rô-ma 3:25-26 BDY).

  1. Sự sống lại của Chúa Cứu Thế

“Nếu miệng anh em xưng nhận Giê-xu là Chúa, và lòng anh em tin Thượng Đế đã khiến Ngài sống lại thì anh em được cứu rỗi” (Rô-ma 10:9 BDY).

Đây là bốn lẽ đạo quan trọng mà tội nhân cần biết, trước khi người có thể được cứu rỗi. Nếu ai chối bỏ một trong các lẽ thật này thì không thể được cứu. Giả dụ có người nói rằng: “Tôi muốn tin Chúa Giê-xu, song tôi nghĩ Ngài chỉ là một vĩ nhân” thì người đó không thể được cứu rỗi. Ni-cô-đem trước khi đầu phục Chúa, đã có đức tin ấy, vì người nói cùng Chúa: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là Giáo Sư Thượng Đế sai xuống, vì nếu Thượng Đế không cộng tác, chẳng ai thực hiện nổi những phép lạ Thầy đã làm” (Giăng 3:1 BDY).

Yếu Tố Quan Hệ Với Tình Cảm

Yếu tố quan hệ với tình cảm này sẽ khiến tội nhân cảm xúc rằng, linh hồn mình đang ở trong địa vị hư mất, tự mình chẳng có thể cứu được. Và khi người nghe Phúc Âm của Chúa Cứu Thế, lòng cảm động tin rằng Chúa Cứu Thế có đủ quyền cứu linh hồn mình khỏi địa vị hư mất. Tuy nhiên,đức tin người ấy dừng tại đó. Đời sống người chẳng kết được nhiều quả, vì người chưa thật tiếp nhận Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa mình. Thánh Kinh nói về người có đức tin bất toàn đó như vầy:

“Hạt giống rơi nơi lớp đất mỏng phủ trên đá tượng trưng cho người nghe Đạo, vội vui mừng tiếp nhận, nhưng quá hời hợt,mầm sống không vào sâu trong lòng. Khi bị họan nạn, khủng bố vì Phúc Âm, họ vội buông tay đầu hàng” (Ma-thi-ơ 13:20-21 BDY).

Yếu Tố Quan Hệ Với Ý Chí

Khi tội nhân đã hiểu biết Phúc Âm cứu rỗi,đã cảm xúc Chúa Cứu Thế có quyền cứu vớt linh hồn mình, và bây giờ người phải công nhận Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa thì mới được cứu rỗi. Thánh Kinh quả quyết rằng:

“Tất cả những người tiếp nhận Chúa đều được quyền làm con cái Thượng Đế—tiếp nhận Chúa là đặt niềm tin nơi Chúa”(Giăng 1:12 BDY).

“Nhưng các việc này đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Giê-xu là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời (trí năng tin phục Ngài), và để khi các ngươi tin, nhờ danh Ngài mà được sự sống (lòng công nhận Ngài)” (20:31).

PHÂN LOẠI ĐỨC TIN

Đức Tin Lịch Sử

Đức tin lịch sử là loại đức tin của vua Ạc-ríp-ba. Phao-lô xác quyết vua tin các tiên tri: “Tâu vua Ạc-ríp-ba, vua có tin các đấng tiên tri chăng? Tôi biết thật vua tin đó!” (Công vụ 26:28).Tuy nhiên, không có chứng cớ nào cho thấy vua Ạc-ríp-ba là một Cơ Đốc Nhân.Thật ra nếu có, chỉ là bằng chứng ngược lại mà thôi.

Đức Tin Phép Lạ

Đức tin phép là là tin rằng Thượng Đế có thể làm phép lạ qua người nào đó.

Đức Tin Tạm Thời

Đức Tin Tạm Thời là đức tin chóng tàn vì không đặt nơi Chúa Cứu Thế. Phù thủy Si-môn là tiêu biểu cho loại đức tin đó.Si-môn xin theo Đạo, chịu báp têm song chỉ thời gian ngắn, Si-môn đã bộc lộ lòng gian tà, và vì vậy ông không phải là một Cơ Đốc nhân (8:9-24).

Đức Tin Để Được Cứu

Đây là loại đức tin bao gồm ba yếu tố: trí năng, cảm tình và ý chí mà ta đã đề cập ở phần đầu. Ba ngàn người tin Chúa trong ngày lễ Ngũ tuần và số người tin Chúa tăng lên đến năm ngàn sau khi nghe Phi-e-rơ giảng giải, là tiêu biểu cho loại đức tin để được cứu này.

Ngoài ra, sách Công-vụ các sứ-đồ còn ghi nhận nhiều trường hợp của cá nhân hoặc nhóm người, đã có loại đức tin này:

  1. Dân Sa-ma-ri: “Nhưng khi nghe Phi-lip giảng giải về Chúa Cứu Thế Giê-xu và Nước Trời, dân Sa-ma-ri cả năm lẫn nữ đều tin Chúa và chịu báp-têm” (8:12 BDY).
  2. Dân thành Giốp-bê: Khi Phi-e-rơ cầu nguyện cho Ta-bi-tha sống lại, thì “việc đó đồn ra khắp thành Giốp-bê; nên có nhiều người tin theo Chúa” (9:42).
  3. Tổng trấn Sê-giút Phau-lút: “Thấy việc phi thường (việc phù thủy giả Ba-Giê-xu bị Chúa ra tay phạt mù), tổng trấn liền tin Chúa và ngạc nhiên về Đạo Chúa” (Công vụ 13:12 BDY).
  4. Nhiều người tại thành An-ti-ốt xứ Bi-si-đi: “Người bản xứ nghe xong đều vui mừng ca tụng Phúc Âm. Những người sẵn sàng tiếp nhận sự sống vĩnh viễn đều tin Chúa” (13:48 BDY).
  5. Các tín hữu của Hội Thánh đầu tiên: “Hai sứ-đồ tuyển chọn một số trưởng lão ở mỗi Hội Thánh, rồi nhịn ăn, cầu nguyện và ủy thác họ cho Chúa, là Đấng họ đã tin” (14:23 BDY).
  6. Cả gia đình người giám ngục: “Hai ông (Phao-lô và Si-la) giảng giải Đạo Chúa cho giám ngục và mọi người trong nhà.Ngay đêm ấy, giám ngục... tin Chúa và chịu phép báp têm với cả gia đình”(16:33 BDY).
  7. Dân thành Bê-rê: “Người Bê-rê ...vui lòng nghe Đạo Chúa, hằng ngày nghiên cứu Thánh Kinh để kiểm chứng lời giảng của Phao-lô và Si-la. Nhờ đó nhiều người tin Chúa, gồm những phụ nữ quý phái Hi-lạp, phía nam giới cũng đông” (17:11-12 BDY).
  8. Dân thành A-thên: Một nhóm người theo ông Phao-lô và tin Chúa, “trong số có Đê-ni, thẩm phán Tối cao Pháp viện, bà Đa-ma-ri cùng nhiều người khác” (17:30 BDY).
  9. Người Cô-rinh-tô: “Bấy giờ Cơ-rít-bu,chủ nhà hội với cả nhà minh đều tin Chúa: lại có nhiều người Cô-rin-tô từng nghe Phao-lô giảng, cũng tin và chịu phép báp têm” (18:8).
  10. Nhóm môn đồ của Giăng tại Ê-phê-sô:Những người này chỉ nhận báp-têm của Giăng Báp-tít, nhưng chưa đặt niềm tin nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu, cho nên Phao-lô giải thích, và giúp họ đặt niềm tin nơi Chúa Cứu Thế: “Báp têm của Giăng chỉ về sự ăn năn tội lỗi. Giăng đã dạy cho nhân dân tin Đấng đến sau mình, tức là tin Chúa Giê-xu. họ liền chịu báp têm nhân danh Chúa Giê-xu” (19:1-7 BDY).

 

SỰ CỨU RỖI LÀ GÌ?

1.—Cứu rỗi là được giải thoát khỏi tội lỗi

2.—Cứu rỗi là được tái sinh

3.—Cứu rỗi là được sở hữu sự sống đời đời

Từ liệu “sự cứu rỗi” được dùng trong Thánh Kinh để chỉ về công việc của Đức Chúa Trời làm thay cho loài người”[1]. Khi chữ này được biểu lộ trong Tân Ước thì nó biểu lộ tất cả hoặc một phần công tác của Đức Chúa Trời. Lúc chữ này được dùng để chỉ về toàn thể công trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời, nó nói lên sự biến đổi toàn diện từ tình trạng hư mất của con người đến tình trạng vinh hiển sau cùng Chúa ban cho con người. Công trình cứu rỗi toàn vẹn này bao gồm các công tác của Đức Chúa Trời như: sự phục hòa,sự chuộc tội, sự tha thứ, sự xưng công nghĩa, sự thế mạng, sự tái sanh, sự nhận làm con, sự nên Thánh, sự cứu chuộc và sự vinh hiển. Thánh Kinh đã đề cập đến hai trạng thái tương phản giữa tình trạng hư mất và được cứu của con người:

“Đừng quên rằng trước kia anh em là người nước ngoài, bị người Do Thái coi là vô đạo, ô uế, vì họ tự cho là Thánh sạch.Kỳ thực lòng họ vẫn ô uế, dù thân họ chịu Thánh lễ cắt bì, một nghi lễ do tay người thực hiện. Đừng quên rằng thuở ấy anh em sống xa cách Chúa Cứu Thế, đối nghịch với đoàn thể con dân của Thượng Đế, không được Thượng Đế hứa hẹn bảo đảm gì cả. Giữa cuộc đời, anh em sống không hy vọng, không Thượng Đế” (Ê-phê-sô 2:11-12 BDY).

“Hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta biết bao,Ngài cho chúng ta được mang danh “con cái Chúa”, và chúng ta đích thực là con cái Ngài! Nhưng người đời không biết chúng ta là con cái Chúa vì họ không biết Ngài. Anh em thân yêu, hiện nay chúng ta là con cái Thượng Đế. Mặc dù chưa biết hết tương lai nhưng chúng ta biết chắc khi Chúa trở lại, chúng ta sẽ giống như Ngài vì chúng ta sẽ thấy chính Ngài” (1 Giăng 3:1-2 BDY).

Ngoài những giáo lý có quan hệ đến các phương diện khác nhau của sự cứu rỗi ở trên, còn ba ý nghĩa quan trọng ta cần biết.

CỨU RỖI LÀ ĐƯỢC GIẢI THOÁT KHỎI TỘI LỖI

Mục đích của Đức Chúa Trời trong sự cứu rỗi con người là Ngài chẳng những chỉ giải phóng con người được tự do khỏi án phạt tội lỗi, mà còn tiêu diệt tội lỗi trong đời sống con người.

“Vả, các con biết Đức Chúa Giê-xu Christ đã hiện ra để cất tội lỗi đi, và biết trong Ngài không có tội lỗi” (3:5).

“Vì tội lỗi không cai trị trên anh em đâu; bởi anh em chẳng thuộc dưới luật pháp, mà thuộc dưới ân điển” (Rô-ma 6:14).

“Vậy, anh em đã được buông tha khỏi tội lỗi, trở nên tôi mọi của sự công bình rồi” (Rô-ma 6:18).

“Vì luật pháp của Thánh Linh sự sống đã nhờ Đức Chúa Giê-xu Christ buông tha tôi khỏi luật pháp của sự tội và sự chết”(Rô-ma 8:2).

“Vậy, nếu Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ thật được tự do” (Giăng 8:36).

“Nhưng, nếu chúng ta đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta giao thông cùng nhau; và huyết của Đức Chúa Giê-xu con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta” (1 Giăng 1:7).

“Chúa đã hy sinh cứu ta khỏi mọi tội lỗi,luyện lọc ta thành dân tộc riêng của Ngài để ta sốt sắng làm việc thiện”(Tit 2:14; BDY).

CỨU RỖI LÀ ĐƯỢC TÁI SANH

Khi Đức Chúa Trời cứu chuộc con người, Ngài chẳng những giải thoát linh hồn ra khỏi án phạt và quyền năng của tội lỗi mà còn tạo dựng con người thành “tạo vật mới” qua biến động của sự sanh lại hoặc sự tái sanh.

“Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới: những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới”(IICo 5:17).

“Đức Chúa Giê-xu cất tiếng đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Đức Chúa Trời. Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt; hễ chi sanh bởi Thánh Linh là thần. Chớ lấy làm lạ về điều ta đã nói với ngươi: Các ngươi phải sanh lại” (Giăng 3:5-7).

“Anh em được laị sanh, chẳng phải bởi giống hay hư nát, nhưng bởi giống chẳng hay hư nát, là bởi lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời” (1 Phi-e-rơ 1:23)

Do sự tái sanh, ta được sống đời mới, Đức Chúa Trời trở thành Cha chúng ta và chúng ta được gọi là con cái Đức Chúa Trời.

“Hãy xem Đức Chúa Cha đã tỏ cho chúng ta sự yêu thương dường nào, mà cho chúng ta được xưng là con cái Đức Chúa Trời: và chúng ta thật là con cái Ngài. Ấy là vì đó mà thế gian chẳng biết chúng ta, vì họ chẳng từng biết Ngài” (1 Giăng 3:1).

Với sự sanh lại, ta được sở hữu bản tính mới. Ta đã được “sáng tạo trong Đấng Christ”.

“Vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Giê-xu Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo” (Ê-phê-sô 2:10).

“Vì điều cần yếu chẳng phải sự chịu cắt bì, hay là sự chẳng chịu cắt bì, bèn là trở nên người mới” (Ga-la-ti 6:15).

CỨU RỖI LÀ ĐƯỢC SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI

Ta được chính Đức Chúa Trời sanh thành, chứ không sanh ra theo huyết thống, hay theo tính ý loài người, vì vậy ta được sở hữu sự sống đời đời—sự sống của Đức Chúa Trời.

“Anh em được tái sinh, không phải do sự sống dễ hư họai của tổ tiên truyền lại, nhưng do Lời Sống bất diệt của Thượng Đế” (1 Phi-e-rơ 1:23 BDY).

“Cũng với quyền năng ấy, Ngài đã ban cho chúng ta mọi phúc lành quý báu kỳ diệu mà Ngài đã hứa; giải thoát chúng ta khỏi mọi dục vọng, băng họai đang ngự trị khắp nơi, và cho chúng ta được có cùng bản tính với Ngài” (2 Phi-e-rơ 1:4 BDY).

“Vậy Đức Chúa Giê-xu đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha”(Giăng 14:6).

“Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó” (3:33).

“Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống” (5:24).

“Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ ai tin được sự sống đời đời” (6:47)."