Get Adobe Flash player
Tham Khảo Cây Gậy Của Người Chăn Bầy BA PHẦN CỦA HỘI THÁNH F1.1 ĐƯỢC GỌI, ĐƯỢC CHỌN VÀ TRUNG TÍN

Chương 1: ĐƯỢC GỌI, ĐƯỢC CHỌN VÀ TRUNG TÍN

Phần Dẫn Nhập

Được Đức Chúa Trời tiếp nhận là một việc nhưng được Ngài CÔNG NHẬN lại là một việc khác.

Sách Khải Huyền nói về sự đắc thắng khải hoàn của Chiên Con Đức Chúa Trời. Sách này cho chúng ta biết Chiên Con có một đạo quân môn đồ và Ngài đánh trận và chiến thắng qua họ. Các môn đồ này là những người (1) được gọi, (2) được chọn và (3) trung tín.

"Chiên Con là Chúa của các chúa, Vua của các vua, và những kẻ được gọi, những kẻ được chọn cùng những kẻ trung tín đều ở với Chiên Con " (Khải 17:14).

Có nhiều người được gọi nhưng ít người được chọn, và người trung tín thì còn ít hơn nữa. Sách Khải Huyền có mười lần nói rằng người trung tín là người đắc thắng. Họ là những môn đồ của Chúa Jêsus, là những người không những được Đức Chúa Trời tiếp nhận nhưng cũng được Ngài thử nghiệm qua nhiều hoàn cảnh và được Ngài công nhận.

Khi Chúa Jêsus còn ở trên đất, có nhiều người đã tin Ngài nhưng Ngài đã không phó mình cho tất cả những người đó.

Nhóm người thứ nhất theo Ngài là đoàn dân đông. "Có nhiều đoàn dân đông theo Ngài. .." (Mat 19:2). Sau đó Kinh Thánh chép về nhóm người này rằng "Từ lúc ấy có nhiều môn đồ Ngài trở lại, không theo Ngài nữa " (Giăng 6:66).

Nhóm người thứ hai ít hơn. Trong nhóm này có bảy mươi người nhận một chức vụ đặc biệt là đi đến bảy mươi dân tộc ngoại bang (xem Sáng thế ký đoạn 10).

"Kế đó, Chúa chọn bảy mươi môn đồ khác " (Lu 10:1).

Nhóm thứ ba gồm có mười hai người:

"Trong lúc đó, Đức Chúa Jêsus lên núi cầu nguyện, và thức thâu đêm cầu nguyện Đức Chúa Trời. Đến sáng ngày, Ngài đòi môn đồ đến và chọn mười hai người, gọi là sứ đồ " (6:12, 13).

Từ mười hai người này, Ngài chọn nhóm người thứ tư, gồm có ba người: "Khỏi sáu ngày, Đức Chúa Jêsus đem Phierơ, Giacơ và Giăng là em Giacơ, cùng Ngài đi tẻ lên núi cao. Ngài biến hóa trước mặt các người ấy, mặt Ngài sáng lòa như mặt trời, áo Ngài trắng như ánh sáng " (Mat 17:1, 2).

Nhóm ba người này là những người đã được "chính mắt ngó thấy sự oai nghiêm Ngài " (IIPhi 1:16).

Ba người này đại diện cho những ai đã cố "giựt giải về sự kêu gọi trên trời của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ " (Phil 3:14).

Ba người này giống như những người đắc thắng, là những người đã nhận được phần thưởng là sự công nhận của Đức Chúa Trời.

A. LÀM THẾ NÀO ĐỂ CÓ ĐƯỢC SỰ CÔNG NHẬN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.

Là những người đang theo Chúa Jêsus, có nhiều người không đủ phẩm chất để được vào vòng trong cùng này. "Đương lúc Ngài ở thành Giêrusalem để giữ lễ Vượt Qua, có nhiều người thấy phép lạ Ngài làm, thì tin danh Ngài. Nhưng Đức Chúa Jêsus chẳng phó thác mình cho họ, vì Ngài nhận biết mọi người " (Giăng 2:23, 24).

1. Tìm Điều Lợi Cho Kẻ Khác

Chúa Jêsus biết phần đông những người tin Ngài đều có những lý do ích kỷ. Họ đến với Ngài để có những phước hạnh cho cá nhân họ. Tội lỗi của họ đã được tha nhưng họ chẳng bao giờ khao khát trở thành người đắc thắng.

Để trở thành một người đắc thắng, người đó phải ước ao từ bỏ việc tìm kiếm lợi riêng cho mình bất chấp có làm tổn hại đến người khác không.

2. Trải Qua Được Những Sự Thử Nghiệm Của Đức Chúa Trời

Khi Ghêđêôn tập trung một đạo quân để đánh trận với các kẻ thù của dân Ysơraên, ông có ba mươi hai ngàn (32.000) người. Nhưng Đức Chúa Trời biết rằng không phải hết thảy những người đó đều hết lòng. Vì vậy Đức Chúa Trời đã giảm số lượng của họ xuống. Trước hết, những người nhác sợ đều phải trở về nhà.

Nhưng vẫn còn mười ngàn (10.000) người. Những người này đều được đưa xuống một con sông để thử nghiệm. Chỉ có ba trăm (300) người qua được cuộc thử nghiệm và được Đức Chúa Trời công nhận (Quan 7:1-8).

Đức Chúa Trời dùng cách uống nước sông làm dịu cơn khát của mười ngàn người này để xem ai là người có đủ phẩm chất ở trong đội quân của Ghêđêôn. Hầu như không ai biết là họ đang được thử nghiệm.

Trong khi quì xuống để uống nước cho đã khát, chín ngàn bảy trăm (9.700) người trong số đó đã mất cảnh giác với kẻ thù của họ. Chỉ còn ba trăm (300) người đứng, bụm nước uống và cảnh giác.

Chính trong những điều bình thường của cuộc sống là điều Đức Chúa Trời đã thử nghiệm chúng ta. Đó là thái độ của chúng ta đối với tiền bạc, sự thỏa mãn, sự khen ngợi và sự tôn trọng trên thế gian này, tiện nghi trần tục v.v... Cũng giống như đạo quân của Ghêđêôn, khi Đức Chúa Trời cho phép hoàn cảnh đến với chúng ta, chúng ta đã không biết rằng Đức Chúa Trời đang thử nghiệm chúng ta để xem chúng ta phản ứng như thế nào.

3. Đừng Để Thế Gian Làm Cho Xao Lãng

Chúa Jêsus cảnh báo chúng ta đừng để những mối lo âu của thế gian này đè nặng.

Ngài phán: "Vậy hãy tự giữ lấy mình, e rằng vì sự ăn uống quá độ, sự say sưa và sự lo lắng đời này làm cho lòng các ngươi mê mẩn chăng, và e ngày ấy đến thình lình trên các ngươi như lưới bủa " (Lu 21:34).

Phaolô đã khuyên các Cơ đốc nhân ở Côrinhtô rằng: "Hỡi anh em, vậy thì tôi bảo nầy: thì giờ ngắn ngủi. Từ rày về sau, kẻ có vợ hãy nên như kẻ không có, kẻ đương khóc, nên như kẻ không khóc, kẻ đương vui nên như kẻ chẳng vui, kẻ đương mua nên như kẻ chẳng được của gì, và kẻ dùng của thế gian nên như kẻ chẳng dùng vậy, vì hình trạng thế gian này qua đi. ..

Tôi nói điều đó vì sự ích lợi cho anh em hầu cho không phân tâm mà hầu việc Chúa " (ICôr 7:29-35).

Chúng ta không được để bất kỳ điều gì của thế gian này làm chúng ta bị phân tâm về sự tận hiến hoàn toàn cho Chúa. Những điều hợp lý của thế gian này là cái bẫy còn lớn hơn cả những điều tội lỗi, bởi vì những điều hợp lý trông có vẻ vô tội và vô hại!

Chúng ta có thể làm dịu cơn khát của mình nhưng chúng ta phải bụm nước để uống và phải cảnh giác sự tấn công bất ngờ của kẻ thù. Tâm trí của chúng ta lúc nào cũng phải nghĩ đến cuộc chiến mà Chúa giao chứ không phải bận tâm đến sự đói, khát và ham muốn.

Nếu chúng ta muốn làm những môn đồ của Chúa Jêsus, chúng ta phải từ bỏ tất cả và sẵn sàng chịu đựng những khó khăn (IITi 2:3)

4. Hãy Hướng Ý Tưởng Của Bạn Vào Những Việc Đời Đời

Giống như sợi dây thun bị căng ra, tâm trí chúng ta có thể quan tâm đến những điều thuộc về đất này vào lúc rất cần thiết, nhưng một khi những điều đó đã được giải quyết rồi, thì giống như sợi dây thun được trả lại vị trí cũ, tâm trí chúng ta lại hướng đến những điều thuộc về Chúa và cõi đời đời.

Đó là ý nghĩa của câu "Hãy ham mến các sự ở trên trời, đừng ham mến các sự ở dưới đất " (Cô 3:2).

Tuy nhiên, đối với nhiều tín đồ, sợi dây thun của họ lại hoạt động theo cách khác. Tâm trí của họ bây giờ bị căng ra và nghĩ đến những việc đời và khi được nới lõng thì trở lại trạng thái bình thường, tức là bị những việc thuộc về thế gian này chiếm hữu.

5. Chúng Ta Phải Chuyên Tâm

Phaolô khuyên Timôthê rằng: "Khi một người đi ra trận, thì chẳng còn lấy việc đời lụy mình, làm vậy đặng đẹp lòng kẻ chiêu mộ mình " (IITi 2:4). Phaolô không nói với Timôthê về vấn đề làm thế nào để được cứu nhưng ông đang nói làm thế nào để làm Chúa hài lòng như một người lính giỏi trong đội quân của Đức Chúa Trời.

"Hãy chuyên tâm cho được đẹp lòng Đức Chúa Trời " (2:15).

Timôthê đã được Đức Chúa Trời tiếp nhận rồi. Bây giờ ông cần phải chuyên tâm để được Đức Chúa Trời công nhận.

Chính Phaolô được Đấng Christ đặt vào trong chức vụ Cơ đốc bởi vì ông đã được Đức Chúa Trời công nhận.

Ông nói: "Ta cảm tạ Đấng ban thêm sức cho ta, là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta, về sự Ngài đã xét ta là trung thành, hiệp ta làm kẻ giúp việc " (ITi 1:12).

Phaolô ở trong số những người được gọi, được chọn và TRUNG TÍN, vì vậy ông mong rằng Timôthê cũng ở trong số người đó.

Nhưng trước khi được công nhận, Phaolô đã được thử nghiệm. Chúng ta cũng đang được thử nghiệm.

Đức Chúa Trời chẳng bao giờ phó chính Ngài cho ai trước khi phải thử nghiệm người đó.

Trong Kinh Thánh có ghi lại sự thử nghiệm của Chúa trên nhiều người, một số được công nhận và một số bị từ bỏ. Đó là những điều rất có giá trị với chúng ta vì những điều ấy được ghi lại để dạy dỗ chúng ta.

B. ĐẸP LÒNG HAY KHÔNG ĐẸP LÒNG ĐỨC CHÚA TRỜI

Trong Tân Ước , chúng ta đọc thấy có một Đấng mà Đức Chúa Trời rất đẹp lòng và có một số người Đức Chúa Trời không đẹp lòng. Thật thú vị khi nghiên cứu về điều tương phản này.

1. Đức Chúa Trời Không Đẹp Lòng

Trong số sáu trăm ngàn người lính Ysơraên (Dân 1:46) đã bị hủy diệt trong sa mạc vì cớ vô tín, Kinh Thánh đã chép rằng: "Song phần nhiều trong họ không đẹp lòng Đức Chúa Trời " (ICôr 10:5).

Những người Ysơraên này đã được chuộc ra khỏi Ai Cập do huyết của con chiên (hình bóng về sự cứu chuộc bởi Đấng Christ), họ đã được báptêm trong Biển Đỏ và dưới đám mây (hình bóng về sự báptêm bằng nước và bằng Thánh Linh) (10:2). Nhưng Đức Chúa Trời không hài lòng về họ.

a. Ngài Đã Chăm Sóc Họ.

Tuy nhiên Đức Chúa Trời rất tốt đối với họ. Ngài đã cung cấp cho họ tất cả những nhu cầu về vật chất và thể chất cách siêu nhiên. "Trong bốn mươi năm này, áo xống ngươi không hư mòn, chơn ngươi chẳng phù lên " Môise đã nói với họ vào lúc cuối cùng của bốn mươi năm lưu lạc trong đồng vắng (Phục 8:4).

Đức Chúa Trời cũng chữa lành tất cả các tật bệnh của họ. Kinh Thánh chép: "Chẳng có ai trong họ bị bệnh tật hay yếu mòn cả " (Thi 105:37 bản Living Stone)

Đức Chúa Trời làm nhiều phép lạ cho họ. Thật vậy không có một dân tộc nào trong lịch sử thế giới lại chứng kiến nhiều phép lạ như dân Ysơraên vô tín là những kẻ mà "Đức Chúa Trời phải giận trong bốn mươi năm " (Hêb 13:17).

Điều này dạy chúng ta rằng Đức Chúa Trời cũng đáp lời cầu nguyện của những tín đồ xác thịt và Ngài cũng cung cấp cho họ những nhu cầu thuộc về đất một cách siêu nhiên nếu cần thiết.

Điều này chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời làm phép lạ cho chúng ta trong khi thuộc linh của chúng ta chẳng ra sao cả. Điều này chứng tỏ Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời nhân từ. Ngài đã cho mặt trời chiếu sáng cho người công bình cũng như người bất nghĩa!

b. Phép Lạ Không Phải Là Điều Bảo Đảm.

Chúa Jêsus cũng cảnh báo chúng ta rằng trong ngày phán xét cuối cùng, nhiều người đã nhơn danh Ngài làm nhiều phép lạ sẽ bị từ bỏ và xem là không đủ phẩm chất vì họ đã sống trong tội lỗi.

Ngài phán: "Ngày đó sẽ có nhiều người thưa cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn danh Chúa mà nói tiên tri sao? Nhơn danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhơn danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? Khi ấy, ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác kia, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta " (Mat 7:22, 23).

Rõ ràng Ngài đang nói đến những người rao giảng và những người đã nhơn danh Ngài mà chữa lành và làm nhiều phép lạ. Theo lời của Chúa Jêsus phán trong câu này, rõ ràng là có NHIỀU người trong số này (không phải chỉ có một vài người, cũng không phải là tất cả, nhưng có nhiều người) đã làm những phép lạ kỳ diệu nhưng chính đời sống cá nhân, ý tưởng và thái độ của họ đã không được giải cứu khỏi tội lỗi. Nếu điều này không được vạch trần sớm thì cũng sẽ bị phơi ra trước Ngôi đoán xét của Đấng Christ.

Việc làm các phép lạ, tự nó không chứng tỏ rằng một người nào đó được Đức Chúa Trời công nhận. Chúng ta có hiểu điều này không? Nếu không chúng ta sẽ bị lừa dối.

2. Đức Chúa Trời Đẹp Lòng

Trái ngược với dân Ysơraên trong Cựu Ước là những người không được Đức Chúa Trời hài lòng, thì trong Tân Ước chúng ta thấy Chúa Jêsus là Đấng mà Đức Chúa Trời rất hài lòng.

Khi Chúa Jêsus được ba mươi tuổi, từ trên trời Đức Chúa Cha đã công khai phán với Ngài những lời như thế này: "Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đàng " (Mat 3:17). Điều này đã được phán trước khi Chúa Jêsus làm một phép lạ hay giảng một bài nào!

Thế thì điều bí mật gì trong bản thể Ngài được Đức Chúa Trời công nhận? Rõ ràng không phải là do chức vụ của Ngài bởi vì lúc ấy Ngài chưa công khai thi hành chức vụ. Ấy là vì cách sống của Ngài trong ba mươi năm.

a. Trung Tín Trong Những Sự Cám Dỗ.

Chúng ta được Đức Chúa Trời công nhận không phải căn cứ trên sự thành công của chức vụ chúng ta nhưng căn cứ trên sự trung tín qua những sự cám dỗ mà chúng ta phải đối diện trong cuộc sống hằng ngày.

Kinh Thánh chỉ cho chúng ta biết hai điều về ba mươi năm "yên lặng" của cuộc đời Chúa Jêsus (ngoại trừ sự kiện xảy ra ở đền thờ). Đó là: "Ngài cũng bị thử thách trong mọi việc giống như chúng ta nhưng không phạm tội " (Hêb 4:15) và "Đấng Christ cũng không làm cho đẹp lòng mình " (Rô 15:3).

Ngài đã trung tín chống lại mọi sự cám dỗ và cũng chẳng bao giờ tìm kiếm ước muốn, khát vọng hay ý riêng nào của Ngài trong bất cứ việc gì. Đây là điều làm cho Cha đẹp lòng.

b. Phẩm Chất Thuộc Linh.

Những thành công bên ngoài của chúng ta có thể gây ấn tượng tốt cho người thế gian và những tín đồ xác thịt, nhưng Đức Chúa Trời lại quan tâm đến phẩm chất của chúng ta hơn. Chính phẩm chất của chúng ta mới khiến cho Đức Chúa Trời công nhận chúng ta.

Vì vậy nếu chúng ta muốn biết Đức Chúa Trời nghĩ gì về chúng ta, chúng ta phải quyết tâm xóa bỏ khỏi ý tưởng mình những gì mà chúng ta đã làm trong chức vụ. Chúng ta phải tự đánh giá mình một cách trong sáng bằng thái độ của chúng ta đối với tội lỗi trong tư tưởng và xem mình là trung tâm trong hành động. Chỉ có điều đó là tiêu chuẩn chính xác để đánh giá tình trạng thuộc linh của chúng ta.

Do đó dù là một người có chức vụ chữa lành, đi rao giảng khắp thế giới hay là một người mẹ bận rộn chẳng hề rời khỏi gia đình cũng đều có cơ hội để nhận được sự công nhận của Đức Chúa Trời.

Ở tại ngôi phán xét của Đấng Christ, chúng ta sẽ thấy những kẻ đầu trong thế giới Cơ đốc ngày hôm nay lúc ấy sẽ trở nên rốt, và những người được xem là rốt ở trên đất này (vì họ không có chức vụ nổi tiếng) thì lúc ấy sẽ trở nên đầu.

C. CHÚA JÊSUS LÀ GƯƠNG MẪU CỦA CHÚNG TA.

Chúa Giêxu là gương mẫu cho chúng ta trong mọi sự. Đức Chúa Cha đã sắp xếp cho Chúa Jêsus sống ba mươi năm trên đất ở hai nơi, gia đình và nơi làm việc của Ngài (trại mộc).

Chính sự trung tín của Chúa Jêsus ở hai nơi này mà Đức Chúa Cha đã công nhận Ngài.

Đây là điều khích lệ lớn cho chúng ta vì tất cả chúng ta đều thường xuyên có mặt ở hai nơi này, gia đình và nơi làm việc. Và chính trong hai nơi này Đức Chúa Trời thường trắc nghiệm chúng ta nhất.

1. Trung Tín Ở Gia Đình

Gia đình của Chúa Jêsus là một gia đình nghèo. Giôsép và Mary nghèo đến nỗi không đủ tiền mua một con chiên để làm của lễ thiêu. Họ không được một nhà "rao giảng về sự thịnh vượng " người Mỹ nào dạy cho họ để được giàu có.

Luật pháp dạy rằng: "Nếu ngươi không thể lo cho có một con chiên con thì phải bắt hai chim cu, hoặc hai con bồ câu con. .." (Lê vi ký 12:8;). Trong Lu 12:24 chép rằng Giôsép và Mary đã làm theo luật pháp bằng cách "dâng một cặp chim cu, hoặc chim bồ câu con ".

Kinh Thánh chép về Chúa Jesus : "Vì anh em biết ơn Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài vốn giàu, vì anh em mà tự làm nên nghèo. .." (IICôr 8:9).

Ít nhất Chúa Jêsus cũng có bốn em trai và hai em gái. Mác 6:3 cho chúng ta thấy những người đồng hương với Ngài đã nói về Ngài rằng:

"Có phải người là thợ mộc, con trai Mary, anh em với Giacơ, Giôsê, Giuđa và Simôn chăng? Chị em người há chẳng ở giữa chúng ta đây ư?".

Chúng ta có thể hình dung được áp lực và sự tranh chiến mà Chúa Jêsus phải đối diện khi Ngài lớn lên trong gia đình nghèo nàn đó.

Hơn nữa, những em trai của Ngài đều là những người không tin Ngài. Kinh Thánh chép: "Bởi chưng chính các anh em Ngài không tin Ngài " (Giăng 7:5).

Chắc hẳn họ đã tìm nhiều cách nhiếc móc Ngài. Khi phải đối diện với áp lực của sự thử thách từ những người trong gia đình, Ngài cũng không có phòng riêng để mà được ở riêng.

Chắc hẳn là đã có sự cãi vã, tranh chấp, quở trách, vị kỷ trong nhà của Ngài (vì gia đình nào cũng như vậy cả).

Trong những hoàn cảnh như vậy, Chúa Jêsus đã bị cám dỗ trong mọi mặt như chúng ta, nhưng Ngài chẳng hề phạm tội dù chỉ một lần trong lời nói, hành động, tư tưởng, thái độ hay động cơ.

Nếu Chúa Jêsus đã đến trong một hình thể nào đó khác với chúng ta, trong một xác thịt nào đó để không thể bị cám dỗ thì việc Ngài sống thánh khiết trong những hoàn cảnh như vậy cũng không có gì là xuất sắc cả. Nhưng Ngài đã được làm nên giống như chúng ta trong mọi sự.

Lời của Đức Chúa Trời chép rằng: "Ngài PHẢI CHỊU LÀM giống như anh em mình trong mọi sự, hầu cho đối với Đức Chúa Trời, trở nên thầy tế lễ thượng phẩm, hay thương xót và trung tín " (Hêb 2:17).

Ngài phải chịu áp lực của sự cám dỗ, thử thách như chúng ta. Điều này cho chúng ta một sự khích lệ lớn vào những lúc chúng ta chịu cám dỗ để chúng ta cũng có thể đắc thắng. Đây là điều Satan muốn cướp khỏi chúng ta bằng cách cố che giấu chúng ta một lẽ thật vinh hiển rằng Đấng Christ đến trong hình thể xác thịt như chúng ta và cũng chịu cám dỗ như chúng ta.

2. Trung Tín Trong Công Việc

Là một người thợ mộc ở Naxarét, chắc hẳn Chúa Jêsus đã phải đối diện với những cám dỗ mà tất cả những người đi làm việc đều phải đối diện. Nhưng Ngài chẳng bao giờ lừa dối ai để bán điều gì. Ngài chẳng bao giờ đòi giá cao cho một sản phẩm nào và dầu phải trả giá đến đâu (hoặc mất mát đến đâu) thì Ngài cũng chẳng bao giờ bán rẻ sự công bình.

Ngài cũng không tranh cạnh với những thợ mộc khác ở Naxarét. Ngài chỉ làm việc để kiếm sống. Vì vậy qua việc buôn bán và nắm giữ tiền bạc (vì là thợ mộc), nên Chúa Jêsus cũng phải đối diện với tất cả sự cám dỗ như chúng ta phải đối diện trong lĩnh vực tiền bạc. Nhưng Ngài đã đắc thắng.

Chúa Jêsus đã sống trong sự thuận phục cha mẹ nuôi không trọn vẹn của Ngài trải qua nhiều năm. Hẳn điều này đã khơi dậy những hình thức cám dỗ bên trong (chẳng hạn như thái độ), nhưng Ngài cũng chẳng hề phạm tội.

Mary có mặt trong số những người ở trên phòng cao đang chờ đợi báptêm bằng Thánh Linh và lửa để được quyền năng và nên thánh (Công 1:14).

Thiếu quyền năng đó, có lẽ Giôsép và Mary đã to tiếng và cãi vã nhau như hầu hết các cặp vợ chồng đều mắc phải.

Dù rằng Chúa Jêsus đang sống trong sự đắc thắng trọn vẹn, Ngài cũng chẳng hề coi khinh họ. Nếu có điều đó, Ngài đã phạm tội. Ngài vẫn kính trọng họ mặc dù Ngài sống thánh khiết hơn họ rất nhiều. Ở đây chúng ta thấy sự khiêm nhường của Ngài đẹp đẽ biết bao.

Do đó chúng ta thấy trong suốt ba mươi năm ở Naxarét, Chúa Jêsus không sống một cuộc đời không có những biên cô. Ngài luôn sống trong cuộc chiến chống lại sự cám dỗ, một cuộc chiến mà cứ mỗi năm trôi qua cường độ của nó lại càng gia tăng.

Trước khi Ngài trở thành Cứu Chúa và Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của chúng ta, Đức Chúa Cha phải đưa vị Nguyên thủ của sự cứu rỗi chúng ta trải qua tất cả các sự cám dỗ mà một con người có thể trải qua.

Kinh Thánh chép: "Thật, Đấng mà muôn vật hướng về Ngài và bởi Ngài, vì muốn đem nhiều con đến sự vinh hiển, thì đã khiến Đấng làm cội rễ sự cứu rỗi của những con ấy, nhờ sự đau đớn mà trở nên trọn lành, là phải lắm " (Hêb 2:10).

Còn có một vài sự cám dỗ nữa (chẳng hạn với những người đã từng có tiếng tăm trên cả nước...) mà Chúa Jêsus phải đối diện trong ba năm rưỡi cuối của cuộc đời Ngài trên đất. Nhưng tât cả những sự cám dỗ thông thường mà chúng ta phải đối diện ở gia đình và nơi làm việc thì Ngài đã trải qua và đắc thắng trong ba mươi năm đầu của cuộc đời Ngài. và Đức Chúa Cha đã phải cấp cho Chúa Jêsus "tờ công nhận" trong khi Ngài chịu báptêm.

D. TÌM KIẾM MỘT PHẨM CHẤT ĐƯỢC BIẾN ĐỔI

Giá như mắt chúng ta được mở ra để thấy nền tảng mà Đức Chúa Trời công nhận chúng ta, thì điều đó sẽ cách mạng hóa toàn bộ đời sống chúng ta. Không còn ai trong chúng ta thèm muốn chức vụ đi khắp thế giới nữa. Ngược lại chúng ta lại ước mong được trung tín vào những lúc bị cám dỗ trong cuộc sống hàng ngày.

Chúng ta phải cầu nguyện để được báptêm bằng lửa để tạo nên một phẩm chất được biến đổi cũng như cầu nguyện đê có quyền năng làm những phép lạ. Do đó tâm trí chúng ta phải được đổi mới để có những ưu tiên hàng đâu đúng đăn.

Chúng ta hãy được sự khích lệ trong điều này. Phần thưởng lớn nhất của Đức Chúa Trời và sự khen ngợi cao cả nhất của Ngài dành cho những ai đối diện sự với cám dỗ mà có cùng thái độ như Chúa Jêsus đã có. Thái độ của Chúa Giêxu là: "Ta thà chết còn hơn phạm tội hay không vâng lời Cha ta trong mọi sự ".

Đó là ý nghĩa của sự khích lệ trong Phil 2:5-8: "Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có. .. Ngài đã vâng phục cho đến chết ".

Dù ân tứ, chức vụ, hoàn cảnh sống, giới tính hay tuổi tác của chúng ta như thế nào, tất cả chúng ta đều có cùng một cơ hội để trở thành những người đắc thắng và ở trong số những người được gọi, được chọn và trung tín.