Get Adobe Flash player
Tham Khảo Cây Gậy Của Người Chăn Bầy BA PHẦN CỦA HỘI THÁNH E4.3 NHỮNG DẤU LẠ CẶP THEO VIỆC TRUYỀN GIÁO

Chương 3: NHỮNG DẤU LẠ CẶP THEO VIỆC TRUYỀN GIÁO

A. NHỮNG DẤU KỲ VÀ PHÉP LẠ ĐƯỢC BAN CHO ĐỂ LÀM VỮNG ĐẠO

Khi bạn rao giảng tin lành, điều quan trọng cần nhớ là một trong những lý do chính mà Thánh Linh của Đức Chúa Trời được ban cho là để làm cho vững Lời của Ngài qua các ân tứ của Thánh Linh.

1. Trong Cựu Ước

Tiên tri Êli đã khiến con trai của đàn bà góa được sống lại và bà đã nói: "... Bây giờ tôi nhìn biết ông là người của Đức Chúa Trời, và lời phán của Đức Giêhôva ở trong miệng ông là thật " (ICác 17:24).

2. Trong Tân Ước

"Về phần các môn đồ thì đi ra giảng đạo khắp nơi. Chúa cùng làm việc với môn đồ, và lấy các phép lạ cặp theo lời giảng mà làm cho vững đạo " (16:20).

Chúa Jesus phán: "Tin lành này về vương quốc của Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến " (Mat 24:14).

Từ "làm chứng" trong câu trên trong tiếng Hy Lạp là "maturion", nghĩa là "một điều gì đó rõ ràng, có cơ sở, có bằng cớ". Nói cách khác là một điều gì đó xác minh tính xác thực của sự việc.

Chúa Jesus muốn nói rằng tin lành này sẽ được rao ra với một điều gì đó để xác minh tính xác thật của đạo và đó là lý do tại sao chúng ta phải có ân tứ của Thánh Linh.

3. Chứng Minh Sự Chấp Thuận Của Đức Chúa Trời Về Chức Vụ Của Đấng Christ

"Đức Chúa Jesus ở Naxarét, tức là người mà Đức Chúa Trời đã dùng để làm việc quyền phép, sự lạ và dấu lạ. .." (Công 2:22).

"Nhưng ta có một chứng lớn hơn chứng của Giăng: vì các việc Cha đã giao cho ta làm trọn, tức là các việc ta làm đó, làm chứng cho ta rằng Cha đã sai ta " (Giăng 5:36).

"Khi đã đến xứ Galilê, Ngài được dân xứ ấy tiếp rước tử tế, bởi dân đó đã thấy mọi điều Ngài làm tại thành Giêrusalem trong ngày lễ vì họ cũng có đi dự lễ " (4:45).

4. Xác Minh Sự Ủng Hộ Của Đức Chúa Trời Về Chức Vụ Của Bạn

"Đức Chúa Trời cũng dùng những dấu kỳ sự lạ và đủ thứ phép mầu, lại dùng sự ban cho của Đức Thánh Linh mà Ngài đã theo ý muốn Ngài phán ra, để làm chứng với các kẻ đó " (Hêb 2:4).

B. KẾT QUẢ CỦA PHÉP LẠ TRONG NHỮNG KẺ CHƯA TIN LÀ VIỆC HỌ ĐƯỢC CỨU

1. Phierơ Chữa Lành Một Người Què (Công-vụ 3:1-11)

Khi Phierơ và Giăng lên đền thờ để cầu nguyện, Phierơ được Thánh Linh dẫn dắt để chữa lành một người què. Sự kiện này đã đưa nhiều người đến để nghe các sứ đồ rao giảng (câu 12-26) và cuối cùng có nhiều người tiếp nhận Chúa.

"... Có nhiều người đã nghe đạo thì tin, số tín đồ lên độ 5.000" (Công 4:4).

2. Các Sứ Đồ Cầu Nguyện Xin Quyền Năng (Công-vụ 4:29-31)

Để nếm trải được quyền năng siêu nhiên, các sứ đồ đã cầu nguyện để giảng đạo cách dạn dĩ và làm nhiều dấu kỳ, phép lạ hơn.

"Nầy, xin Chúa đoái xem sự họ ngăm dọa và ban cho các đầy tớ Ngài rao giảng đạo Ngài một cách dạn dĩ, giơ tay Ngài ra, để nhờ danh đầy tớ Thánh của Ngài là Đức Chúa Jesus mà làm những phép lạ chữa bịnh, phép lạ và dấu kỳ. Khi đã cầu nguyện thì nơi nhóm lại rúng động, ai nấy đều được đầy dẫy Thánh Linh, giảng đạo Đức Chúa Trời cách dạn dĩ ".

3. Các Sứ Đồ Làm Những Dấu Kỳ Phép Lạ (Công-vụ 5:12-16)

"Có nhiều phép lạ và dấu kỳ được làm ra trong dân bởi tay các sứ đồ " (câu 12).

"Số những người tin Chúa càng ngày càng thêm lên, nam nữ đều đông lắm" (câu 14).

4. Philíp Làm Phép Lạ (Công-vụ 8:5-8)

Câu 6: "Đoàn dân nghe người giảng và thấy các phép lạ người làm, thì đồng lòng lắng tai nghe người nói ".

5. Phierơ Chữa Lành Cho Ênê (Công-vụ 9:32-35)

Ênê bị bại tám năm rồi. Sau khi Phierơ chữa lành cho ông thì nhiều người đã tin. "Hết thảy dân ở Lyđa và Sarôn thấy vậy đều trở về cùng Chúa " (câu 35).

6. Phierơ cứu Đôca từ kẻ chết sống lại (Công-vụ 9:36-42)

Một nữ Cơ đốc nhân tên là Đôca đã từ kẻ chết sống lại ở thành Giốpbê và có nhiều người đã tin Chúa.

"Việc đó đồn ra khắp thành Giốpbê nên có nhiều người tin theo Chúa " (9:42).

7. Thuật sĩ Êlyma bị mù (Công-vụ 13:6-12)

Đức Thánh Linh ban cho Phaolô những ân tứ Thánh Linh (ân tứ Lời khôn ngoan và Lời tri thức) để giúp cho một quan trấn thủ được cứu.

"Quan trấn thủ thấy sự đã xảy đến bèn tin, lấy làm lạ về đạo Chúa " (câu 12).

C. CÁC DẤU KỲ PHÉP LẠ KHÔNG BẢO ĐẢM KẾT QUẢ LÂU DÀI

Không hề có sự bảo đảm nào để nói rằng một người nào đó sẽ theo Chúa Jesus thậm chí khi họ đã kinh nghiệm quyền năng phép lạ của Ngài cách cá nhân.

Chúa Jesus đã làm nhiều dấu kỳ và phép lạ một cách quyền năng nhưng Ngài đã tỏ ra hết sức thất vọng vì hầu hết những người theo Ngài đã thực hiện phép lạ với những lý do sai trật.

Họ quan tâm đến bánh và cá hơn là nhận biết Chúa Jesus làm Cứu Chúa của đời sống họ (Giăng 6:26).

Bạn còn nhớ trong số hàng chục ngàn người thấy Chúa Jesus làm phép lạ thì không có một ai đứng bên cạnh Ngài khi Ngài bị đóng đinh. Ngay cả vào ngày lễ Ngũ Tuần cũng chỉ còn sót lại một trăm hai mươi môn đồ (Công 1:15) đang cầu nguyện mặc dầu có năm trăm người đã nhìn thấy Đấng Christ phục sinh (ICôr 15:6).

1. Chỉ một người tin (Luca 17:12-19)

Chúa Jesus đến một ngôi làng và chữa lành cho mười người phung nhưng chỉ có một người quay lại bày tỏ lòng biết ơn và tôn vinh Đức Chúa Trời. Mặc dầu đời sống họ được Đức Chúa Trời đụng chạm đến cách kỳ diệu nhưng 90% số họ đi con đường riêng của mình không sẵn lòng đầu phục để theo Chúa.

2. Một Số Tin, Một Số Không Tin (Công-vụ 14:1-7)

Phaolô và một số môn đồ khác tiếp tục giảng đạo cách dạn dĩ và Đức Chúa Trời đã xác chứng lời nói của họ bằng dấu kỳ và phép lạ.

"Dầu vậy Phaolô và Banaba ở lại đó cũng khá lâu, đầy dẫy sự bạo dạn và đức tin trong Chúa, và Chúa dùng tay của hai sứ đồ làm những phép lạ dấu kỳ mà chứng về đạo ân điển của Ngài " (câu 3).

Ngay cả có những dấy kỳ, phép lạ thì vẫn có một số người tin, một số không tin.

"Nhưng dân chúng trong thành chia phe ra: Kẻ thì theo bên Giuđa, người thì theo bên hai sứ đồ " (câu 4).

Người ta muốn ném đá họ cho chết: "Lại khi những người ngoại và người Giuđa cùng các quan mình nổi lên đặng hà hiếp và ném đá hai sứ đồ thì hai sứ đồ đã biết trước, bèn trốn tránh trong các thành ở xứ Lycaoni, là thành Líttrơ, thành Đẹtsơ và miền chung quanh đó mà giảng tin lành " (câu 5-7).

Các sứ đồ được "Thánh Linh dẫn dắt" (sau khi suýt bị ném đá) để rời thành phố đó và rao giảng ở nơi khác.

"Tại thành Ycôni, Phaolô và Banaba cùng vào nhà hội của người Giuđa, và giảng hết lòng đến nỗi có rất nhiều người Giuđa và Gờréc tin theo " (câu 1).

Phaolô và những người khác đi rao giảng tin lành và nhiều người đã tin lời của họ.

"Nhưng những người Do Thái chưa chịu tin thì xui giục và khêu chọc lòng người ngoại nghịch cùng anh em " (câu 2).

Những người chưa tin đã khiêu khích người ta chống lại họ.

D. NHỮNG DẤU KỲ VÀ PHÉP LẠ CHỨNG MINH CHO LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

1. Một Câu Chuyện Về Đời Sống Thật

Câu chuyện sau đây minh họa những gì đã xảy ra trong đời sống của một nhà truyền giáo trẻ khi ông tìm kiếm hiệu quả của việc "những dấu kỳ cặp theo sự truyền giáo"

a. Sự Thất Bại Ở Ấn Độ.

Cách đây nhiều năm, một cặp vợ chồng truyền giáo trẻ đã đến Ấn Độ. Họ không hiểu sự khái quát Kinh Thánh như đã trình bày ở trên. Họ không hiểu đức tin để làm phép lạ. Họ đã đưa dắt một ít người đến với Chúa nhưng phần lớn là thất bại.

Khi họ rao giảng về Chúa Jesus Christ, người An Độ Giáo đã lịch sự tiếp nhận Ngài như là một vị thần tốt để thêm vào số hàng triệu vị thần của họ thôi, nhưng không hề có sự biến đổi nào trong đời sống của họ cả.

Người hồi giáo thì lý luận rằng: "Làm thế nào ông bà biết rằng Đức Chúa Jesus Christ là Con Đức Chúa Trời hoặc làm sao biết Ngài từ kẻ chết sống lại?". Họ còn tuyên bố rằng: "Ngài là một người tốt nhưng không phải là Con Đức Chúa Trời và chắc chắn là không từ kẻ chết sống lại".

Họ cho rằng kinh Koran là lời của Đức Chúa Trời và Mohammed là tiên tri của Đức Chúa Trời.

Vợ chồng vị giáo sĩ trẻ này tuyên bố rằng Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời và Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời.

Những người Hồi giáo khiêu khích: "Thế thì hãy chứng minh đi".

"Chúng tôi sẽ chứng minh. Hãy xem những câu Kinh Thánh này. Hãy nghe những gì những câu Kinh Thánh này nói". Họ bắt đầu đọc Kinh Thánh cho người Hồi giáo nghe.

Họ đáp: "Ồ không. Đó không phải là lời Đức Chúa Trời. Đó không phải là bằng cớ. Kinh Koran mới là lời Đức Chúa Trời".

KINH THÁNH hay KINH KORAN? Kinh nào là lời của Đức Chúa Trời? Làm thế nào để chứng minh rằng Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời? Không có phép lạ thì không thể chứng minh được.

Họ mong muốn có một kinh nghiệm giống như những người mà chúng ta đọc trong Kinh Thánh: "Các sứ đồ lại lấy quyền phép rất lớn mà làm chứng (maturion = một điều gì đó hiển nhiên, có chứng cớ) về sự sống lại của Đức Chúa Jesus Christ " (Công 4:33).

Họ trở lại quê hương, bịnh hoạn, thất vọng và tan vỡ trong tâm linh, dầu vậy họ không bỏ cuộc. Họ kiêng ăn cầu nguyện, xin sự cứu rỗi cho những người bị thiệt thòi về quyền lợi vì không biết tin lành. Câu trả lời là gì?

b. Một Khải Tượng Về Chúa Jesus.

Vị giáo sĩ thất vọng này đã kể câu chuyện của ông.

Một buổi sáng nọ, vào lúc sáu giờ, tôi bừng tỉnh vì Chúa Jesus đang đứng trong phòng của tôi. Nhìn xem Ngài, tôi nằm đó như một kẻ chết. Tôi không thể cử động một ngón tay hay một ngón chân. Nước mắt tôi chảy ra mặc dù tôi không biết mình đang khóc.

Tôi không biết là tôi đã nhìn chăm vào đôi mắt sắc sảo của Ngài bao lâu trước khi Ngài biến mất và tôi cũng không biết điều đó kéo dài trong bao lâu trước khi tôi có thể ra khỏi giường. Tôi bò lê trên sàn nhà, mặt úp xuống, phủ phục trước mặt Ngài cho đến buổi chiều.

Ngày hôm đó khi tôi bước ra khỏi phòng, tôi là một người mới. Tôi đã gặp Chúa Jesus. Ngài không phải là một tôn giáo. Ngài đang sống và rất thực. Tôi đã thấy Ngài! Ngài trở thành Chúa của đời tôi.

Từ ngày đó, người ta có nói hay nghĩ gì cũng không phải là vấn đề. Tôi đã khám phá ra một Đấng Christ sống và Ngài trở thành Chúa của cuộc đời tôi.

Sau kinh nghiệm đó, một người của Đức Chúa Trời đã đến thành phố của chúng tôi, rao giảng và giúp cho những kẻ đau. Chúng tôi đã chứng kiến hàng trăm người tin Chúa và những phép lạ chữa lành tức thì không thể chối cãi được. Tôi đã xúc động về những gì tôi đã thấy.

Dường như có hàng ngàn tiếng nói quay tít trong đầu tôi rằng: "Con có thể làm được điều đó. Đó là điều Chúa Jesus đã làm. Đó là điều Phierơ và Phaolô đã làm. Điều đó chứng tỏ rằng các phương pháp của Kinh Thánh vẫn còn dành cho ngày hôm nay. Con có thể làm điều đó".

Tôi biết tôi có thể làm được. Vì tôi biết Đấng Christ có thể làm điều đó trong tôi và qua tôi. Tôi biết Ngài chẳng hề thay đổi.

c. Các Chiến Dịch Truyền Giáo Cho Dân Chúng:

1) Vùng Caribê. Sau đó chúng tôi đeo đuổi những người chưa tin Chúa. Chúng tôi bay đến Jamaica. Trong mười ba tuần trên chín ngàn người tiếp nhận Chúa, toàn bộ chín mươi người mù đã được chữa lành, trên một trăm người điếc đã được nghe. Hàng trăm phép lạ khác đã xảy ra vì "... Chúa cùng làm việc với chúng tôi, và lấy các phép lạ cặp theo lời giảng mà làm cho vững đạo " (Mác 16:20).

Sau đó, chúng tôi đến Puerto Rico. Các chiến dịch còn lớn hơn nữa. Họ rất đông! Sứ điệp của chúng tôi rất đơn sơ. Người dân muốn thực tế. Họ tin rằng "họ sẽ thấy các phép lạ Ngài làm cho kẻ bịnh " (Giăng 6:2).

Sau đó chúng tôi đến Haiti. Cũng giống như vậy. Các tòa nhà không thể chứa hết đến nỗi người ta đứng đầy sân và thậm chí còn lấn ra cả đường đi.

Sau đó là Cuba. Vào lúc này, cuộc truyền giáo còn hơn là sự thăm viếng thuộc linh tự phát trong một vài nước và trở thành như là một khuôn mẫu.

Những buổi nhóm này đã được loan báo trước khắp thế giới.

Nhưng nghi thức trong nhà thờ quá mạnh. Những vị Mục sư có thiện chí đã bắt đầu an ủi chúng tôi và chuẩn bị chúng tôi để đối phó với sự thất bại không thể tránh khỏi. Người ta bảo chúng tôi rằng đừng hy vọng rằng những điều như vậy sẽ xảy ra ở mọi nơi.

Có một số người bảo chúng tôi rằng đôi khi Đức Chúa Trời đã dự định trước những sự kiện lớn này nhưng đó không phải là một khuôn mẫu.

Người ta bảo với chúng tôi hãy chuẩn bị để gặt lấy sự thất bại cũng như thành công, vì đó sẽ là cách của Đức Chúa Trời kẻo e chúng tôi trở nên kiêu ngạo chăng.

Tất cả những điều này chúng tôi nghe có vẻ nghi thức quá và chúng tôi không chấp nhận lời nói của họ. Chúng tôi tin chắc rằng đại mạng lệnh truyền giáo của Chúa Jesus là dành cho "mọi dân tộc, mọi người ". Ngài hứa rằng những dấu lạ này sẽ đến với "kẻ nào tin " và không hề đề cập đến một ngoại lệ nào "cho đến đầu cùng đất ".

Chúng tôi tin rằng mọi dân tộc trong mọi quốc gia trên cả thế giới này sẽ tin khi họ thấy phép lạ. Đối với chúng tôi dường như có một sự logic rằng "Nếu chúng tôi rao giảng phúc âm thì Đấng Christ sẽ làm phép lạ để làm cho vững đạo ". Chúng tôi đứng vững trên sự kiện này.

Vì thế chúng tôi không chuẩn bị để thất bại, chúng tôi vẫn không thể thất bại được. Chúng tôi tin là sẽ thành công. Đấng Christ chẳng bao giờ thất bại. Phúc âm chẳng bao giờ thất bại.

Khi chúng tôi đến Cuba, những người lãnh đạo thuộc linh khuyên chúng tôi về sự khôn ngoan để quân bình và kiên nhẫn, rằng ở Cuba chúng tôi không cần thiết phải có một buổi nhóm lớn vì chúng tôi đã kinh nghiệm sự thành công ở Jamaica và Puerto Rico.

Lý luận của họ khẳng định rằng "Jamaica là một quốc gia Cơ đốc có truyền thống rồi. Dĩ nhiên Puerto Rico đã bị Hoa Kỳ ảnh hưởng đến nỗi sự đối kháng tôn giáo không còn ở đó nữa".

Họ nói "nhưng tại Cuba này, người dân phản ứng rất triệt để với truyền thống tôn giáo "Cơ đốc". Có lẽ ở đây không giống ở hai nước kia đâu".

Mặc cho những lời khuyên này, khi tin lành về vương quốc Đức Chúa Trời được rao giảng thì người ta cũng như vậy thôi.

Một kế hoạch tổ chức có hàng trăm lãnh đạo "Cơ đốc" thuộc giáo hội truyền thống đã diễu hành trên đường phố để khuyến giục công chúng chống lại những chiến dịch truyền giáo qui mô của chúng tôi, nhưng kết quả là hàng ngàn người quay về với Chúa và mọi chiến dịch rộng khắp các thành phố ở Cuba đã thành công.

2) Venezuela. Sau đó là đến Venezuela. Tôi vẫn còn nhớ lời khuyên mà chúng tôi nhận được ở đây:

Ồ, ở đây thì khác. Ở Cuba và Puerto Rico, sự đối kháng tôn giáo không nhiều vì người dân đã chịu ảnh hưởng của Hoa Kỳ, nhưng ở đây các ông đang ở trên lục địa Nam Mỹ, các ông có thể bị những người theo giáo hội truyền thống ném đá chết.

Venezuela cũng giống như Cuba. Vô số người tin Chúa. Hàng ngàn người được cứu, không có gì khác cả.

3) Nhật Bản. Sau đó chúng tôi đến Nhật. Khi người ta hay tin là chúng tôi sẽ đi, nhiều lá thư đã bay đến: "Xin đừng đến đây. Nhật Bản khó lắm. Phép lạ không dành cho đất nước này. Nhật Bản chỉ tìm kiếm sự khai sáng về học thuật thôi. Họ xem tổ tiên họ là nguồn linh thiêng.

Nhiều tôn giáo của họ cũng có sự chữa lành nữa. Chúng tôi là các Cơ đốc nhân không muốn tôn giáo của chúng ta đồng nhất với những người chữa bịnh của họ. Mặt khác, phép lạ sẽ chẳng bao giờ thuyết phục được người Nhật về Chúa Jesus đâu".

Những người khác thì nói: "Nhật Bản là nước theo Phật giáo và Shinto giáo. Các ông không quen giảng đạo cho họ. Người dân ở Tây bán cầu rất dễ đến. Họ đã tin Kinh Thánh rồi. Họ tin Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời, rằng huyết Ngài đã đổ ra vì tội lỗi của họ, còn người Nhật thì chẳng bao giờ tin điều này. Các ông sẽ thấy ở đây không giống như vậy. Người dân ở đây không có tình cảm. Họ sẽ không hưởng ứng đâu".

Khuôn mẫu thành công trong các chiến dịch của chúng tôi dường như tạo ra một sự đe dọa cho nền tảng của hội thánh truyền thống ở Nhật Bản mà đã từng tỏ ra là không có hiệu quả.

Vào thời đó người ta không hề biết đến việc đi đến một quốc gia, giảng đạo công khai ở nơi công cộng và gặt hái hàng ngàn linh hồn tội nhân. Những người theo truyền thống nói rằng điều đó chỉ là "cảm xúc". Những người tin Chúa trong những đợt truyền giáo lớn này sẽ không vững vàng.

Các giáo sĩ và những lãnh đạo Hội Thánh trong thế kỷ vừa rồi (thế kỷ 19) chẳng bao giờ làm theo cách đó. Họ đã kiên nhẫn lao khổ trong nhiều năm để cứu lấy một vài người, nhưng họ cho rằng những người tin Chúa của họ vững vàng, đã được chọn lọc kỹ và đúng đắn. Vì vậy nhiều người nghĩ rằng việc truyền giáo lớn chỉ là sự cạn cợt. Điều đó sẽ chẳng bao giờ chịu nổi qua thử thách của thời gian.

Một Mục sư ở Ấn Độ đã nói với tôi "Tôi đã hầu việc Chúa ở đây được năm năm và chưa chinh phục cho Chúa được một linh hồn nào. Đó là cách ở Ấn Độ này. Anh phải học tập kiên nhẫn".

Dường như cần phải có một khuôn mẫu có tính chất cách mạng, theo bản năng, những ý nghĩ theo truyền thống thường chối bỏ bất kỳ điều gì mới sẽ thay thế những chính sách và địa vị được hội thánh thiết lập và chấp nhận một cách đầy đe dọa.

Dường như Đức Chúa Trời muốn bày tỏ cho dân Ngài ở mọi nơi rằng không có một ngoại lệ nào trong việc truyền giảng phúc âm cả. Chúa Jesus muốn tất cả chúng ta đều biết rằng đại mạng lệnh truyền giáo của Ngài luôn có hiệu lực ở bất cứ nơi nào mà phúc âm được giảng ra bằng đức tin sống và trong sự vâng lời.

Không phải tất cả những lãnh đạo Hội Thánh ở Nhật Bản đều bi quan và tiêu cực cả đâu. Một số người đã viết thư cho chúng tôi: "Hãy đến và giúp đỡ chúng tôi với. Những quan điểm thần học hiện đại về Đấng Christ chẳng bao giờ cứu được người Nhật cả. Họ phải thấy phép lạ".

Tôi nhớ lại lập luận của một Mục sư Báptít đã viết rằng "Nhật Bản đầy dẫy những tà giáo chữa bịnh dỏm. Người Nhật phải nhìn thấy điều thật. Hội Thánh hiện nay của chúng tôi thiếu nhiều quyền năng phép lạ. Xin hãy đến giúp chúng tôi. Các bạn có những điều mà chúng tôi cần để chinh phục dân tộc đông đảo này".

Chúng tôi chấp nhận sự thách thức và Nhật Bản cũng giống như Jamaica,Cuba và Venezuela. Khi họ thấy phép lạ, người Nhật đã thét lên, khóc lóc và ăn năn còn hơn những nơi mà chúng tôi đã chứng kiến.

Chúng tôi đã đến trung tâm lịch sử và tôn giáo của Nhật Bản là Kyoto. Ở đó trên một cánh đồng rộng gần khu trung tâm, hàng ngàn người đã nghe tin lành. Bốn mươi bốn người điếc và câm đã được chữa lành trong một chiến dịch. Nhiều phép lạ đã xảy ra.

Những người Shinto giáo và Phật giáo đã hành động giống như người Jamaica và Cuba. Hàng ngàn người tin Chúa. Người Nhật cũng đã hưởng ứng với tin lành giống như bất kỳ một dân tộc nào.

4) Thái Lan. Chúng tôi đến Thái Lan, là một vương quốc phật giáo rất mạnh ở Đông Nam Á. Một số người đã nói "Ở đây sẽ không giống như ở Nhật đâu. Người phật giáo Nhật Bản đã chịu ảnh hưởng bởi sự chiếm đóng thời hậu chiến tranh. Người Nhật có thiện cảm với người Mỹ, nhưng ở Thái Lan chúng ta đang gặp những người phật giáo theo kiểu cũ đấy. Họ chẳng bao giờ bị một thế lực ngoại quốc nào cai trị cả. Họ sẽ không nghe người ngoại quốc đâu".

Khi chúng tôi mới hầu việc Chúa ở Thái Lan, chưa đến mười hai người trong cả nước được báptêm bằng Thánh Linh. Ngay cả những người lãnh đạo được báptêm bằng Thánh Linh này cũng không sốt sắng rao giảng phúc âm ở những nơi công cộng. Vì điều này vi phạm nền văn hóa của Thái.

Phương pháp rao giảng như thế dường như quá khiêu khích đối với bất kỳ cộng đồng người Thái nào. Họ là một dân tộc trầm tĩnh và nhạy bén. Bất kỳ phương pháp truyền giáo nào dành cho họ cũng nên đi theo đặc điểm truyền thống của họ.

Không cần phải nói, khi người Thái nhìn thấy phép lạ người mù được thấy, người què được đi, người phung được sạch, người điếc được nghe, thì họ đã đáp ứng với tin lành còn khác hơn cả người Nhật, người Venezuela, người Cuba, người Puerto Rico hoặc người Jamaica. Họ tiếp nhận Đấng Christ hằng sống và hăng hái theo Ngài.

Ngày nay có hàng triệu Cơ đốc nhân đầy dẫy Thánh Linh trên khắp Thái Lan. Những chức vụ chinh phục linh hồn tội nhân đã nuôi nấng họ, gây dựng những Hội Thánh lớn, mạnh mẽ.

5) Indonesia. Lần đầu tiên chúng tôi hầu việc Chúa ở Java, Indonesia thì 95% dân số nước này theo đạo Hồi. Chúng ta đều biết rằng hồi giáo là những nơi rất khó đến. Họ không tin Chúa Jesus là Con của Đức Chúa Trời và không tin Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại.

Chúng tôi nhớ hồi ở Ấn Độ, chúng tôi đã thuyết phục họ cách tuyệt vọng làm sao. Tuy nhiên chúng tôi đến thủ đô của đảo Java thì mọi điều đã khác hẳn. Chúng tôi biết làm thế nào để họ tin phép lạ.

Đêm đầu tiên tôi rao giảng cho vô số người, tôi đã làm một điều bất thường vào cuối bài giảng. Tôi bảo họ rằng tôi không muốn họ tiếp nhận Chúa Jesus Christ trừ khi Ngài phải tự chứng tỏ Ngài là Đấng sống bằng những phép lạ không thể chối cãi được. Tôi bày tỏ ý nghĩ của tôi rằng nếu Đấng Christ chết thì Ngài không thể làm điều gì tốt cho họ cả.

Tôi nhấn mạnh rằng Đức Chúa Jesus Christ đã được xác nhận là Con của Đức Chúa Trời bởi những phép lạ cách đây 2.000 năm và nếu hôm nay Ngài còn sống thì Đức Chúa Trời sẽ xác nhận điều đó bằng cách làm những phép lạ không thể chối cãi được trong sự hiện diện của họ.

Họ biết về một nhân vật Jesus theo lịch sử. Họ đã từng nghe rằng Ngài là một người tốt, thậm chí là một tiên tri có quyền năng chữa lành để làm các phép lạ. Họ biết Ngài bị đóng đinh và họ cũng tin chắc rằng sự giảng dạy của người Cơ đốc về sự phục sinh của Ngài là giả dối.

Chỉ có một sứ điệp dành cho người Hồi giáo là: Nếu Đức Chúa Jesus Christ còn sống thì hãy để Ngài làm những phép lạ mà Ngài đã làm trước khi Ngài bị giết. Nếu Ngài đã chết, Ngài không thể làm được. Nếu Ngài đã sống lại, Ngài sẽ làm.

Tôi mời những người điếc. Tôi bảo họ rằng tôi sẽ nhơn danh Chúa Jesus mà cầu nguyện cho họ. Nếu Đấng Christ đã chết thì danh Ngài chẳng có quyền năng gì cả. Nếu Ngài đang sống, Ngài sẽ làm giống như Ngài đã từng làm trước khi chịu chết trên thập tự giá.

Người đầu tiên chịu cầu nguyện là một tu sĩ hồi giáo khoảng năm mươi lăm tuổi. Ông ta đội một chiếc mũ đuôi sam màu đen, chứng tỏ rằng ông đã từng hành hương đến thành phố Mecca thiêng liêng của Hồi giáo ở Ảrập. Ông có một lỗ tai bị điếc hoàn toàn từ lúc mới sinh và chẳng nghe được một âm thanh nào ở lỗ tai đó cả.

Tôi làm chứng với ông về Chúa Jesus Christ và bảo với ông là tôi sẽ cầu nguyện như thế nào. Tôi giải thích rằng Đức Chúa Trời đang nhìn xem chúng ta. Tôi làm chứng với ông rằng Đức Chúa Trời đã khiến Chúa Jesus từ kẻ chết sống lại. Tôi giải thích rằng Đức Chúa Trời muốn mọi người biết rằng Đấng Christ đang còn sống, do đó Ngài sẽ đưa ra bằng chứng về sự phục sinh của Chúa Jesus bằng cách làm phép lạ này.

Sau đó tôi nói với mọi người: "Nếu người đàn ông này không nghe được sau khi tôi cầu nguyện xong thì quí vị có thể nói rằng tôi là một người rao giảng giả dối và Chúa Jesus đã chết rồi. Nhưng nếu người này nghe được, quí vị phải biết rằng Đấng Christ đã sống lại, vì Đấng Christ chết thì không thể làm một phép lạ như thế".

Tôi nhìn ông ta và nói "Chúng con biết rằng Đức Chúa Jesus Christ là Con của Đức Chúa Trời và Ngài đã khiến Chúa Giêxu từ kẻ chết sống lại, chỉ bởi huyết Ngài đã đổ ra mà chúng con mới có thể đến với Đức Chúa Trời để nhận sự sống đời đời theo lời Kinh Thánh, Ngài cho chúng con biết điều đó bằng cách làm cho người điếc này nghe được. Nhơn danh Chúa Jesus Christ. Amen".

Toàn thể đám đông đã sững sốt khi vị tu sĩ hồi giáo này có thể nghe được những tiếng thì thầm nhỏ nhất và ngay cả tiếng gõ nhịp của chiếc đồng hồ đeo tay.

Tối hôm đó, hàng ngàn người đã đưa tay lên để bày tỏ rằng họ muốn tiếp nhận Đức Chúa Jesus Christ làm Cứu Chúa của họ. Điều này thật khác với sự lúng túng mà chúng tôi phải chịu khi cố gắng thuyết phục những người hồi giáo ở Ấn Độ cách đây bảy năm.

Những người hồi giáo cũng giống như những người Nhật Bản. Khi họ thấy được bằng chứng của tin lành rằng Chúa Jesus Christ hiện đang sống thì họ tin.

Cơ đốc giáo mà không có phép lạ thì không thể chứng minh rằng Chúa Jesus còn sống. Nếu cất phép lạ ra khỏi Cơ đốc giáo thì những gì bạn còn lại chỉ là một tôn giáo không có sự sống như bao tôn giáo khác.

Người Hồi giáo biết tiên tri Mohammed của họ đã chết nhưng chúng ta biết Cứu Chúa Jesus của chúng ta vẫn còn sống. Khi điều đó được phép lạ chứng minh thì người ta sẽ bỏ vị tiên tri đã chết của họ và đi theo Đấng đang sống. Không có phép lạ thì không có bằng cớ.

Đây là lý do tại sao Chúa Jesus ra lệnh cho mỗi tín đồ phải rao giảng khắp thế giới và Ngài còn hứa rằng những dấu lạ sẽ cặp theo "trong muôn dân... cho đến khi tận thế". Ngài biết rằng luôn phải cần đến phép lạ để chứng tỏ một cách thực sự với thế giới này rằng Chúa Jesus vẫn còn sống.

Khi chúng tôi còn là những giáo sĩ trẻ ở Ấn Độ, những người Hồi giáo đã thách thức chúng tôi rằng: "Hãy chứng minh rằng Đấng Christ của anh còn sống đi".

Chúng tôi đã tuyệt vọng và lúng túng. Chúng tôi phải rời khỏi Ấn Độ, hoặc chấp nhận hiện trạng mà người ta đã tin rằng "đức tin và kiên nhẫn mà vẫn không kết quả". Chúng tôi không thể tự mình làm điều đó.

Nhưng ở Indonesia thì khác.

Một buổi tối nọ trong một chiến dịch truyền giảng lớn, một tu sĩ Hồi giáo trẻ, rất cuồng đạo, giận dữ bước lên những bậc tam cấp để ngăn tôi lại khi tôi đang giảng. Daisy, vợ tôi, phát hiện ra ông ấy đang đi đến và ngăn ông ấy lại ở bậc tam cấp.

Ông ta nói: "người đàn ông này nói dối. Jesus đã chết rồi. Ông ấy không phải là Con Đức Chúa Trời. Hãy để tôi nói với dân chúng về Mahommed, vị tiên tri thật của Đức Chúa Trời".

Vợ tôi cố giải thích với ông ta nhưng ông ta quá kích động.

Cuối cùng vợ tôi bảo "Ông hãy nghe đây. Tôi là một Cơ đốc nhân và đây là điều tôi sẽ làm. Tôi sẽ ngắt lời chồng tôi với một điều kiện: ông và tôi phải cùng đi đến chỗ micro. Chúng ta không tranh luận. Chúng ta phải chứng minh được vị tiên tri nào là thật và đang sống bằng cách mời một người điếc hoàn toàn bước lên.

Ông cầu nguyện cho người đó trước mặt dân chúng và nhơn danh Mohammed. Nếu ông làm được, chúng tôi sẽ tin ở vị tiên tri của ông. Nếu không có phép lạ nào xảy ra, tôi sẽ cầu nguyện cho người ấy nhơn danh Chúa Jesus. Nếu Ngài làm được thì ông và nhân dân của ông phải biết rằng những gì Kinh Thánh đã nói về Đấng Christ là thật, rằng Ngài là Con Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại để làm Cứu Chúa của thế gian".

Vị tu sĩ hồi giáo trẻ đó đã từ chối lời thách thức của vợ tôi, bỏ đi trong tức giận.

Đây là điều chúng tôi đã không làm được ở Ấn Độ khi còn là những giáo sĩ trẻ.

6) Bắc Ấn Độ. Cuối cùng chúng tôi đã kinh nghiệm được niềm vui khi quay lại Bắc Ấn Độ sau mười bốn năm, đến đúng thành phố mà chúng tôi đã thất bại thảm hại. Chúng tôi đã quay lại trường đại học của thành phố Lucknow nơi chúng tôi đã không thể chứng minh cho người Ấn Độ giáo và Hồi giáo biết rằng Đức Chúa Jesus Christ là Đấng sống, là Con Đức Chúa Trời đã phục sinh, là Cứu Chúa của thế gian.

Lần này chúng tôi đã khác hẳn! Có 20.000 đến 40.000 người tập trung trước sân vận động lớn.

Chúng tôi giảng rằng: "Đức Chúa Jesus Christ hôm qua, ngày nay và cho đến đời đời không hề thay đổi " (Hêb 18:8). Sau đó chúng tôi cầu nguyện. Người điếc được nghe. Người què được đi. Người mù được thấy. Người phung được sạch. Hàng ngàn người đã tiếp nhận Chúa.

Chúa Jesus bày tỏ chính Ngài cho người Ấn Độ qua chúng tôi. Sự tìm kiếm Lẽ thật của chúng tôi đã được trả giá. Đây là cách mà sự truyền giáo thế giới phải tiến hành.

"Ngài lấy nhiều chứng cớ tỏ ra mình là sống " (Công 1:3).

Một thanh niên thuộc Ấn giáo là sinh viên đại học, đứng lên giữa đám đông nhạo báng đủ điều. Khi chúng tôi cầu nguyện, đột nhiên Chúa Jesus hiện ra với anh ta, mặc áo điều. Ngài giơ đôi bàn tay bị đinh đóng ra và nói: "Hãy nhìn xem tay ta đây. Ta là Jesus ".

Người thanh niên té xuống đất, khóc lóc, ăn năn, nức nở. Sau đó anh ta chạy đến chỗ micro với khuôn mặt đầy nước mắt, anh kể lại những gì mình đã thấy và giục giã đồng bào mình tin Chúa.

Thật khác làm sao so với những buổi nhóm của chúng tôi cách đây mười bốn năm! Với phép lạ thì Ấn Độ cũng giống như những quốc gia khác.

7) Châu Phi. Sau đó chúng tôi đến Châu Phi. Ở đó chúng tôi cũng chứng minh với dân chúng như đã làm ở mọi nơi.

Một người ăn xin Hồi giáo ở Châu Phi bị què vì bịnh sốt bại liệt, đã bò trên mặt đất trong mười ba năm. Ông đã bò lê trong sự dơ bẩn cho đến khi đến được chỗ truyền giảng. Ông ta lắng nghe tin lành và khi ông ta tin Chúa Jesus Christ thì được chữa lành ngay.

Ông chen qua đám đông và bước lên phía trên và làm chứng cho dân chúng về phép lạ ông đã nhận được.

Khi ông đứng trên diễn đàn, nước mắt ràn rụa và la lên rằng: "Đức Chúa Jesus Christ đang còn sống, nếu không làm thế nào Ngài có thể chữa lành cho tôi được? Mohammed đã chết nhưng Chúa Jesus vẫn còn sống. Hãy nhìn xem tôi đây. Quí vị đã biết tôi. Tôi đã ăn xin trên các đường phố của quí vị. Bây giờ tôi có thể đi được. Hãy nhìn đây! Chúa Jesus đang sống!".

Có bài giảng nào hay hơn bài giảng này chăng? Điều đó giống như sách Công vụ đang được tái lập ngày hôm nay.

Chúng tôi thấy rằng người ta khắp trên thế giới này rất cần Đấng Christ. Họ tìm kiếm thực tế và tin khi họ có bằng chứng rằng Chúa Jesus đang còn sống và rất thực tế.

Đức Chúa Trời dựng nên toàn thể nhân loại giống như nhau. Con người được tạo nên để bước đi với Đức Chúa Trời. Theo bản năng, họ đang tìm kiếm Ngài. Đây là lý do tại sao mọi chi tộc chưa được nghe truyền giáo đều làm theo một nghi thức tôn giáo nào đó để tìm kiếm Đức Chúa Trời.

Bằng những lời nói thẳng thắn và đơn giản, không cần phải giải thích mà chỉ tuyên bố, phúc âm chính "là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin " (Rô 1:16).

Con người đang cần phúc âm. Và nhiệm vụ của chúng ta là rao giảng làm chứng và công bố phúc âm ở mọi nơi, cho những đám đông hoặc cho những cá nhân, ở nơi công cộng hoặc tại nhà riêng. Người ta đang cần những gì mà chúng ta có. Chúng ta làm chứng điều này cho cả thế giới. Đây là lý do tại sao chúng ta trở thành những người chinh phục linh hồn - bởi vì những gì chúng ta đã chứng kiến.