Get Adobe Flash player
Tham Khảo Cây Gậy Của Người Chăn Bầy BA PHẦN CỦA HỘI THÁNH E4.2 TẠI SAO CHÚNG TA PHẢI TRUYỀN GIÁO

Chương 2: TẠI SAO CHÚNG TA PHẢI TRUYỀN GIÁO

A. BẢY LÝ DO PHẢI CHINH PHỤC LINH HỒN TỘI NHÂN

1. Vì Chúa Jesus Là Đấng Chinh Phục Linh Hồn Tội Nhân

"Đức Chúa Jesus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy. .." (ITi 1:15).

"Vì Con người đã đến tìm và cứu kẻ bị hư mất " (Lu 19:10).

a. Chúa Jesus Đến Để Cứu Mọi Người.

Chúa Jesus đã đến để cứu con người. Đó là nhiệm vụ của Ngài. Nhóm người đầu tiên mà Chúa Jesus đã chọn để đi theo Ngài đã chấp nhận lời thách thức này:

"Hãy theo ta. Ta sẽ khiến các ngươi trở nên tay đánh lưới người " (Mat 4:19).

Nhóm người cuối cùng đã theo Ngài đến khi Ngài về trời cũng đã nhận mạng lệnh này:

"Vậy hãy đi môn đồ hóa muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh mà làm phép báptêm cho họ và dạy họ giữ hết mọi điều mà ta đã dạy cho các ngươi. .." (28:19, 20).

"Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giêrusalem, cả xứ Giuđê, xứ Samari, cho đến cùng trái đất " (Công 1:8).

Từ Cơ đốc nhân (Christian) có nghĩa là giống như Đấng Christ. Đấng Christ đã đến để cứu con người, để tìm kiếm người bị hư mất. Vì vậy nếu chúng ta giống Đấng Christ, chúng ta cũng phải đi cứu người.

b. Ngài Đã Đến Chỗ Người Ta Ở.

Chúa Jesus đem sứ điệp của Ngài đến với con người. Ngài đến bất cứ nơi nào có người ở, nơi chợ, trên góc đường, ở triền núi, bên bờ biển và trong gia đình.

Ngài đã bị những nhà lãnh đạo tôn giáo chỉ trích vì đã hòa mình với mọi người tại nơi họ đang sinh sống. "Người này tiếp những kẻ có tội và ăn với họ " (Lu 15:2).

Ngài khích lệ chúng ta hãy "ra ngoài đường và dọc hàng rào, gặp ai thì ép mời vào, cho được đầy nhà ta " (14:33).

Ngài chẳng bao giờ nói rằng "Hãy đi xây dựng một nhà thờ và cầu xin Đức Chúa Trời sai người ta đến". Ngài phán "... Hãy đi ra ngoài đường và làm cho đầy nhà ta ".

Sau khi Chúa về trời, các môn đồ của Ngài đã làm giống như Ngài. Họ rất bận rộn làm chứng ở chợ, trên đường phố, tại nhà, quanh những giếng nước công cộng, nói, phân tích, làm chứng, thuyết phục, rao giảng, chinh phục linh hồn người khác, thúc giục người ta tin nhận phúc âm - như Chúa Jesus đã làm.

Kinh Thánh chép "Ngày nào cũng vậy, tại trong đền thờ hoặc từng nhà, sư đồ cứ dạy dỗ, rao truyền mãi về tin lành của Đức Chúa Jesus, tức là Đấng Christ " (Công 5:42).

Hãy để một ít phút xem qua lời Chúa mỗi ngày trong thời kỳ Tân Ước của các bạn. Trong khi các Hội Thánh hiếm khi có hơn hai hay ba buổi nhóm trong tuần thì các sòng bạc, các rạp cinema, các quán rượu, các nơi vui chơi, các vũ trường lại bận rộn mỗi ngày.

Các Cơ đốc nhân thời Tân Ước hàng ngày ở trong đền thờ hoặc trong mỗi nhà, dạy dỗ và rao giảng về Đức Chúa Jesus Christ.

c. Ngài Phán "Hãy Đi Ra Và Cứu Họ".

Chúng ta hãy cầu nguyện cho mọi người đều được cứu. Chúa Jesus phán "Hãy ra đi và cứu họ ". Họ sẽ bị hư mất nếu chúng ta chỉ cầu nguyện mà thôi.

"Ngài đã làm cho chúng ta nhờ Đấng Christ mà được hòa thuận lại cùng Ngài, và đã giao chức vụ giảng hòa cho chúng ta. Vì Đức Chúa Trời ở trong Đấng Christ, làm cho thế gian hòa lại với Ngài, chẳng kể tội lỗi cho loài người và đã phó đạo giảng hòa cho chúng tôi " (IICôr 5:18-19).

Đức Chúa Trời ban cho chúng ta chức vụ và lời giảng hòa để chúng ta làm cho con người được hòa thuận lại với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã làm tất cả những gì Ngài có thể làm được "đến nỗi đã ban Con Ngài hầu cho hễ ai tin Con ấy, không bị hư mất mà được sự sống đời đời " (Giăng 3:16).

Đấng Christ đã làm tất cả những gì Ngài có thể làm được. "Và bởi huyết Ngài trên thập tự giá thì đã làm nên hòa bình, khiến mọi vật. .. hòa thuận cùng chính mình Đức Chúa Trời " (Cô 1:20). Bây giờ Ngài ra lệnh cho chúng ta phải nói về tin mừng này cho tất cả các dân tộc ở mọi nơi "Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu. Nhưng họ chưa tin Ngài thì kêu cầu sao được? Chưa nghe nói về Ngài thì làm thể nào mà tin? Nếu chẳng ai rao giảng thì nghe làm sao? " (Rô 10:13, 14).

Phần của chúng ta là nói với mọi người để họ biết tin mừng về những gì mà Cha trên trời và Con Ngài đã làm để cứu chúng ta.

Tất cả chúng ta phải là những người chinh phục tội nhân vì Chúa Jesus đã làm như vậy.

2. Vì Mùa Gặt Thì Lớn

"Ngài bèn phán cùng môn đồ rằng: Mùa gặt thì thật trúng song con gặt thì ít " (Mat 9:37).

"... Khi Ngài thấy những đám dân đông thì động lòng thương xót, vì họ cùng khốn, và tan lạc như chiên không có người chăn " (9:36).

a. Chúa Jesus Sai Con Gặt Vào Cánh Đồng Mùa Gặt.

Khi Chúa Jesus nghĩ về đoàn dân đông đang có nhu cầu này thì Ngài đã làm gì? Ngài đã gọi mười hai sứ đồ, ban cho họ quyền năng đuổi quỉ, chữa lành người bệnh và sai họ đi ra để giúp gặt hái vụ mùa này.

Vì mùa gặt thì lớn nên Ngài cũng chọn bảy mươi người khác (Lu 10:1-3). Ngài phán với họ rằng "Này ta sẽ ban quyền cho các ngươi giày đạp rắn, bò cạp, và mọi quyền của kẻ nghịch dưới chơn, không gì làm hại các ngươi được " (10:19).

Đức Chúa Jesus đã làm một điều gì đó cho mùa gặt đã chín này. Ngài không chỉ ngồi đó để nhìn và cầu nguyện, Ngài đã sai các con gặt vào cánh đồng mùa gặt.

Chúng ta cũng phải động lòng thương xót những người chưa được nghe nói về phúc âm. Nếu chúng ta là những người "giống như Đấng Christ", chúng ta sẽ phải làm một điều gì đó để chia xẻ phúc âm cho họ.

b. Chúng Ta Phải Đi Ra.

Chinh phục linh hồn tội nhân phải được thực hiện nơi họ đang sống, đang làm việc và vui chơi. Điều này rất quan trọng nên chúng tôi nhấn mạnh lại nguyên tắc căn bản này trong việc chinh phục linh hồn tội nhân.

Chúng ta không đi câu cá trong bồn tắm. Nếu chúng ta muốn bắt được cá thì phải giăng lưới xuống biển hoặc hồ. Chúng ta cài mồi vào móc câu rồi ném xuống sông hoặc suối. Ở đó mới có cá.

Chúng ta gặt lúa trong cánh đồng nơi những gié lúa đã chín và đang sẵn sàng chờ gặt. Chúng ta khó mà chinh phục linh hồn người khác bằng cách chỉ ở trong nhà thờ.

Để gặt hái được những người chưa tin Chúa, chúng ta phải đem lời chứng của chúng ta ra khỏi nhà thờ, đến nơi phố chợ, đường phố, lao tù, bệnh viện, trong gia đình và giữa vòng họ. Đây là sự truyền giáo.

Người Ấn giáo không đến nhà thờ. Người Hồi giáo không đến giáo đường Cơ đốc. Người theo đạo thờ các thần và Phật giáo không tham dự những buổi thờ phượng của Cơ đốc nhân. Những người không thích nhà thờ sẽ không đến nhà thờ.

Chúng ta phải đi ra "... ngoài đường và dọc hàng rào. .. để mời họ vào cho đầy nhà ta " (14:23).

Có một yếu tố khẩn cấp khi mùa gặt đến. Nếu không gặt nhanh thì mùa gặt sẽ hư hết.

Bão có thể đến và làm hư hại lúa. Nếu không gặt nhanh thì hột lúa sẽ nẩy mầm và hư hết.

Phaolô đã thúc giục người khác về sự cấp bách: "Hỡi anh em, vậy thì tôi bảo này: thì giờ là ngắn ngủi " (ICôr 7:29).

Nếu chúng ta thật sự muốn gặt vụ mùa của thế hệ này thì bí quyết là phải khám phá lại sự khẩn cấp, sự say mê và lòng sốt sắng của Hội Thánh đầu tiên. Những Cơ đốc nhân đó đã đến các thành phố và làng mạc để chinh phục những người hư mất, thậm chí có khi còn nguy hiểm đến tính mạng của họ nữa. Đây là những con người giống như Đấng Christ, là Cơ đốc giáo thật sự.

c. Hãy Động Viên Việc Truyền Giáo.

Là lãnh đạo Hội Thánh, trách nhiệm của bạn là phải bắt đầu tiến trình cầu nguyện, động viên và đặt kế hoạch cho việc cứu người. Thứ tự trong chức vụ của Chúa Jesus là:

1) Thấy - Chúa Jesus nhìn thấy mùa gặt và động lòng thương xót.

2) Cầu Nguyện - Sau đó Ngài đi cầu nguyện như là phương cách để giải quyết vấn đề con gặt cho mùa gặt. "Trong lúc đó Chúa Jesus đi lên núi để cầu nguyện và thức thâu đêm cầu nguyện với Đức Chúa Trời " (Lu 6:12).

3) Lựa Chọn - Sau khi cầu nguyện, Ngài đã chọn được những con gặt - Mười hai sứ đồ và bảy mươi môn đồ - Ngài đã huấn luyện và trang bị cho họ để đi ra và gặt vụ mùa.

Ngài thấy - Bây giờ Ngài muốn chúng ta thấy "... Này, hãy nhướng mắt lên mà xem đồng ruộng đã vàng sẵn cho mùa gặt " (Giăng 4:35).

Ngài cầu nguyện - Bây giờ Ngài muốn chúng ta cầu nguyện. Các bạn "hãy cầu xin chủ mùa gặt sai con gặt đến trong mùa của mình " (Lu 10:2).

Ngài chọn - Bây giờ Ngài muốn chúng ta chọn. "Vậy anh em hãy chọn những người. .. đầy dẫy Thánh Linh. .. rồi chúng ta sẽ giao việc này cho " (Công 6:3).

Kế hoạch hành động đơn giản này - Thấy, Cầu Nguyện, Chọn - thì sẽ bắt đầu tiến trình thu hoạch.

Phương châm của chúng tôi là: Mỗi Cơ đốc nhân là một chứng nhân!

Nhiệm vụ của chúng tôi là: đến nơi họ sống.

Đây là lý do thứ hai mà chúng tôi trở thành những người chinh phục tội nhân: Mùa gặt thật sự là rất lớn!

3. Song Con Gặt Thì Ít

"Đoạn, tôi nghe tiếng Chúa phán rằng: Ta sẽ sai ai đi? Ai sẽ đi cho chúng ta? Tôi thưa rằng: Có tôi đây, xin hãy sai tôi " (Ês 6:8).

a. Hàng Tỉ Người Cần Được Nghe.

Dân số trên thế giới này đang gia tăng ở mức độ trên 70.000.000 (70 triệu) người mỗi năm. Chưa tới 3.000.000 người (4%) trong số này được nghe phúc âm.

Khoảng 40% dân số thế giới (2.000.000.000 - hai tỉ) nằm ngoài sự truyền bá phúc âm. Đây là những người mà lẽ ra các nhóm Hội Thánh độc lập phải chia xẻ phúc âm cho họ.

b. Họ Sẽ Bị Hư Mất Nếu Không Có Đấng Christ.

Những người này sẽ chẳng bao giờ được nghe về phúc âm nếu bạn không có một hành động nào để chấm dứt tình trạng "đói khát về Lời Đức Chúa Trời " này (Amốt 8:11). Động viên và huấn luyện những người chinh phục tội nhân đi đến nơi những tội nhân đang sinh sống là giải pháp duy nhất cho nan đề này.

Hàng ngàn thị trấn và làng mạc ở khắp Trung Hoa và Ấn Độ không hề có một người nào nói về Đấng Christ. Những người đó sống và chết mà không có Đấng Christ, Không phải vì họ từ bỏ Ngài nhưng vì trong suốt 2.000 năm qua, không có một Cơ đốc nhân nào đi đến đó để chia xẻ với họ về phúc âm tình yêu của Ngài.

Không tới 1/500 những lãnh đạo Hội Thánh đã hiến dâng cuộc đời họ để đến với những dân tộc chưa được cứu này. Chúng ta cần phải có sự tái cam kết với những nguyên tắc mà chính sứ đồ Phaolô đã công nhận: "Nhưng tôi lấy làm vinh mà rao tin lành ở nơi nào danh Đấng Christ chưa được truyền ra để cho khỏi lập trên nền người khác " (Rô 15:20).

Phaolô luôn muốn "rao giảng tin lành ở những vùng xa " (IICôr 10:16) đến những nơi mà người ta chưa hề nghe về Đấng Christ. Phierơ cũng hiểu rằng: "Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn " (IIPhi 3:9). Ý chỉ của Đức Chúa Trời là KHÔNG MUỐN mọi người chết mất. Họ chết mất vì chúng ta không đem tin lành đến cho họ.

Không gì lạ khi Phaolô rất thiết tha với điều này. Ông nói "Hãy tỉnh biết, theo cách công bình, và chớ phạm tội vì có người không biết Đức Chúa Trời chút nào, tôi nói vậy để anh em hổ thẹn " (ICôr 15:34).

Có ba điểm quan trọng:

1) Hội Thánh Ngủ. Người ta hư mất vì Hội Thánh đang ngủ. Sự kêu gọi là "Hãy tỉnh biết theo cách công bình. .."; "Ai ngủ trong lúc mùa gặt là con trai gây cho sỉ nhục " (Châm 10:5).

2) Đó Là Tội Lỗi. Chính TỘI LỖI đã làm cho người ta không biết về Đức Chúa Trời. Chúng ta được khuyên rằng: "Đừng phạm tội vì một số người đã không biết Đức Chúa Trời chút nào. .."

Đây là tội lơ là, vì "kẻ biết làm điều lành mà không làm là phạm tội " (Gia 4:17).

3) Đó Là Sự Xấu Hổ. Một lý do để xấu hổ (mất mặt) "... Tôi nói điều này để anh em hổ thẹn. ..", "... Ai ngủ trong lúc mùa gặt là con trai gây cho sỉ nhục " (Châm 10:5).

Lời than vãn của những người hư mất thấu đến tận trời "Mùa gặt đã qua, mùa hạ đã đến mà chúng ta chưa được cứu rỗi " (Giê 8:20). Có tình trạng kinh khủng này vì thiếu con gặt. "Hãy cầu xin chủ mùa gặt sai con gặt đến trong mùa mình " (Mat 9:38). Chúng ta là những người chinh phục tội nhân vì con gặt quá ít.

4. Vì Đại Mạng Lệnh Truyền Giáo

"Và Ngài phán với họ rằng: Hãy đi khắp thế gian giảng tin lành cho mọi người " (Mác 16:15).

Mỗi tín đồ đều được giao nhiệm vụ và được kêu gọi "Ấy chính Chúa đã cứu chúng ta, đã gọi chúng ta bởi sự kêu gọi thánh. .. bèn là ý riêng của Ngài chỉ định và theo ân điển. .." (IITi 1:9).

a. Mỗi Tín Đồ Đều Có Một Trách Nhiệm.

"Đại mạng lệnh truyền giáo" là hãy đi và "sự kêu gọi thánh" là làm chứng và phục vụ là uy quyền được Đức Chúa Trời ban cho mỗi tín đồ để hầu việc. Mỗi tín đồ đều có ba chức vụ có tính chất của một thầy tế lễ:

1) Chức vụ đối với Chúa trong sự cầu nguyện, ngợi khen và thờ phượng.

2) Chức vụ đối với nhau trong mối quan hệ yêu thương, trong sự giúp đỡ vật chất và thuộc linh.

3) Chức vụ đối với thế gian (những người chưa tin) bằng sự chữa lành thân thể và tình cảm, đuổi quỉ và nói với họ về tin lành "rằng Đấng Christ chịu chết vì tội chúng ta theo lời Kinh Thánh. Ngài đã bị chôn, đến ngày thứ ba, Ngài sống lại, theo lời Kinh Thánh " (ICôr 15:3, 4).

Khi các tín đồ được dạy làm thế nào để hoàn tất ba chức vụ này thì nhiều người đã bắt đầu thực hiện đặc quyền và trách nhiệm mà Đức Chúa Trời ban cho họ và họ đã nói rằng "Có tôi đây xin hãy sai tôi " (Ês 6:8).

b. Một Đặc Quyền Lớn.

Đấng Christ đã không ban cho chúng ta một đặc quyền nào lớn hơn đặc quyền công bố phúc âm cho mọi người.

Đây là điều mà các Cơ đốc nhân đầu tiên đã làm cả ngày lẫn đêm. Họ đã chữa lành người đau, đuổi quỉ, rao giảng phúc âm từ nhà này sang nhà kia, ở các chợ, các giếng nước trong làng, trên những con đường nhộn nhịp, trên các phố, nơi hội họp, từ các ngục thất, trong hầm tù và khắp mọi nơi.

Họ không có một giáo đường nào hoặc dự định xây những ngôi nhà thờ lớn để làm cản trở niềm vui bùng cháy của chức vụ và chia xẻ Đấng Christ cho những ai đang mòn mỏi chờ đợi tiếp nhận Đấng Christ. Họ đi đến nơi tội nhân đang ở và rao giảng phúc âm.

Chúng ta phải sống vì một mục đích: Chia xẻ phúc âm cho nhiều người bằng mọi phương tiện có được.

Bạn không cần phải là một "Mục sư được phong chức" mới có thể rao giảng phúc âm. Đây là đặc quyền của mọi tín đồ. Cơ đốc nhân không cần phải có một sự kêu gọi đặc biệt để làm những điều mà Đấng Christ đã ủy thác cho họ phải làm trên khắp thế giới này. Họ chỉ cần chấp nhận vinh dự cao trọng đã ban cho họ là trở thành đại sứ cho Đấng Christ.

c. Mọi Tín Đồ Đều Được Giao Nhiệm Vụ.

Vì mọi tín đồ đều được giao nhiệm vụ và được kêu gọi nên không cần phải có một "sự kêu gọi đặc biệt" nào để trở nên người chinh phục tội nhân. Sự dạy dỗ của Chúa Jesus rất rõ ràng: "Sự sáng của các ngươi hãy soi trước mặt người ta. .. Hãy ra ngoài đường và dọc hàng rào, gặp ai thì ép mời vào, cho được đầy nhà ta " (Mat 5:16; Lu 14:23).

Chúa Jesus phán: "... Hãy giảng tin lành cho mọi người ".

Nếu một dân tộc có 95% là Cơ đốc nhân trong khi một dân tộc khác có 95% là những người chưa tin Chúa thì chúng ta nên chọn đến với dân tộc chưa tin Chúa này.

Nếu một cánh đồng lúa chín nhỏ mà có 100 con gặt đang làm việc, trong khi một cánh đồng lớn lại chỉ có một con gặt thì bạn sẽ đến với cánh đồng nào để cứu lúa? Bạn sẽ chọn cánh đồng có nhu cầu lớn nhất và là nơi có ít con gặt nhất.

Nếu có mười người đang nâng một khúc cây, chín người nâng một đầu nhẹ và một người nâng một đầu nặng, thì rõ ràng không có gì khó để phải chọn nên nâng đầu nào.

d. Đức Chúa Trời Sẽ Dẫn Dắt.

Khi bạn thúc giục những tín đồ của bạn cầu nguyện và đi đến những nơi người ta cần nghe về phúc âm thì Thánh Linh của Đức Chúa Trời sẽ bắt đầu dẫn dắt khi họ ra đi. Bạn không thể hướng dẫn một con tàu đang đứng im trên biển. Chính động cơ mới cần cho bánh lái để điều khiển con tàu. Sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời cũng như vậy.

Có một lần, khi Phaolô đang trên đường đến Châu Á thì bị Đức Thánh Linh cấm "... Hai người sửa soạn vào xứ Bithini nhưng Thánh Linh không cho phép. .. Đương đêm, Phaolô thấy một khải tượng ". Trong khải tượng này "một người Maxêđoan đứng trước mặt ông và nài xin ông qua Maxêđoan để giúp họ " (Công 16:6-9).

Đây là loại hướng dẫn mà bạn có thể nhận được nếu tâm linh bạn nhạy bén và tỉnh thức. Phaolô đã là một sứ đồ, một nhà truyền giáo, đang đi khắp thế giới để rao giảng phúc âm. Khi ông đang định đi đến "những vùng xa hơn " thì ông nhận được sự hướng dẫn để đi đến Maxêđoan.

Khi muốn biết nơi nào là mùa gặt thì bạn hãy cầu nguyện như sau: "Lạy Chúa, nếu có bất kỳ một cánh đồng, một khu vực hoặc một quốc gia nào mà Ngài muốn chúng con đến, xin hãy bày tỏ và chúng con sẽ đi. Nhưng nếu Ngài không bày tỏ thì chúng con sẽ chọn cơ hội tốt nhất để gặt cánh đồng kết quả nhất và chúng con sẽ ở đó cho đến khi Ngài hướng dẫn đi đến một nơi khác".

Ngài đã hứa rằng "Nầy ta thường ở cùng các ngươi luôn " (Mat 28:20). Mạng lịnh của Ngài cho chúng ta rất rõ ràng: "Hãy ĐI KHẮP thế gian, giảng tin lành cho MỌI người". Những lời của Chúa phải được thi hành, không phân tích, bàn cãi hoặc biện giải.

Chúng ta là những người chinh phục linh hồn tội nhân vì đại mạng lệnh truyền giáo của Chúa Jesus Christ.

5. Vì Những Lời Tiên Tri Chưa Được Ứng Nghiệm Về Sự Tái Lâm Của Chúa Jesus.

Sự trở lại của Chúa Jesus trên đất này là hy vọng phước hạnh của hàng triệu người trong Hội Thánh bị bắt bớ. Chúng ta ôm ấp hy vọng đó cách vui mừng, vì "nếu chúng ta chỉ có sự trông cậy trong Đấng Christ về đời này mà thôi, thì trong cả mọi người, chúng ta là kẻ khốn nạn hơn hết " (ICôr 15:19). Chúng ta mong chờ sự trở lại của Ngài.

a. Phúc Âm Được Giảng Trên Khắp Thế Giới.

Nhưng hầu hết những người đang dạy điều này đã không làm gì cả để cho ngày trở lại của Ngài mau đến. Thậm chí nhiều người còn giảng rằng chẳng có lời tiên tri nào được ứng nghiệm nhằm ngăn cản sự tái lâm của Chúa.

Chúa Jesus nói về điều này rất rõ. Sẽ có những dấu hiệu rõ ràng trước khi Ngài trở lại thế gian này. Điều quan trọng nhất trong những điều này nằm trong Mat 24:14 "Tin lành về nước Đức Chúa Trời phải được giảng ra khắp đất để làm chứng cho muôn dân, bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến ".

"Quả thật ta nói cùng các ngươi. .. tin lành này sẽ được giảng ra trên khắp thế giới. .." (26:13). "Người ta sẽ nhơn danh Ngài mà rao giảng cho dân các nước sự ăn năn để được tha tội. .." (Lu 24:47). "Các ngươi. .. sẽ là những người tử vì đạo (theo nguyên văn) cho ta ở Giêrusalem, xứ Giuđê, xứ Samari cho đến cùng trái đất " (Công 1:8).

Theo tiếng HyLạp, chữ "các nước" là ethnes nói đến các giống dân. Đặc biệt một giống dân không phải là Do Thái có sự đồng nhất về ngôn ngữ và văn hóa vì vậy làm cho họ khác với bất kỳ giống dân nào khác trên thế giới.

Ấn Độ có trên 2.000 giống dân như vậy. Những giống dân này bao gồm từ những dân tộc nguyên sơ, sống trên cây ở trong rừng rậm vùng núi đông bắc, đến những người Brahmin (thuộc đẳng cấp cao trong đạo Hinđu), sống ở đồng bằng.

Phần lớn những giống dân này chưa bao giờ được nghe về phúc âm tin lành . Phần lớn các dân tộc này đều không có một câu Kinh Thánh nào bằng ngôn ngữ của họ.

b. Các Thánh Đồ Từ Tất Cả Các Dân Tộc.

Sứ đồ Giăng được ban cho một khải tượng tiên tri trong tương lai.

Ông đã thấy quang cảnh trên thiên đàng. "Sự ấy đoạn, tôi nhìn xem, thấy vô số người, không ai đếm được, bởi mọi nước, mọi chi phái, mọi dân tộc, mọi tiếng mà ra. Chúng đứng trước ngôi và trước Chiên con, mặc áo dài trắng, tay cầm nhành chà là. Đó là những kẻ ra khỏi cơn đại nạn, đã giặt và phiếu trắng áo mình trong huyết Chiên con " (Khải 7:9, 14).

Đây là kết quả chung cuộc của thời kỳ Hội Thánh. Hàng triệu người được chuộc không thể đếm được đã tạo nên Hội Thánh này (tiếng HyLạp là ecclecsia, nghĩa là "những người được gọi ra khỏi") đang hầu việc Đức Chúa Trời trước ngôi Ngài đến đời đời.

Lưu ý rằng họ là những người từ mọi giống dân. Họ là những người từ các chi phái và các thứ tiếng.

Nếu hôm nay Chúa Jesus đến thì thời kỳ Hội Thánh sẽ chấm dứt và chúng ta là những người hầu việc Ngài sẽ "được cất lên. .. để gặp Chúa ở không trung. .. và sẽ ở cùng Chúa luôn luôn " (ITê 4:17). Nhưng bởi vì còn hàng ngàn những giống dân chưa được nghe về phúc âm nên Chúa Jesus không thể trở lại hôm nay.

Nếu Chúa Jesus đến trước khi tất cả các "ethnos" nghe phúc âm thì khải tượng mà Giăng thấy không thể là một khải tượng thật. Những người chưa nghe về phúc âm sẽ không được ở thiên đàng.

"Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu. Nhưng họ chưa tin Ngài thì kêu cầu sao được? Chưa nghe nói về Ngài thì làm thể nào mà tin? Nếu chẳng ai rao giảng thì nghe làm sao? Lại nếu chẳng ai được sai đi thì rao giảng thế nào? " (Rô 10:13-15).

Những câu hỏi tỉnh thức này phải được khắc sâu trong lòng chúng ta. Chúng ta phải nhận thấy rằng chúng ta phải làm một điều gì đó để đem Vua Jesus trở lại.

Chúa Jesus có đang hỏi những lãnh đạo Hội Thánh rằng "... Các ngươi là anh em ta, là cốt nhục ta, nhân sao các ngươi là kẻ sau chót đem Vua về? " (IISa 19:12).

c. Rao Giảng Phúc Âm Cho Mọi Người.

Hội Thánh đang làm nhiều điều tốt, nhưng chúng ta đã lơ là nhiệm vụ quan trọng nhất mà Chúa Jesus đã ban cho chúng ta đó là mạng lệnh cuối cùng của Ngài "... giảng phúc âm cho mọi người ". Đây là điều chúng ta vẫn còn BỎ SÓT.

"... Đó là những điều các ngươi phải làm và cũng không nên bỏ sót những điều kia " (Mat 23:23). Ngài sẽ đòi chúng ta lại để tính TẤT CẢ những gì Ngài bảo chúng ta làm.

Hàng triệu người chưa nghe về phúc âm sẽ chết mà CHƯA ĐƯỢC NGHE. Họ vẫn còn chờ đợi những người lãnh đạo ưu tiên thời gian, nhân lực và tiền bạc để họ có được cơ hội đầu tiên nghe nói về Chúa Jesus.

Hội Thánh thì tranh luận về sự đến lần thứ hai của Chúa Jesus trong khi hàng ngàn chi phái, thứ tiếng chưa được nghe về lần đến thứ nhất của Ngài.

Chúng ta cứ nói đến những phước hạnh lần thứ hai trong khi những người bị bỏ quên này chưa bao giờ kinh nghiệm được phước hạnh đầu tiên. Chúng ta đang tranh luận về sự tái đổ đầy của Thánh Linh trong khi những người này chưa hề kinh nghiệm sự đổ đầy đầu tiên.

Điều này có công bằng không? Lẽ nào những người đang đứng ở hàng đầu lại nhận sự tiếp trợ lần thứ hai trong khi những người đói ở hàng cuối chưa nhận được sự tiếp trợ lần thứ nhất?

1) Các Cơ Đốc Nhân Đầu Tiên Được Thúc Giục. Chúng ta phải ăn năn về sự bất tuân này và phải dâng hiến thì giờ, nhân lực và tiền bạc của chúng ta cho sứ mạng đem phúc âm đến với TOÀN thế giới và cho MỌI người.

Quan niệm chinh phục tội nhân để đem Vua trở lại này đã thúc giục các Cơ Đốc nhân đầu tiên đến nỗi họ đã rao giảng phúc âm cho hầu hết thế giới được biết thời đó.

Phúc âm đã vượt biển Địa Trung Hải đến khi Bắc Phi có một số nơi thờ phượng của Cơ Đốc nhân. Bất chấp bão tố, nguy hiểm ở biển cả, những nguy khốn về đi lại thời xưa, những gian khổ có thể xảy ra, họ đã rao giảng phúc âm với lòng dũng cảm vô song.

2) Quyền Lực Tối Tăm Thuộc Linh Kéo Đến. Nhưng sau một trăm năm đầu tiên một điều gì đó đã xảy đến. Thay vì phải lập một bản đồ cho cuộc hành trình của lạc đà từ phía nam của hoang mạc Sahara vào các miền cao nguyên và rừng rậm Châu Phi, hoặc hướng về phía đông vượt qua những rặng núi của lục địa Á Châu, hoặc lên phía bắc đến với các chi tộc Châu Âu vô thần thì họ lại thích gìn giữ những gì họ đã có hơn. Họ đã thôi giục giã nhau đi đến tận cùng trái đất nữa.

Những tranh cãi về giáo lý đã thế chỗ cho chứng đạo cá nhân. Các cuộc hội nghị đã thay thế cho truyền giáo. Những tranh luận về giáo phái và quyền lực chính trị đã trở nên quan trọng hơn việc làm theo lời Chúa dạy.

Họ đã tạo ra những tổ chức tôn giáo và gọi đó là "Hội Thánh". Sự tối tăm thuộc linh bắt đầu ập đến. Đêm dài ảm đạm của một ngàn năm trong thời kỳ đen tối đã bao trùm thế giới.

Chúa Jesus quá yêu thế gian đến nỗi đã chết vì nó thế mà Hội Thánh hâm hẩm đã bỏ thế giới này rơi vào cuộc chinh phục của Mohammed, cuộc tàn phá của thành Cát Tư Hãn và lưỡi gươm vấy máu của Napolêôn.

3) Sự Cầu Nguyện Và Hành Động Của Người Môravi. Cần phải có buổi nhóm cầu nguyện hai mươi bốn giờ một ngày trên một trăm năm để phá vỡ tinh thần thờ ơ chết chóc này khỏi Hội Thánh. Chức vụ cầu nguyện chống lại địa ngục đã bắt đầu cách đây hai trăm năm mươi năm qua sự ảnh hưởng của một hoàng thân xứ Bavaria ít được biết đến tên là Count Van Zinzendorf.

Hội Thánh Môravi mà ông góp phần xây dựng, là Hội Thánh đầu tiên (và là Hội Thánh duy nhất trong nhiều năm) cho ra đời những nhà truyền giáo của thời hiện đại.

Người Môravi đã khẩn thiết cầu nguyện cho những người bị hư mất. Nhưng họ không chỉ cầu nguyện mà còn đem phúc âm đến cho những người hư mất nữa. Họ đã dâng những đứa con ưu tú nhất để trở thành những chiến sĩ trong quân đội của Chúa.

Có hai người trong số này nghe về một hòn đảo ở vùng biển Caribê có 40.000 người Phi Châu bị giữ làm nô lệ trong hoàn cảnh thật tuyệt vọng. Không ai được phép lên đảo trừ khi họ đến đây để làm nô lệ.

Hai người Môravi động lòng thương xót những người nô lệ này. Họ ý thức rằng những người nô lệ này sẽ hư mất trong tội lỗi nếu họ không đem tin lành đến cho họ.

Vì vậy hai người Môravi trẻ này đã tự bán mình làm nô lệ để đến với những người Châu Phi này. Khi họ rời khỏi cảng Hamburg ở Đức, những lời nói cuối cùng của họ còn vọng lại trên những tiếng sóng của đại dương: "Chúng tôi đi để gặt hái cho Chiên Con, phần thưởng về sự hy sinh của Ngài ".

Họ tin rằng họ có thể đem Vua trở lại. Họ tin rằng Chúa Jesus chưa thể trở lại được cho đến khi nào "tin lành về nước Đức Chúa Trời phải được giảng ra khắp đất để làm chứng cho muôn dân ".

4) Học Tập Từ Các Cuộc Cách Mạng Chính Trị. Có bao giờ bạn nghiên cứu xem làm thế nào mà các cuộc cách mạng chính trị lại có thể kiểm soát được cả quốc gia không?

Họ đã cài những người lãnh đạo vào các vùng đồi núi, rừng rậm, đầm lầy và từ đó gây ảnh hưởng trên các dân tộc địa phương ở đó. Họ hứa với các dân tộc đó về trường học, việc làm, sự giàu có (mặc dù ít khi họ giữ lời).

Một khi đã vào được cách vững vàng giữa vòng các dân tộc bị con người lãng quên, là nơi có bệnh tật và nghèo khổ tràn lan, họ bắt đầu tổ chức các nhóm du kích và quấy phá. Trước tiên là những ngôi làng rồi đến các thị trấn và thành phố. Mục tiêu của họ là cả quốc gia.

Những nhà lãnh đạo chính trị vụ lợi này đã đến với những dân tộc bị Hội Thánh lãng quên. Họ đã trả bất cứ giá nào, bất cứ sự hy sinh nào để được sống trong những khu vực khó khăn nhất.

Những sứ giả tin lành thường không được trang bị và khích lệ để đến với những dân tộc này. Nói chung họ không chịu sống trong những vùng như vậy cho nên những dân tộc này đã bị bỏ quên và không biết Đấng Christ.

Ngược lại, những người khởi nghĩa chính trị đã gởi những giáo sư của họ đến sống hoàn toàn với người bản xứ và chịu hy sinh hết mứt, đến ngay cả mạng sống, để tổ chức các dân tộc này thành một lực lượng dân quân để phục vụ cho mục đích của họ.

Điều Hội Thánh không làm thì các cuộc cánh mạng đã làm. Chính những dân tộc bị Hội Thánh lãng quên đã trở nên mãnh đất màu mỡ cho những hạt giống cách mạng và các vụ đổ máu. Do đó họ đã nắm được các dân tộc.

Thế mà nhiều lãnh đạo Cơ đốc đã dạy rằng "... tất cả các dấu hiệu về sự Chúa đến đã được ứng nghiệm. Lạy Chúa Jesus xin mau đến!". Nhưng lời Chúa Jesus đã bác bỏ điều này: "Nhưng trước hết tin lành phải được giảng ra cho khắp muôn dân đã " (Mác 13:10).

Kinh Thánh dạy chúng ta những điều chúng ta phải làm và những gì phải xảy ra trước khi Chúa Jesus trở lại.

"Vậy các ngươi hãy ăn năn và trở lại để cho tội mình được xóa đi hầu cho kỳ thơ thái đến từ Chúa và Chúa sai Đấng Christ đã định cho các ngươi tức là Chúa Jesus.

"Vì Ngài phải Ở LẠI TRÊN TRỜI cho đến kỳ khôi phục cuối cùng muôn vật khỏi tội lỗi. .." (Công 3:19-22 tlb).

Khi chúng ta hoàn thành công việc mà Ngài giao cho chúng ta thì Chúa Jesus sẽ trở lại để tiếp đón Hội Thánh Ngài. Đó là lý do tại sao chúng ta là những người chinh phục linh hồn tội nhân đã đem Vua trở lại.

6. Vì Đức Chúa Trời Sẽ Qui Trách Nhiệm Cho Chúng Ta

Đức Chúa Trời đã cảnh báo các đầy tớ của Ngài rằng họ phải rao truyền sứ điệp mà Ngài đã giao cho họ, đến với những dân tộc mà Ngài sai họ đi. Nếu không họ sẽ gánh chịu trách nhiệm vì đã không làm như vậy.

"Hỡi con người, ta đã lập ngươi lên đặng canh giữ nhà Ysơraên; Khá nghe lời từ miệng ta và thay ta răn bảo chúng nó. Khi ta nói với kẻ dữ rằng: Mầy chắc sẽ chết, nếu ngươi không răn bảo nó, không nói với nó đặng khuyên nó từ bỏ đường xấu để cứu mạng mình, thì người dữ đó sẽ chết trong tội lỗi nó; nhưng ta sẽ đòi huyết nó nơi tay ngươi " (Êxê 3:17, 18).

"Nhưng nếu kẻ canh giữ thấy gươm đến mà không thổi kèn, đến nỗi dân sự chẳng được răn bảo, và gươm đến mà cất sự sống của người này hoặc người kia, thì người đó sẽ chết trong sự gian ác mình, song ta sẽ đòi máu nó lại nơi người canh giữ.

Nầy, hỡi con người, ta đã lập ngươi đặng làm kẻ canh giữ cho nhà Ysơraên, nên hãy nghe lời từ miệng ta và thay ta răn bảo chúng nó. Khi ta phán với kẻ dữ rằng: Hỡi kẻ dữ, mầy chắc chết! Nếu ngươi không răn bảo để cho kẻ dữ xây bỏ đường lối xấu của nó, thì kẻ dữ ấy sẽ chết trong sự gian ác mình, nhưng ta sẽ đòi máu nó nơi tay ngươi " (Êxê 33:6-8).

Một vài giáo sư Kinh Thánh nói rằng lời khuyên bảo này không dành cho Cơ đốc nhân. Họ cứ khăng khăng không có sự tổn hại nào cho các tín đồ cả thậm chí nếu chúng ta không vâng theo mạng lệnh của Chúa về sự rao giảng phúc âm cho MỌI người trên TOÀN thế giới, những giáo sư này cũng không cho rằng điều đó sẽ dẫn đến sự trừng phạt hoặc một hậu quả tiêu cực nào.

a. Phaolô Nhận Thức Được Trách Nhiệm Của Mình

Sứ đồ Phaolô KHÔNG tin điều đó, ông nói "Nên bữa nay tôi nói quyết trước mặt anh em rằng tôi tinh sạch về huyết anh em hết thảy " (Công 20:26).

Tại sao Phaolô dám chắc rằng tay ông không "vấy máu"? Sự vô tội của ông dựa trên việc ông vâng theo đại mạng lệnh truyền giáo của Chúa.

Ông nói "từ ngày tôi mới đến cõi Asi. .. tôi hầu việc Chúa cách khiêm nhường, phải nhiều nước mắt. .. chẳng trễ nãi rao truyền mọi điều lợi ích cho anh em, chẳng giấu điều chi hết, lại biết tôi đã dạy anh em hoặc giữa công chúng hoặc từ nhà này sang nhà kia, giảng cho người Do Thái như cho người HyLạp về sự ăn năn đối với Đức Chúa Trời và đức tin trong Đức Chúa Jesus là Chúa chúng ta " (20:18-21).

Phaolô đã không khiển trách chính mình. Ông xác quyết: "... tôi chẳng hề dám chống cự với sự hiện thấy trên trời " (26:19). Phaolô không có mặt lúc Chúa thăng thiên. Có lẽ nhiều năm sau đó ông mới gặp được Đấng Christ phục sinh. Khi tin Chúa, Phaolô đã nhận sự dạy dỗ mà các sứ đồ khác cũng đã nhận lúc Chúa thăng thiên nhiều năm trước.

"Phaolô rất kinh khủng và ngạc nhiên. Ông nói: Lạy Chúa, tôi phải làm gì? Và Chúa phán với ông rằng: Hãy đứng dậy vào trong thành, người ta sẽ nói cho ngươi mọi điều phải làm ".

Chúa bảo Anania lại nói với Phaolô rằng: "... vì Ngài đã chọn người này làm một đồ dùng ta, để đem danh ta đồn ra trước mặt các dân ngoại, các vua và con cái Ysơraên. .. Phaolô liền giảng dạy trong các nhà hội rằng Đức Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời " (9:6, 15, 20)

Phaolô không nghi ngờ về những điều ông phải làm. Ông ý thức về món nợ và nhiệm vụ của ông là rao giảng phúc âm kẻo đôi tay của ông lại vấy máu vì tội bất tuân chăng.

"Tôi mắc nợ cả người Gờréc lẫn người dã man, cả người thông thái lẫn người ngu dốt. Ấy vậy, hễ thuộc về tôi thì tôi cũng sẵn lòng rao tin lành cho anh em, là người ở thành Rôma " (Rô 1:14, 15).

Ông biết rất rõ Kinh Thánh về "... huyết mà ta sẽ đòi nơi tay ngươi " nên ông quả quyết rằng ông đã trả xong nợ và hoàn thành nhiệm vụ rao giảng tin lành cho những người chưa được cứu.

Ông đã viết: "Nếu tôi đã lấy lòng thật dạn dĩ mà viết thư nói điều này điều kia với anh em. .. bởi ơn Đức Chúa Trời đã làm cho tôi. .. để khiến dân ngoại vâng phục Ngài, bởi lời nói và bởi việc làm, bởi quyền phép của dấu kỳ, phép lạ, bởi quyền phép của Thánh Linh Đức Chúa Trời. Ấy là từ thành Giêrusalem và các miền xung quanh cho đến xứ Ilyri (một vùng rộng lớn), tôi đã đem tin lành của Đấng Christ đi khắp chốn. Nhưng tôi lấy làm vinh mà rao giảng tin lành ở nơi nào danh Đấng Christ chưa được truyền ra, để cho khỏi lập lên trên nền người khác " (Công 15:15, 18-20).

Phaolô đã đến với những người hư mất, người thấp kém và người cuối cùng. Ông không muốn huyết của người chưa được cứu đổ trên tay ông.

b. Nắm Lấy Khải Tượng

Một người chinh phục linh hồn tội nhân nổi tiếng đã nói "Chúng tôi không cho rằng chỉ chúng tôi mới có thể chinh phục cả thế gian này cho Đấng Christ nhưng chúng tôi tham gia vào việc truyền giáo như thể kế hoạch của Đức Chúa Trời chỉ đặt trên chúng tôi mà thôi.

"Nếu chúng tôi không thể chinh phục được mọi người, chắc chắn chúng tôi sẽ chinh phục được một số người, và chúng tôi sẽ hầu việc như thể việc gặt hái hoàn toàn đặt để trên chúng tôi vậy.

"Chúng tôi không muốn huyết của những người chưa được cứu bị đòi ở tay chúng tôi. Đơn giản thế thôi".

Nhiều người đang nắm lấy khải tượng truyền giáo cho toàn thế giới. Người Philipine đến Trung Hoa, những người Nam Mỹ sẽ chinh phục những linh hồn ở Alaska. Người Indonesia đang chinh phục những người hư mất ở Châu Âu. Người Châu Á đang đến với những quần đảo ở vùng Caribê. Chúng ta là những Cơ đốc nhân cho thế giới.

Đừng để sự sợ hãi, vô tín, hiểu nhầm hoặc chỉ trích ngăn trở bạn.

Hãy nhớ rằng "... không phải người chỉ trích là có giá trị đâu. Không phải những người nêu ra vấn đề người mạnh mẽ sẽ vấp ngã như thế nào hoặc người làm việc nên làm ở đâu thì mới có thể làm tốt hơn đâu.

Sự vẻ vang chỉ thuộc về những người đang thi đấu, đang làm việc, những người có khuôn mặt dính bùn đất, mồ hôi và máu, những người vì chính nghĩa, những người biết được niềm hân hoan của sự thành công".

Khi bạn tận hiến chính mình, thì giờ, tài chánh, những người trẻ của bạn cho mục đích ưu tiên hàng đầu là rao giảng tin lành thì "... nếu ngươi răn bảo kẻ dữ, mà nó không từ bỏ sự dữ và đường xấu mình, thì nó sẽ chết trong tội lỗi nó, còn ngươi thì được giải cứu linh hồn mình " (Êxê 3:19).

Chúng ta là những người chinh phục linh hồn tội nhân vì chúng ta không muốn huyết của tội nhân bị đòi nơi tay chúng ta.

7. Vì Những Gì Chúng Ta Đã Kinh Nghiệm

"Mà nếu ta còn trễ nãi sự cứu rỗi lớn dường ấy, thì làm sao tránh cho khỏi được? là sự cứu rỗi Chúa truyền ra trước hết, rồi có những kẻ nghe chứng nghiệm nó cho chúng ta. Đức Chúa Trời cũng dùng những dấu kỳ sự lạ và đủ thứ phép mầu, lại dùng sự ban cho của Đức Thánh Linh mà Ngài đã theo ý muốn mình phát ra để làm chứng với các kẻ đó " (Hêb 2:3, 4).

a. Tin Lành Về Vương Quốc Đức Chúa Trời.

Chúa Jesus gọi tin lành của Ngài là tin lành về vương quốc của nước Đức Chúa Trời. "Đức Chúa Jêsus đi khắp xứ Galilê, dạy dỗ trong các nhà hội, giảng tin lành của nước Đức Chúa Trời và chữa lành mọi thứ tật bệnh trong dân " (Mat 4:23).

"Đức Chúa Jesus đi khắp các thành, các làng, dạy dỗ trong các nhà hội, giảng tin lành về nước Đức Chúa Trời, và chữa lành các thứ tật bệnh " (Mat 9:35).

Tin lành về Vương quốc (King-dom) là tin lành về sự cai trị của các vua (KINGS-DOMinion). Vua Jesus luôn bày tỏ quyền cai trị bằng cách chữa lành kẻ đau yếu, bịnh tật và đuổi quỉ.

Để hiểu tin lành này, chúng ta nên nhìn lại quá khứ một chút. Quyền cai trị này trước tiên được ban cho Ađam và Êva trong vườn Êđen.

"Đức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người theo hình ta và theo tượng ta, đặng quản trị. .. Ngài dựng nên người nam cùng người nữ. Ngài phán rằng: Hãy sanh sản, thêm nhiều làm cho đầy dẫy đất, hãy làm cho đất phục tùng, hãy quản trị. .. trên mặt đất " (Sáng 1:26, 28).

Chẳng bao lâu Satan đã làm hỏng kế hoạch của Đức Chúa Trời. Satan thèm muốn sự cai trị mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ađam và Êva. Để đạt được điều đó, Satan biết rằng nó phải làm cho con người sa vào tội lỗi. Nếu điều này xảy ra, thì mão miện của sự cai trị sẽ rơi khỏi đầu họ và cây gậy quyền lực sẽ rơi khỏi tay họ. Satan có ở đó để cướp lấy quyền cai trị mà đúng ra thuộc về con người.

Bằng chứng về việc Satan đoạt lấy quyền quản trị này được thấy trong sự cám dỗ Chúa Jesus.

"Ma quỉ lại đem Ngài lên trên núi rất cao, chỉ cho Ngài các nước thế gian, cùng sự vinh hiển các nước ấy, mà nói rằng: Ví bằng ngươi sấp mình trước mặt ta mà thờ lạy ta thì ta sẽ cho ngươi hết thảy mọi sự này " (Mat 4:8, 9).

Vì đây là sự cám dỗ rất có giá trị nên Satan mới đưa ra lời đề nghị có giá trị. Nếu Satan không có quyền cai trị (các nước trên thế gian) để trao đổi với Chúa Jesus thì sẽ không có sự cám dỗ gì cả. Rõ ràng Satan có quyền cai trị và nó đã nêu lên điều đó với Chúa Jesus.

Đức Chúa Jesus đã đến để khôi phục quyền cai trị cho người thừa kế hợp pháp là nhân loại. Ngài phải làm điều này bằng cách chết trên cây thập tự giá. Như thế Ngài mới có thể bước vào thế giới của sự chết và âm phủ và tại nơi đó Ngài đã đắc thắng cả sự chết và âm phủ và giải phóng cho những kẻ tù được tự do.

Đavít đã mô tả cuộc đánh trận anh hùng này của Đấng Christ trong Thi 116:3 "Dây sự chết vương vấn tôi. Sự đau đớn âm phủ áp hãm tôi. .."

Trong Ês 28:18, Êsai đã nói tiên tri rằng Đấng Christ sẽ làm cho những tội nhân chúng ta được thoát khỏi sự chết và địa ngục như thế nào "Bấy giờ ước các ngươi kết với sự chết sẽ phế đi, ước các ngươi giao cùng nơi âm phủ sẽ không đứng được. .."

Chúa Jesus đã đến để "bởi sự chết mình mà phá diệt (vô hiệu hóa) kẻ cầm quyền sự chết là ma quỉ " (Hêb 2:14). Chúa Jesus đã vô hiệu hóa quyền lực của Satan. Ngài đã lấy lại quyền cai trị khỏi tay nó.

"Tiếng reo mừng chiến thắng" của Chúa Jesus được chép trong Khải 1:18 "Ta là Đấng sống, ta đã chết, kìa nay ta sống đời đời, cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ ". Bởi vì Ngài đã cầm chìa khóa nên Ngài đã kiểm soát con đường đến địa ngục và sự chết.

Khi Chúa Jesus từ kẻ chết sống lại, Ngài đã reo lên "MỌI QUYỀN CAI TRỊ (theo bản Ảrập) trên trời và dưới đất đã giao cho ta. .. và ta sẽ ở cùng các ngươi luôn cho đến khi tận thế " (Mat 28:18, 20).

Giăng đã mô tả những kết quả thắng trận bằng những lời sau "... làm cho chúng ta trở nên các vua và các thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời là Cha Ngài, đáng được vinh hiển và quyền cai trị đời đời vô cùng. Amen " (Khải 1:6).

Tin mừng về QUYỀN CAI TRỊ CỦA CÁC VUA đó là bây giờ Chúa Jesus đã có QUYỀN CAI TRỊ. Ngài ở với chúng ta để khôi phục điều đó cho chúng ta. Bây giờ chúng ta là các thầy tế lễ nhà vua. "Nhưng anh em làm. .. chức tế lễ nhà vua (nghĩa là các thầy tế lễ nhà vua)" (IPhi 2:9).

Do đó chúng ta có thể tuyên bố tin mừng rằng Satan không còn quyền cai trị nữa.

"Tin lành về vương quốc này (sự cai trị của Vua) phải được giảng ra khắp đất để làm chứng cho muôn dân. .." (Mat 24:14).

b. Bằng Lời Nói Và Quyền Năng.

Tin lành về vương quốc này là tin lành mà các môn đồ và các sứ đồ đầu tiên đã bày tỏ và rao giảng "Các sứ đồ lại lấy quyền phép rất lớn mà làm chứng về sự sống lại của Đức Chúa Jesus Christ, và hết thảy đều được phước lớn" (Công 4:33).

"Nhưng khi chúng đã tin Philíp, là người rao giảng tin lành về vương quốc của Đức Chúa Trời. .." (8:12).

"Bấy giờ có nhiều phép lạ dấu kỳ được làm ra trong dân bởi tay các sứ đồ. .. Số những người tin Chúa ngày càng đông thêm lên, nam nữ đều đông lắm, đến nỗi người ta đem kẻ bịnh để ngoài đường, cho nằm trên giường nhỏ hoặc trên võng, để khi Phierơ đi qua, bóng của người ít nữa cũng che được một vài người. Dân sự ở các thành lân cận cũng lũ lượt kéo tới thành Giêrusalem, đem đến những người đau ốm và kẻ bị tà ma khuấy hại, thì hết thảy đều được chữa lành " (5:12-16).

"Họ đã hẹn ngày với người, bèn đến thăm tại nhà họ rất đông. .. người cứ làm chứng và giảng giải với họ về vương quốc của Đức Chúa Trời,. .. thuyết phục họ về Chúa Jesus " (28:23).

"Lời nói và sự giảng của tôi chẳng phải bằng bài diễn thuyết khéo léo của sự khôn ngoan, nhưng lại tỏ ra Thánh Linh và quyền phép " (ICôr 2:4).

Tin lành về SỰ CAI TRỊ CỦA VUA này là một bí quyết để làm chứng thành công, tăng trưởng Hội Thánh, dâng hiến tài chánh cách thỏa đáng và giải quyết hầu hết những nan đề đang khuấy phá Hội Thánh khắp trên thế giới.

Những ai chỉ có tin lành bằng lời nói không thôi thì đang gặp rắc rối lớn, "vì tin lành chúng tôi đã rao truyền cho anh em, không những bằng lời nói thôi, lại cũng bằng quyền phép, Đức Thánh Linh và sức mạnh của sự tin quyết nữa. .." (ITê 1:5). Vì cớ sự bội đạo (sa ngã) nên nhiều Hội Thánh đã chối bỏ khả năng siêu nhiên của Đức Thánh Linh (xin xem phần C4, những dấu kỳ và phép lạ ngày hôm nay, trong quyền hướng dẫn lãnh đạo, để được giải thích hoàn chỉnh hơn).

Họ đã rao giảng một tin lành khác:

"Tôi lấy làm lạ cho anh em đã vội bỏ Đấng gọi anh em bởi ơn Đức Chúa Jesus Christ, đặng theo tin lành khác. Thật chẳng phải có tin lành khác, nhưng có mấy kẻ làm rối trí anh em, và muốn đánh đổ tin lành của Đấng Christ " (Ga 1:6, 7).

Nếu chúng ta nắm lấy TOÀN BỘ ĐẠI MẠNG LỆNH TRUYỀN GIÁO của Đấng Christ và làm theo, thì chúng ta có thể chinh phục thế giới này cho Đấng Christ. Nếu chúng ta chối bỏ quyền năng của Thánh Linh và không để cho Ngài có quyền làm chủ đúng đắn trong chức vụ của chúng ta thì chúng ta sẽ kết quả rất ít.

"Ngài phán cùng các sứ đồ rằng: Hãy đi khắp thế gian, giảng tin lành cho mọi người. Ai tin và chịu báptêm sẽ được rỗi, nhưng ai chẳng tin sẽ bị đoán phạt " (Mác 16:15,16). Đại mạng lệnh truyền giáo này không dừng lại ở đây nhưng còn tiếp tục:

"Vậy những kẻ tin sẽ được dấu lạ nầy: lấy danh ta mà đuổi quỉ, dùng tiếng mới mà nói, bắt rắn trong tay, nếu uống giống chi độc cũng chẳng hại gì, hễ đặt tay trên kẻ đau thì kẻ đau sẽ lành. Đức Chúa Jesus phán như vậy rồi thì được đem lên trời, ngồi bên hữu Đức Chúa Trời.

Về phần các môn đồ, thì đi ra giảng đạo khắp mọi nơi, Chúa cùng làm với môn đồ, và lấy các phép lạ cập theo lời giảng mà làm cho vững đạo. Amen " (Mác 16:15-20).