Get Adobe Flash player
Tham Khảo Cây Gậy Của Người Chăn Bầy BA PHẦN CỦA HỘI THÁNH E1.4 SỰ CỨU RỖI VĨ ĐẠI CỦA CHÚNG TA

Chương 4: SỰ CỨU RỖI VĨ ĐẠI CỦA CHÚNG TA

Dẫn Nhập

"Nếu chúng ta còn trễ nãi sự cứu rỗi lớn dường ấy thì làm sao tránh cho khỏi được " (Hêb 2:3 smf).

Nếu bạn không quan tâm đến sự cứu rỗi lớn của bạn thì các tiên tri và các thiên sứ sẽ quan tâm.

Các tiên tri thời Cựu Ước rất quan tâm đến kế hoạch cứu rỗi vĩ đại của Đức Chúa Trời. Họ muốn được biết chi tiết và kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho con người. Họ muốn biết cụ thể là sự cứu rỗi vĩ đại của chúng ta được trả giá như thế nào qua sự chết và sự chôn của Đấng Christ, và sự cứu rỗi đó được bảo đảm như thế nào qua sự phục sinh của Ngài. Họ không biết Ngài đã đắc thắng tội lỗi, Satan và mồ mả như thế nào.

Nhưng không phải chỉ có các tiên tri mới mong muốn được biết những điều đã được khải thị cho chúng ta ngày hôm nay mà chính các THIÊN SỨ cũng muốn biết kế hoạch vĩ đại chỉ dành riêng cho bạn!

Nhưng kế hoạch đó không dành cho các tiên tri trong Cựu Ước (Đức Chúa Trời không kể các THIÊN SỨ vào trong kế hoạch này). Ngài dành kế hoạch này cho BẠN!

Phierơ đã diễn đạt ý tưởng này trong những câu Kinh Thánh sau:

"Về sự cứu rỗi đó, các đấng tiên tri đã tìm tòi suy xét và đã nói tiên tri về ân điển định sẵn cho anh em: nghĩa là tìm cho biết thời kỳ nào và thời kỳ cách nào mà Thánh Linh Đấng Christ ở trong lòng mình đã chỉ cho, là khi làm chứng trước về sự đau đớn của Đấng Christ và về sự vinh hiển sẽ theo sau.

Các đấng ấy đã được tỏ cho rằng chẳng phải vì mình, bèn là vì anh em mà truyền ra những điều đó, là những điều hiện nay đã rao cho anh em bởi những người nhờ Đức Thánh Linh từ trên trời sai xuống mà giảng tin lành cho anh em; các thiên sứ cũng ước ao xem thấu những sự đó " (IPhi 1:10-12 smf).

Các tiên tri thời Cựu Ước đã tìm mọi cách để biết những điều mà Kinh Thánh đã nói cho chúng ta biết về kế hoạch kỳ diệu, vĩ đại mà Đức Chúa Trời đang dành cho bạn!

Nhưng nếu chúng ta không biết đến sự giàu có vĩ đại mà chúng ta có được trong sự cứu rỗi của mình thì sự thiếu hiểu biết đó sẽ giữ chúng ta ở trong địa vị bị trói buộc và nghèo nàn thuộc linh.

Để điều này không xảy ra, Cha đã sai Thánh Linh của Ngài đến để dạy cho chúng ta biết chúng ta là ai, là điều Cha đã ban cho và hoạch định cho chúng ta trong Chúa Jesus. Sứ đồ Phaolô nói rằng "... chúng ta đã nhận lấy Thánh Linh của Đức Chúa Trời để biết và hiểu những gì đã được ban cho chúng ta cách nhưng không " (ICôr 2:12 smf).

Nhiều Cơ đốc nhân đã hết lòng cầu xin những điều mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ rồi. Chính tôi cũng đã làm như vậy trong nhiều năm. Khi bạn cầu xin những điều mà đã ban cho bạn rồi thì bạn đã lãng phí thì giờ của bạn và của Đức Chúa Trời.

Thánh Linh được ban cho bạn để bạn biết được những điều mà Đức Chúa Trời đã ban cho bạn rồi trong Jesus Christ là Chúa và Cứu Chúa của chúng ta.

Do đó chúng ta phải cẩn thận nghiên cứu để xem sự cứu rỗi giữ vai trò quan trọng như thế nào trong kế hoạch vĩ đại của Đức Chúa Trời cho mọi thời đại.

A. TÌNH TRẠNG CỦA TỘI LỖI.

Vấn đề đầu tiên mà "sự cứu rỗi vĩ đại" của chúng ta phải giải quyết là vấn đề tội lỗi. Chính tội lỗi của chúng ta đã làm cho chúng ta xa cách với ý chỉ và mục đích thánh của Đức Chúa Trời dành cho đời sống chúng ta.

Chúng ta phải hiểu tại sao chúng ta là tội nhân và tại sao chúng ta phạm tội nếu chúng ta muốn hiểu sự vĩ đại trong sự cứu rỗi chúng ta.

Ở đây nói lên hai vấn đề quan trọng:

  • Có phải chúng ta là tội nhân vì chúng ta phạm tội không?
  • Hay là chúng ta đã phạm tội bởi vì chúng ta là tội nhân?

Các nhà thần học và các học giả Kinh Thánh đã bàn cãi hai câu hỏi này trải qua nhiều thế kỷ? Hầu hết mọi người đều dè dặt khi trả lời hai câu hỏi này vì bản thân họ cũng không biết chắc. Tuy nhiên câu hỏi có tầm quan trọng như thế này phải được giải đáp rõ ràng qua Kinh Thánh.

1. Bởi Một Người Mà Tội Lỗi Đã Vào Thế Gian.

Chìa khóa để hiểu được mối quan hệ giữa tội lỗi và tội nhân được tìm thấy trong Rô-ma đoạn 5. Phaolô đang nói về nguồn gốc của tội lỗi và nó đã ảnh hưởng đến mỗi một chúng ta như thế nào. Chúng ta hãy nghe ông nói:

"Bởi một người (Ađam) mà tội lỗi đã vào trong thế gian (nhân loại). Hậu quả của tội lỗi là sự chết. Do đó sự chết đã lan tỏa đến tất cả mọi người vì (trong Ađam) mọi người đều đã phạm tội " (Rô 5:12 smf).

Từ "thế gian " ở đây cũng tương tự như từ "thế gian" trong Giăng 3:16 "Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian. .."

Theo tiếng Hylạp từ "Kosmos" ám chỉ nhân loại. Phaolô muốn nói rằng là đầu của nhân loại, Ađam đã tiêm nhiễm tội lỗi của chính ông vào trong toàn thể nhân loại. Hậu quả của việc tiêm nhiễm tội lỗi khủng khiếp này là sự chết thuộc linh và thuộc thể.

Phaolô đã giải thích lẽ thật này như sau:

Giữa Ađam và Môise không có ai bị xét xử là phạm tội về tội lỗi của họ vì luật pháp chưa được ban bố. Tuy nhiên họ vẫn phải chết. Do đó sự chết của họ không là hậu quả trực tiếp của tội lỗi vì chưa có luật pháp "... vì nơi nào không có luật pháp thì nơi đó không có sự quá phạm " (Rô 4:15).

Vì vậy Phaolô giải thích rằng sự chết của họ là bởi tội của Ađam. Chúng ta đã "ở trong Ađam" khi Ađam không vâng lời Đức Chúa Trời. Do đó chúng ta phải chịu sự đoán phạt của tội lỗi đó vì chúng ta là thành viên của dòng dõi Ađam.

Đây là câu chuyện theo lời của Phaolô:

"Tội lỗi đã ở trong thế gian trước khi luật pháp của Môise được ban bố. Tuy nhiên vì chưa có luật pháp nên không có ai bị định tội cả. Dầu vậy trong suốt thời đại đó, con người đã phải chết mặc dù họ không phạm tội giống như Ađam đã phạm. .. Tội lỗi của một người (Ađam) đã cho phép sự chết cai trị cả nhân loại. .. Bởi một người không vâng lời Đức Chúa Trời mà nhiều người đã trở nên tội nhân " (5:13, 14, 17, 19 smf).

a. Căn Bệnh Giết Người.

Một ví dụ sẽ giúp chúng ta hiểu được điều này. Có một căn bệnh nan y khủng khiếp đang lan truyền nhanh chóng khắp Châu Phi và các nước Phương Tây, gọi là bệnh AIDS (Các bác sĩ gọi là Acquired Immune Deficiency Syndrome - Bệnh liệt kháng).

Như bạn biết, nếu trên da bạn có những vết cắt hoặc bầm chảy máu để virút bệnh ấy vào trong máu và thịt của bạn thì sẽ làm cho bạn bị nhiễm căn bệnh tai ác ấy.

Thông thường cơ thể của bạn có khả năng chống lại những vi trùng gây bệnh và sự truyền nhiễm vào trong cơ thể. Đó là vì bạn có một hệ thống miễn nhiễm.

Tuy nhiên nếu bạn mắc bệnh AIDS thì hệ thống miễn nhiễm trong cơ thể của bạn sẽ ngưng hoạt động. Thời gian trôi qua, những ung nhọt nguy hiểm, những vết thương và những căn bệnh truyền nhiễm sẽ xâm nhập vào mọi bộ phận trong cơ thể bạn và một vài năm sau, bạn sẽ chết.

Nhưng điều tệ hại nhất của bệnh AIDS là gì? Nếu cha mẹ bạn mắc bệnh đó, bạn sẽ bị mắc bệnh từ trong bào thai. Bạn sẽ bị sinh ra với căn bệnh đó, và chỉ trong một thời gian ngắn BẠN CŨNG SẼ CHẾT vì căn bệnh đó.

Tội lỗi cũng giống như vậy! Con người đầu tiên là Ađam tổ phụ của chúng ta đã phạm tội. Tội lỗi của ông không chỉ tiêm nhiễm cho ông mà còn cho cả hậu tự của ông nữa. Bạn và tôi sinh ra đã bị tiêm nhiễm tội lỗi và chúng ta sẽ chết về thuộc linh lẫn thuộc thể nếu không có ai cứu chúng ta.

2. Trong Ađam Tất Cả Mọi Người Đều Đã Phạm Tội Và Phải Chết.

Chân lý rất rõ ràng: Tất cả chúng ta sinh ra đã là tội nhân vì tội lỗi của Ađam. Ngoài những hành động tội lỗi về phần chúng ta thì chúng ta cũng là những kẻ thừa kế tội lỗi của Ađam. Đó là bản chất tội lỗi của ông.

Cho dù chúng ta chưa hề phạm tội một lần nào thì chúng ta vẫn là tội nhân và chịu sự đoán phạt là sự chết.

"Bởi sự quá phạm của một người mà sự đoán phạt đến với tất cả mọi người " (Rô 5:18) "Sự chết đã đến bởi một người. .. vì trong Ađam, mọi người đều chết. .." (ICôr 15:21, 22 smf).

Trong Ađam, tất cả chúng ta đã phạm tội. Trong Ađam tất cả chúng ta phải chết. Khái niệm và ý tưởng của việc "ở trong Ađam" là một lẽ thật quan trọng cần được hiểu.

Như chúng ta sẽ thấy, cũng một ý tưởng đó nói đến mối quan hệ "trong Đấng Christ" của chúng ta và cũng là một trong những lẽ thật mà chúng ta cần phải biết để hiểu về sự cữu rỗi vĩ đại của chúng ta.

a. Một Ví Dụ Về Bản Chất.

Ý tưởng về việc "ở trong một người khác" này cũng có thể nhận thấy được trong một ví dụ về bản chất.

Trong việc cố gắng tạo ra những hạt lúa tốt hơn, các nhà khoa học về nông nghiệp đã rọi những tia có năng lượng cao vào trong hạt lúa giống. Sự phóng xạ như vậy có khả năng thay đổi cấu trúc của hạt giống.

Bằng tia phóng xạ năng lượng cao này, "bản chất" của hạt lúa giống sẽ thay đổi. Cách lớn lên và tồn tại của hạt giống đó cũng đã bị thay đổi.

Hầu hết những sự thay đổi được tạo ra do phóng xạ gene (yếu tố di truyền) là có hại nhưng đôi khi những sự biến đổi này lại hóa ra tốt hơn. Những sự biến đổi do phóng xạ gây ra chỉ có thể được biết bằng cách trồng hạt giống đó, và xem thử mùa thu hoạch sẽ như thế nào.

Một hạt giống sẽ tạo ra một cây lúa có nhiều hạt. Mỗi hạt đó lại sẽ mang những biến đổi về di truyền gene, hoặc tốt hơn hoặc xấu hơn. Và thế hệ hạt sau đó sẽ mang cùng một cấu trúc như vậy.

Khi những hạt giống này được trồng thì trong vài năm sẽ có một vụ mùa lớn. Mỗi cây lúa sẽ có cùng một tính chất và chất lượng giống như hạt giống đầu tiên đã được tia phóng xạ "xử lý".

Nếu những biến đổi về di truyền là tốt hơn thì họ sẽ thu được vụ mùa có chất lượng cao. Nhưng vụ mùa có chất lượng cao đó do đâu mà ra? Do hạt giống đầu tiên mà ra! Sản lượng của giống lúa tốt này đều "ở trong một hạt giống".

Nếu sự biến đổi là tệ hơn thì tình trạng cũng tương tự. Trong hạt giống xấu đó chứa đựng tiềm năng của một sản lượng hạt giống chất lượng kém. Hậu quả của việc phóng xạ sẽ duy trì cho tất cả những thế hệ theo sau.

Những thế hệ tiếp theo sau của hạt giống xấu này không cần phải phóng xạ để xử lý những hậu quả có hại do hạt giống đầu tiên gây ra nữa. Khi nó đã bị biến đổi để trở nên xấu hơn thì bản chất của hạt lúa thuộc những thế hệ tương lai của hạt giống đó đã bị thay đổi rồi.

b. Trong Thân Thể Ađam.

Bây giờ chúng ta có thể hiểu rõ hơn điều mà Phaolô muốn nói khi ông nói rằng "trong Ađam" tất cả chúng ta đều là tội nhân. Khi Ađam phạm tội, tất cả chúng ta đều ở trong thân thể của Ađam.

Hạt giống mà từ đó tôi và bạn được sinh ra là "trong Ađam" từ lúc ban đầu. Thế thì điều gì đã xảy đến cho tôi và bạn (là những người ở trong Ađam) khi Ađam phạm tội? Chúng ta trở nên giống như ông ấy là tội nhân. "Bởi vì sự quá phạm của một người mà sự đoán phạt đến trên tất cả mọi người " (Rô 5:18).

Đavít nhận thức rất rõ về lẽ thật này. Một trong những Thi Thiên của ông có chép rằng: "Thật vậy, tôi sanh ra trong sự gian ác, mẹ tôi đã hoài thai tôi trong tội lỗi " (Thi 51:5 bản NIV).

Đavít thừa nhận rằng từ khi sinh ra ông đã là tội nhân. Trong Ađam, ông đã trở thành tội nhân giống như tất cả những người khác.

Ông biết rằng ông cần có một tấm lòng trong sạch và một tâm linh mới không những vì tội lỗi của ông mà còn vì bản chất tội lỗi từ khi ông sinh ra nữa.

Phải, giống như Đavít, tất cả chúng ta đã được sinh ra là tội nhân bởi vì tất cả chúng ta đều ở trong Ađam. Chúng ta phạm tội bởi vì chúng ta có bản chất tội lỗi. Bản chất đó đã tự thể hiện ngay từ lúc đầu đời.

Những ai trong chúng ta là cha mẹ thì thấy điều này trong con cái mình. Chúng ta không dạy cho chúng nó phạm tội. Chúng chỉ thể hiện bản chất tự nhiên có từ cha mẹ. Chúng học rất nhanh về những cách thức hướng ý muốn của chúng trong đường lối không công bình.

Hễ khi nào ý muốn của chúng bị cản trở thì bản chất tội lỗi bé nhỏ của chúng càng lớn hơn và mạnh mẽ hơn. Tính nết tội lỗi đó dường như phát triển nhanh hơn chúng.

Tại sao như vậy? Bởi vì tất cả chúng ta đều làm theo tổ phụ Ađam của chúng ta.

"Khi Ađam phạm tội, tất cả dòng dõi của ông đã trở thành tội nhân " (Rô 5:19). Tất cả chúng ta đều ở trong Ađam từ ban đầu.

3. Tội Nhân Trong Bản Chất.

Bây giờ nói rằng bạn là tội nhân vì bạn đã phạm tội thì cũng đúng.

Phải, tất cả chúng ta sinh ra đều là những tội nhân. Nhưng chính chúng ta cũng chứng minh cho điều này bằng nhiều hành động phạm tội của chúng ta. Phaolô nói cho chúng ta biết rõ rằng "Không có một người công bình dẫu một người cũng không. .. Vì mọi người đều đã phạm tội thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời " (3:10, 23).

Do đó nếu có ai hỏi chúng ta rằng "Có phải chúng ta phạm tội vì chúng ta là tội nhân không?". Chúng ta sẽ đáp rằng "Phải".

Nếu họ cũng hỏi chúng ta rằng "Có phải chúng ta là tội nhân bởi vì chúng ta phạm tội không?". Chúng ta lại cũng đáp rằng "Phải".

Cả hai đều đúng cả. Không thể nói chỉ có điều này hoặc chỉ có điều kia.

Chúng ta sinh ra là những tội nhân, và ai cũng chứng minh cho sự thật đó bằng chính những tội phạm của mình. Do đó, chúng ta bị xét xử là tội nhân trên cả hai phương diện, bởi tội lỗi của tổ phụ chúng ta (là Ađam) và bởi chính hành động phạm tội của chúng ta. Đó là hai mặt của cùng một vấn đề.

Vâng, tất cả chúng ta đều là tội nhân trong bản chất. Tuy nhiên nhiều người sùng đạo vẫn không thấy họ cần có sự cứu rỗi. Họ không cho rằng họ là tội nhân.

Họ đã sống một cuộc đời tốt đẹp và lương thiện. Họ thường xuyên đi nhà thờ, đến các chùa chiền và dâng hiến tiền bạc. Họ đã thanh toán đủ các hóa đơn, không say sưa hoặc chửi rủa. Họ cố giữ đúng mười điều răn và tin rằng làm như thế sẽ được lên thiên đàng, bằng sự công bình riêng của họ.

Đây là một lỗi lầm bi thảm. Họ đã sai lầm, một sai lầm nghiêm trọng! Tất cả chúng ta đều là tội nhân trên cả hai phương diện, theo bản chất và theo việc làm. Đó là sự thật lịch sử và sự thật trong đời sống.

Chúng ta không thể làm được bất cứ điều gì cho chính mình. Không có một công đức nào của chúng ta lại có thể thay đổi được bản chất tội lỗi của chúng ta hoặc xóa bỏ hình phạt dành cho tội lỗi của chúng ta được.

Kinh Thánh chép rằng: "Sự công bình của chúng ta chỉ là áo nhớp " (Ês 64:6). Chúng ta không thể nào hy vọng là tội lỗi của chúng ta được xóa bỏ bởi "những công đức" của chúng ta.

Trong ánh sáng của sự thánh khiết Đức Chúa Trời, chúng ta chỉ được xem là những tội nhân. Hy vọng của chúng ta không thể nào đặt trong sự tốt lành của chúng ta, nhưng chỉ ở trong ân điển của Đức Chúa Trời mà thôi! Chúng ta phải biết rằng, trước khi chúng ta nhận được sự chữa lành của Ngài, chúng ta là những bịnh nhân hấp hối vì tội lỗi của Ađam và của chính chúng ta.

B. HÌNH PHẠT DÀNH CHO TỘI LỖI.

Chúng ta đã thấy tình trạng tội lỗi là tình trạng "chung". Chúng tôi muốn nói rằng mọi người ở mọi nơi đều là tội nhân cả. Hơn nữa hình phạt dành cho tội lỗi cũng là một hình phạt chung. Mọi người đều phải chịu chết vì tội của mình. "Mọi người đều đã phạm tội. .. và tiền công (hình phạt) của tội lỗi là sự chết " (Rô 3:23; 6:23 smf).

1. Đứng Ở Chỗ Chết.

Kinh Thánh mô tả rằng mọi người đều đang "đứng ở chỗ chết", tức là chịu tử hình. Nếu không có ân điển của Đức Chúa Trời, không có ai được ngoại trừ. Tất cả chúng ta đều phải đối diện với cùng một số phận đen tối: Sự chết!

Ngay từ ban đầu hình phạt dành cho tội lỗi không hề thay đổi. Đức Chúa Trời đã cảnh báo Ađam và Êva thật rõ ràng và dứt khoát rằng không vâng lời có nghĩa là chết.

"Các ngươi không được ăn trái cây đó. .. vì khi ngươi ăn, chắc sẽ chết " (Sáng 2:17).

Tiên tri Êxêchiên xác nhận rõ ràng hơn về án tử hình dành cho tội lỗi bằng những lời lẽ giản dị nhưng mạnh mẽ "Linh hồn nào phạm tội thì phải chết " (Êxê 18:4, 20 smf).

Không còn gì chắc chắn hơn. Tiền công hoặc hậu quả của tội lỗi là sự chết. Chúng ta là tội nhân theo bản chất và theo việc làm. Chúng ta đã lựa chọn con đường của chúng ta hơn là đi con đường của Đức Chúa Trời. "Tất cả chúng ta đều như chiên đi lạc. Ai theo đường nấy " (Ês 53:6).

Kết quả của việc làm theo ý riêng và theo đường lối riêng là gì? "Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo của sự chết " (Châm 14:12 bản NIV).

Đường lối của con người là con đường kết thúc bằng sự chết. Thật vậy điều đó không thể nào khác hơn được. Chúa Jesus phán "Ta là đường đi, chân lý và sự sống. Không ai đến với Cha mà không bởi ta " (Giăng 14:6 smf).

Ý muốn và đường lối của Đức Chúa Cha để dẫn đến sự sống đều ở trong Con Ngài. Bất kỳ một con đường nào khác đều dẫn đến sự chết. Khi chúng ta chọn sự bất tuân Đức Chúa Trời và đi con đường riêng thì điều đó chỉ đưa đến sự suy sụp và hủy diệt.

Tội lỗi có thể được định nghĩa như là dùng ý riêng và đường lối riêng để chống nghịch với ý muốn và đường lối của Đức Chúa Trời. Tất nhiên sự bất tuân chỉ dẫn đến sự chết mà thôi. Đây là lý do tại sao mà tất cả tội nhân đều phải chịu chết. Tất cả chúng ta đều cố ý lựa chọn con đường sai.

Điều đó đã bắt đầu "trong Ađam" khi ông chọn sự bất tuân Đức Chúa Trời. Chúng ta không chỉ là nạn nhân của sự lựa chọn đó mà chúng ta còn ủng hộ cho sự lựa chọn đó bằng chính hành động bất tuân của mình. Không có Đức Chúa Trời và ân điển của Ngài, chúng ta đang ở trong thế giới không có hy vọng gì cả. Sự chết là số phận của chúng ta!

C. SỰ DỰ PHÒNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI DÀNH CHO TỘI NHÂN.

Mọi tội nhân đều không có Đức Chúa Trời và không có hy vọng trong thế giới này. Thật vậy đó là một đêm tối tuyệt vọng. Nhưng từ trong đêm tối này, ánh sáng rực rỡ của tình yêu Đức Chúa Trời đã chiếu rọi vào.

Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng "Nơi nào tội lỗi gia tăng thì nơi đó ân điển của Đức Chúa Trời càng dư dật " (Rô 5:20 smf).

Chúng ta hết sức vui mừng vì trong câu "tiền công của tội lỗi là sự chết. ..." còn có phần thứ hai. Phần thứ hai đi theo sau, đem đến một sứ điệp về hy vọng và tình yêu "...nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jesus Christ là Chúa chúng ta " (6:23).

1. Sự Sống Đời Đời: Món Quà Về Tình Yêu Của Đức Chúa Trời.

Kinh Thánh cũng cho chúng ta biết về món quà vĩ đại của tình yêu Đức Chúa Trời trong một câu Kinh Thánh tương tự trong tin lành Giăng: "Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời " (Giăng 3:16).

a. Định Nghĩa Về món Quà.

Định nghĩa hợp lý về món quà có quan hệ đến ba điều cần thiết. Đó là:

1) Biếu.

2) Nhận.

3) Không phải trả tiền.

Quà là một món đồ được biếu không và nhận mà không cần nghĩ đến việc trả tiền.

b. Đức Chúa Trời Biếu.

Đức Chúa Trời đã biếu khi ban Con của Ngài xuống. Tuy nhiên việc biếu của Ngài sẽ không hợp lệ nếu món quà ấy không được nhận.

Bạn nên nhớ rằng "Chúa Jesus đã đến trong xứ mình song dân mình chẳng hề nhận lấy " (1:11).

Vì người Do Thái trong thời đại của Chúa Jesus đã không chấp nhận Ngài. Họ đã không tiếp nhận quyền lợi và ơn phước từ sự ban cho của Đức Chúa Trời.

"Nhưng hễ ai đã nhận Ngài thì Ngài ban cho quyền trở nên con cái Đức Chúa Trời " (Giăng 1:12).

c. Sự Cứu Rỗi: Món Quà Được Ban Cho Nhưng Không.

Quà là một món đồ được cho vô điều kiện. Không cần phải trả tiền hoặc phải "mua" món quà đó.

Món quà cứu chuộc của Đức Chúa Trời được ban cho nhưng không. Ngài không đưa ra một điều kiện gì để chúng ta phải mua. Ngài cho chúng ta một món quà.

"Mọi người đều đã phạm tội và thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Và họ nhờ ân điển Ngài mà được xưng công bình nhưng không, bởi sự chuộc tội đã làm trọn trong Đức Chúa Giêxu Christ " (Rôma 3:23;,24 smf).

Một số người đã không hiểu rõ rằng món quà cứu rỗi được Đức Chúa Trời ban cho cách nhưng không. Do đó họ đã cố làm cho món quà đó trở thành món hàng phải mua bằng cách làm cho đường lối của họ đẹp lòng Đức Chúa Trời.

Ở Đông Nam Á có một nhóm người đã nỗ lực đến mức cực đoan bi thảm. Họ được gọi là "những người tự hành xác".

Vào ngày "thứ sáu tốt lành" trước lễ phục sinh, họ đã lấy roi da quất vào lưng họ. Một số người còn đi xa hơn là lấy đinh đóng vào tay trên thập tự giá.

Tại sao những người này lại làm những điều kinh khủng như thế trong danh Cơ Đốc Giáo? Đó là vì họ không hiểu rằng sự cứu rỗi của là một món quà. Sự sống đời đời là sự ban cho của Đức Chúa Trời.

Chúng ta không thể làm gì để kiếm được ân huệ của Đức Chúa Trời hoặc làm cho Đức Chúa Trời hài lòng về đường lối của chúng ta. Chúng ta được cứu bởi ân điển chứ không phải bởi "việc làm" (Êph 2:8, 9). Nếu sự cứu rỗi là bởi việc làm thì chúng ta có thể tự hào về những gì chúng ta đã làm để tự cứu lấy mình. "Vậy thì sự khoe mình ở đâu? Đã bị trừ bỏ rồi. Bởi luật pháp nào? Luật pháp của việc làm chăng? Không phải, nhưng bởi luật pháp của đức tin nơi Đấng Christ " (Rô 3:27).

Sự cứu rỗi của chúng ta đã được "trả đủ" ở đồi Gôgôtha. Khi Đức Chúa Jesus chết trên cây thập tự, Ngài đã phán rằng "Mọi sự đã được trọn " (tiếng Hylạp là teleo - nghĩa là được trả đủ) (Giăng 19:30). Như vậy đức tin của chúng ta đặt hoàn toàn nơi công tác mà Đấng Christ đã làm xong (hoàn tất) trên thập tự giá. Ngài đã trả giá đầy đủ và chịu sự đoán phạt (sự chết) vì cớ tội lỗi của chúng ta bằng cách chết thay cho chúng ta. Chúng ta không còn thêm hay bớt điều gì nữa cả. Những gì Ngài làm cho chúng ta đã hoàn tất, đã được trả đủ.

Những con người ở Đông Nam Á này rất chân thành. Tôi đã nói chuyện với một số người trong họ. Nhưng họ tản lờ đi. Họ không biết hoặc không hiểu sự vĩ đại của sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời.

Họ đang tìm cách để được cứu nhưng họ lại làm theo cách riêng của họ. Thật vậy, họ là những người nhiệt thành nhưng sự sốt sắng và sự nhiệt thành này sẽ không cứu họ được. Cùng một lúc chúng ta có thể rất chân thành nhưng cũng rất sai lầm, đó là sự sai lầm rất nguy hiểm.

Phaolô có nói đến sự nhiệt thành trong tôn giáo như thế này trong thư Rôma: "Vì tôi làm chứng cho họ rằng họ có lòng sốt sắng về Đức Chúa Trời, nhưng lòng sốt sắng đó là không phải theo trí khôn. Bởi họ không nhận biết sự công bình của Đức Chúa Trời và tìm cách lập sự công bình riêng của mình, nên không chịu phục sự công bình của Đức Chúa Trời. Vì Đấng Christ là sự cuối cùng của luật pháp, đặng xưng mọi kẻ tin là công bình " (10:2-4 smf).

Chúng ta có thể kết luận gì? Những người như thế có chân thành không? Có. Có nhiệt thành không? Có. Có sai lầm không? Có. Có mất mát gì không? Có, bởi sự dại dột của họ!

Chúng ta không có cách nào để đạt được địa vị công bình với Đức Chúa Trời theo nỗ lực hoặc việc làm riêng của chúng ta. Cố cứu lấy mình không phải là đường lối của Đức Chúa Trời để nhận được sự sống đời đời đâu.

Sự cứu rỗi là món quà ban cho chúng ta chứ không phải là điều chúng ta phải mua. Chúng ta không thể mua món quà đó bằng bất cứ việc làm gì của chúng ta. Công tác cứu rỗi đã được Đấng Christ làm xong trên thập tự rồi. Phần của chúng ta là tiếp nhận món quà được ban cho cách nhưng không đó. Không có cách nào khác.

Nhiều người đã tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa và đã nhận được sự sống đời đời. Nhưng cũng có một số người cảm thấy rằng họ phải làm thêm một điều gì đó vào công tác đã hoàn tất của Đấng Christ trên thập tự giá. Có lẽ họ đã không tự đánh vào thân thể vật lý của họ nhưng họ đã tự đánh mình bằng cách khác.

Họ đã nhọc công để được Đức Chúa Trời ủng hộ nhưng họ chẳng bao giờ cảm thấy được chấp nhận trọn vẹn. Họ đang nỗ lực để đạt được những mục đích lớn hơn nhưng họ mãi thất bại.

Họ đã tự hành hạ mình trong sự dằn vặt bởi những cảm giác tội lỗi và bị định tội. Họ có chân thành không? Có. Có sốt sắng không? Có. Có sai lầm không? Có. Có mất mát gì không? Có. Họ không mất sự cứu rỗi nhưng đã mất niềm vui của sự cứu rỗi bởi vì sự dại dột của họ.

d. Món Quà Phải Được Nhận.

Billy Graham (nhà truyền giáo trứ danh trong thế kỷ 20) đã từng làm sửng sốt nhiều người khi ông nói rằng: "Một trong những điều mầu nhiệm nhất của sự cứu chuộc ấy là: Trong khi những người xấu sẽ vào thiên đàng thì nhiều người tốt sẽ đi xuống địa ngục".

Tại sao những người xấu lại lên thiên đàng? Bởi vì giống như tên trộm đã chết trên thập tự bên cạnh Chúa Jesus, đã tiếp nhận món quà sự sống đời đời của Đức Chúa Trời.

1) Tên Trộm Trên Thập Tự Giá. Bạn còn nhớ đến tên trộm trên thập tự giá bên cạnh Chúa Jesus không? Trong giây phút sắp chết của mình, hắn đã nói "Khi Ngài vào nước của Ngài xin hãy nhớ đến tôi " (Lu 23:42).

Lời cầu nguyện đơn sơ ấy chứa đựng đầy đức tin và tất cả yếu tố của một đức tin được cứu. Đó là những điều gì?

a) Ông ta tin Đức Chúa Jesus là Vua (Chúa).

b) Ông ta tin rằng Vua đó sẽ có một Nước.

c) Ông cầu xin được ở trong Nước đó.

Chúa Jesus đáp: "Ngày hôm nay, ngươi sẽ ở với ta trong Parađi " (Lu 23:43). Chúa Jesus chấp nhận têm trộm bởi vì tên trộm đó đã tiếp nhận Ngài là Chúa và là Vua.

Tại sao những người tốt lại xuống địa ngục? Bởi vì họ đã từ chối món quà của Đức Chúa Trời và tin cậy nơi "công đức" của mình.

Chúa Jesus nói lẽ thật này với người Pharisi là những kẻ rất sùng đạo nhưng lại bị hư mất: "Quả thật Ta nói cùng các ngươi, những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm sẽ vào nước Đức Chúa Trời trước các ngươi " (Mat 21:31 smf).

Tại sao những tội nhân như thế lại vào được Nước Đức Chúa Trời còn người Pharisi lại bị loại ra ngoài? Người Pharisi là những người rất sùng đạo, đã đến đền thờ cầu nguyện và dâng 1/10, đã giữ ngày kiêng ăn, ngày lễ và ngày Sabát (Lu 18:9-14).

Tại sao những người Pharisi xuống địa ngục còn phường đĩ điếm lại lên thiên đàng? Bởi vì phường đĩ điếm đã tiếp nhận món quà của Đức Chúa Trời còn người Pharisi thì không.

Thay vì vậy họ lại tìm cách nhận được sự cứu rỗi bằng những việc công bình riêng của họ. Con đường thiên thượng dẫn đến sự sống đời đời ở ngay trước mặt họ nhưng họ lại chọn con đường riêng của mình.

Phaolô nói rằng những người Do Thái theo công bình riêng đã không chịu "phục sự công bình của Đức Chúa Trời " (Rô 10:3). "Phục" nghĩa là tiếp nhận món quà cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jesus Christ.

Đối với nhiều người trong chúng ta thật khó để "phục" bất cứ điều gì. Một điều gì đó ở bên trong đã phản nghịch lại bất kỳ loại quyền bính nào, thậm chí quyền bính của Đức Chúa Trời khôn ngoan và yêu thương.

Ralph Mahoney (sáng lập viên của tổ chức MAP trên thế giới, người đã viết tác phẩm "Cây gậy của người chăn bầy ") có lần đã thuật lại cách Chúa xử lý đời sống ông khi ông còn là một thiếu niên kiêu ngạo:

"Tôi rất ngạc nhiên khi tôi thấy mình là người đầy dẫy sự kiêu ngạo về công bình riêng. Điều khó khăn nhất đối với tôi là chấp nhận món quà công bình của Đức Chúa Trời. Tôi cho rằng tôi sẽ tự cứu lấy mình và tôi sẽ khoe với Đức Chúa Trời là tôi đã làm được điều đó như thế nào!

Điều gì ở trong lòng con người đã khiến chúng ta ngạo mạn và ngu ngốc đến như thế? Chúng ta thà chết cố làm theo cách riêng của chúng ta, hơn là tiếp nhận món quà công bình nhơn từ của Đức Chúa Trời. Đối với tôi, đi bộ bằng đầu gối xuyên nước Mỹ còn dễ hơn là phải đi vài cây số và quỳ gối cách khiêm nhường trên chiếc băng cầu nguyện trong sự ăn năn.

Tôi rất sung sướng vì Cha trên trời đã kiên nhẫn với tôi trong suốt những năm đầu đời đó. Cuối cùng tôi đã đi đến ngõ cụt của con đường tôi và tìm thấy được con đường của Ngài. Sau cùng tôi đã đầu phục đời sống tôi cho ý chỉ của Ngài và chấp nhận món quà sự sống đời đời của Ngài. Tôi chẳng bao giờ hối tiếc vì sự lựa chọn đó!".

D. TẤM LÒNG NHƯ NGƯỜI CHA CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Có một câu chuyện rất hay trong Cựu Ước minh họa rõ ràng tấm lòng yêu thương như người Cha của Đức Chúa Trời. Trong câu chuyện này, Đức Chúa Trời đã tự bày tỏ Ngài không những là người Cha Sáng Tạo mà còn là người Cha Cứu Chuộc.

Tiên tri Êsai đã thấy sự mặc khải kép này về đặc tánh của Đức Chúa Trời:

"Bây giờ, hỡi Giacốp! Đức Giêhôva là Đấng đã dựng nên ngươi. Hỡi Ysơraên! Ngài là Đấng đã tạo thành ngươi, phán như vầy: Đừng sợ vì ta đã chuộc ngươi. Ta đã lấy tên ngươi mà gọi ngươi, ngươi thuộc về ta " (Ês 43:1).

Đức Chúa Trời là Đấng sáng tạo cũng như cứu chuộc. Để mua và đem con người trở lại mục đích với Ngài bằng sự trả giá chính mạng sống của Con độc nhất của Ngài. Ngài phải bỏ mạng như chiên con làm tế lễ để mua chúng ta trở lại, để cứu chuộc chúng ta.

1. Ápraham và Ysác: Bức Tranh Tiên Tri Về Tình Yêu Cứu Chuộc.

"Khi mọi việc kia đã xong, thì Đức Chúa Trời thử Ápraham. Ngài phán rằng: "Hỡi Ápraham! người thưa: "Có tôi đây ". Đức Chúa Trời phán rằng: "Hãy bắt đứa con một ngươi yêu dấu là Ysác đi đến xứ Môria, nơi đó hãy dâng đứa con làm của lễ thiêu ở trên một hòn núi kia mà ta sẽ chỉ cho ".

Ápraham dậy sớm, thắng lừa, đem hai đầy tớ và con mình, là Ysác cùng đi. Người cũng chặt củi để dùng về của lễ thiêu, rồi đi đến nơi mà Đức Chúa Trời đã truyền dạy.

Qua đến ngày thứ ba, Ápraham nhướng mắt lên thấy nơi đó ở lối đằng xa, thì nói cùng hai kẻ đầy tớ rằng: "Hãy ở lại đây với con lừa, ta cùng đứa trẻ sẽ đi đến chốn kia đặng thờ phượng, rồi sẽ trở lại với hai ngươi. Ápraham lấy củi về của lễ thiêu, chất trên Ysác con mình rồi người cầm lửa và dao trong tay. Cả hai cha con đồng đi.

Ysác nói cùng Ápraham rằng: "Hỡi cha ". Người đáp: "Con ơi! Cha đây ". Ysác nói: "Củi đây, lửa đây, nhưng chiên con đâu có đặng làm của lễ thiêu? " (Sáng 22:1-7).

Ở điểm này trong câu chuyện, có lẽ chúng ta tự hỏi tại sao Đức Chúa Trời lại yêu cầu một người dâng đứa con duy nhất làm của lễ. Ysác, có nghĩa là "cười", là một đứa trẻ của phép lạ khi ông được sinh ra. Khi Đức Chúa Trời ban cho Ysác, cả Ápraham lẫn Sara đều đã quá tuổi và không thể sanh con được.

Tuy nhiên Đức Chúa Trời đã hứa ban cho Ápraham một đứa con trai và Ngài đã giữ lời. Ápraham chờ đợi lời hứa đó hai mươi lăm năm và khi Ysác sinh ra, ông rất đỗi vui mừng. Bây giờ sau khoảng 20 năm, Đức Chúa Trời lại bảo Ápraham dâng đứa con duy nhất của ông làm của tế lễ. Có phải Đức Chúa Trời thật sự muốn điều đó không và nếu có thì tại sao?

Có một mục đích thiên thượng trong câu chuyện này. Mục đích đó bày tỏ một lẽ thật quan trọng. Câu chuyện này là một bức tranh tiên tri nói về kế hoạch cứu chuộc của Đức Chúa Trời. Ngài muốn chúng ta hiểu rõ vai trò mà người cha và người con phải thực hiện để đạt được sự cứu rỗi cho chúng ta.

a. Ysác, Đứa Con Của Sự Vâng Lời.

Chúng ta biết Ysác là đứa con biết vâng lời. Như vậy ông là hình bóng về Chúa Jesus.

Củi dùng cho của lễ thiêu đặt trên lưng Ysác khi họ leo lên núi. Sau đó 2000 năm, đứa Con duy nhất của Đức Chúa Trời cũng đã mang cây thập tự bằng gỗ trên lưng của Ngài. Khi Ngài bước lên một ngọn núi khác, đồi Gôgôtha.

Đôi khi chúng ta lại bỏ qua sự kiện là Ápraham là hình bóng về Đức Chúa Cha. Người ta chỉ nghĩ về nỗi đau mà người Cha đã mang trong lòng khi ông cầm con dao trong tay và châm lửa vào của lễ dâng.

Đức Chúa Trời hứa với Ápraham rằng qua Ysác ông sẽ có được một dòng dõi đông như sao trên trời. Nếu Ysác chết đi thì làm sao lời hứa đó được ứng nghiệm, trừ phi có hy vọng về một sự phục sinh. Nhưng thật ra Ápraham sẵn sàng dâng Ysác làm của lễ bởi vì ông tin rằng Đức Chúa Trời sẽ khiến Ysác từ kẻ chết sống lại (Hêb 11:17-19).

b. Cả Hai Cha Con.

Có một điều rất cảm động trong câu chuyện khi chúng ta đọc thấy: "Cả hai cha con đồng đi. ..". Họ đi bên cạnh nhau trong yên lặng. Một người cha yêu thương và con mình. Một người con đáng yêu với cha mình.

Người cha Ápraham đã bước những bước đi vững vàng trong đức tin và sự vâng lời nhưng trong lòng ông nhói lên một nỗi đau. Nỗi đau đó chỉ vơi đi bởi hy vọng mà ông đã nhận được trong lời hứa của Đức Chúa Trời.

Cuối cùng sự yên lặng đã bị phá vỡ bởi câu hỏi của Ysác:

"Chiên Con đâu? ".

Điều ẩn giấu trong câu trả lời của Ápraham là một bức tranh tiên tri tuyệt vời về tình yêu cứu chuộc vĩ đại của Đức Chúa Trời.

"Ápraham đáp: Con ơi! Chính Đức Chúa Trời sẽ sắm sẵn chiên con đặng dùng làm của lễ thiêu; rồi cả hai cha con cứ đồng đi " (Sáng 22:8).

Từ "cả hai" lại xuất hiện lần thứ hai trong câu chuyện và chứa đựng nhiều ý nghĩa. Từ đó nói lên tình yêu mà họ dành cho nhau và cũng nói lên đức tin và sự vâng phục của họ đối với Đức Chúa Trời.

Có lẽ Ápraham đã nói cho Ysác biết về ý muốn của Đức Chúa Trời về sự chết và lời hứa của Đức Chúa Trời về sự sống lại của Ysác. Cả hai cha con đều sẵn sàng vâng theo lời Chúa. Ysác là một thanh niên khoẻ mạnh, ông có thể dễ dàng ngăn chặn người cha già yếu của mình lắm chứ.

Thật là sự mặc khải tiên tri về tình yêu của Đức Chúa Trời: Người cha sẵn sàng dâng đứa con yêu dấu của mình và người con sẵn sàng vâng phục để trở thành của tế lễ đó. Chúng ta có thể xem điều đó trong yên lặng với đầy ngạc nhiên.

Dĩ nhiên chúng ta biết kết thúc của câu chuyện này. Cuối cùng, Đức Chúa Trời đã sắm sẵn một sinh tế là một con chiên đực mắc trong một bụi gai gần đó. Sự sống của Ysác đã không bị đụng đến và Đức Chúa Trời làm mới lại lời hứa của Ngài với Ápraham. Qua Ysác sẽ có một dân tộc làm nguồn phước cho mọi dân trên đất.

2. Hai Ngàn Năm Sau: Một Câu Chuyện Tương Tự.

Hai ngàn năm sau, chúng ta lại thấy được một câu chuyện tương tự. Chỉ có điều là lần này không có sự giải cứu ở phút chót cho Đấng đã dâng mạng sống mình làm của tế lễ.

a. Chúa Jesus, Người Con Yêu Dấu.

Chúng ta đang nói về Con của Đức Chúa Trời. Đấng đã tự phó mình làm "Chiên Con của Đức Chúa Trời". Ápraham và Ysác là hình bóng tuyệt đẹp cho mối quan hệ Cha, Con trong Đức Chúa Trời.

Lần đầu tiên trong Kinh Thánh đã xuất hiện một từ hoặc một khái niệm rất quan trọng và đã nêu lên một khuôn mẫu ứng dụng rộng rãi hơn. Do đó từ ngữ được tìm thấy trong bối cảnh này mang một ý nghĩa rất đặc biệt.

Lưy ý trong tâm trí rằng từ "yêu" đầu tiên xuất hiện trong Kinh Thánh là đề cập đến tình yêu của cha đối với con. Nói cụ thể hơn, đó là tình yêu của Ápraham đối với Ysác.

"... Hãy bắt đứa con một ngươi yêu dấu, là Ysác " (22:2).

Từ "yêu" xuất hiện lần đầu tiên trong Tân Ước nằm trong ba sách Phúc âm tương đồng, trong câu nổi tiếng này: "Này là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường " (Mat 3:17; Mác 1:11; Lu 3:22). Nếu Ápraham đã yêu đứa con một của ông thể ấy thì Đức Chúa Trời còn yêu Con Độc Nhất của Ngài là dường nào!

Phúc âm Giăng là phúc âm nói về tình yêu của Đức Chúa Trời. Liên hệ đầu tiên đến tình yêu vĩ đại của Đức Chúa Trời trong sách phúc âm đặc biệt này là gì? Khi thấy được điều đó, chúng ta đã vô cùng ngạc nhiên: "Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con một của Ngài hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời " (Giăng 3:16 smf).

b. Họ "Đồng Đi".

Phải, Cha đã từng yêu thương Con mình từ trong quá khứ đời đời, Ngài đã yêu thương Con (17:24). Thật vậy, Cha và Con đã yêu nhau biết bao! Nhưng chúng ta cũng được bao hàm trong tình yêu đó. Chúa Jesus phán với chúng ta rằng Cha đã yêu chúng ta như yêu chính Con của Ngài (17:23).

Chiên Con của Đức Chúa Trời đã bị giết đi từ trước khi sáng thế (Khải 13:8).

Điều này vượt quá sự hiểu biết của chúng ta, nhưng trước khi thế gian được tạo dựng nên, Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con đã lên kế hoạch cứu chuộc chúng ta trong tình yêu thương. Cả Cha và Con "đồng bước đi" trong tình yêu đó vì bạn và tôi!

Hơn nữa, cả Cha và Con "đồng thực hiện điều đó" trên thập tự giá.

Nhiều người trong chúng ta đã có suy nghĩ sai lầm rằng Cha đã lìa xa Con Ngài vào giờ phút kinh khủng mà Ngài "bị bỏ". Đúng vậy, một Đức Chúa Trời thánh khiết không thể chấp nhận tội lỗi. Và lúc đó Đấng Christ đã mang lấy tội lỗi của chúng ta trên chính thân thể của Ngài.

"Cha đã làm cho Con Ngài, Đấng không hề biết về tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho trong Ngài chúng ta có thể trở nên công bình trước mặt Đức Chúa Trời " (IICôr 5:21 smf).

Nhưng điều đó không có nghĩa là Cha không cảm thấy đau đớn về sự đau đớn của con Ngài trên thập tự.

Khi Con tinh sạch, thánh khiết và vô tội của Đức Chúa Trời mang tội lỗi của chúng ta trên thân thể Ngài thì một điều thật kinh khủng đã xảy ra. Lần đầu tiên trong suốt cả quá khứ đời đời, sự tương giao của Ngài với Cha bị cắt đứt.

Tội lỗi đã làm cho phân cách. "... vì sự gian ác của các ngươi đã làm xa cách mình với Đức Chúa Trời " (Ês 59:2).

Sự chết thuộc linh là sự xa cách với Đức Chúa Trời. Là con người, Ngài đã trả đủ cho án phạt về tội lỗi của chúng ta, chỉ một mình Ngài chịu trên thập tự giá.

Nhưng Đức Chúa Cha cũng hết sức đau đớn về hình phạt đó. Khi sự tương giao bị phá vỡ, cả hai đều phải chịu một nỗi đau khủng khiếp. Cha và Con đều đi con đường đau thương đó cho đến cuối cùng.

Phaolô đề cập đến ý nghĩa của lẽ thật đau thương nhưng rất kỳ diệu ấy trong những lời ông viết cho Hội Thánh Côrinhtô:

"Vì Đức Chúa Cha đang ở trong Đấng Christ để làm cho thế gian được phục hòa với Ngài, không kể tội lỗi của loài người nữa " (IICôr 5:19 smf).

Đây là một phần trong sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời Ba Ngôi. Chúa Jesus phán: "Ta ở trong Cha và Cha ở trong ta " (Giăng 14:10-11).

Khi Chúa Jesus được trinh nữ sinh ra, Kinh Thánh đã chép trong Mat 1:23 rằng: "Họ sẽ gọi Ngài là "Emmanuên", nghĩa là Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta". Khi nhìn thấy Đức Chúa Jesus, Giăng báptít đã tuyên bố: "Này là Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng cất tội lỗi của thế gian đi " (Giăng 1:29).

c. "Ta Sẽ Chết Thay Cho Họ".

Chúng ta nhớ lại lời của Ápraham nói với Ysác rằng: "Con ơi! Chính Đức Chúa Trời sẽ sắm sẵn (Ngài như) chiên con để dùng làm của lễ thiêu. .." (Sáng 22:8). Đức Chúa Trời đến từ thiên đàng trong Đấng Christ, mặc lấy hình ảnh con người và tự dâng mình "làm Chiên Con của Đức Chúa Trời để cất tội lỗi của thế gian ".

Những lời tiên tri này vẽ lên một bức tranh đẹp đẽ về tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta. Đức Chúa Trời đã sắm sẵn "chính Ngài" như là con chiên sinh tế thay cho tội lỗi chúng ta. Chính Ngài chịu trách nhiệm về sự cứu rỗi của chúng ta.

Đức Chúa Trời thánh khiết và công bình đã tuyên bố "Linh hồn nào phạm tội đều sẽ chết " (Êxê 18:4). Và như thế, vị quan tòa của cả trái đất này buộc toàn thể nhân loại phải chịu chết. Đó là cách duy nhất mà sự công bình có thể làm được.

Nhưng Đấng Tạo hóa toàn năng của cả vũ trụ này và vị quan tòa của toàn thể nhân loại này lại là Cha Cứu Chuộc. Ngài đã đoái xem thế giới tội lỗi trong tình yêu thương và sự thương xót và đưa ra một quyết định rất đổi kỳ diệu nhưng cũng rất kinh khủng.

"Ta sẽ chết thay cho họ. Ta sẽ chịu sự trừng phạt mà sự công bình đã đòi hỏi để cho họ được sống. Ta yêu họ vô cùng".

Và đó là điều Đức Chúa Trời đã làm. Ngài đã ở trong Chúa Jesus Christ để làm cho thế gian hòa lại với Ngài (IICôr 5:19). Ngài đã nhóm hợp toàn thể nhân loại trong con Ngài, và chết trên cây thập tự. Bây giờ đoạn Kinh Thánh trong thư tín của Phaolô gởi cho người Rôma trở nên sống động với nhiều ý nghĩa.

"Bởi tội lỗi của một người (Ađam), sự chết đã đến trên toàn thể loài người. Cũng vậy, bởi hành động công bình của một người (Đấng Christ) mà món quà sự sống được ban cho con người cách nhưng không. Trong Ngài, họ được công bình trước mặt Đức Chúa Trời.

Bởi sự bất tuân của một người (Ađam) mà mọi người trở nên tội nhân thể nào thì bởi sự vâng phục của một người (Đấng Christ) mà mọi người đều trở nên công bình thể ấy.

Đã có một lần tội lỗi cai trị xuyên qua sự chết nhưng bây giờ ân điển cai trị bằng cách làm cho chúng ta trở nên công bình trong Đức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta. Do đó chúng ta sẽ được sống mãi mãi. " (Rô 5:18, 19, 21 smf).

Nguyện sự ngợi khen thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta vì tình yêu, ân điển và sự thương xót của Ngài trong Chúa Jesus Christ!

E. HÔM NAY LÀ NGÀY CỨU RỖI.

Điều này không có nghĩa là cả nhân loại đều được cứu mà không cần phải đến với Đấng Christ cách cá nhân để nhận lấy món quà cứu rỗi của Ngài. Chúng ta nên nhớ rằng món quà sẽ không phải là quà nếu người ta không nhận lấy.

Trong Rô 5:17, Kinh Thánh cho chúng ta thấy rằng chúng ta phải "nhận" món quà sự sống nhơn từ của Đức Chúa Trời trong Chúa Jesus Christ một cách cá nhân. Nếu chúng ta không nhận món quà đó, thì món quà đó chẳng ích gì cho chúng ta cả. Sự ban cho đã thực hiện rồi chỉ còn lại sự tiếp nhận thôi. Chỉ có ai tiếp nhận Chúa Jesus làm Cứu Chúa thì mới hưởng được sự sống đời đời.

"Xin hãy lắng nghe! BÂY GIỜ là thì giờ thuận tiện. Hôm nay là ngày cứu rỗi " (IICôr 6:2 smf). Đức Chúa Trời kêu gọi bạn ngày hôm nay chỉ để làm một điều: tiếp nhận Con Ngài làm Cứu Chúa của bạn. Không có điều gì là đáng kể hết.

Charles Wesley đã viết một bài thánh ca rất hay là: "Trong tay tôi không còn nắm lấy điều gì cả, chỉ còn mang thập tự của Ngài mà thôi". Và ông luôn nói như vậy.

Còn Andrew Murray thì nói như thế này: "Mọi người hãy dẹp hết tất cả tội lỗi và công đức của mình sang một bên và hãy mau chạy đến với Chúa Giêxu!"

"Phải, tiền công của tội lỗi là sự chết nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta. .." (Rô 6:23).

"Ngài đã đến trong xứ mình song dân mình chẳng hề nhận lấy. Nhưng hễ ai đã nhận Ngài thì Ngài ban cho quyền trở nên con cái của Đức Chúa Trời " (Giăng 1:11-12). Halêlugia, trong Ngài chúng ta có một Cứu Chúa và một sự CỨU RỖI VĨ ĐẠI!

1. Lời Cầu Nguyện Cho Sự Cứu Rỗi

"Lạy Chúa Jesus yêu dấu. Con đã nhận Ngài làm Chúa và Cứu Chúa của con. Con đã mở cửa lòng con cho Ngài, xin Ngài hãy bước vào và sống trong con. Trong lòng con tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại. Con xin lỗi Ngài về tội lỗi của con và xin ăn năn thật sự. Bởi sự giúp đỡ của Ngài và bởi Thánh Linh Ngài, con sẽ sống một cuộc đời làm cho Ngài hài lòng. A-men ".

"Nếu bạn tin trong lòng rằng Đức Chúa Trời đã khiến Chúa Jesus sống lại từ kẻ chết và nếu môi miệng bạn nói ra rằng Jesus là Chúa thì bạn sẽ được cứu " (Rô 10:9 smf).

Bây giờ bạn hãy đi nói với người khác rằng: "Tôi vừa tiếp nhận Chúa Giêxu làm Chúa và Cứu Chúa của tôi!".

F. KẾT LUẬN.

Trong chương 1,2,3,4, chúng ta đã nghiên cứu tóm tắt về nền tảng Hội Thánh trong Kinh Thánh. Chúng ta đã thấy kế hoạch của Đức Chúa Trời đã được mặc khải, bị phá hỏng và được khôi phục cách vinh hiển như thế nào rồi. Trong chương 5, chúng ta sẽ xem xét vai trò và chức năng của những người lãnh đạo trong Hội Thánh.