Get Adobe Flash player
Tham Khảo Cây Gậy Của Người Chăn Bầy NGƯỜI LÃNH ĐẠO LÀM THẾ NÀO ĐỂ... D1.3 Các Ân Tứ Của Đức Thánh Linh

NHẬN LÃNH BÁP-TÊM THÁNH LINH VÀ CÁC ÂN TỨ THÁNH LINH

Bài của Gerald Rowlands, Australia

Chương 3: CÁC ÂN TỨ CỦA ĐỨC THÁNH LINH

A. CÁC ÂN TỨ ĐƯỢC MÔ TẢ

Cuộc phục hưng thuộc linh vĩ đại đang lan tràn trên thế giới ngày nay thường được gọi là "Phục Hưng Ân Tứ".

Nhóm từ này được dùng để mô tả một khía cạnh cực kỳ quan trọng của sự phục hưng này. Ân tứ (tiếng Hy Lạp gọi là Charisms) Thánh linh đang được phục hồi trong Hội Thánh. Sự phục hồi này đem lại sự bày tỏ siêu nhiên đầy quyền năng rõ ràng của Hội Thánh thời Tân Ước.

Những sự bày tỏ này hay Ân Tứ của Thánh Linh vắng bóng ở Hội Thánh trong nhiều thế kỷ. Năm mươi năm về trước, Đức Chúa Trời đã phục hồi lại những ân tứ này và chương trình phục hồi tiến triển lớn lao trong vòng hai mươi năm qua.

Cuộc Phục Hưng Ân Tứ đã xuyên thủng mọi thành phần của Hội Thánh Cơ Đốc đem lại sự sống mới và quyền năng cho Thân Thể của Đấng Christ. Sự phục hồi những phước hạnh này đã tạo ra nhu cầu lớn lao cho việc dạy dỗ những đề tài quan trọng này.

Phaolô nói với Hội Thánh Côrinhtô: "Hỡi anh em, tôi không muốn anh em chẳng biết về các sự ban cho thiêng liêng" (ICôr 12:1). Đức Chúa Trời chắc chắn cũng không muốn các tín đồ ngày hôm nay thiếu sự hiểu biết.

1. Phân Loại Các Ân Tứ

Có nhiều Ân Tứ được đề cập trong Kinh Thánh. Phần tham khảo chính nằm trong các sách: Rô 12:3-8; ICôr 12:8-10, 28-30; Êph 4:11.

Vì mục đích của bài học này, chúng ta sẽ tự giới hạn để chỉ xem xét chín điều bày tỏ được liệt kê trong ICôr 12:8-10. Để đơn giản hóa bài học, chúng ta xếp loại chúng trong ba lãnh vực

a. Các Ân Tứ Lời Nói:

1) Tiếng lạ.

2) Thông giải tiếng lạ.

3) Tiên tri.

b. Các Ân Tứ Khải Thị:

1) Lời khôn ngoan.

2) Lời tri thức.

3) Phân biệt các linh.

c. Các Ân Tứ Khả Năng

1) Ân tứ đức tin.

2) Ân tứ chữa bệnh.

3) Làm các phép lạ.

2. Ai Là Người Được Đức Thánh Linh Sử Dụng Trong Sự Vận Hành Các Ân Tứ Này?

a. Bất cứ thành viên nào của Thân Thể

đều có thể được sử dụng (ICôr 12:7; 14:26, 31) không có thành viên nào bị bỏ rơi khỏi bất cứ ân tứ nào (1:7).

b. Chúng ta phải được đổ đầy Thánh Linh (Êph 5:18)

c. Chúng ta phải ao ước được sử dụng trong đường lối này (ICôr 12:31).

d. Chúng ta không nên phớt lờ về sự vận hành của các ân tứ (12:1)

e. Chúng ta phải ao ước các ân tứ thuộc linh 14:1-6)

f. Chúng ta phải được thúc đẩy bởi tình yêu chân thật vì Hội Thánh 13:1-13) và một ao ước thánh khiết để gây dựng Hội Thánh (14:12)

g. Chúng ta cần phải tìm kiếm để gia tăng trong sự vận hành các Ân Tứ (14:12).

3. Ân Tứ Tiếng Lạ (ICor 12:10)

a. Hai Chức Năng

Sự bày tỏ của Thánh Linh có hai chức năng:

Trước nhất, như là "ngôn ngữ cầu nguyện" có mục đích gây dựng người sử dụng ân tứ này.

Thứ hai, "Ân tứ tiếng lạ" được dùng để kết hợp với ân tứ thông giải tiếng lạ nhằm mục đích gây dựng Hội Thánh cũng như sự hiểu biết cá nhân.

b. Cách Hướng Dẫn Để Sử Dụng Tiếng Lạ Trước Hội Chúng

1) Phải được thúc đẩy bởi tình yêu (13:1).

2) Phải được cặp theo sự thông giải (14:5, 13, 28).

3) Phải hạn chế một người nói ba lần trong đám đông (14:27).

Bất cứ tín đồ nào đã từng nói tiếng lạ đều có khả năng gây dựng Hội Thánh qua việc nói tiếng lạ. Vì vậy, bạn phải chuẩn bị để làm như thế bất cứ lúc nào.

Hãy tìm kiếm để đầu phục Thánh Linh. Hãy để tâm trí thảnh thơi và mở lòng cho Đức Thánh Linh. Phát huy sự nhạy bén với điều Thánh Linh đang tìm kiếm để hành động và phán bảo trong bất cứ buổi nhóm nào.

Khi Đức Thánh Linh muốn đem đến một sứ điệp tiếng lạ qua bạn, thường thường bạn có sự nhận biết trong lòng về điều này trước khi bạn thực sự nói.

Thường thì đó là sự khuấy động nhẹ nhàng trong tâm linh bạn, một sự phấn khích nổi lên cùng với sự trông đợi. Điều này phát triển thành sự nhận thức sâu xa rằng Đức Thánh Linh sẽ cho bạn lời để nói ra trong buổi nhóm và rằng lời nói có trong bạn.

Bạn KHÔNG phải nói ra ngay. Tâm thần của các nhà tiên tri suy phục tiên tri (14:32). Bạn có thể yên lặng chờ đợi cho đến đúng thời điểm để nói. Đức Thánh Linh sẽ thúc đẩy bạn một cách rõ ràng vào thời điểm đó. Ngài sẽ không làm gián đoạn những gì đang diễn ra trong buổi nhóm. Ngài không bao giờ tạo ra rối rắm, vì Ngài không phải là tác giả của sự rối rắm (14:33).

Duy trì sự yên tĩnh và nghỉ ngơi; và khi Thánh Linh thúc đẩy bạn, hãy nói bằng giọng bình thường, rõ ràng dễ nghe. Bạn không phải la lớn hay rống cổ lên. Bạn có thể nói giọng bình thường, đều đặn, luôn tìm kiếm sự tuôn đổ nhẹ nhàng của Thánh Linh, Đấng ban cho lời để nói.

Khi sứ điệp hoàn tất, bạn phải chờ đợi Đức Chúa Trời cho lời thông giải (14:13). Hãy cầu nguyện để bạn có thể thông giải lời đó được.

Đôi khi vài tín đồ khác sẽ nhận được lời thông giải. Nhưng khi không có ai thông giải, thì người nói tiếng lạ phải duy trì yên lặng, và không nói thêm gì cả nếu không có ai được ban cho lời thông giải (14:1-13).

4. Sự Thông Giải Tiếng Lạ (ICor 12:10)

Đây là ân tứ đồng hành với tiếng lạ, và luôn luôn được sử dụng kết hợp với ân tứ Tiếng lạ. Đây là khả năng siêu nhiên, bởi Đức Thánh Linh, để phiên dịch tiếng lạ qua ngôn ngữ hội chúng.

Đây KHÔNG phải là Ân tứ dịch thuật. Người thông dịch không hiểu ngôn ngữ đang được ban cho để nói.

Thông giải cũng siêu nhiên như nói tiếng lạ. Dĩ nhiên bởi Đức Thánh Linh, chúng ta có thể nói lại những gì được người ta nói từ thứ tiếng không ai hiểu. Trong cách này, hội chúng có thể hiểu biết và được gây dựng. Họ tiếp nhận và được gây dựng.

a. Ai Có Thể Sử Dụng Ân Tứ Này?

Thông giải tiếng lạ được ban cho " theo ý muốn của Thánh linh " (12:11). Bất cứ môn đồ đầy dẫy Đức Thánh Linh nào cũng đều được chọn và được xức dầu bởi Đức Thánh Linh để bày tỏ ân tứ này. Bất cứ ai nói tiếng lạ đều được phán cách rõ ràng. "Kẻ nói tiếng lạ, hãy cầu nguyện để có ơn thông giải " (14:13). Một lần nữa, chúng ta phải tìm kiếm để phát triển sự nhạy bén với Đức Thánh Linh.

Đang khi hội chúng thờ phượng Chúa, hãy giữ cho tâm trí và tâm thần bạn mở ra cho Đức Thánh Linh. Dần dần bạn sẽ có cảm nhận ai sẽ nói tiếng lạ và Đức Chúa Trời đang cho bạn thông giải Lời ấy.

Khi người đó nói tiếng lạ, hãy yên lặng chờ đợi cho tới khi kết thúc. Khi bạn bắt đầu nói, có thể bạn chỉ có câu thông giải đầu tiên và một ý kiến ngắn gọn tiếp theo. Cũng như tất cả các ân tứ khác của Đức Thánh Linh, ân tứ này cũng vận hành bằng đức tin.

Khi bạn bắt đầu nói ra những gì Thánh Linh đang cho bạn, hãy nói đều đều, rõ ràng, dễ nghe. Cẩn thận đừng nói "trỗi hơn lượng đức tin của bạn " (Rô 12:6).

Tránh các suy nghĩ, cảm tưởng hoặc ý kiến cá nhân len vào trong lúc thông giải. Hãy để tư tưởng cá nhân lơ lửng, và tâm trí như ống dẫn trong sạch cho Đức Thánh Linh tuôn đổ qua.

Khi việc thông giải chấm dứt và bạn có cảm tưởng rằng Đức Thánh Linh đã hoàn tất ước muốn của Ngài, nên dừng lại!. Đừng tìm kiếm cách phiên dịch lại lời thông giải. Nói cách khác đừng bắt đầu nói với mọi người những gì bạn "nghĩ" lời thông giải này có nghĩa gì. Hãy để việc đó cho mọi người, để Đức Thánh Linh có thể áp dụng sự thúc đẩy và an ủi đã được ban cho chính họ.

Làm xong việc thông giải, hãy giữ yên lặng đang khi có lời bàn tán đoán xét bởi những người xung quanh. Nếu có bất cứ tín đồ nào đang có mặt thường xuyên được sử dụng trong các ân tứ lời nói, thì họ sẽ cố gắng đánh giá xem các lời đó có phải thật là của Đức Chúa Trời hay không. (ICôr 14:29).

Tiêu chuẩn mà người ta xét đoán cũng giống như xét đoán lời tiên tri, chúng ta sẽ xem xét tiếp vấn đề này trong sự bày tỏ kế tiếp.

5. Ân Tứ Tiên Tri (ICor 12:10)

Lời tiên tri đơn giản có nghĩa là "nói ra những lời được cảm thúc". Theo 14:31, thỉnh thoảng tất cả tín đồ có thể thực hành ân tứ này theo ý của Đức Thánh Linh. Mọi người có thể nói tiên tri, từng người một, nhưng không quá ba lần trước hội chúng vì có nhiều người đang chờ đợi thực hành ân tứ này. (14:29-33).

a. Mục Đích Của An Tứ Nói Tiên Tri Như Thế Là:

1) Gây dựng: Xây dựng, làm mạnh mẽ tín đồ.

2) Thúc đẩy: Khuấy động, đương đầu và thách thức với các tín đồ.

3) An ủi: Nói lời khích lệ, lời an ủi.

Thông thường một lời tiên tri có thể bao gồm cả ba yếu tố trên.

b. Ba Sự Hiểu Lầm Về Lời Tiên Tri

1) Không Được Nhầm Lẫn Với Lời Giảng. Nhiều người ngày nay quả quyết rằng ân tứ tiên tri là khả năng giảng đạo tốt. Tuy nhiên, giảng đạo và dạy dỗ luôn luôn là kết quả của sự suy gẫm cầu nguyện thường xuyên trong lời của Đức Chúa Trời.

Cẩn thận chuẩn bị tâm trí và tâm thần mình, vì người giảng đạo có thể mang lại sự hiểu biết cho dân chúng.

Ngược lại, ân tứ tiên tri không phải là kết quả của việc nghiên cứu cách cẩn thận mà thường là nói tự phát, không phải suy gẫm trước bởi Thánh Linh.

2) Ân Tứ Tiên Tri Không Phải Để Nói Trước Chuyện Tương Lai. Ân tứ này để "nói ra" hơn là "nói trước". Mục đích là để gây dựng (xây dựng), khích lệ (khuấy động), an ủi (làm cho vui), và không tìm cách nói trước, đoán trước các dữ kiện tương lai. (14:3).

Bất cứ lúc nào có yếu tố tiên đoán trong lời nói tiên tri, thường thì có một ân tứ khác (lời tri thức và lời khôn ngoan) đang vận hành cùng với ân tứ đó.

3) Ân Tứ Này Không Dành Cho Sự Dẫn Dắt Cá Nhân. Nếu chúng ta cần sự dẫn dắt cá nhân, chúng ta phải cầu xin chính Chúa Jêsus (Gia 1:5).

Chúng ta cũng có thể tìm kiếm sự dẫn dắt trong lời của Đức Chúa Trời là Kinh Thánh. Nếu lời tiên tri đến với chúng ta bằng sự dạy dỗ trong tương lai, thì lời đó phải xác thực điều gì mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho cá nhân chúng ta.

c. Sự Dạy Dỗ Trong Kinh Thánh Về Ân Tứ Tiên Tri.

1) Lời Tiên Tri Là Để Nói Cách Siêu Nhiên Với Con Người (ICôr 14:3). Dùng để truyền đạt tâm trí của Đức Chúa Trời cho Hội Thánh. Người tiên tri thay mặt cho Đức Chúa Trời nói với tín đồ để gây dựng, khích lệ, và an ủi.

2) Lời Tiên Tri Không cần Thông Giải. Ân tứ tiếng lạ cần sự thông giải, nhưng lời tiên tri thì không.

3) Lời Tiên Tri Chinh Phục Kẻ Dốt Nát. (14:15, 16). Qua sự vận hành của ân tứ tiên tri, người chẳng tin sẽ:

• Được thuyết phục hoàn toàn

• Bị xét đoán hoàn toàn

• Các sự kín dấu trong lòng được bày tỏ

• Sấp mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời trong sự khiêm nhường

• Biết Đức Chúa Trời là thật giữa vòng các bạn

• Thờ phượng Đức Chúa Trời

4) Lời Tiên Tri Vận Hành Để Cho Các Tín Đồ Có Thể Học Hỏi (14:31). Điều này không có liên quan gì đến sự dạy dỗ mà sự dạy đỗ thường đến từ sự bày tỏ trong Lời Của Đức Chúa Trời qua chức vụ của một giáo sư. Hơn thế nữa, đó là sự học hỏi các lẽ thật thuộc linh qua sự xức dầu của Đức Thánh Linh. Những sự dạy dỗ như thế nên được kiểm tra bởi những lời Kinh Thánh được viết ra trước khi xét đoán.

Câu Kinh thánh này cũng có nghĩa là những ai mới tin Chúa Jesus Christ có thể học cách sử dụng Ân Tứ Tiên Tri. Có những buổi nhóm của học viên, giống như "trường học của các nhà tiên tri" trong Cựu Ước.

5) Mọi Người Phải Ao Ước Và Khao Khát Ân Tứ Này (14:1, 39). Qua phương pháp này chúng ta có thể được sử dụng bởi Đức Chúa Trời để khích lệ dân Ngài.

6) Ai Đang Vận Hành Ân Tứ Phải Chịu Trách Nhiệm Về Việc Sử Dụng Hay Lạm Dụng Ân Tứ Ấy (14:32). Lời tiên tri KHÔNG phải là lời nói không kiểm soát được. Nhà tiên tri cũng không phải là người mê hoặc hay thôi miên. Người cũng không làm điều gì hay nói cái gì chống lại ý mình. Ân tứ tiên tri đầu phục nhà tiên tri. Nhà tiên tri sẽ thay mặt Đức Chúa Trời nói ra; và nhà tiên tri phải kiểm soát tất cả những gì họ nói.

7) Bởi Vì Những Ai Nói Tên Tri Có Thể Sai Lầm; Lời Tiên Tri Phải Được Xét Đoán (14:29; Phục 18:20-22; Giê 14:14, 15; 23:30. Cũng xem phần D2 để biết thêm chi tiết.

8) Hướng Dẫn Để Đoán Xét Một Lời Tiên Tri:

a) Không Bao Giờ Mâu Thuẫn Với Lời Thành Văn Của Đức Chúa Trời. Qua lời tiên tri, Đức Chúa Trời không bao giờ phán với chúng ta phải làm điều gì mà Lời của Ngài không cho phép.

b) Luôn luôn tôn vinh Jesus Christ, và không bao giờ phỉ báng Ngài.

c) Phải gây dựng, khích lệ, an ủi tín đồ: không để họ rối trí, buồn bả, bất ổn định.

d) Phải có sự xác chứng của đa số tín đồ hiện diện, đặc biệt nhiều người trưởng thành, chính họ thường xuyên được sử dụng để vận hành ân tứ lời nói.

e) Không nên phá vỡ tinh thần buổi nhóm, vì có thể làm đổi hướng của nó.

f) Phải được ứng nghiệm nếu có một phương diện tiên đoán

g) Phải qua sự thử nghiệm bông trái. (Mat 7:16) Nói về tiên tri giả, Chúa Jesus công bố: "Các ngươi nhờ trái nó mà nhận biết". Chúng ta phải bảo vệ bầy chiên chống lại bất cứ cái gì gọi là tiên tri đến từ những người có đời sống và việc làm bị Chúa Jesus quở trách.

9) Làm thế nào để nói tiên tri. Hãy dãn xả. Đừng bị căng thẳng.

Yên lặng chờ đợi Đức Chúa Trời trong tâm linh của chúng ta. Hãy giữ tâm trí mở ra cho tiếng phán của Ngài. Khi bạn cảm thấy có sự thúc đẩy của Thánh Linh trong tâm linh của bạn, hãy phó mình cho Đức Chúa Trời như là ống dẫn để Ngài tuôn chảy qua. Nên nhớ rằng ân tứ vận hành bởi đức tin.

Bắt đầu nói ra điều gì Đức Chúa Trời ban cho. Nói một cách giản dị. Đang khi nói, hãy chờ đợi Ngài cách yên lặng cho phần còn lại của sứ điệp. Đừng nói tiên tri quá lượng đức tin của bạn (Rô 12:6). Hãy sáng suốt khi nào Thánh Linh nói xong, thì dừng lại!

6. Lời Tri Thức (ICor 12:8)

ĐỊNH NGHĨA: Lời Tri Thức là một phần nhỏ của tri thức Đức Chúa Trời, được Đức Thánh Linh ban cho con người.

Lời tri thức cho chúng ta các sự kiện và thông tin nào đó qua sự mặc khải siêu nhiên của Đức Thánh Linh. Con người không biết trước thông tin này và sự tri thức không thể có được bởi các phương cách tự nhiên. Đó là sự truyền đạt siêu nhiên.

a. Các Thí Dụ Trong Kinh Thánh.

1) Trong Chức Vụ Của Chúa Jesus: Chúa Jesus biết một số sự thật về Nathanaên mà trước đó Ngài chưa bao giờ gặp ông (Giăng 1:47-50). Chúa Jesus biết nhiều sự việc về người đàn bà Samari mặc dù trước đây Ngài chưa hề trông thấy bà (4:18-20).

Bà rất kinh ngạc về tri thức của Chúa Giêxu khi Ngài nói chính xác về đời sống quá khứ và hiện tại của bà. Việc sử dụng Lời Tri Thức sớm muộn gì cũng đem lại sự phục hưng vĩ đại.

2) Trong Hội Thánh đầu tiên. Anania tiếp nhận những thông tin đặc biệt hết sức chi tiết về Saulơ, người mà ông chưa hề gặp. Ông biết chính xác con đường và căn hộ mà Saulơ đang ở. Ông biết Saulơ mới cầu nguyện, và khi ông đặt tay lên Saulơ, thì người nhận được ánh sáng (Công 9:10-20).

3) Trong Cựu Ước. IISa 12:1-14, Đức Chúa Trời mặc khải cho tiên tri Nathan các sự kiện chắc chắn và các chi tiết liên quan đến sự phạm tội của David.

b. Phân Biệt:

Lời tri thức thì khác với sự tri thức của con người có được từ các phương tiện thiên nhiên.

Lời tri thức không thể có được bởi trí tuệ học hỏi và cũng không thể có được bởi sự nghiên cứu sách vở hay theo đuổi các khóa học ở trường cao đẳng hay đại học. Lời tri thức cũng không phải là khả năng học tập, hiểu biết hay thông giải Kinh thánh.

c. Việc Sử Dụng Lời Tri Thức Trong Kinh Thánh.

1) Phát hiện tội lỗi (12:1-10; Công 5:1-11)

2) Mang con người đến với Đức Chúa Trời (Giăng 1:47-50; 4:18-20)

3) Đưa ra hướng dẫn và phương hướng (Công 9:11)

4) Khích lệ khi nản lòng (ICác 19:9-18)

5) Truyền đạt tri thức về các sự kiện tương lai (Công 11:27-28)

6) Mặc khải những việc còn dấu kín (ISa 10:22)

d. Vận Hành Ân Tứ Nầy

1) Tính chất siêu nhiên. không có được do tính lôgic hoặc suy luận hoặc lý luận v.v.. cũng không có được bởi các giác quan tự nhiên, nhưng bởi sự mặc khải siêu nhiên từ Đức Thánh Linh.

2) Vận hành bởi đức tin. Con người tiếp nhận sự mặc khải bởi đức tin.

3) Tiếp nhận sự mặc khải bằng tâm linh của mình chứ không phải bởi sự tri thức hay cảm xúc.

4) Không phải ân tứ lời nói. Người ta có thể tiếp nhận ân tứ này cách yên lặng trong tâm linh của mình hay có thể nghe được tùy trường hợp (Công 9:11)

5) Ân tứ trở nên lời nói khi được chia sẻ lại (Giăng 4:4-7)

6) Bất cứ Cơ đốc nhân nào đầy dẫy Thánh Linh muốn nghe tiếng của Đức Chúa Trời có thể có kinh nghiệm ân tứ này.

7) Đó là tài sản vô giá đối với chức vụ cố vấn

8) Hành động vâng lời và hưởng ứng thì cần thiết cho sự vận hành liên tục của ân tứ này trong chức vụ của một người.

9) Thường xuyên được bày tỏ cùng với Lời Khôn Ngoan. Đây là sự khôn ngoan thiêng thượng được truyền đạt để biết làm gì với Lời khôn ngoan và áp dụng lời đó cách chính xác và khôn ngoan như thế nào.

7. Lời Khôn Ngoan (ICor 12:8)

Ân tứ này đứng đầu danh sách về sự quan trọng của các ân tứ, giúp chúng ta có thể nói và hành động theo sự khôn ngoan thiên thượng và vì vậy bảo đảm sử dụng và áp dụng đúng các ân tứ khác.

Khi lời khôn ngoan vắng mặt thì những ân tứ khác có thể bị sử dụng sai lệch gây ra nhiều rắc rối.

a. Định Nghĩa:

Lời khôn ngoan là một phần của sự khôn ngoan thiêng thượng được truyền đạt một cách siêu nhiên bởi Đức Thánh Linh, cung cấp sự khôn ngoan cho một người tức thời để biết nói hay làm điều gì trong hoàn cảnh đó.

Đức Chúa Trời thường ban Lời khôn ngoan chung với lời tri thức, vì thế tín đồ có thể biết cách áp dụng đúng lời tri thức như thế nào. Đức Chúa Trời mặc khải cho Anania nơi chốn và tình trạng của Saulơ bởi lời tri thức. Ngài cũng chỉ cho ông phải làm điều gì bằng lời khôn ngoan trong tình huống khó khăn này.

Ghi chú: Đó là một lời (logos) của sự khôn ngoan chứ không phải ân tứ khôn ngoan

b. Minh Họa:

Có một người gặp nan đề về luật pháp và hỏi ý kiến luật sư của mình. Vị luật sư không cho thân chủ mình tất cả sự khôn ngoan và tri thức mà ông ta có. Ông ta trích lời hoặc một phần của tri thức của ông để áp dụng cho nhu cầu thân chủ của mình và truyền đạt lời đó. Giống như vậy, Đức Chúa Trời (Đấng biết mọi sự) trích một phần sự khôn ngoan trong kho khôn ngoan vô hạn của Ngài mà cần thiết cho một trong các con cái của Ngài, và gởi tới bằng Đức Thánh Linh.

c. Sự Phân Biệt

LỜI KHÔN NGOAN.

1) Không phải là sự khôn ngoan tự nhiên

2) Không phải là sự khôn ngoan có được từ thành tích học vấn

3) Không phải là sự khôn ngoan có được từ kinh nghiệm

4) Thậm chí cũng không phải là sự khôn ngoan để am hiểu Kinh Thánh

5) Có tính chất siêu nhiên

6) Được ban cho khi Đức Thánh Linh muốn (ICôr 12:11)

7) Được ban cho theo nhu cầu hay hoàn cảnh đặc biệt

8) Không phải ân tứ khôn ngoan mà là lời khôn ngoan

d. Vài Điển Hình Trong Kinh Thánh

1) Lu 4:1-13 Chúa Jesus bị cám dỗ trong đồng vắng. Lời đối đáp mà Chúa Jesus đưa ra cho Satan là lời khôn ngoan được truyền đạt bởi Đức Thánh Linh.

2) 20:22-26 Các thầy thông giáo cố bẫy Chúa Jesus, nhưng lời khôn ngoan được ban cho bởi Đức Thánh Linh làm chúng thất bại.

3) Giăng 8:3-11 Một lần nữa các thầy thông giáo và người Pharasi tìm cách bẫy Chúa Jesus, nhưng lời khôn ngoan và cách xử lý tình huống của Ngài đã đánh bại họ.

4) Công 6:1-5 Ban cho lời khôn ngoan trong công tác quản lý Hội Thánh.

5) 15:28 Giải quyết sự khủng hoảng trong Hội Thánh.

6) 27:23-24 Ban cho Phaolô sự điều khiển hoàn cảnh, kết quả nhiều người được cứu.

e. Lưu ý:

Lời khôn ngoan được hứa cho tất cả các sứ đồ của Đấng Christ "Vậy các người hãy nhớ kỹ trong trí, đừng lo nghĩ gì trước về sự binh vực mình như thế nào, vì ta sẽ ban cho các người lời lẽ và sự khôn ngoan mà kẻ nghịch không chống cự và bắt bẻ được " (Lu 21:15-16).

f Quan sát:

Lời khôn ngoan không nhất thiết là ân tứ lời nói, nhưng hơn thế nữa đó là ân tứ khải thị. Người ta nhận được ân tứ này trong trí hay trong tâm linh cách yên lặng và ân tứ này thường được ban cho khi khải đạo, giảng đạo, nói tiên tri, hay truyền đạt một mệnh lệnh của Chúa để chúng ta biết cách đáp ứng với mạng lệnh đó như thế nào.

8. Phân Biệt Các Linh (ICor 12:10).

Phân biệt các linh là một đề tài quan trọng hơn những gì mà chúng ta thường nhận biết cách chung chung. Nếu ân tứ thuộc linh này được sử dụng thường xuyên hơn để đuổi quỷ thì những nan đề mà chúng ta phải đương đầu sẽ giảm đi nhiều hơn.

Phân biệt các linh là ân tứ thứ ba trong nhóm ân tứ mặc khải (Lời tri thức và lời khôn ngoan là hai ân tứ khác của nhóm) được Thánh Linh truyền đạt để chúng ta có thể nhìn vào lãnh vực thuộc linh để phân biệt giữa linh của Satan (tà linh), Thánh linh Chúa và nhân linh. Bởi ân tứ này chúng ta có thể phân biệt nguồn gốc của một số các hành động, dạy dỗ, hoàn cảnh nào đó đã được thôi thúc bởi các linh.

Ân tứ này bị giới hạn hơn hai ân tứ mặc khải kia. Sự mặc khải thường bị hạn chế về nguồn gốc của cách cư xử khi tra hỏi. Tuy nhiên ân tứ phân biệt các linh cũng vận hành một cách siêu nhiên như các ân tứ khác, cung cấp cho chúng ta sự thông suốt cần thiết để nhìn vào các sự việc.

a. Chức Năng Của Ân Tứ Này:

Ân tứ phân biệt các linh ban cho con người sự hiểu biết siêu nhiên về bản chất và hoạt động của các linh, cho con người có khả năng phân biệt được nguồn gốc các sinh hoạt thuộc linh của Thượng Đế, ma quỷ và loài người, và tỏ bày bản chất các linh.

Rất dễ ngộ nhận giữa hoạt động của tà linh và Thánh linh của Đức Chúa Trời: Satan luôn cố gắng giả mạo công việc của Thánh Linh. Satan được biết đến như là kẻ lừa đảo, cha của sự nói dối và là con rắn. Tất cả những danh hiệu này cho biết sự dối trá quỷ quyệt tinh vi mà nó dùng để đem đến mọi sự xấu xa khi có thể.

Nhiều lần, sự giả mạo của nó giống như thật đến nỗi chúng ta có thể bị đánh lừa. Nếu sự hiện diện của vài người nào đó có ân tứ siêu nhiên phân biệt các linh, họ sẽ biết công việc đó là của Satan chứ không phải của Thánh Linh.

Nếu hoạt động của ma quỷ luôn luôn sặc mùi gian ác xấu xa như chúng ta tưởng, thì sẽ không cần phải sử dụng các ân tứ thánh linh.

Trong trường hợp cô gái bị linh bói toán trong Công 16:1-40 Phaolô thách thức linh mà có thể sẽ lừa dối dễ dàng các đầy tớ khác của Đức Chúa Trời.

Cô gái đưa ra lời tuyên bố hoàn toàn chân thật:

"Những người này là những đầy tớ của Đức Chúa Trời rất cao, Đấng chỉ cho các người con đường cứu rỗi ", những linh đang nói là ác linh.

Tại sao ác linh lại quảng cáo các sứ đồ theo kiểu đó? Bởi vì lời nói đó không có ích lợi hay trợ giúp gì cho tin lành hay các người hầu việc Chúa khi có một người như vậy theo họ, và chắc chắn sẽ khiến cho nhiều người nghĩ rằng cô gái đó là người của các sứ đồ.

b. Sự Vận Hành Và Nhu Cầu Của Ân Tứ Ngày Nay.

Ân tứ phân biệt các linh đang được kinh nghiệm nhiều trong thời kỳ phục hưng của thế giới ngày nay, được nhìn thấy trong hành động qua chức vụ hầu việc của nhiều tôi tớ Đức Chúa Trời trong kỳ đổi mới hiện nay.

Ân tứ này hết sức cần thiết để vận hành Hội Thánh nếu Hội Thánh sẽ hoàn thành sứ mệnh cách đầy đủ và hủy phá công việc của ma quỷ.

Ngày nay có nhiều ma quỷ trên thế gian cũng như vào thời Chúa Jesus thi hành chức vụ trên đất và trong những ngày của Hội Thánh đầu tiên, mục tiêu của chúng vẫn luôn là sự gian ác.

Ân tứ siêu nhiên này rất cần thiết cho các giáo sĩ và nhân sự trong các khu vực bị các giới linh, Satan và sự huyền bí trói buộc.

c. Ân Tứ Phân Biệt Các Linh Vận Hành Như Thế Nào.

Chức năng đầu tiên và rõ ràng nhất của ân tứ này là mặc khải sự hiện diện của các tà linh trong đời sống con người hay trong Hội Thánh. Tuy nhiên ân tứ này cũng có nhiệm vụ đánh giá cội nguồn của một sứ điệp tiên tri, một bài dạy dỗ đặc biệt hay một vài sự bày tỏ siêu nhiên. Người đang thi hành chức vụ này có thể nói rõ cội nguồn của sứ điệp hay hành động là thuộc về ma quỷ, thiêng thượng hay đơn thuần chỉ là con người.

Nếu nguồn gốc được phân biệt là của ma quỷ, người đang thi hành chức vụ ân tứ này cũng có thể bày tỏ:

1) Bản Chất Của Ma Quỷ: Đây là công việc của nó, chẳng hạn như nói dối, gây nên tình trạng tật nguyền (như ung thư, đui mù, câm v.v...) hành vi bẩn thỉu và những chuyện giống như vậy.

2) Tên Của Ma Quỷ : Điều này thường được thể hiện theo bản chất của ma quỷ. Sự mặc khải đúng tên ma quỷ không phải là trường hợp hiếm hoi.

3) Số Ma Quỷ: Điều này xảy ra trong trường hợp của Quân Đội (Mác 5:1-9) và bảy quỷ mà Chúa Jesus đuổi ra khỏi Mari Mađờlen (Lu 8:2) Chẳng có gì lạ khi một người bị một hay nhiều linh trở lên ám cùng một lúc. Đây là phần của những thông tin được bày tỏ qua ân tứ phân biệt các linh.

4) Sức Mạnh Của Các Tà Ma Đặc Biệt: Thường thường trong một cuộc chạm trán với tà linh, thì người đang thi hành ân tứ phân biệt các linh sẽ có mặc khải để biết loại quỉ nào trong số chúng nó là mạnh sức nhất và có uy quyền cao nhất.

5) Lấy Thông Tin: Thông thường ma quỉ sẽ cho nhiều thông tin bằng lời nói về chúng cho người mà chúng biết có khả năng siêu nhiên phân biệt sự hiện diện của chúng và có quyền đuổi chúng.

Tuy nhiên vì ma quỉ hay nói dối, nên có ý kiến cho rằng chúng ta phải nghi ngờ những thông tin của chúng và dựa vào khả năng sáng suốt và hiểu biết sự việc cách siêu nhiên mà Đức Thánh Linh ban cho khi xem xét các thông tin.

d. Phân Biệt Các Linh Không Luôn Ban Cho Con Người Đức Tin Để Đuổi Quỷ.

Mặc dù Ân Tứ Phân Biệt Các Linh rất cần thiết để giải cứu hiệu nghiệm, nhưng chỉ có một ân tứ này không thôi thì chưa đủ. Cần phải kết hợp với Ân Tứ Đức Tin và Phép Lạ. Vậy những ai vận hành với những ân tứ này thường đạt được thành quả lớn lao trong việc đuổi quỉ.

9. Ân Tứ Đức Tin (ICôr 12:9)

Đức tin thường nói về tương lai, những điều không thấy và phi vật chất. Ân Tứ Đức Tin là khả năng đặc biệt được ban cho một người mà Đức Chúa Trời đang kêu gọi để thực hiện những hành động khó có thể xảy ra mà Đức Chúa Trời đã phán với họ.

Đức Chúa Trời cất hết mọi sự nghi ngờ khỏi chúng ta cách siêu nhiên, và đổ đầy chúng ta với đức tin đặc biệt để chúng ta có thể hoàn thành mục tiêu của Đức Chúa Trời bất chấp mọi nghịch cảnh trong cuộc sống.

Ân Tứ Đức Tin là sự ban cho đức tin đặc biệt của Đức Chúa Trời trên một tín hữu đầy dẫy Đức Thánh Linh khi người đó cần đến một đức tin trổi hơn bình thường để làm công tác mà Ngài giao cho.

Ân Tứ Đức Tin có chức năng là biến đức tin thông thường thành đức tin cao cấp. Đức tin thông thường mọc lên từ hạt giống đức tin cứu rỗi ban đầu được Đức Chúa Trời trồng trong lòng chúng ta (Rô 12:3). Mức độ đức tin thông thường thay đổi theo từng giai đoạn tăng trưởng của tín hữu ("đức tin nhỏ ", "đức tin lớn " v.v... Mat 14:29-31Lu 7:2-9).

Đức tin thông thường lớn lên như là kết quả của sự nuôi dưỡng bằng lời của Đức Chúa Trời, được luyện tập qua các hoàn cảnh của cuộc đời. Đức tin đó có thể phát triển đến mức độ cao. Tuy nhiên, Ân Tứ Đức Tin có một vai trò cao hơn so với mức độ cao nhất của đức tin thông thường.

Vài dịch giả cho rằng Ân Tứ Đức Tin là "đức tin đặc biệt". Điều này ám chỉ đức tin được ban cho bởi Đức Thánh Linh để đáp ứng các nhu cầu của chúng ta trong các hoàn cảnh đặc biệt và yếu đuối. Điều này đưa ra giả thuyết là Ân Tứ Đức Tin không ở hoài trong bất cứ tín đồ nào, nhưng có lẽ mỗi trường hợp là một sự bày tỏ Ân Tứ Đức Tin riêng biệt.

Một tình tiết trong đời sống Êli minh họa điều này. Ông nói với Vua Aháp rằng sẽ không có mưa khi ông công bố, và sẽ có mưa trở lại chỉ khi có lời của ông. (ICác 17:1). Ân Tứ Đức Tin của ông sinh ra sự ứng nghiệm lời tiên tri này một cách lạ lùng.

Ngược lại, ông lại thiếu đi đức tin đặc biệt này khi ngồi dưới cây giếng giêng đầy sợ hãi, mất nghị lực và muốn chết. Ân tứ Đức Tin không cần thiết lúc ấy (19:4). Không phải ông mất đức tin thông thường đối với Đức Chúa Trời và Lời của Ngài. Đức tin của riêng ông được làm mạnh mẽ khi Đức Chúa Trời phán với ông Ngài có 7.000 tín đồ trung tín khác trong xứ Israel.

Đức Chúa Trời muốn bạn biết rằng bạn có thể hầu việc với sự xác tín rằng khi có những mạng lệnh đặc biệt đối với bạn, Ngài sẽ ban cho bạn Đức Tin đặc biệt để bạn có thể làm trọn mục tiêu của Ngài cách siêu nhiên.

a. Ân Tứ Đức Tin Vận Hành Như Thế Nào?

Ân Tứ Đức Tin dường như vận hành theo phương pháp thụ động hơn nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Sự bảo vệ Đanien thoát khỏi sư tử là một ví dụ thụ động của ân tứ đức tin.

Khác hẳn với việc Samsôn giết sư tử, là một ví dụ của việc làm các phép lạ. Ân tứ làm phép lạ liên quan đến hành động tích cực của con người trong sự bày tỏ quyền năng của Đức Chúa Trời. Ấn tượng cho rằng Ân tứ Đức Tin vận hành cách thụ động là vì ân tứ này thường kết hợp với các ân tứ mạnh mẽ hơn (Thí dụ: làm phép lạ, Ân tứ chữa bệnh v.v..).

Ân Tứ Đức Tin cũng thường vận hành qua sự công bố mạng lệnh và lời của đức tin "Ta đã tin nên ta nói " (IICôr 4:13). Những lời mà người của Đức Chúa Trời đã nói bởi sự soi dẫn của Thánh linh sẽ được Đức Chúa Trời hậu thuẫn như chính lời của Ngài.

Các kết quả thường không đến tức thời nhưng chắc chắn. Và Ân tứ này có thể vận hành bằng nhiều cách (thí dụ như chúc phước, rủa sả, sáng tạo, hủy diệt v.v..).

Có vài ví dụ của Ân Tứ Đức Tin vận hành qua những lời nói sau:

1) Giôsuê truyền lệnh cho mặt trời và mặt trăng dừng lại (Giô 10:12-14).

2) Êli Kiểm soát thời tiết bằng lời của mình "Sẽ không có sương móc hoặc mưa trong những năm này nếu không có lời ta. .. và không có mưa xuống đất trong ba năm rưỡi " (ICác 17:1; Gia 5:17).

3) Phaolô làm Elyma phải im lặng "Ngươi sẽ bị mù, không thấy mặt trời trong một mùa " (Công 13:8-11).

4) Phierơ nói những lời đoán phạt trên Anania và Saphira (5:1-42).

Kinh thánh dạy về nguyên tắc của Lời Đức Tin: "Lời ngươi nói sẽ được thành vậy " cũng có ý là "Hãy có đức tin nơi Đức Chúa Trời ". (Mác 11:22-23) và "các ông nhất định việc gì, việc ấy chắc sẽ được thành " (Gióp 22:28).

10. Các Ân Tứ Chữa Bệnh (ICor 12:9)

Có ba câu Kinh Thánh liên hệ đến ân tứ này trong ICôrintô 12 là câu 9, 28 và 30. Trong mỗi câu, đọc nguyên văn là "Charismata iamaton ". Hai từ này ở số nhiều và dịch đúng là "Các ân tứ của các sự chữa bệnh ".

Các Ân tứ chữa bệnh vận hành cách siêu nhiên để chữa tật bệnh và các sự đau yếu mà không cần đến những phương tiện thiên nhiên hay bất cứ điều gì tương tự như vậy. Đó là quyền năng của Đức Thánh Linh trên thân thể của một người để chữa lành bệnh tật và cất hết mọi sự đau đớn để người đó được lành bệnh.

Sử dụng danh từ số nhiều ám chỉ có nhiều Ân tứ chữa bệnh cho các loại bệnh tật khác nhau. Có người rất thành công với ân tứ chữa lành bệnh mù, người khác thì thành công trong ân tứ chữa bệnh điếc hay ung thư ...

Chúa Jesus sẽ giải cứu mọi tật bệnh, yếu đuối, bệnh dịch, bệnh dị dạng và hoạn nạn. Có nhiều sự bày tỏ khác nhau về ân tứ này (ICôr 12:4-7).

Sự vận hành các ân tứ chữa bệnh không ban cho người được ơn trong ân tứ này khả năng chữa lành tất cả các loại bệnh tật bất cứ lúc nào. Một số người hiểu lầm vấn đề này và đã hỏi tại sao chúng ta không đến bệnh viện để chữa lành cho mọi người bệnh ở đó.

Ngay cả Chúa Jesus cũng không làm điều đó. Có một lần, Ngài đến một nơi có nhiều người bệnh tật và yếu đuối. Đó là ao Bêtếtđa đầy những người bệnh, và Ngài chỉ chọn một người trong họ và chữa cho (Giăng 5:1-9).

Nhiều lần chúng ta đọc về đám đông bệnh nhân tìm đến Chúa Jesus và Ngài "đã chữa cho họ tất cả ". Nguyên tắc quan trọng của sự chữa bệnh thiêng liêng là tất cả ai có bệnh thường phải đến với Chúa Jesus vì đó là việc thực hiện đức tin và sự hợp tác.

a. Mục Đích Của Các Ân Tứ Chữa Bệnh

1) Giải cứu những người bệnh và kẻ khốn khổ và hủy phá công việc của ma quỷ trong thân thể con người (IGiăng 3:8; Công 10:38; Lu 13:16).

2) Chứng tỏ lời công bố của Đấng Christ là con của Đức Chúa Trời (Giăng 10:36-38).

3) Làm vững Đạo (Mác 16:17-20; Công 4:29, 30, 33).

4) Lôi cuốn nhiều người đến nghe tin lành (Mat 4:23-25)

5) Đem lại sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời (2:12; Lu 13:13; 18:43;; Giăng 9:2, 3)

Đức Thánh Linh ban các ân tứ chữa bệnh cho tôi tớ Đức Chúa Trời để chuyển giao cho những người mà Đức chúa Trời muốn chữa lành trong mục đích của Ngài.

Giống như các ân tứ khác, ân tứ chữa bệnh không chỉ để ban phát ra mà cũng để nhận lãnh. Giống như nguyên tắc của đức tin là làm thế nào để phục vụ qua những ân tứ này, thì cũng với cùng một nguyên tắc đó sẽ giúp chúng ta làm thế nào để nhận lãnh những điều đó.

Êxêchia đã phải khó nhọc khi tiếp nhận ân tứ chữa bệnh mà Đức Chúa Trời ban cho ông. Đức tin của ông được gây dựng trong cách đặc biệt bởi phép lạ được ghi lại trong IICác 20:8-11.(5:10-14)

Naaman cũng cảm thấy khó lòng tiếp nhận ân tứ chữa bệnh mà Đức Chúa Trời ban cho ông qua Êlisê (5:10-14).

Chữa bệnh thường đòi hỏi hành động kép của đức tin: đức tin để nhận và đức tin để thực hành ân tứ chữa bệnh.

Dầu vậy có trường hợp ngoại lệ, ý muốn của Đức Chúa Trời luôn luôn là đem đến sự chữa lành. Tuy nhiên, đôi khi các ống dẫn bình thường làm việc không tốt khi quyền năng chữa bệnh của Ngài tuôn chảy qua. Vì vậy chúng ta cần nài xin Đức Chúa Trời ban cho ân tứ đặc biệt để chữa bệnh.

Đôi khi Đức Chúa Trời truyền đạt các ân tứ chữa bệnh qua các ống dẫn bình thường (thí dụ : sự đặt tay - Mác 16:18). Lúc khác các phương tiện đặc biệt được sử dụng, theo ý muốn của Ngài (thí dụ: bóng của Phierơ - Công 5:15).

11. Làm Các Phép Lạ (ICor 12:10).

Phép lạ xảy ra khi Đức Chúa Trời can thiệp vào tiến trình bình thường của thiên nhiên. Ân tứ làm các phép lạ đến khi Đức Chúa Trời cho chúng ta mặc lấy quyền năng bởi Đức Thánh Linh để làm điều gì đó hoàn toàn ngoài khả năng bình thường của con người.

Ngài ban cho chúng ta ân tứ này ở một thời điểm nhất định với một mục đích nhất định.

Tất cả những ân tứ đều kỳ diệu nhưng việc sử dụng phép lạ bằng lời trong thí dụ này liên quan đến các hành động của quyền năng.

a. Các Phép Lạ Ban Cho Là Chứng Cớ Không Chối Cãi Được Về Sự Phục Sinh.

Nếu Chúa Jesus không còn sống, Danh của Ngài sẽ không có quyền năng để chữa bệnh và làm các phép lạ (4:33).

Phierơ thuyết phục những người Giuđa vô tín về sự phục sinh của Chúa Jesus Christ và nhu cầu về sự ăn năn của họ là dựa vào sự kiện Danh của Chúa Jesus, là Danh có quyền năng chữa bệnh và làm các phép lạ.

b. Các Điều Cặp Theo Khi Làm Các Phép Lạ trong Danh Jesus:

1) Ban Cho Sự Dạn Dĩ: giúp tín hữu có sự dạn dĩ khi giảng về Đấng Christ (4:29, 30). Mọi người nhận ra họ đã từng ở với Chúa Jesus, Đấng hay làm phép lạ (4:13).

2) Khích Lệ Sự Cầu Nguyện: làm cho tín đồ cầu nguyện nhiều hơn nữa (4:29-31).

3) Cáo Trách Tội Lỗi: thuyết phục và cáo trách tội lỗi của con người (5:28, 33).

4) Chinh Phục Năm Ngàn Người Tin Chúa: Năm ngàn người tin Chúa trong một ngày qua một phép lạ (4:4; 5:14).

5) Làm Vinh Hiển Danh Chúa: Mọi người ca ngợi Chúa về những gì Ngài đã làm (4:21).

6) Rao Giảng Tin Lành: mở rộng việc rao giảng tin lành nhanh chóng (5:14-16).

Trước khi Chúa Jesus bắt đầu làm các phép lạ, không có ai đi theo Ngài cả. Ngài phải rao giảng thường xuyên trong các nhà hội vì Lu 4:16 nói rằng đó là thói quen của Ngài.

Nhưng khi các phép lạ trong 4:33-35 xảy ra "Vậy danh tiếng Ngài đồn khắp các nơi chung quanh (4:37). Từ lúc đó đông đảo quần chúng thúc Ngài giảng cho họ nghe và để nhìn thấy các phép lạ của Ngài. "Một số lớn quần chúng đều tin Ngài vì họ thấy các phép lạ của Ngài làm cho kẻ bệnh " (Giăng 6:2).

c. Bất Cứ Nơi Nào Các Sứ Đồ Rao Giảng, Chữa Bệnh, Đuổi Quỷ Và làm Các Phép Lạ, Thì Có Đông Người Tin Chúa.

1) Ở Samari: Philip được chú ý ở Samari, người ta nghe và thấy phép lạ mà ông làm (Công 8:6).

2) Ở Sarôn và Lyđa: Dân chúng ở Sarôn và Lyđa trở về cùng Chúa khi Phierơ bảo Ê-nê "Chúa Jesus đã chữa lành cho ngươi rồi, hãy đứng dậy và dọn dẹp giường ngươi, tức thời người vùng dậy " (9:34-35).

3) Ở Giópbê: Nhiều người ở thành Giópbê tin Chúa khi Phierơ làm Đôca sống lại từ kẻ chết (9:42).

4) Tại Littrơ: Dân chúng thành Lýttrơ nghĩ rằng các thần đã giáng xuống trên họ khi họ thấy người què đi được, chạy nhảy được bởi lời của Phaolô (14:8-18).

"Bấy giờ có nhiều dấu kỳ phép lạ được làm ra trong dân bởi tay các sứ đồ. .. và những người tin Chúa càng thêm lên rất đông nam và nữ".

"Đến nơi người ta đem kẻ bịnh ra ngoài đường, cho nằm trên giường nhỏ hoặc trên chỏng, để khi Phierơ đi ngang qua, bóng của người ít nữa cũng che được vài người ".

"Dân sự ở các thành lân cận cũng lũ lượt kéo đến Gierusalem, đem theo những người đau ốm, người bị quỷ ám hết thảy đều được chữa lành " (5:12-16).

5) Sách Công Vụ: Sách công vụ chấm dứt với đầy dẫy phép lạ (28:8, 9). Khi người ta thấy cha của Búp-li-u được chữa lành, họ tin rằng Nếu Đức Chúa Trời có thể chữa bệnh cho một người thì Ngài có thể chữa lành cho tất cả mọi người đang có nhu cầu. Khi người ta suy nghĩ và tin đúng về Ngài thì họ sẽ nhận được nhiều điều mà Ngài muốn ban phát cho họ.

d. Các Phép Lạ Trong Đời Sống Tín Đồ:

Làm các phép lạ là sự cho phép của Đức Thánh Linh, ban cho tín đồ khả năng để làm phép lạ. Điều này khác với việc Đức Chúa Trời làm phép lạ trong đời sống của tín đồ. Vì thế những ai chưa bao giờ nhận ân tứ làm các phép lạ đều có thể kinh nghiệm về những phép lạ mà Đức Chúa Trời đã làm cho họ.

1) Sự Giải Cứu: Các phép lạ giải cứu của các sứ đồ trong 5:17-20; của Phierơ trong 12:1-10 của Phaolô trong 16:15-30.

2) Vận chuyển: Các phép lạ vận chuyển (8:39) "Thánh linh Đức Chúa Trời đem Philip đi, hoạn quan chẳng thấy người nữa ".

Đây là những phép lạ được thực hiện bởi Đức Chúa Trời trong đời sống của tín đồ mà đôi khi không có sự hợp tác của họ. Vì vậy đây không phải là ân tứ làm các phép lạ. Trái lại, có ba thí dụ để chúng ta thấy ân tứ này vận hành.

e. Các Phép Lạ Do Tín Đồ Thực Hiện.

1) 19:11 "và Đức Chúa Trời làm các phép lạ đặc biệt bởi bàn tay của Phaolô ".

2) 9:40 Phierơ làm cho Đôca sống lại từ kẻ chết.

3) 20:9-12 Phaolô phục hồi đời sống của Ơtích

f. Vận Hành Thực Tế của Ân Tứ.

1) Sự Xức Dầu Của Đức Thánh Linh: tạo nên sự tin tưởng và uy quyền đặc biệt.

2) Lời Của Đức Tin và uy quyền. Êli nói rằng Đức Chúa Trời là Đấng trả lời bằng lửa là Chúa của Israel. Lửa được ban xuống là một ví dụ của việc làm các phép lạ (ICác 18:21-39).

3) Một hành động dạn dĩ của đức tin.